vi
stringlengths 846
10.5k
| en
stringlengths 799
10.5k
|
---|---|
Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh. Cảm nhận của anh (chị) về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ trên
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và Biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung”.
2. Thân bài
a. Hình tượng sóng
* Hình ảnh ẩn dụ về tâm hồn người phụ nữ khi yêu
– Vì sao nhà thơ chọn hình tượng sóng để bộc lộ tâm trạng của người phụ nữ đang yêu?
– Cung bậc tình cảm được thể hiện như thế nào qua hình tượng sóng?
– Cái “tôi” trữ tình của nhà thơ có những suy nghĩ gì?
* Nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng
– Thể thơ
– Cách gieo vần (vần chân)
– Tiết tấu
– Sự liên hoàn về từ ngữ, hình ảnh
b. Tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ
– Luôn tự ý thức
– Khát khao mãnh liệt
– Chân thành và táo bạo
– Yêu hết mình, quên mình
– Hướng tới vĩnh cửu
3. Kết bài
Sóng là bài thơ tình tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiếng lòng vừa dữ dội vừa dịu êm, vừa thao thức không yên, vừa bồi hồi khát vọng. Qua Sóng, người đọc càng thêm yêu quý trái tim nồng nàn, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
B. BÀI LÀM
Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và Biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung” (Lưu Khánh Thơ).
Trong bài thơ có một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt, tạo nên hình hài của tác phẩm. Hình tượng đó là sóng. Nhưng sóng cũng chính là trái tim Dữ dội và dịu êm của Xuân Quỳnh, vẻ đẹp của bài thớ hiện lên tư những phát hiện mới lạ của tác giả ở hình tượng sóng. Cùng với sóng, hình tượng em tạo thành cặp sóng đôi, gắn bó, quấn quýt suốt bài thơ. Trên cơ sở đó, nhà thơ bộc lộ mọi cung bậc tình cảm của mình về tình yêu.
Dầu tiên là tứ thơ. Điều phổ biến ở nhiều bài thơ trữ tình là thường dựa vào một cái cớ nào đó để mà cấu tứ. Chẳng hạn: Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen… Rồi: Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới… Ngay ở một bài thơ trữ tmh chính trị như Việt Bắc, khi cấu tứ, Tố Hữu cùng tạo ra một cái cớ: Minh về mình có nhớ ta / Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng… Ở Sóng, cách cấu tứ hơi khác: Dữ dội và dịu êm / Ồn ào và lặng lẽ… Mới nhìn cứ tưởng không khác gì những cách cấu tứ kia. Song, thực ra, ngay từ ban đầu, cái cớ ấy đã là một sự ấn dụ. Bài thơ mượn hình tượng sóng để tạo tứ, mượn sóng để nói về trái tim con người. Các lớp sóng gối lên nhau, trùng trùng, điệp điệp là những lớp sóng trong trái tim người phụ nữ đang yêu. Và, hẳn nhiên, cuộc kiếm tìm, khám phá về sóng cũng chính là tự khám phá trái tim mình. Ta hãy xem người phụ nữ ấy tự khám phá như thế nào?Xem thêm: Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà trong thiên tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân Sóng hiện lên trước hết là đối tượng cần nhận thức:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thể
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.
Hóa ra, tính cách sóng thật phức tạp: Dữ dội và dịu êm, ôn ào và lặng lẽ. Cả hai nét tính cách ấy cùng tồn tại ở sóng, có khi mạnh mẽ đến cuồng nhiệt, nhưng lắm lúc sâu lắng, dịu dàng. Bản tính sóng lại thất thường. Đến đây thì không ai nghĩ là nhà thơ nói về sóng nữa mà đó là những cung bậc trong trái tim người con gái đang yêu. Tình yêu luôn có nhu cầu được chia sẻ, giãi bày. Xuân Quỳnh mượn sóng – một hình ảnh rất đẹp, tương xứng với tình yêu để thổ lộ nỗi niềm. Tinh cảm ấy chân thực và mãnh liệt. Nhưng dẫu quen thuộc, sóng vẫn hết sức lạ lùng, chưa dễ gì lí giải. Trước trạng thái mâu thuẫn ấy, sóng tự nhận thức:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.
Nổi trăn trở, khao khát tự khám phá trái tim người phụ nữ đã thổi hổn người vào sóng. Đến lúc tâm trạng dâng trào như những lớp sóng ùa vỡ, trái tim ấy không còn kiềm giữ được nữa. Vì thế, sang khổ thứ hai, tứ thơ chuyển từ sóng sang người, có phần đột ngột nhưng cũng hợp lí, dễ hiểu: Ôi con sóng ngày xưa / Và ngày sau vẫn thế / Nỗi khát vọng tình yêu / Bồi hồi trong ngực trẻ. Nhà thơ giãi bày nỗi trăn trở nhưng là giãi bày để mà khẳng định: Tinh yêu, từ ngày xưa đến ngày sau, muôn đời vẫn thế!Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh Mượn sóng để nói về tình yêu, không phải chỉ riêng Xuân Quỳnh. Ca dao, dân ca và nhiều nhà thơ hiện đại đã từng có những liên tưởng thú vị. Có điều, “nét riêng Xuân Quỳnh là tạo ra con sóng mãnh liệt mà đầy nữ tính, giàu trạng thái: có cái bồi hồi rất trẻ trung, có cái dữ dội tương xứng với tình yêu, nhưng còn có cái dịu dàng sâu lắng rất con gái. Xuân Quỳnh xoay trở ngọn sóng yêu đầy âu lo để cảm nhận nó trên nhiều chiều đối lập. Đó là cách cảm nhận nồng nàn mà có chiều sâu, trên cả hai bề mặt cảm xúc và nhận thức” (Nguyễn Quang Trung).
Tiếp tục khai thác hình tượng sóng từ cách cấu tứ của riêng mình, những khổ thơ tiếp theo (khổ 3 đến khổ 7), Xuân Quỳnh đẩy phát triển của bài thơ thêm một bậc nữa: từ sóng gợi lên bao nhiêu điều suy tư về cuộc đời, về con người. Nếu ở trên mới chỉ Sóng không hiểu nổi mình thì đến đây là hàng loạt câu hỏi khác: Sóng bắt đầu từ gió / Gió bắt đẩu từ đâu / Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yêu nhau. Đành rằng Làm sao cắt nghĩa dược tình yêu (Xuân Diệu) nhưng người đời vẫn khát khao tìm kiếm, cắt nghĩa. Bài thơ của Xuân Quỳnh không đơn thuần là giãi bày nỗi lòng khi yêu. Nhu cầu tự nhận thức, nhận thức đến tận cùng khiến bài thơ có chất sâu lắng. Và, quả đúng vậy, tình yêu đâu chỉ là tình yêu, đó là thứ tình cảm mà mỗi khi giãi bày nó đồng thời bộc lộ bản chất con người. Bởi vậy, từ xưa đến nay, đây là thứ tình cảm phức tạp nhất, kì diệu nhất của con người và không ai có thể nói là mình đã hiểu hết.
Hỏi để cuối cùng một câu nói buột ra: Em cũng không biết nữa. Có người nói cái hay của bài thơ chính là hỏi nhưng không trả lời được, vì bản chất tình yêu là không thể cắt nghĩa. Thực ra, Em củng không biết nữa là một sự khẳng định, một khẳng định theo kiểu của phụ nữ: không biết mà vẫn biết đấy. Vả lại, tình yêu đã vốn có từ rất lâu rồi. Chúng ta từng chấp nhận những câu thơ lãng mạn, đại loại: Tôi yêu em từ khi chưa có tuổi… thì làm sao không thể không chấp nhận, không thể hiểu được cách nói của một nhà thơ nữ?
Tâm trạng người phụ nữ đang yêu tiếp tục bộc lộ với cung bậc mới:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh Xem thêm: Phân tích phần đầu bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi (Từ “Sáng mát trong như sáng năm xưa” đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về”) Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương.
Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ. Những câu thơ ở đây có một cặp hình tượng sóng đôi: sóng vỗ vào bờ cả ngày đêm, em nhớ anh cả lúc thức lẫn ngủ. Cặp hình tượng này song hành nhửng cộng hưởng đều nhằm diễn tả nỗi nhớ sâu sắc hơn. Tinh yêu đích thực dường như không có giới hạn về cả không gian lần thời gian. Nỗi nhớ bao trùm lên tất cả. Chỉ có trái tim yêu hết mình mới có được cung bậc như thế. So với nhiều cách thể hiện tình cảm của người phụ nữ đang yêu trước đó trong thơ Việt Nam, đây là lối bộc lộ có phần táo bạo. Khi đối diện với chính mình, không chút ngại ngần, trái tim yêu ấy đã tự hát và đã hát một cách thành thật. Song, dù mạnh mẽ và táo bạo đến đâu, đấy vẫn là lời tự hát của một trái tim phụ nữ Việt Nam: khát vọng gắn bó thủy chung.
Những khổ thơ cuối của bài, Xuân Quỳnh dồn hết vào việc thể hiện khát vọng đó. Và, ở đây, cũng vẫn là sóng mới đủ sức thể hiện khát vọng lớn lao trong tim người phụ nữ:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Một lần nữa, Xuân Quỳnh thể hiện được sự thức tỉnh ở tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Con sóng nào chẳng mong đến bờ? Trái tim yêu nào không thiết tha một sự gắn bó? Cuộc đời thật khó nói trước. Xuân Quỳnh và có lẽ rất nhiều người phụ nữ Việt Nam khác, khi yêu mãnh liệt vẫn có lúc thấp thỏm, âu lo. Song, dù dự cảm có muôn vời cách trở, trái tim yêu cũng không hể đắn đo. Nói đây là niềm tin bồng bột, dễ dăi chắc là không đúng. Tình yêu chân chính, nhất là với phụ nữ Việt Nam, luôn đồng nghĩa với sự hiến dâng.
Sóng là bài thơ tình tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiếng lòng vừa dữ dội vừa dịu êm, vừa thao thức không yên, vừa bồi hồi khát vọng. Nhà thơ đã khéo chọn sóng, một hình tượng giàu sức biểu cảm, để thể hiện tình yêu như là một giá trị văn hóa lớn của con người. Qua Sóng, người đọc càng thêm yêu quý trái tim nồng nàn, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh. Cảm nhận của anh (chị) về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ trên
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và Biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung”.
2. Thân bài
a. Hình tượng sóng
* Hình ảnh ẩn dụ về tâm hồn người phụ nữ khi yêu
– Vì sao nhà thơ chọn hình tượng sóng để bộc lộ tâm trạng của người phụ nữ đang yêu?
– Cung bậc tình cảm được thể hiện như thế nào qua hình tượng sóng?
– Cái “tôi” trữ tình của nhà thơ có những suy nghĩ gì?
* Nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng
– Thể thơ
– Cách gieo vần (vần chân)
– Tiết tấu
– Sự liên hoàn về từ ngữ, hình ảnh
b. Tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ
– Luôn tự ý thức
– Khát khao mãnh liệt
– Chân thành và táo bạo
– Yêu hết mình, quên mình
– Hướng tới vĩnh cửu
3. Kết bài
Sóng là bài thơ tình tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiếng lòng vừa dữ dội vừa dịu êm, vừa thao thức không yên, vừa bồi hồi khát vọng. Qua Sóng, người đọc càng thêm yêu quý trái tim nồng nàn, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
B. BÀI LÀM
Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và Biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung” (Lưu Khánh Thơ).
Trong bài thơ có một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt, tạo nên hình hài của tác phẩm. Hình tượng đó là sóng. Nhưng sóng cũng chính là trái tim Dữ dội và dịu êm của Xuân Quỳnh, vẻ đẹp của bài thớ hiện lên tư những phát hiện mới lạ của tác giả ở hình tượng sóng. Cùng với sóng, hình tượng em tạo thành cặp sóng đôi, gắn bó, quấn quýt suốt bài thơ. Trên cơ sở đó, nhà thơ bộc lộ mọi cung bậc tình cảm của mình về tình yêu.
Dầu tiên là tứ thơ. Điều phổ biến ở nhiều bài thơ trữ tình là thường dựa vào một cái cớ nào đó để mà cấu tứ. Chẳng hạn: Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen… Rồi: Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới… Ngay ở một bài thơ trữ tmh chính trị như Việt Bắc, khi cấu tứ, Tố Hữu cùng tạo ra một cái cớ: Minh về mình có nhớ ta / Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng… Ở Sóng, cách cấu tứ hơi khác: Dữ dội và dịu êm / Ồn ào và lặng lẽ… Mới nhìn cứ tưởng không khác gì những cách cấu tứ kia. Song, thực ra, ngay từ ban đầu, cái cớ ấy đã là một sự ấn dụ. Bài thơ mượn hình tượng sóng để tạo tứ, mượn sóng để nói về trái tim con người. Các lớp sóng gối lên nhau, trùng trùng, điệp điệp là những lớp sóng trong trái tim người phụ nữ đang yêu. Và, hẳn nhiên, cuộc kiếm tìm, khám phá về sóng cũng chính là tự khám phá trái tim mình. Ta hãy xem người phụ nữ ấy tự khám phá như thế nào?Xem thêm: Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà trong thiên tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân Sóng hiện lên trước hết là đối tượng cần nhận thức:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thể
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.
Hóa ra, tính cách sóng thật phức tạp: Dữ dội và dịu êm, ôn ào và lặng lẽ. Cả hai nét tính cách ấy cùng tồn tại ở sóng, có khi mạnh mẽ đến cuồng nhiệt, nhưng lắm lúc sâu lắng, dịu dàng. Bản tính sóng lại thất thường. Đến đây thì không ai nghĩ là nhà thơ nói về sóng nữa mà đó là những cung bậc trong trái tim người con gái đang yêu. Tình yêu luôn có nhu cầu được chia sẻ, giãi bày. Xuân Quỳnh mượn sóng – một hình ảnh rất đẹp, tương xứng với tình yêu để thổ lộ nỗi niềm. Tinh cảm ấy chân thực và mãnh liệt. Nhưng dẫu quen thuộc, sóng vẫn hết sức lạ lùng, chưa dễ gì lí giải. Trước trạng thái mâu thuẫn ấy, sóng tự nhận thức:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể.
Nổi trăn trở, khao khát tự khám phá trái tim người phụ nữ đã thổi hổn người vào sóng. Đến lúc tâm trạng dâng trào như những lớp sóng ùa vỡ, trái tim ấy không còn kiềm giữ được nữa. Vì thế, sang khổ thứ hai, tứ thơ chuyển từ sóng sang người, có phần đột ngột nhưng cũng hợp lí, dễ hiểu: Ôi con sóng ngày xưa / Và ngày sau vẫn thế / Nỗi khát vọng tình yêu / Bồi hồi trong ngực trẻ. Nhà thơ giãi bày nỗi trăn trở nhưng là giãi bày để mà khẳng định: Tinh yêu, từ ngày xưa đến ngày sau, muôn đời vẫn thế!Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh Mượn sóng để nói về tình yêu, không phải chỉ riêng Xuân Quỳnh. Ca dao, dân ca và nhiều nhà thơ hiện đại đã từng có những liên tưởng thú vị. Có điều, “nét riêng Xuân Quỳnh là tạo ra con sóng mãnh liệt mà đầy nữ tính, giàu trạng thái: có cái bồi hồi rất trẻ trung, có cái dữ dội tương xứng với tình yêu, nhưng còn có cái dịu dàng sâu lắng rất con gái. Xuân Quỳnh xoay trở ngọn sóng yêu đầy âu lo để cảm nhận nó trên nhiều chiều đối lập. Đó là cách cảm nhận nồng nàn mà có chiều sâu, trên cả hai bề mặt cảm xúc và nhận thức” (Nguyễn Quang Trung).
Tiếp tục khai thác hình tượng sóng từ cách cấu tứ của riêng mình, những khổ thơ tiếp theo (khổ 3 đến khổ 7), Xuân Quỳnh đẩy phát triển của bài thơ thêm một bậc nữa: từ sóng gợi lên bao nhiêu điều suy tư về cuộc đời, về con người. Nếu ở trên mới chỉ Sóng không hiểu nổi mình thì đến đây là hàng loạt câu hỏi khác: Sóng bắt đầu từ gió / Gió bắt đẩu từ đâu / Em cũng không biết nữa / Khi nào ta yêu nhau. Đành rằng Làm sao cắt nghĩa dược tình yêu (Xuân Diệu) nhưng người đời vẫn khát khao tìm kiếm, cắt nghĩa. Bài thơ của Xuân Quỳnh không đơn thuần là giãi bày nỗi lòng khi yêu. Nhu cầu tự nhận thức, nhận thức đến tận cùng khiến bài thơ có chất sâu lắng. Và, quả đúng vậy, tình yêu đâu chỉ là tình yêu, đó là thứ tình cảm mà mỗi khi giãi bày nó đồng thời bộc lộ bản chất con người. Bởi vậy, từ xưa đến nay, đây là thứ tình cảm phức tạp nhất, kì diệu nhất của con người và không ai có thể nói là mình đã hiểu hết.
Hỏi để cuối cùng một câu nói buột ra: Em cũng không biết nữa. Có người nói cái hay của bài thơ chính là hỏi nhưng không trả lời được, vì bản chất tình yêu là không thể cắt nghĩa. Thực ra, Em củng không biết nữa là một sự khẳng định, một khẳng định theo kiểu của phụ nữ: không biết mà vẫn biết đấy. Vả lại, tình yêu đã vốn có từ rất lâu rồi. Chúng ta từng chấp nhận những câu thơ lãng mạn, đại loại: Tôi yêu em từ khi chưa có tuổi… thì làm sao không thể không chấp nhận, không thể hiểu được cách nói của một nhà thơ nữ?
Tâm trạng người phụ nữ đang yêu tiếp tục bộc lộ với cung bậc mới:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh Xem thêm: Phân tích phần đầu bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi (Từ “Sáng mát trong như sáng năm xưa” đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về”) Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương.
Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ. Những câu thơ ở đây có một cặp hình tượng sóng đôi: sóng vỗ vào bờ cả ngày đêm, em nhớ anh cả lúc thức lẫn ngủ. Cặp hình tượng này song hành nhửng cộng hưởng đều nhằm diễn tả nỗi nhớ sâu sắc hơn. Tinh yêu đích thực dường như không có giới hạn về cả không gian lần thời gian. Nỗi nhớ bao trùm lên tất cả. Chỉ có trái tim yêu hết mình mới có được cung bậc như thế. So với nhiều cách thể hiện tình cảm của người phụ nữ đang yêu trước đó trong thơ Việt Nam, đây là lối bộc lộ có phần táo bạo. Khi đối diện với chính mình, không chút ngại ngần, trái tim yêu ấy đã tự hát và đã hát một cách thành thật. Song, dù mạnh mẽ và táo bạo đến đâu, đấy vẫn là lời tự hát của một trái tim phụ nữ Việt Nam: khát vọng gắn bó thủy chung.
Những khổ thơ cuối của bài, Xuân Quỳnh dồn hết vào việc thể hiện khát vọng đó. Và, ở đây, cũng vẫn là sóng mới đủ sức thể hiện khát vọng lớn lao trong tim người phụ nữ:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Một lần nữa, Xuân Quỳnh thể hiện được sự thức tỉnh ở tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Con sóng nào chẳng mong đến bờ? Trái tim yêu nào không thiết tha một sự gắn bó? Cuộc đời thật khó nói trước. Xuân Quỳnh và có lẽ rất nhiều người phụ nữ Việt Nam khác, khi yêu mãnh liệt vẫn có lúc thấp thỏm, âu lo. Song, dù dự cảm có muôn vời cách trở, trái tim yêu cũng không hể đắn đo. Nói đây là niềm tin bồng bột, dễ dăi chắc là không đúng. Tình yêu chân chính, nhất là với phụ nữ Việt Nam, luôn đồng nghĩa với sự hiến dâng.
Sóng là bài thơ tình tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiếng lòng vừa dữ dội vừa dịu êm, vừa thao thức không yên, vừa bồi hồi khát vọng. Nhà thơ đã khéo chọn sóng, một hình tượng giàu sức biểu cảm, để thể hiện tình yêu như là một giá trị văn hóa lớn của con người. Qua Sóng, người đọc càng thêm yêu quý trái tim nồng nàn, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Sóng có lẽ là hình ảnh đã quen thuộc với nhiều người chúng ta. Cũng có không ít tác giả mang sóng vào trong những tác phẩm của mình nhưng mượn hình tượng Sóng để nói về tình cảm của người con gái trong tình yêu thì hay nhất vẫn chỉ có Xuân Quỳnh mà thôi.
Để giúp các em làm tốt đề văn phân tích hình tượng Sóng thì hôm nay Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý và gợi ý bài làm cho đề văn này.
I. Lập dàn ý phân tích hình tượng Sóng
1. Mở bài
– Xuân Quỳnh là một nhà thơ nữ nổi tiếng của Việt Nam.
– Tác phẩm Sóng đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả với hình tượng Sóng.
2. Thân bài phân tích hình tượng Sóng
Hình tượng sóng bao trùm cả bài thơ
– Toàn bộ nội dung bài thơ giống như một con sóng tâm tình của người phụ nữ.
– Hình tượng sóng sánh đôi với hình tượng em, tuy hai mà lại là một.
– Hình tượng sóng khiến cho bài thơ mang âm điệu dào dạt, miên man tới vô tận.
Hình tượng sóng mang nét nữ tính
– Sóng giống như người phụ nữ đang yêu lúc dữ dội lúc lại dịu êm.
– Sóng mang trong mình một khát vọng lớn, sẵn sàng từ bỏ không gian nhỏ hẹp để đến một nơi khoáng đạt hơn.
Hình tượng sóng thể hiện tình yêu bất diệt
– Sóng từ ngày xưa, ngày nay vẫn vậy, luôn khát vọng vươn tới tình yêu.
Nguồn gốc của sóng cũng là nguồn gốc của tình yêu
– Xuân Quỳnh nỗ lực để cắt nghĩa tình yêu nhưng không được.
– Lời thú nhận hồn nhiên nhưng sâu sắc.Xem thêm: Phân tích truyện ngắn vi hành của Nguyễn Ái Quốc
Tình yêu đi liền với nỗi nhớ
– Nỗi nhớ lúc nào cũng cháy bỏng và khiến con người ta cồn cào không yên.
– Nỗi nhớ ấy ăn sâu vào trong tiềm thức.
Sóng là niềm thấp thỏm, lo âu
– Đời người hữu hạn, hình tượng sóng đã làm cho nhà thơ lo âu về sự hữu hạn của đời người.
– Hình tượng sóng thể hiện khát khao hạnh phúc mãnh liệt.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về hình tượng sóng.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích hình tượng rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích hình tượng sông Đà (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích hình tượng Sóng
Nhà thơ Xuân Quỳnh có lẽ là nhà thơ nữ được nhiều độc giả yêu thích nhất trong văn học hiện đại. Những tác phẩm thơ của Xuân Quỳnh thường viết về đề tài tình yêu với những cảm xúc luôn dâng trào. Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là tác phẩm viết về tình yêu một cách êm đềm và giản dị nhưng thông qua hình tượng sóng tình yêu ấy vẫn hiện lên đầy mãnh liệt.
Sóng là hình tượng mang nhiều ý nghĩa, đó vừa là con sóng của tự nhiên lại vừa là con sóng của lòng người. Sóng và em tuy hai mà một, luôn song hành cùng với nhau trong tất cả các khổ thơ trong bài thơ Sóng. Hình tượng sóng trong bài thơ này cũng chính là hình ảnh tượng trưng cho nỗi khát khao hạnh phúc, tượng trưng cho khát vọng tình yêu mãnh liệt của người con gái. Có cô gái nào là không mong có được một tình yêu trọn vẹn.Xem thêm: Em hãy nói lời an ủi khi gặp những tình huống sau đây
Phân tích hình tượng sóng
Hình tượng sóng mang một âm điệu du dương lên bổng xuống trầm đúng như nhịp sóng vỗ. Đó cũng là lý do vì sao nhà thơ sử dụng thể thơ 5 chữ để viết bài thơ này. Nó thể hiện được đúng cái nhịp điệu tâm trạng của người con gái trong tình yêu. Con sóng ấy khi thì dữ dội, khi thì dịu êm, khi ồn ào lúc lại lặng lẽ. Cũng giống như người con gái trong tình yêu, tính cách có phần đối lập nhau trong cùng một chủ thể nhưng thật ra nó đúng với tâm trạng con người. Và dù là dữ dội hay dịu êm thì người con gái cũng như sóng luôn mang trong mình khát vọng tìm đến được tình yêu trọn vẹn, tìm một người có thể hiểu mình và đồng điệu với mình. Không phải bây giờ sóng với khát khao tìm ra biển lớn mà từ muốn đời trước đã vậy. Em cũng thế, dù là ngày xưa, ngày nay hay ngày sau thì trái tim cũng vẫn luôn khát khao hướng về tình yêu. Tuổi trẻ, sống là để yêu thương.
Hình tượng sóng vì vậy trở thành biểu tượng của hình ảnh người con gái. Nhà thơ Xuân Quỳnh đã đi tìm nguồn gốc của sóng với mong muốn tìm ra được nguồn gốc của tình yêu mà không thành. Lời thú nhận “Em cũng không biết nữa” đủ cho người đọc thấy nét dịu dàng, ngây ngô, chân thành mà sâu sắc của nhà thơ, của nhân vật em. Em không thể biết khi nào mình yêu nhau nhưng em biết được yêu là nhớ mong đối phương một cách khủng khiếp. Nỗi nhớ như con sóng cồn cào trong lòng. Nỗi nhớ ăn sâu vào tiềm thức, len lỏi cả vào trong những giấc mơ.Xem thêm: Tả cây thông
Hình tượng sóng thể hiện cho sự thủy chung của người con gái trong tình yêu. Sóng dù có bắt đầu từ đâu đi chăng nữa thì nó cũng tìm về để vỗ vào bờ mà chẳng gì có thể ngăn cản hay cách trở. Người con gái cũng vậy, dù ở cách xa người mình yêu cả ngàn phương trời xuôi ngược thì trái tim vẫn luôn hướng về một phương duy nhất đó chính là phương anh. Anh ở đâu, em sẽ hướng trái tim và tình yêu của mình về nơi ấy.
Cao hơn hết thảy, con sóng thể hiện cho nỗi khát vọng vươn tới một tình yêu vĩnh hằng. Nhận thức được sự hữu hạn của thời gian, nhà thơ muốn được tan ra thành trăm con sóng nhỏ để ở trong lòng đại dương bao la, ngàn năm vỗ về bờ cát, để được sống mãi mãi với tình yêu của cuộc đời mình. Con sóng lòng bé nhỏ mà mạnh mẽ đến vô chừng. Nó cho thấy sức mạnh tình yêu thật vô cùng khủng khiếp.
Thông qua hình tượng sóng, nhà thơ Xuân Quỳnh đã dốc cạn những tâm tư và cảm xúc của mình đối với tình yêu, thể hiện được sự sâu sắc của người con gái với mong ước giản dị nhưng cũng thật lớn lao.
Trên đây chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích hình tượng sóng. Hình tượng này có nhiều cái hay và nhiều điều để khai thác tùy thuộc vào cảm xúc của mỗi người. Các em hãy đọc tham khảo để có thể rút ra bài học cho riêng mình.
Thu Thủy
|
Waves are probably a familiar image to many of us. There are also many authors who bring waves into their works, but when borrowing the image of waves to talk about a girl's feelings in love, the best one is still Xuan Quynh.
To help you do well in the essay analyzing the image of Waves, today the Model Literature Treasury will guide you in making an outline and suggest assignments for this essay.
I. Create an outline to analyze the Wave image
1. Open the lesson
– Xuan Quynh is a famous Vietnamese female poet.
– The work Wave has left many marks in the hearts of readers with the image of Wave.
2. The body of the article analyzes the image of Waves
The image of waves covers the entire poem
– The entire content of the poem is like a wave of a woman's emotions.
– The image of the wave parallels the image of you, although they are two, they are one.
– The image of waves makes the poem have a rich, endless melody.
The image of waves is feminine
– Waves are like a woman in love, sometimes fierce, sometimes gentle.
– Wave carries within her a great desire, ready to give up her small space to go to a more spacious place.
The wave image represents eternal love
– Waves from the past, still today, always aspiring to reach love.
The origin of waves is also the origin of love
– Xuan Quynh tried to explain love but could not.
– Innocent but profound confession. See more: Analysis of Nguyen Ai Quoc's short story Behavior
Love goes hand in hand with nostalgia
– Nostalgia always burns and makes people restless.
– That nostalgia is deeply ingrained in the subconscious.
Waves are anxiety and anxiety
– Human life is finite, the image of waves made the poet worry about the finiteness of human life.
– The wave image represents a strong desire for happiness.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the image of waves.
Related articles:
>> Analyzing the image of the sandalwood forest (with a detailed outline)
>> Analyzing the image of Da River (With detailed outline)
>> Analysis of the image of Tay Tien soldiers (With detailed outline)
II. The article analyzes the image of Waves
Poet Xuan Quynh is probably the female poet most loved by many readers in modern literature. Xuan Quynh's poetic works often write about the topic of love with always rising emotions. The poem Waves by Xuan Quynh is a work written about love in a peaceful and simple way, but through the image of waves that love still appears intensely.
Waves are images with many meanings, they are both waves of nature and waves of the human heart. The wave and you, though two but one, always go together in all the stanzas of the poem Wave. The image of waves in this poem is also the image that symbolizes a girl's desire for happiness, symbolizing her strong desire for love. Is there any girl who doesn't wish to have a perfect love? See more: Please say words of comfort when encountering the following situations
Analyze wave patterns
The image of waves carries a melodious tone that rises and falls just like the rhythm of the waves. That is also the reason why the poet used 5-word poetic form to write this poem. It shows the exact rhythm of a girl's mood in love. That wave is sometimes fierce, sometimes gentle, sometimes noisy, sometimes quiet. Just like a girl in love, the personalities are somewhat opposite in the same subject but in fact it is true to the human mood. And whether fierce or gentle, a girl is like a wave, always carrying within her the desire to find perfect love, to find someone who can understand her and be in tune with her. It's not like waves now with the desire to find the big ocean, but from a previous life it was like that. Me too, whether in the past, today or tomorrow, my heart always yearns for love. Youth, to live is to love.
The wave image therefore becomes a symbol of the image of a girl. Poet Xuan Quynh searched for the origin of the waves with the desire to find the origin of love but failed. The confession "I don't know anymore" is enough for readers to see the gentleness, innocence, sincerity and profoundness of the poet and his character. I can't know when we fall in love, but I know that falling in love means missing the other person terribly. Nostalgia is like a wave raging in my heart. Nostalgia is deeply ingrained in the subconscious, creeping into dreams. See more: Description of the pine tree
The wave image represents a girl's fidelity in love. No matter where the wave begins, it will always find its way back to hit the shore without anything being able to stop or hinder it. It's the same with girls, even if they are thousands of miles away from the person they love, their hearts always point to one direction and that is him. Wherever you are, I will direct my heart and love there.
Above all, the wave represents the desire to reach an eternal love. Aware of the finiteness of time, the poet wanted to melt into hundreds of small waves to stay in the vast ocean, a thousand years of lapping on the sandy shore, to live forever with the love of his life. The waves of my heart are small but incredibly strong. It shows that the power of love is extremely terrible.
Through the image of waves, poet Xuan Quynh poured out her thoughts and feelings towards love, expressing the profoundness of a girl with simple but also great wishes.
Above we have together outlined and analyzed the wave image. This image has many good things and many things to exploit depending on each person's emotions. Please read for reference so you can draw your own lessons.
Thu Thuy
|
Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh chị cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này?
Gợi ý
Dàn ý
A. Phân tích hình tượng Sóng
1. Hình ảnh ẩn dụ về tâm hồn người phụ nữ đang yêu:
– Vì sao nhà thơ chọn hình tượng sóng để bộc lộ tậm trạng của người phụ nữ đang yêu?
– Cung bậc tình cảm được thể hiện như thế nào qua hình tượng sóng?
– Cái “tôi” trữ tình của nhà thơ có những suy nghĩ gì?
2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng:
– Thể thơ.
– Cách gieo vần (vần chân).
– Tiết tấu.
– Sự liên hoàn về từ ngữ, hình ảnh.
B. Cảm nhận về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu trong bài thơ:
– Luôn tự ý thức.
– Niềm khao khát mãnh liệt.
– Chân thành và táo bạo.
– Yêu hết mình, quên mình.
– Hướng tới vĩnh cửu
Bài làm
Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của một trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung” (Lưu Khánh Thơ).
*
* *
Trong bài thơ, có một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt, tạo nên hình hài của tác phẩm. Hình tượng đó là sóng. Nhưng sóng cũng chính là trái tim Dữ dội và dịu êm của Xuân Quỳnh, vẻ đẹp của bài thơ hiện lên từ những phát hiện mới lạ của tác giả ở hình tượng sóng. Cùng với sóng, hình tượng em tạo thành cặp sóng đôi, gắn bó, quấn quýt suốt bài thơ. Trền cơ sở đó, nhà thơ bộc lộ mọi cung bậc tình cảm của mình về tình yêu.
Đầu tiên là tứ thơ. Điều phổ biến ở nhiều bài thơ trữ tình là thường dựa vào một cái cớ nào đấy để mà cấu tứ. Chẳng hạn: Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen… Rồi: Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới… Ngay ở một bài thơ trữ tình chính trị như Việt Bắc, khi cấu tứ, Tố Hữu cũng tạo ra một cái cớ: Mình về mình có nhớ ta / Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng…Ở Sóng, cách cấu tứ hơi khác: Dữ dội và dịư êm / Ồn ào và lặng lẽ… Mới nhìn cứ tưởng không không gì những cách cấu tứ kia. Song, thực ra, ngay từ ban đầu, cái cớ ấy đã là một sự ẩn dụ. Bài thơ mượn hình tượng sóng để tạo tứ, mượn sóng để nói về trái tim con người. Các lớp sóng gối lên nhau, trùng trùng, điệp điệp là những lớp sóng trong trái tim người phụ nữ đang yêu. Và, hẳn nhiên, cuộc kiếm tìm, khám phá về sóng cũng là chính là tự khám phá trái tim mình. Ta hãy xem người phụ nữ ấy tự khám phá như thế nào?Xem thêm: Bài văn lớp 9 chém gió khiến thượng đế cũng phải cườiSóng hiện lên trước hết là đối tượng cần nhận thức:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Hóa ra, tính cách sóng thật phức tạp: Dữ dội và dịu êm, Ổn ào và lặng lẽ. Cả hai nét tính cách ấy cùng tồn tại ở sóng, có khi mạnh mẽ đến cuồng nhiệt, nhưng lắm lúc sâu lắng, dịu dàng. Bản tính sóng lại thất thường. Bến đây thì không ai nghĩ là nhà thơ nói về sóng nữa mà đó là những cung bậc trong trái tim người con gái đang yêu. Tình yêu luôn có nhu cầu được chia sẻ, giãi bày. Xuân Quỳnh mượn sóng – một hình ảnh rất đẹp, tương xứng với tình yêu để thổ lộ nỗi niềm. Tình cảm ấy chân thực và mãnh liệt. Nhưng dẫu quen thuộc sóng vẫn hết sức lạ lùng, chưa dễ gì lý giải. Trước trạng thái mâu thuẫn ấy, sóng tự nhận thức:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Nỗi trăn trở, khao khát tự khám phá trái tim người phụ nữ đã thổi hồn người vào sóng. Đến lúc tâm trạng dâng trào như những lớp vỗ sóng ùa vỡ, trái tim ấy không còn kiềm giữ được nữa. Vì thế, sang khổ thứ hai, tứ thơ chuyển từ sóng sang người, có phần đột ngột nhưng cũng hợp lý, dễ hiểu: Ôi con sóng ngày xưa/ Và ngày sau vẫn thế/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ. Nhà thơ giải bày nỗi trăn trở nhưng là giải bày để mà khẳng định: Tình yêu, từ ngày xưa đến ngày sau, muôn đời vẫn thế!
Mượn sóng để nói về tình yêu không phải chỉ riêng Xuân Quỳnh. Ca dao, dân ca và nhiều nhà thơ hiện đại đã từng có những liên tưởng thú vị. Có điều, “nét riêng Xuân Quỳnh là tạo ra con sóng mãnh liệt mà đầy nữ tính, giàu trạng thái: có cái bồi hồi rất trẻ trung, có cái dữ dội tương xứng với tình yêu, nhưng còn có cái dịu dàng sâu lắng rất con gái. Xuân Quỳnh xoay trở ngọn sóng yêu đầy âu lo để cảm nhận nó trên nhiều chiều đối lập. Đó là cách cảm nhận nồng nàn mà có chiều sâu, trên cả hai bề cảm xúc và nhận thức” (Nguyễn Quang Trung).Xem thêm: Hãy kể lại một lần em làm việc tốt Tiếp tục khai thác hình tượng sóng từ cách cấu tứ của riêng mình, những khổ thơ tiếp theo (khổ 3 đến khổ 7), Xuân Quỳnh đẩy phát triển của bài thơ thêm một bậc nữa: từ sóng gợi lên bao nhiêu điều để suy tư về cuộc đời, về con người. Nếu ở trên mới chỉ Sông không hiểu nổi mình thì đến đây là hàng loạt câu hỏi khác: Sóng bắt dầu từ gió / Gió bắt đầu từ đâu/ Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau. Đành rằng Làm sao cắt nghĩa được tình yêu (Xuân Diệu) nhưng người đời vẫn khát khao kiếm tìm, cắt nghĩa. Bài thơ của Xuân Quỳnh không đơn thuần là giải bày nỗi lòng khi yêu. Nhu cầu tự nhận thức, nhận thức đến tận cùng khiến bài thơ có chất sâu lắng. Và, quả đúng vậy, tình yêu đâu chỉ là tình yêu, đó là thứ tình cảm mà mỗi khi bộc lộ nó đồng thời bộc lộ bản chất con người. Bởi vậy, từ xưa đến nay, đây là thứ tình cảm phức tạp nhất, vi diệu nhất của con người và không ai có thể nói là mình đã hiểu hết.
Hỏi để cuối cùng một câu nói buột ra: Em cũng không biết nữa. Có người nói cái hay của bài thơ thơ chính là hỏi nhưng không trả lời được, vì bản chất của tình yêu là không thể cắt nghĩa. Thực ra, Em củng không biết nữa là một sự khẳng định, một khẳng định theo kiểu của phụ nữ: không biết mà biết đấy. Vả lại, tình yêu đã vốn có từ rất lâu rồi. Chúng ta từng chấp nhận những câu thơ lãng mạn, đại loại: Tôi yêu em từ khi chưa có tuổi… thì làm sao không thể không chấp nhận, không thể hiểu được cách nói của một nhà thơ nữ?
Tâm trạng người phụ nữ đang yêu tiếp tục bộc lộ với cung bậc mới:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức!
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ. Những câu thơ ở đây có một cặp hình tượng sóng đôi: sóng vỗ vào bờ cả ngày đêm; em nhớ anh cả lúc thức lẫn ngủ. Cặp hình tượng này song hành nhưng cộng hưởng đều nhằm diễn tả nỗi nhớ sâu sắc hơn. Tình yêu đích thực dường như không có giới hạn cả về không gian lẫn thời gian. Nỗi nhớ bao trùm lên tất cả. Chỉ có trái tim yêu hết mình mới có được cung bậc như thế. So với nhiều cách thể hiện tình cảm của người phụ nữ đang yêu trước đó trong thơ Việt Nam, đây là lối bộc lộ có phần táo bạo. Khi đối diện với chính mình, không chút ngại ngần, trái tim yêu ấy tự hát và đã hát một cách thành thật. Song, dù mạnh mẽ và táo bạo đến đâu, đấy vẫn là lời tự hát của một trái tim phụ nữ Việt Nam: khát vọng gắn bó thủy chung.Xem thêm: Phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- Văn 12 Những khổ thơ cuối của bài, Xuân Quỳnh dồn hết vào việc thể hiện khát vọng đó. Và, ở đây, cũng vẫn là sóng mới đủ sức thể hiện khát vọng lớn lao trong tim người phụ nữ:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Một lần nữa, Xuân Quỳnh thể hiện được sự tỉnh thức ở tâm hồn người phụ nư khi yêu. Con sóng nào chẳng mong đến bờ? Trái tim yêu nào không thiêt tha một sự gắn bó? Cuộc đời thật khó nói trước. Xuân Quỳnh và có lẽ rất nhiều người phụ nữ Việt Nam khác, khi yêu mãnh liệt vẫn có lúc thắc thỏm, âu lo. Song, dù dự cảm có muôn vời cách trở, trái tim yêu cũng không hề đắn đo.
Nói đây là niềm tin bồng bột, dễ dãi chắc là không đúng. Tình yêu chân chính, nhất là với phụ nữ Việt Nam, luôn đồng nghĩa với sự dâng hiến.
*
* *
Sóng là bài thơ tình tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiêng lòng vừa dữ dội vừa dịu êm, vừa thao thức không yên, vừa bồi hồi khát vọng. Nhà thơ đã khéo chọn Sóng, một hình tượng giàu sức biểu cảm, để thể hiện tình yêu như là một giá trị văn hóa lớn của con người. Qua Sóng của Xuân Quỳnh, người đọc càng thêm quý trái tim nồng nàn, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh chị cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này?
Gợi ý
Dàn ý
A. Phân tích hình tượng Sóng
1. Hình ảnh ẩn dụ về tâm hồn người phụ nữ đang yêu:
– Vì sao nhà thơ chọn hình tượng sóng để bộc lộ tậm trạng của người phụ nữ đang yêu?
– Cung bậc tình cảm được thể hiện như thế nào qua hình tượng sóng?
– Cái “tôi” trữ tình của nhà thơ có những suy nghĩ gì?
2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng:
– Thể thơ.
– Cách gieo vần (vần chân).
– Tiết tấu.
– Sự liên hoàn về từ ngữ, hình ảnh.
B. Cảm nhận về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu trong bài thơ:
– Luôn tự ý thức.
– Niềm khao khát mãnh liệt.
– Chân thành và táo bạo.
– Yêu hết mình, quên mình.
– Hướng tới vĩnh cửu
Bài làm
Trong thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ viết hay nhất về tình yêu. Đặc sắc của thơ tình Xuân Quỳnh là tiếng nói trực tiếp, chân thành và mãnh liệt bày tỏ những khát vọng tình yêu của một trái tim phụ nữ. Cùng với bài thơ Thuyền và biển, bài thơ Sóng được coi là “hai bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ hiện đại Việt Nam nói chung” (Lưu Khánh Thơ).
*
* *
Trong bài thơ, có một hình tượng nghệ thuật xuyên suốt, tạo nên hình hài của tác phẩm. Hình tượng đó là sóng. Nhưng sóng cũng chính là trái tim Dữ dội và dịu êm của Xuân Quỳnh, vẻ đẹp của bài thơ hiện lên từ những phát hiện mới lạ của tác giả ở hình tượng sóng. Cùng với sóng, hình tượng em tạo thành cặp sóng đôi, gắn bó, quấn quýt suốt bài thơ. Trền cơ sở đó, nhà thơ bộc lộ mọi cung bậc tình cảm của mình về tình yêu.
Đầu tiên là tứ thơ. Điều phổ biến ở nhiều bài thơ trữ tình là thường dựa vào một cái cớ nào đấy để mà cấu tứ. Chẳng hạn: Hôm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen… Rồi: Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới… Ngay ở một bài thơ trữ tình chính trị như Việt Bắc, khi cấu tứ, Tố Hữu cũng tạo ra một cái cớ: Mình về mình có nhớ ta / Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng…Ở Sóng, cách cấu tứ hơi khác: Dữ dội và dịư êm / Ồn ào và lặng lẽ… Mới nhìn cứ tưởng không không gì những cách cấu tứ kia. Song, thực ra, ngay từ ban đầu, cái cớ ấy đã là một sự ẩn dụ. Bài thơ mượn hình tượng sóng để tạo tứ, mượn sóng để nói về trái tim con người. Các lớp sóng gối lên nhau, trùng trùng, điệp điệp là những lớp sóng trong trái tim người phụ nữ đang yêu. Và, hẳn nhiên, cuộc kiếm tìm, khám phá về sóng cũng là chính là tự khám phá trái tim mình. Ta hãy xem người phụ nữ ấy tự khám phá như thế nào?Xem thêm: Bài văn lớp 9 chém gió khiến thượng đế cũng phải cườiSóng hiện lên trước hết là đối tượng cần nhận thức:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Hóa ra, tính cách sóng thật phức tạp: Dữ dội và dịu êm, Ổn ào và lặng lẽ. Cả hai nét tính cách ấy cùng tồn tại ở sóng, có khi mạnh mẽ đến cuồng nhiệt, nhưng lắm lúc sâu lắng, dịu dàng. Bản tính sóng lại thất thường. Bến đây thì không ai nghĩ là nhà thơ nói về sóng nữa mà đó là những cung bậc trong trái tim người con gái đang yêu. Tình yêu luôn có nhu cầu được chia sẻ, giãi bày. Xuân Quỳnh mượn sóng – một hình ảnh rất đẹp, tương xứng với tình yêu để thổ lộ nỗi niềm. Tình cảm ấy chân thực và mãnh liệt. Nhưng dẫu quen thuộc sóng vẫn hết sức lạ lùng, chưa dễ gì lý giải. Trước trạng thái mâu thuẫn ấy, sóng tự nhận thức:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Nỗi trăn trở, khao khát tự khám phá trái tim người phụ nữ đã thổi hồn người vào sóng. Đến lúc tâm trạng dâng trào như những lớp vỗ sóng ùa vỡ, trái tim ấy không còn kiềm giữ được nữa. Vì thế, sang khổ thứ hai, tứ thơ chuyển từ sóng sang người, có phần đột ngột nhưng cũng hợp lý, dễ hiểu: Ôi con sóng ngày xưa/ Và ngày sau vẫn thế/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ. Nhà thơ giải bày nỗi trăn trở nhưng là giải bày để mà khẳng định: Tình yêu, từ ngày xưa đến ngày sau, muôn đời vẫn thế!
Mượn sóng để nói về tình yêu không phải chỉ riêng Xuân Quỳnh. Ca dao, dân ca và nhiều nhà thơ hiện đại đã từng có những liên tưởng thú vị. Có điều, “nét riêng Xuân Quỳnh là tạo ra con sóng mãnh liệt mà đầy nữ tính, giàu trạng thái: có cái bồi hồi rất trẻ trung, có cái dữ dội tương xứng với tình yêu, nhưng còn có cái dịu dàng sâu lắng rất con gái. Xuân Quỳnh xoay trở ngọn sóng yêu đầy âu lo để cảm nhận nó trên nhiều chiều đối lập. Đó là cách cảm nhận nồng nàn mà có chiều sâu, trên cả hai bề cảm xúc và nhận thức” (Nguyễn Quang Trung).Xem thêm: Hãy kể lại một lần em làm việc tốt Tiếp tục khai thác hình tượng sóng từ cách cấu tứ của riêng mình, những khổ thơ tiếp theo (khổ 3 đến khổ 7), Xuân Quỳnh đẩy phát triển của bài thơ thêm một bậc nữa: từ sóng gợi lên bao nhiêu điều để suy tư về cuộc đời, về con người. Nếu ở trên mới chỉ Sông không hiểu nổi mình thì đến đây là hàng loạt câu hỏi khác: Sóng bắt dầu từ gió / Gió bắt đầu từ đâu/ Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau. Đành rằng Làm sao cắt nghĩa được tình yêu (Xuân Diệu) nhưng người đời vẫn khát khao kiếm tìm, cắt nghĩa. Bài thơ của Xuân Quỳnh không đơn thuần là giải bày nỗi lòng khi yêu. Nhu cầu tự nhận thức, nhận thức đến tận cùng khiến bài thơ có chất sâu lắng. Và, quả đúng vậy, tình yêu đâu chỉ là tình yêu, đó là thứ tình cảm mà mỗi khi bộc lộ nó đồng thời bộc lộ bản chất con người. Bởi vậy, từ xưa đến nay, đây là thứ tình cảm phức tạp nhất, vi diệu nhất của con người và không ai có thể nói là mình đã hiểu hết.
Hỏi để cuối cùng một câu nói buột ra: Em cũng không biết nữa. Có người nói cái hay của bài thơ thơ chính là hỏi nhưng không trả lời được, vì bản chất của tình yêu là không thể cắt nghĩa. Thực ra, Em củng không biết nữa là một sự khẳng định, một khẳng định theo kiểu của phụ nữ: không biết mà biết đấy. Vả lại, tình yêu đã vốn có từ rất lâu rồi. Chúng ta từng chấp nhận những câu thơ lãng mạn, đại loại: Tôi yêu em từ khi chưa có tuổi… thì làm sao không thể không chấp nhận, không thể hiểu được cách nói của một nhà thơ nữ?
Tâm trạng người phụ nữ đang yêu tiếp tục bộc lộ với cung bậc mới:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức!
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ. Những câu thơ ở đây có một cặp hình tượng sóng đôi: sóng vỗ vào bờ cả ngày đêm; em nhớ anh cả lúc thức lẫn ngủ. Cặp hình tượng này song hành nhưng cộng hưởng đều nhằm diễn tả nỗi nhớ sâu sắc hơn. Tình yêu đích thực dường như không có giới hạn cả về không gian lẫn thời gian. Nỗi nhớ bao trùm lên tất cả. Chỉ có trái tim yêu hết mình mới có được cung bậc như thế. So với nhiều cách thể hiện tình cảm của người phụ nữ đang yêu trước đó trong thơ Việt Nam, đây là lối bộc lộ có phần táo bạo. Khi đối diện với chính mình, không chút ngại ngần, trái tim yêu ấy tự hát và đã hát một cách thành thật. Song, dù mạnh mẽ và táo bạo đến đâu, đấy vẫn là lời tự hát của một trái tim phụ nữ Việt Nam: khát vọng gắn bó thủy chung.Xem thêm: Phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài- Văn 12 Những khổ thơ cuối của bài, Xuân Quỳnh dồn hết vào việc thể hiện khát vọng đó. Và, ở đây, cũng vẫn là sóng mới đủ sức thể hiện khát vọng lớn lao trong tim người phụ nữ:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Một lần nữa, Xuân Quỳnh thể hiện được sự tỉnh thức ở tâm hồn người phụ nư khi yêu. Con sóng nào chẳng mong đến bờ? Trái tim yêu nào không thiêt tha một sự gắn bó? Cuộc đời thật khó nói trước. Xuân Quỳnh và có lẽ rất nhiều người phụ nữ Việt Nam khác, khi yêu mãnh liệt vẫn có lúc thắc thỏm, âu lo. Song, dù dự cảm có muôn vời cách trở, trái tim yêu cũng không hề đắn đo.
Nói đây là niềm tin bồng bột, dễ dãi chắc là không đúng. Tình yêu chân chính, nhất là với phụ nữ Việt Nam, luôn đồng nghĩa với sự dâng hiến.
*
* *
Sóng là bài thơ tình tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiêng lòng vừa dữ dội vừa dịu êm, vừa thao thức không yên, vừa bồi hồi khát vọng. Nhà thơ đã khéo chọn Sóng, một hình tượng giàu sức biểu cảm, để thể hiện tình yêu như là một giá trị văn hóa lớn của con người. Qua Sóng của Xuân Quỳnh, người đọc càng thêm quý trái tim nồng nàn, đôn hậu của người phụ nữ Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
1. Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ khá nổi tiếng, xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Xuân Quỳnh có một giọng thơ rất duyên, vừa đằm thắm, vừa dịu dàng như chính tính cách của chị. Sinh thời Xuân Quỳnh đã có một số bài thơ tình xuất sắc như: Thơ tình cuối mùa thu, Tự hát, Thuyền và biển… Bài Sóng cũng nằm trong số những bài thơ tình nổi tiếng ấy.
Đề tài tình yêu luôn thu hút nhiều thi nhân. Tất cả là để tìm câu trả lời cho tình yêu là gì và tình yêu bắt đầu từ đâu. Với Xuân Diệu: Làm sao định nghĩa được Tình yêu… Xuân Quỳnh đến với thơ tình là để bày tỏ niềm khao khát về một tình yêu lý tưởng, lại vừa hướng tới một hạnh phúc đời thường giản dị và thiết thực. Hình tượng “sóng” trong bài thơ đã thể hiện thật sinh động và hấp dẫn tâm trạng của người con gái đang yêu, bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu.
2. Phân tích hình tượng sóng để cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu
a. Hình tượng “sóng” và “em”:
Những khổ thơ đầu tiên nhân vật trữ tình đang đối diện với sóng, cảm nhận về sóng, tìm thấy mối liên hệ giữa sóng và khát vọng tình yêu.
– Hình tượng sóng ở khổ thơ đầu mang ý nghĩa tượng trưng cho tính khí và bản lĩnh của người phụ nữ. Con sóng là hiện thân của các đối cực dữ dội – dịu êm – ồn ào – lặng lẽ. Con sóng trung thực và thẳng thắn: khi sóng không hiểu nổi mình thì con sóng tìm đến biển, đến chân trời thoáng rộng, tự do.
– Con sóng cũng tượng trưng cho khát vọng tình yêu nuôn đời của tuổi trẻ. Con sóng ngàn đời nay vẫn thế, cứ đập vỗ vô hồi vô hạn. Tình yêu cũng vậy, luôn đồng nghĩa với tuổi trẻ. Tất cả chúng tồn tại vĩnh hằng trên mặt đất này.
– Đứng trước sóng biển trùng trùng lớp lớp – nhân vật trữ tình (em) cảm nhận về nguồn gốc bí ẩn của tình yêu với hai câu hỏi: Sóng bắt đầu từ gió – gió bắt đầu từ đâu? khi nào ta yêu nhau?
không ai có thể trả lời cặn kẽ được câu hỏi này.
Đó chính là nỗi bí ẩn của tình yêu và cũng vì càng bí ẩn nên càng say đắm, hấp dẫn hơn.
– Khi con người đối diện trước thiên nhiên rộng lớn như biển khơi rất dễ sinh ra cảm giác nhỏ nhoi, bất lực, thậm chí rơi vào cảm giác hư vô. Nhưng với tâm hồn nữ tính mang khát vọng tình yêu mãnh liệt thì Xuân Quỳnh hướng tất cả vào tình yêu trần thế.
b. Hình tượng “sóng” và “em” bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ:
– Sóng tượng trưng cho nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu, nhớ mọi nơi (không gian) lòng sâu, mặt nước, nhớ mọi lúc (thời gian) “Ngày đêm không ngủ được”, cũng như thế em nhớ anh đến nỗi “cả trong mơ còn thức”. Nghe qua có vẻ mơ hồ, vô lý. Nhưng không, em lúc nào cũng nhớ đến anh, trong mơ, khi thức, khi ngủ, khi tỉnh, khi mơ. Nhớ chính là biểu hiện của tình yêu, khi hết nhớ, cũng là lúc tình yêu chấm dứt.
– Nhà thơ tiếp tục một cách nói rất lạ: “Dẫu xuôi về phương bắc – Dẫu ngược về phương nam”. Đây là cách nói ngược với cách nói thông thường (ngược bắc xuôi nam). Nhà thơ cố ý lạ hóa ngôn từ để gây ấn tượng. Sự tinh tế nằm ngay trong cái nghịch lí của tình yêu.
Hơn nữa, đối với em, đâu chỉ có hai phương bắc và nam, mà còn có thêm một phương anh nữa, phương này là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư.
Xem thêm: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX– Cũng như Sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, “Em” ở đây, trên hành trình đi tìm hạnh phúc, cho dù gặp lắm chông gai, trắc trở, nhưng tin tưởng rồi “Em” cũng sẽ tới đến bến bờ hạnh phúc.
– Cuộc đời tuy dài rộng, biển tuy vô tận bao la, nhưng tình yêu vẫn được cảm nhận thật cụ thể trong từng ngày tháng. Sống trong tình yêu con người không bao giờ cảm thấy hư vô mà cuộc đời luôn mới mẻ, đầy ý nghĩa.
– Cũng như sóng giữa biển lớn tình yêu. Em cũng muốn có được một tình yêu lớn lao, bất tử. “Em” nhân vật trữ tình ở đây bỗng vụt lớn để sánh ngang với biển cả. Quả là một nỗi khao khát lớn lao và cảm động.
Quả thật, hình tượng sóng của bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu vừa tha thiết say đắm, vừa duyên dáng, nồng nàn mà vô cùng trong sáng cao đẹp của tình yêu đôi lứa muôn đời.
c. Nét đặc sắc về nghệ thuật:
– Sự liên tưởng hợp lí, tự nhiên giữa đặc điểm của sóng và đặc điểm của người con gái đang yêu. Sự liên tưởng này tạo nên hai hình tượng song song, nhưng hai mà một.
– Câu thơ năm chữ với những câu ngắn, đều nhau, tạo nên một ý niệm về hình thể của các con sóng, như con sóng dâng trào nhưng có khi chậm rãi nhẹ nhàng như lúc sóng êm biển lặng.
– Nhịp điệu của các câu thơ thật đa dạng, mô phỏng cái đa dạng của nhịp sóng: 2/3 (dữ dội và dịu êm – Ồn ào và lặng lẽ). 1/2/2 (sông không hiểu nỗi mình – sóng tìm ra tận bể), 3/1/1 (Em nghĩ về anh, em), 3/2 (Em nghĩ về biển lớn – từ nơi nào sóng lên),v.v…
– Các cặp câu đối xứng xuất hiện liên tiếp, câu sau thừa tiếp câu trước, tựa như những đợt sóng xô bờ, sóng tiếp sóng dào dạt.
– Âm điệu của bài thơ với nhiều sắc điệu đa dạng, phong phú, tạo nên vẻ tự nhiên cho bài thơ.
– Ngoài ra còn phải kể đến tính chất nữ tính trong cách diễn đạt của Xuân Quỳnh, trong cách nhìn sóng của chị: thật dịu dàng đằm thắm nhưng cũng thật dữ dội.
3. Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân, phân thân của cái “tôi” trữ tình của nhà thơ. Cùng với hình tượng “Sóng”, không thể không xem xét nó trong mối tương quan với “Em”.
– Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Đó là nhịp của những con sóng trên biển cả liên tiếp, triền miên, vô hồi, vô hạn. Đó là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập, đang khát khao tình yêu vô hạn, đang rung lên đồng điệu, hòa nhập với sóng biển.
– Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể vừa sinh động nhiều trạng thái, tâm trạng với những cung bậc tình cảm khác nhau trong trái tim của người phụ nữ đang rạo rực khao khát yêu đương. Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người con gái đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng.
Qua bài thơ Sóng, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu. Người phụ nữ ấy mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và những rung động rạo rực trong lòng mình. Người phụ nữ ấy thủy chung, nhưng không còn nhẫn nhục cam chịu nữa. Nếu “sóng không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để “tìm ra tận bể”, đến cái cao rộng, bao dung..Đó là những nét mới mẻ “ hiện đại” trong tình yêu.
Tâm hồn người phụ nữ đó khao khát, không yên lặng. “Vì tình yêu muôn thuở – có bao giờ đứng yên” (Thuyền và Biển). Nhưng đó cũng là một tâm hồn thật trong sáng, thủy chung vô hạn. Quan niệm tình yêu như vậy rất gần gũi với mọi người và có gốc rễ trong tâm thức dân tộc.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong chương "Đất Nước" (trích trường ca "Mặt đường khát vọng") của Nguyễn Khoa Điềm: "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu (...) Những cuộc đời đã hóa núi sông ta "
|
Đề bài: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
1. Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ khá nổi tiếng, xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
Xuân Quỳnh có một giọng thơ rất duyên, vừa đằm thắm, vừa dịu dàng như chính tính cách của chị. Sinh thời Xuân Quỳnh đã có một số bài thơ tình xuất sắc như: Thơ tình cuối mùa thu, Tự hát, Thuyền và biển… Bài Sóng cũng nằm trong số những bài thơ tình nổi tiếng ấy.
Đề tài tình yêu luôn thu hút nhiều thi nhân. Tất cả là để tìm câu trả lời cho tình yêu là gì và tình yêu bắt đầu từ đâu. Với Xuân Diệu: Làm sao định nghĩa được Tình yêu… Xuân Quỳnh đến với thơ tình là để bày tỏ niềm khao khát về một tình yêu lý tưởng, lại vừa hướng tới một hạnh phúc đời thường giản dị và thiết thực. Hình tượng “sóng” trong bài thơ đã thể hiện thật sinh động và hấp dẫn tâm trạng của người con gái đang yêu, bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu.
2. Phân tích hình tượng sóng để cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu
a. Hình tượng “sóng” và “em”:
Những khổ thơ đầu tiên nhân vật trữ tình đang đối diện với sóng, cảm nhận về sóng, tìm thấy mối liên hệ giữa sóng và khát vọng tình yêu.
– Hình tượng sóng ở khổ thơ đầu mang ý nghĩa tượng trưng cho tính khí và bản lĩnh của người phụ nữ. Con sóng là hiện thân của các đối cực dữ dội – dịu êm – ồn ào – lặng lẽ. Con sóng trung thực và thẳng thắn: khi sóng không hiểu nổi mình thì con sóng tìm đến biển, đến chân trời thoáng rộng, tự do.
– Con sóng cũng tượng trưng cho khát vọng tình yêu nuôn đời của tuổi trẻ. Con sóng ngàn đời nay vẫn thế, cứ đập vỗ vô hồi vô hạn. Tình yêu cũng vậy, luôn đồng nghĩa với tuổi trẻ. Tất cả chúng tồn tại vĩnh hằng trên mặt đất này.
– Đứng trước sóng biển trùng trùng lớp lớp – nhân vật trữ tình (em) cảm nhận về nguồn gốc bí ẩn của tình yêu với hai câu hỏi: Sóng bắt đầu từ gió – gió bắt đầu từ đâu? khi nào ta yêu nhau?
không ai có thể trả lời cặn kẽ được câu hỏi này.
Đó chính là nỗi bí ẩn của tình yêu và cũng vì càng bí ẩn nên càng say đắm, hấp dẫn hơn.
– Khi con người đối diện trước thiên nhiên rộng lớn như biển khơi rất dễ sinh ra cảm giác nhỏ nhoi, bất lực, thậm chí rơi vào cảm giác hư vô. Nhưng với tâm hồn nữ tính mang khát vọng tình yêu mãnh liệt thì Xuân Quỳnh hướng tất cả vào tình yêu trần thế.
b. Hình tượng “sóng” và “em” bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ:
– Sóng tượng trưng cho nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu, nhớ mọi nơi (không gian) lòng sâu, mặt nước, nhớ mọi lúc (thời gian) “Ngày đêm không ngủ được”, cũng như thế em nhớ anh đến nỗi “cả trong mơ còn thức”. Nghe qua có vẻ mơ hồ, vô lý. Nhưng không, em lúc nào cũng nhớ đến anh, trong mơ, khi thức, khi ngủ, khi tỉnh, khi mơ. Nhớ chính là biểu hiện của tình yêu, khi hết nhớ, cũng là lúc tình yêu chấm dứt.
– Nhà thơ tiếp tục một cách nói rất lạ: “Dẫu xuôi về phương bắc – Dẫu ngược về phương nam”. Đây là cách nói ngược với cách nói thông thường (ngược bắc xuôi nam). Nhà thơ cố ý lạ hóa ngôn từ để gây ấn tượng. Sự tinh tế nằm ngay trong cái nghịch lí của tình yêu.
Hơn nữa, đối với em, đâu chỉ có hai phương bắc và nam, mà còn có thêm một phương anh nữa, phương này là phương của tình yêu đôi lứa, là không gian của tương tư.
Xem thêm: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX– Cũng như Sóng, dù muôn vàn cách trở rồi cuối cùng cũng đến được bờ, “Em” ở đây, trên hành trình đi tìm hạnh phúc, cho dù gặp lắm chông gai, trắc trở, nhưng tin tưởng rồi “Em” cũng sẽ tới đến bến bờ hạnh phúc.
– Cuộc đời tuy dài rộng, biển tuy vô tận bao la, nhưng tình yêu vẫn được cảm nhận thật cụ thể trong từng ngày tháng. Sống trong tình yêu con người không bao giờ cảm thấy hư vô mà cuộc đời luôn mới mẻ, đầy ý nghĩa.
– Cũng như sóng giữa biển lớn tình yêu. Em cũng muốn có được một tình yêu lớn lao, bất tử. “Em” nhân vật trữ tình ở đây bỗng vụt lớn để sánh ngang với biển cả. Quả là một nỗi khao khát lớn lao và cảm động.
Quả thật, hình tượng sóng của bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu vừa tha thiết say đắm, vừa duyên dáng, nồng nàn mà vô cùng trong sáng cao đẹp của tình yêu đôi lứa muôn đời.
c. Nét đặc sắc về nghệ thuật:
– Sự liên tưởng hợp lí, tự nhiên giữa đặc điểm của sóng và đặc điểm của người con gái đang yêu. Sự liên tưởng này tạo nên hai hình tượng song song, nhưng hai mà một.
– Câu thơ năm chữ với những câu ngắn, đều nhau, tạo nên một ý niệm về hình thể của các con sóng, như con sóng dâng trào nhưng có khi chậm rãi nhẹ nhàng như lúc sóng êm biển lặng.
– Nhịp điệu của các câu thơ thật đa dạng, mô phỏng cái đa dạng của nhịp sóng: 2/3 (dữ dội và dịu êm – Ồn ào và lặng lẽ). 1/2/2 (sông không hiểu nỗi mình – sóng tìm ra tận bể), 3/1/1 (Em nghĩ về anh, em), 3/2 (Em nghĩ về biển lớn – từ nơi nào sóng lên),v.v…
– Các cặp câu đối xứng xuất hiện liên tiếp, câu sau thừa tiếp câu trước, tựa như những đợt sóng xô bờ, sóng tiếp sóng dào dạt.
– Âm điệu của bài thơ với nhiều sắc điệu đa dạng, phong phú, tạo nên vẻ tự nhiên cho bài thơ.
– Ngoài ra còn phải kể đến tính chất nữ tính trong cách diễn đạt của Xuân Quỳnh, trong cách nhìn sóng của chị: thật dịu dàng đằm thắm nhưng cũng thật dữ dội.
3. Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân, phân thân của cái “tôi” trữ tình của nhà thơ. Cùng với hình tượng “Sóng”, không thể không xem xét nó trong mối tương quan với “Em”.
– Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Đó là nhịp của những con sóng trên biển cả liên tiếp, triền miên, vô hồi, vô hạn. Đó là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập, đang khát khao tình yêu vô hạn, đang rung lên đồng điệu, hòa nhập với sóng biển.
– Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể vừa sinh động nhiều trạng thái, tâm trạng với những cung bậc tình cảm khác nhau trong trái tim của người phụ nữ đang rạo rực khao khát yêu đương. Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người con gái đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng.
Qua bài thơ Sóng, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu. Người phụ nữ ấy mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và những rung động rạo rực trong lòng mình. Người phụ nữ ấy thủy chung, nhưng không còn nhẫn nhục cam chịu nữa. Nếu “sóng không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để “tìm ra tận bể”, đến cái cao rộng, bao dung..Đó là những nét mới mẻ “ hiện đại” trong tình yêu.
Tâm hồn người phụ nữ đó khao khát, không yên lặng. “Vì tình yêu muôn thuở – có bao giờ đứng yên” (Thuyền và Biển). Nhưng đó cũng là một tâm hồn thật trong sáng, thủy chung vô hạn. Quan niệm tình yêu như vậy rất gần gũi với mọi người và có gốc rễ trong tâm thức dân tộc.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong chương "Đất Nước" (trích trường ca "Mặt đường khát vọng") của Nguyễn Khoa Điềm: "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu (...) Những cuộc đời đã hóa núi sông ta "
|
Phân tích hình tượng sóng – khát vọng tình yêu trong bài Sóng của Xuân Quỳnh
Gợi ý
Thể hiện khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của người phụ nữ, hình ảnh sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh là một biểu tượng đẹp.
Sóng và em sóng đôi, khăng khít. Em hoá thân vào sóng, những sắc thái của sóng chính là trạng thái tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu. Cái dữ dội, ồn ào, cồn cào, ngày đêm không ngủ. được của sóng là khát vọng tình yêu nơi em. Khát vọng ấy luôn thao thức và chính là nguyên nhân khiến em chảng mấy lúc bình yên. Khát vọng ấy là ham muốn vượt qua mọi giới hạn để khám phá tới cùng tình yêu. Sóng tìm ra tận bể, người phụ nữ muốn ùa ra biển lớn tình yêu để được sống hết mình, được là mình, khát vọng vươn tới cái vĩnh hằng. Sóng hiện thân cho tâm hồn trong sáng, thuỷ chung, muốn được sống hết mình cho tình yêu của người phụ nữ:
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Sóng cũng hiện thân cho ý nguyện hi sinh, dâng hiến mà không đòi hỏi sự hưởng thụ:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Bù đắp cho em chính là sự thoả mãn ước mơ biển lớn, được hoà vào cái miên viễn vô hồi, vô hạn của vũ trụ. Xem thêm: Nghị luận xã hội về tự học- Văn 12 Sóng là hình ảnh ẩn dụ cho sức mạnh bí ẩn và vô tận của tình yêu. Em nhận thức được từ sóng cái quy luật không thể cắt nghĩa được của tình yêu:
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Sóng nhớ bờ cũng như tình yêu với nhớ mong da diết, cồn cào, bồi hồi và thôi thúc ngày đêm. Chính tình yêu của sóng – bờ đã nâng đỡ tình yêu của em – anh, để tình yêu ấy trở nên rộng lớn, vĩnh cửu.
Sóng -em – tình yêu, nhũng lớp ý nghĩa khác nhau cứ đan cài, đắp đổi, chuyển hoá không ngừng để khơi mãi những liên tưởng sâu sắc về khát vọng tình yêu của người phụ nữ và về chính tình yêu.
Vanmau.edu.vn
|
Analyzing the image of waves - the desire for love in the song "Wave" by Xuan Quynh
Suggest
Expressing a woman's vibrant and intense desire for love, the image of waves in the poem of the same name by Xuan Quynh is a beautiful symbol.
The waves and you are parallel, tight. I incarnate into the waves, the nuances of the waves are the soul state of a woman in love. The intense, noisy, restless, sleepless day and night. The wave's reward is my desire for love. That desire is always restless and is the reason why I rarely have peace. That desire is the desire to overcome all limits to discover love to the end. The waves find the ocean, the woman wants to rush out into the ocean of love to live her life to the fullest, to be herself, aspiring to reach eternity. Waves embody a pure, faithful soul, wanting to live to the fullest for a woman's love:
Everywhere I think
Towards you – one direction
Waves also embody the will to sacrifice and dedicate without asking for enjoyment:
How to dissolve?
Into hundreds of small waves
In the middle of a great sea of love
Let it still flap for thousands of years.
Compensating for me is the satisfaction of my dream of the great ocean, of being able to blend into the endless, limitless eternity of the universe. See more: Social commentary on self-study - Literature 12 Waves are a metaphor for the mysterious and endless power of love. I realized from the waves the inexplicable law of love:
Waves start from the wind
Where does the wind start
I do not know either
When do we love each other?
Waves miss the shore just like love and longing, gnawing, restless and motivating day and night. It is the love of the waves and the shore that supports my love for you, so that love becomes vast and eternal.
Wave - em - love, different layers of meanings are constantly interwoven, modified, and transformed to forever evoke deep associations about a woman's desire for love and about love itself.
Vanmau.edu.vn
|
Sông Đà là dòng sông vô cùng hùng vĩ chảy trên địa phận Tây Bắc của Tổ quốc ta. Dòng sông này đã được nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả chi tiết trong tác phẩm Người lái đò sông Đà. Hình tượng con sông Đà hiện lên như thế nào? Phân tích hình tượng sông Đà các em sẽ thấy rõ điều đó.
Nhưng trước khi đi vào phân tích hình tượng sông Đà thì hãy cùng với Kho tàng văn mẫu lập dàn ý chi tiết cho đề văn này để vạch ra những ý chính cần phải có trong bài.
I. Lập dàn ý phân tích hình tượng sông Đà
1. Mở bài
– Giới thiệu về tùy bút Người lái đò sông Đà và tác giả Nguyễn Tuân.
– Hình tượng sông Đà hiện lên trong tác phẩm vừa hung bạo lại vừa trữ tình.
2. Thân bài phân tích hình tượng sông Đà
Sông Đà hung bạo
– 73 cái thác hiểm nghèo ở thượng nguồn. Tác giả viết về sông Đà chi tiết tới nỗi người đọc sẽ biết được con sông bắt nguồn từ đâu, đoạn sông được miêu tả là đoạn nào, có tính chất như thế nào.
– Sử dụng biện pháp so sánh độc đáo nhằm nêu bật lên sự hung bạo của lòng sông.
– Sông Đà dường như lúc nào cũng náo động và gào thét với muôn vạn thanh âm khác nhau.
– Sông Đà chẳng khác nào một trùng vi thạch trận với hàng loạt cửa tử hòng nuốt chửng lấy con người.
Sông Đà trữ tình
– Sông Đà đầy thơ mộng và hiền hòa như một áng tóc trữ tình.Xem thêm: Nghị luận xã hội về lòng khoan dung
– Nước sông thay đổi theo từng mùa lúc xanh, lúc đỏ.
– Quãng ven sông lặng tờ gợi nhớ về lịch sử.
– Khung cảnh trở nên gợi cảm và mơ màng với nét hiền hòa của con sông.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về hình tượng sông Đà.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích hình tượng con sông Đà (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích hình tượng sông Đà
Nguyễn Tuân đã dành nhiều tình cảm cho dòng sông Đà, nơi mà ông đã có một chuyến đi thực tế, được trải nghiệm những gì hùng vĩ nhất, hung bạo nhất. Chính vì vậy mà tác phẩm Người lái đò của ông được viết với một nét chân thực tột cùng. Tác phẩm này khiến người đọc vô cùng hứng thú. Và hình tượng sông Đà cũng đã để lại dấu ấn mạnh mẽ đối với người đọc.
Khác với nhiều tác phẩm khác người ta thường miêu tả cái đẹp trong sự dịu dàng. Nguyễn Tuân lại miêu tả cái đẹp trung sự hung bạo. Đây là cách thể hiện vô cùng khéo léo và tạo nên sự độc đáo cho hình tượng sông Đà.
Phân tích hình tượng sông Đà
Sông Đà hiện lên trước tiên là sự hung bạo lắm thác, nhiều ghềnh đã vậy còn vô cùng ngỗ ngược. Nguyễn Tuân đã dùng nhiều câu văn để miêu tả đá bờ sông. Chúng dựng thành vách thành, cao và dốc tới nỗi mà phải đúng giờ ngọ mới có mặt trời. Rồi thì vách đá ấy chèn vào lòng sông khiến cho lòng sông trở nên hẹp hơn, người ta có thể ném được hòn đá từ bờ bên này sang bở bên kia, những con nai con hổ cũng có thể nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia và giả sử nếu thuyền bè qua lại mà bị mắc vào đây thì coi như chỉ còn chờ sóng đánh cho tan thành. Đó chính là những hiểm nguy đầu tiên mà con sông Đà mang lại nhưng nó vẫn chưa phải là tất cả. Những quãng mặt ghềnh đá, sóng, gió xô vào nhau cuồn cuộn, những chỗ hút nước rồi thác nước chảy xiết réo rắt như muốn ăn tươi nuốt sống người ta.Xem thêm: Hiểu biết của anh (chị) về Chế Lan Viên và hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tiếng hát con tàu"
Đoạn văn miêu tả thác nước réo quả thực khiến người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đã bao giờ bạn thấy người ta dùng lửa để miêu tả nước hay chưa? Có lẽ chỉ có Nguyễn Tuân mới có những liên tưởng, so sánh độc đáo và táo bạo như vậy mà thôi.
Sau khi miêu tả sự hung bạo của sông Đà ở vách đá, hút nước, thác nước, Nguyễn Tuân miêu tả đến 3 thạch trận mà sông Đà giăng ra cho người lái đò vượt qua. Thạch trận nào cũng nguy hiểm và dữ dội. Nếu không cẩn thận thì con người có thể phải bỏ mạng trên dòng sông nước chảy siết này. Thật may mắn vì trong gian khó, người lái đò đã vững tay chèo để vượt qua được hết những thử thách hiểm nguy này. Thông qua việc miêu tả hình tượng sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân cũng đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của người lái đò.
Tuy hung bạo là thế nhưng sông Đà lại có lúc hiền hòa, dịu dàng mà không dòng sông nào có được. Nhà văn đã miêu tả con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình. Dòng sông Đà thì thay đổi theo từng mùa, lúc thì mang một màu xanh ngọc bích, lúc lại mang một màu đỏ giống như da mặt một người bầm đi vì rượu bia. Miêu tả bất cứ điều gì, Nguyễn Tuân cũng đưa ra được những hình ảnh so sánh thật tuyệt vời. Hai bên bờ sông đà hoang dại như một bờ tiền sử. Nó gợi cho người ta nhớ đến những hình ảnh từ đời vua Lí, vua Trần cách đây hàng trăm, hàng nghìn năm. Nguyễn Tuân tả đến đâu, người đọc bị cuốn hút đến đó. Dòng sông hung bạo bỗng chốc trở nên hiền hòa khiến cho ai cũng muốn ngắm nhìn.Xem thêm: Tả một phiên chợ vùng cao
Vẻ đẹp của hình tượng sông Đà đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc nhờ ngòi bút miêu tả tài tình của Nguyễn Tuân. Nếu sông Đà là công trình của thiên nhiên, là tuyệt tác của thiên nhiên thì Người lái đò sông Đà với hình tượng sông Đà chính là công trình nghệ thuật tuyệt vời của Nguyễn Tuân.
Trên đây chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích hình tượng sông Đà. Thông qua bài làm này, chúng tôi hi vọng các em đã nắm được cách thức triển khai một bài văn phân tích hình tượng.
Thu Thủy
|
Da River is an extremely majestic river flowing in the Northwest territory of our Fatherland. This river was described in detail by writer Nguyen Tuan in his work The Da River Boatman. How does the image of the Da River appear? Analyzing the image of Da River, you will see that clearly.
But before going into analyzing the image of Da River, let's create a detailed outline for this topic with the Sample Literature Treasury to outline the main ideas that need to be in the article.
I. Create an outline to analyze the image of Da River
1. Open the lesson
– Introduction to the essay Da River Boatman and author Nguyen Tuan.
– The image of the Da River appearing in the work is both violent and lyrical.
2. The body of the article analyzes the image of Da River
Song Da is violent
– 73 dangerous waterfalls upstream. The author writes about the Da River in such detail that readers will know where the river originates from, what section of the river is described, and what its properties are.
– Use a unique comparison method to highlight the violence of the riverbed.
– Da River seems to be always noisy and screaming with thousands of different sounds.
– Song Da is like a microscopic stone formation with a series of death gates trying to swallow people.
Song Da is lyrical
– Da River is as poetic and gentle as a lyrical hair. See more: Social commentary on tolerance
– River water changes with each season, sometimes green, sometimes red.
– The quiet riverside reminds of history.
– The scene becomes sexy and dreamy with the gentleness of the river.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the image of Da River.
Related articles:
>> Analysis of the image of Tay Tien soldiers (With detailed outline)
>> Analyzing the image of Da River (With detailed outline)
>> Analysis of the image of the Da River ferryman (With detailed outline)
II. The article analyzes the image of Da River
Nguyen Tuan has a lot of love for the Da River, where he had a field trip and experienced the most majestic and violent things. That's why his work The Boatman is written with extreme authenticity. This work makes readers extremely excited. And the image of Da River has also left a strong impression on readers.
Unlike many other works, people often depict beauty in gentleness. Nguyen Tuan again describes beauty amidst brutality. This is an extremely skillful way of expressing and creating a unique image for the Da River.
Analyzing the image of Da River
The first thing that appears on Da River is its ferocity, its many waterfalls and rapids, and it is also extremely unruly. Nguyen Tuan used many sentences to describe the riverbank stones. They built a wall, so high and steep that the sun had to be right at noon. Then that cliff inserted into the river bed makes the river bed narrower, people can throw rocks from one bank to the other, deer and tigers can also jump from one bank to the other. the other shore and if boats and ships pass by and get stuck here, it will be like waiting for the waves to destroy the city. Those are the first dangers that the Da River brings, but they are not all. The rapids, waves, and wind rushing together, the water suction places and the rapid-flowing waterfalls roar as if they want to devour people. See more: Your understanding of Che Lan Vien and Circumstances of composing the poem "The Singing of the Ship"
The passage describing the roaring waterfall really makes the reader go from one surprise to another. Have you ever seen people use fire to describe water? Perhaps only Nguyen Tuan has such unique and bold associations and comparisons.
After describing the violence of the Da River at cliffs, water intakes, and waterfalls, Nguyen Tuan described the three stone formations that the Da River spread for the ferrymen to cross. Every stone formation is dangerous and intense. If people are not careful, they can die in this fast-flowing river. Fortunately, in the midst of hardship, the boatman was able to row steadily to overcome all these dangerous challenges. Through describing the image of the Da River, writer Nguyen Tuan also highlighted the beauty of the boatman.
Although it is so violent, the Da River is sometimes gentle and gentle like no other river. The writer described the Da River as flowing like a lyrical hair. The Da River changes with each season, sometimes it has a jade green color, sometimes it has a red color like the skin on a person's face bruised by alcohol. Describing anything, Nguyen Tuan can also provide wonderful comparative images. Both sides of the river are as wild as a prehistoric bank. It reminds people of images from the reigns of King Ly and King Tran hundreds and thousands of years ago. No matter how much Nguyen Tuan describes, the reader is attracted to it. The violent river suddenly became gentle, making everyone want to watch it. See more: Describe a highland market
The beauty of the image of the Da River has left a deep impression in the hearts of readers thanks to Nguyen Tuan's skillful description. If the Da River is a work of nature, a masterpiece of nature, then the Da River Boatman with the image of the Da River is a wonderful work of art by Nguyen Tuan.
Above we have together outlined and analyzed the image of Da River. Through this assignment, we hope you have grasped how to develop an image analysis essay.
Thu Thuy
|
Đề bài: Em hãy phân tích hình tượng con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà”
Nguyễn Tuân được biết đến là một cây bút tài hoa, uyên bác. Có thể nói Nguyễn Tuân cả cuộc đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Ở Nguyễn Tuân ông có sở trường về thể loại tuỳ bút. Và một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”. Và bên cạnh hình ảnh ông lái đò hiện lên là một người vô cùng giản dị mà tài hoa, tác phẩm như lạicòn khắc hoạ được vẻ đẹp của con sông Đà dưới những góc nhìn khác nhau. Con sông Đà có khi hùng tráng, hung bạo nhưng đôi lúc lại trở lên hiền hòa trữ tình, duyên dáng nên thơ biết bao.
Trước hết, ta có thể nhận thấy hình ảnh con sông Đà như đã được hiện lên qua cái nhìn của tác giả về một con sông tự nhiên, là một con sông có lắm thác nhiều ghềnh, hung bạo và đầy sự ngỗ ngược, và có lẽ con sông Đà như không chảy theo khuôn khổ lẽ thường. Cái vẻ nguy hiểm của con sông Đà ở đây không chỉ được thể hiện qua việc lắm thác nhiều nghềnh hiểm trở mà ở đó còn là cảnh “đá bờ sông dựng vách thành. Ta như thấy mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”. Có cả những vách đá thành chẹt lòng sông Đà đã hiện lên như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách và có khi một chú nai con cũng có thể nhảy qua được.
Chỉ với vài chi tiết chấm phá mà như đã phác họa như thế, người đọc dường như cũng dã hình dung ra được sự hiểm trở, hùng vĩ của con sông. Không dừng lại ở đó mà tác giả Nguyễn Tuân như đã còn diễn tả cảm xúc khi đi qua đoạn sông trắc trở này như “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đèn điện”. Việc sử dụng một phương thức nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân cũng như đã khắc họa nên hình ảnh một con sông Đà độc đáo. Và con sông Đà đã đẹp vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại nhưng cũng đã ẩn chứa đầy hiểm nguy.Xem thêm: Bình giảng khổ thơ 10, 11 trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên- Văn 12
Thế nhưng với những vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại của sông Đà chưa dừng lại ở đó. “Quãng mặt ghềnh hát loong, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò nào tóm được qua quãng ấy”. Chính với cách dùng động từ mạnh và kết cấu trùng điệp, tác giả Nguyễn Tuân dường như đã làm rõ sự nguy hiểm của con sông hung dữ, và như sẵn sàng không kiêng nể mà lấy đi tính mạng của bất cứ tay lái nào khinh suất.
Hình ảnh những cái xoáy hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La dường như đã được tác giả miêu tả còn ghê rợn hơn nữa đối với người đọc. “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. […] Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Và rồi có cả “Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Cùng với những giọng điệu dồn dập, gay cấn, đầy cảm xúc, những câu văn gằn lên và như tô đậm lên một cảnh tượng hùng vĩ nhưng nguy hiểm vô cùng. Với một cách so sánh, nhân hóa đầy sự tài ba và những liên tưởng “rất đắt”, đây là điều rất hiếm thấy trong văn học. Điều đó đường như đã cho thấy Nguyễn Tuân thực sự là một bậc thầy về ngôn ngữ. Ông như đã thổi hồn vào những con chữ, và đã khiến từng con chữ như biết nói, biết rung động.Xem thêm: Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường
Có thể nói rằng điều đặc biệt hơn nữa, không chỉ dữ tợn mà sông Đà còn “nham hiểm” bủa vây ba trận chiến. Và những người lái đò mà nếu như mà muốn vượt qua khúc sông này thì đều phải vượt qua ba trận chiến hiểm trở, táo bạo này thì mới được. Với giọng văn ngày càng như càng dồn dập, tác giả Nguyễn Tuân thật như kéo người đọc cùng hồi hộp vượt thác với người lái đò. Trong trận chiến thứ nhất “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách”. Sang đến trận thứ hai cũng đầy căng thẳng không kém “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn”. Và cho đến trận thứ ba có vẻ như ít cửa hơn nhưng lại quyết liệt và cam go hơn. Dường như với tất cả những gì mà Nguyễn Tuân miêu tả, con sông Đà lúc này như đã hiện lên không khác nào một con thủy quái đầy nham hiểm và thâm độc, và nó như chỉ rình mò nuốt chửng lấy con mồi bất cứ khi nào.
Co sông Đà như hung bạo là thế, nham hiểm là thế, vậy mà qua những thác ghềnh khó khăn kia thì con sông Đà lại trở nên duyên dáng, thơ mộng và trữ tình đến lạ kỳ. Dường như ta thấy “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Có thể nói cái đẹp còn có ở nước sông Đà thay đổi theo mùa, và trong đó con sông đẹp nhất là vào mùa xuân và mùa thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Khi đến độ thu về, thì mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Có dàn ý chi tiết)
Đẹp là vậy nhưng dường như sông Đà cũng có những lúc buồn mênh mang và hoang sơ đến lạ kỳ: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn như như một nỗi niềm cổ tích xưa”. “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”. Dường như ta thấy cảnh sông Đà còn là “những nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm”. Đến đây, người đọc như đã cẩm thấy gần như đã quên đi vẻ hung bạo, toan tính của sông Đà trên kia. Thay vào đó, người ta chỉ thấy một vẻ đẹp nhẹ nhàng, cổ kính mà tươi mới biết bao nhiêu. Con sông Đà lúc này lại giống như một người bạn tâm giao, tâm tình: con sông “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”. Sông Đà bỗng lại như trở nên hiền hòa và thơ mộng lạ kì, nó “trôi những con đò mình nở chạy buồm vải, nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.
Con sông Đà như hiện lên mang một vẻ đẹp độc đáo đến nỗi khiến người đọc chúng ta đã phải ngỡ ngàng. Chính bằng một tình yêu cái đẹp, yêu thiên nhiên đất nước kết hợp với vốn từ phong phú, tài hoa, tác giả Nguyễn Tuân dường như đã tái hiện lên một khung cảnh núi rừng Tây Bắc thật hùng vĩ mà trữ tình, nên thơ. Sông Đà quả thật là một món quà ưu ái lớn của thiên nhiên ban tặng và là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của bậc thầy của thể tùy bút Nguyễn Tuân.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Đề bài: Em hãy phân tích hình tượng con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà”
Nguyễn Tuân được biết đến là một cây bút tài hoa, uyên bác. Có thể nói Nguyễn Tuân cả cuộc đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Ở Nguyễn Tuân ông có sở trường về thể loại tuỳ bút. Và một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”. Và bên cạnh hình ảnh ông lái đò hiện lên là một người vô cùng giản dị mà tài hoa, tác phẩm như lạicòn khắc hoạ được vẻ đẹp của con sông Đà dưới những góc nhìn khác nhau. Con sông Đà có khi hùng tráng, hung bạo nhưng đôi lúc lại trở lên hiền hòa trữ tình, duyên dáng nên thơ biết bao.
Trước hết, ta có thể nhận thấy hình ảnh con sông Đà như đã được hiện lên qua cái nhìn của tác giả về một con sông tự nhiên, là một con sông có lắm thác nhiều ghềnh, hung bạo và đầy sự ngỗ ngược, và có lẽ con sông Đà như không chảy theo khuôn khổ lẽ thường. Cái vẻ nguy hiểm của con sông Đà ở đây không chỉ được thể hiện qua việc lắm thác nhiều nghềnh hiểm trở mà ở đó còn là cảnh “đá bờ sông dựng vách thành. Ta như thấy mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”. Có cả những vách đá thành chẹt lòng sông Đà đã hiện lên như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách và có khi một chú nai con cũng có thể nhảy qua được.
Chỉ với vài chi tiết chấm phá mà như đã phác họa như thế, người đọc dường như cũng dã hình dung ra được sự hiểm trở, hùng vĩ của con sông. Không dừng lại ở đó mà tác giả Nguyễn Tuân như đã còn diễn tả cảm xúc khi đi qua đoạn sông trắc trở này như “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đèn điện”. Việc sử dụng một phương thức nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân cũng như đã khắc họa nên hình ảnh một con sông Đà độc đáo. Và con sông Đà đã đẹp vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại nhưng cũng đã ẩn chứa đầy hiểm nguy.Xem thêm: Bình giảng khổ thơ 10, 11 trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên- Văn 12
Thế nhưng với những vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại của sông Đà chưa dừng lại ở đó. “Quãng mặt ghềnh hát loong, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò nào tóm được qua quãng ấy”. Chính với cách dùng động từ mạnh và kết cấu trùng điệp, tác giả Nguyễn Tuân dường như đã làm rõ sự nguy hiểm của con sông hung dữ, và như sẵn sàng không kiêng nể mà lấy đi tính mạng của bất cứ tay lái nào khinh suất.
Hình ảnh những cái xoáy hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La dường như đã được tác giả miêu tả còn ghê rợn hơn nữa đối với người đọc. “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. […] Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Và rồi có cả “Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Cùng với những giọng điệu dồn dập, gay cấn, đầy cảm xúc, những câu văn gằn lên và như tô đậm lên một cảnh tượng hùng vĩ nhưng nguy hiểm vô cùng. Với một cách so sánh, nhân hóa đầy sự tài ba và những liên tưởng “rất đắt”, đây là điều rất hiếm thấy trong văn học. Điều đó đường như đã cho thấy Nguyễn Tuân thực sự là một bậc thầy về ngôn ngữ. Ông như đã thổi hồn vào những con chữ, và đã khiến từng con chữ như biết nói, biết rung động.Xem thêm: Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường
Có thể nói rằng điều đặc biệt hơn nữa, không chỉ dữ tợn mà sông Đà còn “nham hiểm” bủa vây ba trận chiến. Và những người lái đò mà nếu như mà muốn vượt qua khúc sông này thì đều phải vượt qua ba trận chiến hiểm trở, táo bạo này thì mới được. Với giọng văn ngày càng như càng dồn dập, tác giả Nguyễn Tuân thật như kéo người đọc cùng hồi hộp vượt thác với người lái đò. Trong trận chiến thứ nhất “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách”. Sang đến trận thứ hai cũng đầy căng thẳng không kém “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn”. Và cho đến trận thứ ba có vẻ như ít cửa hơn nhưng lại quyết liệt và cam go hơn. Dường như với tất cả những gì mà Nguyễn Tuân miêu tả, con sông Đà lúc này như đã hiện lên không khác nào một con thủy quái đầy nham hiểm và thâm độc, và nó như chỉ rình mò nuốt chửng lấy con mồi bất cứ khi nào.
Co sông Đà như hung bạo là thế, nham hiểm là thế, vậy mà qua những thác ghềnh khó khăn kia thì con sông Đà lại trở nên duyên dáng, thơ mộng và trữ tình đến lạ kỳ. Dường như ta thấy “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Có thể nói cái đẹp còn có ở nước sông Đà thay đổi theo mùa, và trong đó con sông đẹp nhất là vào mùa xuân và mùa thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Khi đến độ thu về, thì mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Có dàn ý chi tiết)
Đẹp là vậy nhưng dường như sông Đà cũng có những lúc buồn mênh mang và hoang sơ đến lạ kỳ: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn như như một nỗi niềm cổ tích xưa”. “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”. Dường như ta thấy cảnh sông Đà còn là “những nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm”. Đến đây, người đọc như đã cẩm thấy gần như đã quên đi vẻ hung bạo, toan tính của sông Đà trên kia. Thay vào đó, người ta chỉ thấy một vẻ đẹp nhẹ nhàng, cổ kính mà tươi mới biết bao nhiêu. Con sông Đà lúc này lại giống như một người bạn tâm giao, tâm tình: con sông “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”. Sông Đà bỗng lại như trở nên hiền hòa và thơ mộng lạ kì, nó “trôi những con đò mình nở chạy buồm vải, nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.
Con sông Đà như hiện lên mang một vẻ đẹp độc đáo đến nỗi khiến người đọc chúng ta đã phải ngỡ ngàng. Chính bằng một tình yêu cái đẹp, yêu thiên nhiên đất nước kết hợp với vốn từ phong phú, tài hoa, tác giả Nguyễn Tuân dường như đã tái hiện lên một khung cảnh núi rừng Tây Bắc thật hùng vĩ mà trữ tình, nên thơ. Sông Đà quả thật là một món quà ưu ái lớn của thiên nhiên ban tặng và là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của bậc thầy của thể tùy bút Nguyễn Tuân.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Phân tích hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
Gợi ý
Bài làm
I. Mở bài
Trước khi sông Đà trở thành “dòng sông ánh sáng”, nguồn cảm hứng cho thơ, nhạc, họa… thì con sông ấy đã tuôn chảy trên nhiều trang văn của Nguyễn Tuân. Tài năng, phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân đã biến dòng sông ấy trở nên hấp dẫn, gợi cảm cho người đọc.
II. Thân bài
1. Lai lịch sông Đà
Nguyễn Tuân là người rất mực tài hoa. Nhà văn đòi hỏi mỗi trang viết phải thật sự nghệ thuật và độc đáo. Đến với sông Đà, dường như Nguyễn Tuân đã gặp được điều tâm đắc, mảnh đề tốt để ngòi bút của ông tung hoành bởi con sông đó mang một “cá tính độc đáo":
Chúng thủy giai đông tẩu
Đà giang độc bắc lưu
(Mọi con sông đều chảy về đông,
Chỉ có sông Đà theo hướng bắc)
(Nguyễn Quang Bích)
Sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân trở nên một nhân vật có diện mạo, có tâm địa vừa hung bạo, vừa hết sức trữ tình.
2. Hình tượng con sông hung bạo
– Khi hung bạo, sông Đà là kẻ thù số một sẵn sàng cướp lấy mạng sống con người, có tâm địa độc ác như “người dì ghẻ”. Để khắc họa tính cách của sông Đà, tác giả đã dựng lại khúc sông nguy hiểm:
+ Đó là đoạn cảnh đá bờ sông dựng thành vách thành, chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đó là quãng Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Lại một đoạn khác, sông Đà là cái hút nước xoáy tít. Có những thuyền đã bị nó hút xuống, thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi đến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông.
+ Nhưng dữ dội nhất là ở những thác đá. Nguyễn Tuân đã buộc sự dữ dội, nham hiểm của sông Đà phải hiện lên thành hình và gào thét bằng tràm ngàn âm thanh. Chưa thấy sông nhưng người ta đã bị đe dọa bởi tiếng thác nước nghe như oán trách gì, rồi lại như van xin, rồi lại như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Tác giả đã dựng lại cuộc thủy chiến giữa sông Đà và người lái đò để lột tả cho được tính hung bạo của nó và tài nghệ của người lái đò. Thác đá được xếp thành từng tuyến mà nhà văn gọi là thạch trận, nhằm ăn chết cái thuyền đơn độc. Ở tuyến một, thác đá mở ra năm cửa trận, bốn cửa tử, một cửa sinh; cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn. Ở tuyến hai, tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại nằm bên hữu ngạn. Ở tuyến ba, bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống nằm ở giữa. Người lái đò phải nhắm đúng luồng sinh để vượt qua.Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp mà em đã gặp trong mấy tháng nghỉ hè (có thể là phong cảnh nơi em nghỉ mát, hoặc cánh đồng hay rừng núi quê em)
– Một trong những nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là không thích sự bằng phẳng, nhợt nhạt. Bởi thế, khi khắc họa sông Đà hung bạo, Nguyễn Tuân đã dùng hết bút lực để dường như thi tài với tạo hóa. Ông dùng những câu góc cạnh, giàu tính tạo hình, những câu nhiều động từ mạnh nối tiếp nhau, dồn dập: Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trước cánh tay mình. Nhà văn sử dụng lối nói ví von, ẩn dụ, tượng trưng, liên tưởng đầy bất ngờ, chính xác và thứ vị. Ông tả những hòn đá trông nghiêng thì y như là dáng hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi, một hòn khác thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào.
– Nhưng cũng chính trên những trang văn tả sông Đà hung bạo, người đọc bắt gặp nhiều tự hào của tác giả về Tổ quốc hùng vĩ, giàu đẹp. Có thể nghe thây trong đoạn văn ấy âm hưởng của những khúc ca ca ngợi sức mạnh tự nhiên thật hoang dại mà cũng hết sức tự do, hào phóng.
3. Hình tượng con sông trữ tình
Bên cạnh tính hung bạo, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà lại rất trữ tình, gợi bao cảm xúc làm say mê lòng người. Khi trữ tình, sông Đà hiền hòa, mềm mại, huyền ảo như mái tóc của một phụ nữ kiều diễm: Con sông tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo nương xuân.
– Không chỉ đẹp ở hình dáng, sông Đà còn gợi cảm ở màu sắc, mà tác giả đã bao lần dày công quan sát mới nói hết được vẻ độc đáo ấy: Mùa xuân dòng xanh ngọc bích (nghĩa là một màu xanh trong và sáng); mùa thu nước Sông Đà lừ đừ chín đỏ như mặt người bầm đi vì rượu bữa.
– Đặc biệt là không khí hoang dại, tĩnh lặng: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Để lột tả không khí đầy thơ ấy, Nguyễn Tuân đã tả đàn hươu ngẩng đầu ngơ ngác mơ một tiếng còi sương và cái nắng tháng ba Đường thi Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu, gợi tâm sự của người tình nhân chưa quen biết!
– Lúc này, không thấy đâu con sông Đà diện mạo và tâm địa độc ác, màchỉ thấy tình cảm của dòng sông đối với con người như một cố nhân, xa thì thấy nhớ thường, gặp lại thì mừng vui như nối lại chiêm bao dứt quãng. Còn con sông lại mang bao rung động yêu thương như nhớ những hòn đá xa xôi để lại nơi thượng nguồn.Xem thêm: Tuần 9: Chính tả Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà– Khi tả con sông Đà trữ tình, Nguyễn Tuân đã sử dụng những câu văn nhẹ nhàng, êm ái. Câu ngắn, vị ngữ diễn tả trạng thái tĩnh lặng, để lại trong lòng người âm hưởng mênh mang, thơ mộng.
III. Kết luận
Dưới ngòi bút tài hoa và uyên bác của Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên thật sinh động với hai tính cách hung bạo và trữ tình. Ẩn đằng sau những câu chữ là niềm tự hào của nhà văn về đất nước giàu đẹp. Đây cũng là cách tôn vinh con người, vì chính ở nơi đầu sóng ngọn gió ác liệt ấy, con người đã chinh phục và chế ngự thiên nhiên để người nay sông Đà trở thành nguồn tài nguyên cho Tổ quốc.
Vanmau.edu.vn
|
Analysis of the image of the Da River in the work The River Da Boatman by Nguyen Tuan
Suggest
Assignment
I. Introduction
Before the Da River became a "river of light", a source of inspiration for poetry, music, painting... that river flowed on many pages of Nguyen Tuan's writing. Nguyen Tuan's talent and unique artistic style have turned that river into an attractive and sexy one for readers.
II. Body of the article
1. Origin of Da River
Nguyen Tuan is a very talented person. Writers require each page to be truly artistic and unique. Coming to Da River, it seems that Nguyen Tuan has found something he likes, a good topic for his pen to write about because that river has a "unique personality":
They are in the eastern water stage
Da River, North River, North River
(All rivers flow east,
There is only Da River in the north direction)
(Nguyen Quang Bich)
Song Da under the pen of Nguyen Tuan becomes a character with an appearance and a mind that is both violent and extremely lyrical.
2. The image of a violent river
- When violent, Da River is the number one enemy, ready to take human life, with a cruel mind like a "stepmother". To portray the character of the Da River, the author recreated the dangerous river section:
+ That is the scene where the riverbank rocks are built into walls, cutting into the heart of the Da River like a throat. That's the Hat Loong stretch of kilometers long with ice rushing water, wind rushing waves, rolling winds that roar throughout the year as if always demanding a debt from any Song Da ferryman who can catch them. In another section, the Da River is a whirlpool of water. There were boats that were sucked down by it. They did a handstand upside down and then disappeared ten minutes later, only to find their bodies at the river bend.
+ But the most intense is in the rocky waterfalls. Nguyen Tuan forced the fierceness and sinisterness of the Da River to take shape and scream with thousands of sounds. Haven't seen the river yet, but people are already threatened by the sound of the waterfall, which sounds like a complaint, then like a plea, then like a provocation, with a harsh and mocking voice. The author recreated the naval battle between the Da River and the boatman to portray its brutality and the boatman's talent. The stone waterfall is arranged in lines that the writer calls a stone formation, aiming to eat the lone boat to death. In route one, the stone waterfall opens five gates of battle, four gates of death, and one gate of life; The birth gate lies precariously on the left bank. On the second route, add more death gates to trick the boat into entering, and the birth gates are located on the right bank. In route three, the right and left sides are both dead channels, the living channel is in the middle. The ferryman must aim at the correct birth canal to cross. See more: Describe a beautiful scene that you saw during the summer vacation months (it could be the landscape of your vacation place, or the fields or forests of your hometown)
– One of Nguyen Tuan's artistic style is his dislike of flatness and paleness. Therefore, when portraying the violent Da River, Nguyen Tuan used all his pen power to seem to compete with nature. He used angular sentences, rich in imagery, sentences with many strong verbs that followed one another, in rapid succession: The water roared loudly around him, rushing in and breaking the oar handle of the weapon in front of his arm. The writer uses similes, metaphors, symbols, and associations that are surprising, accurate, and flavorful. He described the tilted rocks as if they were raising their chins asking the boat to declare its name, another rock challenged the boat to come closer.
– But it is also on the pages describing the violent Da River that readers encounter much of the author's pride in the majestic, rich and beautiful Fatherland. One can hear in that passage the sound of songs praising natural power that is wild but also extremely free and generous.
3. Lyrical river image
Besides its brutality, under Nguyen Tuan's pen, Da River is very lyrical, evoking many emotions that captivate people's hearts. When lyrical, the Da River is gentle, soft, and magical like the hair of a beautiful woman: The river flows long like a lyrical hair, the roots of the hair are hidden in the clouds of the Northwest sky, blooming with banyan flowers. Rice flowers in February and billowing smoke from Meo Mountain in spring.
- Not only beautiful in shape, Da River is also sexy in color, but the author has had to diligently observe many times to fully express that unique beauty: In the spring, the stream is jade green (meaning a clear and green color). bright); In the fall, the water of Da River is ripe and red like a person's face bruised by alcohol.
– Especially the wild, quiet atmosphere: The riverbank is as wild as a prehistoric bank. The riverbank is as innocent as an ancient fairy tale. To describe that poetic atmosphere, Nguyen Tuan described a herd of deer raising their heads in bewilderment, dreaming of a dew whistle and the March sun. Duong Chau's Duong Thi Yen flower, three moon flowers, evoking the feelings of an unknown lover!
- At this time, I can't see the Da River's cruel appearance and heart, but I can only see the river's feelings towards people like an old friend, when I'm far away I always miss it, when I see it again I'm happy like reconnecting with a dream. interrupted. And the river carries so many vibrations of love as if remembering the distant stones left upstream. See more: Week 9: Spelling The sound of ba-la-la-ca on the Da river - When describing the Da river love, Nguyen Tuan used gentle, gentle sentences. The sentence is short and the predicate describes a state of tranquility, leaving a vast, poetic resonance in people's hearts.
III. Conclude
Under the talented and erudite pen of Nguyen Tuan, Da River appears vividly with two fierce and lyrical personalities. Hidden behind the words is the writer's pride in his rich and beautiful country. This is also a way to honor people, because it was at the head of that fierce wind and waves that people conquered and controlled nature so that Da River has now become a resource for the Fatherland.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình tượng “sóng” trong bài thơ của Xuân Quỳnh, Anh (chị) cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này?
Gợi ý
Xuân Quỳnh (1942 – 1988) nổi tiếng với nhiều bài thơ tình như “Thuyền và biển”, "Sóng"… Bài thơ "Sóng" được viết vào cuối nãm 1967, in trong tập "Hoa dọc chiến hào", xuất bản năm 1968.
Bài thơ nói lên một tình yêu đẹp của người con gái: yêu chân thành tha thiết, nồng nhiệt và thủy chung. Tình yêu trẻ trung ấy là khát vọng một hạnh phúc trọn vẹn của đôi lứa.
Sắc điệu trữ tình được dệt nên bằng hình tượng “sóng”. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng bất tận, vô hồi, Sóng là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái "tôi" trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc lại là sự phân thân của “em”, của người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hổn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi mới và sôi nổi, khát vọng. Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng và tình yêu nồng nhiệt của người con gái.
Sóng biến hóa. Sóng vỗ liên hồi. Triền miên và bất tận: "Dữ dội và dịu êm – Ồn ào và lặng lẽ – Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể”. Trạng thái của sóng cũng là những biến thái tâm tình, những khát khao to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương: “Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể" nơi mênh mông dạt dào. Có đến nơi biển rộng trời cao, sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với bao khát khao to lớn.
Sóng được nữ sĩ làm biểu tuợng cho tình yêu. Miêu tả sóng biến hóa cũng là để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó giải thích của tình yêu. Giống như sóng biển, tình yêu cũng là một hiện tượng kì diệu của con người, rất khó lí giải tường tận. Con sóng "ngày xưa" và con sóng "ngày sau" vẫn thế, trường tồn, bất biến. Thì tình yêu của con người, mãi mãi là "khát vọng" của tuổi trẻ, của lứa đôi, của “em” và “anh”Xem thêm: Tả một người thân trong gia đình em."Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”
Sóng tìm đến bể, đến đại dương để tự hiểu mình, cũng như em đến với anh, tìm đến một tình yêu đẹp là để hiểu sâu hơn tâm hồn em, con ngưòi đích thực của em. Người con gái hỏi sóng, hay để tự hỏi mình: "Sóng bắt đầu từ gió – Gió bắt đầu từ đâu – Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau". Sóng là sự thức nhận về cái “quy luật” không thể cắt nghĩa được của tình yêu. Cái giây phút giao duyên của lứa đôi “khi nào ta yêu nhau", tìm được câu trả lời đâu dễ? Chính vì thế mà trong bài thơ tình số “21” (tập thơ "Người làm vườn") thi hào Tagor đã viết:
“Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”
(Đào Xuân Quý dịch)
Câu thơ "Khi nào ta yêu nhau" đã diễn tả đúng nỗi niềm điển hình của những gái, trai đang sống trong một tình yêu đẹp. Sóng vỗ “dữ dội… dịu êm… ồn ào… lặng lẽ”…, sóng "dưới lòng sâu" và "trên mặt nước", sóng “nhớ bờ” – tất cả đều tượng trưng cho tình yêu và nỗi nhớ. Yêu tha thiết, mãnh liệt, Nhớ bồi hồi, triền miên. Nổi nhớ ấy da diết, giày vò, choán đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian:
"Con sóng dưới lòng sâu,
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
Thật là tự nhiên và thơ mộng “con sóng nhớ bờ" nên thức với thời gian và đại dương. Cũng như bến đợi thuyền, thuyền nhớ bên, lúc nào người con gái cũng bồi hồi thương nhớ:Xem thêm: Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài"Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
“Còn thức” nghĩa là lúc nào em cũng thấy rõ hình dáng anh, ánh mắt anh, nụ cười anh… mọi tình yêu nổng nhiệt, say mê!
Con sóng khao khát tới bờ để vỗ về, ve vuốt “Hôn thật khẽ thật êm – Hôn êm đềm mãi mãi …” (Xuân Diệu). Em cũng khao khát mong được đến với anh, hòa nhịp trong tình yêu anh. Tình yêu của người con gái thật trong sáng nồng nàn và mãnh liệt. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được "tới bờ", cũng như em và anh sẽ vượt qua mọi khó khăn, đi tới một tình yêu đẹp, được sống trong hạnh phúc trọn vẹn lứa đôi:
"Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Điều mong ước ấy nói lên một tấm lòng, một trái tim nồng hậu chan chứa yêu thương. Người con gái ấy đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành và say mê. Thắm thiết, chân tình và thủy chung là phẩm chất của tình yêu. “Sóng” đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái mong được sống hết mình với "anh" trong một tình yêu sắt son chung thủy:
"Dẫu xuôi về phương bắc
Dầu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương".
Cuối cùng, sóng cũng nói giúp nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn, sống hết mình trong tình yêu. Trong tình yêu lứa đôi đằm thắm đẹp và bền vững như “trăm sóng nhỏ" tan ra trên đại dương mênh mông, được hòa nhập trong “biển lớn tình yêu” của cộng đồng. Lời nguyện cầu của người con gái cho thấy một tâm hồn rất cao cả trong tình yêu:
"Làm sao tan ra được
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
Cả bài thơ, nếu kể thêm nhan đề, tác giả 11 lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ biến hóa như tâm tình xôn xao. Hình tượng sóng cho ta nhiều ấn tượng vể âm điệu, nhịp điệu của sóng, cũng là giọng điệu tầm tình, nhạc điệu của bài thơ. Thơ liền mạch, phong phú về vần điệu, trong sáng trong biểu cảm, lúc bồi hồi tha thiết, lúc day dứt bồn chồn, lúc mạnh mẽ ồn ào. Sóng trên đại dương cũng là sóng vỗ trong lòng người con gái. Cái hay của bài thơ là ở âm điệu ấy.Xem thêm: Hãy phân tích hình tượng "sóng" và nêu cảm nhận của mình về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ "sóng” của Xuân Quỳnh? Qua hình tượng sóng và cả bài thơ, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp trẻ trung, tâm hồn trong sáng, đa tình của người con gái. Người con gái ấy chủ động bày tỏ những khát khao, những rung động rạo rực của lòng mình trong tình yêu. Đã có một nàng Vọng Phu, một hòn Trống Mái. Cũng đã có những thiên tình sử diễm lệ, những vần ca dao nói vể tình yêu trai gái làng quê. Ở đây cũng vậy, Xuân Quỳnh nói lên một tình yêu đẹp của người phụ nữ: quyết tâm vượt qua mọi cách trở, khó khăn để xây đắp một tình yêu son sắt thủy chung, trọn vẹn trong hạnh phúc như trăm ngàn con sóng kia "ngàn năm còn vỗ" giữa đại dương, "Giữa biển lớn tình yêu" bao la. Người con gái được nói đến trong bài thơ "Sóng"đã có một tâm hồn đẹp, một khát vọng về hạnh phúc, nên đã có một tình yêu trong sáng bền đẹp.
Xuân Quỳnh viết bài thơ tình này vào những ngày cuối năm 1967, khi mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra vô cùng khốc liệt- Trai tráng ào ào ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Sân đình, bến nước, gốc đa, sân ga, sân trường… diễn ra những "cuộc chia li màu đỏ". Có đặt bài "Sóng" vào trong bối cảnh lịch sử hào hùng ấy, mới cảm nhận hết nỗi nhớ và khao khát về hạnh phúc của người con gái đang yêu:
"Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được…”
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình tượng “sóng” trong bài thơ của Xuân Quỳnh, Anh (chị) cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này?
Gợi ý
Xuân Quỳnh (1942 – 1988) nổi tiếng với nhiều bài thơ tình như “Thuyền và biển”, "Sóng"… Bài thơ "Sóng" được viết vào cuối nãm 1967, in trong tập "Hoa dọc chiến hào", xuất bản năm 1968.
Bài thơ nói lên một tình yêu đẹp của người con gái: yêu chân thành tha thiết, nồng nhiệt và thủy chung. Tình yêu trẻ trung ấy là khát vọng một hạnh phúc trọn vẹn của đôi lứa.
Sắc điệu trữ tình được dệt nên bằng hình tượng “sóng”. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng bất tận, vô hồi, Sóng là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái "tôi" trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc lại là sự phân thân của “em”, của người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hổn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi mới và sôi nổi, khát vọng. Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng và tình yêu nồng nhiệt của người con gái.
Sóng biến hóa. Sóng vỗ liên hồi. Triền miên và bất tận: "Dữ dội và dịu êm – Ồn ào và lặng lẽ – Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể”. Trạng thái của sóng cũng là những biến thái tâm tình, những khát khao to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương: “Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể" nơi mênh mông dạt dào. Có đến nơi biển rộng trời cao, sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với bao khát khao to lớn.
Sóng được nữ sĩ làm biểu tuợng cho tình yêu. Miêu tả sóng biến hóa cũng là để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó giải thích của tình yêu. Giống như sóng biển, tình yêu cũng là một hiện tượng kì diệu của con người, rất khó lí giải tường tận. Con sóng "ngày xưa" và con sóng "ngày sau" vẫn thế, trường tồn, bất biến. Thì tình yêu của con người, mãi mãi là "khát vọng" của tuổi trẻ, của lứa đôi, của “em” và “anh”Xem thêm: Tả một người thân trong gia đình em."Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”
Sóng tìm đến bể, đến đại dương để tự hiểu mình, cũng như em đến với anh, tìm đến một tình yêu đẹp là để hiểu sâu hơn tâm hồn em, con ngưòi đích thực của em. Người con gái hỏi sóng, hay để tự hỏi mình: "Sóng bắt đầu từ gió – Gió bắt đầu từ đâu – Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau". Sóng là sự thức nhận về cái “quy luật” không thể cắt nghĩa được của tình yêu. Cái giây phút giao duyên của lứa đôi “khi nào ta yêu nhau", tìm được câu trả lời đâu dễ? Chính vì thế mà trong bài thơ tình số “21” (tập thơ "Người làm vườn") thi hào Tagor đã viết:
“Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”
(Đào Xuân Quý dịch)
Câu thơ "Khi nào ta yêu nhau" đã diễn tả đúng nỗi niềm điển hình của những gái, trai đang sống trong một tình yêu đẹp. Sóng vỗ “dữ dội… dịu êm… ồn ào… lặng lẽ”…, sóng "dưới lòng sâu" và "trên mặt nước", sóng “nhớ bờ” – tất cả đều tượng trưng cho tình yêu và nỗi nhớ. Yêu tha thiết, mãnh liệt, Nhớ bồi hồi, triền miên. Nổi nhớ ấy da diết, giày vò, choán đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian:
"Con sóng dưới lòng sâu,
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
Thật là tự nhiên và thơ mộng “con sóng nhớ bờ" nên thức với thời gian và đại dương. Cũng như bến đợi thuyền, thuyền nhớ bên, lúc nào người con gái cũng bồi hồi thương nhớ:Xem thêm: Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài"Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
“Còn thức” nghĩa là lúc nào em cũng thấy rõ hình dáng anh, ánh mắt anh, nụ cười anh… mọi tình yêu nổng nhiệt, say mê!
Con sóng khao khát tới bờ để vỗ về, ve vuốt “Hôn thật khẽ thật êm – Hôn êm đềm mãi mãi …” (Xuân Diệu). Em cũng khao khát mong được đến với anh, hòa nhịp trong tình yêu anh. Tình yêu của người con gái thật trong sáng nồng nàn và mãnh liệt. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được "tới bờ", cũng như em và anh sẽ vượt qua mọi khó khăn, đi tới một tình yêu đẹp, được sống trong hạnh phúc trọn vẹn lứa đôi:
"Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Điều mong ước ấy nói lên một tấm lòng, một trái tim nồng hậu chan chứa yêu thương. Người con gái ấy đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành và say mê. Thắm thiết, chân tình và thủy chung là phẩm chất của tình yêu. “Sóng” đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái mong được sống hết mình với "anh" trong một tình yêu sắt son chung thủy:
"Dẫu xuôi về phương bắc
Dầu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương".
Cuối cùng, sóng cũng nói giúp nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn, sống hết mình trong tình yêu. Trong tình yêu lứa đôi đằm thắm đẹp và bền vững như “trăm sóng nhỏ" tan ra trên đại dương mênh mông, được hòa nhập trong “biển lớn tình yêu” của cộng đồng. Lời nguyện cầu của người con gái cho thấy một tâm hồn rất cao cả trong tình yêu:
"Làm sao tan ra được
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
Cả bài thơ, nếu kể thêm nhan đề, tác giả 11 lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ biến hóa như tâm tình xôn xao. Hình tượng sóng cho ta nhiều ấn tượng vể âm điệu, nhịp điệu của sóng, cũng là giọng điệu tầm tình, nhạc điệu của bài thơ. Thơ liền mạch, phong phú về vần điệu, trong sáng trong biểu cảm, lúc bồi hồi tha thiết, lúc day dứt bồn chồn, lúc mạnh mẽ ồn ào. Sóng trên đại dương cũng là sóng vỗ trong lòng người con gái. Cái hay của bài thơ là ở âm điệu ấy.Xem thêm: Hãy phân tích hình tượng "sóng" và nêu cảm nhận của mình về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ "sóng” của Xuân Quỳnh? Qua hình tượng sóng và cả bài thơ, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp trẻ trung, tâm hồn trong sáng, đa tình của người con gái. Người con gái ấy chủ động bày tỏ những khát khao, những rung động rạo rực của lòng mình trong tình yêu. Đã có một nàng Vọng Phu, một hòn Trống Mái. Cũng đã có những thiên tình sử diễm lệ, những vần ca dao nói vể tình yêu trai gái làng quê. Ở đây cũng vậy, Xuân Quỳnh nói lên một tình yêu đẹp của người phụ nữ: quyết tâm vượt qua mọi cách trở, khó khăn để xây đắp một tình yêu son sắt thủy chung, trọn vẹn trong hạnh phúc như trăm ngàn con sóng kia "ngàn năm còn vỗ" giữa đại dương, "Giữa biển lớn tình yêu" bao la. Người con gái được nói đến trong bài thơ "Sóng"đã có một tâm hồn đẹp, một khát vọng về hạnh phúc, nên đã có một tình yêu trong sáng bền đẹp.
Xuân Quỳnh viết bài thơ tình này vào những ngày cuối năm 1967, khi mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra vô cùng khốc liệt- Trai tráng ào ào ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Sân đình, bến nước, gốc đa, sân ga, sân trường… diễn ra những "cuộc chia li màu đỏ". Có đặt bài "Sóng" vào trong bối cảnh lịch sử hào hùng ấy, mới cảm nhận hết nỗi nhớ và khao khát về hạnh phúc của người con gái đang yêu:
"Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được…”
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh dòng sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Gợi ý
Nếu như dòng sông Đà được Nguyễn Tuân lưu vào sử sách trong những trang văn đầy tài hoa vừa hùng tráng nhưng cũng đậm chất trữ tình thì dòng sông Hương thơ mộng của mảnh đất Huế lại ghi dấu ấn của mình trong những trang văn xuôi cũng thật uyên bác và hào hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Không còn là nỗi buồn của cảnh “Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” như trong thơ Hàn Mạc Tử, dòng sông Hương trong “Ai đặt tên cho dòng sông” đã vươn mình dậy đế’ mang một màu sắc, hình hài mới.
Cũng giống như mạch văn của Nguyễn Tuân khi viết về sông Đà: miêu tả con sông theo dòng chảy của nó, nhưng với cá tính dịu đàng của con người xứ Huế, bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng Hương Giang lại gợi cho người đọc một cảm giác khác: Cảm giác của một cái gì đó dịu nhẹ, cứ len lỏi miên man rồi từ từ thâm vào hồn người, từ từ làm trỗi dậy một cách-trầm tĩnh cái tình yêu mê man, say đắm đối với một dòng sông mang nét văn hoá xứ sở – con sông đã đi vào thi ca với vẻ đẹp quyến rũ kì lạ:
“Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ”
Sông Hương được miêu tả một cách chân thực, sinh động và hết sức tỉ mỉ trong những tình cảm yêu thương chân thành, đằm thắm của nhà văn. Đó cũng là những quãng sông “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”. Dòng sông không được miêu tả tỉ mỉ ở những đoạn ghềnh thác hùng vĩ hiểm trở như cách của Nguyễn Tuân. Cái dữ dội của nó chỉ được cô đọng ngắn gọn trong một hình ảnh so sánh thật sống động: “Giữa lòng Trường Sơn, con sông Hương đã sống nửa cuộc đời như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại’. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Sông Đà là kẻ thù thách thức con người, suốt năm như “gùn ghè” đòi nợ suýt bất cứ một người bơi thuyền nào qua đó còn sông Hương được miêu tả trong hình hài của một cô gái Di-gan, vẻ đẹp hoang dại, đầy cá tính. Sự chuyển mình trong dòng sông được miêu tả như một “cuộc kiếm tìm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Sông Hương chuyển dòng liên tục để đẹp hơn ở những đoạn khúc quanh “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Dòng sông như một sinh thể có hồn, biết hoang dại, mạnh mẽ, rực lửa, nhưng cũng biết hành trình để kiếm tìm vẻ đẹp vốn có của mình. Và có lẽ, vẻ đẹp ấy đâ được tìm thấy khi nó về đến mảnh đất Huế thơ mộng: “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”. Nằm giữa Huế thơ mộng, dòng sông là một con người đầy ý thức, dường như cố kìm hãm bớt bản tính phóng khoáng của một cô gái Di-gan trong mình trở thành một cô thiếu nữ Huế dịu dàng. Nó cũng chất chứa tình yêu dành cho Huế cũng như người dân xứ Huế vậy. Và cái êm đềm, lững lờ trôi thật chậm trong lòng thành phố như một món quà mà sông Hương giành riêng cho Huế. “Đấy là điệu slow tình cảm giành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muôn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.”… vẻ trữ tình của dòng sông không thiên về việc tập trung ngòi bút miêu tả màu sắc, đường nét, như sông Đà của Nguyễn Tuân mà chú ý ở đời sống tâm hồn của nó. vẻ đẹp trữ tình, dịu dàng vẫn toát lên đằng sau dáng vẻ của những khúc quanh, những cái “ôm tình tứ” đối với mảnh đất nơi nó đi qua nhưng nhiều nhất và được tập trung nhất là ở việc nó biến thành một dòng sông văn hoá. Văn hoá trong cách khuôn mình cho phù hợp với những mảnh đất mà mình đi qua, văn hoá cho phù hợp với mảnh đất Huế đầy mơ mộng. Sông Hương không phải là một dòng sông nữa mà đã trở thành một linh hồn sông thực sự. Và bởi vậy, người ta mới nhìn thấy cái lưu luyến của dòng sông khi ra khỏi đất Huế mà liên tưởng tới nỗi niềm của Thuý Kiều: “Có một cái gì rất lạ vớị tự nhiên và rất giống con người ở đây. Và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đây là nỗi vân vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giông như nàng Kiều trong đêm tự tình, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ.”.. Lời thề ấy vang vọng khấp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”. Đây chỉ là một trong số rất nhiều những câu văn so sánh đầy ấn tượng của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông Hương. Tất cả chúng hội tụ với nhau để làm nên vẻ đẹp của một dòng sông văn hoá, chảy tràn theo thời gian của lịch sử và không gian của địa lí.Xem thêm: Bài văn Tả cảnh hoàng hôn quê em lớp 5
Miêu tả con sông Hương trong hành trình của nó từ rừng già, qua những dãy đồi sừng sững như thành quách, đến vùng Kim Long, chảy vào trong thành phô’ và cái gặp nhau lưu luyến lần cuối vđi thành phố ở góc thị trấn. Bao Vinh xưa cổ là hành trình con sông của thực tại mang một màu sắc đậm chất thơ. Phẩm chất dòng sông đã được khắc hoạ giờ đây lại tiếp tục được tô đậm khi nhà văn đến với nó trong lịch sử thơ ca. Trong lịch sử thơ ca, sông Hương là một đòng giàu truyền thông từng ghi dấu hình ảnh của nhiều văn nhân tắi tử cũng như trở thành nguồn dề tài của nhiều tác phẩm thi ca. Nhìn sông Hương ở góc độ này, tác giả đã ngợi ca vẻ đẹp nên thơ, nét hữu tình duyên dáng của dòng sông cũng như sức hấp dẫn muôn đời của người thiếu nữ bất tử này.
Đã có rất nhiều những tác phẩm nhìn sông Hương dưới cái nhìn lịch sử dân tộc, lịch sử hình thành dòng sông. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có cái nhìn độc đáo mang tính phát hiện khi nhìn dòng sông cả dưới góc độ lịch sử và lịch sử thơ ca. Theo chiều dài lịch sử dân tộc qua những thế kỉ trung đại; bước vào thời kì cách mạng bằng những chiến công rung chuyển… Tình yêu mến và tự hào đã khiến nhà thơ phải thô’t lên: “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Niềm kiêu hãnh về dòng sông còn ngân lên rất nhiều khi nói đến dòng sông Hương của thi ca. Chỉ riêng việc tác giả thường liên hệ đến “Truyện Kiều” cũng đã đủ minh chứng cho sự độc đáo mang tính phát hiện ấy. “Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này… với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, vào một buổi tối ngồi nghe con gái mình đọc Kiều: “Trong như tiếng hạc bay qua / Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”. Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thô’t lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh”. Nhà thơ đã không ngần ngại mà đưa ra lời khẳng định: “dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thớ đều có một khám phá riêng về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ: “Dòng sông trắng / Lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thướt mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lẽn “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát.; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu.”.., Và nhà thơ mượn câu hỏi của một nhà thơ người Hà Nội mà gieo vào lòng người nỗi bâng khuâng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Chắc chắn rằng đó không phải là một câu hỏi bắt vào lịch sử. Người hỏi thế bởi trước cái lững lờ, hiền dịu của dòng sông chảy qua nghìn đời nay nghe cũng thơ mộng như tên gọi Hương Giang của nó người ta thấy lòng mình dịu nhẹ…Xem thêm: Nghị luận xã hội về giờ trái đất“Quê hương, ai cũng có một dòng sông bên nhà. Riêng tôi, tôi cũng có một dòng sông đời tôi.”…Câu hát ấy cứ mãi váng lên trong lòng mỗi người dân đất Việt về hình ảnh những dòng sông Đà, dòng sông Hồng, dòng Hương Giang… ngàn đời chảy mãi. Dòng Hương Giang trong “Ai đặt tên cho dòng sông” đâu chỉ là một dòng sông của địa lí. Nó chảy dài theo chiều của lịch sử, trở thành một dòng sông văn hoà mang vẻ đẹp và tâm hồn con người xứ Huế. Dòng sông ấy đã chảy trên những trang văn, chảy mãi trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam…
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh dòng sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Gợi ý
Nếu như dòng sông Đà được Nguyễn Tuân lưu vào sử sách trong những trang văn đầy tài hoa vừa hùng tráng nhưng cũng đậm chất trữ tình thì dòng sông Hương thơ mộng của mảnh đất Huế lại ghi dấu ấn của mình trong những trang văn xuôi cũng thật uyên bác và hào hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Không còn là nỗi buồn của cảnh “Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” như trong thơ Hàn Mạc Tử, dòng sông Hương trong “Ai đặt tên cho dòng sông” đã vươn mình dậy đế’ mang một màu sắc, hình hài mới.
Cũng giống như mạch văn của Nguyễn Tuân khi viết về sông Đà: miêu tả con sông theo dòng chảy của nó, nhưng với cá tính dịu đàng của con người xứ Huế, bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng Hương Giang lại gợi cho người đọc một cảm giác khác: Cảm giác của một cái gì đó dịu nhẹ, cứ len lỏi miên man rồi từ từ thâm vào hồn người, từ từ làm trỗi dậy một cách-trầm tĩnh cái tình yêu mê man, say đắm đối với một dòng sông mang nét văn hoá xứ sở – con sông đã đi vào thi ca với vẻ đẹp quyến rũ kì lạ:
“Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ”
Sông Hương được miêu tả một cách chân thực, sinh động và hết sức tỉ mỉ trong những tình cảm yêu thương chân thành, đằm thắm của nhà văn. Đó cũng là những quãng sông “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn”. Dòng sông không được miêu tả tỉ mỉ ở những đoạn ghềnh thác hùng vĩ hiểm trở như cách của Nguyễn Tuân. Cái dữ dội của nó chỉ được cô đọng ngắn gọn trong một hình ảnh so sánh thật sống động: “Giữa lòng Trường Sơn, con sông Hương đã sống nửa cuộc đời như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại’. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Sông Đà là kẻ thù thách thức con người, suốt năm như “gùn ghè” đòi nợ suýt bất cứ một người bơi thuyền nào qua đó còn sông Hương được miêu tả trong hình hài của một cô gái Di-gan, vẻ đẹp hoang dại, đầy cá tính. Sự chuyển mình trong dòng sông được miêu tả như một “cuộc kiếm tìm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Sông Hương chuyển dòng liên tục để đẹp hơn ở những đoạn khúc quanh “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Dòng sông như một sinh thể có hồn, biết hoang dại, mạnh mẽ, rực lửa, nhưng cũng biết hành trình để kiếm tìm vẻ đẹp vốn có của mình. Và có lẽ, vẻ đẹp ấy đâ được tìm thấy khi nó về đến mảnh đất Huế thơ mộng: “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”. Nằm giữa Huế thơ mộng, dòng sông là một con người đầy ý thức, dường như cố kìm hãm bớt bản tính phóng khoáng của một cô gái Di-gan trong mình trở thành một cô thiếu nữ Huế dịu dàng. Nó cũng chất chứa tình yêu dành cho Huế cũng như người dân xứ Huế vậy. Và cái êm đềm, lững lờ trôi thật chậm trong lòng thành phố như một món quà mà sông Hương giành riêng cho Huế. “Đấy là điệu slow tình cảm giành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muôn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.”… vẻ trữ tình của dòng sông không thiên về việc tập trung ngòi bút miêu tả màu sắc, đường nét, như sông Đà của Nguyễn Tuân mà chú ý ở đời sống tâm hồn của nó. vẻ đẹp trữ tình, dịu dàng vẫn toát lên đằng sau dáng vẻ của những khúc quanh, những cái “ôm tình tứ” đối với mảnh đất nơi nó đi qua nhưng nhiều nhất và được tập trung nhất là ở việc nó biến thành một dòng sông văn hoá. Văn hoá trong cách khuôn mình cho phù hợp với những mảnh đất mà mình đi qua, văn hoá cho phù hợp với mảnh đất Huế đầy mơ mộng. Sông Hương không phải là một dòng sông nữa mà đã trở thành một linh hồn sông thực sự. Và bởi vậy, người ta mới nhìn thấy cái lưu luyến của dòng sông khi ra khỏi đất Huế mà liên tưởng tới nỗi niềm của Thuý Kiều: “Có một cái gì rất lạ vớị tự nhiên và rất giống con người ở đây. Và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đây là nỗi vân vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giông như nàng Kiều trong đêm tự tình, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ.”.. Lời thề ấy vang vọng khấp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”. Đây chỉ là một trong số rất nhiều những câu văn so sánh đầy ấn tượng của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông Hương. Tất cả chúng hội tụ với nhau để làm nên vẻ đẹp của một dòng sông văn hoá, chảy tràn theo thời gian của lịch sử và không gian của địa lí.Xem thêm: Bài văn Tả cảnh hoàng hôn quê em lớp 5
Miêu tả con sông Hương trong hành trình của nó từ rừng già, qua những dãy đồi sừng sững như thành quách, đến vùng Kim Long, chảy vào trong thành phô’ và cái gặp nhau lưu luyến lần cuối vđi thành phố ở góc thị trấn. Bao Vinh xưa cổ là hành trình con sông của thực tại mang một màu sắc đậm chất thơ. Phẩm chất dòng sông đã được khắc hoạ giờ đây lại tiếp tục được tô đậm khi nhà văn đến với nó trong lịch sử thơ ca. Trong lịch sử thơ ca, sông Hương là một đòng giàu truyền thông từng ghi dấu hình ảnh của nhiều văn nhân tắi tử cũng như trở thành nguồn dề tài của nhiều tác phẩm thi ca. Nhìn sông Hương ở góc độ này, tác giả đã ngợi ca vẻ đẹp nên thơ, nét hữu tình duyên dáng của dòng sông cũng như sức hấp dẫn muôn đời của người thiếu nữ bất tử này.
Đã có rất nhiều những tác phẩm nhìn sông Hương dưới cái nhìn lịch sử dân tộc, lịch sử hình thành dòng sông. Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có cái nhìn độc đáo mang tính phát hiện khi nhìn dòng sông cả dưới góc độ lịch sử và lịch sử thơ ca. Theo chiều dài lịch sử dân tộc qua những thế kỉ trung đại; bước vào thời kì cách mạng bằng những chiến công rung chuyển… Tình yêu mến và tự hào đã khiến nhà thơ phải thô’t lên: “Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”. Niềm kiêu hãnh về dòng sông còn ngân lên rất nhiều khi nói đến dòng sông Hương của thi ca. Chỉ riêng việc tác giả thường liên hệ đến “Truyện Kiều” cũng đã đủ minh chứng cho sự độc đáo mang tính phát hiện ấy. “Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này… với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, vào một buổi tối ngồi nghe con gái mình đọc Kiều: “Trong như tiếng hạc bay qua / Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”. Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thô’t lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh”. Nhà thơ đã không ngần ngại mà đưa ra lời khẳng định: “dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thớ đều có một khám phá riêng về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ: “Dòng sông trắng / Lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thướt mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lẽn “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát.; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu.”.., Và nhà thơ mượn câu hỏi của một nhà thơ người Hà Nội mà gieo vào lòng người nỗi bâng khuâng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Chắc chắn rằng đó không phải là một câu hỏi bắt vào lịch sử. Người hỏi thế bởi trước cái lững lờ, hiền dịu của dòng sông chảy qua nghìn đời nay nghe cũng thơ mộng như tên gọi Hương Giang của nó người ta thấy lòng mình dịu nhẹ…Xem thêm: Nghị luận xã hội về giờ trái đất“Quê hương, ai cũng có một dòng sông bên nhà. Riêng tôi, tôi cũng có một dòng sông đời tôi.”…Câu hát ấy cứ mãi váng lên trong lòng mỗi người dân đất Việt về hình ảnh những dòng sông Đà, dòng sông Hồng, dòng Hương Giang… ngàn đời chảy mãi. Dòng Hương Giang trong “Ai đặt tên cho dòng sông” đâu chỉ là một dòng sông của địa lí. Nó chảy dài theo chiều của lịch sử, trở thành một dòng sông văn hoà mang vẻ đẹp và tâm hồn con người xứ Huế. Dòng sông ấy đã chảy trên những trang văn, chảy mãi trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam…
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh người chinh phụ trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm)
Gợi ý
Người phụ nữ là một trong những hình tượng văn học xuyên suốt văn chương mọi thời đại. Lẽ tất nhiên, hình ảnh người phụ nữ trong cảm nhận của mỗi nghệ sĩ sẽ khác nhau. Khi Nguyễn Du cảm thương cho số phận người con gái hồng nhan đa truân, khi Hồ Xuân Hương khóc thương cho những người đàn bà có số phận hẩm hiu trong xã hội thì Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm lại thương cho những người chinh phụ. Đọc Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn về nhân vật văn học này.
So với những người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm có phần may mắn hơn khi nàng có được tình yêu, hôn nhân hạnh phúc với người chồng của mình. Nhưng bi kịch mà – nàng phải chịu đựng cũng khởi nguồn từ chính sự may mắn đó. Hạnh phức lứa đôi của nàng đâu được trọn vẹn. Chia rẽ tình yêu, hạnh phúc của nàng không phải là những định kiến, thành kiến xã hội, những tập tục hủ lậu mà là chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Vì chiến tranh xảy ra, người chồng người phải đi đánh trận và người vợ phải ở nhà mòn mỏi chờ đợi, ngóng trông. Chiến tranh đã mang đến sự chia cắt, đã khiến làm tan vỡ hạnh phúc của người chinh phụ. Trong đoạn trích, hình ảnh người chinh phụ được thể hiện đậm nét qua diễn biến nội tâm của nàng.
Chờ đợi, ngóng trông lậ tâm trạng thường thấy trong xa cách. Trong đoạn trích, tâm trạng đó được diễn tả bằng các hành động lặp đi lặp lại:Xem thêm: Nghị luận xã hội - Thời trang nói gìDạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Rủ rèm rồi lại cuốn rèm, người chinh phụ cứ đi đi lại lại trong hiên vắng như để chờ đợi tin tốt lành. Nỗi bồn chồn không chỉ được khắc hoạ bằng các hành động mà còn được thể hiện ngay trong cách sử dụng liên tiếp các động từ chỉ tư thế dạo, ngồi, các động từ chỉ hành động rủ, thác, bằng cách đôi lập các hình ảnh ngoài rèm, trong rèm. Nhưng hình như càng mong ngóng người chinh phụ càng đi vào bế tắc. Câu thơ thứ ba mang ý nghĩa phủ định (chẳng có chim thước báo tin lành cho nàng cả) và câu thơ thứ ta được diễn đạt dưới hình thức câu hỏi. Chinh phụ cũng hỏi đèn như trong ca dao:
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt.
Nếu như câu hỏi trong ca dao còn bỏ ngỏ thì câu hỏi của người chinh phụ là câu hỏi được trả lời. Chỉ có điều, đó là câu trả lời mà chắc chắn chinh phụ không mong đợi:
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Để rồi nỗi buồn, cô đơn ùa đến ngập tràn trong lòng nàng:
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Ngọn đèn cháy đã tàn bấc, dầu đã cạn nhưng dường như nỗi trăn trở, sầu bi trong lòng nàng càng bừng cháy và bất tận theo thời gian. Hình ảnh ngọn đèn còn khiến không gian trở nên mênh mông, u tối.Xem thêm: Thời trang nói gì? (đề mở)
Không gian người chinh phụ đang phải đối diện không chỉ mênh mông mà còn tịch mịch, hoang vắng. Tất cả những ấn tượng này được gợi lên từ hai hình ảnh tiếng gà và bóng cây hoè:
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Chính vì thế nỗi cô đơn đáng sợ của người chinh phụ càng được tô đậm hơn.
Càng cô đơn bao nhiêu, người chinh phụ càng buồn khổ bấy nhiêu:
Mối sầu đằng đẵng tựa miền biển xa.
Không phải cách so sánh cùng từ láy đằng đẵng khiến nỗi sầu của người chinh phụ trở nên bất tận. Chính nỗi lòng người chinh phụ mênh mang, dằng dặc như thế. Càng buồn nhớ, chinh phụ càng chán chường, mê man, mơ màng:
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đạn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Đốt hương hay soi gương hay đánh đàn cũng chỉ là hành động gượng. Đốt hương để tìm sự thanh thản, song tâm hồn nàng lại như thêm mê man. Soi gương để trang điểm song gương mặt lại chan chứa nước mắt. Nỗi buồn khổ đă được đầy lên đến cực điểm. Và cơ hồ, trong lòng người chinh phụ nảy nở mối lo sợ. Nàng chỉ gượng gảy đàn sắt đàn cầm vì không thấy phù hợp, đặc biệt sợ dây đàn chùng hay đứt vì người xưa xem đó là điềm gở, báo hiệu sự không may trong tình vợ chồng.
Và cuối cùng, khi không nỗi cô đơn, buồn khổ trong lòng không thể chia sẻ cùng ai được, nàng đã phải gửi nó vào gió nỗi nhớ chồng khôn xiết:Xem thêm: Phê phán thái độ thờ ơ, lanh nhạt với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trênLòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa với khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Khi trước, nỗi sầu của nàng được so sánh với độ dài của không gian xa rộng: Mối sầu đằng đẵng tựa miền biển xa. Đến đoạn thơ này, nỗi nhớ của chinh phụ được so với không gian vô tận, không có điểm dừng, mông lung, vời vợi Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Có lẽ đây là nỗi nhớ dài nhất trong vãn học xưa nay.
Đặt chinh phụ vào không gian có tầm vóc vũ trụ với các hình ảnh núi non, trời đất gợi sự xa xôi, sương gió, mưa, tiếng côn trùng – tất cả đều gợi sự cô đơn, buồn nhớ. Xét đến cùng, mọi cảm giác nhớ nhung, sầu muộn, cô đơn, mọi sự trăn trở, trằn trọc của nàng đều hướng đến duy nhất một coii người – người chinh phu.
Bao nỗi lòng đó đều tập trung thể hiện hình ảnh người chinh phụ rất mực thủy chung, yêu thương chồng của mình. Và có thể lí giải tất cả bằng niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi bất tận trong người phụ nữ đáng thương này.
Tình cảnh lẻ loi của người chỉnh phụ đã mang đến chúng ta trọn vẹn hình ảnh người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
Vanmau.edu.vn
|
Analysis of the image of the conqueror's wife in The Lonely Situation of the Conqueror's Wife (excerpt from Chinh's Father's Wife)
Suggest
Woman is one of the literary images throughout literature of all time. Of course, the image of a woman in each artist's perception will be different. When Nguyen Du felt sorry for the fate of the beautiful and troubled girl, when Ho Xuan Huong cried for the women with sad fates in society, Dang Tran Con and Doan Thi Diem felt sorry for the conquerors. . Reading The Lonely Situation of the Conqueror, we will understand more clearly about this literary character.
Compared to the women in Ho Xuan Huong's poetry, the conqueror in Chinh Phu Ngam is somewhat luckier as she has love and a happy marriage with her husband. But the tragedy that she had to endure also originated from that same luck. Her couple's happiness is not perfect. Separating her love and happiness is not prejudice, social prejudice, or outdated customs, but unjust feudal war. Because the war broke out, the husband had to go to war and the wife had to stay home and wait, waiting. The war brought division and shattered the happiness of the conquerors. In the excerpt, the image of the conqueror is boldly expressed through her inner developments.
Waiting, looking forward is a common mood in separation. In the excerpt, that mood is expressed through repeated actions: See more: Social commentary - What fashion says Walking on the deserted porch silently sowing step by step,
Sitting with thin curtains, inviting people to chat.
There is no news outside the curtain,
There seems to be a light in the curtain?
Dragging the curtains and then closing them again, the concubine kept walking back and forth in the deserted porch as if waiting for good news. The restlessness is not only portrayed by actions but is also expressed in the consecutive use of verbs indicating walking and sitting postures, verbs indicating drooping and falling actions, and by combining images. Photos outside the curtain, inside the curtain. But it seems that the more we wait for the conqueror, the more deadlocked we become. The third verse has a negative meaning (no bird announced the good news to her) and the second verse is expressed in the form of a question. The concubine also asked for the light as in the folk song:
The lamp misses someone
But the light doesn't turn off.
If the question in the folk song is left unanswered, the question of the conqueror is the one that is answered. The only thing is, it was an answer that the wife certainly did not expect:
Knowing the light seems like not knowing
Then sadness and loneliness flooded her heart:
My heart is just sad.
Sad and speechless,
That lantern flower and the human shadow are quite pitiful.
The burning lamp's wick has burned out, the oil has run out, but it seems that the concern and sadness in her heart burn more and more endlessly over time. The image of a lamp also makes the space appear vast and dark. See more: What does fashion say? (open topic)
The space the conqueror is facing is not only vast but also lonely and desolate. All these impressions are evoked from two images of the sound of a rooster and the shadow of a tree:
The rooster with the waist and brain crows in the year of the rooster,
The flowers are fluttering on all four sides.
That's why the terrifying loneliness of the conqueror is even more highlighted.
The lonelier he is, the more miserable the conqueror is:
The sadness is as long as the distant sea.
It is not the endless comparisons and words that make the conquest's wife's sadness endless. It is the heart of the conqueror that is so vast and endless. The more sad he is, the more depressed, lethargic, and dreamy his wife becomes:
Incense burns the soul passionately,
The forced mirror reflects tears back to Chau Chan.
The iron forcefully plucked the bullet's fingers,
The broken nerve cord is afraid of slackening.
Burning incense or looking in the mirror or playing the guitar are just forced actions. Burning incense to find peace, but her soul seemed more in a trance. Looking in the mirror to put on makeup, her face was filled with tears. The sadness has been filled to the extreme. And suddenly, fear arose in the heart of the conqueror. She only forced herself to play the harp because it didn't feel right. She was especially afraid that the strings would become loose or broken because the ancients considered that a bad omen, signaling misfortune in the relationship between husband and wife.
And in the end, when she couldn't share the loneliness and sadness in her heart with anyone, she had to send it into the wind with her unspeakable longing for her husband: See more: Criticizing the indifferent, indifferent attitude towards people is as important and necessary as praising altruism and solidarity. What do you think about the above idea? Is it convenient to send this heart to the east wind?
Thousands of gold please send to Yen mountain.
Even though Non Yen has not been to the region,
I miss you so deeply that my way up to heaven.
The sky is deep and unfathomable,
Missing him is so painful.
In the past, her sadness was compared to the length of space: Her sadness was as long as a distant sea. In this poem, the concubine's nostalgia is compared to endless space, without end, vague, endless. Missing him is as deep as the sky. Perhaps this is the longest nostalgia in ancient literature.
Place the concubine in a space of cosmic proportions with images of mountains, heaven and earth suggesting remoteness, dew, rain, insect sounds - all suggest loneliness and sadness. In the end, all her feelings of longing, sadness, loneliness, all her worries and restlessness were directed towards only one person - her husband.
All those feelings focus on expressing the image of a very loyal and loving wife to her husband. And it can all be explained by the endless desire for love and marital happiness in this poor woman.
The lonely situation of the widow has brought to us the complete image of women in unjust feudal wars.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Từ đó em có suy nghĩ gì về người lính trong kháng chiến chống Mĩ
Gợi ý
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước, hình ảnh những chiến sĩ lái xe vận tải đã “để thương để nhớ” cho tâm tưởng nhà thơ tài hoa Phạm Tiến Duật. Bởi vậy nên dẫu chẳng một ngày làm lính lái xe nhưng những trang thơ Phạm Tiến Duật luôn ầm ì tiêng động cơ chạy máy và giòn tan tiếng cười nói của những chàng lính lái xe “trẻ măng tơ”! Người đọc khó có thể quên những chàng trai ngang tàng, tinh nghịch nhưng đầy lí tưởng ấy trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Bài thơ ra đời năm 1969, năm mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang bước vào những năm tháng khốc liệt nhất. Con đường Trường Sơn đã được khai phá để từng dòng người, dòng xe ngày đêm chi viện cho miền Nam ruột thịt. Trên những dặm đường loang lổ hố bom, trên những đèo cao trập trùng, hiểm trở,… dù ở đâu trên con đường huyền thoại ấy cũng hiện lên hình ánh những anh lính lái xe vững vàng tay lái. Họ đến với chiến trường từ những giáng đường đại học, từ những mái trường phố thông còn vương những cánh phượng rơi. Tâm hồn họ phơi phới tuổi xuân và những lí tưởng đẹp đẽ cua tuổi tré. Trở thành những anh lính lái xe, họ đã làm vui, làm đẹp, làm vừng chắc hơn cho con đường huyết mạch của cuộc kháng chiến.
Các anh tự giới thiệu về những người bạn đường thủy chung gắn bó của mình:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Câu thơ làm hiện lên trước mắt người đọc một hình ảnh lạ lùng: Những chiếc xe không kính. Mặt khác, lời giải thích của tác giả về những chiếc xe đặc biệt ấy cũng rất đỗi chân thực đến gần như là lột trần ra một chiếc xe đã bị phá huỷ bởi "bom giật, bom rung" – những động từ mạnh làm nổi bật hình ảnh và ý thơ. Hai câu thơ thật tự nhiên, không có hình ảnh hoa mĩ, tráng lệ, không có hình ảnh tượng trưng, giọng thơ có chút gì đó ngang tàng tạo nên điểm khởi đầu đầy ấn tượng cho bài thơ. Càng lạ lùng hơn nữa là hình ảnh chú nhân những chiếc xe kì lạ ấy:Xem thêm: Nghị luận xã hội Giữ lấy truyền thống dân tộcUng dung buồng lúi ta ngồi
Nhìn đát. nhìn trời, nhìn thẳng
Với các anh, sự lạ đối với mọi người lại trở thành sự thường trong đời sống. “Bom giật, bom rung” để lại thương tích loang lổ trên xe nhưng lại chẳng mảy may nhìn thấy dấu hiệu của tàn phá trên dáng hình người chiến sĩ. Họ “ung dung” “ta ngồi”, “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Sự khốc liệt của chiến tranh không khiến con ngửời bị thui chột về tâm hồn và ý chí. Các anh là những con người như lời đề trên bức tường kỉ niệm chiến thắng phát xít Đức của Hồng quân Liên Xô: “Nơi đây mọi sắt thép đều tan chảy chi con người là vững vàng đi qua”. Câu thơ ngắn, nhanh, điệp từ "nhìn” lặp lại tạo nên tiết tấu hết sức sinh động.
Rồi trên con đường thần thánh ấy, các anh còn “nhìn thấy” bao điều khác nữa:
Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.
Bởi xe “không có kính” nên có quá nhiều bât tiện: “gió xoa vào mắt đắng” nhưng cũng bởi không có kính nén nhiều khi ngồi trong ca – bin người lính được đón nhận những cảm giác thật lạ lùng: “Thấy con đường chạy thắng vào tim / Thấy sao trời và đột ngột cánh chim / Như sa, như ùa vào buồng lái”. Hình ảnh thơ rất táo bạo và khỏe khoắn thể hiện tâm hồn trẻ trung, mạnh mẽ nhưng không kém phần mơ mộng của những chàng lính lái xe.
Khi chiếc xe đã bị phá hủy, nát tan đèn như vậy thì biết bao khó khăn đã này sinh cũng chỉ vì "không có kính"Xem thêm: Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo conKhông có kinh, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Và:
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời.
Thế nhưng, "không có kính" thì tác giả lại "có bụi” rồi có "mưa tuôn, mưa xối". Câu trúc thơ lặp đi lặp lại – "ừ thì" – đã làm toát lên thái độ bất chấp, không hề run sợ, coi thường mọi khó khăn. Câu thơ như vang lên tiếng cười vui vẻ, các anh cười để lạc quan yêu đời, để phớt lờ mọi khó khăn, cười để động viên mình, và động viên đồng đội. Và niềm lạc quan ấy còn được thể hiện bằng hành động.
Chưa cần rứa, phì phèo châm điêu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Và:
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngưng, gió lùa khô mau thôi.
Giọng thơ âm vang rộn rã, tràn đầy sức sống sôi nồi của tuổi mười tám, đôi mươi. Những người lính trẻ ấy thật kiên cường và trẻ trung, hóm hỉnh. Không chỉ vậy, họ còn là những người đồng chí gắn bó keo sơn, khăng khít:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Bạn bè gặp nhau suốt đường đi tới
Bắt tay qua của kình vỡ rồi
Những con người ấy vốn. dĩ không hề quen biết! Vậy mà giờ đây, trong gian khổ, họ thân thiết gắn bó, chào nhau như những người bạn đã quen. Và rồi, kỉ niệm như ùa về trong tâm trí nhà thơ. Có lẽ vì ông cũng là một người lính nên ông thâu hiểu, đồng cảm tình đồng đội, đồng chí,
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
"Gia đình" – hai tiếng thân thương gợi hình ảnh những con người cùng huyết thống. Họ, những người lính Trường Sơn ấy,, cũng mang trong mình dòng máu nóng – dòng máu sôi sục khát vọng giải phóng miền Nam, giải phóng đất nước.
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Tuy chiếc xe có bị phá huỷ, nát tan đến mức nào, dù gian khổ khó khăn bao nhiêu, nhưng "chi cần trong xe có một trái tim" – Đúng vậy! Chính tình yêu Tổ quốc đã cầm lái, đã là động lực thúc đẩy, giúp những người lính có thêm sức mạnh trước mỗi khó khăn. Lời thơ nhẹ nhàng như một lời khẳng định chắc nịch, gọn ghẽ. Câu thơ kết của bài thơ có lẽ là câu thơ hay nhất, vừa kết lại sức mạnh cùa con người chính là ở tình yêu, tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào và tình yêu hoá thành ý chí – kiên cường và vững bền. Nhưng đồng thời, nó cũng mở ra, gợi ra cánh cửa ánh sáng: Miền Nam, nơi mà đồng bào đang trông ngóng cách mạng trong từng khoảnh khắc.Xem thêm: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa (Có dàn ý chi tiết) Bài thơ có giọng điệu phóng khoáng, ngang tàng như tâm hồn chàng trai tuổi đôi mươi. Nguyễn Tiến Duật đã không phải dụng công gọt giũa ngôn từ, nhiều câu thơ như lời nói hàng ngày nhưng chính sự giản dị, chân thành của cảm xúc đã lảm nên những câu thơ lôi cuốn người đọc. Ngoài ra còn phái kể đến nhiều hình anh thơ táo bạo, giàu sức gợi tả cùng các điệp từ, điệp ngữ.
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã khắc họa thành công hình ảnh những người lính trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Hình ảnh ấy tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Chiến trường ác liệt, hiểm nguy mà tâm hồn các anh các chị vẫn ngời ngời sự lạc quan, trẻ trung yêu đời và yêu sống. Nhưng trên hết vẫn là tấm lòng yêu mến, thiết tha với đồng đội, với đất nước, vẻ đẹp tâm hồn cao quý gieo vào lòng người đọc niềm tin yêu, sự trân trọng cảm phục và lời nguyện cầu tiếp bước. Khi xưa các anh các chị “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ” thì hôm nay thế hệ trẻ sẽ “chuẩn bị hành trang” đầy đủ để đưa đất nước tiến “vào thế kỉ mới” sôi động và đầy thách thức.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Từ đó em có suy nghĩ gì về người lính trong kháng chiến chống Mĩ
Gợi ý
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước, hình ảnh những chiến sĩ lái xe vận tải đã “để thương để nhớ” cho tâm tưởng nhà thơ tài hoa Phạm Tiến Duật. Bởi vậy nên dẫu chẳng một ngày làm lính lái xe nhưng những trang thơ Phạm Tiến Duật luôn ầm ì tiêng động cơ chạy máy và giòn tan tiếng cười nói của những chàng lính lái xe “trẻ măng tơ”! Người đọc khó có thể quên những chàng trai ngang tàng, tinh nghịch nhưng đầy lí tưởng ấy trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Bài thơ ra đời năm 1969, năm mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang bước vào những năm tháng khốc liệt nhất. Con đường Trường Sơn đã được khai phá để từng dòng người, dòng xe ngày đêm chi viện cho miền Nam ruột thịt. Trên những dặm đường loang lổ hố bom, trên những đèo cao trập trùng, hiểm trở,… dù ở đâu trên con đường huyền thoại ấy cũng hiện lên hình ánh những anh lính lái xe vững vàng tay lái. Họ đến với chiến trường từ những giáng đường đại học, từ những mái trường phố thông còn vương những cánh phượng rơi. Tâm hồn họ phơi phới tuổi xuân và những lí tưởng đẹp đẽ cua tuổi tré. Trở thành những anh lính lái xe, họ đã làm vui, làm đẹp, làm vừng chắc hơn cho con đường huyết mạch của cuộc kháng chiến.
Các anh tự giới thiệu về những người bạn đường thủy chung gắn bó của mình:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Câu thơ làm hiện lên trước mắt người đọc một hình ảnh lạ lùng: Những chiếc xe không kính. Mặt khác, lời giải thích của tác giả về những chiếc xe đặc biệt ấy cũng rất đỗi chân thực đến gần như là lột trần ra một chiếc xe đã bị phá huỷ bởi "bom giật, bom rung" – những động từ mạnh làm nổi bật hình ảnh và ý thơ. Hai câu thơ thật tự nhiên, không có hình ảnh hoa mĩ, tráng lệ, không có hình ảnh tượng trưng, giọng thơ có chút gì đó ngang tàng tạo nên điểm khởi đầu đầy ấn tượng cho bài thơ. Càng lạ lùng hơn nữa là hình ảnh chú nhân những chiếc xe kì lạ ấy:Xem thêm: Nghị luận xã hội Giữ lấy truyền thống dân tộcUng dung buồng lúi ta ngồi
Nhìn đát. nhìn trời, nhìn thẳng
Với các anh, sự lạ đối với mọi người lại trở thành sự thường trong đời sống. “Bom giật, bom rung” để lại thương tích loang lổ trên xe nhưng lại chẳng mảy may nhìn thấy dấu hiệu của tàn phá trên dáng hình người chiến sĩ. Họ “ung dung” “ta ngồi”, “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Sự khốc liệt của chiến tranh không khiến con ngửời bị thui chột về tâm hồn và ý chí. Các anh là những con người như lời đề trên bức tường kỉ niệm chiến thắng phát xít Đức của Hồng quân Liên Xô: “Nơi đây mọi sắt thép đều tan chảy chi con người là vững vàng đi qua”. Câu thơ ngắn, nhanh, điệp từ "nhìn” lặp lại tạo nên tiết tấu hết sức sinh động.
Rồi trên con đường thần thánh ấy, các anh còn “nhìn thấy” bao điều khác nữa:
Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.
Bởi xe “không có kính” nên có quá nhiều bât tiện: “gió xoa vào mắt đắng” nhưng cũng bởi không có kính nén nhiều khi ngồi trong ca – bin người lính được đón nhận những cảm giác thật lạ lùng: “Thấy con đường chạy thắng vào tim / Thấy sao trời và đột ngột cánh chim / Như sa, như ùa vào buồng lái”. Hình ảnh thơ rất táo bạo và khỏe khoắn thể hiện tâm hồn trẻ trung, mạnh mẽ nhưng không kém phần mơ mộng của những chàng lính lái xe.
Khi chiếc xe đã bị phá hủy, nát tan đèn như vậy thì biết bao khó khăn đã này sinh cũng chỉ vì "không có kính"Xem thêm: Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo conKhông có kinh, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Và:
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời.
Thế nhưng, "không có kính" thì tác giả lại "có bụi” rồi có "mưa tuôn, mưa xối". Câu trúc thơ lặp đi lặp lại – "ừ thì" – đã làm toát lên thái độ bất chấp, không hề run sợ, coi thường mọi khó khăn. Câu thơ như vang lên tiếng cười vui vẻ, các anh cười để lạc quan yêu đời, để phớt lờ mọi khó khăn, cười để động viên mình, và động viên đồng đội. Và niềm lạc quan ấy còn được thể hiện bằng hành động.
Chưa cần rứa, phì phèo châm điêu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Và:
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngưng, gió lùa khô mau thôi.
Giọng thơ âm vang rộn rã, tràn đầy sức sống sôi nồi của tuổi mười tám, đôi mươi. Những người lính trẻ ấy thật kiên cường và trẻ trung, hóm hỉnh. Không chỉ vậy, họ còn là những người đồng chí gắn bó keo sơn, khăng khít:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Bạn bè gặp nhau suốt đường đi tới
Bắt tay qua của kình vỡ rồi
Những con người ấy vốn. dĩ không hề quen biết! Vậy mà giờ đây, trong gian khổ, họ thân thiết gắn bó, chào nhau như những người bạn đã quen. Và rồi, kỉ niệm như ùa về trong tâm trí nhà thơ. Có lẽ vì ông cũng là một người lính nên ông thâu hiểu, đồng cảm tình đồng đội, đồng chí,
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
"Gia đình" – hai tiếng thân thương gợi hình ảnh những con người cùng huyết thống. Họ, những người lính Trường Sơn ấy,, cũng mang trong mình dòng máu nóng – dòng máu sôi sục khát vọng giải phóng miền Nam, giải phóng đất nước.
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Tuy chiếc xe có bị phá huỷ, nát tan đến mức nào, dù gian khổ khó khăn bao nhiêu, nhưng "chi cần trong xe có một trái tim" – Đúng vậy! Chính tình yêu Tổ quốc đã cầm lái, đã là động lực thúc đẩy, giúp những người lính có thêm sức mạnh trước mỗi khó khăn. Lời thơ nhẹ nhàng như một lời khẳng định chắc nịch, gọn ghẽ. Câu thơ kết của bài thơ có lẽ là câu thơ hay nhất, vừa kết lại sức mạnh cùa con người chính là ở tình yêu, tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào và tình yêu hoá thành ý chí – kiên cường và vững bền. Nhưng đồng thời, nó cũng mở ra, gợi ra cánh cửa ánh sáng: Miền Nam, nơi mà đồng bào đang trông ngóng cách mạng trong từng khoảnh khắc.Xem thêm: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa (Có dàn ý chi tiết) Bài thơ có giọng điệu phóng khoáng, ngang tàng như tâm hồn chàng trai tuổi đôi mươi. Nguyễn Tiến Duật đã không phải dụng công gọt giũa ngôn từ, nhiều câu thơ như lời nói hàng ngày nhưng chính sự giản dị, chân thành của cảm xúc đã lảm nên những câu thơ lôi cuốn người đọc. Ngoài ra còn phái kể đến nhiều hình anh thơ táo bạo, giàu sức gợi tả cùng các điệp từ, điệp ngữ.
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã khắc họa thành công hình ảnh những người lính trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Hình ảnh ấy tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Chiến trường ác liệt, hiểm nguy mà tâm hồn các anh các chị vẫn ngời ngời sự lạc quan, trẻ trung yêu đời và yêu sống. Nhưng trên hết vẫn là tấm lòng yêu mến, thiết tha với đồng đội, với đất nước, vẻ đẹp tâm hồn cao quý gieo vào lòng người đọc niềm tin yêu, sự trân trọng cảm phục và lời nguyện cầu tiếp bước. Khi xưa các anh các chị “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ” thì hôm nay thế hệ trẻ sẽ “chuẩn bị hành trang” đầy đủ để đưa đất nước tiến “vào thế kỉ mới” sôi động và đầy thách thức.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh người mẹ hiền trong bức thư “Mẹ tôi” được bố En-ri-cô nhắc đến
Hướng dẫn
Bố nhắc lại một kỉ niệm không bao giờ có thể quên là cách đày mấy năm, En-ri-cô bị ốm nặng, mẹ đã “thức suốt đêm”săn sóc con, “cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con”.Người mẹ lo âu, đau đớn “quằn quại vì nổi sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”.
Cổ ngữ có câu: “Mẫu tử tình thâm”.Tình mẹ thương con là mênh mông bao la. Mẹ có thể hi sinh tất cả vì con. “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ”(tục ngữ). 10
Con mà lại xúc phạm đến mẹ là vô đạo, vì “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn”.Một năm so với một giờ đã có đứa con nào tính được, nghĩ đến? Người mẹ có quản gì vất vả, chịu khổ sở đói rét “điăn xin để nuôi con”.To lớn hơn, vĩ đại hơn là người mẹ “có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”.Công cha nghĩa mẹ thật vô cùng sâu nặng:
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông” hay
“ơn cha nặng lắm ai ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”
(Ca dao)
Cảm động nhất là khi bố chỉ cho con thấy nỗi bất hạnh “buồn thảm nhất” của một đời người là “ngày mà con mất mẹ”.Mồ côi mẹ là nỗi đau khổ nhất của tuổi thơ. Cho dù khi đã lớn khôn, trưởng thành, dũng cảm,… đứa con vẫn không bao giờ tìm lại được bóng dáng yêu thương của mẹ hiền. Một tiếng nói dịu hiền cùa mẹ. Một cử chỉ thân thương của mẹ “được mẹ dang tay ra đón vào lòng”.Nỗi -cô đơn của đứa con (dù lớn khôn, khỏe mạnh) không thể nào kể xiết, vì thiếu tình thương ấp ủ của mẹ hiền, “con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che”.Lúc ấy, “con sẽ cay đắng…”, “con sẽ không thể sống thanh thản”, “con sẽ không một phút nào yên tĩnh”,vì lương tâm cắn rứt, con nhớ lại “những lúc đã làm cho mẹ đau lòng”, “đã làm cho mẹ buồn phiền”.Lúc ấy dù có “hối hận”,dù con có “cầu xin linh hồn mẹ tha thứ”thì cũng chỉ vô ích mà thôi, vì mẹ đã mất từ lâu rồi. Một nỗi đau ghê gớm là thời gian năm tháng sẽ không bao giờ làm nguôi quên những hình ảnh, những kỉ niệm vui, buồn về người mẹ hiển yêu quý, “lương tâm con sẽ không một phút nào yên tĩnh”.Và lúc ấy, “hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình”.
“Mẹ hiền như chuối ba hương – Như xôi nếp mật, như đường mía lau”.Đó là ca dao của nhân dân ta. Ở đây, từ hình ảnh người mẹ hiền trong tâm hồn đứa con, người bố đã viết một câu thật hay nói về lòng hiếu thảo, về đạo làm con; lời khuyên con càng trở nên sâu xa, thấm thía: “Tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả”.Bởi lẽ, lòng hiếu thảo là cái gốc của đạo làm người; những kẻ bất hiếu “thật đáng xấu hổ và nhục nhã”vì đã “chà đạp lên tình yêu đó”.
Qua bức thư của người bố gửi En-ri-cô, ta thấy lời giáo huấn không hề khô khan mà vô cùng xúc động, chứa chan tình phụ- tử, tình mẩu – tử.bố vừa giận vừa thương con; bố đã dạy con bài học về lòng hiếu thảo, biết kính trọng và biết ơn cha mẹ. Lòng mẹ bao la và mênh mông. Con không được vô lễ, không được vong ân bội nghĩa với mẹ cha. Chúng ta cảm thấy mình “lớn lên”cùng trang nhật ký của En-ri-cô.
Tóm lại( bài “Mẹ tôi”là một bài ca tuyệt đẹp của “Những tấm lòng cao cả”. Đơ A-mi-xi đã để lại trong lòng ta hình ảnh cao đẹp thân thương của người mẹ hiền, đã giáo dục chúng ta bài học hiếu thảo của đạo làm con.
Nguồn: thêm: Bài văn tả cảnh bình minh buổi sáng trên biển
|
Analyze the image of a gentle mother in the letter "My Mother" mentioned by Enrique's father
Instruct
Dad recalls an unforgettable memory: a few years ago, Enrique was seriously ill, his mother "stayed up all night" taking care of him, "crouched over the cradle, watching for his panting breathing." The mother was worried and in pain, "writhing with fear, sobbing at the thought that she might lose her child".
There is an ancient saying: "A mother's love is profound". A mother's love for her child is immense. A mother can sacrifice everything for her child. "A child is a seed of blood cut in half by the mother" (proverb). ten
It is immoral for a child to insult his mother, because "A mother is willing to give up a year of happiness to avoid a single hour of pain for her child." What child can calculate or think about a year compared to an hour? What does a mother have to do to work hard, suffer hunger and cold, "beg to feed her children?" Bigger and greater is the mother who "can sacrifice her life to save her child's life". The merit of a father and mother is truly priceless. same severity:
“Father's merit is like a mountain towering over the sky,
Mother's meaning is like water in the East Sea" or
“Father, thank you very much!
The meaning of a mother is as good as heaven for nine months of carrying her."
(Folk)
The most touching thing was when my father showed me that the "saddest" misfortune of a person's life is "the day I lost my mother". Losing a mother is the most painful of childhood. Even when he has grown up, matured, become brave,... the child will never find the loving figure of his gentle mother again. A mother's gentle voice. A mother's loving gesture "makes the mother open her arms to welcome her into her heart". The loneliness of the child (even though he is grown and healthy) is indescribable, because of the lack of a gentle mother's cherished love, " You will still see yourself as just a poor, weak and unprotected child." At that time, "I will be bitter...", "I will not be able to live peacefully", "I will not for a minute Quiet", because of my guilty conscience, I remembered "the times that hurt my mother", "made my mother sad". At that time, even though I "regretted", even though I "prayed "Forgive me, my soul" is useless, because my mother has passed away a long time ago. A terrible pain is that time and years will never forget the images, happy and sad memories of my beloved mother, "my conscience will not be quiet for a moment". And at that time , "The gentle and gentle image of your mother will make your soul feel like it's being tortured."
"Mother is as gentle as banana with three flavors - Like sticky rice with honey, like sugar cane". That is the folk song of our people. Here, from the image of a gentle mother in the child's soul, the father wrote a beautiful sentence about filial piety and filial piety; The advice for children becomes even more profound and profound: "Love and respect for parents are the most sacred feelings." Because, filial piety is the root of human morality; Unfilial people are "shameful and humiliating" for "trampling on that love".
Through the father's letter to Enrique, we see that the teachings are not dry but extremely touching, filled with father-son love, mother-son love. The father is both angry and loves his son; Dad taught me the lesson of filial piety, respect and gratitude to my parents. A mother's heart is vast and immense. Children must not be disrespectful, must not be ungrateful to their parents. We feel like we "grew up" with Enrique's diary.
In short (the song "My Mother" is a beautiful song of "Noble hearts". De Amisi has left in our hearts the beautiful and loving image of a gentle mother who has educated us. We learn the filial piety of filial piety.
Source: more: Essay describing the morning sunrise on the sea
|
Đề bài: Em hãy phân tích hình ảnh người đàn bà làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
Nhắc đến nhà văn Nguyễn Minh Châu người ta biết ngay ông chính là một hiện tượng văn học vừa độc đáo của văn học thời kỳ đổi mới. Và như Nguyên Ngọc đã nhận xét “Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh và tài năng”. Những tác phẩm của ông chứ đựng những triết lý nhân sinh, đó chính là cảm hứng thế sự đời tư. Và “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những tác phẩm tiêu biể của ông thể hiện được phong cách độc đáo này. Trong tác phâm thì nhân vật người đan bà hàng chài nổi lên là một nhân vật trung tâm, thể hiện được nhiều những suy tư, trăn trở và thông điệp tác phẩm mà nhà văn muốn nhắn nhủ.
Có thể thấy được trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà hàng chài chính là tâm điểm trong câu chuyện của người nghệ sĩ Phùng. Và rất dễ nhận ra được ở nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của nhân vật Phùng về chính chiếc thuyền chài lưới. Hơn nữa đó như cũng lại xuất hiện trong chính câu chuyện cuộc đời chị kể ở toà án huyện. Và cũng thông qua đó, cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị như thực sự gây được sự xúc động, trăn trở mạnh mẽ không chỉ với tác giả mà còn với người đọc.
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu lại không đặt tên cho nhân vật của mình. Khi nhân vật không được gọi tên cụ thể mà lại được gọi là người đàn bàn hàng chai. Và có lẽ đây cũng chính là dụ ý nghệ thuật của tác giả. Người đàn bà hàng chai vô danh kia như lại là đại diện của rất nhiều người đàn bà hàng chai khác cũng phải sống cuộc sống cam chịu như nhân vật trong tác phẩm. Và không gọi tên là để cho nhân vật của mình có một tầm phổ quát lớn lao. Đây là người đàn bà có ngoại hình xấu xí tàn tạ ”trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”. Có lẽ rằng chính vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ dường như cũng đã làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở nên thô kệch đi biết bao nhiêu.Xem thêm: Phân tích nghệ thuật lập luận trong văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng-ghen)
Số phận của người đàn bàn này thật bất hạnh biết bao nhiêu. Có lẽ rằng chính cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc như cũng thật là vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình rất nghèo lại còn đông con nưa song thuyền thì lại chật,… Người đàn bà như luôn bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ thường xuyên cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Thật xác đáng khi nhận xét rằng chị là nạn nhân của sự nghèo đói. Và chính số phận đầy bi kịch ấy được tác giả tái hiện đầy cảm thông và chia sẻ.
Song như tiềm ẩn bên trong người đàn bà hình dáng bên ngoài xấu xí, thô kệch, lại còn phải như đã chịu biết bao cay đắng, nhọc nhằn ở cuộc đời này đó còn chính là những phẩm chất cao đẹp. Trước hết ở người đàn bà này chính là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị dường như cũng đã coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị đã chấp nhận, chị như không hề kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình nghèo khó ấy.
Ta như cũng đã thấy được nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờ bến của chị, một người mẹ rất mực yêu thương chồng con. Và cũng chính với người đàn bà này, các con là cuộc sống, lẽ sống. Khi tòa án đưa ra giải pháp li dị, chị đã từ chối. Có nghĩa rằng là khi chị đã bị từ chối trút bỏ tấm bi kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà bị đi tù, và khi cho dù có bị đánh đập còn hơn phải bỏ chồng, bỏ con. Nhất là hình ảnh người đàn bà ở tòa án huyện đã minh chứng cho thấy sự chung thủy, yêu con và thương cho chồng. chị như thật hiểu lẽ đòi. Có thể thấy được ở người đàn bà này một sự yêu thương vô bò đối với chồng con. Và chị biết rằng cho dù chồng có đánh như thế nào đi chăng nữa thì chiếc thuyền luôn cần phải có một người đan ông.Xem thêm: Thời gian biểu trong ngày của em
Không những thế, ta như thấy được ở đây còn là người phụ nữ vị tha thánh thiện. Chị như không chỉ yêu thương, chị cũng đã hi sinh đến quên mình vì đàn con. Và có thể thấy được chính ở người phụ nữ này còn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với chồng với con. Và điều này cũng đã làm cho người nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu như đã vỡ lẽ và khi nhìn người chồng là kẻ vũ phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng chính cách nhìn nhận, sự hiểu lẽ đời đã giúp cho người đàn bà không học này thắng thế về lý lẽ đối với chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng
Trong những cơn khổ đau triền miên, dường như ở người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc vô cùng nhỏ nhoi, đời thường. Đó chỉ đơn giản là những giây phút vợ chồng con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận. Và có thể thấy được chính vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn. Và có thể thấy được chính cái niềm vui lớn nhất là của chị là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Và cũng như chính với những kiếp đàn bà nhọc nhằn đó nói đến niềm vui thật xa xỉ. Nhưng chính vì những sự tận tụy hi sinh cho chồng con chính là niềm vui lớn nhất đối với người phụ nữ. Và ta như thấy được ở đây chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà rằng là “lần đầu tiên trên gương mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”. Đó như đồng thời cũng chính là triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người. Và thông qua đó ta như thấy được chính những quan niệm hạnh phúc của con người nhiều khi thật đơn giản, khát vọng hạnh phúc thật nhỏ bé mà dường như nó vẫn nằm ngoài tầm tay.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu
Chính bằng biện pháp đồi lập giữa hoàn cảnh và tính cách,và đối lập giữa ngoại hình và tâm hồn, như cũng đã đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, đầy mâu thuẫn của con người. Và thông qua nhân vật người đàn bà hàng chài, thì tác giả Nguyễn Minh Châu dường như cũng đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về con người. Và thật tinh tế khi ông đã khai thác số phận cá nhân và thân phận con người đời thường, để có thể phát hiện những nét đẹp trong những con người tầm thường, lam lũ. Và đó cũng thật đúng khi nói cả đời, ông đã tâm niệm sáng tác văn học là đi tìm “hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn mỗi con người”.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Topic: Analyze the image of the fishing village woman in "The boat in the distance".
When mentioning writer Nguyen Minh Chau, people immediately know that he is a unique literary phenomenon of the literature of the reform period. And as Nguyen Ngoc commented, "Nguyen Minh Chau is an elite and talented pioneer." His works contain human philosophies, which are inspirations for personal life. And "The Boat in the Far Away" is one of his typical works that demonstrates this unique style. In the work, the character of the fisherman emerges as a central character, expressing many of the thoughts, concerns and messages the writer wants to convey.
It can be seen in the work that the character of the fisherman is the focus of artist Phung's story. And it is easy to recognize this character mainly appearing in character Phung's second discovery about the fishing boat itself. Moreover, it seems to appear again in the life story she told in the district court. And through that, her life, fate, personality, and plight seem to truly cause strong emotions and concerns not only for the author but also for the reader.
It is not a coincidence that Nguyen Minh Chau did not name his character. When the character is not specifically named but is called the "chai" woman. And perhaps this is also the author's artistic intention. That anonymous shop woman seems to be the representative of many other shop women who also have to live a doomed life like the character in the work. And not naming names is to give your character a great universality. This is a woman with an ugly and devastated appearance "about 40 years old, a familiar body of a woman from the sea, tall with rough features. Her face was pockmarked. The face is tired after staying up all night pulling the net, pale and seems to be sleepy. Perhaps it is because of her life of hardship, hardship, hardship, and suffering that seems to have made her already ugly appearance become much rougher. See more: Analysis of the art of argumentation in literature "Three Great Contributions of Karl Marx (Engels)"
How unfortunate is the fate of this woman. Perhaps the very life of making a living at sea is as strenuous as it is also really strenuous, difficult, and uncertain. The family was very poor and had many children, but the boat was cramped... The woman seemed to be constantly beaten and tortured by her husband, "every three days, a light beating, every five days, a heavy beating". It is accurate to say that she is a victim of poverty. And it is that tragic fate that the author recreates with full sympathy and sharing.
But hidden inside a woman's ugly, rough exterior, and as if she had endured so much bitterness and hardship in this life, are also beautiful qualities. First of all in this woman is patience and endurance due to circumstances. She also seemed to consider being beaten as a very familiar part of her life. She accepted, she did not complain, did not run away, and had no intention of leaving that poor family.
I also see that the root cause of her resignation is her boundless love for her children, a mother who loves her husband and children very much. And also for this woman, her children are life, the reason for living. When the court offered a divorce solution, she refused. It means that when she was refused to let go of the humiliating tragedy of her life. For this woman, it is better to go to prison, and even be beaten, than to leave her husband and children. Especially the image of the woman in the district court demonstrated her loyalty, love for her children and love for her husband. She really understood the reason. One can see in this woman an endless love for her husband and children. And she knows that no matter how much her husband fights, the boat always needs a man. See more: My daily schedule
Not only that, as we can see here, she is also a saintly, altruistic woman. She not only loved, but also sacrificed herself for her children. And it can be seen that this woman also has a tolerant and generous heart towards her husband and children. And this also made artist Phung and judge Dau come to their senses and see their husband as an abusive, cruel, and condemnable person. But it was her perspective and understanding of life that helped this uneducated woman prevail in argument against Judge Dau and artist Phung.
In the midst of constant suffering, it seems that this woman still manages to filter out extremely small, everyday happiness. Those are simply moments when husband and wife and children live together happily and in harmony. And it can be seen that precisely because that rare and meager happiness comes at the price of torture and brutality. And it can be seen that her greatest joy is that "when I sit and watch my children, they are well fed." And just like those difficult women's lives, it speaks of truly luxurious joy. But precisely because the devotion and sacrifice for her husband and children is the greatest joy for a woman. And we can see here that it is the inner strength that supports the woman that "for the first time, a smile suddenly lit up her ugly face". That is also a profound philosophy about life and people. And through that, we can see that people's concepts of happiness are often very simple, the desire for happiness is so small that it still seems out of reach. See more: My feelings about my father Dear
It is through the contrast between circumstances and personality, and the opposition between appearance and soul, that one also goes deep into the complex, contradictory inner world of people. And through the character of the fisherman, author Nguyen Minh Chau also seems to have shown a new perspective on people. And it's so subtle that he exploited personal fate and the condition of everyday people, to be able to discover the beauty in ordinary, miserable people. And it is also true that all his life, he has thought that writing literature is to find "the pearl hidden deep in every human soul".
Source: Good sample writing
|
Đề bài: Đọc Vợ nhặt, không ai quên được hình ảnh nồi cháo cám của bà cụ Tứ ở cuối truyện. Anh (chị) hây viết lời bình về chi tiết nghệ thuật đặc sắc này của Kim Lân.
Có những chi tiết nghệ thuật đọc rồi là nhớ mãi bởi nó có sức rung động sâu xa, sức ám ảnh lâu bền trong người đọc như “bát cháo hành” của Thị Nở trong Chí Phèo (Nam Cao), như “nồi cháo cám” của bà cụ Tứ trong Vợ nhặt (Kim Lân). Nếu bát cháo hành là liều thuốc giải độc đối với những “con quỷ dữ” như Chí Phèo biết quay về cuộc sông lương thiện, thì nồi cháo cám chính là tấm lòng thương yêu chân thực, cảm động của người mẹ nghèo khổ đối với những đứa con trong bữa cơm ngày đói đón dâu mới.
Gấp trang truyện lại, không hiểu sao trước mắt ta cứ hiện lên rõ ràng như thực hình ảnh “người mẹ tươi cười, đon đả: – Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy”. Có thật chăng món chè cám ngon đáo để? Có thật chăng lòng người mẹ đang vui sướng? Chỉ biết rằng cỏ một niềm xúc động rất thật cứ dâng lên trong lòng ta trước tấm lòng bà cụ Tứ khi bà “lễ mễ” bưng nồi cháo ra, đon đả tươi cười múc cháo cho hai đứa con.
Nhớ lại cuộc đời dài nghèo khổ của bà, mấy khi trên gương mặt u tối ấy sáng lên một nụ cười? Ngay cả đêm qua, biết con trai đã nên vợ nên chồng, trong giờ phút đầu tiên gặp người con dâu mới, nước mắt khổ đau và lo lắng của bà vẫn chảy nhiều hơn tuy trong thâm tâm bà cũng có chút “mừng lòng” và một vài tia hi vọng về chúng. Vậy thì vì sao trong bữa cơm ngày đói đón dâu mới lại có chuyện “nồi cháo cám" với nụ cười đon đả làm bừng sáng cả khuôn mặt già nua, nhẫn nhục của bà? Ta hiểu, không phải bà vui cho bà, mà chính là bà đang cố tạo ra những niềm vui, dù còn rất mong manh, cho con trai và con dâu trong ngày đầu tiên nên vợ nên chồng. Tâm lòng người mẹ nghèo thương con thật cảm động. Bà đã dậy sớm, “xăm xắn” dọn dẹp nhà cửa, vườn tược cho quang quẻ, trong bữa cơm toàn nói những chuyện vui về tương lai như chuyện nuôi gà … Và “nồi cháo cám” chính là đỉnh cao của tấm lòng người mẹ nghèo thương hai đứa con vừa tìm đến với nhau trong cảnh “vợ nhặt” giữa những ngày đói khủng khiếp nhất của năm 1945.
Còn nhớ một điều, đây không phải là một bữa cơm thường nhật hằng ngày, mà là bữa cơm đầu tiên đón dâu mới, bữa cơm ngày “nhị hỉ” thiêng liêng theo phong tục Việt Nam. Chính đêm qua, bà đã nói với người đàn bà lạ bỗng trở nên thân thiết với mình: “Lẽ ra mẹ phải có dăm ba mâm, mời bà con họ hàng, nhưng Bữa cơm ấy phải tươm tất, nhưng vì đang trong những ngày đói nên chỉ có “một niêu cháo lõng bõng, một dúm rau chuối thái rối chấm với muối trắng”. Ba mẹ con ăn vui vẻ nhưng loáng cái đã hết nhẵn, không còn chút gì trên cái mẹt rách được dùng làm mâm. Một tình thế hụt hẫng sẽ đến trong bữa cơm ngày cưới, điều này, bà đã nhìn thấy trước, và bằng tấm lòng thương yêu của mình, bà đã tìm cách “cứu nguy” cho nó, mục đích là để cho con trai và con dâu có được niềm vui trọn vẹn trong ngày đầu tiện nên vợ nên chồng. Nồi cháo cám có được là do lòng thương con chân thành của bà, cũng là do cách nghĩ hồn nhiên mộc mạc của bà – những bà mẹ nông dân suốt đời lam lũ nghèo khổ.
Xem thêm: Phân tích hình ảnh Nồi cháo cám trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân-Văn 12Bà nấu nồi cháo cám, giấu con trai và con dâu, để đến cái giờ phút nguy kịch đó mới đem ra “cứu nguy” như khi ta xổ ra con át chủ bài lúc ván bài đã đến nước quyết định. Và như ta thấy, bà đã vui vẻ mời chào,đon đả đón lấy bát của con dâu và con trai để múc cháo. Bà còn “nói trại" đi đó là chè khoán, ngon đáo để. Trong chi tiết nghệ thuật này, hai lần Kim Lân miêu tả cái dáng tươi cười, đon đả của bà mẹ với hai đứa con một cách thật chân thành và hồn nhiên. Chính điều này làm ta xúc động, xót thương và cảm phục tấm lòng của người mẹ nghèo khổ. Bà đang vui (điều này hẳn là có vì con trai bà đã có gia đình bà đã có con dâu) hay bà đang cố tạo ra niềm vui cho hai đứa con tội nghiệp của bà đã nên vợ nên chồng trong lúc đói kém này? (Điều này chắc là nhiều hơn, là điều chủ yêu trong lòng bà lúc bấy giờ). Dường như bà cố ý xua đi không khí ảm đạm, cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng sự tươi tỉnh động viên con. Bên trong cái vẻ tươi,tỉnh ấy, ta biết lòng người mẹ đang thổn thức. Lòng người đọc cũng dâng lên bao xót xa … Tội nghiệp cho niềm vui của bà – cái niềm vui không cất cánh lên được. Bởi, vẫn còn đó bát cháo cám “chát xít, nghẹn bứ trong miệng” anh con trai và làm “tối sầm hai con mắt” người con dâu. Và, tiếng cười của bà tắt hẳn khi “một nỗi tủi hờn dâng lên bao quanh mâm cơm”, họ cắm mặt ăn cho xong bữa, ăn mà không nhìn nhau … Kim Lân viết những dòng này tưởng như khách quan, nhưng ta biết lòng ông đau nhói biết chừng nào, bởi chính ông, gia đình ông, trong những ngày đói của năm Ất Dậu ấy, cũng đã từng phải ăn cháo cám, ông đã biết mùi vị của cháo cám là thế nào? … Phải, cái nồi cháo cám ấy có gì là quý giá đâu, nhưng tấm lòng người mẹ nông dân một đời nghèo khổ ngẫm lại không đáng thương, đáng quý hay sao? Có thể bà chẳng còn sống mấy nữa. Nhưng bà sống vì con, cả con trai và người con dâu mới mà bà đã thương yêu sâu sắc, bà tìm thây ý nghĩa đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con. Cái đức hi sinh, vị tha ấy là của bà, của bao bà mẹ nông dân khác mà ta đã gặp trong cuộc đời. Và nồi cháo cám mà Kim Lân đã dành cho bà ở đây, trong phần kết thúc thiên truyện ngắn này, nó vẫn gợi lên sâu sắc âm hưởng đau xót của nạn đói khủng khiếp năm 1945, vẫn giữ lại cái hương vị đằm thắm nhân bản của khát khao tổ ấm gia đình dù trong cảnh “Vợ nhặt”; nhưng trên hết và bao trùm tất cả, đó là tấm lòng nhân hậu cao cả của những người mẹ Việt Nam – “đằng sau manh áo rách là những tấm lòng vàng!”
Đó là một chi tiết nghệ thuật đặc, sắc mà ta thường gặp ở cây bút viết truyện ngắn sở trường về người nông dân Việt Nam: nhà vần Kim Lân.
Xem thêm: Có ý kiến cho rằng tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Bằng những hiểu biết của anh (chị) về bài thơ Chiều tối, hãy bàn luận ý kiến trên.
|
Topic: Reading The Wife Picked Up, no one can forget the image of Mrs. Tu's bran porridge pot at the end of the story. Please write a comment about this unique artistic detail of Kim Lan.
There are artistic details that, once read, are remembered forever because they have a profound impact and a lasting obsession in the reader, such as Thi No's "bowl of onion porridge" in Chi Pheo (Nam Cao), like "the pot of bran porridge". ” by Mrs. Tu in The Picked Wife (Kim Lan). If a bowl of onion porridge is an antidote for "evil demons" like Chi Pheo who know how to return to an honest life, then a pot of bran porridge is the true, touching love of a poor mother for her poor mother. the children at the meal on a hungry day to welcome a new bride.
Closing the story page, for some reason, the image of a "smiling, well-mannered mother" kept appearing clearly before my eyes: - Thank you, hehe. It's delicious, just try it and see. In our neighborhood, we don't have any bran to eat." Is it true that bran sweet soup is so delicious? Is it true that the mother's heart is happy? I only know that a very real emotion keeps rising in my heart at the heart of old lady Tu when she "ceremoniously" brought out the pot of porridge, gracefully and smilingly scooping porridge for her two children.
Remembering her long and poor life, how often did a smile light up on that dark face? Even last night, knowing that her son had become husband and wife, in the first moment of meeting her new daughter-in-law, her tears of pain and worry still flowed more even though deep inside she was also a little "happy". and some rays of hope about them. So why is it that during the meal on the hungry day to welcome the new bride, there is a "pot of bran porridge" with a cheerful smile that lights up her old, patient face? I understand, it's not that she's happy for herself, but It was she who was trying to create joy, even though it was still very fragile, for her son and daughter-in-law on the first day of becoming husband and wife "Cool" cleans the house and garden to make it look clean, and during meals, he always talks about funny stories about the future like raising chickens... And the "pot of bran porridge" is the pinnacle of a poor mother's heart that loves her two young children. found each other in the "picked-up" situation during the most terrible hungry days of 1945.
Remember one thing, this is not an everyday meal, but the first meal to welcome the new bride, the sacred "second wedding" meal according to Vietnamese customs. Last night, she said to the strange woman who suddenly became close to her: "I should have had a few trays and invited relatives, but that meal had to be decent, but because it was during the rainy days." I was hungry so I only had "a pot of watery porridge, a bunch of chopped bananas dipped in white salt". My parents and I ate happily, but soon it was gone, there was nothing left on the tattered tray used as a tray. A disappointing situation would come at the wedding dinner, this she foresaw, and with her loving heart, she sought to "save" it, the purpose being to save her son and his wife. The daughter-in-law had complete joy on the first day of becoming husband and wife. The pot of bran porridge was possible because of her sincere love for her children, and also because of her innocent and simple way of thinking - farmer mothers have been poor all their lives.
See more: Analyzing the image of a pot of bran porridge in the short story "The Wife Picked Up" by Kim Lan-Van 12She cooked a pot of bran porridge, hiding it from her son and daughter-in-law, only to bring it out to the "rescue" at that critical moment. like when we draw the trump card when the game has reached a decisive move. And as we can see, she happily invited and enthusiastically took the bowls of her daughter-in-law and son to scoop up porridge. She also "said" that it was sweet soup, delicious and delicious. Twice in this artistic detail, Kim Lan depicted the smiling, graceful appearance of the mother with her two children in a sincere and soulful way. However, this makes us feel touched, pity and admire the heart of the poor mother. She is happy (this must be because her son is married and she has a daughter-in-law) or she is trying creating joy for her two poor children who became husband and wife in this time of famine? This was probably the main thing in her heart at that time gloomy atmosphere, trying to overcome the situation by cheering and encouraging her child. Inside that bright, awake look, we know the heart of the reader is also filled with sadness... Poor me Her joy - a joy that could not take off. Because, there was still a bowl of bran porridge that was "acrid, choking in the mouth" of her son and "darkening the eyes" of her daughter-in-law Her smile faded completely when "a feeling of sadness rose up around the dinner table", they sat down to finish the meal, eating without looking at each other... Kim Lan wrote these lines seemingly objectively, but we know his heart hurts. How painful it was, because he and his family, during those hungry days of the Year of the Rooster, had also had to eat bran porridge. Did he know what bran porridge tasted like? … Yes, there is nothing precious about that pot of bran porridge, but isn't the heart of a poor farmer mother, thinking about it, pitiful and precious? She may not be alive much longer. But she lived for her children, both her son and her new daughter-in-law, whom she loved deeply. She found the meaning of her life in caring for her children. That virtue of sacrifice and selflessness belongs to her and to many other farmer mothers we have met in life. And the pot of bran porridge that Kim Lan gave her here, at the end of this short story, still deeply evokes the painful echoes of the terrible famine of 1945, still retaining its loving flavor. version of the desire for a warm family home even in the scene "Wife picked up"; But above all and covering all, it is the noble kindness of Vietnamese mothers - "behind torn clothes are hearts of gold!"
That is a special, sharp artistic detail that we often encounter in the writer who writes short stories about Vietnamese farmers: rhyme writer Kim Lan.
See more: There is an opinion that Ho Chi Minh's poetry collection Prison Diary has both classic and modern beauty. Using your understanding of the poem Evening, please discuss the above ideas.
|
Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích hình ảnh nồi cháo cám trong Vợ nhặt
Kim Lân được biết đến là một nhà văn tài năng và đặc biệt ông bén duyên với những tác phẩm mang tính chất rất giản dị đặc biệt là các tác phẩm về những số phận khó khăn. Tác phẩm đặc sắc “Vợ nhặt “ là một trong số những tác phẩm tiêu biểu mà trong đó tác giả đưa ra cho ta những cách nhìn rất chân thực về người nông dân trong cảnh đói nghèo,tù túng. Tác phẩm dường như cũng đã thể hiện rát rõ hai giá trị,giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực rất sâu sắc.
Với tư cách là một nhà văn của nông thôn dường như tác giả Kim Lân là người rất hiểu người nông dân. Ông lại là người trong cuộc và đã được chứng kiến cái nạn đói khủng khiếp này nên ông hiểu hơn ai hết. “Vợ nhặt’ dường như đã được tái hiện là một bức tranh cô đúc mà đầy đủ, khái quát mà cụ thể, khắc sâu thành ấn tượng rõ nét.
Qua tác phẩm đặc sắc này dường như ta có thể thấy bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói hiện lên là cảnh “bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ”, và có “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”, và sau đó là “người chết như ngả rạ”, “thây nằm còng queo bên đường”, “không khí vẩn lên mùi gây của xác người”, rồi “mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt” và “tiếng hờ khóc tỉ tê trong đêm khuya”…tất cả dường như cái đói đó đã tràn đến xóm ngụ cư, ùa vào gia đình anh Tràng, bủa vây và đe dọa số phận từng con người, không trừ một ai.Xem thêm: Phân tích hình tượng "sóng” trong bài thơ của Xuân Quỳnh, Anh (chị) cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này?
Thật dễ nhận thấy tác phẩm cũng vẽ ra “Bức tranh về số phận những con người trên bờ vực thẳm của nạn đói: “những khuôn mặt hốc hác u tối trong “cuộc sống đói khát”, “không nhà nào có ánh đèn, lửa”, đến cả trẻ con cũng ngồi ủ rũ dưới những xó đường không buồn nhúc nhích. Có thể nhận thấy trong gia đình Tràng thì bà cụ Tứ già lão không làm được gì, anh con trai đẩy xe bò thuê để kiếm sống qua ngày, người con dâu “áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp hẳn đi, hai con mắt trũng hoáy, cái ngực gầy lép nhô hẳn lên”… Và ta nhuw thấy được số phận của họ có khác gì “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại” và trong bữa cơm ngày đói thảm hại thì hình ảnh đầy ám ảnh là với nồi cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”…
“Vợ nhặt” của Kim Lân còn chính là một niềm khát khao tới cháy bỏng với tổ ấm gia đình trọn ven của mỗi con người. Và những niềm khát khao tổ ấm gia đình được thể hiện chân thực và có chiều sâu qua tâm trạng nhân vật Tràng đã như từ trên bờ vực thẳm của cái chết, họ dường như đã dám khát khao đến tổ ấm gia đình, đến một cuộc sôsng đích thực và cao đẹp và đáng sống hơn của con người. Cho nên, mặc dù tuy “chợn” khi nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”, nhưng Tràng vẫn “Chậc, kệ!” và dẫn vợ về nhà. Trong tác phẩm ‘Vợ nhặt’ thì Tràng được hiện lên “Anh vừa xấu hổ lại vừa tự hào khi đưa vợ đi qua xóm ngụ cư, bởi vì có “một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy” dâng lên “ôm ấp, mơn man khắp da thịt..,”; và nhất là, trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Tràng dường như cũng đã thấy cuộc đời mình bỗng nhiên thay đổi hẳn: “Hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”, “một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”, “bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Đây được xem là đoạn văn đầy cảm hứng nhân đạo nhất đối với các nhân vật của ông. Chính vì thế mà yêu thương chính vì khát khao có một mái ấm gia đình nên con người ta biết quí trọng những thứ xung quanh hơn.Xem thêm: Ý nghĩa con đường mòn phân chia ranh giới hai bên nghĩa địa trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Ở “Vợ Nhặt” những giá trị hiện thực quả thực tuy chưa đực nói rõ nét nhưng đã hiện ra ở cuối truyện trong ý nghĩ của Tràng: “cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”. Đoàn người đi phá kho thóc Nhật cũng như hình ảnh lá cờ của Việt Minh. Đây chính là hiện thực nhưng đông thời cũng là ước mơ của những người giống như Tràng.
Và không những truyện thể hiện giá trị hiện thực mà còn là giá trị nhân đạo sâu sắc, mà dường như ở đây chúng ta có thể nhận ra tình thương yêu giai cấp, sự cưu mang lẫn nhau của những người nghèo khổ được thể hiện rất cao đẹp và cảm động qua tấm lòng bao la và ấm tính người chứa chan của bà cụ Tứ đối với con trai và con dâu. Bà đã vượt lên tình thương con và nhất là đối với người đàn bà lạ bỗng nhiên thành con dâu mới – và đó chính là tình thương yêu giai cấp của những người nghèo khổ. Bà cụ tứ đã gọi thị là “con”, tôn trọng thị, nói chuyện thân mật với thị ngay đêm đầu gặp mặt. Và sáng hôm sau, bà cụ tứ cố tạo ra niềm vui cho con trai và con dâu vui. Trong tác phẩm có thẻ nhận thấy rằng chi tiết nồi cháo cám thật cảm động trong bữa cơm ngày đói đón dâu mới. Đây không chỉ là tấm lòng người mẹ thương con mà lớn hơn đó là trong tình thương ấy còn có cả đức vị tha cao cả.Xem thêm: Vẻ đẹp của đoạn thơ trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Truyện đã được kết thúc với một cái kết đầy gợi mở đã tạo cho người đọc những cảm hứng trong tìm tòi và chiêm nghiệm. Và dưới ngòi bút tài hoa cũng như tinh tếcủa tác giả Kim Lân chúng ta có cơ hội đắm chìm trong không gian ấy, và nhận ra những vẻ đẹp của hai giá trị lớn: giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Topic: Please analyze the image of the bran porridge pot in The Wife Picked Up
Kim Lan is known as a talented writer and is especially fond of works of a very simple nature, especially works about difficult fates. The unique work "The Picked Wife" is one of the typical works in which the author gives us very realistic perspectives on farmers in poverty and bondage. The work also seems to clearly express two values, humanitarian values and profound realistic values.
As a rural writer, author Kim Lan seems to understand farmers very well. He was an insider and had witnessed this terrible famine, so he understood better than anyone. “The Picked Wife” seems to have been recreated as a concise yet complete picture, general yet specific, engraved into a clear impression.
Through this unique work, it seems we can see a panorama of the terrible famine of 1945 with the scene of hungry people appearing as "carrying and leading each other, pale and gray like ghosts, and lying scattered all over the place." market tents", and there are "shadows of hungry people walking around quietly like ghosts", and then there are "dead people like straw", "corpses lying crumpled on the side of the road", "the air is filled with the smell of of human corpses", then "the burning smell of burning piles of wood in houses where people have died wafts in with the acrid wind" and "the sound of weeping in the dead of night"...all seem to be that hunger has spread to the residential neighborhood. , rushed into Mr. Trang's family, surrounding and threatening the fate of every person, without exception. See more: Analyzing the image of "wave" in Xuan Quynh's poem, what do you feel about it? A woman's soul in love through this poem?
It's easy to see that the work also paints a "picture of the fate of people on the brink of famine:" dark haggard faces in a "hungry life", "no house has light, fire", even children sat sullenly in the corners of the street, not bothering to move. It can be seen that in the Trang family, Mrs. Tu is old and unable to do anything, her son pushes a rented cart to make ends meet, the daughter-in-law's "clothes are as tattered as a nest of leeches, she is completely skinny, two Sunken eyes, thin chest protruding"... And we can see that their fate is no different from "the deserted house standing huddled in a garden overgrown with tufts of weeds" and during daily meals. Miserably hungry, the haunting image is of a pot of bran porridge "bitter and choking in the throat"...
Kim Lan's "picked-up wife" is also a burning desire for a perfect family for every person. And the longing for a warm family home is expressed truly and deeply through the character Trang's mood as if from the brink of death, they seem to have dared to long for a warm family home, for a new life. A life that is more authentic and beautiful and worth living for humans. So, even though she was "shy" when she thought "I don't know if I can raise all this rice, and it's too much", but Trang still said "Tch, never mind!" and took his wife home. In the work 'Wife Picked', Trang is shown "He was both embarrassed and proud when he took his wife to the neighborhood to live, because there was "something new, very strange, never seen before" coming up. hugging, caressing all over the skin..,”; And especially, on the first morning when he got married, Trang also seemed to find that his life had suddenly changed completely: "He felt strangely attached to his home", "a source of joy, excitement suddenly filled his heart", "now he feels he is a good man, he feels it is his duty to take care of his wife and children in the future". This is considered the most humane inspirational passage for his characters. That's why love is because of the desire to have a warm family, so people know how to appreciate the things around them more. See more: The meaning of the trail dividing the two sides of the cemetery in the work "Medicine" Hole tons
In "Voi Nhat" the realistic values are indeed not clearly stated but appear at the end of the story in Trang's thoughts: "the scene of poor people noisily dragging each other on the Sop dike. There is a big red flag ahead." The group went to destroy the Japanese grain warehouse as well as the image of the Viet Minh flag. This is reality but at the same time it is also the dream of people like Trang.
And not only does the story show realistic values but also profound humanitarian values, it seems that here we can recognize the love of class, the mutual support of the poor is expressed. Very beautiful and touching through Mrs. Tu's immense heart and warm humanity towards her son and daughter-in-law. She overcame love for her children and especially for the strange woman who suddenly became her new daughter-in-law - and that is the love for the class of poor people. The fourth grandmother called her "son", respected her, and spoke intimately to her the first night they met. And the next morning, the fourth grandmother tried to create joy for her son and daughter-in-law. In the work, one can see that the detail of the bran porridge pot is very touching during the meal on a hungry day to welcome the new bride. This is not only the heart of a mother who loves her child, but more importantly, in that love there is also noble altruism. See more: The beauty of the verse in the poem Waves by Xuan Quynh
The story ends with a suggestive ending that gives readers inspiration in exploration and contemplation. And under the talented and sophisticated pen of author Kim Lan, we have the opportunity to immerse ourselves in that space, and realize the beauty of two great values: profound realistic values and high humanitarian values. chief.
Source: Good sample writing
|
Phân tích hình ảnh sĩ tử và quan trường qua hai câu thơ: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa”. (Trần Tế Xương, Vịnh khoa thi Hương)
Gợi ý
Kẻ sĩ xưa vốn không “Đề huề lưng túi gió trăng”, “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa” như chàng Kim của Nguyễn Du thì cũng "đầu đội trời chân đạp đất" “Chí nam nhi nam bắc tây đông” như Nguyễn Công Trứ. Bởi vậy nên ta thấy lạ lắm, kì lắm cho những chàng sĩ tử trong bộ dạng thế này:
“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ”
Những học trò của cửa Khổng sân Trình nhưng chẳng khác nào phường buôn thùng bán mẹt, đầu đường xó chợ. Tú Xương đã dùng phép đảo ngữ để đưa hai từ “Lôi thôi” lên trước, “lôi thôi” là luộm thuộm không gọn gàng. Hai từ ấy tạo ấn tượng về đám sĩ tử bệ rạc, ăn mặc lếch thếch, thật phường giá áo túi cơm hèn mọn, gắng lắm chỉ gánh nổi đôi hạt vừng nói chi đến đội trời đạp đất? Ăn mặc đã vậy, tác phong cũng thật lạ kì: “vai đeo lọ”. Lọ gì? Lọ mực chăng? (Nói đến sĩ tử có lẽ nào lại là lọ nước?!) Từ “đeo” khiến dáng vẻ kẻ sĩ thêm nặng nề, kì cục, “đeo” là đeo vật gì nặng nề ra điều khó nhọc, nay đeo lọ mực thì cái dáng vẻ ấy vừa buồn cười lại vừa thêm bội phần luộm thuộm. Lọ mực nhỏ vậy mà đã "đeo" còn bút giấy không hiểu mang vác, khuân ôm thế nào? Ở đây có thể hiêu thêm một ẩn ý sâu xa của nhà thơ: việc học hành, ôn luyện chữ thánh hiền là một việc quá sức với những kẻ ngu ngốc, kệch cỡm như vậy. Nhưng mang mực đi đâu mà phải “đeo” như vậy?Xem thêm: Sách Bồi dưỡng Ngữ văn 9 có viết: "Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ... cuộc đời."Hãy phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải (Ngữ văn 9, tập hai - Nhà xuất bản Giáo dục, 2008) để làm sáng tỏ nhận xét trên“Ậm oẹ quan trường miệng thét loa”
Nhắc đến quan trường là nhắc đến trường thi. Ra là những sĩ tử kia đi thi. Ta biết rằng việc thi cử trong xã hội xưa là một việc vô cùng quan trọng, cho cả kẻ sĩ, cho cả triều đình, đất nước bởi thi là để chọn ra người hiền tài giúp nước. Bởi vậy, trường thi luôn toát lên vẻ trang trọng, uy nghiêm. Nhưng trường thi này thì khác, đám sĩ tử thì lôi thôi, bệ rạc. Còn đám quan trường coi thi cũng chẳng hơn, “ậm oẹ”, “thét loa”. Tiếp tục dùng phép đảo ngữ, đưa từ “ậm oẹ” lên trước nhà thơ muôn tạo ấn tượng về những bậc quan chưa thấy người mà đã thấy tiếng. Không phải tiếng tăm, danh vọng chi mà là tiếng quan trường “thét loa” (gọi sĩ tử, thông báo, nhắc nhở,… điều gì đó) bằng thứ tiếng thét “ậm oẹ” – tiếng bị cản từ trong cổ họng nghe không rõ. Chỉ riêng từ “ậm oẹ” đã đủ bán đứng tư cách và phẩm giá vị quan trường. Đó là những kẻ "ăn không nên đọi nói chẳng nên lời" vậy sao có thể cai quản việc nước? Âm thanh “ậm oẹ” còn gợi liên tưởng đến tiếng người câm đang cố gào lên điều gì đó. Chỉ khác là ở đây quan trường không gào mà “thét”, “thét loa”. “Thét” để át đi những âm thanh ồn ã, lộn xộn nhộn nhạo hay “thét” để góp thêm vào sự hỗn loạn vốn có. Cái dáng vẻ ấy nhốn nháo thế nào, nó không có được sự nghiêm túc, chỉn chu, trang nghiêm cần có ở một vị quan.Xem thêm: “Thơ là thơ, nhưng đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng" (Sóng Hồng). Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào. Hãy làm sáng tỏ điều đó qua một số bài thơ đã học trong sách Ngữ văn 12 nâng cao, tập một Hình ảnh đám sĩ tử lôi thôi, bệ rạc và lũ quan trường lộn xộn, ồn ã đã gợi đến hình ảnh một buổi thi Hương lúc cuối mùa của Nho học, khi ngày tàn của chế độ phong kiến và thời điểm úa tàn của nền độc lập dân tộc trước sự xâm lăng của chủ nghĩa thực dân. Hình ảnh ấy mang giá trị tố cáo sâu sắc, đồng thời nó ẩn chứa một nỗi đau, một tiếng thở dài của Tú Xương.
Vanmau.edu.vn
|
Analyze the images of scholars and mandarins through two verses: "A slovenly scholar carries a jar on his shoulder, a loud mandarin screams with his mouth." (Tran Te Xuong, Vinh Khoa Huong)
Suggest
Ancient scholars who did not "put their heads in the wind and the moon", "inwardly elegant and outwardly gallant" like Nguyen Du's Kim, but also "put their heads on the sky, their feet on the ground" "Childful of men, south, north, west, and east" like Nguyen Cong Tru. That's why I find it very strange, very strange for young men to look like this:
“A slovenly soldier with a bottle on his shoulder”
The students of Confucius's gate in Trinh yard are no different from the street traders. Tu Xuong used anagrams to put the two words "Untidy" first. "Untidy" means sloppy and untidy. Those two words create the impression of a group of scholars who are shabby, dressed shabbily, and really have low prices, clothes, bags, and food. With great effort, they can only carry a pair of sesame seeds, let alone carry the heavens and the earth? Dressed like that, the style is also strange: "wearing a bottle on one shoulder". What jar? Inkwell? (When talking about a scholar, is it possible that it means a bottle of water?!) The word "wearing" makes the soldier's appearance more heavy and strange, "wearing" is carrying something heavy that makes it difficult, now wearing an inkwell means That look is both funny and a bit sloppy. The ink bottle is so small that I can already "carry" it, but I don't understand how to carry and carry the pen and paper? Here we can understand another profound meaning of the poet: studying and practicing the words of saints and sages is too much for such stupid and ridiculous people. But where do you have to "wear" ink like that? See more: Literature Training Book 9 writes: "The poem Little Spring... life." Let's analyze the poem Little Spring of the family Thanh Hai's poetry (Literature 9, volume two - Education Publishing House, 2008) to clarify the above comment:
Mentioning official schools means mentioning exam schools. So those are the students taking the exam. We know that exams in ancient society were extremely important, both for scholars, for the court, and for the country because exams were to select talented people to help the country. Therefore, the exam hall always exudes solemnity and majesty. But this exam hall is different, the students are messy and untidy. As for the school officials overseeing the exam, they were no better, "humming" and "screaming loudly". Continuing to use anagrams, putting the word "um oa" in front of the poet wants to create the impression of officials who have not yet seen people but have seen voices. Not fame or fame, but the sound of officials "screaming" (calling soldiers, announcing, reminding,... something) with a "boo" scream - the sound is muffled from the throat. unclear. Just the word "boo o" is enough to betray the character and dignity of a mandarin. These are people who "can't eat well and can't speak" so how can they govern the affairs of the country? The "hum o" sound is also reminiscent of the sound of a mute person trying to scream something. The only difference is that here the officials do not scream but "scream" and "scream". “Shout” to drown out the noisy, chaotic sounds or “scream” to add to the existing chaos. No matter how chaotic that appearance is, it does not have the seriousness, neatness, and solemnity needed in an official. See more: "Poetry is poetry, but at the same time it is painting, music, and engraving according to the "(Song Hong). How do you understand the above opinion? Let's clarify that through some of the poems you learned in the Advanced Grade 12 Literature book, volume one. Image of a group of martyrs Well, the chaotic and noisy pedestals and mandarins evoke the image of a Perfume Exam at the end of the Confucian season, when the feudal regime is over and the nation's independence is fading in the face of the colonialism's invasion. That image has a profound denunciation value, and at the same time it contains a pain, a sigh of Tu Xuong.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích hình ảnh Trần Quốc Tuấn trong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (Trích Đại Việt sử kí toàn thư)
Gợi ý
Khó có thể hình dung lịch sử Việt Nam sẽ ra sao, triều đại nhà Trần sẽ ra sao nếu không có nhân vật vĩ đại Trần Quốc Tuấn. Hiếm có con người nào có nhân cách cao cả trọn vẹn như ông. Trong Đại Việt sử kí toàn thư, Ngô Sĩ Liên đã xây dựng một cách chân xác chân dung tuyệt đẹp của con người toàn đức toàn tài này.
Trong Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, chúng ta được biết đến một Trần Quốc Tuấn với bao phẩm chất cao đẹp, mà trước hết có thể nhận thấy đó là lòng trung quân ái quốc. Tấm lòng với dân với nước của Trần Quốc Tuấn được thể hiện ở tinh thần yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm công dân đối với đất nước.
Qua lời phân tích cặn kẽ với vua về cách đánh giặc, cách giữ nước khi ông lâm bệnh, bất cứ ai cũng nhận thấy tinh thần hết lòng lo tính kế sách giúp vua giữ nước an dân của Quốc Tuấn. Suốt cuộc đời, Trần Quốc Tuấn đã thờ trọn chữ “trung”. Lòng trung của ông được đặt trong hoàn cảnh thử thách đặc biệt. Trần Quốc Tuấn không quên môi hiềm khích giữa cha ông (An Sinh Vương) và Trần Thái Tông. Ông cũng không quên lời dặn dò của cha mình trước khi lâm chung. Bản thân ông cũng bị đặt trong mối mâu thuẫn giữa “hiếu” và “trung”. Nhưng khi được nắm binh quyền trong tay, Trần Qưốc Tuấn đã đặt “trung” lên trước “hiếu”, đặt nợ nước lên trên tình nhà. Hay nói cách khác, ông đã không hiểu chữ “hiếu” một cách cứng nhắc. “Trung” và “hiếu” đều bị chi phối bởi nghĩa lớn đốì với đất nước. Thái độ của Trần Quốc Tuân đối với Yết Kiêu, Dã Tượng (cảm phục đến phát khóc, khen ngợi hai người), đối với Hưng Vũ Vương (ngầm cho là phải) và đối với Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (rút gươm kể tội) khi nghe câu trả lời của họ càng tốn thêm tấm lòng trung nghĩa của ông.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Chiếu Cầu Hiền của Ngô Thì Nhậm.
Lòng trung quân ái quốc của Trần Quốc Tuấn lại đi cùng với tài năng mưu lược. Với tài năng ấy, ông đã phò giúp hai vị nhà Trần chống giặc ngoại xâm, trấn an nhân dân. Tài đức của ông khiến quân giặc phương Bắc còn phải kính cẩn, nể sợ: Tiếng vang đến giặc Bắc, chúng thường gọi ông là Án Nam Vương Vương Trần. Quốc Tuấn mà không dám gọi tên. ông để lại câu nói đầy dũng khí: “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng” và cống hiến cho đời sau những tác phẩm quân sự có giá trị (Binh gia diệu lí yếu lứợc, Vạn Kiếp tông bí truyền thư). Qua cách ông trình bày với vua về thời thế, tương quan ta – địch, sách lược của địch, đối sách của ta, đặc biệt là chú trọng đoàn kết sức mạnh toàn dân, có thể thấy rõ tầm nhìn sáng suốt, xa rộng của vị tướng tài ba.
Không chỉ trung quân ái quốc, tài năng mưu lược, Trần Quốc Tuấn còn là người có đức độ lớn lao. Dù được vua trọng đãi rất mực nhưng ông luôn khiêm tốn, kính cẩn giữ tiết làm tôi. Ông chủ trương khoan thư sức dân, vì hiểu dân là gốc của nước. Ông tận tình với tướng sĩ dưới quyền, soạn sách dạy bảo, khích lệ, ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Giã Tượng, Yết Kiêu, là gia thần của ông, có dự công dẹp ô Mã Nhi, Toa Đô. Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự. Ông cẩn thận tính toán phòng xa việc hậu sự của mình. Tròng tín ngưỡng của dân gian, sau khi mất, ông còn linh hiển phù trợ dân chống lại tai nạn, dịch bệnh. Đến nay, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn.
Những câu chuyện ngắn của tác giả Đại Việt sử kí toàn thư đã khắc hoạ chân dung nhân cách tuyệt đẹp một con người. Thái độ ngợi ca, kính trọng công đức, tài trí của Ngô Sĩ Liên đối với Trần Quôc Tuấn cũng chính là thái độ của mọi thế hệ sau này. Dân tộc, nhân dân Việt Nam không thể không tự hào bởi có những người con đã làm rạng danh tổ tông, đất nước như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.Xem thêm: Nghị luận xã hội câu tục ngữ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.Vanmau.edu.vn
|
Analysis of the image of Tran Quoc Tuan in Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan (Excerpt from Dai Viet's complete history)
Suggest
It is difficult to imagine what Vietnamese history would be like, what the Tran dynasty would be like without the great figure Tran Quoc Tuan. Rarely is there a person with such a noble and complete personality as him. In the Complete Annals of Dai Viet, Ngo Si Lien accurately built a beautiful portrait of this man of all virtue and talent.
In Hung Dao Dai Vuong Tran Quoc Tuan, we learn about a Tran Quoc Tuan with many noble qualities, which can first be seen as patriotic loyalty. Tran Quoc Tuan's heart for the people and country is expressed in his deep patriotism and sense of civic responsibility towards the country.
Through detailed analysis with the king about how to fight the enemy and how to protect the country when he fell ill, anyone could see Quoc Tuan's spirit of wholeheartedly planning and planning to help the king keep the country and its people safe. Throughout his life, Tran Quoc Tuan worshiped the word "loyalty". His loyalty was placed under particularly challenging circumstances. Tran Quoc Tuan did not forget the hostility between his father (An Sinh Vuong) and Tran Thai Tong. He also did not forget his father's instructions before his death. He himself was also placed in the conflict between "filial piety" and "loyalty". But when he held military power in his hands, Tran Quoc Tuan put "loyalty" before "filial piety", placing debt to country above love for family. In other words, he did not understand the word "filial piety" in a rigid way. “Loyalty” and “filial piety” are both influenced by their great significance for the country. Tran Quoc Tuan's attitude towards Yet Kieu and Da Tuong (admired to the point of tears, praising the two), towards Hung Vu Vuong (tacitly thought it was right) and towards Hung Nhuong Vuong Tran Quoc Tang (drawing his sword and telling crime) when hearing their answer, it cost him even more loyalty. See more: Analysis of the work Chieu Cau Hien by Ngo Thi Nham.
Tran Quoc Tuan's patriotic loyalty goes hand in hand with his strategic talent. With that talent, he helped the two Tran dynasties fight foreign invaders and reassure the people. His talent and virtue made the Northern enemy soldiers respect and fear him: Echoing the Northern enemy, they often called him An Nam Vuong Vuong Tran. Quoc Tuan did not dare to call his name. He left behind the courageous words: "Your Majesty beheads me first and then surrender" and dedicated valuable military works to future generations (Binh Gia Dieu Ly Luc, Van Kiep Tong Esoteric Book). Through the way he presented to the king about the times, the relationship between us and the enemy, the enemy's strategies, our countermeasures, especially focusing on uniting the strength of the entire people, one can clearly see his clear and far-reaching vision. of a talented general.
Not only was he loyal and patriotic, talented in strategy, Tran Quoc Tuan was also a man of great virtue. Even though he was treated very highly by the king, he was always humble and respectfully kept his dignity as a servant. He advocated tolerance of the people, because he understood that the people are the root of the country. He was devoted to the generals under his command, wrote books to teach and encourage, and he skillfully recommended talented people to the country, such as Gia Tuong and Yet Kieu, who were his servants and had the merit of suppressing Ma Nhi's crime. Toa Do. Pham Ngu Lao, Tran Thi Kien, Truong Han Sieu, Pham Lam, Trinh Du, Ngo Si Thuong, and Nguyen The Truc were his guests and were all famous in literature and politics at that time. He carefully planned out his future affairs. Following popular belief, after his death, he also miraculously helped people fight accidents and epidemics. Up to now, every time there is an enemy in the country, when we come to worship at his temple, if the casket containing the sword makes a sound, we will win big.
The short stories of the author Dai Viet Su Ky Toan Thu portray a beautiful portrait of a person's personality. The attitude of praising and respecting Ngo Si Lien's merit and intelligence towards Tran Quoc Tuan is also the attitude of all future generations. The nation and people of Vietnam cannot help but be proud because there are children who have brought glory to their ancestors and the country like Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan. See more: Social discussion proverb Near ink is black, near The light is on.Vanmau.edu.vn
|
Phân tích Hồi trống cổ Thành (trích hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa) để làm rõ ý nghĩa của hồi trống
Gợi ý
Tam quốc diễn nghĩa là một trong những câu chuyện kinh điển về tình nghĩa anh em, quân thần thời phong kiến Trung Hoa và Hồi trống Cổ Thành là một trong những trường đoạn khiến người đọc phải lặng mình suy ngẫm về tình nghĩa giữa Quan Vũ và Trương Phi.
Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi là ba anh em kết nghĩa nhưng tình sâu hơn bể. Sự khác nhau về tính cách không khiến ba con người này trở nên mâu thuẫn bởi cả ba cùng chung một lí tưởng, một tâm nguyện. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan, ba anh em phải tạm li tán. Và chính sự li tán đó dẫn đến sự nghi ngờ trong lòng Trương Phi ở đoạn trích Hồi trống Cổ Thành này.
Rời Tào doanh, đến cổ Thành, biết tin Trương Phi đang trấn giữ ở đây, Quan Công mừng rỡ vô cùng. Trong khi đó Trương Phi chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa bắc. Những tưởng Trương Phi sẽ thi lễ, đón hai chị và anh vào thành, vậy mà lại múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công. Thái độ của Trương Phi hoàn toàn đối lập với thái độ của Quan Công và gần như trái ngược với đạo lí làm em. Lẽ nào Trương Phi đã quên nghĩa vườn đào, quên mình là em mà hành xử với Quan Công như vậy. Nhưng Trương Phi có lí do để hành động như vậy. Nhân vật của La Quán Trung đứng trên hai lập trường (tình nghĩa anh em và nghĩa vua – tôi) để định tội Quan Công. Nhà văn tiếp tục dẫn mâu thuẫn đi xa hơn bằng cách để Trương Phi xưng mày – tao với Quan Công, luận giải tội trạng của Quan Công “bỏ anh, hàng Tào Tháo (…) lừa tao” và kết tội Quan Công bội nghĩa. Quan Công thanh minh, hai phu nhân cũng nói đỡ hộ nhưng Trương Phi vẫn không tin lời anh.Xem thêm: Sắc đẹp làm vui mắt, sự dịu hiền thu hút lòng người
Mâu thuẫn truyện được đẩy lên một bậc khi đám quân của Sái Dương mang cờ Tào đuổi kịp Quan Công. Trương Phi càng có cớ để nghi ngờ lòng dạ Quan Công. Đám quân mã do Sái Dương dẫn đầu khiển Trương Phi nghĩ rằng Vân Trường đưa đến để bắt mình về qui hàng Tào Tháo. Tình thế éo le buộc Vân Trường phải hành động để chứng thực lòng mình với em: “Hiền đệ hãy khoan, xem ta chém tên tướng ấy, để tỏ lòng thực của ta!”. Đến đây, La Quán Trung quyết định thắt nút truyện, đẩy mâu thuẫn lên đến đỉnh địểm bằng tình tiết hồi trống Cổ Thành.
Trước đề nghị của Quan Vân Trường, Trương Phi đã ra điều kiện một điều kiện khắc nghiệt: “Nếu mày quả có lòng thực, ta đánh ba hồi trống, mày phải chém được tên tướng ấy”. Ba hồi trống định mức thời gian để minh chứng cho một tấm lòng, ba hồi trống để giải oan, ba hồi trống để nhận diện nhân cách một con người cũng là ba hồi trông đầy thách thức. Nó quả là quá ngắn ngủỉ đổì với một mạng người. Nó sẽ là một minh chứng nếu quả thật Quan Công do dự, dao động và không có tài nghệ, khí phách. Nhưng nó cũng là cơ hội để Quan Công minh oan, để hai anh em có thể đoàn tụ với nhau, để lời thề vườn đào năm xưa được giữ trọn. Nếu không có ba hồi trống, mối nghi ngờ trong lòng Trương Phi chỉ có thể giải toả bằng bát xà mâu. Và lúc đó, khó có thể hình dung giữa Trương Phi và Quan Công hai anh em ngang tài ngang sức, ai sẽ là ngứời chiến thắng, ai là người phải hi sinh. Tình thế đó buộc Quan Vân Trường phải hành động gấp rút. Chưa dứt một hồi trống, đầu Sái Dương đã rơi xuống đất. Mâu thuẫn được hoá giải, nút thắt đầy kịch tính được tháo bỏ. Chi tiết Trương Phi nghe hết chuyện, rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường thể hiện tình cảm chân thành của người em cương trực, thẳng thắn, nghĩa dũng đối với người anh của mình.Xem thêm: Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trích trong Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Đến cuối đoạn trích, hồi trống mới xuất hiện nhưng nó đã thực thi nhiệm vụ quan trọng: hoá giải mối nghi ngờ giữa hai anh em Quan Vũ – Trương Phi. Trở lại với diễn biến câu chuyện phía trước, có thể thấy đó là hồi trống ra quân và cũng là hồi trống thu quân, hồi trống thách thức, minh oan và đoàn tụ. Cuộc hội ngộ của hai anh em không có rượu, chỉ có hồi trống trận. Nó cũng chính là một thành công trong nghệ thuật kể chuyện đặc sắc của nhà văn La Quán Trung.
Vanmau.edu.vn
|
Analyze Co Thanh drum rolls (excerpt from chapter 28 - Romance of the Three Kingdoms) to clarify the meaning of the drum rolls
Suggest
The Romance of the Three Kingdoms is one of the classic stories about the love between brothers, soldiers and gods in feudal China, and The Drum of the Ancient City is one of the scenes that makes the reader silently contemplate the love between Guan Yu and Guan Yu. and Truong Phi.
Liu Bei, Guan Yu, and Truong Phi are three sworn brothers but their love is deeper than the ocean. The difference in personality does not make these three people conflict because all three share the same ideal and wish. However, due to objective conditions, the three brothers had to temporarily separate. And it is that separation that leads to doubt in Truong Phi's heart in this excerpt from Co Thanh Drum.
Leaving the Cao camp, arriving at the ancient citadel, knowing that Truong Phi was guarding here, Quan Cong was extremely happy. Meanwhile, Truong Phi said nothing, immediately put on his armor, put his spear on his horse, led a thousand troops, and took a shortcut to the north gate. I thought Truong Phi would perform a ceremony and welcome the two sisters and brother into the city, but instead he wielded a snake spear and ran back to stab Quan Cong. Truong Phi's attitude is completely opposite to Quan Cong's attitude and is almost contrary to the morality of being a younger brother. Could it be that Truong Phi forgot the meaning of the peach garden, forgot that he was his younger brother, and acted like that towards Quan Cong? But Truong Phi has a reason to act like that. La Quan Trung's character stands on two positions (brotherly love and king-subject love) to condemn Quan Cong. The writer continues to take the conflict further by having Truong Phi confess to Guan Gong as you and me, explaining Guan Gong's crime of "abandoning my brother, betraying Cao Cao (...) to trick me" and accusing Guan Gong of treason. . Quan Cong clarified, the two ladies also said to help, but Truong Phi still did not believe his words. See more: Beauty pleases the eye, gentleness attracts people's hearts
The story's conflict is pushed up a notch when Sai Duong's army carrying the Cao flag catches up with Quan Cong. Truong Phi had even more reason to doubt Quan Cong's heart. The army and horse led by Sai Duong controlled Truong Phi thinking that Van Truong had brought him to force him to surrender to Cao Cao. The dire situation forced Van Truong to take action to prove his true feelings to his younger brother: "Hold on, my brother, watch me kill that general, to show my true feelings!". At this point, La Quan Trung decided to tie the knot in the story, pushing the conflict to its climax with the episode of the Co Thanh drums.
At Quan Van Truong's suggestion, Truong Phi imposed a harsh condition: "If you are truly sincere, I will beat the drum three times and you must be able to cut down that general." Three drum beats determine the time to prove a heart, three drum beats to exonerate, three drum beats to identify a person's personality are also three sounds full of challenges. It is indeed too short for a human life. It would be a proof if Guan Gong was indeed hesitant, wavering and had no talent or courage. But it is also an opportunity for Quan Cong to clear his name, so that the two brothers can reunite, so that the old peach garden vow can be kept. Without the three drum beats, the doubts in Truong Phi's heart could only be cleared with the bowl of snake spear. And at that time, it was difficult to imagine that between Truong Phi and Quan Cong, the two brothers were equally talented, who would be the winner, and who would have to sacrifice. That situation forced Quan Van Truong to act urgently. Before the drum beat had finished, Sai Duong's head fell to the ground. Conflicts are resolved, dramatic knots are removed. Details Truong Phi heard the whole story, shed tears, bowed to Van Truong, showing the sincere feelings of an upright, straightforward, courageous younger brother towards his older brother. See more: My feelings after Read the article Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan quoted in the Complete Annals of Dai Viet by Ngo Si Lien. At the end of the excerpt, the drum beat appears, but it has performed an important task: resolving the suspicion between the two brothers Quan Vu - Truong Phi. Returning to the story's progress, it can be seen that it is the drum of the army's departure and also the drum of the army's retreat, the drum of challenge, vindication and reunion. The reunion of the two brothers had no alcohol, only the beating of war drums. It is also a success in the unique storytelling art of writer La Quan Trung.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích khổ 1 của bài thơ Tây Tiến
Hướng dẫn
Chúng tôi đi chẳng tiếc đời mình
Tuổi hai mươi làm sao không khỏi tiếc
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi
Thì còn chi Tổ quốc
-Thanh thảo
Đó là ý chí quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của những chàng trai thời chiến. Nhà thơ Quang Dũng với Tây Tiến- một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp- đã trở thành một nhà thơ trẻ, đầy tài năng của những năm tháng không thể nào quên ấy. Năm 1948, Quang Dũng từ biệt đoàn quân Tây Tiến thân yêu, tại làng Phù Lưu Chanh, tác giả đã viết bài thơ này trong nỗi nhớ cồn cào về đơn vị cũ, về đoạn đời chiến đấu đã qua, về những vùng đất mình đã từng đặt chân đến, về những đồng đội sống chết có nhau và về những kỷ niệm mà ông nhà thơ không thể nào quên.
Nhớ Tây Tiến là nhớ về rừng về núi. Đây là một nỗi nhớ chơi vơi, dậy sóng ngay từ câu mở đầu, làm cho câu thơ ăm ắp cả nỗi nhớ:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.
Ta bắt gặp ở câu thơ này một cảm giác trống vắng, nuối tiếc, lửng lơ không định hình, định vị. Đó là cảm giác của một người đang nhớ về quá khứ đã qua, đã tuột khỏi tay mình, để rồi bật lên trong dòng hoài niệm hai từ “xa rồi” đầy lưu luyến. Trong dòng hoài niệm ấy đã xuất hiện một cái tên lịch sử: Tây Tiến, và gắn liền với nó là dòng sông Mã hùng vĩ. Giờ đây sông Mã đã xa rồi, đoàn quân Tây Tiến giờ đây cũng đã không còn, nỗi nhớ về dòng sông ấy được tác giả gọi là “nhớ chơi vơi”. Sau hai tiếng chơi vơi ấy, những ấn tượng sâu đậm về núi rừng miền Tây Bắc đã hiện ra, nó thật dữ dội và khắc nghiệt làm sao: Núi cao, dốc thẳm, thác gầm, cọp trêu và những cơn mưa mịt mù trời đất.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”
Để chứng minh cho ý kiến thi trung hữu họa, đoạn thơ trên của Quang Dũng là một điển hình. Chỉ với mấy câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hùng vĩ, diễn tả núi rừng Tây Bắc hoang vu và heo hút, hiểm trở và dữ dội. Với hàng loạt các địa danh xa lạ, dàn trải trên suốt chặng đường hành quân của người lính như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… thông qua phép liệt kê, đã gợi lên những vùng đất rất xa xôi, đầy bí hiểm mà đoàn quân Tây Tiến phải chinh phục.
Ở đoạn thơ này, sự hiểm trở của núi rừng TB không chỉ được thể hiện ở từ ngữ mà còn ở âm điệu của câu thơ. Âm điệu dựng thành những con dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm, cao, xuống… cứ hun hút đến ghê người:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”
Hàng loạt từ ngữ giàu tính tạo hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã diễn tả sự trùng điệp, hiểm trở trên đường hành quân. Và với nhịp thơ 2/2/3 cùng năm thanh trắc trong một câu thơ bảy chữ gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh một con đường đi đầy khó khăn hơn nữa với dốc tiếp dốc, chông gai nối tiếp chông gai.
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, câu thơ với dấu phẩy ở giữa như bẻ đôi câu thơ, diễn tả nó vun vút lên và đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên- cao chót vót, nhìn xuống- sâu thăm thẳm. Đoạn thơ của QD sử dụng hàng loạt những thanh trắc liên tiếp nhau, đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn. Sau hàng loạt hững câu thơ gân guốc, khỏe khoắn ấy, tác giả đã hạ một câu thơ lơ lửng những vần bằng:Xem thêm: Kể những đổi mới ở xóm làng em
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Câu thơ như tiếng thở phào nhẹ nhỏm của người lính sau khi vượt qua bao đèo cao, suối sâu, tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa, qua một khoảng không gian mịt mù sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi, trong một đêm hơi mơ hồ, huyền ảo, gợi một niềm đầm ấm, than mật trong lòng người.
Miền Tây ngày ấy là nơi ngự trị của những vẻ âm u, hoang dã, là những thử thách ghê gớm đặt ra cho con người. Nó không chỉ được mở theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, những đe dọa khủng khiếp luôn luôn rình rập con người:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm mường hịch cọp trêu người”
Nói cái khắc nghiệt của núi rừng là cũng để làm nhớ về sự hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến. Tây Tiến là cuộc hành quân vô cùng gian khổ, gian khổ với biết bao nguy nan, gian khổ với sự đe dọa của thiên nhiên mà người lính phải trân mình ra chịu đựng. Phải chăng những chặng đường hành quân khắc nghiệt đó đã làm chùn lại bước chân quả cảm của chàng thanh niên Hà Nội ngày nào, để Quang Dũng phải tiếc nuối mà nói rằng:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Hai câu thơ của QD dẫu có buồn vì nói đến sự hy sinh mất mát nhưng vẫn không bi đát ở thái độ của người hy sinh. Người chiến sĩ đã vượt lên mình dẫu không chế ngự được khó khăn, nhưng họ cũng không chịu khuất phục. họ bỏ cả tuổi xuân quý giá của mình, nhưng là vì tổ quốc nên nhẹ nhàng như bỏ quên một thứ rất đỗi bình thường. Thái độ sống ấy của người lính Tây Tiến cứ sáng lên rạng rỡ, rạng rỡ trong không gian, rạng rỡ trong thời gian và rạng rỡ trong lòng người, rạng rỡ để mà bất diệt. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng kỷ niệm ấm áp của một TT khác:Xem thêm: Từ bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến, anh (chị) hãy viết một bài văn bàn về danh và thực trong cuộc sống hiện nay
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Sau khi vượt qua bao rừng sâu, núi cao hun hút, người lính đã đến được bản làng có những khói bếp, vườn tược với cô gái Mai Châu trao tặng nắm xôi còn thơm mùi nếp mới.
Trong đoạn thơ, có một hình ảnh rất sáng tạo, rất tạo bạo và tinh nghịch của những người chiến sĩ. Người lính trèo lên những ngon núi cao như đang đi trên mây, mũi súng chạm đến đỉnh trời. Quang Dũng đã khắc họa rất thành công tượng đài sừng sững về người chiến sĩ đứng hiên ngang giữa bầu trời quê hương. Hình ảnh “súng ngửi trời” là một thi ảnh rất đẹp, táo bạo, hóm hỉnh, tinh nghịch, mang đậm chất lính, khiến người lính Tây Tiến trước thiên nhiên khắc nghiệt không bị chìm đi mà lại nổi lên đầy thách thức.
Đoạn thơ mở đầu với 14 câu thơ nhưng đã khắc họa được cảnh sắc thiên nhiên vùng Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ nhưng cũng thơ mộng, trữ tình, tuy nhiên, thiên nhiên chỉ là cái nền để những người lính khắc họa lên trên đó. Đó là nỗi nhớ, là tình cảm sâu nặng của Quang Dũng gắn bó với Tây Bắc một thời hoa lửa. Tất cả đóng đinh thành một ấn tượng khá độc đáo trong lòng người đọc về cảnh núi rừng Tây Bắc và hình ảnh của người chiến sĩ quyết hiến mình cho tổ quốc, cho non sông.
Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính sử thi đặc biệt của bài thơ. Từ bức chân dung người lính Tây Tiến hào hoa và dũng cảm trên cái nền hùng vĩ và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc, Quang Dũng hướng hồn thơ ngưỡng vọng vào cả một thế hệ anh hùng.
|
Phân tích khổ 1 của bài thơ Tây Tiến
Hướng dẫn
Chúng tôi đi chẳng tiếc đời mình
Tuổi hai mươi làm sao không khỏi tiếc
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi
Thì còn chi Tổ quốc
-Thanh thảo
Đó là ý chí quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của những chàng trai thời chiến. Nhà thơ Quang Dũng với Tây Tiến- một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp- đã trở thành một nhà thơ trẻ, đầy tài năng của những năm tháng không thể nào quên ấy. Năm 1948, Quang Dũng từ biệt đoàn quân Tây Tiến thân yêu, tại làng Phù Lưu Chanh, tác giả đã viết bài thơ này trong nỗi nhớ cồn cào về đơn vị cũ, về đoạn đời chiến đấu đã qua, về những vùng đất mình đã từng đặt chân đến, về những đồng đội sống chết có nhau và về những kỷ niệm mà ông nhà thơ không thể nào quên.
Nhớ Tây Tiến là nhớ về rừng về núi. Đây là một nỗi nhớ chơi vơi, dậy sóng ngay từ câu mở đầu, làm cho câu thơ ăm ắp cả nỗi nhớ:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.
Ta bắt gặp ở câu thơ này một cảm giác trống vắng, nuối tiếc, lửng lơ không định hình, định vị. Đó là cảm giác của một người đang nhớ về quá khứ đã qua, đã tuột khỏi tay mình, để rồi bật lên trong dòng hoài niệm hai từ “xa rồi” đầy lưu luyến. Trong dòng hoài niệm ấy đã xuất hiện một cái tên lịch sử: Tây Tiến, và gắn liền với nó là dòng sông Mã hùng vĩ. Giờ đây sông Mã đã xa rồi, đoàn quân Tây Tiến giờ đây cũng đã không còn, nỗi nhớ về dòng sông ấy được tác giả gọi là “nhớ chơi vơi”. Sau hai tiếng chơi vơi ấy, những ấn tượng sâu đậm về núi rừng miền Tây Bắc đã hiện ra, nó thật dữ dội và khắc nghiệt làm sao: Núi cao, dốc thẳm, thác gầm, cọp trêu và những cơn mưa mịt mù trời đất.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”
Để chứng minh cho ý kiến thi trung hữu họa, đoạn thơ trên của Quang Dũng là một điển hình. Chỉ với mấy câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hùng vĩ, diễn tả núi rừng Tây Bắc hoang vu và heo hút, hiểm trở và dữ dội. Với hàng loạt các địa danh xa lạ, dàn trải trên suốt chặng đường hành quân của người lính như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… thông qua phép liệt kê, đã gợi lên những vùng đất rất xa xôi, đầy bí hiểm mà đoàn quân Tây Tiến phải chinh phục.
Ở đoạn thơ này, sự hiểm trở của núi rừng TB không chỉ được thể hiện ở từ ngữ mà còn ở âm điệu của câu thơ. Âm điệu dựng thành những con dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm, cao, xuống… cứ hun hút đến ghê người:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”
Hàng loạt từ ngữ giàu tính tạo hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” đã diễn tả sự trùng điệp, hiểm trở trên đường hành quân. Và với nhịp thơ 2/2/3 cùng năm thanh trắc trong một câu thơ bảy chữ gợi lên trước mắt người đọc hình ảnh một con đường đi đầy khó khăn hơn nữa với dốc tiếp dốc, chông gai nối tiếp chông gai.
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, câu thơ với dấu phẩy ở giữa như bẻ đôi câu thơ, diễn tả nó vun vút lên và đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên- cao chót vót, nhìn xuống- sâu thăm thẳm. Đoạn thơ của QD sử dụng hàng loạt những thanh trắc liên tiếp nhau, đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn. Sau hàng loạt hững câu thơ gân guốc, khỏe khoắn ấy, tác giả đã hạ một câu thơ lơ lửng những vần bằng:Xem thêm: Kể những đổi mới ở xóm làng em
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Câu thơ như tiếng thở phào nhẹ nhỏm của người lính sau khi vượt qua bao đèo cao, suối sâu, tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa, qua một khoảng không gian mịt mù sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi, trong một đêm hơi mơ hồ, huyền ảo, gợi một niềm đầm ấm, than mật trong lòng người.
Miền Tây ngày ấy là nơi ngự trị của những vẻ âm u, hoang dã, là những thử thách ghê gớm đặt ra cho con người. Nó không chỉ được mở theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, những đe dọa khủng khiếp luôn luôn rình rập con người:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm mường hịch cọp trêu người”
Nói cái khắc nghiệt của núi rừng là cũng để làm nhớ về sự hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến. Tây Tiến là cuộc hành quân vô cùng gian khổ, gian khổ với biết bao nguy nan, gian khổ với sự đe dọa của thiên nhiên mà người lính phải trân mình ra chịu đựng. Phải chăng những chặng đường hành quân khắc nghiệt đó đã làm chùn lại bước chân quả cảm của chàng thanh niên Hà Nội ngày nào, để Quang Dũng phải tiếc nuối mà nói rằng:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Hai câu thơ của QD dẫu có buồn vì nói đến sự hy sinh mất mát nhưng vẫn không bi đát ở thái độ của người hy sinh. Người chiến sĩ đã vượt lên mình dẫu không chế ngự được khó khăn, nhưng họ cũng không chịu khuất phục. họ bỏ cả tuổi xuân quý giá của mình, nhưng là vì tổ quốc nên nhẹ nhàng như bỏ quên một thứ rất đỗi bình thường. Thái độ sống ấy của người lính Tây Tiến cứ sáng lên rạng rỡ, rạng rỡ trong không gian, rạng rỡ trong thời gian và rạng rỡ trong lòng người, rạng rỡ để mà bất diệt. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng kỷ niệm ấm áp của một TT khác:Xem thêm: Từ bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến, anh (chị) hãy viết một bài văn bàn về danh và thực trong cuộc sống hiện nay
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Sau khi vượt qua bao rừng sâu, núi cao hun hút, người lính đã đến được bản làng có những khói bếp, vườn tược với cô gái Mai Châu trao tặng nắm xôi còn thơm mùi nếp mới.
Trong đoạn thơ, có một hình ảnh rất sáng tạo, rất tạo bạo và tinh nghịch của những người chiến sĩ. Người lính trèo lên những ngon núi cao như đang đi trên mây, mũi súng chạm đến đỉnh trời. Quang Dũng đã khắc họa rất thành công tượng đài sừng sững về người chiến sĩ đứng hiên ngang giữa bầu trời quê hương. Hình ảnh “súng ngửi trời” là một thi ảnh rất đẹp, táo bạo, hóm hỉnh, tinh nghịch, mang đậm chất lính, khiến người lính Tây Tiến trước thiên nhiên khắc nghiệt không bị chìm đi mà lại nổi lên đầy thách thức.
Đoạn thơ mở đầu với 14 câu thơ nhưng đã khắc họa được cảnh sắc thiên nhiên vùng Tây Bắc hoang sơ hùng vĩ nhưng cũng thơ mộng, trữ tình, tuy nhiên, thiên nhiên chỉ là cái nền để những người lính khắc họa lên trên đó. Đó là nỗi nhớ, là tình cảm sâu nặng của Quang Dũng gắn bó với Tây Bắc một thời hoa lửa. Tất cả đóng đinh thành một ấn tượng khá độc đáo trong lòng người đọc về cảnh núi rừng Tây Bắc và hình ảnh của người chiến sĩ quyết hiến mình cho tổ quốc, cho non sông.
Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính sử thi đặc biệt của bài thơ. Từ bức chân dung người lính Tây Tiến hào hoa và dũng cảm trên cái nền hùng vĩ và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc, Quang Dũng hướng hồn thơ ngưỡng vọng vào cả một thế hệ anh hùng.
|
Đề bài: Phân tích khổ ba trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Bài làm
Tây Tiến là một bài thơ đặc sắc về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Mỹ. Nhà thơ Quang Dũng đã cho người đọc thấy được những sắc thái khác nhau của họ, những người lính vừa mang vẻ đẹp hào hùng nhưng lại vừa bi tráng. Đặc biệt chính là qua khổ ba trong bài:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Không giống với nhiều nhà thơ khác cùng thời khi giấu đi những hi sinh, mất mát, nhà thơ Quang Dũng đã có sự nhìn nhận thực tế và thẳng vào những hi sinh mất mát. Nhà thơ không những không tránh né mà còn trực tiếp đối diện với nó. Nhà thơ Quang Dũng khi nhắc tới những khó khăn, những khắc nghiệt mà người lính đã phải đối mặt bằng tâm thế thoải mái, tự tin giống như đã quá quen với nó vậy. Hình ảnh người lính đầy bi tráng nhưng cũng giống như một lời khẳng định:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”
Phân tích khổ ba trong bài thơ Tây Tiến
Nhà thơ sử dụng từ “đoàn binh khiến cho câu văn trở nên trang trọng hơn, hào hùng hơn. “Không mọc tóc” đó là không mọc được hay không thèm mọc, nó như một câu hỏi xoay vần trong đầu người đọc. Như chúng ta đã biết thì những người lính họ sống và chiến đấu tại những nơi rừng thiêng, nước độc. Họ phải chịu rất nhiều khó khăn, thử thách. Những cơn sốt rét rừng là căn bệnh dường như đã quá quen thuộc với những người lính. Họ thản nhiên đối mặt và trải qua nó, nó khiến tóc của các anh bị rụng không thể mọc lại được. Thêm vào đó do thiếu thốn thuốc men và lương thực nên họ trở nên xanh xao, gầy guộc. Nhà thơ Quang Dũng vừa là người từng trải vừa là người chứng kiến và phác họa lại bằng giọng văn hết sức hài hước và vui vẻ. Gọi tên là “đoàn binh không mọc tóc” thể hiện sự oai hùng, và cái không mọc tóc là đặc trưng riêng biệt mang dấu ấn riêng của đoàn quân Tây Tiến. Làn da xanh xao nhưng lại tạo thành dáng vẻ uy nghiêm như một vị chúa tể rừng xanh khiến quân thù sợ hãi và màu xanh ấy giống như một loại ngụy trang trước sự truy lùng của quân giặc:Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng nữ sinh ăn mặc sexy – Văn lớp 12
“Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Nhắc đến căn bệnh sốt rét này thì không chỉ riêng Quang Dũng mà còn rất nhiều nhà thơ khác. Trong bài thơ Đồng Chí nhà thơ Chính Hữu có viết:
“Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
Đó chính là hình ảnh anh lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Những khó khăn gian khổ mà họ phải chịu đựng không chỉ là thiếu thốn về vật chất, thuốc men mà còn phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt. Nhưng người lính của đoàn binh Tây Tiến lại có thể thản nhiên đối mặt và kể về nó một cách hài hước, tếu táo. Chính vì vậy khiến ta thấy rõ được màu sắc riêng, dấu ấn riêng của họ. Hay nhà thơ Tố Hữu khi phác họa chân dung anh vệ quốc quân trong bài thơ Cá Nước cũng gợi mở đến hình ảnh rất cụ thể và đặc sắc:
“Giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ”
Có thể nói nhà thơ Quang Dũng không che giấu những mất mát, những khó khăn mà người lính Tây Tiến phải đối mặt. Qua đó ta thấy được nét đẹp bi tráng, gân guốc của những người lính từ cái nhìn nhiều chiều của tác giả. Ngoài những giờ phút căng thẳng của trận chiến thì cũng có lúc người lính trở về nét đẹp lãng mạn của tuổi trẻ, mang vẻ đẹp tâm hồn. Những người lính gửi gắm những giấc mộng của mình bằng ánh mắt:Xem thêm: Viết một đoạn văn nói về cây mít
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Khi bài thơ mới xuất hiện trên văn đàn thì nhiều người cho rằng Tây Tiến mang nét bi lụy và được xem là mộng rớt. Tuy nhiên sau này bài thơ đã được nhìn nhận và xem là một áng thơ hay, chân thực vì không chỉ lột tả được dáng vẻ bên ngoài mà còn cả thế giới nội tâm, tâm hồn của những người lính. Những anh lính Tây Tiến họ rời xa quê hương khi họ tuổi đời còn rất trẻ, không chỉ quê hương mà còn là rời xa mái trường, xa những gì thân thương, gần gũi và có khi cả những giấc mộng yêu thương của một trái tim rạo rực, khát khao yêu đương. Gửi mộng qua biên giới là giấc mộng giải phóng đất nước, giấc mộng hòa bình. Ánh mắt “trừng” lên ấy như một lời cảnh cáo, thách thức với quân thù, một sự chiến đấu ngầm ngay cả những lúc các anh nghỉ ngơi. Còn giấc mộng gửi về Hà Nội bởi họ là những chàng trai Hà thành, họ gửi gắm tình yêu về nơi họ sinh ra và lớn lên, gửi về những “dáng kiều thơm”, những người con gái mà khi ra đi họ chưa kịp ngỏ lời. Đó chính là dáng vẻ hào hoa, một tâm hồn đầy mộng mơ. Chính những tâm tư kín đáo đó, những hình ảnh đẹp đẽ tại quê nhà, những thứ tình cảm vừa chớm nở nhưng đã bị gác lại là những động lực cho người lính chắc tay súng, cho họ có động lực để chiến đấu, để sớm ngày đất nước được yên bình và họ được trở về quê hương, về với gia đình.Xem thêm: Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết)
Ngay sau những trải trải lòng mà được xem là “mộng rớt” thì nhà thơ đã cho thấy luôn hiện thực tàn khốc của chiến tranh:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Sự hi sinh của những người lính Tây Tiến thấm đẫm tinh thần bi tráng. Những chiếc mộ nằm rải rác nơi biên cương, viễn xứ. Họ ra đi không ngại khó khăn gian khổ, lại chẳng ngại ra đi sẽ không thể trở về. Sự hi sinh của họ thấm đẫm tinh thần bi tráng, họ ngã xuống nhưng dù cho đến manh chiếu còn không có nhưng nhà thơ sử dụng từ “áo bào” khiến cho sự hi sinh trở nên hào hùng uy nghi giống như một vị tướng trên chiến trường. Có thể họ không có hình thức trang trọng để tiễn đưa nhưng trước sự ngã xuống của họ thì sông Mã, một hình tượng thiên nhiên kỳ vĩ đã “gầm” lên để đưa họ về cõi vĩnh hằng, để đưa họ trở về đất mẹ. Hi sinh không phải mất đi mà họ nghỉ ngơi sau những ngày chiến đấu, khi họ buông xuống được trách nhiệm đè nặng trên vai. Các anh đã vất vả nay là lúc nghỉ ngơi và để thế hệ sau tiếp bước. Ngã xuống không phải là kết thúc mà là bắt đầu một khởi đầu mới.
Khổ ba bài thơ Tây Tiến đã đem đến cho độc giả một cái nhìn toàn cảnh, đa chiều về người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Qua đó ta cảm thấy xúc động, tự hào về một thời oanh liệt của dân tộc, của đất nước.
Loan Trương
|
Topic: Analysis of stanza three in the poem Tay Tien by Quang Dung
Assignment
Tay Tien is a unique poem about the image of soldiers in the resistance war against America. Poet Quang Dung has shown readers their different nuances, the soldiers have both heroic beauty and tragedy. Especially through stanza three of the article:
“The army of Tay Tien does not grow hair
The green army has a fierce green color
Glaring eyes send dreams across the border
At night, Hanoi dreams of a beautiful and fragrant figure
Scattered across the border, graves are far away
Going to the battlefield does not regret the green life
His robe replaced his mat and brought him back to earth
Ma River roars its solo song.
Unlike many other poets of his time who hid sacrifices and losses, poet Quang Dung had a realistic and straightforward look at the sacrifices and losses. The poet not only does not avoid it but also directly confronts it. Poet Quang Dung mentioned the difficulties and hardships that soldiers had to face with a relaxed and confident attitude, as if they were too familiar with them. The image of a soldier is tragic but also like an affirmation:
"The army of the Western advance does not grow hair"
Analysis of stanza three in the poem Tay Tien
The poet uses the word "army" to make the sentence more solemn and heroic. “Not growing hair” means not being able to grow or not wanting to grow, it is like a question swirling in the reader's head. As we know, their soldiers live and fight in sacred forests and poisonous waters. They have to endure many difficulties and challenges. Jungle fever is a disease that seems to be familiar to soldiers. They calmly face and go through it, it causes their hair to fall out and cannot grow back. In addition, due to lack of medicine and food, they become pale and thin. Poet Quang Dung is both an experienced person and a witness and describes it in a very humorous and cheerful tone. Calling it "the army without hair" shows majesty, and the lack of hair is a unique characteristic that bears the mark of the Tay Tien army. The skin is pale but creates a majestic appearance like a lord of the jungle, making the enemy afraid and that green color is like a kind of camouflage before the enemy's pursuit: See more: Social commentary on The phenomenon of female students wearing sexy clothes - Grade 12 literature
“The green and leafy army is majestic”
Mentioning this disease of malaria is not only Quang Dung but also many other poets. In the poem Dong Comrade, poet Chinh Huu wrote:
“You and I know every chill
Fever, trembling, sweaty forehead"
That is the image of a soldier in the resistance war against the French. The hardships they have to endure are not only lack of material and medicine but also having to face harsh weather. But the soldiers of the Tay Tien army can calmly face it and talk about it in a humorous and humorous way. That's why we can clearly see their own colors and unique marks. Or poet To Huu, when sketching the portrait of the national guard in the poem Ca Nuoc, also evokes a very specific and unique image:
“Drops of sweat fell
On your cheeks is saffron yellow."
It can be said that poet Quang Dung did not hide the losses and difficulties that Tay Tien soldiers had to face. Through this, we can see the tragic, sinewy beauty of the soldiers from the author's multidimensional perspective. In addition to the stressful moments of battle, there are also times when soldiers return to the romantic beauty of youth, the beauty of their soul. Soldiers convey their dreams with their eyes: See more: Write a paragraph about the jackfruit tree
“Glass eyes send dreams across the border
"Night dreams of Hanoi, beautiful and fragrant"
When the poem first appeared on the literary scene, many people thought that Tay Tien had a tragic character and was considered a broken dream. However, later the poem was recognized and considered a good and truthful poem because it not only describes the external appearance but also the inner world and soul of the soldiers. The Tay Tien soldiers left their homeland when they were very young, not only from their homeland but also from school, from what was dear, close, and sometimes even the loving dreams of a different country. A burning heart, longing for love. Sending a dream across the border is a dream of liberating the country, a dream of peace. That "glaring" look was like a warning, a challenge to the enemy, a hidden fight even when they were resting. As for the dream of sending back to Hanoi, because they are Hanoi boys, they send their love to the place where they were born and raised, send back the "fragrant figures", the girls that when they left they did not have time. offered. That is a proud appearance, a soul full of dreams. It is those secret thoughts, the beautiful images at home, the feelings that have just blossomed but have been put aside that are the driving forces for soldiers to be sure of their guns, giving them the motivation to fight, to Soon the country will be at peace and they will be able to return to their homeland and their families. See more: Analysis of the character Trang in Kim Lan's Picked Wife (With detailed outline)
Right after the experiences that were considered "broken dreams", the poet showed the cruel reality of war:
“Scattered across the border, graves are far away
Going to the battlefield does not regret the green life
His robe replaced his mat and brought him back to earth
Ma River roars its solo song.
The sacrifices of the Tay Tien soldiers are imbued with a tragic spirit. Graves are scattered across borders and remote lands. They leave without fear of difficulties and hardships, and without fear that if they leave, they will not be able to return. Their sacrifice was imbued with a tragic spirit, they fell, but even though there was no edict, the poet used the word "robe" to make the sacrifice heroic and majestic like a general. on the battlefield. Maybe they did not have a formal way to send them off, but before their fall, the Ma River, a majestic natural image, "roared" to take them to eternity, to bring them back to their motherland. . Sacrifice is not lost, but they rest after days of fighting, when they let go of the heavy responsibility on their shoulders. You have worked hard, now it is time to rest and let the next generation continue. Falling is not the end but the beginning of a new beginning.
The third stanza of the poem Tay Tien gives readers a comprehensive, multi-dimensional view of the soldiers in the resistance war against America. Through that, we feel moved and proud of a glorious time for the nation and the country.
Loan Truong
|
Đề bài: Em hãy phân tích khổ thơ thứ 3 bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
Tác phẩm độc đáo “Bên kia sông Đuống” là một trong những tác phẩm đặc sắc của nhà thơ Hoàng Cầm. Ông viết bài thơ này khi nghe quên hương mình bị giặc đánh phá bằng những xúc cảm sâu sắc của một người con xa quê thương nhớ quê. Và khổ thơ thứ 3 là một khổ thơ đặc sác trong bài thơ.
Và cũng chính bằng cách trình bày khung cảnh thanh bình của một làng quê, của quê hương sông Đuống. Quê hương kinh Bắc này được xem như một mảnh đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời. Đó là quê hương gắn với những nét tài hoa về hội họa dân gian, và đó là những hội hè mùa xuân đông vui, những sinh hoạt chợ búa, các nghề thủ công nổi tiếng… Và có thể nói những nét đặc sắc này như quy tụ lại ở gánh hàng rong của mẹ già một đời tần tảo, hình ảnh những đứa em thơ… Dường như tất cả đều bị lũ giặc hung tàn tràn đến đốt phá tan tành, tác giả bộc lộ nỗi đau quặn thắt đến tốt cùng của trái tim gắn chặt với quê hương và qua đó nói lên tình yêu đất nước thiết tha, sâu đậm của tác giả.
Mở đầu bài thơ, tác giả Hoàng Cầm thật tinh tế khi đã khéo gợi nhắc tới nét đẹp của con sống Đuống đó chính là cái cát trắng phẳng lì, một dòng lấp lánh, xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc… dường như cũng đã gợi lên hình ảnh của cuộc sống thanh bình, no ấm. Nhưng giờ đây thì sao chư? Đó là tất cả đều tan tác dưới gót giày quân xâm lược. Và khi tác giả như đứng bên này sống, nhìn sang quê hương bên kia sống bị giặc chiếm, ta như thấy được những cảm xúc đau đớn của nhà thơ lên đến cực điểm như đa “Xót xa như rụng bàn tay”.Xem thêm: Nghị luận xã hội về thần tượng
Người đọc cũng như có thể thấy được hình ảnh quê hương thân yêu hiện lên rõ ràng trong nỗi nhớ thương đau đáu không nguôi một chút nào của người con đang sống xa quê:
“Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa trăm ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?”
Bắc Ninh được biết đến là vùng thuộc vùng Kinh Bắc xưa là một vùng đất mỡ màu, nó rất là trù phú và có một bề dày lịch sử, văn hóa vô cùng quý báu. Nhớ tới quê hương. Và dường như cũng chính nhà thơ như cảm thấy hương vị đậm đà, thanh khiết của lúa nếp thơm nồng như lan tỏa ra sau mùa gặt mới. Và vẫn còn đó những hương cốm ngọt ngào trong đêm trăng sáng Trung thu, mùi xôi nếp cái hoa vàng thơm lừng ngày giỗ, ngày Tết… dường như cũng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xa quê. Và ta như thấy được mảnh đất Kinh Bắc là đất của thơ ca, nhạc họa và những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm. Và đó là người anh hùng Thánh Gióng nhổ tre quật tan tác giặc Ân. Và chuyện Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh quân Nam Hán. Hay vãn còn đó là câu chuyện Lí Thường Kiệt đuổi quân Tống ở sông cầu. Chiến dịch Xương Giang của Lê Lợi – Nguyễn Trãi giết hàng vạn giặc Minh cũng diễn ra ở đấy. Đã có biết bao thần thoại, truyền thuyết, cổ tích đẹp đẽ cũng ra đời từ miền đất anh hùng ấy. Đặc biệt hơn nữa đó chính là hình ảnh những con người Kinh Bắc tài hoa đã sáng tạo ra một loại tranh dân gian nổi tiếng là tranh Đông Hồ, tranh với nội dung vui tươi, nét vẽ đậm đà, chân chất, màu sắc tươi tắn. Và có thể thấy những câu:Xem thêm: Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) trong đêm cởi trói cho A Phủ
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.
Tranh Đông Hồ khi mà được đến với mọi nhà, đem niềm vui và niềm tin vào năm mới làm ăn sẽ may mắn, phát đạt. Tranh mang vẻ đẹp dân dã mà thanh tao, ý nghĩa ấm áp bao nhiêu!
Vậy mà ai ngờ đâu nay bỗng dưng lũ giặc kia ầm ầm kéo tới, ngùn ngụt như đám cháy. Và đó là cảnh hung tàn chẳng khác chi chó ngộ một đàn, lưỡi dài lê sắc máu. Chúng tàn phá không chừa một nơi nào cả:
Ruộng ta khô.
Nhà ta cháy…
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang.
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu.
Và những câu thơ như thấy được nào chỉ có tang thương, đau đớn về vật chất?! Chúng nó đốt phá, cướp bóc, giết chóc… nhưng dường như đó mới chỉ là những vết thương trước mắt, nhìn thấy rõ. Còn điều sâu xa hơn nữa thì có ai ngờ? Đàn lợn âm dương hay đó còn chính là Đám cưới chuột (tên hai bức tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng) dường như cũng đã tượng trưng cho quan niệm về nguồn gốc sự sống của cha ông nay cũng bị giặc tàn phá, hủy diệt. Và hơn nữa là hỏi còn tội ác nào lớn hơn thế nữa chứ?Xem thêm: Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
Lời thơ, ý thơ hay và sâu sắc là vậy và âm điệu đoạn thơ cũng là một âm điệu xót xa kéo dài: Bây giờ tan tác về đâu? Và khi mà lũ giặc kéo tới cùng với đau thương, chết chóc, kinh hoàng. Bây giờ không biết mọi cái đã tan tác về đâu đây? Có lẽ rằng cả thời gian lẫn không gian đều trở nên mờ mịt, và nó cũng như thật xa xôi không biết đến nơi nào, và cũng như cho đến bao giờ, khiến nỗi xót xa không còn giới hạn. Âm điệu của hai chữ về đâu dường như làm cho ta nghe như một tiếng kêu xé lòng vút lên giữa thinh không, chẳng có lời đáp lại.
Đoạn thơ trên tuy thật ngắn với hai mảng đối lập nhau đó chính là quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương dường như cũng đã có tác dụng như một lời kết tội đanh thép quân xâm lược. Ta như thấy được câu thơ cuối chứa chất xót xa, như thật là đau đớn và căm hận. Cau thơ như muốn nói rằng quân cướp nước sẽ phải trả nợ máu cho những tội ác của chúng đã gây ra trên quê hương, đất nước này
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Topic: Analyze the third stanza of the poem Across the Duong River by Hoang Cam
The unique work "Across the Duong River" is one of the unique works of poet Hoang Cam. He wrote this poem when he heard that his hometown was being attacked by the enemy, with the deep emotions of a son far away from home who misses his homeland. And the third stanza is a special stanza in the poem.
And also by presenting the peaceful scene of a village, of Duong River's hometown. This Northern Kinh homeland is considered a land with a long historical and cultural tradition. It is the homeland associated with the talents of folk painting, and it is the crowded spring festivals, market activities, famous crafts... And it can be said that these unique features are as follows: Gathering together at the street vendor of an old mother who had spent a lifetime working hard, the images of her young siblings... It seemed that everything had been invaded by ferocious invaders, burned to pieces, and the author expressed her excruciating pain to the end. of a heart closely attached to the homeland and thereby expressing the author's passionate and deep love for his country.
At the beginning of the poem, author Hoang Cam is very subtle when cleverly mentioning the beauty of the Duong River, which is the flat white sand, a sparkling, green stream of sugarcane fields, mulberry banks, blue sweet potato corn... It also seems to evoke images of a peaceful, prosperous life. But what about now? That was all destroyed under the heels of the invaders. And when the author seems to be standing on one side of life, looking at the other side of his homeland being occupied by the enemy, we can see the poet's painful emotions reaching their peak like "Pity as if the hand is falling off". See more : Social commentary on idols
Readers can also see the image of their beloved homeland clearly appearing in the painful and unrelenting nostalgia of the son living far away from home:
“The other side of the Duong River
In our homeland, sticky rice is fragrant
Dong Ho painting of chicken and pig is fresh and clear
National colors shine brightly on message paper
Our homeland from that terrible day
The enemy rushed up with ferocious fire
Our fields are dry
Our house is on fire
Dogs meet a herd
Long, bloody tongue
Kiet along the deep alley of the wild shore
Mother and child herd yin and yang pigs
Separated in hundreds of ways
The mouse wedding is in full swing
Now where do we go?"
Bac Ninh is known as the ancient Kinh Bac region, a fertile land, it is very rich and has an extremely valuable history and culture. Remember your homeland. And it seems that the poet himself feels that the rich, pure flavor of fragrant sticky rice seems to spread after the new harvest. And there is still the sweet scent of green rice flakes on the bright moonlit night of Mid-Autumn Festival, the fragrant smell of sticky rice with yellow flowers on death anniversaries and New Year days... which also seem to have left a deep impression in the hearts of people far from home. And we can see that Kinh Bac is the land of poetry, music, paintings and heroic victories against foreign invaders. And that is the hero Thanh Giong who pulled up bamboo and destroyed the An enemy. And the story of the Trung sisters raising flags to fight the Southern Han army. Or still, there is the story of Ly Thuong Kiet chasing the Song army at Cau River. The Xuong Giang campaign of Le Loi - Nguyen Trai, which killed tens of thousands of Minh invaders, also took place there. There have been so many beautiful myths, legends, and fairy tales born from that heroic land. Even more special is the image of talented Kinh Bac people who created a famous folk painting called Dong Ho painting, a painting with joyful content, bold, sincere drawings, and bright colors. sharp. And we can see the sentences: See more: Analysis of the mood changes of Mi (A Phu and To Hoai couple) on the night of untying A Phu
Dong Ho painting of chicken and pig is fresh and clear
National colors shine brightly on message paper.
When Dong Ho paintings come to every home, they bring joy and faith that business will be lucky and prosperous in the new year. The painting has a rustic yet elegant beauty and a warm meaning!
But who would have thought that suddenly the enemy would suddenly come roaring in, burning like a fire. And that was a brutal scene like a pack of dogs, with long, bloody tongues. They devastated and left no place untouched:
Our fields are dry.
Our house is on fire...
Kiet along the deep alley of the wild shore.
Mother and child herd yin and yang pigs
Separated in two ways
The mouse wedding is in full swing
Where to go now?
And the verses that seem to show only sadness and physical pain?! They burned, robbed, killed... but it seemed like those were just immediate, clearly visible wounds. As for something deeper, who would have thought? The yin and yang pigs or the Mouse Wedding (names of two famous Dong Ho folk paintings) also seem to symbolize the concept of the origin of life of our ancestors, which has now been devastated and destroyed by the enemy. . And moreover, what crime is greater than that? See also: Commentary on the poem Expressing Your Heart by Pham Ngu Lao
The lyrics and ideas of the poem are so beautiful and profound and the tone of the poem is also a lingering tone of sadness: Where do we go now? And when the enemy came with pain, death, and horror. Now I wonder where everything has gone? Perhaps both time and space have become blurred, and it seems so far away that we don't know where, and how long it will last, making the grief no longer have a limit. The tone of the two words seems to make us hear a heart-wrenching cry rising in the air, with no response.
Although the above poem is very short, with two opposing segments, the beautiful past and the painful present, it also seems to have worked as a strong condemnation of the invaders. We can see that the last verse contains sadness, as if it were truly pain and hatred. The poem seems to say that the robbers will have to pay their blood debt for the crimes they committed in their homeland and this country.
Source: Good sample writing
|
Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài làm
Tố Hữu (1920-2002 ) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành. Quê quán ở Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế. Ông là một nhà thơ mang đậm chất dân tộc, những tác phẩm những bài thơ ông viết ra thường gắn liền với các sự kiện lịch sử và để lại nhiều ấn tượng với độc giả suốt thế kỷ qua. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là Việt Bắc. Bao trùm bài thơ Việt Bắc là nỗi nhớ nồng nàn, tha thiết, tác giả đã giành riêng khổ 6 của bài thơ để nói về nỗi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc, về người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình.
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Ở hai câu mở đầu, kết cấu của đoạn thơ vẫn là đối đáp của hai nhân vật trữ tình ta – mình. Mình – ta là thủ pháp độc đáo, tài hoa của nhà thơ. Giống như lời đưa đẩy trong đối đáp giao duyên của ca dao, dân ca, câu đầu là câu hỏi tu từ có tác dụng khơi gợi và liên kết các nỗi nhớ lại với nhau một cách khéo léo. Không đợi trả lời mà nói tác giả luôn nhớ hoa, nhớ cảnh, nhớ người Việt Bắc. “ Nhớ những hoa cùng người” – tác giả đã khéo léo kể về nét riêng biệt và độc đáo của vùng đất Việt Bắc.. Hoa của vùng đất thiên nhiên Việt Bắc và người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm. Ở 4 câu thơ tiếp theo, tác giả đã vẽ nên bằng ngôn ngữ thơ ca một bộ tranh tứ bình về thiên nhiên Việt Bắc, mỗi bức tranh đều hội tụ sự hài hòa và đẹp đẽ của thiên nhiên.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”
Dẫn dắt người đọc chìm vào bức tranh thiên nhiên Việt Bắc đẹp đẽ và nên thơ, Tố Hữu đã mở đầu bằng mùa đông của vùng đất nơi đây:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Nhắc đến mùa đông người ta thường nghĩ đến cảnh rét mướt, u ám, lòng người thì cô đơn. Nhưng đến với mùa đông trong thơ Tố Hữu thì không hề thế, thiên nhiên ở đây lại giàu sức sống và ấm áp. Với màu hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên sắc xanh của rừng núi. Nhà thơ đã khéo léo dùng sự tương phản giữa màu đỏ và màu xanh để làm bức tranh bừng sáng. Lấp lánh ánh nắng trên con dao người đi rừng giắt ngang lưng khiến con người trở thành trung tâm của bức tranh. Thiên nhiên không che lấp mà thực sự làm nền cho vẻ đẹp của con người lao động.
Hết đông rồi xuân tới, chúng ta đều phải ngỡ ngàng vì vẻ đẹp mùa xuân nơi đây:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Mùa xuân đến đem theo sức sống mới cho vạn vật. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. “trắng rừng” được viết theo phép đổi trật tự cú pháp và từ trắng được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc. Động từ “nở” nằm ở giữa câu làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống. Với không gian xinh đẹp ấy, thấp thoáng hình ảnh của con người. Tố Hữu nhớ về những người đan nón. Hành động chuốt từng sợi giang là biểu hiện của sự cần mẫn, khéo léo, tài hoa trong tâm hồn, tính cách người dân Việt Bắc. Song song với đó là sự bày tỏ nỗi lòng, tình cảm trìu mến của tác giả với người dân nơi đây.Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnu trong tác phẩm Rừng Xà Nu
Tiếp theo, Tố Hữu kể với mọi người về hình ảnh mùa hạ:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Bức tranh mùa hè rộn rã vì xôn xao tiếng nói của cả màu sắc lẫn âm thanh. Tiếng ve ngân vang như tiếng đàn trong rừng phách nở hoa vàng thắm. “Đổ vàng” có nghĩa là chuyển sang màu vàng nhưng nhiều và đậm hơn gợi cảm giác đột ngột – hiệu quả của việc dùng từ miêu tả chạm tới vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ bằng câu chữ. Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội. Hình ảnh cô gái hái măng một mình khơi trong lòng người ra đi một nỗi nhớ ngọt ngào, sâu lắng. “một mình” mà vẫn không phải sự đơn hiu hắt bởi cô đang làm bạn với thiên nhiên, đang làm chủ lao động, làm chủ tự do.
Cuối cùng của bộ tranh tứ bình là những câu thơ kể về mua thu:
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Khu rừng với sự nổi bật là ánh trăng thu mát dịu tỏa chiếu khắp núi rừng, tạo nên khung cảnh thanh bình, yên ả. Chữ “rọi diễn tả được ánh trăng tràn ngập cả không gian rừng núi. Đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình. Tiếng hát ân tình thủy chung của một cô gái cất thật tha thiết, cứ ngân nga vang vọng mãi nỗi nhớ của người đi.Xem thêm: Viết bài văn nói với những liệt sĩ vô danh đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn để đọc trong buổi sinh hoạt "Tuổi trẻ nhớ về cội nguồn"
Có thể nói nói thành công của khổ thơ nói riêng và bài thơ nói chung được tạo nên từ thể thơ lục bát với âm điệu nhẹ nhàng tình cảm, mang phong vị ca dao, dân ca đậm hồn dân tộc. Không những có cách miêu tả giàu hình ảnh, sử dụng nhiều động từ và hình ảnh giàu tính biểu cảm mà cả là sự phối màu sống động tài tình của tác giả. Cách xưng hô Mình – ta thân thiết và điệp từ “ Nhớ” cũng đóng góp một phần không hề nhỏ. Bức tranh trở nên sống động và có hồn hơn được viết nên từ nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.
Với 10 câu ngắn ngủi nhưng chúng ta cũng đủ cảm nhận tình cảm chân thật, thắm thiết của nhà thơ Tố Hữu đối với thiên nhiên và con người nơi Việt Bắc.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Topic: Analysis of the 6th stanza in the poem Viet Bac by To Huu
Assignment
To Huu (1920-2002) was born Nguyen Kim Thanh. Hometown in Quang Tho, Quang Dien, Thua Thien - Hue. He is a poet with a strong national character. His poems are often associated with historical events and have left many impressions on readers throughout the past century. One of his typical works is Viet Bac. Covering the Viet Bac poem is a passionate and earnest nostalgia. The author has reserved stanza 6 of the poem to talk about the nostalgia for Viet Bac nature, for the Viet Bac people who are diligent in their work and faithful in their lives. sentimental.
I'm back, you miss me
I about, I remember the flowers to him
Green forest with bright red banana flowers
High pass, sunny, knife-like belt buckle.
On spring day, apricots bloom white in the forest
Remember the person knitting the hat and smoothing each thread
Cicadas call out to the amber forest and pour gold
I miss my younger sister picking bamboo shoots alone
The moonlit autumn forest shines peace
Who remembered faithful love singing grace.
In the opening two sentences, the structure of the poem is still the response of the two lyrical characters I - I. I - I are the poet's unique and talented technique. Like the push and pull in the love response of folk songs and folk songs, the first sentence is a rhetorical question that cleverly evokes and links memories together. Without waiting for an answer, the author always remembered the flowers, the scenery, and the people of Viet Bac. "Remembering the flowers with the people" - the author skillfully tells about the distinct and unique features of the land of Viet Bac.. The flowers of the natural land of Viet Bac and the people are entwined with each other in beautiful, harmonious beauty. In the next 4 verses, the author has painted in poetic language a set of quartet paintings about the nature of Viet Bac, each painting converges the harmony and beauty of nature. See more: Expressing emotions Think about the folk song "Plowing the field at noon, sweating like the rain of the plowed field"
Leading readers into the beautiful and poetic picture of Viet Bac nature, To Huu opened with the winter of this land:
Green forest with bright red banana flowers
The high pass is sunny and the light of the knife at the belt
When talking about winter, people often think of cold, gloomy scenes and loneliness. But when it comes to winter in To Huu's poetry, it is not like that, the nature here is rich in vitality and warmth. The bright red banana flower color stands out against the green of the mountains and forests. The poet cleverly used the contrast between red and blue to brighten the picture. Sparkling sunlight on the forest knife strapped to his waist makes the person the center of the picture. Nature does not cover up but actually serves as a backdrop for the beauty of working people.
Winter ends and spring comes, we are all surprised by the beauty of spring here:
On spring day, apricots bloom white in the forest
Remember the person knitting the hat and smoothing each thread
Spring comes bringing new life to everything. The white color of apricots evokes a poetic picture on a gentle background of colors. “white forest” is written in a syntactic change and the word white is used as a verb to emphasize the color. The verb "bloom" located in the middle of the sentence makes spring vitality spread and full of life. With that beautiful space, there are glimpses of human images. To Huu remembers the people who knit hats. The act of sharpening each silk thread is a manifestation of diligence, ingenuity, and talent in the soul and character of the Viet Bac people. Along with that is the expression of the author's feelings and affection for the people here. See more: Analysis of the character Tnu in the work Xa Nu Forest
Next, To Huu told everyone about the summer image:
Cicadas call out to the amber forest and pour gold
I miss my younger sister picking bamboo shoots alone
The summer picture is bustling with the buzz of both color and sound. The sound of cicadas resounds like the sound of a guitar in a forest of golden flowers blooming. “Golden” means turning yellow but more and more intensely, evoking a sudden feeling - the effect of using descriptive words touches the beauty of nature with just words. Appearing in that golden and bustling nature, is the image of a girl in an indigo shirt diligently picking wild bamboo shoots to provide for the soldiers. The image of a girl picking bamboo shoots alone evokes a sweet, deep nostalgia in the heart of the departing person. "alone" is still not lonely because she is making friends with nature, is the master of labor, and master of freedom.
The last set of four paintings are verses about buying and selling:
The moonlit autumn forest shines peace
Who remembered faithful love singing grace
The forest is highlighted by the cool autumn moonlight shining throughout the mountains and forests, creating a peaceful and quiet scene. The word “shining” describes the moonlight that fills the entire mountain and forest space. It is the moonlight of freedom and peace. The song of a girl's faithful love sings so passionately, it keeps resonating and echoing the memories of those who go. See more: Write an essay to the anonymous martyrs lying in Truong Son cemetery to read in the evening. "Youth remembers their roots" event
It can be said that the success of the stanza in particular and the poem in general is created from the six-eight verse form with a gentle, emotional tone, with the flavor of folk songs and folk songs with strong national soul. Not only is there a rich description, using many verbs and expressive images, but also the author's ingenious vivid color combination. The intimate way of addressing I - I and the phrase "Remember" also play a big part. The picture becomes more vivid and soulful, written from the passionate nostalgia in the soul of the returning officer.
With 10 short sentences, we are enough to feel the sincere and passionate feelings of poet To Huu for the nature and people of Viet Bac.
Source: Good sample writing
|
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
Bài làm
Đã có những tháng ngày mà Tố Hữu băn khoăn trong khi chưa tìm được lối đi cho riêng mình khi ông đã từng viết:
“Đâu những ngày xưa tôi thấy tôi
Băn khoăn đi tìm lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn
Muốn bước than ôi bước chẳng rời”
Nhưng rồi vào một ngày ông cũng đã tìm thấy được lối đi cho riêng mình, tìm thấy được ánh sáng của Đảng làm bừng lên tâm hồn của thi nhân. Niềm hân hoan vui sướng tinh thần mê say của người chiến sĩ tìm được lý tưởng được thể hiện rõ nét trong khổ thơ đầu của bài thơ “Từ ấy”.
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Đã bao năm đi tìm lý tưởng, bao năm bâng khuâng đừng giữa nhiều lựa chọn nhưng chân vẫn không bước, cho đến ngay hôm nay, ông tìm thấy được nguồn sáng của cuộc đời mình.
Tháng 7 năm 1938 sau thời gian hoạt động và cống hiến hết sức mình trong phong trào thanh niên ở Huế, Tố Hữu vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Niềm vui lớn ấy là cả niềm hân hoan, sự háo hức về một con đường mới đang đón chờ ở phía trước. Nhấn mạnh một mốc son đáng nhớ của người lính trẻ.Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Tương tư" của Nguyễn Bính
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Niềm sung sướng hạnh phúc đã khiến Tố Hữu thốt lên “từ ấy”. Chính từ giây phút ấy chứ không phải một phút giây nào khác ông hạnh phúc đến nhường nào. Từ ấy trong người chiến sĩ trẻ bừng lên nắng hạ. “Bừng lên” chứ không phải một “phát hiện” hay là “nhận ra”. “Bừng lên” mạnh mẽ và dứt khoát, ý chí của người lính trẻ sáng bừng như chính tâm hồn anh vậy. Không ngần ngại hay e dè gì nữa, cũng không con đắn đo lựa chọn như những năm tháng trước đây khi chân muốn bước mà bước chẳng rời. Ánh sáng ấy đã dẫn dắt một tâm hồn u tối tìm đến ngày mới tươi đẹp hơn:
“Con lớn lên, con tìm cách mạng
Anh Lưu anh Diểu dạy con đi
Mẹ không còn nữa, con còn Đảng
Dìu dắt con khi chửa biết gì”
Hình ảnh “mặt trời chân lý chói qua tim” là một hình ảnh độc đáo, bất ngờ và táo bạo. Mặt trời là nguồn sáng rực rỡ, chói chang và là ánh sáng duy nhất đưa lại sự sống cho muôn loài trên trái đất. “Mặt trời chân lý” đi liền với cụm từ “chói qua tim” đã lột tả được niềm vui quá đỗi thiêng liêng gần như choáng váng bởi sức xuyên thấu mạnh mẽ của lý tưởng của Đảng đối với tình cảm và nhận thức của người chiến sĩ trẻ.Xem thêm: Nghị luận xã hội về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay
“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Bằng bút pháp trữ tình lãnh mạn, cùng với việc sử dụng hình ảnh so sánh có tính chất khẳng định: hồn tôi “là” chứ không phải “như” một vườn hoa lá. Nhấn mạnh chắc nịch rằng tư tưởng của mình sẽ đi theo lý tưởng của Đảng chứ không phải lăn tăn gì thêm nữa. Trong khu vườn của tuổi xuân ấy đã được ánh sáng của Đảng chiếu soi ươm ủ hạt mầm của hi vọng, của tương lai.
Tác giả đã bày tỏ được niềm hạnh phúc vô bờ bến của tâm hồn mình trong buổi đầu đến với Đảng. Các từ chỉ mức độ “đậm” , “rộn” đã chứng tỏ niềm vui sướng vô biên của nhà thơ.
Hẳn là trước đó, khu vườn trong tâm hồn của nhà thơ là một khu vườn khô héo không có sức sống, cho đến khi giác ngộ được lý tưởng của Đảng, ánh sáng đã ươm mầm cho khu vườn trở nên đậm hương và rộn ràng tiếng chim.
Vẻ đẹp của khu vườn tâm hồn ấy với Tố Hữu còn là vẻ đẹp của một sức sống mới, của một hồn thơ mới:
“Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau
Đảng cho ta trái tim giàu
Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay”
Bằng việc sử dụng khéo léo những thủ pháp nghệ thuật so sánh, cùng với miểu tả độc đáo tâm trạng của người nghệ sĩ khi giác ngộ lý tưởng cách mạng, Tố Hữu đã truyền tải được toàn bộ niềm vui, sự hân hoan, háo hức của mình và trong khổ đầu của bài thơ “Từ ấy”. Qua đó ta thấy được tình yêu nước, yêu Đảng nồng nàn của tác giả.Xem thêm: Để đạt được những điều bạn chưa bao giờ có, hãy dám làm những việc bạn chưa bao giờ làm
Tố Hữu sau bao năm cũng đã tìm được lý tưởng cho riêng mình, tìm được con đường đi cho riêng mình. Vậy mỗi chúng ta cũng sẽ phải tìm cho mình một còn đường đi vững chắc, đem lại hạnh phúc và chiếu sáng tâm hồn ta như Tố Hữu để trở thành một người con của dân tộc và bước đi trên con đường đó.
|
Analysis of the first stanza of the poem Tu That by To Huu
Assignment
There were days when To Huu wondered while not finding his own path as he once wrote:
“Where I see myself in the old days
Wondering about finding the reason to love life
Wandering around in circles
Wanting to walk, alas, the step won't leave.
But then one day he found his own path, found the Party's light that brightened the poet's soul. The joy, joy, and passionate spirit of the soldier who has found his ideal is clearly expressed in the first stanza of the poem "From That".
“From then on, the summer sun lit up inside me
The sun of truth shines through the heart
My soul is a flower garden
Very fragrant and full of bird sounds."
For many years he searched for his ideal, for many years hesitating between many choices but still unable to step forward, until today, he found the light source of his life.
In July 1938, after working and dedicating his best to the youth movement in Hue, To Huu was honored to join the Party's ranks. That great joy is both joy and excitement about a new path that lies ahead. Emphasizing a memorable milestone of the young soldier. See more: Commentary on the poem "Love" by Nguyen Binh
From then on, I was filled with summer sunshine
The joy and happiness made To Huu utter "that word". It was from that moment, not any other moment, that he was so happy. From then on, the young soldier's body glowed with the summer sun. “Awakening” is not a “discovery” or “realization”. "Burning up" strongly and decisively, the young soldier's will was as bright as his soul. No more hesitation or hesitation, no more hesitation in choosing like in the past years when my feet wanted to step but wouldn't let go. That light led a dark soul to a new, more beautiful day:
“When I grow up, I seek revolution
Mr. Luu, Mr. Dieu, teach me
Mom is no more, I still have the Party
Guide your child when you don't know anything"
The image of "the sun of truth shining through the heart" is a unique, unexpected and bold image. The sun is a bright, dazzling source of light and the only light that gives life to all creatures on earth. "The sun of truth" combined with the phrase "shining through the heart" describes a joy that is so sacred that it is almost dizzying because of the strong penetrating power of the Party's ideals on people's emotions and awareness. Young soldiers. See more: Social commentary on the Living Ideals of today's youth
“My soul is a garden of flowers and leaves
Very fragrant and full of bird sounds."
With a cold lyrical style, along with the use of affirmative comparative images: my soul "is" and not "like" a garden of flowers and leaves. Emphasize firmly that your thoughts will follow the Party's ideals without worrying any further. In that garden of youth, the Party's light shined and nurtured the seeds of hope and the future.
The author expressed the boundless happiness of his soul when he first joined the Party. The words indicating the level of "bold" and "mixed" demonstrate the poet's boundless joy.
Surely before that, the garden in the poet's soul was a withered and lifeless garden, until he was enlightened to the Party's ideals, and the light that nurtured the garden became fragrant and bustling. bird sound.
To To Huu, the beauty of that garden of the soul is also the beauty of a new vitality, of a new poetic soul:
"What is more wonderful than that on Earth
Lovers live to love each other
The Party gives us a rich heart
Straighten your back and walk, raise your head and fly."
By skillfully using comparative art techniques, along with a unique description of the artist's mood when enlightening to revolutionary ideals, To Huu has conveyed all the joy, joy, and excitement. my desire and in the first stanza of the poem "From That". Through this we can see the author's passionate love for the country and the Party. See more: To achieve things you have never had, dare to do things you have never done
To Huu, after many years, has found his own ideal and his own path. So each of us will have to find for ourselves a solid path that brings happiness and illuminates our souls like To Huu to become a child of the nation and walk on that path.
|
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Gợi ý
YÊU CẦU
Bức tranh vườn quê thôn Vĩ được khúc xạ qua nỗi lòng nuối tiếc bâng khuâng về một mối tình dở dang, bất hạnh của Hàn Mặc Tử. Cảnh đẹp nhưng buồn, tình thấm vào cảnh, cảnh nói lên tình, cần đặt khổ thơ trong cảm hứng chung của cả bài thơ thì mới thấy đúng tình ý của thi nhân trong khổ thơ đầu.
BÀI LÀM
Nếu nhân loại không còn khao khát nữa
Và nhà thơ – nghề chẳng kẻ nào yêu
Người – Thi sĩ – cuối cùng vẫn là Hàn Mặc Tử
Vẫn hiện lên ở đáy vực đợi chờ.
(Trần Ninh Hổ)
Hàn Mặc Tử – thi nhân của những mối tình "khuấy” mãi không thành khối. Tử yêu nhiều nhưng chua xót nhận ra rằng: Trăng là người bạn tình và là người bạn tình chung thủy cuối cùng của đời mình. Trong đời thơ, đời người quá ngắn, Hàn say mê bốn thiếu nữ (Hoàng Cúc, Mộng cầm, Mai Đình, Ngọc Sương). Hoàng Cúc, một thiếu nữ thôn Vĩ Giạ, là mối tình đầu của Tử, hai người quen nhau ở Quy Nhơn. Tử là nhân viên Sở Đạc điền, còn cha Hoàng Cúc là chủ Sở. Hàn thầm yêu Hoàng Cúc từ năm 1936, nhưng vì rụt rè nên chỉ dám bộc bạch tâm sự cùng thơ và bạn bè… Năm 1939, biết Tử mắc bệnh nan y, lại được người khác nhắc nhở, thúc giục, Hoàng Cúc gửi tặng thi nhân Hàn Mặc Tử bưu ảnh phong cảnh Huế và mấy dòng hỏi thăm mà không kí tên. Hàn lầm tưởng đó là cảnh "Bến Vĩ Dạ lúc hừng đồng hay đêm trăng?". Để tạ lòng cố nhân, Tử gửi tặng Hoàng Cúc bài "Đây thôn Vĩ Dạ". Đọc bài thơ này, người vô tâm mấy cũng không thể không nhớ khổ thơ đầu:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?
Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ phải gắn với mối tình đầu của Tử và Hoàng Cúc. Nhưng lâu nay, bị ám ảnh bởi yếu tố ngoài văn bản ngôn ngữ – đặc biệt là ý kiến "Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm hình cô mặc áo dài trắng trường Đồng Khánh (…), và trách Hàn Mặc Tử sao lâu nay không ra thăm Vĩ Dạ" nên nhiều người đã hiểu câu thơ mở đầu bài thơ là lời trách nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ – đúng là giọng hờn dịu ngọt của các cô gái Huế trách mà cứ như là chào mời khách về thăm thôn Vĩ. Những lời bình ấy xem ra có lẽ thoát li văn bản. Căn cứ vào đâu mà nói: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" là câu hỏi trách móc của một thôn nữ. Hơn nữa, như Hoàng Cúc khẳng định: sau tấm bưu ảnh, không có lời trách móc nào. Làm sao lại có thể trách người đang từng giờ, từng phút đợi tử thần đến mang đi? Thơ trữ tình là thơ hướng nội. Thơ Hàn Mặc Tử càng là thơ hướng nội. Câu hỏi "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" có thể là câu tự vấn của chính bản thân Tử. "Anh" ở đây là đại từ nhân xưng được dùng ở ngôi thứ nhất, chứ không phải ở ngôi thứ hai. Một câu hỏi mang tính chất giãi bày. Câu thơ thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Dòng thơ đượm buồn, có pha chút hối hận. Cả bài Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là để trả lời câu hỏi đã đặt ra ở câu đầu tiên của bài thơ. Xem thêm: Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu của học sinh giỏi
Trước khi tạo nên bài Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ này, Hàn Mặc Tử đã có lần đi qua khu vườn nhà Hoàng Cúc ở bến Vĩ Dạ, nhưng chỉ đứng ở cổng mà nhìn vào. Ân tượng sâu sắc đầu tiên còn lại trong độc giả khi đọc khổ thơ đầu là cảnh "bến Vĩ Dạ lúc hừng đông". Qua cảnh này, Tử muốn gửi gắm những tâm sự kín đáo nào đây? Trong muôn vàn cây, lá của Vĩ Dạ, nhà thơ nhắc đến hàng cau tắm nấng bình minh bao đời nay với người Việt Nam, cây cau vẫn gợi mối tình đôi lứa, bằng biện pháp nghệ thuật tăng cấp tiệm tiến, nhà thơ đã nhấn mạnh ý "nắng mới lên", "xanh như ngọc". Nắng bình minh (nắng mới lên) đẹp thì đẹp, nhưng qua cái nhìn của thi nhân lãng mạn nó cũng qua nhanh như "hơi rượu say" (bởi vậy liền sau cảnh hừng đông là cảnh bến sông đêm trăng buồn đến nao lòng).
"Nắng hàng cau – nắng mới lên" đi liền với "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Cũng là vườn mang hương vị ngọt ngào của ca dao, nhưng vườn mà Tử miêu tả khác vườn của Nguyễn Bính. Ớ đây, người ta thấy xuất hiện trong thơ một khu vườn "mướt quá xanh như ngọc". "Vườn aị" – vườn có một đôi tượng có vẻ như phiếm chỉ, nhưng cùng có thể là vườn của người mình thương, vườn tình của cô gái. Xem thêm: Văn nghị luận: Bàn về đức tính khiêm tốn Rõ ràng, khu vườn trong thơ Tử không phải là "vườn hồng", cùng không phải khu vườn có "bóng hoàng lan", mà là vườn xanh như ngọc. Phép so sánh khá mới lạ này khiến cho độc giả có thể nghĩ đôn "vườn em" là vườn cành vàng lá ngọc. Vào khu vườn ấy đâu phải dễ dàng. Câu thơ thứ tư nói rõ thêm ý tưởng ấy:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Hình ảnh lá trúc góp phần làm rõ thêm tính quyền quí của khu vườn Vĩ Giạ. Khuôn mặt chữ điền bị lá trúc che ngang lâu nay đã trở thành lời thách đố đối với bao nhiêu bạn yêu thơ. Nhiều người đồng tình khẳng định khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt phúc hậu, hiền lành, trung thực, ca dao Huế đã từng có câu:
Mặt em vuông tượng chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài
Lòng em có đất có trời
Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung.
Nhà thơ quá cố Chế Lan Viên đã có ý nghi ngờ, khi ông nêu ra câu hỏi "Con gái mặt chữ điền thì đẹp gì mà Hàn Mặc Tử ca ngợi". Gương mặt chữ điền trong câu thơ là gương mặt ai? Một sô’ người cho rằng: Gương mặt ấy chính là gương mặt Hoàng Cúc, người khác lại nghĩ là gương mặt Hàn Mặc Tử. Hình ảnh lá trúc làm nảy sinh sự tranh cãi khá gay gắt. Lá trúc thực ở ngoài đời hay lá trúc vẽ trên những bức ròm treo trước cửa các nhà quyền quý? Người ta nói: "Văn chương tự cổ vô bằng cứ" cùng không phải là không có nguyên cớ. Theo thiển nghĩ của người viết bài này thì trung tâm phát sóng của khổ thơ nằm trong chi tiết thẩm mĩ: Xem thêm: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói sau: ‘Tình thương là hạnh phúc của con người’. Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Lá trúc ấy phải ở trong vườn ngọc kia nó che khuất, che lấp cả sự phúc hậu, hiền lành, trung thực. Phải chăng nó thực sự trở thành trở lực ngăn cách tình người. Nó làm cho "Gió theo lôi gió, mây đường mây"; nó tạo nên "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay"; nó đưa đến tâm trạng hi vọng mong manh mà thất vọng tràn trề: "Có chở trăng về kịp tối nay"; nó kết lại trong một lời trách:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu kết bài thơ đã trả lời khá đầy đủ lí do "Sao anh không về chơi thôn Vĩ"
Chỉ thiên về việc khai thác vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người xứ Huế, có thể người bình thơ sẽ mắc phải sai lầm là không hiểu hết bi kịch tình yêu của Tử. Khi Hàn Mặc Tử viết: "Đây thôn Vĩ Dạ" thì tình cảm của thi nhân với Hoàng Cúc cũng chỉ còn trong quá vãng. (Lúc này, Hàn Mặc Tử dã yêu người khác). Hơn nữa, Tử lại đang ở trong tình trạng hoang mang, bi quan đến cực độ khi biết mình bị bệnh nan y. Khổ thơ đầu nói riêng và cả bài Đây thôn Vĩ Dạ" nói chung vẫn nằm trong cảm hứng "đau thương" của Hàn Mặc Tử.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Gợi ý
YÊU CẦU
Bức tranh vườn quê thôn Vĩ được khúc xạ qua nỗi lòng nuối tiếc bâng khuâng về một mối tình dở dang, bất hạnh của Hàn Mặc Tử. Cảnh đẹp nhưng buồn, tình thấm vào cảnh, cảnh nói lên tình, cần đặt khổ thơ trong cảm hứng chung của cả bài thơ thì mới thấy đúng tình ý của thi nhân trong khổ thơ đầu.
BÀI LÀM
Nếu nhân loại không còn khao khát nữa
Và nhà thơ – nghề chẳng kẻ nào yêu
Người – Thi sĩ – cuối cùng vẫn là Hàn Mặc Tử
Vẫn hiện lên ở đáy vực đợi chờ.
(Trần Ninh Hổ)
Hàn Mặc Tử – thi nhân của những mối tình "khuấy” mãi không thành khối. Tử yêu nhiều nhưng chua xót nhận ra rằng: Trăng là người bạn tình và là người bạn tình chung thủy cuối cùng của đời mình. Trong đời thơ, đời người quá ngắn, Hàn say mê bốn thiếu nữ (Hoàng Cúc, Mộng cầm, Mai Đình, Ngọc Sương). Hoàng Cúc, một thiếu nữ thôn Vĩ Giạ, là mối tình đầu của Tử, hai người quen nhau ở Quy Nhơn. Tử là nhân viên Sở Đạc điền, còn cha Hoàng Cúc là chủ Sở. Hàn thầm yêu Hoàng Cúc từ năm 1936, nhưng vì rụt rè nên chỉ dám bộc bạch tâm sự cùng thơ và bạn bè… Năm 1939, biết Tử mắc bệnh nan y, lại được người khác nhắc nhở, thúc giục, Hoàng Cúc gửi tặng thi nhân Hàn Mặc Tử bưu ảnh phong cảnh Huế và mấy dòng hỏi thăm mà không kí tên. Hàn lầm tưởng đó là cảnh "Bến Vĩ Dạ lúc hừng đồng hay đêm trăng?". Để tạ lòng cố nhân, Tử gửi tặng Hoàng Cúc bài "Đây thôn Vĩ Dạ". Đọc bài thơ này, người vô tâm mấy cũng không thể không nhớ khổ thơ đầu:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?
Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ phải gắn với mối tình đầu của Tử và Hoàng Cúc. Nhưng lâu nay, bị ám ảnh bởi yếu tố ngoài văn bản ngôn ngữ – đặc biệt là ý kiến "Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm hình cô mặc áo dài trắng trường Đồng Khánh (…), và trách Hàn Mặc Tử sao lâu nay không ra thăm Vĩ Dạ" nên nhiều người đã hiểu câu thơ mở đầu bài thơ là lời trách nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ – đúng là giọng hờn dịu ngọt của các cô gái Huế trách mà cứ như là chào mời khách về thăm thôn Vĩ. Những lời bình ấy xem ra có lẽ thoát li văn bản. Căn cứ vào đâu mà nói: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" là câu hỏi trách móc của một thôn nữ. Hơn nữa, như Hoàng Cúc khẳng định: sau tấm bưu ảnh, không có lời trách móc nào. Làm sao lại có thể trách người đang từng giờ, từng phút đợi tử thần đến mang đi? Thơ trữ tình là thơ hướng nội. Thơ Hàn Mặc Tử càng là thơ hướng nội. Câu hỏi "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" có thể là câu tự vấn của chính bản thân Tử. "Anh" ở đây là đại từ nhân xưng được dùng ở ngôi thứ nhất, chứ không phải ở ngôi thứ hai. Một câu hỏi mang tính chất giãi bày. Câu thơ thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Dòng thơ đượm buồn, có pha chút hối hận. Cả bài Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là để trả lời câu hỏi đã đặt ra ở câu đầu tiên của bài thơ. Xem thêm: Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu của học sinh giỏi
Trước khi tạo nên bài Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ này, Hàn Mặc Tử đã có lần đi qua khu vườn nhà Hoàng Cúc ở bến Vĩ Dạ, nhưng chỉ đứng ở cổng mà nhìn vào. Ân tượng sâu sắc đầu tiên còn lại trong độc giả khi đọc khổ thơ đầu là cảnh "bến Vĩ Dạ lúc hừng đông". Qua cảnh này, Tử muốn gửi gắm những tâm sự kín đáo nào đây? Trong muôn vàn cây, lá của Vĩ Dạ, nhà thơ nhắc đến hàng cau tắm nấng bình minh bao đời nay với người Việt Nam, cây cau vẫn gợi mối tình đôi lứa, bằng biện pháp nghệ thuật tăng cấp tiệm tiến, nhà thơ đã nhấn mạnh ý "nắng mới lên", "xanh như ngọc". Nắng bình minh (nắng mới lên) đẹp thì đẹp, nhưng qua cái nhìn của thi nhân lãng mạn nó cũng qua nhanh như "hơi rượu say" (bởi vậy liền sau cảnh hừng đông là cảnh bến sông đêm trăng buồn đến nao lòng).
"Nắng hàng cau – nắng mới lên" đi liền với "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Cũng là vườn mang hương vị ngọt ngào của ca dao, nhưng vườn mà Tử miêu tả khác vườn của Nguyễn Bính. Ớ đây, người ta thấy xuất hiện trong thơ một khu vườn "mướt quá xanh như ngọc". "Vườn aị" – vườn có một đôi tượng có vẻ như phiếm chỉ, nhưng cùng có thể là vườn của người mình thương, vườn tình của cô gái. Xem thêm: Văn nghị luận: Bàn về đức tính khiêm tốn Rõ ràng, khu vườn trong thơ Tử không phải là "vườn hồng", cùng không phải khu vườn có "bóng hoàng lan", mà là vườn xanh như ngọc. Phép so sánh khá mới lạ này khiến cho độc giả có thể nghĩ đôn "vườn em" là vườn cành vàng lá ngọc. Vào khu vườn ấy đâu phải dễ dàng. Câu thơ thứ tư nói rõ thêm ý tưởng ấy:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Hình ảnh lá trúc góp phần làm rõ thêm tính quyền quí của khu vườn Vĩ Giạ. Khuôn mặt chữ điền bị lá trúc che ngang lâu nay đã trở thành lời thách đố đối với bao nhiêu bạn yêu thơ. Nhiều người đồng tình khẳng định khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt phúc hậu, hiền lành, trung thực, ca dao Huế đã từng có câu:
Mặt em vuông tượng chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài
Lòng em có đất có trời
Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung.
Nhà thơ quá cố Chế Lan Viên đã có ý nghi ngờ, khi ông nêu ra câu hỏi "Con gái mặt chữ điền thì đẹp gì mà Hàn Mặc Tử ca ngợi". Gương mặt chữ điền trong câu thơ là gương mặt ai? Một sô’ người cho rằng: Gương mặt ấy chính là gương mặt Hoàng Cúc, người khác lại nghĩ là gương mặt Hàn Mặc Tử. Hình ảnh lá trúc làm nảy sinh sự tranh cãi khá gay gắt. Lá trúc thực ở ngoài đời hay lá trúc vẽ trên những bức ròm treo trước cửa các nhà quyền quý? Người ta nói: "Văn chương tự cổ vô bằng cứ" cùng không phải là không có nguyên cớ. Theo thiển nghĩ của người viết bài này thì trung tâm phát sóng của khổ thơ nằm trong chi tiết thẩm mĩ: Xem thêm: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói sau: ‘Tình thương là hạnh phúc của con người’. Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Lá trúc ấy phải ở trong vườn ngọc kia nó che khuất, che lấp cả sự phúc hậu, hiền lành, trung thực. Phải chăng nó thực sự trở thành trở lực ngăn cách tình người. Nó làm cho "Gió theo lôi gió, mây đường mây"; nó tạo nên "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay"; nó đưa đến tâm trạng hi vọng mong manh mà thất vọng tràn trề: "Có chở trăng về kịp tối nay"; nó kết lại trong một lời trách:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu kết bài thơ đã trả lời khá đầy đủ lí do "Sao anh không về chơi thôn Vĩ"
Chỉ thiên về việc khai thác vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người xứ Huế, có thể người bình thơ sẽ mắc phải sai lầm là không hiểu hết bi kịch tình yêu của Tử. Khi Hàn Mặc Tử viết: "Đây thôn Vĩ Dạ" thì tình cảm của thi nhân với Hoàng Cúc cũng chỉ còn trong quá vãng. (Lúc này, Hàn Mặc Tử dã yêu người khác). Hơn nữa, Tử lại đang ở trong tình trạng hoang mang, bi quan đến cực độ khi biết mình bị bệnh nan y. Khổ thơ đầu nói riêng và cả bài Đây thôn Vĩ Dạ" nói chung vẫn nằm trong cảm hứng "đau thương" của Hàn Mặc Tử.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích khổ thơ đầu bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu
Gợi ý
Viết về lí tưởng cách mạng, bài thơ "Từ ấy" của Tố Hữu đã trở thành câu ca, tiếng hát của hàng triệu con người hơn nửa thế kỉ nay. Giọng thơ sôi nổi, say mê, trẻ trung và yêu đời tiêu biểu cho hồn thơ Tố Hữu. ‘Từ ấy" là tiếng hát của người thanh niên cộng sản thể hiện một tình yêu lớn: yêu lí tưởng cách mạng và yêu giai cấp cần lao.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn, gồm có ba khổ thơ mỗi khổ bốn câu. Đây là khổ đầu ca ngợi lí tưởng và nói lên tình yêu lí tưởng cách mạng:
"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ;
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…".
Nhà thơ là đứa con của "Huế đẹp và thơ", ông sinh ra và lớn lên trong đêm trường nô lệ "Nước mất nhà tan, đời khổ thế!". Trưởng thành trong phong trào yêu nước của thanh niên học sinh, nhà thơ nhiệt thành đi tìm đường cứu nước: "Con lớn lên con tìm Cách mạng". Và trong đêm đày nô lệ, nhà thơ cảm thấy tâm hồn "bừng nắng hạ" kể từ ấy:
"Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ;
Mặt trời chân lí chói qua tim".
"Từ ấy" là thời điểm (1938) nhà thơ được giác ngộ cách mạng, bắt gặp lí tưởng cộng sản chủ nghĩa. "Mặt trời chân lí" là hình ảnh ẩn dụ về lí tướng cách mạng, về chủ nghĩa Mác – Lênin. Chữ "chói" (chói qua tim) nghĩa là chói lọi, soi vào, chiếu vào. Ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin vô cùng chói lọi đã chiếu vào, soi vào trái tim – tâm hồn yêu nước của nhà thơ trẻ.Xem thêm: Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa
Bóng tối đêm dày nô lệ như bị xua tan, người chiến sĩ cách mạng cảm thấy cuộc đời mình, con đường mình hướng tới "bừng nắng hạ". Đây là hai câu thơ đẹp nhất của Tố Hữu viết về lí tướng cách mạng. Ngôn từ (bừng, chói), hình ảnh (mặt trời chân lí) rất hay, rất sáng tạo. Lúc nào đọc, ta vẫn cảm thấy mới mẻ, vần thơ tràn ngập ánh sáng và niềm tin.
Hai câu thơ ba, bốn tiếp theo nói về "hồn tôi" từ thuở ấy, từ khi "bừng nắng hạ":
"Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim".
Nhà thơ sử dụng một so sánh đặc biệt: "Hồn tôi là một vườn hoa lá"… Ngôi vườn ấy xanh màu xanh của lá, rực rỡ của sắc hoa, "rất đậm hương" ngào ngạt. Ngôi vườn đẹp tươi ấy "rộn tiếng chim" hót nghe rất vui. Các từ gợi tả: "đậm", "rộn" thế hiện sức sống và vẻ đẹp của vườn hoa lá, của "hồn tôi" từ khi có chủ nghĩa Mác – Lênin, có "Mặt trời chân lí chói qua tim". Hai câu thơ nói lên tác dụng kì diệu của lí tướng cách mạng qua một không gian nghệ thuật kì diệu nên thơ.
Tố Hữu yêu nước, yêu chủ nghĩa Mác – Lênin mới có cách nói hay, rất hình tượng về lí tướng cách mạng. "Mặt trời chân lí" và "vườn hoa lá…" là hai hình tượng rất đẹp, rất thơ. Các từ ngữ: "từ ấy", "bừng", "chói", "đậm", "rộn" – được chọn lọc tinh tế làm cho vần thơ cất cánh trong tâm hồn chúng ta.Xem thêm: Bạn hãy phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh: Cảnh Khuya "Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa/ Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà"Vanmau.edu.vn
|
Analysis of the first stanza of the poem "From That" by To Huu
Suggest
Writing about revolutionary ideals, To Huu's poem "From That" has become the song and song of millions of people for more than half a century. The vibrant, passionate, youthful and life-loving poetic voice represents the soul of To Huu's poetry. 'That word' is the song of the communist youth expressing a great love: love for revolutionary ideals and love for the working class.
The poem is written in seven-word form, consisting of three stanzas of four lines each. This is the first stanza praising ideals and expressing love for revolutionary ideals:
"From then on, the summer sun lit up inside me;
The sun of truth shines through my heart
My soul is a flower garden
Very fragrant and full of bird sounds...".
The poet is a child of "Beautiful and Poetic Hue", he was born and raised in the night of slavery "The country lost the house, the life was so miserable!". Growing up in the patriotic movement of young students, the poet enthusiastically sought a way to save the country: "When I grow up, I seek the Revolution." And on the night of slavery, the poet felt his soul "blooming in the summer sun" ever since:
"From then on, the summer sun lit up inside me;
The sun of truth shines through my heart.
"That word" is the time (1938) when the poet received revolutionary enlightenment and encountered the communist ideal. "Sun of truth" is a metaphor for revolutionary ideals and Marxism-Leninism. The word "glare" (glare through the heart) means bright, shining, illuminating. The extremely bright light of Marxism-Leninism shined into the heart and patriotic soul of the young poet. See more: Feelings about the fate of Vietnamese women in ancient times
The thick darkness of the slave night seemed to be dispelled, the revolutionary soldier felt that his life, his path towards "bright summer sunshine". These are the two most beautiful lines of poetry written by To Huu about revolutionary ideals. The words (blazing, dazzling), the images (sun of truth) are very good, very creative. Every time we read it, we still feel new, the poems are filled with light and faith.
The next two verses three and four talk about "my soul" from that time, since "the summer sun":
"My soul is a flower garden
Very fragrant and full of bird sounds."
The poet uses a special comparison: "My soul is a garden of flowers and leaves"... That garden is green with leaves, brilliant with flowers, "very rich in fragrance" and suffocating. That beautiful garden is "full of birds" singing and singing very happily. The descriptive words: "bold", "mixed" represent the vitality and beauty of the flower garden, of "my soul" since the advent of Marxism-Leninism, with "The sun of truth shining through my heart". The two verses express the magical effects of revolutionary ideals through a magical and poetic artistic space.
To Huu, being patriotic and loving Marxism-Leninism, had a good, very iconic way of speaking about revolutionary principles. "Sun of truth" and "garden of flowers and leaves..." are two very beautiful and poetic images. The words: "that word", "bright", "bright", "bold", "mixed" - are carefully selected to make the poem take off in our souls. See more: Analyze the poem. Ho Chi Minh's following poem: Late Night Scene "The sound of a stream is as clear as a distant song/ The moon cages the shadow of an ancient flower cage/ The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet/ Haven't slept because he's worried about his country" Vanmau.edu.vn
|
Phân tích khổ thơ đầu tiên trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Gợi ý
“Sang thu” là một áng thơ xinh xắn dâng tặng Nàng Thu của một thi nhân – một thi nhân yêu quý mùa thu như bao thi nhân khác – Hữu Thỉnh. Bài thơ có khố thơ mở đầu thật hay:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”.
Những câu thơ mở đầu bài thơ giản dị đến bất ngờ:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”.
“Bỗng” là bỗng nhiên, là bất ngờ, bất chợt. Đặt chữ “bỗng” ở đầu khổ thơ, đầu bài thơ để tất cả giác quan của ta được đánh động, phải giật mình mà chú ý đón nhận mọi biến đổi của đất trời. Biến đổi đầu tiên thu hút sự chú ý của nhà thơ là mùi hương nồng nàn của trái ổi chín thơm lừng. Ôi đã bắt đầu ủ mình để chín tự bao giờ và cũng lặng lẽ toả hương tự bao giờ nhưng vào khoảnh khắc này hương ổi mới đủ nồng nàn đánh thức giác quan của thi nhân. Hương thơm ấy rất mạnh, rất nồng nàn, ngào ngạt có vậy mới “phả vào trong gió se”. Ôi phải chín đến nhường nào, thơm ngon đến nhường nào hương thơm của nó mới đủ mạnh để tạo ra một sự lan toả như vậy trong không gian. Thứ hương thơm ấy lại lan toả trong làn gió se nhè nhẹ ren rét. “Gió se” là gió heo may, chúng đến với nhân gian vào mỗi dịp đầu thu làm tê tê, gai gai những cánh tay trần mềm mại. Trước Cách mạng, Xuân Diệu đã từng mang gió se đến cho người đọc với những thoáng rùng mình ớn lạnh: “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Nhưng câu thơ của Hữu Thỉnh lại dắt mùa thu đến bên ta.êm ái, dịu dàng biết bao. Viết về những làn sương mùa thu, nhà thơ cũng có cách viết thật duyên dáng: “Sương chùng chình qua ngõ”. “Chùng chình” là cố ý làm chậm lại. Thủ pháp nhân hoá đã biến sương thành những cô bé, cậu bé nghịch ngợm đung đưa náu mình trong ngõ xóm, chùng chình chẳng muốn tan đi.Xem thêm: Phân tích nội dung và nghệ thuật Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
Làng quê yêu mến dìu bước chân thi nhân đi từ hương ổi đến gió se… Rồi khi lạc giữa làn mây sớm chùng chình thì nhà thơ không nén nổi niềm xúc động, ông khe khẽ thì thầm: “Hình như thu đã về”. Từ “hình như” diễn tả tâm trạng ngỡ ngàng băn khoăn rất tinh tế của nhà thơ khi ngỡ ngàng nhận ra “thu đã về”.
Khổ thơ đầu tiên của bài thơ “Sang thu” đặc biệt dịu dàng tinh tế, nó diễn tả những biến đổi tinh vi của đất trời và lòng người trong thời khắc giao mùa được chờ đợi rất nhiều trong năm: từ hạ chuyến sang thu. Khổ thơ đã góp phần quan trọng tạo nên bài thơ “Sang thu”, một áng thơ thu duyên dáng và tài tình trong thi đề mùa thu quen thuộc của văn học Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Analysis of the first stanza in the poem Sang Thu by Huu Thinh
Suggest
“Autumn Festival” is a lovely poem dedicated to Lady Autumn by a poet - a poet who loves autumn like many other poets - Huu Thinh. The poem has a beautiful opening verse:
“Suddenly I noticed the scent of guava
Blown into the wind
The fog drifted through the alley
Thu seemed to have about".
The opening lines of the poem are surprisingly simple:
“Suddenly I noticed the scent of guava
Breathe into the wind."
“Suddenly” means suddenly, unexpectedly, suddenly. Place the word "suddenly" at the beginning of the stanza, at the beginning of the poem so that all our senses are awakened, startled and attentive to receive all changes in heaven and earth. The first change that attracted the poet's attention was the passionate scent of ripe guava. Oh, it has been brewing for a long time and has been quietly releasing its fragrance for a long time, but at this moment, the scent of guava is strong enough to awaken the poet's senses. That fragrance is so strong, so passionate, so sweet that it "breathes into the wind". Oh how ripe it must be, how delicious its fragrance must be for it to be strong enough to create such a spread in space. That fragrance spreads in the gentle, chilly breeze. "Wind wind" is a wind of bad luck, they come to humanity every early autumn, causing numbness and prickling on soft bare arms. Before the Revolution, Xuan Dieu used to bring cold winds to readers with chilling shivers: "The trembling currents shake the leaves." But Huu Thinh's poem brings autumn to us so softly and gently. Writing about the autumn mists, the poet also has a charming way of writing: "The mist drifts through the alley". To “slow down” is to intentionally slow down. The method of personification has turned the mist into mischievous little girls and boys, swaying and hiding in the alleys, reluctant to go away. See more: Analysis of the content and art of Nguyen's story of the judgeship of Tan Vien temple Data
The countryside lovingly guided the poet's footsteps from the scent of guava to the wind... Then, lost in the rising morning clouds, the poet could not contain his emotions, he softly whispered: "It seems like autumn has come." The word "seems" describes the poet's very subtle feeling of surprise and anxiety when he was surprised to realize that "autumn has come".
The first stanza of the poem "Into Autumn" is especially gentle and delicate, it describes the subtle changes in heaven and earth and human hearts during the much-awaited season change of the year: from summer to autumn. . The stanza has made an important contribution to creating the poem "Autumn Festival", a charming and ingenious autumn poem in the familiar autumn theme of Vietnamese literature.
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng
Khao khát giao cảm với đời, ham muốn sống mãnh liệt trong tuổi trẻ và tình yêu là đặc điểm của thơ Xuân Diệu. ở mỗi sáng tác, mỗi vần thơ của ông ta đều thấy chất Xuân Diệu ấy. Chẳng thế mà trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận xét: “ Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Vậy nên Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Đặc biệt là bài “Vội vàng”-một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu cũng thể hiện điều đó. Cả bài thơ là niềm khao khát, giao cảm với đời.Cốt lõi của giao cảm ấy chính là quan niệm về thiên đường nơi trần thể được thể hiện rõ nét qua khổ thơ:
Ta muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Ta muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
…….
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Với công trình nghiên cứu nổi tiếng “Thi nhân Việt Nam”, ông đã để lai trong lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc về những đặc trưng, nổi bật của các nhà thơ mới và phong trào thơ mới. Đối với Xuân Diệu từ đây ông được biết đến là “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” hay chính là người “ xây dựng trên đất một tấm lòng trần gian” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có lẽ đó là bởi Xuân Diệu luôn có khao khát mãnh liệt với cuộc đời. Chính vì thế mà “ Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Trước Xuân Diệu chưa từng có nhà thơ mới nào ca ngợi về cuộc sống hay và nhiêu như thế. Sau Xuân Diệu cũng chưa có nhà thơ nào viết xuất sắc như thế vê cuộc đời. Đọc thơ Xuân Diệu ta cảm nhân được một“ nguồn sống dạt dào”, mạnh mẽ, một phong cách sống cuống quýt, vội vàng. Bởi thời gian thì một đi không trở lại, mà trần gian chính là thiên đường vậy nên “Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới”.
Nhà thơ lãng mạn người Pháp Bô-đơ-le đã từng nói “ Ôi đau đớn! ôi đau đớn! thời gian ăn cuộc sống”. Đối với ông, sự vận động của thời gian là một niềm đau đớn. Thế nhưng, trước sự vận động của thời gian Xuân Diệu chỉ thể hiện nỗi cuống quýt, vội vàng trước thời gian không đứng đợi.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã thể hiện một ước muốn kì lạ đến ngông cuồng: tôi muốn tắt năng/ tôi muốn buộc gió. Đó là những ước muốn kì lạ bởi tắt nắng, buộc gió là công việc của tạo hóa. Đối với Chế Lan Viên “ tất cả cuộc đời chỉ là vô nghĩa”, là khổ đau. Không thích mùa xuân, người thanh niên này muốn ngăn bước chân của nó bằng những gì sót lại của mùa thu trước. Những lá vàng rơi, muôn cánh hoa tàn…với cả “ý thu góp lại” tạo lên hàng rào tâm tưởng để “chắn nẻo xuân sang”.Thế nhưng ở bài “vội vàng” Xuân Diệu dường như có thái độ khác hẳn.Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước hết sức ngộ nghĩnh, ngông cuồng ấy nhà thơ muốn bất tử hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa cuộc đời này. Niềm ước muốn mang một vẻ đẹp nhân văn của một tâm hồn nghệ sĩ.
Xem thêm: Người ta thường nói, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ bậc thày. Anh (chị) hãy nêu lên và phân tích một vài yếu tố nghệ thuật nào đấy trong truyện Chữ người tử tù mà anh (chị) cho là đã đạt tới trình độ bậc thàySở dĩ có khát vọng kì lạ đó là bởi lẽ dưới con mắt của thi sĩ mùa xuân đầy sức hấp dẫn và quyến rũ:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
….
Của yến anh này đây khúc tình si
Với thi sĩ một năm chỉ có hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Là vì “thu và xuân là hai bình minh của một năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn. Và bởi vậy thu cũng là một mùa xuân” (Trường ca).Mùa xuân- mùa của tình yêu, của sự sống đã đi vào trong thơ từ hàng ngàn năm nhưng trước Xuân Diệu có lẽ chưa có tứ thơ lời thơ nào tương tự. Khu vườn mùa xuân mà thi sĩ đã dựng lên trong bầu trời tâm tưởng như muốn vẽ ra trước măt mỗi người có đầy đủ thế giới tự nhiên. Ở đó có ong bướm rộn ràng, có muôn hoa đua sắc với đông cỏ xanh rì. Mùa xuân mùa của cành tơ phơ phất, của những khúc tình si rộn rã… Thi sĩ đã tạo lên một bức tranh tràn đầy ánh sáng tinh khôi, đầy âm thanh tình tứ, rộn ràng. Tất cả như đang ở độ xuân thì của nó. Ngây ngât giữa khu vườn mùa xuân, nhà thơ hạnh phúc như đang lạc vào giữa vườn hồng. Hạnh phúc hơn thế nữa là những vẻ đẹp ấy không phải ở chốn xa xăm, mộng ảo mà ngay chốn trần gian, mọi vật đều đang sẵn sàng dâng hiến, mời chào, ban tặng cho nhà thơ. Điệp từ này đây và nhịp điệu liên tục cũng cho ta thấy cảnh sắc và vẻ đẹp của khu vườn. Để rồi trong khoảnh khắc của mùa xuân thi nhân đã hóa thành tình nhân.
Chính cái nhìn của”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã tạo nên vẻ riêng độc đáo trong bức tranh mùa xuân của thi sĩ. Chúng ta có thể nhận thấy nhà thơ miêu tả bướm ong đang sống trong tuần tháng mật, cành xuân thì thành cành tơ đầy sức sống, tiếng hát của yến anh cũng thành điệu tình si rộn ràng. Tất cả vạn vật đều đang trong trạng thái hạnh phúc. Và táo bạo nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” thật gần gũi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của thi sĩ, mùa xuân tựa như một cô gái kiều diễm, hồng hào,tình tứ đầy hấp dẫn.
Nếu trong “Một thời đại thi ca” Thế Lữ,Tản Đà nuôi giấc mộng lên tiên thì Xuân Diệu-nhà trí thức Tây học trẻ lại “ đốt cảnh bông lai xua ai nấy về hạ giới”. Bởi trần thế mới là nơi đẹp nhất. Khu vườn mùa xuân này giống như một thiên đường mà ai cũng mong muốn được tận hưởng. Cái hấp dẫn, cái lãng mạn của thơ Xuân Diệu chính là ở chỗ đó. Như vậy, ở phần đầu bài thơ, bằng cặp mắt”xanh non biếc rờn”, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời và vạn vật có nhiều điểm khác biệt so với các nhà thơ cũ. Thi sĩ đã phát hiện cuộc đời trần thế đẹp đẽ và hấp dẫn biết bao. Thế nhưng không ai có thể sống mãi để tận hưởng mọi lạc thú, năm tháng chảy trôi tuổi xuân thì một đi không trở lại.
Như vậy,Xuân Diệu đã vẽ lên trước măt người đọc cả thế giới sống động, thể hiện “nguồn sống dạt dào”. Bởi thể, nhận định của Hoài Thanh là hoàn toàn đúng đắn khi đã đánh giá chính xác một trong những đặc điểm nổi bật của thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám. Đó là tấm lòng của con người nặng tình với cuộc đời, luôn khao khát gắn bó với đời. Khổ thơ đâu tiên này là điểm xuất phát để từ đó nhà thơ trình bày những quan niệm về thời gian và triết lí sống vội vàng ở khổ 2 và 3.
Xuân Diệu là một hồn thơ yêu đời và tài hoa. Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm tưởng người đọc một bức tranh thiên nhiên nơi trần thế tuyệt đẹp. Đó chính là “nguồn sống dạt dào” mà nhà thơ đã truyền cho mỗi chúng ta. Đọc thơ Xuân Diệu giúp ta có cái nhìn mới mẻ về cuộc đời, cho ta niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Chính thế đã làm nên những giá trị lớn lao trong thơ Xuân Diệu.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Em nhận thức như thế nào về đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
|
Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng
Khao khát giao cảm với đời, ham muốn sống mãnh liệt trong tuổi trẻ và tình yêu là đặc điểm của thơ Xuân Diệu. ở mỗi sáng tác, mỗi vần thơ của ông ta đều thấy chất Xuân Diệu ấy. Chẳng thế mà trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận xét: “ Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Vậy nên Xuân Diệu được coi là “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Đặc biệt là bài “Vội vàng”-một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu cũng thể hiện điều đó. Cả bài thơ là niềm khao khát, giao cảm với đời.Cốt lõi của giao cảm ấy chính là quan niệm về thiên đường nơi trần thể được thể hiện rõ nét qua khổ thơ:
Ta muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Ta muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
…….
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Với công trình nghiên cứu nổi tiếng “Thi nhân Việt Nam”, ông đã để lai trong lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc về những đặc trưng, nổi bật của các nhà thơ mới và phong trào thơ mới. Đối với Xuân Diệu từ đây ông được biết đến là “ nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” hay chính là người “ xây dựng trên đất một tấm lòng trần gian” (Nguyễn Đăng Mạnh). Có lẽ đó là bởi Xuân Diệu luôn có khao khát mãnh liệt với cuộc đời. Chính vì thế mà “ Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Trước Xuân Diệu chưa từng có nhà thơ mới nào ca ngợi về cuộc sống hay và nhiêu như thế. Sau Xuân Diệu cũng chưa có nhà thơ nào viết xuất sắc như thế vê cuộc đời. Đọc thơ Xuân Diệu ta cảm nhân được một“ nguồn sống dạt dào”, mạnh mẽ, một phong cách sống cuống quýt, vội vàng. Bởi thời gian thì một đi không trở lại, mà trần gian chính là thiên đường vậy nên “Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới”.
Nhà thơ lãng mạn người Pháp Bô-đơ-le đã từng nói “ Ôi đau đớn! ôi đau đớn! thời gian ăn cuộc sống”. Đối với ông, sự vận động của thời gian là một niềm đau đớn. Thế nhưng, trước sự vận động của thời gian Xuân Diệu chỉ thể hiện nỗi cuống quýt, vội vàng trước thời gian không đứng đợi.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã thể hiện một ước muốn kì lạ đến ngông cuồng: tôi muốn tắt năng/ tôi muốn buộc gió. Đó là những ước muốn kì lạ bởi tắt nắng, buộc gió là công việc của tạo hóa. Đối với Chế Lan Viên “ tất cả cuộc đời chỉ là vô nghĩa”, là khổ đau. Không thích mùa xuân, người thanh niên này muốn ngăn bước chân của nó bằng những gì sót lại của mùa thu trước. Những lá vàng rơi, muôn cánh hoa tàn…với cả “ý thu góp lại” tạo lên hàng rào tâm tưởng để “chắn nẻo xuân sang”.Thế nhưng ở bài “vội vàng” Xuân Diệu dường như có thái độ khác hẳn.Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước hết sức ngộ nghĩnh, ngông cuồng ấy nhà thơ muốn bất tử hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa cuộc đời này. Niềm ước muốn mang một vẻ đẹp nhân văn của một tâm hồn nghệ sĩ.
Xem thêm: Người ta thường nói, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ bậc thày. Anh (chị) hãy nêu lên và phân tích một vài yếu tố nghệ thuật nào đấy trong truyện Chữ người tử tù mà anh (chị) cho là đã đạt tới trình độ bậc thàySở dĩ có khát vọng kì lạ đó là bởi lẽ dưới con mắt của thi sĩ mùa xuân đầy sức hấp dẫn và quyến rũ:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
….
Của yến anh này đây khúc tình si
Với thi sĩ một năm chỉ có hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Là vì “thu và xuân là hai bình minh của một năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn. Và bởi vậy thu cũng là một mùa xuân” (Trường ca).Mùa xuân- mùa của tình yêu, của sự sống đã đi vào trong thơ từ hàng ngàn năm nhưng trước Xuân Diệu có lẽ chưa có tứ thơ lời thơ nào tương tự. Khu vườn mùa xuân mà thi sĩ đã dựng lên trong bầu trời tâm tưởng như muốn vẽ ra trước măt mỗi người có đầy đủ thế giới tự nhiên. Ở đó có ong bướm rộn ràng, có muôn hoa đua sắc với đông cỏ xanh rì. Mùa xuân mùa của cành tơ phơ phất, của những khúc tình si rộn rã… Thi sĩ đã tạo lên một bức tranh tràn đầy ánh sáng tinh khôi, đầy âm thanh tình tứ, rộn ràng. Tất cả như đang ở độ xuân thì của nó. Ngây ngât giữa khu vườn mùa xuân, nhà thơ hạnh phúc như đang lạc vào giữa vườn hồng. Hạnh phúc hơn thế nữa là những vẻ đẹp ấy không phải ở chốn xa xăm, mộng ảo mà ngay chốn trần gian, mọi vật đều đang sẵn sàng dâng hiến, mời chào, ban tặng cho nhà thơ. Điệp từ này đây và nhịp điệu liên tục cũng cho ta thấy cảnh sắc và vẻ đẹp của khu vườn. Để rồi trong khoảnh khắc của mùa xuân thi nhân đã hóa thành tình nhân.
Chính cái nhìn của”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã tạo nên vẻ riêng độc đáo trong bức tranh mùa xuân của thi sĩ. Chúng ta có thể nhận thấy nhà thơ miêu tả bướm ong đang sống trong tuần tháng mật, cành xuân thì thành cành tơ đầy sức sống, tiếng hát của yến anh cũng thành điệu tình si rộn ràng. Tất cả vạn vật đều đang trong trạng thái hạnh phúc. Và táo bạo nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” thật gần gũi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của thi sĩ, mùa xuân tựa như một cô gái kiều diễm, hồng hào,tình tứ đầy hấp dẫn.
Nếu trong “Một thời đại thi ca” Thế Lữ,Tản Đà nuôi giấc mộng lên tiên thì Xuân Diệu-nhà trí thức Tây học trẻ lại “ đốt cảnh bông lai xua ai nấy về hạ giới”. Bởi trần thế mới là nơi đẹp nhất. Khu vườn mùa xuân này giống như một thiên đường mà ai cũng mong muốn được tận hưởng. Cái hấp dẫn, cái lãng mạn của thơ Xuân Diệu chính là ở chỗ đó. Như vậy, ở phần đầu bài thơ, bằng cặp mắt”xanh non biếc rờn”, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời và vạn vật có nhiều điểm khác biệt so với các nhà thơ cũ. Thi sĩ đã phát hiện cuộc đời trần thế đẹp đẽ và hấp dẫn biết bao. Thế nhưng không ai có thể sống mãi để tận hưởng mọi lạc thú, năm tháng chảy trôi tuổi xuân thì một đi không trở lại.
Như vậy,Xuân Diệu đã vẽ lên trước măt người đọc cả thế giới sống động, thể hiện “nguồn sống dạt dào”. Bởi thể, nhận định của Hoài Thanh là hoàn toàn đúng đắn khi đã đánh giá chính xác một trong những đặc điểm nổi bật của thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám. Đó là tấm lòng của con người nặng tình với cuộc đời, luôn khao khát gắn bó với đời. Khổ thơ đâu tiên này là điểm xuất phát để từ đó nhà thơ trình bày những quan niệm về thời gian và triết lí sống vội vàng ở khổ 2 và 3.
Xuân Diệu là một hồn thơ yêu đời và tài hoa. Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm tưởng người đọc một bức tranh thiên nhiên nơi trần thế tuyệt đẹp. Đó chính là “nguồn sống dạt dào” mà nhà thơ đã truyền cho mỗi chúng ta. Đọc thơ Xuân Diệu giúp ta có cái nhìn mới mẻ về cuộc đời, cho ta niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Chính thế đã làm nên những giá trị lớn lao trong thơ Xuân Diệu.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Em nhận thức như thế nào về đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
|
Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ “Tố Hữu”. Từ đó, em rút ra cho mình bài học cần thiết trong cuộc sống
Gợi ý
Trong bài “Câu chuyện thơ”, Tố Hữu đã viết như sau về bài thơ “Từ ấy”: “Từ ấy” là một tàm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sông, dám đấu tranh”. Và quả thực, có thể tìm thấy trong bài thơ tiếng reo ca của một người trong niềm hạnh phúc vô biên:
“Từ ấy trong tôi bửng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
(Từ ấy – Tố Hữu)
Tố Hữu được giác ngộ và bắt đầu hoạt động cách mạng từ năm 1937. Tháng 7/1938 là thời điểm nhà thơ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. “Từ ấy” chính là cái mốc đánh dấu thời điểm đó. Và khổ thơ đầu là khổ thơ diễn tả niềm vui sướng say mê khi gặp lí tưởng của đảng. Hai câu thơ đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình. “Từ ấy” là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu, khi đó nhà thơ mới 18 tuổi. Cánh cửa “Từ ấy” trở nên kì diệu, thiêng liêng bởi nó mở ra những điều mới mẻ, lạ lẫm, bất ngờ chưa từng có trước đó. Nó trở thành thời điểm có ý nghĩa khai sinh, bước ngoặt. Và sau “Từ ấy”, tất cả mọi thứ đã thay đổi, tươi sáng. “Nắng hạ” và “mặt trời chân lí chói qua tim” là những hình ảnh ẩn dụ gắn liền với lí tưởng cách mạng. Nó được nhắc đến với một niềm xúc động thành kính thiêng liêng, là những hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc. Mặt trời gợi lên nguồn sáng ấm nóng, rực rỡ, bất diệt. Nắng hạ mãnh liệt dồi dào. Nhắc đến nắng hạ và mặt trời người ta thường nghĩ đến những sức mạnh có tác dụng sưởi ấm con người và tâm hồn của họ. Nếu mặt trời của đời thường toả sáng, hơi ấm và sức sống thì Đảng cũng là nguồn sáng diệu kì toả ra những tư tưởng đúng đắn, định hướng con người. Đó là một cách gọi thành kính, ân tình. Ta có thể bắt gặp hình ảnh này trong rất nhiều những bài thơ khác nữa của nhà thơ khi viết về lí tưởng. Lí tưởng cách mạng đến với nhà thơ như một nguồn ánh sáng chói loà xoá tan màn đêm tăm tối, chấm dứt những ngày tháng “không đổi nhưng mà trôi cứ trôi” của người thanh niên trí thức tiểu tư sản. Phút giây bắt gặp lí tưởng trở thành “bừng nắng hạ”, “chói qua tim”. Những động từ mạnh “bừng”, “chói” cho thây ảnh hưởng lớn lao của nguồn sáng chân lí mới đến với nhà thơ: ánh sáng chân lí đã xua tan sương mù trong ý thức người tư sản và mở ra trong họ những chân trời mới.Xem thêm: Hãy phân tích tâm trạng người ra đi trong bài thơ Tống biệt hành cùa Thâm Tâm Mặt trời ánh sáng đem lại sự sông. Và tâm hồn nhà thơ đã hoá thành một khu vườn tưng bừng sức sông trong hình ảnh so sánh:
“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Bút pháp lãng mạn cùng với biện pháp so sánh đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với cách mạng. Niềm vui hoá thành âm thanh rộn ràng như chim hót, thành sắc lá, sắc hoa tơi xanh, thành hương hoa lan toả ngọt ngào. Lối vắt dòng từ câu trước sang câu sau khiến cho ý thơ cũng như hình ảnh thơ như lan tràn, bao bọc khắp nơi. Và lời thơ trở thành một lời reo vui, phấn khởi tỏ bày. Đối với khu vườn, còn gì đáng quí hơn ánh mặt trời ấm áp chiếu sáng? Và đốì với tâm hồn người thanh niên, còn gì đáng quí hơn khi có một lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt? Phải hiểu hết tâm sự của nhà thơ trước thời điểm ẩy ta mới hiểu sâu sắc ý nghĩa của cuộc gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời này đối với tác giả:
“Đâu những ngày xa tôi nhớ tôi
Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi dòng quanh quẩn
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”.
Bao băn khoăn, “vẩn vơ”, bế tắc phút chốc được khai quang bởi “Mặt trời chân lí chói qua tim”, hoá thành niềm vui dạt dào bay bổng trên đôi cánh của trí tưởng tượng:Xem thêm: Giới thiệu về quê hương em“Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
Say đồng hương nắng vui ca hát
Trên chín tầng cao bát ngát trời”
Đảng thực sự đã là một mùa xuân để mang lại mùa xuân cho bao tâm hồn khác. Niềm say mê, vui sướng của nhà thơ tù khi bắt gặp lí tưởng của đảng đó cũng chính là một lời biết ơn giành cho Đảng. Cách mạng với nghệ thuật mà trái lại, đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại cảm hứng mới cho hồn thơ. Đảng đã cho không chỉ cái tôi ấy mà còn cả biết bao tâm hồn khác nữa được “sáng mắt, sáng lòng”.
Đọc khổ thơ cũng như cả bài thơ, mỗi chúng ta đều cảm thấy sâu sắc hơn ý nghĩa và vai trò của Đảng đối với lịch sử dân tộc, với cuộc sống và sự tiến bộ trong cuộc sống dân tộc mà thêm yêu, thêm tự hào và cố gắng phân đấu để luôn xứng đáng, để cho “mặt trời chân lí” ấy ngày càng toả sáng. Suy ngẫm về niềm hân hoan của người thanh niên trẻ tuổi, ta nhận lại cho mình nhiều bài học cần thiết và có ý nghĩa trong cuộc sống. Phải có một lí tưởng và thái độ sống đúng đắn người thanh niên kia mới có thể nhận ra được ánh sáng trên con đường cách mạng. Con đường ây dù hứa hẹn phía trước rất nhiều gian khổ nhưng con người vẫn vững tin vào một ngày mai tươi sáng. Đó là điều cần thiết trong mọi thời đại. Xã hội ngày càng phát triển cùng với nó là những biến ảo không ngờ. Là một người có bản lĩnh con người phải có ý thức phân biệt phải trái rõ ràng, sáng suốt nhận và và lựa chọn cho mình một con đường, một hướng đi đúng đắn. Cái “bừng nắng hạ” của Tố Hữu là một phút giây đốn ngộ huy hoàng. Tìm ra được lẽ sống đúng đắn cho mình, con người ta cũng sẽ có được những phút giây vui sướng như vậy. Đối với những người trẻ tuổi, hiểu được những điều ấy vô cùng ý nghĩa. Hơn thế nữa, đó còn là một bài học về cuộc đời. Cuộc đời chỉ thực sự đẹp và có ý nghĩa khi con người ta biết khám phá ra vẻ đẹp và biết cách để tận hưởng nó. Phải biết mở rộng lòng mình ra để đón nhận tất cả những vang động của cuộc đời, mở rộng lòng để thấy cuộc đời thật đẹp và luôn đầy ắp những điều đáng cho ta mơ ước, đáng cho ta phân đấu. Khổ thơ mang đến cho người ta ví dụ về một lối sống đích thực, một niềm vui sống khi có tìm được lí tưởng sống đúng đắn để ta biết cô gắng hơn trong cuộc sống hiện tại này.Xem thêm: Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua "Nghệ thuật băm thịt gà" (Trích Việc làng)“Từ ấy” là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng cộng sản. Niềm vui sướng của anh thể hiện ngay trong những dòng đầu của bài thơ là một niềm hạnh phúc vô bờ bến, là động lực để anh cống hiến và ngày càng cống hiến nhiều hơn cho Đảng, cho cuộc sống, để sự sống trở nên có ý nghĩa. Bài thơ mang lại cho mỗi người đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta bài học cần thiết trong cuộc sống, để cuộc sống của ta cũng trở nên có ý nghĩa hơn, để ta cũng sẽ được đón nhận những niềm vui như Tố Hữu từng đón nhận:
“Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ “Tố Hữu”. Từ đó, em rút ra cho mình bài học cần thiết trong cuộc sống
Gợi ý
Trong bài “Câu chuyện thơ”, Tố Hữu đã viết như sau về bài thơ “Từ ấy”: “Từ ấy” là một tàm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sông, dám đấu tranh”. Và quả thực, có thể tìm thấy trong bài thơ tiếng reo ca của một người trong niềm hạnh phúc vô biên:
“Từ ấy trong tôi bửng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
(Từ ấy – Tố Hữu)
Tố Hữu được giác ngộ và bắt đầu hoạt động cách mạng từ năm 1937. Tháng 7/1938 là thời điểm nhà thơ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. “Từ ấy” chính là cái mốc đánh dấu thời điểm đó. Và khổ thơ đầu là khổ thơ diễn tả niềm vui sướng say mê khi gặp lí tưởng của đảng. Hai câu thơ đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình. “Từ ấy” là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu, khi đó nhà thơ mới 18 tuổi. Cánh cửa “Từ ấy” trở nên kì diệu, thiêng liêng bởi nó mở ra những điều mới mẻ, lạ lẫm, bất ngờ chưa từng có trước đó. Nó trở thành thời điểm có ý nghĩa khai sinh, bước ngoặt. Và sau “Từ ấy”, tất cả mọi thứ đã thay đổi, tươi sáng. “Nắng hạ” và “mặt trời chân lí chói qua tim” là những hình ảnh ẩn dụ gắn liền với lí tưởng cách mạng. Nó được nhắc đến với một niềm xúc động thành kính thiêng liêng, là những hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc. Mặt trời gợi lên nguồn sáng ấm nóng, rực rỡ, bất diệt. Nắng hạ mãnh liệt dồi dào. Nhắc đến nắng hạ và mặt trời người ta thường nghĩ đến những sức mạnh có tác dụng sưởi ấm con người và tâm hồn của họ. Nếu mặt trời của đời thường toả sáng, hơi ấm và sức sống thì Đảng cũng là nguồn sáng diệu kì toả ra những tư tưởng đúng đắn, định hướng con người. Đó là một cách gọi thành kính, ân tình. Ta có thể bắt gặp hình ảnh này trong rất nhiều những bài thơ khác nữa của nhà thơ khi viết về lí tưởng. Lí tưởng cách mạng đến với nhà thơ như một nguồn ánh sáng chói loà xoá tan màn đêm tăm tối, chấm dứt những ngày tháng “không đổi nhưng mà trôi cứ trôi” của người thanh niên trí thức tiểu tư sản. Phút giây bắt gặp lí tưởng trở thành “bừng nắng hạ”, “chói qua tim”. Những động từ mạnh “bừng”, “chói” cho thây ảnh hưởng lớn lao của nguồn sáng chân lí mới đến với nhà thơ: ánh sáng chân lí đã xua tan sương mù trong ý thức người tư sản và mở ra trong họ những chân trời mới.Xem thêm: Hãy phân tích tâm trạng người ra đi trong bài thơ Tống biệt hành cùa Thâm Tâm Mặt trời ánh sáng đem lại sự sông. Và tâm hồn nhà thơ đã hoá thành một khu vườn tưng bừng sức sông trong hình ảnh so sánh:
“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Bút pháp lãng mạn cùng với biện pháp so sánh đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với cách mạng. Niềm vui hoá thành âm thanh rộn ràng như chim hót, thành sắc lá, sắc hoa tơi xanh, thành hương hoa lan toả ngọt ngào. Lối vắt dòng từ câu trước sang câu sau khiến cho ý thơ cũng như hình ảnh thơ như lan tràn, bao bọc khắp nơi. Và lời thơ trở thành một lời reo vui, phấn khởi tỏ bày. Đối với khu vườn, còn gì đáng quí hơn ánh mặt trời ấm áp chiếu sáng? Và đốì với tâm hồn người thanh niên, còn gì đáng quí hơn khi có một lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt? Phải hiểu hết tâm sự của nhà thơ trước thời điểm ẩy ta mới hiểu sâu sắc ý nghĩa của cuộc gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời này đối với tác giả:
“Đâu những ngày xa tôi nhớ tôi
Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi dòng quanh quẩn
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”.
Bao băn khoăn, “vẩn vơ”, bế tắc phút chốc được khai quang bởi “Mặt trời chân lí chói qua tim”, hoá thành niềm vui dạt dào bay bổng trên đôi cánh của trí tưởng tượng:Xem thêm: Giới thiệu về quê hương em“Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
Say đồng hương nắng vui ca hát
Trên chín tầng cao bát ngát trời”
Đảng thực sự đã là một mùa xuân để mang lại mùa xuân cho bao tâm hồn khác. Niềm say mê, vui sướng của nhà thơ tù khi bắt gặp lí tưởng của đảng đó cũng chính là một lời biết ơn giành cho Đảng. Cách mạng với nghệ thuật mà trái lại, đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại cảm hứng mới cho hồn thơ. Đảng đã cho không chỉ cái tôi ấy mà còn cả biết bao tâm hồn khác nữa được “sáng mắt, sáng lòng”.
Đọc khổ thơ cũng như cả bài thơ, mỗi chúng ta đều cảm thấy sâu sắc hơn ý nghĩa và vai trò của Đảng đối với lịch sử dân tộc, với cuộc sống và sự tiến bộ trong cuộc sống dân tộc mà thêm yêu, thêm tự hào và cố gắng phân đấu để luôn xứng đáng, để cho “mặt trời chân lí” ấy ngày càng toả sáng. Suy ngẫm về niềm hân hoan của người thanh niên trẻ tuổi, ta nhận lại cho mình nhiều bài học cần thiết và có ý nghĩa trong cuộc sống. Phải có một lí tưởng và thái độ sống đúng đắn người thanh niên kia mới có thể nhận ra được ánh sáng trên con đường cách mạng. Con đường ây dù hứa hẹn phía trước rất nhiều gian khổ nhưng con người vẫn vững tin vào một ngày mai tươi sáng. Đó là điều cần thiết trong mọi thời đại. Xã hội ngày càng phát triển cùng với nó là những biến ảo không ngờ. Là một người có bản lĩnh con người phải có ý thức phân biệt phải trái rõ ràng, sáng suốt nhận và và lựa chọn cho mình một con đường, một hướng đi đúng đắn. Cái “bừng nắng hạ” của Tố Hữu là một phút giây đốn ngộ huy hoàng. Tìm ra được lẽ sống đúng đắn cho mình, con người ta cũng sẽ có được những phút giây vui sướng như vậy. Đối với những người trẻ tuổi, hiểu được những điều ấy vô cùng ý nghĩa. Hơn thế nữa, đó còn là một bài học về cuộc đời. Cuộc đời chỉ thực sự đẹp và có ý nghĩa khi con người ta biết khám phá ra vẻ đẹp và biết cách để tận hưởng nó. Phải biết mở rộng lòng mình ra để đón nhận tất cả những vang động của cuộc đời, mở rộng lòng để thấy cuộc đời thật đẹp và luôn đầy ắp những điều đáng cho ta mơ ước, đáng cho ta phân đấu. Khổ thơ mang đến cho người ta ví dụ về một lối sống đích thực, một niềm vui sống khi có tìm được lí tưởng sống đúng đắn để ta biết cô gắng hơn trong cuộc sống hiện tại này.Xem thêm: Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua "Nghệ thuật băm thịt gà" (Trích Việc làng)“Từ ấy” là tâm nguyện của người thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng cộng sản. Niềm vui sướng của anh thể hiện ngay trong những dòng đầu của bài thơ là một niềm hạnh phúc vô bờ bến, là động lực để anh cống hiến và ngày càng cống hiến nhiều hơn cho Đảng, cho cuộc sống, để sự sống trở nên có ý nghĩa. Bài thơ mang lại cho mỗi người đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta bài học cần thiết trong cuộc sống, để cuộc sống của ta cũng trở nên có ý nghĩa hơn, để ta cũng sẽ được đón nhận những niềm vui như Tố Hữu từng đón nhận:
“Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích lý do vì sao bài thơ Nam quốc sơn hà có thể ví như bản tuyên ngôn độ lập
Hướng dẫn
Bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ của Lí Thường Kiệt gắn liền với chiến thắng Sông Cầu năm 1076 của quân dân Đại Việt đánh bại giặc Tống xàm lược.
Hai câu thơ đầu khẳng định núi sông nước Nam là chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt, là nơi ‘vua Nam ở’, đã được ghi rõ ở,sách Trời:
Núi sông Nam Việt vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở’
Hai câu thơ 3, 4 thể hiện lòng căm thù hành động xâm lược phi nghĩa đầy tội ác của giặc Tống, cảnh cáo quân giặc nhất định sẽ bị nhân dân ta đánh bại. Nhà thơ đã nêu cao lòng yêu nước và sức mạnh Đại Việt quyết tâm chiến đấu bảo vệ sông núi nước Nam của dân tộc ta:
‘Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất định phải tan vỡ’
Tóm lại, bài thơ của Lí Thường Kiệt đã khẳng định chủ quyền của đất nước ta, nêu cao quyết tâm của nhân dân ta đánh thắng quân xâm lược để bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Dó đó bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ mang ý nghĩa lịch sử trọng đại như bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Đại Việt.
Nguồn:
Xem thêm: Phát biểu suy nghĩ của em về niềm vui, nổi buồn tuổi thơ hoặc tình cảm với một món đồ chơi
|
Analyze the reason why the poem Nam Quoc Son Ha can be compared to a declaration of independence
Instruct
Ly Thuong Kiet's poem 'Southern Rivers and Mountains' is associated with the Song Cau victory in 1076 of Dai Viet's army and people defeating the Song invaders.
The first two verses affirm that the mountains and rivers of the South are the sacred sovereignty of Dai Viet, the place where 'the king of the South lives', as clearly recorded in the Book of Heaven:
The mountains and rivers of Nam Viet, the king of Nam in Vang Vac, heaven and earth divide the land'
The two verses 3 and 4 express hatred for the unjust and criminal invasion of the Song enemy, warning that the enemy will definitely be defeated by our people. The poet highlighted Dai Viet's patriotism and strength, determined to fight to protect the rivers and mountains of our nation in the South:
'Why did the evil enemy commit this crime?
You must be broken'
In short, Ly Thuong Kiet's poem affirmed our country's sovereignty and highlighted our people's determination to defeat the invaders to protect our beloved Fatherland. Therefore, the poem 'Southern Rivers and Mountains' has great historical significance like Dai Viet's first Declaration of Independence.
Source:
See more: Express your thoughts about joy, sadness of childhood or feelings for a toy
|
Phân tích một bài thơ (thơ văn nước ngoài) đã đem đến cho em nhiều cảm xúc
Gợi ý
Mùa gieo hạt, buổi chiều
V. Huy-gô (1802 – 1885)
Đây là lúc hoàng hôn,
Tôi ngồi dưới cửa lớn,
Ngắm ánh rớt chiều soi
Giờ cuối cùng làm lụng.
Trên ruộng tắm bống thâm
Tôi cảm nhìn áo rách
Một ông lão đang tung
Gieo mùa sau xuống đất.
Bóng ông già cao thẫm
Giẫm trên rãnh cày sâu.
Chắc ông tin tưởng lắm
Vào ngày tháng ruổi mau.
Ông đi trên đồng rộng
Qua lai, ném hạt xa
Mở tay rồi lại vúc
Tôi trầm mặc nhìn ra.
Trong lúc đêm giăng màn,
Bóng mờ mờ xao xác,
Như nâng đến sao xa
Nét tay người gieo hạt.
(Bản dịch thơ)
Ngoài tiểu thuyết và kịch, Huy-gô còn để lại nhiều thi phẩm thể hiện một bút pháp tài hoa lãng mạn. Bài thơ "Mùa gieo hạt, buổi chiều ” rất quen thuộc với chúng ta. Thi sĩ Xuân Diệu đã dịch thành thơ 5 tiếng, và ông đã nói về bài thơ này bằng những lời tốt đẹp nhất:
“Sau bản trường ca lớn về những thế kỉ, viết bằng thể thơ 12 tiếng nghiêm trang, Huy-gô cảm thấy cần phái dắt con thiên lí mã của mình cho nó đi ăn cỏ một cách đơn sơ trên cánh đồng xanh tươi, nhà thơ cho ra đời một tập thơ chủ yếu viết bằng thể thơ 8 tiếng với những đề tài đon đả, nhanh nhẹn: Những khúc ca đường phố và núi rừng. Điển hình là bài "Mùa gieo hạt, buổi chiều". Người gieo hạt cùng tượng trưng cho nhà văn, nhà tư tưởng…".Xem thêm: Cảm nhận của em về nhân vật Đổng Mẫu qua trích đoạn "Đổng Mẫu" từ Hồi III tuồng "Sơn Hậu" Mở đầu bài thơ là cảnh tượng hoàng hôn. Màn đêm buông dần xuống cảnh vật. Một chút ánh sáng lờ mờ còn rớt lại đó đây. Thi sĩ ngồi trầm ngâm ngắm nhìn ra xa về phía cánh đồng:
"đấy là lúc hoàng hôn
Tôi ngồi dưới cửa lớn
Ngắm ánh rớt chiều soi
Giờ cuối cùng làm lụng ”
Câu thứ tư như một điểm dừng, diễn tả suy ngẫm nhà thơ: ngày đã tàn, mọi người lao động bắt đầu nghỉ ngơi. Thế nhưng, trên cánh đồng, trên thửa ruộng bóng đêm phủ mịt mùng, một lão nông vẫn gieo hạt. Áo quần rách của người gieo hạt để lại nhiều xúc động cho nhà thơ. Câu thơ tiếng Pháp đà ghi rõ tâm tình Huy-gô: ‘Tôi lặng ngắm, cảm động, những quần áo rách…" – Câu thơ thể hiện tấm lòng xót thương và đồng cảm của nhà thơ đối với người nông dân nghèo:
“Trên ruộng tắm bóng thâm
Tôi cảm nhìn áo rách
Một ông lão đang tung
Gieo mùa sau xuống đất ”
Bóng thâm, áo rách, những gian khổ và đói nghèo. Bất chấp tất cả. Vẫn cần mẫn làm ăn. Gieo hạt cho mùa sau cũng là gieo mầm cho sự sống, cho hi vọng, cho ấm no ngày mai.
Khổ thơ thứ ba có một nét vẽ rất đậm. rất khỏe về lão nông. Cao lớn và dẻo dai hiện lên trong bóng đêm, trên những luống cày sâu, hình ảnh người gieo hạt thật đáng yêu vô cùng. Ông sống mạnh mẽ với niềm tin, với hi vọng, với ngày mai. Chính giọt mồ hôi và sức lao động cần cù đà cho lão nông niềm tin đẹp đẽ ấy. Cũng là cái ý "ba tháng trồng cây, một ngày hái quả”, Huy-gô có một cách nói đậm đà: Lấy thời gian để thể hiện niềm tin và hi vọng: "Bóng ông già cao thâm – Giẫm trên rãnh cày sâu – Chắc ông tin tướng lắm – Vào ngày tháng ruổi mau". Tin vào ngày mai là tin vào cảnh được mùa, cảnh ấm no. Huy-gô đã có một cách nhìn rất sâu vào tâm hồn người gieo hạt. Cái tâm của nhà thơ đẹp đẽ và trong sáng.Xem thêm: Suy nghĩ của anh chị về vấn đề: Việt Nam và con đường phát triển khoa học công nghệ Động tác người gieo hạt, từ bước đi lại qua đến bàn tay khéo léo “vung” và “mở” rất nhịp nhàng, thành thục. Cánh đồng rộng mênh mông và màn đêm càng làm cho người gieo hạt thêm hùng vĩ. Đức tính cần mẫn, đôi bàn tay khéo léo như được khẳng định, ngợi ca. Nhà thơ "trầm ngâm" ngắm nhìn, dõi theo, lòng vô cùng xúc động. Một cái nhìn "trầm mặc" đầy tình người, rất nhân bản. Các động từ diễn tả động tác gieo hạt rất chính xác và chọn lọc tinh tế:
“Ông đi trên đồng rộng,
Qua lại, ném hạt xa,
Mở tay, rồi lại vúc
Tôi trầm mặc nhìn ra ”
Bốn khổ thơ đầu, hầu như khổ thơ nào cũng thể hiện một cái nhìn chăm chú, xúc động, vừa trân trọng vừa khâm phục của nhà thơ. Lúc thì "Ngắm ánh rớt chiều soi". Lúc thì "Tôi cảm nhìn áo rách". Và về sau "Tôi trầm mặc nhìn ra". Khổ 4 nói lên suy ngẫm của Huy-gô. Câu thơ đầy ánh sáng. Ánh sao đêm. Có tiếng lao xao của hạt giống bay trong màn đêm. Bóng dáng người gieo hạt vô cùng uy nghi. Cả hạt giống, cả cánh tay lão nông như vươn tới các vì sao. Và đó cũng là ước mơ, là niềm tin và hi vọng. Thủ pháp tương phản và đối lập được Huy-gô sử dụng rất thần tình. Tương phản với bóng đêm phù dày trên cánh đồng là ánh sáng của bầu trời sao, và đó cũng là ánh sáng niềm tin tưởng lạc quan được ngợi ca và khẳng định:Xem thêm: Em hãy giải thích nội dung và ý nghĩa lời khuyên của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”"Trong lúc đêm giăng màn,
Bóng mờ mờ xao xác
Như nâng đến sạo xa
Nét tay người gieo hạt"
Đâu chỉ riêng nhà nông gieo hạt? Nhà thơ gợi ra, mở ra trong lòng người đọc những tình cảm đẹp đối với những người gieo hạt trong cuộc đời. Theo Xuân Diệu, người gieo hạt tượng trưng cho nhà văn, nhà tư tưởng. Còn rộng hơn thế nữa? Bài thơ nhắc nhở chúng ta phải biết sống trong tình đời. Phải nhớ ơn người gieo hạt. Phải chuẩn bị tốt mọi khả năng để làm người trồng cây, gieo hạt cho mùa sau. "Mùa gieo hạt, buổi chiều " là một bài thơ hay, nhiều nhã thú.
Vanmau.edu.vn
|
Analyzing a poem (foreign poetry) has brought me many emotions
Suggest
Sowing season, afternoon
V. Hugo (1802 – 1885)
This is sunset time,
I sit under the big door,
Watching the falling afternoon light
Last hour of work.
In the field, bathing in dark water
I feel like my shirt is torn
An old man is tossing
Sow the next crop in the ground.
The shadow of a tall, dark old man
Stepping on deep furrows.
You must trust him a lot
On days that pass quickly.
He walked across the wide field
Through hybrid, throw seeds far away
Open your hands and breast again
I looked out silently.
While the curtains are drawn at night,
The shadow is dim and dim,
Like lifting to distant stars
The hand of the sower.
(Poetry translation)
In addition to novels and plays, Huy-go also left behind many poetic works demonstrating a talented romantic style of writing. The poem "Sowing season, afternoon" is very familiar to us. Poet Xuan Dieu translated it into a 5-hour poem, and he spoke about this poem in the best words:
“After the great epic about the centuries, written in solemn 12-hour verse, Huy-go felt the need to take his celestial horse to graze simply in the green fields, the house. Poetry gave birth to a collection of poems written mainly in 8-hour verse with fast, moving themes: Street and mountain songs. A typical example is the song "Sowing season, afternoon". The sower also symbolizes the writer, the thinker...". See more: My feelings about the character Dong Mau through the excerpt "Dong Mau" from Act III of the opera "Son Hau" The beginning of the poem is a scene dusk. Night gradually falls over the landscape. A little dim light remains here and there. The poet sits pensively looking out into the distance:
"It was sunset
I sat under the big door
Watching the falling afternoon light
The last hour of hard work"
The fourth sentence is like a stopping point, expressing the poet's thoughts: the day is over, all workers begin to rest. However, in the field, in the dark field, an old farmer still sowed seeds. The sower's torn clothes left many emotions for the poet. The French poem clearly captures Huy-go's feelings: 'I silently contemplated, moved, the torn clothes...' - The poem shows the poet's compassion and sympathy for the poor farmers:
“The fields are bathed in dark shadows
I feel like my shirt is torn
An old man is tossing
Sow the next season in the ground"
Dark shadows, torn clothes, hardships and poverty. Despite all. Still diligently working. Sowing seeds for the next season is also sowing seeds for life, hope, and prosperity tomorrow.
The third stanza has a very bold stroke. very healthy old farmer. Tall and resilient, appearing in the darkness, on the deep furrows, the image of the sower is extremely lovely. He lived strongly with faith, with hope, with tomorrow. It was the sweat and hard work that gave the old farmer that beautiful belief. Also with the idea of "three months to plant trees, one day to pick fruit", Huy-go has a rich way of saying: Taking time to express faith and hope: "The shadow of a tall old man - Stepping on a deep plow furrow - You must believe in the general very much - In days and months that go quickly." To believe in tomorrow is to believe in a good harvest, a prosperous scene. Huy-go had a very deep insight into the soul of the sower. The heart of the farmer beautiful and pure poetry. See more: Your thoughts on the issue: Vietnam and the path of scientific and technological development. The movements of the sower, from walking back and forth to skillful hands "swinging" and "open" is very rhythmic and mature. The vast field and the night make the sower even more majestic watching, watching, deeply moved. A "quiet" look full of humanity, very human. The verbs that describe the sowing action are very precise and delicately selected:
“He walked through the open fields,
Back and forth, throwing seeds far away,
Open your hands, then breast again
I looked out in silence.”
In the first four stanzas, almost every stanza shows the poet's attentive, emotional, respectful and admiring look. Sometimes "Watching the falling afternoon light". Sometimes "I feel like my shirt is torn". And later, "I silently looked out". Stanza 4 speaks of Huygo's thoughts. The poem is full of light. Starlight at night. There was the sound of seeds flying in the night. The figure of the sower is extremely majestic. Both the seeds and the old farmer's arms seemed to reach for the stars. And that is also the dream, the belief and the hope. The method of contrast and opposition used by Huy-go is very charming. Contrasting with the thick darkness on the fields is the light of the starry sky, and that is also the light of optimistic confidence that is praised and affirmed: See more: Please explain the content and meaning of the advice. Lenin's: "Study, study more, study forever" "While the curtain is drawn at night,
The shadow is blurry
Like lifting to a far distance
The hand of the sower"
Farmers are not the only ones who sow seeds? The poet evokes and opens up in the reader's heart beautiful feelings for those who sow seeds in life. According to Xuan Dieu, the sower represents the writer and thinker. Wider than that? The poem reminds us to know how to live in love. Be grateful to the sower. Must prepare well with all abilities to be a planter and sow seeds for the next season. "Sowing season, afternoon" is a beautiful, interesting poem.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích một đoạn Thơ mà anh (chi) cho là “đậm đà màu sắc dân tộc” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu
Gợi ý
Tính dân tộc là một phạm trù mĩ học, là một thuộc tính tất yếu của vãn học, được coi là tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm văn học. Mỗi nền văn học bao giờ cũng là thành tựu của cả một dân tộc nhất định, dù ít hay nhiều, sâu sắc hay không sâu sắc thì nền văn học bao giờ cũng hiển hiện những nét của dân tộc mình. Tính dân tộc quán triệt khá nhiều mặt của sáng tác vãn học, từ nguồn gốc đến chức năng, từ ngôn ngữ đến thể loại, từ nội dung đến hình thức.
Khi thế giới còn tồn tại nhiều dân tộc thì nền văn học dân tộc nhất định phải có nét riêng, phải có tính dân tộc. Không có một nền văn học nào là phi dân tộc, không có một người nào là phi dân tộc. Văn học có tính dân tộc là một trong những yêu cầu củà người sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ sĩ đòi hỏi phải có ý thức về dân tộc một cách sâu sắc, phản ánh được những truyền thống ý thức của dân tộc. Văn học phản ánh hiện thực, khi đi vào tác phẩm của mỗi nhà văn, bao giờ cũng thấy hiển hiện trước hết là hiện thực của đất nước mình, dân tộc mình.
Tính dân tộc được biểu hiện ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Đề tài là những sự kiện xảy ra trong lịch sử dân tộc, những hiện tượng chính tri của dân tộc; chủ đề ca ngợi lòng yêu nước, khẳng định ý thức, tinh thần dân tộc; nhân vật là những con người điển hình, biểu hiện tập trung tâm lí, tính cách của cả một dân tộc,… đó chính là những yếu tố nội dung in đậm tính dân tộc trong một tác phẩm văn học. Tác phẩm ấy còn phải biểu hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại khi sử dụng linh hoạt những yếu tố hình thức như thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh,…Xem thêm: Em hãy kể lại và phát biểu cảm xúc truyện: “Em bé bán diêm” của Anđecxen Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được thể hiện sinh động, phong phú qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Cách mạng tháng Tám thắng lợi, Tố Hữu đã tham gia, chứng kiến với tư cách là một người chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi, một nhà thơ mang hồn thơ thời đại, bởi thế, thơ ông kết tinh, quy tụ được giá trị nhân văn, sức mạnh tinh thần của dân tộc. Tiếng nói của người nghệ sĩ hòa nhập với cuộc đời chung. Rất khó phân biệt ở thơ Tố Hữu cái riêng, cái chung. Cái chung được miêu tả như những tiếng reo vui của tác giả trước những niềm vui lớn của dân tộc. Tố Hữu là nhà thơ nói được những vui buồn của lịch sử qua những chặng lịch sử dài.
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rùng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".
Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi đế’ gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải là sự lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh đan dệt bởi nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng. Nó không chỉ có nhiều sắc màu mà còn ngập tràn ánh sáng. “Ánh” là một từ rất gợi, hé mở sức sống kì diệu của cảnh và người Việt Bắc. Không thấy con người hiện hữu cụ thể mà chỉ qua hình ảnh “dao gài thắt lưng”, bóng dáng của người lao động vẫn hiện lên đầy bình dị, thân thiết. Bức tranh mùa đông đẹp vẻ đẹp ấm áp từ cảnh vật, và từ trong sức sống lao động của con người.Xem thêm: Phân tích diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vơ nhặt của Kim Lân Mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ, sắc xanh của rừng, tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng của cảnh. Màu trắng của hoa có khả năng bao chiếm không gian, nhấn mạnh sự thanh khiết của cảnh vật. Hình ảnh con người Việt Bắc hiện lên với vẻ dẹp giản dị trong công việc lao động hàng ngày. Chỉ cần hình ảnh rất nhỏ cũng làm sáng vẻ đẹp cần mẫn, bền bỉ, kiên trì của người lao động trong công việc lao động của họ.
Nếu câu thơ mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì câu thơ mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc. Tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui. Sự hòa quyện giữa âm thanh và màu sắc đã tạo nên sự độc đáo cho cảnh vật. Sắc vàng của rừng phách như muốn tràn ra ngoài, ứa nhựa sống nhờ những tác động rộn ràng của tiếng ve. Câu thơ mùa hạ tưng bừng bởi thanh âm, náo nức bởi màu sắc, nhộn nhịp của cuộc sống lao động. Hình ảnh cô em gái hái măng không gợi nên sự lạc lõng, cô đơn mà hiển hiện người lao động bình dị, làm chủ công việc của mình, đã trở thành điểm nhấn cho bức tranh mùa hạ.
Hình ảnh vầng trăng mùa thu hòa bình mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu. Bức tranh ây lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm. Khúc hát ân tình vang lên trong tâm hồn thi sĩ, vọng lại từ rừng thu Việt Bắc kháng chiến. Cái đẹp của thiên nhiên hòa quyện với cái đẹp của con người.Xem thêm: Vai trò của Internet trong cuộc sống hôm nay Đặc sắc hơn cả, bức tranh được nhìn bằng tất cả niềm yêu thương, gợi bằng nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả. Từ “nhớ” được lặp nhiều lần, Tố Hữu qua thơ đã dựng lại một bức tranh Việt Bắc giản dị mà thân thuộc tình người. Sự chọn lọc hình ảnh đầy tài năng, sáng tạo của nhà thơ đã tạo ra một bộ tứ bình độc đáo, hoàn chỉnh. Lời thơ lục bát ngọt ngào, tha thiết làm nỗi nhớ càng thêm sâu nặng.
Vanmau.edu.vn
|
Analysis of a poem that he considers "rich in national color" in To Huu's Viet Bac
Suggest
Ethnicity is an aesthetic category, an indispensable attribute of literature, and is considered a standard for evaluating a literary work. Each literature is always the achievement of a certain nation. Whether more or less, profound or not, literature always shows the characteristics of that nation. Ethnicity thoroughly grasps many aspects of literary composition, from origin to function, from language to genre, from content to form.
When there are still many ethnic groups in the world, national literature must have its own characteristics and be national. There is no non-national literature, no non-national people. Nationalistic literature is one of the requirements of artistic creators. Artists are required to have a deep national consciousness, reflecting the nation's conscious traditions. Literature reflects reality. When entering into the work of each writer, the reality of his country and his people is always evident first and foremost.
Ethnicity is expressed in both content and art aspects. Topics are events occurring in the nation's history, political phenomena of the nation; The theme praises patriotism, affirms national consciousness and spirit; Characters are typical people, expressing the psychology and personality of an entire nation, etc. These are the content elements that imprint the national character in a literary work. The work must also demonstrate a smooth combination of tradition and innovation, ethnicity and modernity when flexibly using formal elements such as genre, language, images, etc. See more: Em Please retell and express your feelings about the story: "The Little Match Girl" by Andecxen. The ethnicity in To Huu's Viet Bac poem is expressed vividly and richly through two aspects of content and art. The victory of the August Revolution, To Huu participated and witnessed as a tireless fighter, a poet with the soul of the era's poetry, therefore, his poetry crystallized and gathered its value. humanistic values, spiritual strength of the nation. The artist's voice integrates with common life. It is very difficult to distinguish in To Huu's poetry the particular and the general. The common is described as the author's shouts of joy at the great joys of the nation. To Huu is a poet who speaks about the joys and sorrows of history through long periods of history.
“I'm back, you miss me
I about, I remember the flowers to him
Green forest with bright red banana flowers
High Pass waist tuck knife sun light
On spring day, apricots bloom bright white
Remember the person knitting the hat and smoothing each thread
Cicadas call out to the amber forest and pour gold
I miss my younger sister picking bamboo shoots alone
The moonlit autumn forest shines peace
Who remembered faithful love singing grace".
The landscape of Viet Bac is portrayed very typically. To Huu borrowed the image of bright red banana flowers to evoke a characteristic feature of Viet Bac winter. Some people think that the image of banana flowers first appeared in To Huu's poetry but has created a special impression on readers. Winter scenes have warmth, brilliance, and freshness, rather than coldness and gloom. The painting is woven with many colors: blue, bright red, yellow. Not only is it colorful, but it's also filled with light. “Light” is a very evocative word, revealing the magical vitality of the landscape and people of Viet Bac. Without seeing a specific human presence, only through the image of a "knife in a belt", the silhouette of a worker still appears simple and friendly. A beautiful winter painting, the warm beauty from the landscape, and from the vitality of human labor. See more: Analyzing the evolution of old lady Tu's mood in Kim Lan's work Picked Up The Viet Bac Spring is evoked coming from the white of apricot blossoms and the green of the forest, creating the pure, poetic beauty of the scene. The white color of flowers has the ability to occupy space, emphasizing the purity of the scene. The image of Viet Bac people appears with a simple look in their daily work. Just a very small image can illuminate the beauty of diligence, perseverance, and perseverance of workers in their labor.
If the spring verse glows with the white color of apricot blossoms, the summer verse echoes the familiar cicadas of the Viet Bac mountains and forests. The sound of cicadas weaves into a bustling, cheerful summer chorus. The blend of sound and color creates a unique scene. The yellow color of the amber forest seems to overflow, oozing with vitality thanks to the bustling effects of the cicadas. The summer poem is jubilant with sound, excited with color, and bustling with working life. The image of the younger sister picking bamboo shoots does not evoke lostness or loneliness, but shows a simple worker, mastering her work, which has become the highlight of the summer painting.
The image of the cool, peaceful autumn moon and the resounding love songs of people brighten up the picture of autumn. This painting is filled with seductive and sexy beauty. The song of love resounds in the poet's soul, echoing from the autumn forests of Viet Bac resistance. The beauty of nature blends with the beauty of humans. See more: The role of the Internet in today's life. Most outstandingly, the painting is seen with all love, evoked by the earnest longing of people. author. The word "remember" is repeated many times. Through poetry, To Huu has recreated a simple but familiar picture of Viet Bac with human love. The poet's talented and creative selection of images has created a unique and complete set of four vases. The sweet and passionate lyrics of the poem make the nostalgia even deeper.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích một đoạn thơ mà anh (chị) thích nhất trong bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Gợi ý
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cùng với các nhà thơ khác như Bằng Việt. Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân. Nguyễn Khoa Điềm nổi tiếng với hai tác phẩm chính là trường ca “Mặt đường khát vọng” và bài thơ “Khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ”. “Đất nước” là một đoạn trích trong trường ca “Mặt đường khát vọng” và cũng là trọng tâm của tác phẩm này. “Đất nước” với tư tưởng Đất nước của nhân dân đã cho ta thấy được tình yêu thương vô bờ bến của nhà thơ cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam đôi với Tổ quốc mình, đặc biệt là 9 câu thơ:
“…Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng”
Đất nước được hình thành trong chiều rộng của không gian và qua chiều dài của thời gian. Đất nước là những gì ta có thể bắt gặp ngay trong cuộc sống mỗi gia đình, mỗi con người: trong câu truyện cổ tích mẹ kể, trong miếng trầu bà ăn, hạt gạo ta trồng, ngôi nhà ta ở. Nguyễn Khoa Điềm khi nói về sự trường tồn của đất nước không hề sử dụng đến các sô liệu mà lại nhắc đến những gì rất đỗi thân thuộc trong đời sôhg của nhân dân, được gợi ra từ những chất liệu của văn hóa dân gian, ca dao, tục ngữ.Xem thêm: Thuyết minh về vai trò của cây cối bảo vệ môi trường sống Nhà thơ đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về đất nước và sự trường tồn của nó trong “thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông”. Trên chiều rộng của không gian địa lí và lịch sử, đất nước được thể hiện tập trung trong các bình diện văn hóa, phong tục, truyền thống tinh thần của dân tộc, trong đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng.
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những câu chuyện “Ngày xửa, ngày xưa mẹ thường hay kể”
Mạch thơ dần đến những suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi con người đốì với đất nước, những câu thơ tiếp theo như những tâm sự thủ thỉ từ chính nỗi lòng tác giả đối với thế hệ trẻ:
“Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất nước
Khi hai đứa nắm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”
Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, Tổ quốc, dân tộc… luôn là những khái niệm trừu tượng. Với nhà thơ trẻ đang đô’i mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết. Điều này chưa hẳn đã mới, trong ca dao, dân ca có không ít những câu hát như thế:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao".
Quê hương là tất cả những gì gắn bó ruột rà với con người. Bó là nơi ta yêu tha thiết. Đó là buổi sáng làm đồng. Đó là từng miếng ãn quê kiểng mỗi ngày… Song, cái mới ở khổ thơ của Nguyễn Khoa Điềm là Đất Nước ở trong mỗi một con người, Đất Nước ở trong ta: “Trong anh và em… Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm… Đất Nước là máu xương của mình”. Đó là nhận thức mới về đất nước:Xem thêm: Phân tích bài thơ Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị qua bản dịch của Phan Huy Thực“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”
Cái cầm tay là sự thân thiết, tin cậy, yêu thương Ịẫn nhau. Hình ảnh ấy đi liền với những tính từ chỉ mức độ, đó là hài hoà, là nồng thăm, là vẹn tròn, là to lớn. Bởi vậy, dù ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức nặng của tình cảm chân thành. An sâu trong câu thơ đó, Nguyễn Khoa Điềm dường như vẫn ấp ủ một ý niệm. Đó là Đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải một giá trị bất biến, có sẵn. Đất nước là một thực thể sống và sự sông ấy ra sao ở về phía tất cả những con người trong đất nước đó. Đất nưđc – chính là mối liên hệ giữa cá nhân với cộng đồng, với con người với Tổ quốc.
Tình yêu Tổ quốc đó đã được ấp ủ và vun trồng từ thế hệ này qua thế hệ khác, là khát khao, là niềm tin, là hi vọng vào thế hệ mai sau — thế hệ sẽ đem Đất nước đi sánh vai cùng năm châu:
“Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng…
Đất nưởc không chỉ có ngày hôm qua và hôm nay. Đất nước của ngày mai. Từng thế hệ kế tiếp sẽ lắm cho Đất nước trường tồn mãi mãi nhờ bàn tay, khối óc và sức mạnh cua sự đoàn kết toàn dân. Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến khốc liệt thời bấy giờ, ta còn thấy ở những câu thơ trên còn là một khát vọng: Đất nước sẽ hoà bình, đất nước sẽ tươi đẹp và còn nhiều hơn thế nữa.Xem thêm: Theo anh (chị), nữ sinh nên mặc áo dài truyền thống hay đồng phục hiện đại Đoạn thơ trên là một đoạn thơ hay trong bài “Đất Nước”. Nhà thơ đã thể hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình về đất nước bằng một giọng trữ tình, ngọt ngào. Câu chuyện về đất nước đối với mỗi người luôn là câu chuyện của trái tim, vừa thiêng liêng, cạo cả, cũng vừa gắn bó, thân thiết. Từ suy nghĩ và tình cảm ấy, khi đối diện với kẻ thù của dân tộc, hẳn người ta phải biết làm gì cho Tổ quốc, giang sơn. Ngày nay, đất nước đã sạch bóng quân thù. Nhưng trách nhiệm của mỗi công dân đối với đất nước vẫn rất cần đặt ra thường xuyên, bởi đó là câu chuyện không bao giờ cũ. Thế hệ trẻ chúng ta luôn phấn đấu hết mình để đem “Đất nước đi xa/ Đến những tháng ngày mơ mộng”.
Vanmau.edu.vn
|
Analyze a poem that you like the most in the poem "Country" by Nguyen Khoa Diem
Suggest
Poet Nguyen Khoa Diem belongs to the generation of writers who grew up during the resistance war against America along with other poets such as Bang Viet. Pham Tien Duat, Le Anh Xuan. Nguyen Khoa Diem is famous for two main works: the epic "Road of Desire" and the poem "Lullaby for the babies on their mothers' backs". “Country” is an excerpt from the epic poem “Road of Desire” and is also the focus of this work. "Country" with the ideology of the People's Country has shown us the boundless love of the poet as well as the entire Vietnamese people for their Fatherland, especially the 9 verses:
“…In you and me today
Everyone has a part of the Country
When two people hold hands
The Country within us is passionately harmonious
When we hold people's hands
The country is perfect and big
Tomorrow my child will grow up
I will take the Country far away
To the dreamy days"
The country is formed across the breadth of space and across the length of time. Country is what we can encounter right in the life of every family and every person: in the fairy tales our mother tells us, in the betel nut she eats, in the rice we plant, in the house we live in. Nguyen Khoa Diem, when talking about the longevity of the country, does not use data but refers to things that are very familiar in the people's lives, suggested from materials of folk culture, folk songs and proverbs. See more: Explanation about the role of trees in protecting the living environment. The poet has given us a comprehensive view of the country and its longevity in "long time". , immense space". Across the breadth of geographical and historical space, the country is expressed centrally in the cultural aspects, customs, and spiritual traditions of the nation, in the daily life of each individual and the whole community. copper.
“When I grew up, the country already existed
The country is in the stories "Once upon a time, my mother often told me"
The flow of the poem gradually leads to reflections on each person's responsibility towards the country. The following verses are like whispering confessions from the author's own heart towards the younger generation:
“In you and me today
Everyone has a part of the Country
When two people hold hands
Our country is harmonious and passionate."
For a long time, in the minds of many people, country, homeland, Fatherland, nation... have always been abstract concepts. For the young poet who is facing a fierce war of death and death, the country is close and intimate. This is not necessarily new, in folk songs and folk songs there are many verses like that:
“When I go, I miss my hometown
Remember the vegetable soup memorized bitter bean soup
Remember who is soaking in the sun and dew
Remember who splashed water on the side of the road that day?
Homeland is everything that is closely related to people. Bo is the place we love dearly. It was the morning of working in the fields. That is every piece of ornamental countryside food every day... However, what is new in Nguyen Khoa Diem's poem is that the Country is in every person, the Country is in us: "In you and me... The Country in us is harmonious." passionately... Country is my blood and bones". That is a new awareness of the country: See more: Analysis of the poem Pipa Hanh by Bach Cu Di through Phan Huy Thuc's translation "When two people hold hands
The Country within us is passionately harmonious
When we hold people's hands
The country is perfect and big"
Holding hands means intimacy, trust, and mutual love. That image is accompanied by adjectives indicating degree, which are harmony, intensity, completeness, and greatness. Therefore, although the meaning is not too new, those verses have the weight of sincere feelings. Deep in that verse, Nguyen Khoa Diem still seems to cherish an idea. That is, Country is not an abstract concept, nor is it an immutable, available value. A country is a living entity and how it lives depends on all the people in that country. Land - is the connection between individuals and communities, people and the Fatherland.
That love for the Fatherland has been cherished and cultivated from generation to generation, a desire, a belief, and a hope for the next generation - the generation that will bring the Country alongside the five continents. :
“Tomorrow my child will grow up
I will take the Country far away
To those dreamy days...
The country is not just yesterday and today. The country of tomorrow. Each succeeding generation will make the country last forever thanks to the hands, minds and strength of the solidarity of the entire people. In the context of the fierce resistance war at that time, we also see in the above verses an aspiration: The country will be peaceful, the country will be beautiful and much more. See more: According to you ( sisters), female students should wear traditional ao dai or modern uniforms. The above poem is a good poem in the song "Country". The poet expressed his new thoughts about the country in a sweet, lyrical voice. The story of the country for each person is always a story of the heart, both sacred and whole, but also close and intimate. From that thought and feeling, when facing the enemy of the nation, one must know what to do for the Fatherland and the country. Today, the country is clear of enemies. But the responsibility of each citizen towards the country still needs to be raised regularly, because it is a story that never gets old. Our young generation always strives hard to take "The country far away / To the dreamy days".
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích một đặc điểm mà anh (chị) cho là đặc sắc nhất trong “ông già và biển cả”
Gợi ý
Hêminguây (1899 – 1961) là văn hào Mĩ, được Giải thưởng Nobel về văn chương năm 1954. Từng tham gia Thố chiến I, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha và Thế chiến II với tư cặch là người lính, là phóng viên mặt trận, ông để lại dấu ấn trong cả 3 thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. Có tác phẩm nói lên tâm trạng một thế hệ thanh niên trong và sau chiến tranh như “Giã từ vũ khí”. Có tác phẩm kể chuyện săn bắn, đấu bò như “Chết vào buổi chiều”, “Những ngọn đồi xanh châu Phi”,… Với 2 kiệt tác “Chuông nguyện hồn ai”, “ông già và biển cả“, tên tuổi Hêminguây lừng danh trên thế giới.Vãn phong của Hêminguây giản dị, trong sáng, ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc về thế giới tự nhiên và con người, chất liệu sống ngồn ngộn, độc thoại nội tâm, tình huống biến hóa, căng thẳng, đa nghĩa và đa thanh, mà ông gọi là nguyên lí “tảng băng trôi” có một phần nổi và 7 phần chìm, mang hàm nghĩa và triết lí sâu xa, thú vị.
“Ông già và biển cả” là một trong những tác phẩm đã đưa tên tuổi Hemingway trở nên lừng lẫy trên thế giới. Trong đó, hay nhất có lẽ là đoạn trích “Đương đầu với đàn cá dữ”.
Lão chài Xanchiagô sống cô độc trong một túp lều trên bờ biển ngoại ô thành phố LaHabana. 84 ngày đêm ra khơi gặp vận xúi quẩy, đi đi về về chẳng câu được một con cá nào. Lần này ông lại ra khơi, đưa thuyền đến tận vùng Giếng Lớn nơi có nhiều cá nhất. Buông câu từ sáng sớm mãi đến non trưa phao câu mới động đậy. Cá mắc câu kéo chiếc thuyền chạy. Lão gò lưng, gập mình kéo lại. Từ trưa tới chiều, rội một ngày một đêm nữa trôi qua. Bàn tay bị dây câu cứa rách nát ứa máu. Không một mẩu bánh bỏ vào bụng. Chân tê dại, tay trái bị chuột rút, mệt lả nhưng lão không chịu buông tha: “Mình sẽ cho nó biết sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu! “Sáng ngày thứ 3 cá đuôi dần, lão chài dùng lao đâm chết cá, buộc cá vào đuôi thuyền, hân hoan trở về bến. Con cá nặng độ 6, 7 tấn dài hơn thuyền khoảng 7 tấc. Trong màn đêm, đàn cá mập đuổi theo chiếc thuyền, lăn xả vào đớp và rỉa con cá kiếm. Lão chài dùng mái chèo quật tới tấp vào đàn cá dữ trong đêm tối. Lão chài về tới bến, con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương. Lão nằm vật ra lều ngủ thiếp đi, “mơ thấy đàn sư tử”. Sáng hôm sau, bé Manôlin chạy sang lều rồi đi gọi bạn chài đến săn sóc ông.Xem thêm: Bạn Trần Văn Vinh viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình Sau 87 ngày đêm ra khơi đánh cá, ông lão Xanchiagô mới câu được con cá kiếm khổng lồ, nặng độ 6, 7 tấn, dài hơn chiếc thuyền câu khoảng 7 tấc. Đói khát, mệt rã rời, đôi tay bị dây câu do cá kéo cứa rách, ứa máu. Cái giá phải trả cho một chuyến ra khơi thật đáng tự hào. Bạn chài chắc sẽ không chế giễu lão về vận xúi.quẩy nữa! Lão càng tự hào về “sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu!” Ở đời có lúc miếng ăn đã kề miệng vẫn còn bị kẻ khác giật mất! Trường hợp lão Xanchiagô mất con cá kiếm quả đúng như vậy. Trên đường giong cá về bến, lão chài lại gặp chuyện chẳng lành. Đàn cá mập đã thục mạng lao vào thuyền lão để đớp mồi. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” diễn ra vô cùng bi tráng. Lão chài bị bất ngờ, bị động hoàn toàn. Thế và lực quá chênh lệch. Cuộc chiến diễn ra giữa biển đêm.
Lão chài chẳng khác nào một kẻ mù giữa vòng vây của đàn cá dữ! Chỉ cộ một cái chày làm vũ khí. Lão thân cô thế cô, lại bị kiệt sức sau 3 ngày 2 đêm đuổi bắt con cá kiếm mắc câu. Kẻ thù của lão chài là một đàn cá mập đông đảo, khát mồi và cực kỳ hung dữ. Cá lại được màn đêm, được sóng biển che giấu, bất ngờ xuất hiện. Đàn cá biến hóa, lão chài căng mắt nhìn chỉ thấy “những chiếc vi cá mật xẻ dọc ngang trên mặt biển và những đường lân tinh lấp lánh”. Những hàm răng cá mập táp mồi “sần sập”, lưng đàn cá dữ cuộn sóng làm cho “chiếc thuyền câu chòng chành”. Không chỉ con cá kiếm mà ngay cả lão chài cũng sẽ trở thành mồi ngon cho đàn cá dữ đói mồi! Hêminguây đặc tả lưng cá mập đội con thuyền câu đã vẽ nên một cảnh hãi hùng, đầy nguy hiểm!
Cuộc chiến đâu mỗi lúc một dữ dội. Người đọc có cảm giác là bao nhiêu cá mập ở vùng biển “Giếng Lớn” đã kéo tới bủa vây lây chiếc thuyền câu. Lão già như bị màn đêm bịt mắt, “vụt nháo nhào lên những chiếc đầu” cá mập. Lão bị động “kháng cự một cách tuyệt vọng với một kẻ thù mà lão chỉ nghe bằng tai, bằng cảm giác “Thật bất ngờ cái chày – vũ khí chiến đấu – bị cá dữ ngoạm “giật phắt đi”. Lão Xanchiagô đâu phải là kẻ tầm thường, khoanh tay đầu hàng đàn cá mập! Thành quả lao động được làm nên bằng mồ hôi và máu, không thể nào để đàn cá dữ cướp đi. Nhanh nhẹn và dũng mãnh, lão tháo tay lái làm vũ khí chiến đấu. Cuộc chiến giữa người với đàn cá dữ ngày một trở nên dữ dội quyết liệt! Lão già lấy hết sức bình sinh, nắm chắc tay lái, thẳng cánh, vụt túi bụi ra bốn phía”. Lão chài bị đàn cá mập khép chặt vòng vây! Đàn cá dữ túm tụm lại đằng sau lái, con nọ tiếp con kia. Khi thì cả bầy một lượt, chúng đâm bổ vào xác con cá. Bầy cá dữ khát mồi không chịu rời chiếc thuyền câu “ngoạm xong một miếng quay ra rồi quay trở lại. Xác cá bị rỉa, bị đớp, bị ngoạm. Những mảnh thịt mà đàn cá mập đớp được” lấp lánh dưới nước!Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về vị trí và ý nghĩa của văn hóa đọc trong thời đại nghe nhìn Con cá kiếm khổng lồ thế mà giờ đây chỉ còn một ít thịt dính vào đầu! Con cá cuõì cùng xông đến đớp vào đầu cá. Có thể nói đây là một hiệp đấu ác liệt, cá và người đánh giáp lá cà. Lão chài dũng mãnh “hoa cái tay lái lên và quật đúng vào răng hàm cá mập”. Ông lão giáng trả như vũ bão “quật liên hồi hai bận, ba bận, mười bận!”. Bất thình lình chiếc tay lái gẫy rắc, lão dũng mảnh vẫn tiếp tục quật vào đầu cá… vụt nữa làm cho “con cá mập nhả con cá và oằn mình lăn xa”. Như người lính chiến ngoan cường trên chiến địa, đánh đến giọt máu cuối cùng, bắn đến viên đạn cuối cùng, hết đạn thì dùng lê tử chiến với giặc, lão chài Xanchiagô cũng vậy! Một mình đơn độc chống với đàn cá dữ giữa biển đêm, khi cái chày bị cá mập ngoạm mất, lão bình tĩnh và sáng suốt xử lý tháo ngay tay lái làm vũ khí. Càng đánh càng hăng, lão đã quật tới tấp vào đầu cá dữ, quật mạnh đến nỗi gãy cả mái chèo. Lão đã giáng cho con cá mập sau cùng một đòn chí mạng!
Việc đánh bắt được con cá kiếm nặng 6, 7 tấn là một chiến công! Cuộc đấu với đàn cá dữ không cân sức, thịt con cá kiếm bị đàn cá mập ngoạm sạch, đớp sạch, nhưng lão vẫn còn giữ được bộ xương cá, giữ được con thuyền câu. Câu nói của lão: “Thuyền của mình vẫn tốt nguyên và chẳng sứt mẻ một tẹo nào, trừ chiếc tay lái ra không kể. Cái đó cũng dễ thay!” – điều đó cho thấy, tuy thất trận nhưng lão chài vẫn còn tiềm lực! Nhất định lão lại ra khơi. Giữ vững niềm tin sau chiến bại không phải ai cũng có ý chí ấy! Lúc quật vào đàn cá dữ, ông lão cảm thây một mùi kì dị trong mồm: “vừa tanh như sắt, vừa ngòn ngọt”. Mùi kỳ.dị ây là máu và cũng là dư vị cay đắng của sự thất bại! Như một sự tổng kết sau trận đánh, lão Xanchiagô nhổ toẹt máu xuống biển và nói: “Cho chúng mày nuốt đi lũ cá mập kia. Nuốt đi để tưởng tượng là vừa giết chết được một con người”. Một cái nhổ toẹt đầy khinh bỉ. Một câu nói vừa giễu cợt vừa thách thức kẻ thù! Trong chiến bại mà lão chài vẫn ngạo nghễ! Đó là tâm thế và bẳn lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” được miêu tả rất sống động.Xem thêm: Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy vào cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi, huống chi cái vận may không mấy khi được gặp Lão chài được đặt trong thế đối địch tương phản chênh lệch. Cạc chi tiết nghê thuât được khắc họa và tái hiện chủ yếu bằng thính giác, cảm giác, xúc giác… trong biển đêm vô cùng ghê rợn và ác liệt! Người thì máu đầy mồm, cá thì lăn xả vào đớp mồi, bị quật nhừ tử. Lời đối thoại của Xanchiagô với đàn cá mập lúc thì thách thức khinh bỉ, lúc thì thừa nhận thất bại. vốn liếng còn đó, lão chài rồi lại ra khơi, chỉ có một mình đơn phương độc mã đương đầu với đàn cá mập thế mà sau cuộc chiến, lão chài lại nói: Gió cũng là bạn tốt của ta… đôi khi cũng là bạn tốt… biển cả với những bạn hữu và kẻ thù của ta… “Gió làm căng cánh buồm. Biển có đàn cá dữ, nhưng cũng có cánh chim hiền lành, biển là nơi làm ăn của lão và các bạn chài. Cách nghĩ của lão chài mộc mạc, bình dị nhưng ham sống biết bao.
Ở đời cái đáng sợ là không nhận diện được kẻ thù. Cái đáng sợ nữa không phải là sự thất bại mà là chưa biết tìm ra nguyên nhân thất bại. Ớ đây, lão chài Xanchiagô tự nói với mình: “Ta thử nghĩ xem cái gì đã làm cho ta thất bại nhỉ? Không, không có cái gì cả. Ta đã đi xa quá! Đó lậ phần ngầm của “tảng băng trôi” mà Hêminguây muốn gửi gắm bạn đọc: Mọi khát vọng đều đẹp, đều đáng yêu. Khát vọng quá lớn, vượt xa khả năng hiện thực thì sẽ thất bại. Hình ảnh lão chài Xanchiagô trong cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” này cho ta bài học về sức mạnh, khí phách và niềm tin tróng lao động và – cuộc sống.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích một đặc điểm mà anh (chị) cho là đặc sắc nhất trong “ông già và biển cả”
Gợi ý
Hêminguây (1899 – 1961) là văn hào Mĩ, được Giải thưởng Nobel về văn chương năm 1954. Từng tham gia Thố chiến I, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha và Thế chiến II với tư cặch là người lính, là phóng viên mặt trận, ông để lại dấu ấn trong cả 3 thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. Có tác phẩm nói lên tâm trạng một thế hệ thanh niên trong và sau chiến tranh như “Giã từ vũ khí”. Có tác phẩm kể chuyện săn bắn, đấu bò như “Chết vào buổi chiều”, “Những ngọn đồi xanh châu Phi”,… Với 2 kiệt tác “Chuông nguyện hồn ai”, “ông già và biển cả“, tên tuổi Hêminguây lừng danh trên thế giới.Vãn phong của Hêminguây giản dị, trong sáng, ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc về thế giới tự nhiên và con người, chất liệu sống ngồn ngộn, độc thoại nội tâm, tình huống biến hóa, căng thẳng, đa nghĩa và đa thanh, mà ông gọi là nguyên lí “tảng băng trôi” có một phần nổi và 7 phần chìm, mang hàm nghĩa và triết lí sâu xa, thú vị.
“Ông già và biển cả” là một trong những tác phẩm đã đưa tên tuổi Hemingway trở nên lừng lẫy trên thế giới. Trong đó, hay nhất có lẽ là đoạn trích “Đương đầu với đàn cá dữ”.
Lão chài Xanchiagô sống cô độc trong một túp lều trên bờ biển ngoại ô thành phố LaHabana. 84 ngày đêm ra khơi gặp vận xúi quẩy, đi đi về về chẳng câu được một con cá nào. Lần này ông lại ra khơi, đưa thuyền đến tận vùng Giếng Lớn nơi có nhiều cá nhất. Buông câu từ sáng sớm mãi đến non trưa phao câu mới động đậy. Cá mắc câu kéo chiếc thuyền chạy. Lão gò lưng, gập mình kéo lại. Từ trưa tới chiều, rội một ngày một đêm nữa trôi qua. Bàn tay bị dây câu cứa rách nát ứa máu. Không một mẩu bánh bỏ vào bụng. Chân tê dại, tay trái bị chuột rút, mệt lả nhưng lão không chịu buông tha: “Mình sẽ cho nó biết sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu! “Sáng ngày thứ 3 cá đuôi dần, lão chài dùng lao đâm chết cá, buộc cá vào đuôi thuyền, hân hoan trở về bến. Con cá nặng độ 6, 7 tấn dài hơn thuyền khoảng 7 tấc. Trong màn đêm, đàn cá mập đuổi theo chiếc thuyền, lăn xả vào đớp và rỉa con cá kiếm. Lão chài dùng mái chèo quật tới tấp vào đàn cá dữ trong đêm tối. Lão chài về tới bến, con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương. Lão nằm vật ra lều ngủ thiếp đi, “mơ thấy đàn sư tử”. Sáng hôm sau, bé Manôlin chạy sang lều rồi đi gọi bạn chài đến săn sóc ông.Xem thêm: Bạn Trần Văn Vinh viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mình Sau 87 ngày đêm ra khơi đánh cá, ông lão Xanchiagô mới câu được con cá kiếm khổng lồ, nặng độ 6, 7 tấn, dài hơn chiếc thuyền câu khoảng 7 tấc. Đói khát, mệt rã rời, đôi tay bị dây câu do cá kéo cứa rách, ứa máu. Cái giá phải trả cho một chuyến ra khơi thật đáng tự hào. Bạn chài chắc sẽ không chế giễu lão về vận xúi.quẩy nữa! Lão càng tự hào về “sức con người có thể làm được gì và chịu đựng được đến đâu!” Ở đời có lúc miếng ăn đã kề miệng vẫn còn bị kẻ khác giật mất! Trường hợp lão Xanchiagô mất con cá kiếm quả đúng như vậy. Trên đường giong cá về bến, lão chài lại gặp chuyện chẳng lành. Đàn cá mập đã thục mạng lao vào thuyền lão để đớp mồi. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” diễn ra vô cùng bi tráng. Lão chài bị bất ngờ, bị động hoàn toàn. Thế và lực quá chênh lệch. Cuộc chiến diễn ra giữa biển đêm.
Lão chài chẳng khác nào một kẻ mù giữa vòng vây của đàn cá dữ! Chỉ cộ một cái chày làm vũ khí. Lão thân cô thế cô, lại bị kiệt sức sau 3 ngày 2 đêm đuổi bắt con cá kiếm mắc câu. Kẻ thù của lão chài là một đàn cá mập đông đảo, khát mồi và cực kỳ hung dữ. Cá lại được màn đêm, được sóng biển che giấu, bất ngờ xuất hiện. Đàn cá biến hóa, lão chài căng mắt nhìn chỉ thấy “những chiếc vi cá mật xẻ dọc ngang trên mặt biển và những đường lân tinh lấp lánh”. Những hàm răng cá mập táp mồi “sần sập”, lưng đàn cá dữ cuộn sóng làm cho “chiếc thuyền câu chòng chành”. Không chỉ con cá kiếm mà ngay cả lão chài cũng sẽ trở thành mồi ngon cho đàn cá dữ đói mồi! Hêminguây đặc tả lưng cá mập đội con thuyền câu đã vẽ nên một cảnh hãi hùng, đầy nguy hiểm!
Cuộc chiến đâu mỗi lúc một dữ dội. Người đọc có cảm giác là bao nhiêu cá mập ở vùng biển “Giếng Lớn” đã kéo tới bủa vây lây chiếc thuyền câu. Lão già như bị màn đêm bịt mắt, “vụt nháo nhào lên những chiếc đầu” cá mập. Lão bị động “kháng cự một cách tuyệt vọng với một kẻ thù mà lão chỉ nghe bằng tai, bằng cảm giác “Thật bất ngờ cái chày – vũ khí chiến đấu – bị cá dữ ngoạm “giật phắt đi”. Lão Xanchiagô đâu phải là kẻ tầm thường, khoanh tay đầu hàng đàn cá mập! Thành quả lao động được làm nên bằng mồ hôi và máu, không thể nào để đàn cá dữ cướp đi. Nhanh nhẹn và dũng mãnh, lão tháo tay lái làm vũ khí chiến đấu. Cuộc chiến giữa người với đàn cá dữ ngày một trở nên dữ dội quyết liệt! Lão già lấy hết sức bình sinh, nắm chắc tay lái, thẳng cánh, vụt túi bụi ra bốn phía”. Lão chài bị đàn cá mập khép chặt vòng vây! Đàn cá dữ túm tụm lại đằng sau lái, con nọ tiếp con kia. Khi thì cả bầy một lượt, chúng đâm bổ vào xác con cá. Bầy cá dữ khát mồi không chịu rời chiếc thuyền câu “ngoạm xong một miếng quay ra rồi quay trở lại. Xác cá bị rỉa, bị đớp, bị ngoạm. Những mảnh thịt mà đàn cá mập đớp được” lấp lánh dưới nước!Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về vị trí và ý nghĩa của văn hóa đọc trong thời đại nghe nhìn Con cá kiếm khổng lồ thế mà giờ đây chỉ còn một ít thịt dính vào đầu! Con cá cuõì cùng xông đến đớp vào đầu cá. Có thể nói đây là một hiệp đấu ác liệt, cá và người đánh giáp lá cà. Lão chài dũng mãnh “hoa cái tay lái lên và quật đúng vào răng hàm cá mập”. Ông lão giáng trả như vũ bão “quật liên hồi hai bận, ba bận, mười bận!”. Bất thình lình chiếc tay lái gẫy rắc, lão dũng mảnh vẫn tiếp tục quật vào đầu cá… vụt nữa làm cho “con cá mập nhả con cá và oằn mình lăn xa”. Như người lính chiến ngoan cường trên chiến địa, đánh đến giọt máu cuối cùng, bắn đến viên đạn cuối cùng, hết đạn thì dùng lê tử chiến với giặc, lão chài Xanchiagô cũng vậy! Một mình đơn độc chống với đàn cá dữ giữa biển đêm, khi cái chày bị cá mập ngoạm mất, lão bình tĩnh và sáng suốt xử lý tháo ngay tay lái làm vũ khí. Càng đánh càng hăng, lão đã quật tới tấp vào đầu cá dữ, quật mạnh đến nỗi gãy cả mái chèo. Lão đã giáng cho con cá mập sau cùng một đòn chí mạng!
Việc đánh bắt được con cá kiếm nặng 6, 7 tấn là một chiến công! Cuộc đấu với đàn cá dữ không cân sức, thịt con cá kiếm bị đàn cá mập ngoạm sạch, đớp sạch, nhưng lão vẫn còn giữ được bộ xương cá, giữ được con thuyền câu. Câu nói của lão: “Thuyền của mình vẫn tốt nguyên và chẳng sứt mẻ một tẹo nào, trừ chiếc tay lái ra không kể. Cái đó cũng dễ thay!” – điều đó cho thấy, tuy thất trận nhưng lão chài vẫn còn tiềm lực! Nhất định lão lại ra khơi. Giữ vững niềm tin sau chiến bại không phải ai cũng có ý chí ấy! Lúc quật vào đàn cá dữ, ông lão cảm thây một mùi kì dị trong mồm: “vừa tanh như sắt, vừa ngòn ngọt”. Mùi kỳ.dị ây là máu và cũng là dư vị cay đắng của sự thất bại! Như một sự tổng kết sau trận đánh, lão Xanchiagô nhổ toẹt máu xuống biển và nói: “Cho chúng mày nuốt đi lũ cá mập kia. Nuốt đi để tưởng tượng là vừa giết chết được một con người”. Một cái nhổ toẹt đầy khinh bỉ. Một câu nói vừa giễu cợt vừa thách thức kẻ thù! Trong chiến bại mà lão chài vẫn ngạo nghễ! Đó là tâm thế và bẳn lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính. Cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” được miêu tả rất sống động.Xem thêm: Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy vào cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi, huống chi cái vận may không mấy khi được gặp Lão chài được đặt trong thế đối địch tương phản chênh lệch. Cạc chi tiết nghê thuât được khắc họa và tái hiện chủ yếu bằng thính giác, cảm giác, xúc giác… trong biển đêm vô cùng ghê rợn và ác liệt! Người thì máu đầy mồm, cá thì lăn xả vào đớp mồi, bị quật nhừ tử. Lời đối thoại của Xanchiagô với đàn cá mập lúc thì thách thức khinh bỉ, lúc thì thừa nhận thất bại. vốn liếng còn đó, lão chài rồi lại ra khơi, chỉ có một mình đơn phương độc mã đương đầu với đàn cá mập thế mà sau cuộc chiến, lão chài lại nói: Gió cũng là bạn tốt của ta… đôi khi cũng là bạn tốt… biển cả với những bạn hữu và kẻ thù của ta… “Gió làm căng cánh buồm. Biển có đàn cá dữ, nhưng cũng có cánh chim hiền lành, biển là nơi làm ăn của lão và các bạn chài. Cách nghĩ của lão chài mộc mạc, bình dị nhưng ham sống biết bao.
Ở đời cái đáng sợ là không nhận diện được kẻ thù. Cái đáng sợ nữa không phải là sự thất bại mà là chưa biết tìm ra nguyên nhân thất bại. Ớ đây, lão chài Xanchiagô tự nói với mình: “Ta thử nghĩ xem cái gì đã làm cho ta thất bại nhỉ? Không, không có cái gì cả. Ta đã đi xa quá! Đó lậ phần ngầm của “tảng băng trôi” mà Hêminguây muốn gửi gắm bạn đọc: Mọi khát vọng đều đẹp, đều đáng yêu. Khát vọng quá lớn, vượt xa khả năng hiện thực thì sẽ thất bại. Hình ảnh lão chài Xanchiagô trong cảnh “đương đầu với đàn cá dữ” này cho ta bài học về sức mạnh, khí phách và niềm tin tróng lao động và – cuộc sống.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nghệ thuật lập luận kết hợp với biểu cảm của trong bài Tựa “Trích diễm thi tập”
Gợi ý
Kết thúc bài Tựa “Trích diễm thi tập”, Hoàng Đức Lương có viết:… Ớ cuối các quyển ấy, mạn phép phụ thêm những bài vụng về do tôi viết, cốt để làm sách dạy trong gia đình. Điều đó có nghĩa là khi tuyển tập những bài thơ hay để soạn Trích diễm thi tập Hoàng Đức Lương có phụ thêm vào đó những sáng tác của mình. Tất nhiên, đó chỉ là cách nói khiêm nhường của Hoàng Đức Lương nhưng thực tế, đến ngàỵ nay, tên tuổi Hoàng Đức Lương được biết đến không vì tư cách một nhà thơ mà bởi nghệ thuật lập luận kết hợp với biểu cảm tuyệt vời mà ông đã thể hiện trong Tựa “Trích diễm thi tập”.
Bài Tựa mang hình thức ngắn gọn nhưng có một bố cục chặt chẽ. Bài Tựa có bố cục ba phần. Phần thứ nhất tác giả trình bày lí do biên soạn, phần thứ hai thuật lại quá trình hoàn thành Tựa “Trích diễm thi tập”, nội dung và kết cấu tác phẩm.
Trong phần trình bày những nguyên nhân khiến thơ văn không lưu hành hết ở các đời, trước hết Hoàng Đức Lương nêu lên thực trạng tình hình di sản thơ ca Việt Nam thời bấy giờ vì ông muốn người đọc nhận thức rằng Trích diễm thi tập ra đời không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân ông mà do yêu cầu của thời đại. Sau đó, tác giả mới trình bày rõ sáu nguyên nhân. Các nguyên nhân lại chia thành chủ quan và khách quan. Bốn nguyên nhân chú quan là: Chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca; người có học thì ít để ý đến thơ ca; người quán tâm đến thơ ca thì không đủ năng lực và tính kiên trì; chính sách in ấn của nhà nước. Hai nguyên nhân khách quan là: Thời gian làm huỷ hoại sách vở; binh hoả làm thiêu huỷ thư tịch ở phần hai, Hoàng Đức Lương đã cho người đọc thấy rõ những khó khăn, vất vả trong việc SƯU tầm thơ ca. Các thư tịch cũ không còn, tác giả phải nhặt nhạnh ở giấy tàn, vách nát, hỏi quanh khắp nơi, thu lượm thêm thơ của các vị hiện dang làm quan trong triều rồi phân loại, chia quyển.Xem thêm: Thuyết minh về vai trò của rừng với cuộc sống.
Trích diễm thi tập gồm sáu quyển, được chia làm hai phần, phần chính gồm thơ ca các tác gia của các tác gia từ thời Trần đến đầu thời Lê, phần phụ lục là thơ ca của chính tác giả.
Đan xen với các ý đã dược xếp đặt một cách mạch lạc là những câu, những từ giàu sắc thái biểu cảm: Khi trình bày động cơ biên soạn Trích diễm thi tập, tác giả đã trực tiếp bày tỏ nỗi đau xót trước thực trạng thơ ca của dân tộc, cảm thấy lòng tự tôn dân tộc bị tổn thương: Than ôi! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường. Và kết thúc nguyên nhân khiến Hoàng Đức Lương phải biên soạn Trích diễm thi tập là lời than, gợi tình cảm người đọc đối với thực trạng di sản thơ văn lúc bấy giờ: Như thế chả đáng thương xót lắm sao!
Nghệ thuật biểu cảm của Hoàng Đức Lương không chỉ được thể hiện trong những câu cảm thán trực tiếp mà còn ở các hình ảnh giàu sức gợi tả như giấy tàn, vách nát, ở cách so sánh Đối với thơ văn, cổ nhân ví như khoái chá, ví như gấm vóc… hay ở những câu hỏi tu từ: Nước ta từ nhà Lí, nhà Trần dựng nước đến nay, vẫn có tiếng là nước văn hiến, những bậc thi nhân, tài tử đều đem sở trường của mình thổ lộ ra lời nói, lẽ nào không có người hay?… Tất cả những biện pháp nghệ thuật trên đều góp phần gia tăng sức biểu cảm cho bài Tựa, nhờ đó áng văn nghị luận không trở nên khô khan mà trái lại rất thuyết phục.Xem thêm: Phân tích bài Sang Thu của Hữu Thỉnh Bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ và lời lẽ thiết tha, Tựa “Trích diễm thi tập” đã thể hịện niềm tự hào, sự trân trọng và ý thức bảo tồn di sản văn học dân tộc của Hoàng Đức Lương. Suy cho cùng, đó chính là biểu hiện của lòng yêu nước, của niềm tự hào dân tộc.
Vanmau.edu.vn
|
Analyzing the art of argumentation combined with expression in the title article "Excerpts of poetry"
Suggest
At the end of the title article "Excerpts from poetry collection", Hoang Duc Luong wrote:... At the end of those books, I took the liberty of adding clumsy articles that I wrote, mainly to serve as family teaching books. That means that when collecting good poems to compose Excerpts of poetry, Hoang Duc Luong included his own compositions. Of course, that is just Hoang Duc Luong's humble way of speaking, but in reality, to this day, Hoang Duc Luong's name is known not because of his status as a poet but because of the art of argumentation combined with great expression. which he expressed in the title "Excerpts from poems".
The Preface has a brief form but has a tight structure. The Preface has a three-part layout. In the first part, the author presents the reason for compiling, the second part recounts the process of completing the title "Excerpts of Poetry", the content and structure of the work.
In the presentation of the reasons why poetry did not circulate in all generations, Hoang Duc Luong first raised the current situation of Vietnam's poetic heritage at that time because he wanted readers to realize that Extract of Poetry was born not due to his personal subjective wishes but due to the demands of the times. After that, the author clearly presents six reasons. The causes are divided into subjective and objective. The four important reasons are: Only poets can see the goodness and beauty of poetry; Educated people pay little attention to poetry; People who pay attention to poetry lack the ability and perseverance; State printing policy. Two objective reasons are: Time destroys books; In the second part, Hoang Duc Luong showed readers the difficulties and hardships in COLLECTING poetry. The old bibliographies no longer exist, so the author has to scavenge for scraps of paper and broken walls, ask around, collect more poems from people currently serving as mandarins in the court, then classify and divide the volumes. See more: Explanation about The role of forests in life.
Excerpts of poems consists of six volumes, divided into two parts, the main part includes poetry by authors from the Tran dynasty to the early Le dynasty, the appendix is the author's own poetry.
Intertwined with the coherently arranged ideas are sentences and words rich in expressive nuances: When presenting the motivation for compiling Extraction poetry, the author directly expressed his sadness at the current situation. poetry of the nation, feeling that the nation's pride is hurt: Alas! In a civilized country that has been built for hundreds of years, is it possible that there is no book that can serve as a basis, but we have to look far away to learn the poetry and literature of the Tang Dynasty. And at the end of the reason why Hoang Duc Luong had to compile Excerpt Diem Thi Tap was a lament, evoking readers' feelings towards the current state of poetic heritage at that time: Isn't that so pitiful!
Hoang Duc Luong's expressive art is not only expressed in direct exclamations but also in evocative images such as ruined paper, broken walls, and in comparisons to poetry, ancient people like fond of tea, like brocade... or in rhetorical questions: Our country from the Ly and Tran dynasties until now, is still famous as a civilized country, poets and amateurs all bring their strengths confessing words, is it possible that there is no one who knows?... All of the above artistic measures contribute to increasing the expressive power of the Title, thanks to which the essay does not become dry but on the contrary is very convincing. costume. See more: Analysis of Sang Thu by Huu Thinh With the art of rigorous arguments and passionate words, the title "Trich Diem Thi Tap" shows pride, respect and awareness of preserving heritage. National literature by Hoang Duc Luong. After all, it is an expression of patriotism and national pride.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nghệ thuật lập luận trong văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng-ghen)
Gợi ý
Mác và Ăng-ghen, nhắc đến hai con người với rất nhiều những đóng góp to lớn cho sự phát triển của nhân loại ấy người ta cũng nhớ ngay đến tình bạn vĩ đại của hai người. Tình bạn ấy, đến tận giờ phút chia lia cuối cùng cũng vẫn khiến người ta phải cảm phục và xúc động. Ngày Các Mác qua đời, Ăng-ghen đã đọc một bài điếu văn trước mộ của Mác, trong đó, ông đánh giá rất cao cống hiến to lớn của Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản trước tổn thất to lớn không thể vù đắp được này. “Ba công hiến vĩ đại của Các Mác” (Tên đề này do người biên soạn đặt), cũng thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ và đầy sức hấp dẫn, thuyết phục của nhà triết học, nhà cách mạng Đức Phi-đrích Ăng-ghen.
Các Mác là một nhà triết học và lý luận chính trị vĩ đại người Đức, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Sự ra đi của ông để lại nỗi tiếc thương vô hạn trong lòng nhân loại trong đó có một người bạn đặc biệt là Ăng-ghen. Tất cả tình yêu thương ấy cùng với tài năng của Ăng – ghen đã được đúc kết vào trong những lời điếu văn xót thương. “Ba công hiến vĩ đại của Các Mác” là một bài chính luận được viết trong hoàn cảnh đặc thù, gắn với một sự kiện đặc biệt và gắn với những con người có thật chứ không phải là những hình tượng hư cấu. Bài văn gồm bảy đoạn với kết cấu ba phần mạch lạc. Phần mở đầu cho thấy không gian, thời gian liên quan tới sự ra đi của Mác. Thời gian ra đi bình thường nhưng trong cái bình thường ấy lại là hình ảnh của một vĩ nhân (nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong những nhà tư tưởng hiện đại đã ngừng suy nghĩ). Ngay từ mở đầu, Ăng-ghen đã khẳng định vị trí và vai trò của Các Mác đồng thời tạo cho người đọc những ấn tượng sâu sắc, tiếc nuối về sự ra đi của một người có vai trò quan trọng đối với lịch sử nhân loại. Phần thứ hai, cũng là phần trọng tâm của bài, đề cập đến những công hiến to lớn của Mác. Những cống hiến này được sắp xếp theo trật tự tăng tiến với cách so sánh tầng bậc khẳng định những cống hiến của Mác là vĩ đại và có giá trị trong mọi thời đại. Phần thứ ba đề cập tới các giá trị tổng quát của những công hiến của Mác. Những cống hiến đó đều hướng vào mục tiêu chung là phục vụ nhân loại. Bài điếu văn kết thúc bằng một tiếng khóc bày tỏ tình cảm tiếc thương dưới hình thức một lời cầu nguyện: “Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi!”. Đó vừa là một lời ai điếu nhưng cũng là một lời khẳng định một chân lý không bao giờ thay đổi. Thương tiếc, xót xa cho vị lãnh tụ, Ăng-ghen đồng thời nhân mạnh về ba cống hiến vĩ đại của Mác cho nhân loại và để khẳng định chúng, tác giả đã đưa ra một cách lập luận chặt chẽ với nghệ thuật so sánh theo hình thức tăng tiến đạt hiệu quả rất cao. Công hiến đầu tiên của Mác là “tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người” qua các thời kỳ lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tần (bao gồm tư liệu sản xuất, cách sản xuất tư liệu sản xuất, trình độ phát triển kinh tế…) quyết định kiến trúc hạ tầng của xã hội (bao gồm các hình thức, thể chế nhà nước, tôn giáo, văn học, nghệ thuật…). Đó là phát hiện hết sức mới mẻ, quan trọng đến mức vĩ đại. Nó làm đảo lộn và phá sản tất cả các cách giải thích về lịch sử xã hội trước đó và đương thời. Nó trở thành hạt nhấn của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một trong những nền móng cơ bản của triết học Mác. Cách trình bày và đánh giá của Ăng-ghen giản dị, cơ bản và dễ hiểu, kết hợp so sánh tương đồng với bình luận. Nhờ cách so sánh được đặt từ cấp độ ngang bằng này, tác gải đã tạo ra sự đối sánh song song nhằm dụng ý nhấn mạnh (Giồng như Đác – uyn đã… (thì) Mác đã…). Đặc biệt sau vế thứ 2 là sự liệt kê không chỉ kết quả mà còn phân tích, chỉ ra ý nghĩa của kết quả ấy, tạo ra một sự trùng điệp có hiệu quả nghệ thuật rất cao. Tiếp theo sự so sánh tương đồng là so sánh vượt trội mà sự khẳng định được thể hiện ngay trong câu: “Nhưng không chỉ có thế thôi..”.. Cách lập luận không chỉ nêu luận điểm mà ngay sau đó đưa ra một sự chứng minh đầy sức thuyết phục: “Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do – phương thức đó đẻ ra”. Đó là quy luật về giá trị thặng dư. Tác giả cũng ngay sau đó chỉ ra ý nghĩa to lớn mà Mác phát hiện: đó là một áng sáng để đối lập lại bóng tối mà “các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa đều mò mẫm”. Sự so sánh đó còn được nhấn mạnh nhiều lần ngay trong các đoạn tiếp theo. Với tư cách là một nhà khoa học thì những phát kiến của Mác là vô giá và tên tuổi của ông đã xứng đáng lưu vào sử sách. Nhưng nếu nhận thức về Mác mới chỉ dừng ở đó thì chưa thể thấy hết sự vĩ đại của Mác cũng như sự xót thương của Ăng-ghen đốì với Mác cần phải hiểu thêm Mác từ hai phương điện: con người của phát minh, khám phá và con người của hoạt động thực tiễn. Giữa hai con người ấy có mốì quan hệ nhân quả hết sức chặt chẽ Không chỉ là một nhà bác học một nhà tư tưởng vĩ đại, Mác còn là nhà cách mạng suốt đời đấu tranh để phổ biến, tuyên truyền và thực hiện tư tưởng của mình, ông luôn quan niệm: “Hạnh phúc là đấu tranh” (vì sự nghiệp giải phóng vô sản toàn thế giới, vì hạnh phúc của nhân loại). Hạnh phúc là làm cho người khác hạnh phúc, càng nhiều người hạnh phúc thì cá nhân ông cũng càng cảm thấy hạnh phúc. Và đó mới là công hiến vĩ đại nhất của Mác, là công hiến đưa ông lên tầm của một vĩ nhân của mọi thời đại.Xem thêm: Từ thái độ vội vàng của Xuân Diệu trong bài thơ cùng tên, hãy viết bài văn bàn về mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của mỗi con người
Ở đây, Mác được so sánh với các vĩ nhân khác cùng thời đại, với những thành tự khoa học của thời đại đó. Đây không phải là một sự so sánh tầm thường mà là một sự so sánh đặc biệt: so sánh với những tinh hoa cùng thời đại, so sánh với những phát minh cống hiến quan trọng mà không phải ai cũng làm được và không phải đã có từ thời đại trước. Những con người cũng như những thành quả được so sánh tạo nên tầm vóc con người, tạo ra đỉnh cao của thời đại. Cho nên, cách so sánh ở đây cũng rất đặc biệt: Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời và Mác không dừng ở vị trí đỉnh cao của nhân loại mà còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Bản thân Mác, do đó, trở thành đỉnh cao của mọi đỉnh cao, trở thành vĩ nhân của mọi vĩ nhân, trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Đây cũng chính là hiệu quả nghệ thuật của biện pháp kết cấu tầng bậc, kết hợp so sánh tạo ra. Những công hiến của Mác được sắp xếp theo trật tự tăng tiến, công hiến sau lớn hơn cống hiến trước, mặc dù chỉ có được một trong những công hiến đó cũng đủ để họ trở thành vĩ nhân rồi. Bài điếu văn đề cao hình ảnh của Các Mác nhưng tác giả không nói nhiều đến cái chết và đây là một khía cạnh độc đáo: nhân mạnh ý nghĩa của sự sống, ý nghĩa của cuộc đời Mác và sự bất tử của những đóng góp sáng tạo mà Mác đã cống hiến cho nhân loại. Bài điếu văn không bi lụy, sướt mướt nhưng vẫn đem lại cho người ta cảm giác xót thương sâu sắc vì từ chính những tình cảm của Ăng-ghen đô’i với Mác và từ chính những công hiến vĩ đại của Mác. Qua đó, ta cũng hiểu thêm về tài năng, nhân cách và tình cảm tốt đẹp của Ăng-ghen, một nhà cách mạng, một bậc thiên tài.Xem thêm: Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp”... Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó (Yêu cầu viết một bài văn) Bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, kết hợp với biện pháp so sánh tăng tiến, Ăng-ghen đã giúp cho chúng ta nhận thức sâu sắc những công hiến vĩ đại của Mác đối với nhân loại. Bài điếu văn mang đến cho người đọc những tình cảm tốt đẹp về hai bậc thiên tài, hai vĩ nhân của thời đại và tình bạn nổi tiếng của họ Các mác và Phri-đrích Ăng-ghen.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nghệ thuật lập luận trong văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng-ghen)
Gợi ý
Mác và Ăng-ghen, nhắc đến hai con người với rất nhiều những đóng góp to lớn cho sự phát triển của nhân loại ấy người ta cũng nhớ ngay đến tình bạn vĩ đại của hai người. Tình bạn ấy, đến tận giờ phút chia lia cuối cùng cũng vẫn khiến người ta phải cảm phục và xúc động. Ngày Các Mác qua đời, Ăng-ghen đã đọc một bài điếu văn trước mộ của Mác, trong đó, ông đánh giá rất cao cống hiến to lớn của Mác và biểu lộ tình cảm tiếc thương của những người cộng sản trước tổn thất to lớn không thể vù đắp được này. “Ba công hiến vĩ đại của Các Mác” (Tên đề này do người biên soạn đặt), cũng thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ và đầy sức hấp dẫn, thuyết phục của nhà triết học, nhà cách mạng Đức Phi-đrích Ăng-ghen.
Các Mác là một nhà triết học và lý luận chính trị vĩ đại người Đức, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Sự ra đi của ông để lại nỗi tiếc thương vô hạn trong lòng nhân loại trong đó có một người bạn đặc biệt là Ăng-ghen. Tất cả tình yêu thương ấy cùng với tài năng của Ăng – ghen đã được đúc kết vào trong những lời điếu văn xót thương. “Ba công hiến vĩ đại của Các Mác” là một bài chính luận được viết trong hoàn cảnh đặc thù, gắn với một sự kiện đặc biệt và gắn với những con người có thật chứ không phải là những hình tượng hư cấu. Bài văn gồm bảy đoạn với kết cấu ba phần mạch lạc. Phần mở đầu cho thấy không gian, thời gian liên quan tới sự ra đi của Mác. Thời gian ra đi bình thường nhưng trong cái bình thường ấy lại là hình ảnh của một vĩ nhân (nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong những nhà tư tưởng hiện đại đã ngừng suy nghĩ). Ngay từ mở đầu, Ăng-ghen đã khẳng định vị trí và vai trò của Các Mác đồng thời tạo cho người đọc những ấn tượng sâu sắc, tiếc nuối về sự ra đi của một người có vai trò quan trọng đối với lịch sử nhân loại. Phần thứ hai, cũng là phần trọng tâm của bài, đề cập đến những công hiến to lớn của Mác. Những cống hiến này được sắp xếp theo trật tự tăng tiến với cách so sánh tầng bậc khẳng định những cống hiến của Mác là vĩ đại và có giá trị trong mọi thời đại. Phần thứ ba đề cập tới các giá trị tổng quát của những công hiến của Mác. Những cống hiến đó đều hướng vào mục tiêu chung là phục vụ nhân loại. Bài điếu văn kết thúc bằng một tiếng khóc bày tỏ tình cảm tiếc thương dưới hình thức một lời cầu nguyện: “Tên tuổi và sự nghiệp của ông đời đời sống mãi!”. Đó vừa là một lời ai điếu nhưng cũng là một lời khẳng định một chân lý không bao giờ thay đổi. Thương tiếc, xót xa cho vị lãnh tụ, Ăng-ghen đồng thời nhân mạnh về ba cống hiến vĩ đại của Mác cho nhân loại và để khẳng định chúng, tác giả đã đưa ra một cách lập luận chặt chẽ với nghệ thuật so sánh theo hình thức tăng tiến đạt hiệu quả rất cao. Công hiến đầu tiên của Mác là “tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người” qua các thời kỳ lịch sử, mà bản chất của quy luật đó là cơ sở hạ tần (bao gồm tư liệu sản xuất, cách sản xuất tư liệu sản xuất, trình độ phát triển kinh tế…) quyết định kiến trúc hạ tầng của xã hội (bao gồm các hình thức, thể chế nhà nước, tôn giáo, văn học, nghệ thuật…). Đó là phát hiện hết sức mới mẻ, quan trọng đến mức vĩ đại. Nó làm đảo lộn và phá sản tất cả các cách giải thích về lịch sử xã hội trước đó và đương thời. Nó trở thành hạt nhấn của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một trong những nền móng cơ bản của triết học Mác. Cách trình bày và đánh giá của Ăng-ghen giản dị, cơ bản và dễ hiểu, kết hợp so sánh tương đồng với bình luận. Nhờ cách so sánh được đặt từ cấp độ ngang bằng này, tác gải đã tạo ra sự đối sánh song song nhằm dụng ý nhấn mạnh (Giồng như Đác – uyn đã… (thì) Mác đã…). Đặc biệt sau vế thứ 2 là sự liệt kê không chỉ kết quả mà còn phân tích, chỉ ra ý nghĩa của kết quả ấy, tạo ra một sự trùng điệp có hiệu quả nghệ thuật rất cao. Tiếp theo sự so sánh tương đồng là so sánh vượt trội mà sự khẳng định được thể hiện ngay trong câu: “Nhưng không chỉ có thế thôi..”.. Cách lập luận không chỉ nêu luận điểm mà ngay sau đó đưa ra một sự chứng minh đầy sức thuyết phục: “Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do – phương thức đó đẻ ra”. Đó là quy luật về giá trị thặng dư. Tác giả cũng ngay sau đó chỉ ra ý nghĩa to lớn mà Mác phát hiện: đó là một áng sáng để đối lập lại bóng tối mà “các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa đều mò mẫm”. Sự so sánh đó còn được nhấn mạnh nhiều lần ngay trong các đoạn tiếp theo. Với tư cách là một nhà khoa học thì những phát kiến của Mác là vô giá và tên tuổi của ông đã xứng đáng lưu vào sử sách. Nhưng nếu nhận thức về Mác mới chỉ dừng ở đó thì chưa thể thấy hết sự vĩ đại của Mác cũng như sự xót thương của Ăng-ghen đốì với Mác cần phải hiểu thêm Mác từ hai phương điện: con người của phát minh, khám phá và con người của hoạt động thực tiễn. Giữa hai con người ấy có mốì quan hệ nhân quả hết sức chặt chẽ Không chỉ là một nhà bác học một nhà tư tưởng vĩ đại, Mác còn là nhà cách mạng suốt đời đấu tranh để phổ biến, tuyên truyền và thực hiện tư tưởng của mình, ông luôn quan niệm: “Hạnh phúc là đấu tranh” (vì sự nghiệp giải phóng vô sản toàn thế giới, vì hạnh phúc của nhân loại). Hạnh phúc là làm cho người khác hạnh phúc, càng nhiều người hạnh phúc thì cá nhân ông cũng càng cảm thấy hạnh phúc. Và đó mới là công hiến vĩ đại nhất của Mác, là công hiến đưa ông lên tầm của một vĩ nhân của mọi thời đại.Xem thêm: Từ thái độ vội vàng của Xuân Diệu trong bài thơ cùng tên, hãy viết bài văn bàn về mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của mỗi con người
Ở đây, Mác được so sánh với các vĩ nhân khác cùng thời đại, với những thành tự khoa học của thời đại đó. Đây không phải là một sự so sánh tầm thường mà là một sự so sánh đặc biệt: so sánh với những tinh hoa cùng thời đại, so sánh với những phát minh cống hiến quan trọng mà không phải ai cũng làm được và không phải đã có từ thời đại trước. Những con người cũng như những thành quả được so sánh tạo nên tầm vóc con người, tạo ra đỉnh cao của thời đại. Cho nên, cách so sánh ở đây cũng rất đặc biệt: Mác được so sánh với các đỉnh cao cùng thời và Mác không dừng ở vị trí đỉnh cao của nhân loại mà còn vượt qua những đỉnh cao ấy. Bản thân Mác, do đó, trở thành đỉnh cao của mọi đỉnh cao, trở thành vĩ nhân của mọi vĩ nhân, trở thành “nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại”. Đây cũng chính là hiệu quả nghệ thuật của biện pháp kết cấu tầng bậc, kết hợp so sánh tạo ra. Những công hiến của Mác được sắp xếp theo trật tự tăng tiến, công hiến sau lớn hơn cống hiến trước, mặc dù chỉ có được một trong những công hiến đó cũng đủ để họ trở thành vĩ nhân rồi. Bài điếu văn đề cao hình ảnh của Các Mác nhưng tác giả không nói nhiều đến cái chết và đây là một khía cạnh độc đáo: nhân mạnh ý nghĩa của sự sống, ý nghĩa của cuộc đời Mác và sự bất tử của những đóng góp sáng tạo mà Mác đã cống hiến cho nhân loại. Bài điếu văn không bi lụy, sướt mướt nhưng vẫn đem lại cho người ta cảm giác xót thương sâu sắc vì từ chính những tình cảm của Ăng-ghen đô’i với Mác và từ chính những công hiến vĩ đại của Mác. Qua đó, ta cũng hiểu thêm về tài năng, nhân cách và tình cảm tốt đẹp của Ăng-ghen, một nhà cách mạng, một bậc thiên tài.Xem thêm: Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp”... Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó (Yêu cầu viết một bài văn) Bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, kết hợp với biện pháp so sánh tăng tiến, Ăng-ghen đã giúp cho chúng ta nhận thức sâu sắc những công hiến vĩ đại của Mác đối với nhân loại. Bài điếu văn mang đến cho người đọc những tình cảm tốt đẹp về hai bậc thiên tài, hai vĩ nhân của thời đại và tình bạn nổi tiếng của họ Các mác và Phri-đrích Ăng-ghen.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nghệ thuật mô tả các pho tượng của Huy Cận trong bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”
Gợi ý
"Các vị La Hán chùa Tây Phương" là một bài thơ không chỉ hay về nội dung mà còn có nhiều đặc sắc về nghề thuật. Mà nghệ thuật chủ yếu là mô tả và khắc họa các pho tượng
Viết về mười tám vị La Hán chùa Tây Phương, người làm thơ đứng trước một khó khăn: đó là làm thế nào cho người đọc hình dung dươc một cách sinh động hình ảnh của từng pho tượng lại cũng phải làm cho người đọc có một cái nhìn tổng quát về tất cà mười tám pho tương. Nếu Huy Cận đi theo hướng tả lại lần lượt mười tám pho tương ấy, mỗi pho tượng một khổ thơ thì người đọc sẽ thấy đủ mặt từng vị một nhưng bài thơ sẽ quá dài, không cần thiết. Nhưng nếu đi theo hướng khái quát chung thì người đọc lại không thể hình dung đươc một cách sinh động mỗi một pho tượng như thế nào. Trước yêu cầu ấy, Huy Cận đã có một giải pháp nghệ thuật hợp lý: phối hợp đặc tả cụ thể với bao quát toàn thể. Nhờ đó mà đem đến cho người đọc một cảm nhận khá toàn diện: vừa có riêng vừa có chung, vừa gần vừa xa. vừa có điểm trọng tâm, vừa có diện mở rộng, vừa chi li cụ thể, lại vừa khái quát tổng thể… đủ để cho người đọc hình dung đươc về cái thế giới riêng của mười tám vị La Hán này.
Ba khổ thơ đầu nghiêng về đặc tả. Còn ba khổ thơ tiếp theo lại nghiêng về bao quát. Huy Cận chỉ chọn ba gương mặt tiêu biểu cho ba tâm tính, ba khí chất, ba thời điểm điển hình của cuộc họp này.
Pho tượng thứ nhất xem ra là một tâm tính điềm đạm, bình tĩnh như là phong thái của người từng trải. Mặc dù trong lòng rối bời lên một tâm sự lớn nhưng vẫn có khả năng kiềm chế, tiết chế, không cho cảm xúc lộ ra ngoài. Pho tương này hiện ra với dáng điệu trầm ngâm, lặng lẽ suy tưởng một mình. Nhưng bên trong cái dáng lặng lẽ, ít lời ấy người ta vẫn thấy rõ một ngọn lửa lòng, một ngọn hoả tâm đang thiêu đốt:
"Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đổt tấm thân gầyXem thêm: Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12 Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay".
Ở khổ thứ hai, nhà thơ miêu tả pho tượng dường như tương phản với vị trên Đây là pho tượng có một tâm tính xốc nổi và nông nổi. Tất cả nhiệt tình bên trong đều tràn cả ra ngoài, tất cả những cảm xúc đều hiện ra trong cử chỉ, hành động. Tâm tình của pho tượng ấy làm toát lên một sự nôn nóng, vội vã, hấp tấp. Phải chăng đây là một người trẻ tuổi, còn đầy sức lực:
"Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng, biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi".
Còn vị thứ ba lại tiêu biểu cho một tâm tính, một khi chất khác. Vị này có vẻ an phận, buông xuôi. Sau khi suy nghĩ và cảm thấy những nghĩ suy đã làm cho mình mệt mỏi, cho nên có thái độ phó mặc, ngại đương đầu với những gì quyết liệt, dữ dội, phức tạp. Tuy nhiên, cũng không thể lảng tránh được, nỗi đau khổ của cuộc đời cứ dội đến đôi tai dài rộng
"Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe tựa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn… "
Nhìn vào dáng điệu của ba pho tượng này chủng ta còn thay mỗi tư thế cũng điển hình cho một thời khác. Phải chăng vị thứ nhất tiêu biểu cho thời điểm cuộc họp mới bắt đầu, câu hỏi vừa mới tung ra, các thành viên còn bình tĩnh và tự tin rằng có thể sẽ tìm kiếm được câu trả lời? Còn vị thứ hai lại tiêu biểu cho thời điểm cuộc họp vào lúc ráo riết nhất, căng thẳng nhất. Tất cả đều nung nấu, lao tâm khổ tứ để tìm kiếm câu trà lời nhưng mài vẫn chưa ra. Nhìn vào pho tượng này người ta còn thấy được cả không khi oi ả, bức xúc của cuộc họp. Vị cuối cùng phải chăng là thời điểm mà mọi kiếm tìm đếu vô vọng rồi? Rõ ràng Huy Cận đã chọn ba pho tượng để đặc tả một cách rất chính xác. Ý nghĩa điến hình rất cao. Chỉ cần ba pho tương ấy thôi đã đủ cho người đọc hình dung về tâm trạng của mười làm pho còn lại.
Như chúng ta đã biết, Huy Cận đã phát hiện ra dụng ý của các nghệ nhân ngày xưa chỉ là mượn đề tài tượng Phật để nói về cuộc đời thực, cho nên mỗi một pho tượng mang một vẻ mặt con người Điều đó khiến cho Huy Cận cần phải nhận diện được từng tính cách cùa người, thân phận người, gương mặt người trong từng pho tượng gỗ. Làm thế nào để cho mỗi pho tượng hiện ra là một con người sống động? Đó chính là câu hỏi đầy khó khăn. Để trả lời câu hỏi này, Huy Cận đã sử dụng một nghệ thuật rất cổ truỵền nhưng cũng rất phù hợp: biến cái tĩnh thành cái động. Các pho tương này vốn bằng gỗ được đặt bất động tại chùa Tây Phương Nhưng các nghệ nhân ngày xưa là những bàn tay tài hoa. dường như đã thổi vào đó sự sống. Cho nên pho tương nào cũng sống động, mọi đường nét, hình khối để diễn tả gương mặt tượng, dáng điệu tượng đều làm toát lên đươc đời sống nội tâm ở bên trong. Đến lượt mình, Huy Cận đã biến những hình tượng điêu khắc thành những hinh tượng của thi ca. Một lần nữa, họ hiện ra như những con người thực. Mỗi trạng thái tỉnh của tượng đều hoá thành trạng thái động của người. Vị thứ nhất thỉ "trầm ngâm đau khổ", tự bấy ngồi y cho đến nay". Nghĩa là bước vào cuộc họp, vị ấy đã chọn một tư thế ngồi và cứ ngồi y nguyên ở đấy suốt hai thế kỷ qua. Có vị thì sau khi suy nghĩ đã co mình, tay chân thu lại giống như động tác thu minh của một con người an phân. Chúng ta có cảm tưởng như động tác ấy vừa mới diễn ra. Nhưng sống dộng nhất có lẽ vẫn là pho tượng thứ hai. Chúng ta có cảm giác như từ pho tượng toát ra cả hơi ấm của sự sống. Bên dưới lồng ngực là trái tim đang dập mãnh liệt, bên dưới làn da, mạch máu đang chạy, cặp mắt vừa mới giương lên, vầng trán nổi sóng mà nhất là đôi môi và bàn tay: "môi cong chua chát", "gân vặn bàn tay". Có thế nói ở đây Huy Cận có phẩn nào bị ảnh hưởng lối cảm nhận và diễn tả của nhà điêu khắc Rôđanh ở bức tượng "Người suy nghĩ". Nhà điêu khắc này đã tà một người suy nghĩ đang trong trạng thái căng thẳng nhất, không chỉ có trí não hoạt dộng mà tất cả bắp cơ, mọi đường gân. thớ thịt đang được tập trung dồn vào việc nghỉ ngợi ở pho tượng này cũng thế, Vị La Hán đang căng toàn thân một cách ráo riết, quyết liệt mong tìm kiếm được ngay câu trả lời. Đó là cực điểm của sự suy nghĩ. Cho nên tác giả đã dồn vào đấy rất nhiều động từ nhằm thể hiện một nội tâm sôi động, bức xúc: "mắt giương", "mày nhíu xệch", "Trán như nổi sóng"… Qua cách tả của Huy Cận, mười tám pho tượng đều như thế: Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau", "quay theo tám hướng" Tất cà khiến cho không khỉ trở nên cực kỳ căng thẳng: "cuồn cuộn đau thương chảy dưới trời”. Và cho đến bây giờ, hai trăm năm đã trôi qua. không khí ấy vẫn chưa hề tiêu tan, những nét hằn trên mặt tượng vẫn còn nguyên, chưa chịu giãn raXem thêm: Nhà thơ Anh Ngọc có viết về bài thơ Tây Tiến như sau: Hay đến nỗi ta không khỏi ngạc nhiên mà nghĩ rằng... Anh (chị) hãy cắt nghĩa sự ngạc nhiên trên"Các vị La Hán chùa Tây Phương" là một thành công của Huy Cận. Thành công ấy trước hết thuộc về tình yêu của tác giả đối với cha ông. Bài thơ thể hiện một sự cảm thông lớn đối với nỗi đau khổ, bế tác trong quá khứ. Nhưng nếu chỉ có một tình thương đơn thuần thì cũng chưa thể có sáng tạo nghệ thuật.
Thành công của bài thơ còn thuộc về tài hoa của Huy Cận Ông đã biết phát huy những thủ pháp nghệ thuật phù hợp để khác hoạ những hình tượng của mình. Nhờ đó mà giờ đây, bên cạnh mười tám pho tượng của ngành điêu khác Việt Nam, nên thơ ca hiện đại Việt Nam cũng có mười tám vị La Hán được tạc bằng ngôn từ.
Rất có thể những người tinh thông Phật giáo viếng thăm chùa Tây Phương sẽ giải thích các pho tượng La Hán kia một cách khác chăng. Nhưng Huy Cận thì không hề quan sát và miêu tá các vị ấy theo quan điểm Phật giáo. Nhà thơ không đối thoại với các nhà Phật học mà đối thoại với "bác thợ cà" ngày xưa đã tạc nên 18 pho tượng tuyệt vời này như những công trình nghệ thuật phàn ánh thời đai của mình, đúng vào cái thế kỷ mà Nguyễn Du viết Truyện Kiêu và Văn Chiêu hồn.
Cha ông năm tháng đè lưng nặng
Những bạn đương thời của Nguyễn Du Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì khi nhìn những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá? Nung nấu tâm can vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu…
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nghệ thuật mô tả các pho tượng của Huy Cận trong bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”
Gợi ý
"Các vị La Hán chùa Tây Phương" là một bài thơ không chỉ hay về nội dung mà còn có nhiều đặc sắc về nghề thuật. Mà nghệ thuật chủ yếu là mô tả và khắc họa các pho tượng
Viết về mười tám vị La Hán chùa Tây Phương, người làm thơ đứng trước một khó khăn: đó là làm thế nào cho người đọc hình dung dươc một cách sinh động hình ảnh của từng pho tượng lại cũng phải làm cho người đọc có một cái nhìn tổng quát về tất cà mười tám pho tương. Nếu Huy Cận đi theo hướng tả lại lần lượt mười tám pho tương ấy, mỗi pho tượng một khổ thơ thì người đọc sẽ thấy đủ mặt từng vị một nhưng bài thơ sẽ quá dài, không cần thiết. Nhưng nếu đi theo hướng khái quát chung thì người đọc lại không thể hình dung đươc một cách sinh động mỗi một pho tượng như thế nào. Trước yêu cầu ấy, Huy Cận đã có một giải pháp nghệ thuật hợp lý: phối hợp đặc tả cụ thể với bao quát toàn thể. Nhờ đó mà đem đến cho người đọc một cảm nhận khá toàn diện: vừa có riêng vừa có chung, vừa gần vừa xa. vừa có điểm trọng tâm, vừa có diện mở rộng, vừa chi li cụ thể, lại vừa khái quát tổng thể… đủ để cho người đọc hình dung đươc về cái thế giới riêng của mười tám vị La Hán này.
Ba khổ thơ đầu nghiêng về đặc tả. Còn ba khổ thơ tiếp theo lại nghiêng về bao quát. Huy Cận chỉ chọn ba gương mặt tiêu biểu cho ba tâm tính, ba khí chất, ba thời điểm điển hình của cuộc họp này.
Pho tượng thứ nhất xem ra là một tâm tính điềm đạm, bình tĩnh như là phong thái của người từng trải. Mặc dù trong lòng rối bời lên một tâm sự lớn nhưng vẫn có khả năng kiềm chế, tiết chế, không cho cảm xúc lộ ra ngoài. Pho tương này hiện ra với dáng điệu trầm ngâm, lặng lẽ suy tưởng một mình. Nhưng bên trong cái dáng lặng lẽ, ít lời ấy người ta vẫn thấy rõ một ngọn lửa lòng, một ngọn hoả tâm đang thiêu đốt:
"Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đổt tấm thân gầyXem thêm: Phân tích tính sử thi trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12 Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay".
Ở khổ thứ hai, nhà thơ miêu tả pho tượng dường như tương phản với vị trên Đây là pho tượng có một tâm tính xốc nổi và nông nổi. Tất cả nhiệt tình bên trong đều tràn cả ra ngoài, tất cả những cảm xúc đều hiện ra trong cử chỉ, hành động. Tâm tình của pho tượng ấy làm toát lên một sự nôn nóng, vội vã, hấp tấp. Phải chăng đây là một người trẻ tuổi, còn đầy sức lực:
"Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng, biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi".
Còn vị thứ ba lại tiêu biểu cho một tâm tính, một khi chất khác. Vị này có vẻ an phận, buông xuôi. Sau khi suy nghĩ và cảm thấy những nghĩ suy đã làm cho mình mệt mỏi, cho nên có thái độ phó mặc, ngại đương đầu với những gì quyết liệt, dữ dội, phức tạp. Tuy nhiên, cũng không thể lảng tránh được, nỗi đau khổ của cuộc đời cứ dội đến đôi tai dài rộng
"Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe tựa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn… "
Nhìn vào dáng điệu của ba pho tượng này chủng ta còn thay mỗi tư thế cũng điển hình cho một thời khác. Phải chăng vị thứ nhất tiêu biểu cho thời điểm cuộc họp mới bắt đầu, câu hỏi vừa mới tung ra, các thành viên còn bình tĩnh và tự tin rằng có thể sẽ tìm kiếm được câu trả lời? Còn vị thứ hai lại tiêu biểu cho thời điểm cuộc họp vào lúc ráo riết nhất, căng thẳng nhất. Tất cả đều nung nấu, lao tâm khổ tứ để tìm kiếm câu trà lời nhưng mài vẫn chưa ra. Nhìn vào pho tượng này người ta còn thấy được cả không khi oi ả, bức xúc của cuộc họp. Vị cuối cùng phải chăng là thời điểm mà mọi kiếm tìm đếu vô vọng rồi? Rõ ràng Huy Cận đã chọn ba pho tượng để đặc tả một cách rất chính xác. Ý nghĩa điến hình rất cao. Chỉ cần ba pho tương ấy thôi đã đủ cho người đọc hình dung về tâm trạng của mười làm pho còn lại.
Như chúng ta đã biết, Huy Cận đã phát hiện ra dụng ý của các nghệ nhân ngày xưa chỉ là mượn đề tài tượng Phật để nói về cuộc đời thực, cho nên mỗi một pho tượng mang một vẻ mặt con người Điều đó khiến cho Huy Cận cần phải nhận diện được từng tính cách cùa người, thân phận người, gương mặt người trong từng pho tượng gỗ. Làm thế nào để cho mỗi pho tượng hiện ra là một con người sống động? Đó chính là câu hỏi đầy khó khăn. Để trả lời câu hỏi này, Huy Cận đã sử dụng một nghệ thuật rất cổ truỵền nhưng cũng rất phù hợp: biến cái tĩnh thành cái động. Các pho tương này vốn bằng gỗ được đặt bất động tại chùa Tây Phương Nhưng các nghệ nhân ngày xưa là những bàn tay tài hoa. dường như đã thổi vào đó sự sống. Cho nên pho tương nào cũng sống động, mọi đường nét, hình khối để diễn tả gương mặt tượng, dáng điệu tượng đều làm toát lên đươc đời sống nội tâm ở bên trong. Đến lượt mình, Huy Cận đã biến những hình tượng điêu khắc thành những hinh tượng của thi ca. Một lần nữa, họ hiện ra như những con người thực. Mỗi trạng thái tỉnh của tượng đều hoá thành trạng thái động của người. Vị thứ nhất thỉ "trầm ngâm đau khổ", tự bấy ngồi y cho đến nay". Nghĩa là bước vào cuộc họp, vị ấy đã chọn một tư thế ngồi và cứ ngồi y nguyên ở đấy suốt hai thế kỷ qua. Có vị thì sau khi suy nghĩ đã co mình, tay chân thu lại giống như động tác thu minh của một con người an phân. Chúng ta có cảm tưởng như động tác ấy vừa mới diễn ra. Nhưng sống dộng nhất có lẽ vẫn là pho tượng thứ hai. Chúng ta có cảm giác như từ pho tượng toát ra cả hơi ấm của sự sống. Bên dưới lồng ngực là trái tim đang dập mãnh liệt, bên dưới làn da, mạch máu đang chạy, cặp mắt vừa mới giương lên, vầng trán nổi sóng mà nhất là đôi môi và bàn tay: "môi cong chua chát", "gân vặn bàn tay". Có thế nói ở đây Huy Cận có phẩn nào bị ảnh hưởng lối cảm nhận và diễn tả của nhà điêu khắc Rôđanh ở bức tượng "Người suy nghĩ". Nhà điêu khắc này đã tà một người suy nghĩ đang trong trạng thái căng thẳng nhất, không chỉ có trí não hoạt dộng mà tất cả bắp cơ, mọi đường gân. thớ thịt đang được tập trung dồn vào việc nghỉ ngợi ở pho tượng này cũng thế, Vị La Hán đang căng toàn thân một cách ráo riết, quyết liệt mong tìm kiếm được ngay câu trả lời. Đó là cực điểm của sự suy nghĩ. Cho nên tác giả đã dồn vào đấy rất nhiều động từ nhằm thể hiện một nội tâm sôi động, bức xúc: "mắt giương", "mày nhíu xệch", "Trán như nổi sóng"… Qua cách tả của Huy Cận, mười tám pho tượng đều như thế: Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau", "quay theo tám hướng" Tất cà khiến cho không khỉ trở nên cực kỳ căng thẳng: "cuồn cuộn đau thương chảy dưới trời”. Và cho đến bây giờ, hai trăm năm đã trôi qua. không khí ấy vẫn chưa hề tiêu tan, những nét hằn trên mặt tượng vẫn còn nguyên, chưa chịu giãn raXem thêm: Nhà thơ Anh Ngọc có viết về bài thơ Tây Tiến như sau: Hay đến nỗi ta không khỏi ngạc nhiên mà nghĩ rằng... Anh (chị) hãy cắt nghĩa sự ngạc nhiên trên"Các vị La Hán chùa Tây Phương" là một thành công của Huy Cận. Thành công ấy trước hết thuộc về tình yêu của tác giả đối với cha ông. Bài thơ thể hiện một sự cảm thông lớn đối với nỗi đau khổ, bế tác trong quá khứ. Nhưng nếu chỉ có một tình thương đơn thuần thì cũng chưa thể có sáng tạo nghệ thuật.
Thành công của bài thơ còn thuộc về tài hoa của Huy Cận Ông đã biết phát huy những thủ pháp nghệ thuật phù hợp để khác hoạ những hình tượng của mình. Nhờ đó mà giờ đây, bên cạnh mười tám pho tượng của ngành điêu khác Việt Nam, nên thơ ca hiện đại Việt Nam cũng có mười tám vị La Hán được tạc bằng ngôn từ.
Rất có thể những người tinh thông Phật giáo viếng thăm chùa Tây Phương sẽ giải thích các pho tượng La Hán kia một cách khác chăng. Nhưng Huy Cận thì không hề quan sát và miêu tá các vị ấy theo quan điểm Phật giáo. Nhà thơ không đối thoại với các nhà Phật học mà đối thoại với "bác thợ cà" ngày xưa đã tạc nên 18 pho tượng tuyệt vời này như những công trình nghệ thuật phàn ánh thời đai của mình, đúng vào cái thế kỷ mà Nguyễn Du viết Truyện Kiêu và Văn Chiêu hồn.
Cha ông năm tháng đè lưng nặng
Những bạn đương thời của Nguyễn Du Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì khi nhìn những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá? Nung nấu tâm can vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu…
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
Từ lâu nhiều người đã kể Số đỏ của Vũ Trọng Phụng vào hàng những tác phẩm xuất sắc của thể loại tiểu thuyết trào phúng. Số đỏ như chính là hiện thân của nghệ thuật trào phúng trong văn xuôi Việt Nam. Với Số đỏ, người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê, thoải mái. Nhưng cũng với Số đỏ người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời, cái xã hội gì, cái lũ người gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân bạc ác đến thế.
Đọc Số đỏ, người ta nghĩ: đây đúng là đất sở trường của Vũ Trọng Phụng, đây thật là ngón võ sở trường của Vũ Trọng Phụng. Trong tác phẩm này, ngón võ ấy được sử dụng một cách cực kỳ lợi hại trong một chương, chương XV, có nhan đề là Hạnh phúc của một tang gia.
Ngón võ ấy là ngón gì? Ấy chính là nghệ thuật tạo mâu thuẫn. Thật ra thì không phải Vũ Trọng Phụng tạo ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn vốn nó tự có trong bản chất xã hội, và nhà văn họ Vũ, với cái nhìn sắc như dao của mình, với cái tài của một nhà trào phúng bẩm sinh, đã nhận ra nó, chỉ nó ra, nâng nó lên cho cả bàn dân thiên hạ nhìn thấy, để cười, để căm ghét và khinh bỉ nó.
Cách đặt nhan đề chương sách của Vũ Trọng Phụng đã lạ lùng, đầy mâu thuẫn: Hạnh phúc của một tang gia. Tang gia mà cũng hạnh phúc à? Tang gia mà cũng có thể hạnh phúc được ư? Cái chết, cái chết của người thân gia đình có thể đem lại cho người ta hạnh phúc được sao? Nếu chỉ đọc nhan đề, người ta có thể nghĩ là nhà văn đã bịa ra, bịa ra một cách ác ý sự kết hợp của hai khái niệm hoàn toàn đối lập ấy. Nhưng không, đó không phải là ác ý của nhà văn, đó là sự thật của đời sống, sự thật của một xã hội mà nhà văn muốn mổ xẻ ra để mọi người nhìn thấy nó tận mặt.
Mọi sự bắt đầu từ cái chết của một ông già. Ông già ấy là cha, là ông của một gia đình đông đảo và “đáng kính” của một xã hội “thượng lưu”. Cả gia đình ấy đã nhao lên, “nhao lên mỗi người một cách”. Nhưng nhao lên vì đau khổ, vì đau đớn, vì lo lắng… trước cái chết của người thân chăng? Không phải, chúng đã nhao lên vì … hạnh phúc! “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Câu văn tưởng chừng ngược đời kia của Vũ Trọng Phụng đã thâu tóm cả một thứ “thế thái nhân tình”.
Nhận định ấy không hề là một sự bịa đặt cho vui của nhà văn. Sự thật rành rành rất cụ thể này đây: Ông phán mọc sừng, sau cái chết của ông bố vợ, bỗng thấy cái “sự mọc sừng” của mình đột nhiên tăng giá lên thêm vài nghìn đồng. Cụ cố Hồng sung sướng “mơ màng đến cái lúc mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để được người ta ngợi khen “một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế…”. Còn ông Văn Minh, cháu đích tôn, nhà cải cách xã hội? Ông ta sung sướng tột đỉnh, bởi vì, với cái chết của ông nội, ông ta thấy rằng cái tờ di chúc đã được thực hiện, nghĩa là cái ao ước cho ông nội mình chết đi, để chia của, đã trở thành sự thật. Bà Văn Minh sung sướng theo đúng cách của một phụ nữ tân thời, bà ta nhận ra từ cái chết của ông nội chồng một dịp may hiếm có để có thể mặc “tang phục tân thời”, đồ xô gai tân thời, “dernìeres créations” của tiệm may Âu Hóa!
Tâm địa cái lũ người kia tưởng đến thế đã là tởm. Nhưng chưa hết. Đến đây, Vũ Trọng Phụng còn đầy mâu thuẫn lên một tầng nữa. Bởi bọn con cháu bất hiếu bất mục nhất trần đời đó còn muốn tỏ ra mình là những kẻ có hiếu có thảo cũng nhất trần đời nữa kia. Thế là dưới ngòi bút của nhà văn trào phúng, sự bịp bợm cao nhất, đáng phỉ nhổ nhất cũng bộc lộ ra. Những kẻ mong cho ông già mau chết đã tổ chức một đám ma thật to để bày tỏ lòng hiếu thảo, nghĩa tiếc thương đối với người đã chết! Chính vì thế, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng đã tập trung sức mạnh, như có thần, trong phần thứ hai của chương sách, nghĩa là phần tả cảnh đám ma.
Trước hết, nhà văn tả cô Tuyết, một cô gái hư hỏng như chỉ “hư hỏng một nửa”, một thứ thiếu nữ đang rất tiêu biểu trong xã hội “tân thời ngày ấy”. Tuyết mặc bộ tang phục “ngây thơ” nửa kín nửa hở, với nét mặt có “vẻ buồn lãng mạn” (vì nhớ nhân tình chứ không phải vì thương người chết) đã gây một hiệu quả lạ lùng: các vị tai to mặt lớn đi đưa đám chỉ nhìn vào vẻ khêu gợi của Tuyết để mà cảm động, cứ như thực sự cảm động trước nỗi buồn tang tóc vậy.
Xem thêm: Về một khổ thơ mà anh (chị) cho là hay nhất trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc TửĐám ma thật to, to đến nước “có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng”. Người ta đã lợi dụng đám ma đến mức cao nhất để khoe giàu khoe sang và khoe lòng hiếu thảo giả vờ của mình! Nếu như mong muốn của tất cả đám con cháu của người chết kia là, trong đám ma này, đưa sự giả dối, bịp bợm đồng thời cũng là sự tàn nhẫn, bất nhân, đểu giả của mình lên đến mức hoàn toàn, thì quả thật chúng đã đạt được một cách trọn vẹn, xuất sắc.
Nhưng chưa hết đâu, dưới mắt Vũ Trọng Phụng, cái lũ người giả dối không chỉ bao gồm một nhóm nhỏ ấy đâu. Chúng đông đảo lắm. Chúng là toàn xã hội.
Bắt đầu là đại diện bộ máy cảnh sát, nghĩa là đại diện của Nhà nước: thầy Min Đơ và thầy Min Toa. Tác giả đã nói đến vẻ mừng rỡ hí hửng của hai thầy khi được nhà chủ đám ma thuê làm người giữ trật tự. Lí do của sự mừng rỡ duy nhất chỉ là vì họ đang không có việc gì để làm, và đang “buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nơ”. Thứ đến là các vị tai to mặt lớn, lớp “tinh hoa” của giới thượng lưu xã hội, mặt mũi long trọng, ngực đeo đầy đủ thứ “bội tinh”. Trong đám ma này, sự cảm động của họ không phải vì tưởng nhớ đến người đã khuất, cũng không vì tiếng kèn đưa ma não ruột bi ai, mà chỉ vì… được ngắm không mất tiền làn da trắng thập thò trong làn áo mỏng của cô Tuyết.
Sự xuất hiện của hai tên đại bịp trong dịp này lại khiến người ta “cảm động” đến cực điểm: Xuân Tóc Đỏ và sư cụ Tăng Phú. Vì sao? Vì với sáu chiếc xe kéo và những vòng hoa đồ sộ, hai kẻ này đã làm cho đám ma thêm long trọng, to tát. Đến bà cụ cố Hồng, có lẽ người lương thiện nhất trong cái gia đình vừa hư hỏng vừa đại bịp ấy, cũng cảm động đến hớt hãi lên.
Những người đi đưa đám thật đông đảo. Bằng điệp khúc “Đám cứ đi…” được nhắc lại đến mấy lần, tác giả như muốn nói: đám ma thật là to, thật là đông, thiên hạ tha hồ màchiêm ngưỡng để thấy rõ sự to tát của nó. Nhưng cứ tìm thử xem trong đám người đông đảo ấy có ai là người đang thực sự “đi đưa đám”, nghĩa là thực sự có chút tiếc thương đối với người chết mà họ đang đưa tiễn? Không có ai cả. Tất cả mọi người đàn ông cũng như đàn bà, già cũng như trẻ, tuy đang giữ một vẻ nghiêm chỉnh, nhưng đều đang nói một điều gì đó, làm một điều gì đó, nghĩ một điều gì đó không dính dáng đến người chết và đám ma cả. Trai thanh gái lịch thì chim nhau, bình phẩm, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau… nhưng tất cả đều “bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma”.
Thật là nhẫn tâm, thật là vô liêm sỉ. Ta sẽ nghĩ thế. Nhưng với Vũ Trọng Phụng, có nghe được những lời mà bọn họ nói với nhau mới thấy sự vô liêm sỉ ấy còn trơ tráo đến mức nào. Và nhà văn đã đưa ra một số lời ấy.
“Đám cứ đi…” nghĩa là sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn kéo dài.
Đến lúc đám không “cứ đi” nữa mà dừng lại để hạ huyệt. Vũ Trọng Phụng còn hiến cho người đọc hai chi tiết đặc sắc, đẩy cảnh đưa đám này lên đến đỉnh điểm. Chi tiết thứ nhất là cảnh cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm những động tác, giữ những tư thế đau buồn để cho cậu ta.. chụp ảnh. Chi tiết thứ hai là ông phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong gia đình này, đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta đã giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đồng vì đã có
công gọi ông ta là “người chồng mọc sừng” (chính là cái công gián tiếp khiến cho ông già đã chết). Thật là những kịch sĩ thượng hạng của những tấn trò đời. Hai chi tiết ấy đóng lại một cách trọn vẹn và sắc sảo chương sách nói về sự giả dối của người đời.
Những điều Vũ Trọng Phụng viết trong chương sách là chuyện thật ư? Lẽ nào… Những điều ấy toàn là hư cấu ư? Nhưng những điều ấy đều hợp lí lắm mà, và hình như đều có thật cả. Ngòi bút Vũ Trọng Phụng đúng là sắc như dao. Đằng sau những lời nói như đùa, sự thật của đời sống cứ hiện ra lồ lộ trên đó nổi lên hai điều lớn nhất: sự tàn nhẫn và sự dối trá.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Dàn ý và bài làm phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
|
Đề bài: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
Từ lâu nhiều người đã kể Số đỏ của Vũ Trọng Phụng vào hàng những tác phẩm xuất sắc của thể loại tiểu thuyết trào phúng. Số đỏ như chính là hiện thân của nghệ thuật trào phúng trong văn xuôi Việt Nam. Với Số đỏ, người đọc được cười từ đầu đến cuối, cười một cách hả hê, thoải mái. Nhưng cũng với Số đỏ người đọc phải phẫn uất mà kêu lên: Trời, cái xã hội gì, cái lũ người gì mà giả dối, bịp bợm đến thế, bất nhân bạc ác đến thế.
Đọc Số đỏ, người ta nghĩ: đây đúng là đất sở trường của Vũ Trọng Phụng, đây thật là ngón võ sở trường của Vũ Trọng Phụng. Trong tác phẩm này, ngón võ ấy được sử dụng một cách cực kỳ lợi hại trong một chương, chương XV, có nhan đề là Hạnh phúc của một tang gia.
Ngón võ ấy là ngón gì? Ấy chính là nghệ thuật tạo mâu thuẫn. Thật ra thì không phải Vũ Trọng Phụng tạo ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn vốn nó tự có trong bản chất xã hội, và nhà văn họ Vũ, với cái nhìn sắc như dao của mình, với cái tài của một nhà trào phúng bẩm sinh, đã nhận ra nó, chỉ nó ra, nâng nó lên cho cả bàn dân thiên hạ nhìn thấy, để cười, để căm ghét và khinh bỉ nó.
Cách đặt nhan đề chương sách của Vũ Trọng Phụng đã lạ lùng, đầy mâu thuẫn: Hạnh phúc của một tang gia. Tang gia mà cũng hạnh phúc à? Tang gia mà cũng có thể hạnh phúc được ư? Cái chết, cái chết của người thân gia đình có thể đem lại cho người ta hạnh phúc được sao? Nếu chỉ đọc nhan đề, người ta có thể nghĩ là nhà văn đã bịa ra, bịa ra một cách ác ý sự kết hợp của hai khái niệm hoàn toàn đối lập ấy. Nhưng không, đó không phải là ác ý của nhà văn, đó là sự thật của đời sống, sự thật của một xã hội mà nhà văn muốn mổ xẻ ra để mọi người nhìn thấy nó tận mặt.
Mọi sự bắt đầu từ cái chết của một ông già. Ông già ấy là cha, là ông của một gia đình đông đảo và “đáng kính” của một xã hội “thượng lưu”. Cả gia đình ấy đã nhao lên, “nhao lên mỗi người một cách”. Nhưng nhao lên vì đau khổ, vì đau đớn, vì lo lắng… trước cái chết của người thân chăng? Không phải, chúng đã nhao lên vì … hạnh phúc! “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Câu văn tưởng chừng ngược đời kia của Vũ Trọng Phụng đã thâu tóm cả một thứ “thế thái nhân tình”.
Nhận định ấy không hề là một sự bịa đặt cho vui của nhà văn. Sự thật rành rành rất cụ thể này đây: Ông phán mọc sừng, sau cái chết của ông bố vợ, bỗng thấy cái “sự mọc sừng” của mình đột nhiên tăng giá lên thêm vài nghìn đồng. Cụ cố Hồng sung sướng “mơ màng đến cái lúc mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để được người ta ngợi khen “một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế…”. Còn ông Văn Minh, cháu đích tôn, nhà cải cách xã hội? Ông ta sung sướng tột đỉnh, bởi vì, với cái chết của ông nội, ông ta thấy rằng cái tờ di chúc đã được thực hiện, nghĩa là cái ao ước cho ông nội mình chết đi, để chia của, đã trở thành sự thật. Bà Văn Minh sung sướng theo đúng cách của một phụ nữ tân thời, bà ta nhận ra từ cái chết của ông nội chồng một dịp may hiếm có để có thể mặc “tang phục tân thời”, đồ xô gai tân thời, “dernìeres créations” của tiệm may Âu Hóa!
Tâm địa cái lũ người kia tưởng đến thế đã là tởm. Nhưng chưa hết. Đến đây, Vũ Trọng Phụng còn đầy mâu thuẫn lên một tầng nữa. Bởi bọn con cháu bất hiếu bất mục nhất trần đời đó còn muốn tỏ ra mình là những kẻ có hiếu có thảo cũng nhất trần đời nữa kia. Thế là dưới ngòi bút của nhà văn trào phúng, sự bịp bợm cao nhất, đáng phỉ nhổ nhất cũng bộc lộ ra. Những kẻ mong cho ông già mau chết đã tổ chức một đám ma thật to để bày tỏ lòng hiếu thảo, nghĩa tiếc thương đối với người đã chết! Chính vì thế, ngòi bút của Vũ Trọng Phụng đã tập trung sức mạnh, như có thần, trong phần thứ hai của chương sách, nghĩa là phần tả cảnh đám ma.
Trước hết, nhà văn tả cô Tuyết, một cô gái hư hỏng như chỉ “hư hỏng một nửa”, một thứ thiếu nữ đang rất tiêu biểu trong xã hội “tân thời ngày ấy”. Tuyết mặc bộ tang phục “ngây thơ” nửa kín nửa hở, với nét mặt có “vẻ buồn lãng mạn” (vì nhớ nhân tình chứ không phải vì thương người chết) đã gây một hiệu quả lạ lùng: các vị tai to mặt lớn đi đưa đám chỉ nhìn vào vẻ khêu gợi của Tuyết để mà cảm động, cứ như thực sự cảm động trước nỗi buồn tang tóc vậy.
Xem thêm: Về một khổ thơ mà anh (chị) cho là hay nhất trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc TửĐám ma thật to, to đến nước “có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng”. Người ta đã lợi dụng đám ma đến mức cao nhất để khoe giàu khoe sang và khoe lòng hiếu thảo giả vờ của mình! Nếu như mong muốn của tất cả đám con cháu của người chết kia là, trong đám ma này, đưa sự giả dối, bịp bợm đồng thời cũng là sự tàn nhẫn, bất nhân, đểu giả của mình lên đến mức hoàn toàn, thì quả thật chúng đã đạt được một cách trọn vẹn, xuất sắc.
Nhưng chưa hết đâu, dưới mắt Vũ Trọng Phụng, cái lũ người giả dối không chỉ bao gồm một nhóm nhỏ ấy đâu. Chúng đông đảo lắm. Chúng là toàn xã hội.
Bắt đầu là đại diện bộ máy cảnh sát, nghĩa là đại diện của Nhà nước: thầy Min Đơ và thầy Min Toa. Tác giả đã nói đến vẻ mừng rỡ hí hửng của hai thầy khi được nhà chủ đám ma thuê làm người giữ trật tự. Lí do của sự mừng rỡ duy nhất chỉ là vì họ đang không có việc gì để làm, và đang “buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nơ”. Thứ đến là các vị tai to mặt lớn, lớp “tinh hoa” của giới thượng lưu xã hội, mặt mũi long trọng, ngực đeo đầy đủ thứ “bội tinh”. Trong đám ma này, sự cảm động của họ không phải vì tưởng nhớ đến người đã khuất, cũng không vì tiếng kèn đưa ma não ruột bi ai, mà chỉ vì… được ngắm không mất tiền làn da trắng thập thò trong làn áo mỏng của cô Tuyết.
Sự xuất hiện của hai tên đại bịp trong dịp này lại khiến người ta “cảm động” đến cực điểm: Xuân Tóc Đỏ và sư cụ Tăng Phú. Vì sao? Vì với sáu chiếc xe kéo và những vòng hoa đồ sộ, hai kẻ này đã làm cho đám ma thêm long trọng, to tát. Đến bà cụ cố Hồng, có lẽ người lương thiện nhất trong cái gia đình vừa hư hỏng vừa đại bịp ấy, cũng cảm động đến hớt hãi lên.
Những người đi đưa đám thật đông đảo. Bằng điệp khúc “Đám cứ đi…” được nhắc lại đến mấy lần, tác giả như muốn nói: đám ma thật là to, thật là đông, thiên hạ tha hồ màchiêm ngưỡng để thấy rõ sự to tát của nó. Nhưng cứ tìm thử xem trong đám người đông đảo ấy có ai là người đang thực sự “đi đưa đám”, nghĩa là thực sự có chút tiếc thương đối với người chết mà họ đang đưa tiễn? Không có ai cả. Tất cả mọi người đàn ông cũng như đàn bà, già cũng như trẻ, tuy đang giữ một vẻ nghiêm chỉnh, nhưng đều đang nói một điều gì đó, làm một điều gì đó, nghĩ một điều gì đó không dính dáng đến người chết và đám ma cả. Trai thanh gái lịch thì chim nhau, bình phẩm, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau… nhưng tất cả đều “bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma”.
Thật là nhẫn tâm, thật là vô liêm sỉ. Ta sẽ nghĩ thế. Nhưng với Vũ Trọng Phụng, có nghe được những lời mà bọn họ nói với nhau mới thấy sự vô liêm sỉ ấy còn trơ tráo đến mức nào. Và nhà văn đã đưa ra một số lời ấy.
“Đám cứ đi…” nghĩa là sự vô liêm sỉ ấy không hề khép lại, nó còn kéo dài.
Đến lúc đám không “cứ đi” nữa mà dừng lại để hạ huyệt. Vũ Trọng Phụng còn hiến cho người đọc hai chi tiết đặc sắc, đẩy cảnh đưa đám này lên đến đỉnh điểm. Chi tiết thứ nhất là cảnh cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm những động tác, giữ những tư thế đau buồn để cho cậu ta.. chụp ảnh. Chi tiết thứ hai là ông phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong gia đình này, đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta đã giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đồng vì đã có
công gọi ông ta là “người chồng mọc sừng” (chính là cái công gián tiếp khiến cho ông già đã chết). Thật là những kịch sĩ thượng hạng của những tấn trò đời. Hai chi tiết ấy đóng lại một cách trọn vẹn và sắc sảo chương sách nói về sự giả dối của người đời.
Những điều Vũ Trọng Phụng viết trong chương sách là chuyện thật ư? Lẽ nào… Những điều ấy toàn là hư cấu ư? Nhưng những điều ấy đều hợp lí lắm mà, và hình như đều có thật cả. Ngòi bút Vũ Trọng Phụng đúng là sắc như dao. Đằng sau những lời nói như đùa, sự thật của đời sống cứ hiện ra lồ lộ trên đó nổi lên hai điều lớn nhất: sự tàn nhẫn và sự dối trá.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Dàn ý và bài làm phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
|
Phân tích nhân vật A Phủ qua truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Gợi ý
Vợ chồng A Phủ là một trong ba truyện ngắn của tập Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1953. Truyện kể về hai chặng đường đời của Mị và A Phủ những ngày ở Hồng Ngài trong nhà thống lý Pá Tra và sau khi sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng, gặp gỡ Cách mạng và trở thành chiến sĩ du kích. Trong đó, A Phủ là một nhân vật gây ấn tượng khá sâu sắc.
Tác giả cho A Phủ xuất hiên khá đột ngột trong một hoàn cảnh đánh nhau với A Sử, bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn ở nhà thống lý Pá Tra, rồi mới kể về lai lịch của nhân vật. Đó là một người nghèo khổ đã mất hết cả mẹ cha và anh em trong một trận đậu mùa khủng khiếp, phải sống kiếp bơ vơ khi còn rất nhỏ và người làng đói bụng đã bắt A Phủ đưa xuống bán đổi lấy thóc của người Thái ở dưới cánh đồng. Không cam chịu cuộc sống khốn khổ, mới mười tuổi mà A Phủ đã tự khẳng định tính cách gan góc: một mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề biết đúc lưỡi cày lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo. Khi lớn lên, A Phủ chẳng những hiền lành, lao động giỏi mà còn có sức khoẻ hơn người, Công việc làm ăn đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng. A Phủ chạy nhanh như ngựa. Vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, A Phủ vẫn sống một đời sống tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên, yêu đời, yêu chính nghĩa, tự tin của tuổi trẻ. Đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù chẳng có quần áo mới như nhiều trai làng khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng trên cổ. A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn con quay và quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong rừng. Vì vậy, A Phủ trở thành niềm mơ ước của biết bao cô gái Mèo. Họ kháo với nhau: Xem thêm: Hãy phát biểu suy nghĩ của anh (chị) về bài học cuộc sống mà bài thơ Những bó hoa của Văn CaoĐứa nào được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu. Tuy vậy với tập tục khắc nghiệt của xã hội phong kiến miền núi đương thời, A Phủ chẳng những bị khinh thường mà thực tế cũng chẳng bao giờ anh kiếm đủ tiền để làm nhà và cưới vợ.
Đau khổ hơn, A Phủ là đứa con của núi rừng tự do mà vẫn không sao thoát khỏi kiếp sống nô lệ. Sự việc xảy ra vào đêm hội mùa xuân. A Phủ dám đánh lại con nhà quan phá đám chơi: chạy vụt ra, vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kẹp dập đầu xiềng, xé vai áo, đánh tới tấp. Hành động dữ dội đó của A Phủ có nguyên cớ sâu xa từ mối hận thù giai cấp. Sau đó, bị tay chân nhà Pá Tra đánh đập rất dã man, A Phủ đã chứng tỏ mình là con người bất khuất, cứng rắn gan dạ. A Phủ không hề khóc lóc van xin mà lại quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá. Cuối cùng trong cảnh xử kiện quái gở khi kẻ phát đơn kiện cũng là người ngồi ghế quan toà, A Phủ đã bị Pá Tra buộc làm nô lê không công suốt đời để trừ nợ. Đó là kiếp sống bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải gánh vác những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như cày ruộng, cuốc nương và săn bò tót, bẫy hổ, chăn ngựa quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò bãi, nương rừng. Xem thêm: "Ý tại ngôn ngoại” là một trong những đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường. Anh (chị) hãy chứng minh đặc trưng đó qua các bài thơ Đường đã học trong chương trình Tính mạng của A Phủ sống hay chết cũng được quyết định bởi bàn tay tàn bạo của thống lý Pá Tra Chỉ vì để hổ bắt mất bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói vào cọc bằng dây mây quấn từ chân lên vai. Va nếu bọn A Sử không bắt được hổ về thì chắc chắn A Phủ sẽ phải chết chết đau, chết đói, chết rét – như Mị tùng chứng kiến những cảnh tương tự.
Tuy vậy, với tình yêu cuộc sống mãnh liệt, bản chất gan góc, bất khuất, sẵn có, A Phủ không cam chịu chết mà tìm mọi cách tự giải thoát: Đêm đến, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai đầu dây, nhích dần dây trói một bên tay. Và với sự trợ giúp của MỊ, A Phủ đã được tự do. Hai người trốn khỏi Hồng Ngài, tới khu du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. A Phủ và Mị lần lượt trở thành chiến sĩ du kích, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình, giải phóng bản làng quê hương. Từ đấu tranh tự phát, A Phủ và Mị đã tiến dần đến cuộc đấu tranh tự giác.
Cùng với Mị, cuộc đời và tính cách của A Phủ có ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và phẩm chất của người dân vùng cao Tây Bắc. Từ trong bóng tối của cuộc đời đầy đau khổ, tủi nhục, họ đã vươn tới ánh sáng rực rỡ của nhân phẩm và tự do, ánh sáng của Cách mạng. Đấy cũng là giá trị nhân đạo, mới mẻ sâu sắc của tác phẩm giàu chất thơ này.Xem thêm: Bài văn biểu cảm về Hoa sen lớp 7Vanmau.edu.vn
|
Analyze the character A Phu through the story A Phu and his wife by To Hoai
Suggest
A Phu and his wife is one of three short stories in the collection Tales of the Northwest by writer To Hoai composed in 1953. The story tells about the two life paths of Mi and A Phu, during the days in Hong Ngai in the house of governor Pa Tra and after When they arrived in Phieng Sa, they became husband and wife, met the Revolution and became a guerrilla soldier. Among them, A Phu is a character that makes quite a deep impression.
The author let A Phu appear quite suddenly in a fight with A Su, being arrested, brutally beaten at the house of governor Pa Tra, and then tells about the character's background. That was a poor man who lost all his parents and siblings in a terrible smallpox epidemic, had to live a lonely life when he was very young, and the hungry villager forced A Phu to take him down to sell in exchange for rice from the Thai people. down in the fields. Unable to accept the miserable life, at only ten years old, A Phu affirmed his courageous personality: earning a living by himself, learning all kinds of trades, knowing how to cast plowshares to plow well and hunting gaur very fiercely. When he grew up, A Phu was not only gentle and good at working, but also had better health than others. He went hunting and did everything very well. A Phu ran as fast as a horse. Overcoming harsh circumstances, A Phu still lives a liberal, innocent soul, loves life, loves justice, and has the confidence of youth. At the age of play, on Tet day, although he did not have new clothes like many other village boys, A Phu only had a necklace around his neck. A Phu also went with the village boys to bring a flute, a spinning top and a pao to find his lover in the villages in the forest. Therefore, A Phu became the dream of many Cat girls. They talked to each other: See more: Express your thoughts about the life lesson that Van Cao's poem Bouquets of Flowers Anyone who gets A Phu is the same as having a good buffalo in the house, it won't be long before rich. However, with the harsh customs of contemporary mountainous feudal society, A Phu was not only despised, but in fact he never earned enough money to build a house and get married.
More painfully, A Phu was a child of the free mountains and forests but still could not escape a life of slavery. The incident happened on the night of the spring festival. A Phu dared to fight back against the mandarin's son who interrupted the party: he ran out, waved his hand and threw a very large spinning top in A Su's face. As soon as he raised his hand, A Phu rushed forward, grabbed the necklace, crushed the end of the chain, tore off the shoulder of his shirt, and beat him to the core. That fierce action of A Phu had a deep reason from class hatred. After that, being brutally beaten by Pa Tra's henchmen, A Phu proved himself to be an indomitable, tough and courageous person. A Phu did not cry and beg, but instead knelt and endured the beatings, just as silent as a stone statue. Finally, in the strange lawsuit scene when the person who filed the lawsuit was also the judge, A Phu was forced by Pa Tra to work as an unpaid slave for life to pay off his debt. It is a life of being despised, mistreated and having to shoulder the hardest and most dangerous jobs such as plowing fields, hoeing fields, hunting bulls, trapping tigers, herding horses all year round, wandering alone in the hills. beaches, fields and forests. See more: "Idea in foreign language" is one of the typical characteristics of Tang poetry. Please prove that characteristic through the Tang poems you have learned in the program A Phu's life is whether he lives or dies. decided by the brutal hands of governor Pa Tra Just because he let the tiger take the cow, A Phu was beaten and tied to a stake with a rattan rope wrapped from his feet to Va's shoulders if A Su's group did not capture the tiger Then surely A Phu will have to die of pain, starvation, and cold - as Mi Tung witnessed similar scenes.
However, with a strong love for life, a courageous, indomitable, and inherent nature, A Phu did not accept death but found every way to free himself: At night, A Phu bent down, broke the two ends of the rope, Gradually move the rope to tie one hand. And with MY help, A Phu was freed. The two escaped from Hong Ngai, went to the guerrilla area in Phieng Sa, and met A Chau officials. A Phu and Mi respectively became guerrilla fighters, actively participating in the struggle to completely liberate their lives and liberate their hometown village. From spontaneous struggle, A Phu and Mi gradually moved towards self-conscious struggle.
Along with Mi, A Phu's life and personality represent the fate and qualities of the people of the Northwest highlands. From the darkness of a life full of suffering and humiliation, they rose to the bright light of dignity and freedom, the light of the Revolution. That is also the profound humanity and new value of this poetic work. See more: Expressive essay about Lotus for grade 7Vanmau.edu.vn
|
A Phủ là một thanh niên nghèo, chất phác nhưng sống dưới chế độ phong kiến miền núi nên cuộc đời chịu nhiều cực khổ. A Phủ phải đi làm thuê trả nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Để hiểu rõ hơn về cuộc đời của A Phủ, chúng ta hãy cùng đi phân tích nhân vật A Phủ.
Trước khi bước vào bài phân tích thì các em nên lập dàn ý chi tiết phân tích nhân vật A Phủ, vạch ra những ý chính cần có trong bài. Dưới đây sẽ là phần hướng dẫn của Kho tàng văn mẫu.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật A Phủ
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.
– Giới thiệu về nhân vật A Phủ.
2. Thân bài
Xuất thân của nhân vật A Phủ
– A Phủ vốn là một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Lúc ấy còn nhỏ, A Phủ bị người ta bắt rồi đem bán để đổi lấy thóc.
– A Phủ trốn thoát được và lưu lạc đến Hồng Ngài.
Ngoại hình, tính cách của A Phủ
– A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, giỏi lao động nên được nhiều cô gái mơ ước.
– A Phủ chỉ là chàng trai làm thuê nên hoàn cảnh vô cùng nghèo khó. A Phủ không có tiền lấy vợ, không mua được nổi 1 cái vòng bạc để đi chơi Tết.
– Hoàn cảnh đã khiến A Phủ trở nên gan góc, táo bạo và có một sức sống vô cùng mạnh mẽ.
Cuộc sống của A Phủ khi ở nhà thống lí
– Với tính cách của mình, A Phủ sẵn sàng đối đầu với bọn con quan.Xem thêm: Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm
– A Phủ bị bắt trói về nhà thống lí, bị tra tấn đòn ron và bị bắt làm nô lệ gạt nợ cho nhà thống lí.
– A Phủ sống tủi nhục như con trâu, con ngựa trong nhà thống lí.
Cuộc gặp gỡ với Mị
– Sức sống trong A Phủ vẫn luôn tiềm tàng.
– Mị đã cởi trói cho A Phủ, giúp A Phủ thoát khỏi cuộc sống địa ngục.
– A Phủ cùng Mị bỏ trốn và sau này, A Phủ đã giác ngộ cách mạng.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật A Phủ.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật A Phủ
Nhà văn Tô Hoài đã quen thuộc với bạn đọc qua nhiều tác phẩm xuất sắc. Trẻ nhỏ thì biết đến ông qua tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký, người lớn tuổi hơn thì ấn tượng với Vợ chồng A Phủ. Trong Vợ chồng A Phủ, các nhân vật như Mị, A Phủ gây ấn tượng mạnh với người đọc về cuộc đời nhiều cơ cực của họ. Nhân vật A Phủ có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng lại phải chịu khổ vì chính tính cách của mình.
A Phủ có xuất thân vô cùng khổ cực khi sớm phải mồ côi cả cha lẫn mẹ sau một trận dịch. Năm ấy, A Phủ mới chỉ chừng hơn 10 tuổi. A Phủ bị người ta bắt về nhưng không phải để chăm sóc mà lại đem bán đi để đổi lấy gạo của người Thái. Vì tính tình gan dạ, A Phủ đã bỏ trốn được rồi sau đó lưu lạc lên Hồng Ngài. Sau đó, A Phủ tự mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề. Có ai thuê làm gì, A Phủ cũng làm. Với sự chăm chỉ của mình nên A Phủ làm gì cũng giỏi. Không chỉ biết đúc lại lưỡi cày, A Phủ còn biết đi săn bò tót nữa. A Phủ càng lớn thì càng chứng tỏ mình là một chàng trai khỏe mạnh, có sức vóc. Cộng thêm tính tình hiền lành nên A Phủ được nhiều người yêu quý. Cũng chính vì vậy mà dù cuộc sống có nghèo khổ thì A Phủ cũng vẫn yêu đời, tự tin vào tuổi trẻ của mình. A Phủ trở thành niềm mơ ước của các cô gái H’mông. Họ nói với nhau rằng có được A Phủ trong nhà thì chẳng mấy lúc mà giàu. Nhưng khổ nỗi, A Phủ nghèo quá nên chẳng có đủ tiền để cưới vợ. Không tiền, không địa vị, A Phủ bị người đời khinh rẻ. A Phủ thậm chí còn chẳng đủ tiền mua một cái vòng bạc để đi chơi Tết.Xem thêm: Hãy nói lời đáp của em khi được người khác cảm ơn
Phân tích nhân vật A Phủ
Cuộc đời của A Phủ rẽ ngang khi A Phủ đánh nhau với A Sử, con trai của nhà thống lí Pá Tra. A Phủ, chàng trai của núi rừng tự do cuối cùng cũng chẳng thể nào thắng được chế độ phong kiến, không thể nào thoát được kiếp sống nô lệ. A Phủ bị bắt trói về nhà thống lí Pá Tra, bị đánh đập rồi bị bắt làm nô lệ gạt nợ cho nhà thống lí. A Phủ kể từ đó phải chịu một cuộc đời nhục nhã. A Phủ bị ngược đãi, phải làm những công việc nặng nhọc và nguy hiểm như bẫy hổ, chăn ngựa, săn bò tót, cuốc nương, cày ruộng. Cuộc đời của A Phủ từ đây không còn do A Phủ định đoạt nữa mà là do bàn tay của thống lí Pá Tra. Cũng chính vì để hổ bắt mất bò mà A Phủ bị trói vào cột, bị đánh cho chết đi sống lại. Khi Mị nhìn thấy A Phủ bị trói, Mị còn xem A Phủ như một cái xác bị trói đứng. Mặc dù thân xác bị trói nhưng tinh thần khản kháng trong A Phủ luôn bùng cháy. Bản chất gan góc và bất khuất vẫn luôn tồn tại trong con người A Phủ. Vậy nên khi được Mị cởi trói, A Phủ đã dẫn Mị theo cùng, cả hai cùng giải thoát cho nhau, bay về phía chân trời tự do.
Nhân vật A Phủ được xây dựng đậm chất anh hùng ca. Qua nhân vật A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã thể hiện được giá trị nhân đạo mới mẻ và sâu sắc.Xem thêm: Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
Trên đây là phần dàn ý và bài văn mẫu phân tích nhân vật A Phủ. Bài viết chỉ mang tính chất gợi ý, các em nên dựa vào đó để viết bài văn của riêng mình.
Thu Thủy
|
A Phu is a poor, simple young man, but living under the feudal regime in the mountains, his life has suffered many hardships. A Phu had to work as a hired laborer to pay off his debt to the governor of Pa Tra. To better understand A Phu's life, let's analyze A Phu's character.
Before starting the analysis, you should create a detailed outline to analyze the character A Phu, outlining the main ideas needed in the article. Below will be the instructions of the Sample Literature Treasury.
I. Create an outline to analyze the character A Phu
1. Open the lesson
– Introduction to writer To Hoai and the short story A Phu and his wife.
– Introducing the character A Phu.
2. Body of the article
Origin of the character A Phu
– A Phu was originally an orphan of both parents. When he was still young, A Phu was captured and sold in exchange for rice.
– A Phu escaped and wandered to Hong Ngai.
Appearance and personality of A Phu
– A Phu is a healthy guy, good at working, so many girls dream of him.
– A Phu is just a hired boy, so his situation is extremely poor. A Phu had no money to get married and couldn't buy a silver bracelet to go out for Tet.
– Circumstances have made A Phu become brave, bold and have an extremely strong vitality.
A Phu's life while at the governor's house
– With his personality, A Phu is ready to confront the mandarins. See more: Analysis of the poem Khuc sings a lullaby to the big babies on their mother's back by Nguyen Khoa Diem
– A Phu was captured and tied to the governor's house, tortured and forced to become a slave to pay off the governor's debt.
– A Phu lived humiliatedly like a buffalo or horse in the governor's house.
Meeting with Mi
– The vitality in A Phu is always latent.
– I untied A Phu, helping A Phu escape his hellish life.
– A Phu and Mi fled and later, A Phu became enlightened about the revolution.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character A Phu.
Related articles:
>> Analysis of the character Mi in A Phu Couple (With detailed outline)
>> Analysis of the character Mi in the spring love night (With detailed outline)
>> Analysis of To Hoai's A Phu and His Wife (With detailed outline)
II. The article analyzes the character A Phu
Writer To Hoai is familiar to readers through many excellent works. Young children know him through the book The Adventures of Cricket, while older people are impressed with A Phu and his wife. In A Phu and his wife, characters like Mi and A Phu make a strong impression on readers about their miserable lives. The character A Phu has many good qualities but has to suffer because of his own personality.
A Phu had an extremely difficult background when he lost both parents early in life after an epidemic. That year, A Phu was only about 10 years old. A Phu was captured by people, but not to be taken care of, but instead sold to exchange for rice from the Thai people. Because of his brave personality, A Phu was able to escape and then wandered to Hong Ngai. After that, A Phu made a living for himself, learning all kinds of professions. Whatever someone hires, A Phu also does it. With his hard work, A Phu is good at everything. Not only did he know how to recast plowshares, A Phu also knew how to hunt gaur. The older A Phu is, the more he proves that he is a healthy and strong guy. Coupled with his gentle personality, A Phu is loved by many people. That's why, even though life is poor, A Phu still loves life and is confident in his youth. A Phu became the dream of H'mong girls. They told each other that if they had A Phu in their house, they would soon be rich. But unfortunately, A Phu was so poor that he didn't have enough money to get married. With no money and no status, A Phu was despised by people. A Phu doesn't even have enough money to buy a silver bracelet to go out for Tet. See more: Please say your response when someone thanks you
Analyze the character A Phu
A Phu's life took a turn when A Phu fought with A Su, the son of the governor Pa Tra. A Phu, the boy of the free mountains and forests, was ultimately unable to defeat the feudal regime, unable to escape a life of slavery. A Phu was captured and tied to the governor's house, Pa Tra, beaten, then forced into slavery to pay off the governor's debt. A Phu has since suffered a humiliating life. A Phu was mistreated and had to do hard and dangerous work such as trapping tigers, herding horses, hunting bulls, hoeing and plowing fields. From now on, A Phu's life was no longer determined by A Phu, but by the hands of governor Pa Tra. Because of letting the tiger take the cow away, A Phu was tied to a post and beaten to death. When Mi saw A Phu tied up, she also saw A Phu as a corpse tied up. Even though the body is tied up, the spirit of resistance in A Phu is always burning. The courageous and indomitable nature still exists in A Phu people. So when Mi untied her, A Phu took Mi with her. They both freed each other and flew towards the horizon of freedom.
The character A Phu is built with an epic character. Through the character A Phu, writer To Hoai expressed new and profound humanitarian values. See more: Commentary on the poem Expressing Your Heart by Pham Ngu Lao
Above is the outline and sample essay analyzing the character A Phu. This article is only a suggestion, you should rely on it to write your own essay.
Thu Thuy
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài
Nằm trong tập “Truyện Tây Bắc’ có thể nói truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một trong những “đứa con tinh thần” ưu tú nhất của chuyến đi thực tế miền núi Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài.Có thể nói đây là tác phẩm phản ánh đậm nét cuộc sống và số phận bất hạnh và đầy éo le của những người nông dân nghèo dưới ách thống trị của bọn địa chủ phong kiến. Qua đó, dường như ta đã thấy được tác giả cũng làm nổi bật lên khát vọng và nghị lực sống mãnh liệt của những người nghèo khổ. Và bên cạnh nhân vật Mị thì nhân A Phủ chính là một nhân vật để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về sự bản lĩnh vượt lên số phận và vượt lên chính mình.
A Phủ là một nhân vật trong truyện, tuy không phải là nhân vật xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện nhưng dường như lại khiến người cho đọc ám ảnh cho mãi đến về sau. Nhân vật dường như đã xuất hiện trước mắt người đọc trong lần đánh nhau với A Sử – con trai thống lí Pá Tra nên bị bắt, bị phạt vạ và đánh đập rất dã man. Từ đây, có thể thấy rằng tác giả đã ngược dòng để kể về lại lịch của A Phủ, giúp người đọc hình dung rõ hơn về con đường đời vượt lên số phận của anh.
A Phủ được biết đến là một đứa trẻ sinh ra trong nghèo khổ, đau đớn hơn lại mồ côi cả cha lẫn mẹ sau một trận dịch đậu mùa. Chính vì vậy mà cả năm tháng tuổi thơ của anh phải sống kiếp nô lệ đọa đày khi bị người làng bắt trói rồi đem bán cho người Thái ở dưới cánh đồng. Thế nhưng, dường như đã không chịu khuất phục số phận,A Phủ đã liều lĩnh và bỏ trốn lên Hồng Ngài, anh đi làm thuê làm mướn đủ nghề từ mùa này sang mùa khác để kiếm sống nuôi thân. Và cũng bởi chính những bản lĩnh gan góc, và một sức sống tiềm tàng đã được trui rèn trong những năm tháng cơ cực ấy và đó cũng chính là một trong những điều tạo nên sự bứt phá lớn hơn về sau trong cuộc đời A Phủ.Xem thêm: Tả chú gà trống mà em thích nhất
Từ khi trưởng thành, thì A Phủ như lại càng chứng tỏ con người gan góc, không chịu khuất phục, luôn có ý chí vượt lên số phận cay đắng để vươn đến những điều tốt đẹp, đáng mơ ước của mình. Chàng dường như đã “biết đúc lưỡi cày”, “đi săn bò tót rất bạo”. Chẳng những là một nhười lao động giỏi mà A Phủ lại còn có sức khỏe hơn người: “A Phủ chạy nhanh như ngựa”, có thể nói “Công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng”. Có thể thấy chính những nghị lực sống và sức khỏe của anh dường như cũng đã khiến cho nhiều cô gái và người làng yêu mến.
Nhưng tiếc thay, A Phủ hiện lên lại là người không cha không mẹ, không nhà cửa, không ruộng nương và cũng chính vì những tập tục cưới vợ của người Mèo phải có trăm đồng bạc trắng cho nên mà đối với A Phủ chuyên lấy vợ với anh là chuyện quá xa xôi và có phần viển vông. Có thể thấy một chàng trai khỏe mạnh và cá tính như anh đáng lẽ ra anh phải được hưởng hạnh phúc vậy mà cuối cùng vẫn phải một mình cô độc như thế.
Và cho dù có nghèo đói, cơ cực nhưng A Phủ luôn sống lạc quan, tự tin vào tương lai phía trước. Vào trong những ngày lễ Tết, A Phủ dường như không có quần áo mới như những anh con trai khác mà với nhân vật A phủ thì lại “chỉ có độc một chiếc vòng cổ” nhưng “A Phủ cứ đi chơi cùng trai làng, đem sáo, khèn, con quay và cả quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”. Đã có rất nhiều cô gái kháo với nhau: “đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu”.
Chẳng những thế, ở nhân vật A Phủ còn là một con người trọng tình và đầy nghĩa khí. Khi mà gặp chuyện bất bình, dù biết phần thiệt sẽ thuộc về mình và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nhưng A Phủ vẫn thường xông ngay vào để bênh vực cho bạn của mình. Điều này đã chứng tỏ nhân vật A Phủ là một chàng trai gan dạ và chí khí.Xem thêm: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) thể hiện trong cảnh ngộ từ khi Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra đến khi trốn khỏi Hồng Ngài
Và khi anh bị bắt về nhà thống lí Pá Tra, A Phủ đã bị bọn người nhà thống lý đánh đập hết sức dã man, tàn bạo từ trưa cho đến đêm muộn. Và hình ảnh “Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu”. Thế nhưng bọn người nhà thống lý “Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Mặc dù bị đánh đập và rất đau đớn nhưng A Phủ không hề khóc lóc van xin mà trái lại “A Phủ quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá”. Sự im lặng chịu đựng của anh đã cho thấy bản lĩnh gan dạ, không bao giờ chịu khuất phục dù trước mình là ai và sự bất lực, căm phẫn đến tột độ vì không thể làm gì được.
Cho đến cuối cùng, khi kết thúc phiên xử kiện tàn độc, A Phủ đã bị thống lý Pá Tra buộc làm nô lệ không công suốt đời cho nhà hắn để trừ nợ. Đó là kiếp người sống mà bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải đảm đương cả những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như việc săn bot tót đầy nguy hiểm.
Với cảnh xử kiện và kết quả của cuộc xử kiện đã cho thấy giai cấp địa chủ thống trị dường như luôn luôn tìm cách đẩy người nông dân bần cùng xuống dưới đáy của xã hội, không cho họ có một chút cơ hội nào ngoi lên đòi quyền sống và được làm người đúng nghĩa. Có thế mà bọn địa chủ mới hả hê, mới yên lòng.
Chế độ xã hội phong kiến ở miền núi Tây Bắc còn tàn độc đến mức, con người có thể nắm giữ mạng sống của con người, có quyền sinh – sát đối với người khác. Là một con nợ, là nô lệ cho nên vậy mà tính mạng của A Phủ sống hay chết là nằm trong bàn tay của thống lý Pá Tra. Cũng chính vì lý do đó, chỉ vì để hổ vồ mất bò, A Phủ lại bị đánh, bị trói vào cọc “bằng dây sậy quấn từ chân lên vai”. Và chuyện A Phủ sẽ phải chết “chết đau, chết đói, chết rét” là sẽ xảy ra. Và những cảnh tương tự mà Mị từng chứng kiến trong nhà thống lý Pá Tra – để thế mạng cho con bò đã bị hổ ăn thịt.Xem thêm: Phân tích bài thơ "Đò Lèn" của Nguyễn Duy
Tuy vậy, chính với bản lĩnh gan góc, không chịu khuất phục sẵn có, A Phủ nhất định không chịu chết chôn chân ở cái cộc gỗ ấy mà anh luôn tìm cách tự giải thoát cho chính mình“Đêm đến, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai đầu dây, nhích dần dây trói một bên tay”. Nhưng chưa kịp dứt ra thì trời cũng lại vừa sáng, Pá Tra lại tròng thêm vào cổ A Phủ một vòng dây trói nữa. Và nhân vật “A Phủ không cúi, không còn lắc được nữa” đành chịu “đứng nhắm mắt, cho tới đêm khuya”. Và có thể thấy dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen của anh chính là những giọt nước mắt của sự cay đắng, sự cô độc, bất lực và tuyệt vọng. Và phải chăng chính vì trông thấy những giọt nước mắt đau đớn và tuyệt vọng ấy mà lúc này nhân vật Mị đã bùng lên ngọn lửa đấu tranh, quyết định cởi trói cho A Phủ và cho chính mình.
Hai người đã cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài, để tới khu du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. Từ đây, có thể nói A Phủ và Mỵ lần lượt trở thành chiến sĩ du kích, tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình, giải phóng bản làng quê hương. Hình ảnh nhân vật A Phủ cùng Mị trốn khỏi nhà thống lý Pá Tra, giác ngộ được chân lý cách mạng là một hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho khả năng cách mạng lớn lao của người dân miền núi Tây Bắc.
Cùng với M thì có thể thấy cuộc đời và tính cách của A Phủ có ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và phẩm chất của người dân vùng cao Tây Bắc. Từ trong những tăm tối của đau khổ, tủi nhục và chính bằng sức mạnh của chính mình họ đã vươn tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do, ánh sáng của Cách mạng. Đó có thể nói đó cũng chính là giá trị nhân đạo mới mẻ và sâu sắc của tác phẩm giàu chất thơ này.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật A Phủ trong “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài
Nằm trong tập “Truyện Tây Bắc’ có thể nói truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” là một trong những “đứa con tinh thần” ưu tú nhất của chuyến đi thực tế miền núi Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài.Có thể nói đây là tác phẩm phản ánh đậm nét cuộc sống và số phận bất hạnh và đầy éo le của những người nông dân nghèo dưới ách thống trị của bọn địa chủ phong kiến. Qua đó, dường như ta đã thấy được tác giả cũng làm nổi bật lên khát vọng và nghị lực sống mãnh liệt của những người nghèo khổ. Và bên cạnh nhân vật Mị thì nhân A Phủ chính là một nhân vật để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về sự bản lĩnh vượt lên số phận và vượt lên chính mình.
A Phủ là một nhân vật trong truyện, tuy không phải là nhân vật xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện nhưng dường như lại khiến người cho đọc ám ảnh cho mãi đến về sau. Nhân vật dường như đã xuất hiện trước mắt người đọc trong lần đánh nhau với A Sử – con trai thống lí Pá Tra nên bị bắt, bị phạt vạ và đánh đập rất dã man. Từ đây, có thể thấy rằng tác giả đã ngược dòng để kể về lại lịch của A Phủ, giúp người đọc hình dung rõ hơn về con đường đời vượt lên số phận của anh.
A Phủ được biết đến là một đứa trẻ sinh ra trong nghèo khổ, đau đớn hơn lại mồ côi cả cha lẫn mẹ sau một trận dịch đậu mùa. Chính vì vậy mà cả năm tháng tuổi thơ của anh phải sống kiếp nô lệ đọa đày khi bị người làng bắt trói rồi đem bán cho người Thái ở dưới cánh đồng. Thế nhưng, dường như đã không chịu khuất phục số phận,A Phủ đã liều lĩnh và bỏ trốn lên Hồng Ngài, anh đi làm thuê làm mướn đủ nghề từ mùa này sang mùa khác để kiếm sống nuôi thân. Và cũng bởi chính những bản lĩnh gan góc, và một sức sống tiềm tàng đã được trui rèn trong những năm tháng cơ cực ấy và đó cũng chính là một trong những điều tạo nên sự bứt phá lớn hơn về sau trong cuộc đời A Phủ.Xem thêm: Tả chú gà trống mà em thích nhất
Từ khi trưởng thành, thì A Phủ như lại càng chứng tỏ con người gan góc, không chịu khuất phục, luôn có ý chí vượt lên số phận cay đắng để vươn đến những điều tốt đẹp, đáng mơ ước của mình. Chàng dường như đã “biết đúc lưỡi cày”, “đi săn bò tót rất bạo”. Chẳng những là một nhười lao động giỏi mà A Phủ lại còn có sức khỏe hơn người: “A Phủ chạy nhanh như ngựa”, có thể nói “Công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phăng phăng”. Có thể thấy chính những nghị lực sống và sức khỏe của anh dường như cũng đã khiến cho nhiều cô gái và người làng yêu mến.
Nhưng tiếc thay, A Phủ hiện lên lại là người không cha không mẹ, không nhà cửa, không ruộng nương và cũng chính vì những tập tục cưới vợ của người Mèo phải có trăm đồng bạc trắng cho nên mà đối với A Phủ chuyên lấy vợ với anh là chuyện quá xa xôi và có phần viển vông. Có thể thấy một chàng trai khỏe mạnh và cá tính như anh đáng lẽ ra anh phải được hưởng hạnh phúc vậy mà cuối cùng vẫn phải một mình cô độc như thế.
Và cho dù có nghèo đói, cơ cực nhưng A Phủ luôn sống lạc quan, tự tin vào tương lai phía trước. Vào trong những ngày lễ Tết, A Phủ dường như không có quần áo mới như những anh con trai khác mà với nhân vật A phủ thì lại “chỉ có độc một chiếc vòng cổ” nhưng “A Phủ cứ đi chơi cùng trai làng, đem sáo, khèn, con quay và cả quả pao đi tìm người yêu ở các làng trong vùng”. Đã có rất nhiều cô gái kháo với nhau: “đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy chốc mà giàu”.
Chẳng những thế, ở nhân vật A Phủ còn là một con người trọng tình và đầy nghĩa khí. Khi mà gặp chuyện bất bình, dù biết phần thiệt sẽ thuộc về mình và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nhưng A Phủ vẫn thường xông ngay vào để bênh vực cho bạn của mình. Điều này đã chứng tỏ nhân vật A Phủ là một chàng trai gan dạ và chí khí.Xem thêm: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) thể hiện trong cảnh ngộ từ khi Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra đến khi trốn khỏi Hồng Ngài
Và khi anh bị bắt về nhà thống lí Pá Tra, A Phủ đã bị bọn người nhà thống lý đánh đập hết sức dã man, tàn bạo từ trưa cho đến đêm muộn. Và hình ảnh “Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu”. Thế nhưng bọn người nhà thống lý “Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút”. Mặc dù bị đánh đập và rất đau đớn nhưng A Phủ không hề khóc lóc van xin mà trái lại “A Phủ quỳ, chịu đòn, chỉ im như tượng đá”. Sự im lặng chịu đựng của anh đã cho thấy bản lĩnh gan dạ, không bao giờ chịu khuất phục dù trước mình là ai và sự bất lực, căm phẫn đến tột độ vì không thể làm gì được.
Cho đến cuối cùng, khi kết thúc phiên xử kiện tàn độc, A Phủ đã bị thống lý Pá Tra buộc làm nô lệ không công suốt đời cho nhà hắn để trừ nợ. Đó là kiếp người sống mà bị khinh rẻ, bị ngược đãi và phải đảm đương cả những công việc nặng nhọc, nguy hiểm nhất như việc săn bot tót đầy nguy hiểm.
Với cảnh xử kiện và kết quả của cuộc xử kiện đã cho thấy giai cấp địa chủ thống trị dường như luôn luôn tìm cách đẩy người nông dân bần cùng xuống dưới đáy của xã hội, không cho họ có một chút cơ hội nào ngoi lên đòi quyền sống và được làm người đúng nghĩa. Có thế mà bọn địa chủ mới hả hê, mới yên lòng.
Chế độ xã hội phong kiến ở miền núi Tây Bắc còn tàn độc đến mức, con người có thể nắm giữ mạng sống của con người, có quyền sinh – sát đối với người khác. Là một con nợ, là nô lệ cho nên vậy mà tính mạng của A Phủ sống hay chết là nằm trong bàn tay của thống lý Pá Tra. Cũng chính vì lý do đó, chỉ vì để hổ vồ mất bò, A Phủ lại bị đánh, bị trói vào cọc “bằng dây sậy quấn từ chân lên vai”. Và chuyện A Phủ sẽ phải chết “chết đau, chết đói, chết rét” là sẽ xảy ra. Và những cảnh tương tự mà Mị từng chứng kiến trong nhà thống lý Pá Tra – để thế mạng cho con bò đã bị hổ ăn thịt.Xem thêm: Phân tích bài thơ "Đò Lèn" của Nguyễn Duy
Tuy vậy, chính với bản lĩnh gan góc, không chịu khuất phục sẵn có, A Phủ nhất định không chịu chết chôn chân ở cái cộc gỗ ấy mà anh luôn tìm cách tự giải thoát cho chính mình“Đêm đến, A Phủ cúi xuống, nhay đứt hai đầu dây, nhích dần dây trói một bên tay”. Nhưng chưa kịp dứt ra thì trời cũng lại vừa sáng, Pá Tra lại tròng thêm vào cổ A Phủ một vòng dây trói nữa. Và nhân vật “A Phủ không cúi, không còn lắc được nữa” đành chịu “đứng nhắm mắt, cho tới đêm khuya”. Và có thể thấy dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen của anh chính là những giọt nước mắt của sự cay đắng, sự cô độc, bất lực và tuyệt vọng. Và phải chăng chính vì trông thấy những giọt nước mắt đau đớn và tuyệt vọng ấy mà lúc này nhân vật Mị đã bùng lên ngọn lửa đấu tranh, quyết định cởi trói cho A Phủ và cho chính mình.
Hai người đã cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài, để tới khu du kích ở Phiềng Sa, gặp cán bộ A Châu. Từ đây, có thể nói A Phủ và Mỵ lần lượt trở thành chiến sĩ du kích, tích cực tham gia vào công cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn cuộc đời mình, giải phóng bản làng quê hương. Hình ảnh nhân vật A Phủ cùng Mị trốn khỏi nhà thống lý Pá Tra, giác ngộ được chân lý cách mạng là một hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho khả năng cách mạng lớn lao của người dân miền núi Tây Bắc.
Cùng với M thì có thể thấy cuộc đời và tính cách của A Phủ có ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và phẩm chất của người dân vùng cao Tây Bắc. Từ trong những tăm tối của đau khổ, tủi nhục và chính bằng sức mạnh của chính mình họ đã vươn tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do, ánh sáng của Cách mạng. Đó có thể nói đó cũng chính là giá trị nhân đạo mới mẻ và sâu sắc của tác phẩm giàu chất thơ này.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Anh thanh niên là một nhân vật đại diện cho thế hệ trẻ. Tác giả không đặt cho anh một cái tên cụ thể nào cả. Anh có tính cách ôn hòa, yêu đời, say mê công việc. Phân tích nhân vật anh thanh niên sẽ giúp các em thấy được đây là một nhân vật vô cùng thú vị.
Trước khi bước vào phân tích nhân vật anh thanh niên, các em cần nắm được dàn ý chi tiết của bài văn này. Có như vậy thì quá trình làm bài sẽ diễn ra nhanh mà không lo thiếu ý.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật anh thanh niên
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Thành Long và tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
– Giới thiệu về nhân vật anh thanh niên.
– Nhân vật anh thanh niên có nhiều phẩm chất tốt đẹp, là một hình tượng nhân vật độc đáo.
2. Thân bài phân tích nhân vật anh thanh niên
Hình ảnh xuất hiện anh thanh niên
– Anh thanh niên xuất hiện trong cuộc gặp gỡ với anh lái xe, ông họa sĩ và cô gái trẻ.
Công việc của anh thanh niên
– Anh làm công việc trên trạm khí tượng mà chỉ có một mình. Cuộc sống tương đối thiếu thốn và khổ cực.
– Bất chấp thời tiết khó khăn mưa gió, sương lạnh, anh thanh niên vẫn thực hiện những công việc của mình.
– Suy nghĩ của anh thanh niên luôn hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống và trong công việc.
– Mặc dù công việc của anh có ít người biết đến nhưng anh vẫn làm với một niềm say mê lớn.
– Lúc nào anh cũng tỏ ra khiêm tốn, yêu đời, yêu người.
– Là người chủ động trong công việc và cuộc sống.Xem thêm: Hai câu thơ cuối trong thơ Sang thu của Hữu Thỉnh đã để lại trong lòng người đọc nhiều liên tưởng khá thú vị. Em hãy viết đoạn văn để làm rõ nhận định đó
Anh thanh niên đại diện cho người lao động
– Những phẩm chất của anh thanh niên là đại diện cho những người lao động nhiệt huyết và luôn cống hiến vì Tổ quốc.
– Họ trung thực, giản dị, khiêm tốn và làm việc một cách âm thầm.
3. Kết bài
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật anh thanh niên
Nhà văn Nguyễn Thành Long sáng tác rất nhiều truyện ngắn và kí. Trong những truyện ngắn của mình, ông luôn tạo được những hình tượng đẹp và sử dụng ngôn ngữ nhẹ nhàng, trong trẻo tạo cho truyện ngắn một nét đặc sắc. Trong những sáng tác của Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn khá độc đáo. Truyện được tác giả viết vào năm 1970, nổi bật lên trong câu chuyện chính là nhân vật anh thanh niên.
Mở đầu, tác giả Nguyễn Thành Long đã giới thiệu đầy ấn tượng về cảnh đẹp thiên nhiên của Sa Pa. Cảnh tuy đẹp nhưng chỉ là làm nền cho con người nơi đây. Đó là những người say mê nghiên cứu khoa học. Mọi việc họ làm đều thầm lặng vì Tổ quốc chứ không màng lợi ích riêng. Nhân vật anh thanh niên làm ở đài khí tượng là một trong những người như vậy. Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Một mình anh phải làm việc trên đỉnh Yên Sơn có độ cao lên tới 2600m. Nơi ấy quanh năm mây phủ giá lạnh, không những vậy anh lại còn phải sống đơn độc một mình. Thế cho nên lúc nào anh cũng thèm người. Thèm có ai đó để bầu bạn ngoài những lúc mải mê với công việc đo gió, đo mưa,… Công việc của anh đòi hỏi phải có sự tỉ mỉ, chính xác và một tinh thần trách nhiệm cao độ để kết quả đo được đúng nhất.Xem thêm: Nghị luận xã hội về biến đổi khí hậu
Phân tích nhân vật anh thanh niên
Mặc dù công việc của anh thanh niên là vô cùng vất vả nhưng anh vẫn rất yêu công việc ấy. Nhờ phát hiện một đám mây không của anh mà quân ta đã tiêu diệt được nhiều tên Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Góp được sức mình cho cách mạng, anh cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Công việc chính là cách giúp anh quên đi nỗi buồn chán, cô đơn ở nơi này. Anh đã từng tâm sự về những suy nghĩ của mình với công việc rằng nếu không có nó thì có lẽ anh sẽ buồn đến chết. Những lời tâm sự chân thành ấy giúp người đọc hiểu rằng anh thanh niên rất trân trọng công việc mà mình đang làm.
Nhân vật anh thanh niên không chỉ đẹp bởi tình yêu công việc mà còn đẹp ở tính cách, nếp sống. Mặc dù cuộc sống của anh khá thiếu thốn nhưng anh không lấy đó làm trở ngại. Sống một mình nhưng an vẫn rất ngăn nắp. Tự anh đã làm cho cuộc sống của mình trở nên ý nghĩa và thơ mộng hơn. Anh có mảnh vườn nhỏ dành để trồng hoa. Những bông hoa khoe sắc khiến anh cảm thấy cuộc sống mộng mơ hơn. Ngoài ra, anh còn tìm niềm vui nơi những trang sách, rồi anh nuôi gà để có thêm thực phẩm và cũng là để tạo không khí gia đình vui tươi. Chính những điều ấy đã khiến anh hoàn toàn quên đi nỗi cô đơn trong cuộc sống thường ngày.Xem thêm: Cho câu chủ đề: “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp - phân tích - tổng hợp
Một đức tính đẹp nữa của anh thanh niên đó chính là sự khiêm tốn. Anh từ chối không để ông họa sĩ vẽ chân dung mình bởi vì anh cảm thấy những đóng góp của mình dành cho công việc vẫn còn rất nhỏ bé. Sau đó, anh nhiệt thành giới thiệu cho ông họa sĩ về những người làm việc thầm lặng và cao cả hơn anh chẳng hạn như người đồng chí nghiên cứu khoa học hay ông kĩ sư dưới vườn rau Sa Pa. Chính vì thèm người nên gặp ai anh cũng tỏ ra thân thiết và thương mến. Anh gửi quà cho những người đến thăm mình. Anh xem những vị khách như những người thân của mình. Có thể thấy, anh là một người sống rất tình cảm.
Nhân vật anh thanh niên không có tên tuổi cụ thể, anh là đại diện cho rất nhiều thanh niên khác thời ấy, sống say mê và nhiệt thành. Tác giả đã Nguyễn Trung Thành thông qua nhân vật anh thanh niên đã nhắn nhủ tới bạn đọc rằng hãy biết sống trân trọng cuộc sống của mình, trân trọng từng khoảnh khắc mà mình có trong cuộc sống này.
Trên đây là dàn ý và bài làm phân tích nhân vật anh thanh niên. Thông qua bài làm và dàn ý này hy vọng các em đã đủ tự tin làm bài khi gặp đề văn tương tự.
Thu Thủy
|
The young man is a character representing the young generation. The author did not give him any specific name. He has a gentle personality, loves life, and is passionate about work. Analyzing the character of the young man will help you see that this is an extremely interesting character.
Before analyzing the character of the young man, you need to understand the detailed outline of this essay. If so, the test-taking process will go quickly without worrying about missing ideas.
I. Create an outline to analyze the young man's character
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Thanh Long and the work Quiet Sa Pa.
– Introducing the character of the young man.
– The character of the young man has many good qualities and is a unique character image.
2. The body of the essay analyzes the young man's character
The image of a young man appeared
– The young man appeared in a meeting with the driver, the artist and the young girl.
Young man's work
– He works at the weather station and is alone. Life is relatively poor and miserable.
– Despite the difficult weather of rain, wind, and cold frost, the young man still carries out his work.
– The young man's thoughts are always directed towards good things in life and at work.
– Even though few people know about his work, he still does it with great passion.
– He always appears humble, loves life, and loves people.
– Is a proactive person in work and life. See more: The last two verses in Huu Thinh's poem Sang Thu have left many interesting associations in the readers' hearts. Please write a paragraph to clarify that statement
The young man represents the workers
– The young man's qualities represent those who work enthusiastically and always dedicate themselves to the Fatherland.
– They are honest, simple, humble and work silently.
3. Conclusion
– State your feelings about the character of the young man.
Related articles
>> Analysis of the character Vu Nuong in The Story of a Nam Xuong Girl (With detailed outline)
>> Analysis of Mr. Hai's character in the short story Village (With detailed outline)
>> Analysis of Phuong Dinh's character in Distant Stars (With detailed outline)
II. The article analyzes the character of a young man
Writer Nguyen Thanh Long composed many short stories and memoirs. In his short stories, he always creates beautiful images and uses gentle, clear language, giving the short stories a unique character. Among Nguyen Thanh Long's works, Quiet Sa Pa is a quite unique short story. The story was written by the author in 1970. The main character in the story is the young man.
At the beginning, author Nguyen Thanh Long impressively introduced the natural beauty of Sa Pa. Although the scenery is beautiful, it is only a backdrop for the people here. Those are people who are passionate about scientific research. Everything they do is done quietly for the Fatherland, without regard to their own interests. The character of a young man working at the meteorological station is one such person. He works in meteorology and geophysics. He had to work alone on the top of Yen Son at an altitude of up to 2600m. That place is covered with clouds and cold all year round, not only that, but he also has to live alone. That's why he always craves people. Craving someone to keep you company outside of the times when you're engrossed in measuring wind, rain, etc. His job requires meticulousness, accuracy and a high sense of responsibility to get accurate measurement results. See more: Social discourse on climate change
Analyze the young man's character
Although the young man's job is extremely difficult, he still loves it very much. Thanks to his discovery of an empty cloud, our troops destroyed many Americans on Ham Rong Bridge. Contributing his strength to the revolution, he felt extremely happy. Work is the way to help him forget the boredom and loneliness in this place. He once confided about his thoughts on work, saying that without it he would probably be sad to death. These sincere confessions help readers understand that the young man appreciates the work he is doing.
The character of a young man is not only beautiful because of his love for work but also beautiful in his personality and lifestyle. Although his life is quite poor, he does not take it as an obstacle. Living alone but still very tidy. He himself has made his life more meaningful and poetic. He has a small garden dedicated to growing flowers. The blooming flowers make him feel like life is more dreamy. In addition, he also finds joy in the pages of books, then he raises chickens to have more food and also to create a joyful family atmosphere. It was those things that made him completely forget the loneliness in everyday life. See more: For the topic sentence: "Unjust war is a crime." Write a paragraph (about 8 to 10 sentences) to develop the idea of the topic sentence above in a synthesis - analysis - synthesis style.
Another beautiful quality of that young man is humility. He refused to let the artist paint his portrait because he felt his contribution to the work was still very small. After that, he enthusiastically introduced the artist to people who worked more quietly and nobler than him, such as his scientific research comrade or the engineer in the Sa Pa vegetable garden. Because he craves people, he shows affection and affection to everyone he meets. He sends gifts to people who visit him. He views the guests as his relatives. It can be seen that he is a very emotional person.
The young man's character does not have a specific name. He represents many other young people at that time, living passionately and enthusiastically. Author Nguyen Trung Thanh, through the character of a young man, reminds readers to know how to cherish their lives, cherish every moment they have in this life.
Above is an outline and an assignment to analyze the young man's character. Through this assignment and outline, we hope you will be confident enough to complete the assignment when faced with similar topics.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), từ đó nêu ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm này
Gợi ý
Trong mỗi tác phẩm văn học, nhân vật chính trở thành linh hồn thể hiện trọn vẹn nội dung tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm vào những đứa con tinh thần của mình. Với trường hợp anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long cũng vậy. Anh là một người sống lạc quan, yêu đời, có tình có nghĩa với mọi người, đầy trách nhiệm với công việc và giàu lí tưởng sống. Xây dựng một nhân vật chính cho tác phẩm của mình như thế, Nguyễn Thành Long muốn thể hiện một tư tưởng giàu chất nhân văn về con người và cuộc đời.
Tác phẩm ra đời năm 1970 giữa lúc miền Bắc đang hăng say lao động sản xuất để xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện cho miền Nam đánh Mĩ. Mỗi người dân miền Bắc ý thức sâu sắc vai trò của bản thân mình đối với sự nghiệp chung của đất nước: sống đẹp, sống có ích để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Và nhân vật anh thanh niên trở thành biểu tượng đẹp cho những con người tích cực, trách nhiệm như thế.
Anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, một mình sống trên đỉnh Yên Sơn cao hơn hai ngàn sáu trăm mét, quanh năm suốt tháng, giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Vậy nhưng sự tróng vắng không làm chai đi những cảm xúc, tình cảm rất đỗi con người nơi anh. Anh sống lạc quan, yêu quý tất thảy mọi người. Anh dọn dẹp nơi ở của mình gọn gàng sạch sẽ. Anh trồng hoa trong “vườn nhà”. Anh nuôi gà để “tăng gia”,… Tất cả những điều đó khẳng định rằng anh muốn tạo lập cho mình một cuộc sống bình thường như mọi người dưới xuôi, không điều gì khiến anh buồn chán hay có cảm giác cô độc. Nghe bác lái xe kể về người vợ mới ốm dậy, anh liền mang biếu bác củ tam thất. Có khách lên thăm (là ông họa sĩ và cô kĩ sư) anh biếu họ một bó hoa to và những quả trứng gà.. Hành động đó mang những thông điệp đầy nhân văn: hãy sống đẹp, hãy quan tâm đến nhau, hãy đến với nhau bằng tất cả tấm lòng và tình cảm nhân hậu.Xem thêm: Cảm nhận của em về ngày đầu tiên đi học Đó còn là một con người đầy trách nhiệm, say mê với công việc và khiêm tốn. Anh hiểu công việc của mình tuy gian khổ nhưng "thiếu nó anh buồn đến chết mất" vì công việc là niềm vui, là nguồn sống của anh. Anh đã tìm được hạnh phúc trong công việc. Anh quan niệm công việc là người bạn đồng hành với mình, chính vì thế cuộc sống của anh không bao giờ tẻ nhạt và buồn chán. Anh tâm sự "khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với bao anh em đồng chí dưới kia". Con người đó cũng có quan niệm về hạnh phúc thật giản dị nhưng hết sức cao đẹp – đó là được lao động, được công hiến sức mình cho đất nước. Vì thế, khi biết tin nhờ mình phát hiện đám mây khô mà không quân ta hạ được nhiều máy bay Mĩ, anh thấy mình thật hạnh phúc. Tóm lại, được công hiến cho khoa học là lí tưởng sống của anh. Suy nghĩ của anh về cuộc sống thật đẹp, thật sâu sắc.
Không chỉ là người có suy nghĩ đẹp, anh còn là người biết hành động đẹp. Trong hoàn cảnh hết sức gian khổ, một mình sống vắt vẻo trên đỉnh Yên Sơn, làm bạn với rừng xanh, mây trắng, bão tuyết, sương rơi đế đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chân động mặt đất, tham gia vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Dù không ai đôn đốc, kiểm tra, nhưng anh vẫn tự nguyện tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Công việc đòi hỏi phải thực hiện vào những thời khắc khó khăn như nửa đêm giữa mùa đông giá rét, nhưng bất kỳ trong hoàn cảnh nào, đến đúng thời điểm ấy là anh thức giấc, xách đèn "đi ốp", xách máy đi đo, không bó sót một ngày nào, không quên một buổi nào, âm thầm bền bỉ suốt nhiều năm trời. Nhưng khó khăn hơn tất cả đối với anh chính là vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng không một bóng người, và anh đã vượt qua được bằng sự miệt mài, say mê trong công việc. Anh đã dùng tất cả thời gian, nhiệt huyết, tâm trí, sức lực cho nhiệm vụ được giao, rảnh một chút là anh lại lấy sách ra để trò chuyện. Từ những công việc lặng lẽ âm thầm đó, anh đã góp phần trực tiếp vào chiến thắng chung của quân và dân miền Bắc. Đặc biệt, trong câu chuyện của mình với người họa sĩ, anh luôn gạt đi ý định vẽ mình của người họa sĩ. Anh giới thiệu với ông những người bạn của mình: anh kĩ sư vườn rau, anh kĩ sư “trống sét”,… Anh khiêm nhường nhận định công việc của mình cũng chỉ là bình thường và trân trọng những đóng góp những hi sinh của bạn bè, đồng đội.Xem thêm: Thư (diện) gửi đến người bác vừa được phong hàm giáo sư Nhan đề của truyện là "Lặng lẽ Sa Pa" nhưng Sa Pa có thật sự lặng lẽ không? Tác giả đã giải thích một cách hết sức đơn giản cho người đọc: "Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ của Sa Pa, một Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi có những con người đang làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước". Qua cách đặt nhan đề của truyện và xây dựng nhân vật chính với những đặc điểm vô cùng đáng mến, đáng trân trọng, tác giả muốn nêu bật chủ đề và cũng là ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm: ca ngợi những con người sống đẹp, lao động một cách say mê và quên mình cho đất nước, nhắn nhú đến mỗi người đọc: "Hãy yêu thương nhau và sống đẹp hơn”.
Vanmau.edu.vn
|
Analyze the character of a young man in the short story Quiet Sa Pa (Nguyen Thanh Long), thereby stating the ideological meaning of this work
Suggest
In each literary work, the main character becomes the soul that fully expresses the ideological content that the author wants to convey to his spiritual children. The same is true of the young man in the short story "Quiet Sa Pa" by Nguyen Thanh Long. He is an optimistic person, loves life, has a meaningful relationship with people, is responsible for his work and is rich in life ideals. Building a main character for his work like that, Nguyen Thanh Long wants to express a rich humanistic thought about people and life.
The work was born in 1970 while the North was enthusiastically working to build a socialist North and support the South to fight the United States. Every Northerner is deeply aware of his or her own role in the common cause of the country: living beautifully and usefully to contribute to building and protecting the Fatherland. And the character of the young man became a beautiful symbol for such positive, responsible people.
The young man works in meteorology and geophysics, living alone on Yen Son peak, over 2,600 meters high, all year round, among the trees and clouds of Sa Pa mountain. However, the absence did not dull his very human emotions and feelings. He lives optimistically and loves everyone. He kept his place neat and clean. He grows flowers in his "home garden". He raises chickens to "increase his income",... All of these things confirm that he wants to create a normal life for himself like everyone else down there, with nothing making him bored or feeling lonely. Hearing the driver talk about his wife who had just gotten sick, he immediately brought the Panax notoginseng root as a gift. When guests came to visit (a painter and an engineer), he gave them a big bouquet of flowers and chicken eggs. That action carried humane messages: live beautifully, care for each other, be kind to each other. Come together with all your heart and kind feelings. See more: My feelings about the first day of school. He is also a responsible person, passionate about work and humble. He understands that his job is arduous, but "without it I would be sad to death" because work is his joy and his source of life. He has found happiness in work. He believes that work is his companion, that's why his life is never dull and boring. He confided, "When I work, I and my work are a couple, how can we call it alone? What's more, your work is closely tied to so many comrades down there." That person also has a simple but extremely noble concept of happiness - that is, being able to work and contribute one's strength to the country. Therefore, when he learned that thanks to his discovery of dry clouds, our air force was able to shoot down many American planes, he felt very happy. In short, contributing to science is his ideal in life. His thoughts about life are so beautiful and profound.
Not only is he a person with beautiful thoughts, he is also a person who knows how to act beautifully. In extremely difficult circumstances, living alone on top of Yen Son, making friends with green forests, white clouds, snowstorms, and falling dew to measure wind, rain, sun, clouds, and ground movements. , participating in daily weather forecasting, production service, and combat service. Even though no one urged or checked, he still volunteered and was self-aware with a high sense of responsibility. The job requires him to do it at difficult times like midnight in the middle of a cold winter, but no matter the circumstances, at that exact moment he wakes up, takes the lamp, "goes to turn it on", and goes out to take his phone. measured, not missing a single day, not forgetting a single session, silently persevering for many years. But the most difficult thing of all for him was overcoming loneliness and solitude, year-round without a single person, and he overcame it through diligence and passion in his work. He used all his time, enthusiasm, mind, and energy for the assigned task. When he had a little free time, he took out a book to chat. From those quiet and silent works, he directly contributed to the overall victory of the army and people of the North. In particular, in his story with the artist, he always dismissed the artist's intention to paint him. He introduced his friends to him: the vegetable garden engineer, the "lightning drum" engineer... He humbly acknowledged that his job was just normal and appreciated his contributions and sacrifices. friends, teammates. See more: Letter sent to an uncle who has just been promoted to professor The title of the story is "Quiet Sa Pa" but is Sa Pa really quiet? The author explained in a very simple way to the reader: "In the silence of Sa Pa, under the old mansions of Sa Pa, a Sa Pa that only hears its name makes people think about resting. People are working and thinking like that for the country." By naming the story and creating the main character with extremely likable and respectful characteristics, the author wants to highlight the theme and also the ideological meaning of the work: praising living people. beautiful, working passionately and selflessly for the country, sending a message to each reader: "Let's love each other and live more beautifully."
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Trong ba nhân vật của truyện ngắn Vợ nhặt, bà cụ Tứ, mẹ anh Tràng gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc. Tấm lòng nhân hậu của bà rất đáng trân trọng và đáng quý.
2. Thân bài
– Sự ngạc nhiên đến sững sờ của bà cụ Tứ.
– Nỗi tủi thân tủi phận của bà cụ Tứ.
– Nỗi lo lắng của bà cụ Tứ.
– Niềm vui và hi vọng của bà cụ Tứ.
3. Kết bài
Kim Lân đã diễn tả tài tình tâm lí của bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ mà hiểu biết, yêu thương con hết lòng và yêu thương cả những cảnh khổ đời oái oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái sâu xa.
B. BÀI LÀM
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân viết về cuộc sống ngột ngạt, bức bối của dân ta năm 1945, với nạn đói khủng khiếp đã làm chết hơn hai triệu người – hậu quả đường lối đô hộ của thực dân Pháp mấy mươi năm và hậu quả chính sách tàn bạo “thu thóc, nhổ lúa, trồng đay” của phát xít Nhật.
Cùng như một số tác phẩm khác viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành nhiều trang viết để mô tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ mà lại chủ tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu sau cái bề ngoài xơ xác vì đói khát của những người nghèo khổ. Trong cái cuộc sống không đáng gọi là sống ấy của họ vẫn nhen nhóm niềm tin ở cuộc sống, vẫn ánh lên những tia hi vọng vào một sự đổi đời, một tương lai tốt đẹp.Xem thêm: Có ý kiến cho rằng tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Bằng những hiểu biết của anh (chị) về bài thơ Chiều tối, hãy bàn luận ý kiến trên. Trong ba nhân vật của truyện, bà cụ Tứ, mẹ anh Tràng gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc. Tấm lòng nhân hậu của bà thật đáng trân trọng và đáng quý làm sao.
Lúc đầu, thấy người đàn bà xa lạ ngồi ở đầu giường con mình, bà ngạc nhiên lắm. Được chào bằng “u”, bà lại càng không hiểu gì. Bà cố nhìn cho kĩ mà vẫn không nhận ra chị ta là ai. Bà phân vân, đoán định… Mãi đến lúc Tràng bảo: “Kìa, nhà tôi nó chào u.” thì bà mới vỡ lẽ. “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình..”. Ra thế! Thằng con mình nó đã có vợ.
Bà tủi thân tủi phận làm cha mẹ mà không tròn bổn phận với con cái. Trăm sự cũng tại cái nghèo mà ra cả: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt…”.
Bà lo lắng thực sự: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.
Nhưng rồi ngẫm đến thân phận nghèo đói của mẹ con mình, bà lại tự an ủi: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có vợ được…” Nghĩ thế nên bà vui lòng chấp nhận nàng dâu mới. Bà cư xử với chị dịu dàng, âu yếm, gọi chị là “con”, xưng “u”, và “bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu con trong nhà rồi…”.Xem thêm: Chuyển nội dung bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu sang văn xuôi theo lời kể của tác giả Với bổn phận một người mẹ, bà ao ước có được “dăm ba mâm”, trước cúng tổ tiên, ông bà, sau trình làng, trình xóm. Nhưng ao ước ấy không thể thực hiện được vì bà nghèo quá. Bà rất biết trước biết sau, song “cái khó nó bó cái khôn”, bà đành chịu. Bà chỉ biết nói với các con những lời khuyên nhủ chân tình: “Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!”.
Con trai có được vợ, bà lão mừng lắm: “Bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa..”. Bà không vui sao được khi con trai bà đã thành gia thất. Bà cũng vơi đi được một mối lo bấy lâu nay cứ canh cánh bên lòng. Trong bữa ăn đầu tiên của ba mẹ con, dẫu chỉ có cháo loãng với muối nhưng “Bà toàn nói chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này”.
Ở người đàn bà già nua, nghèo khổ này chứa đựng những nét đạo lí cổ truyền. Bà cố gắng xua đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại, nhen nhóm niềm tin, niềm vui sống cho các con. Trong thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đói ấy vẫn nung nấu cho một ý chí sống mãnh liệt.
Bà lão đãi nàng dâu món ăn đặc biệt mà bà gọi là “chè”, nấu bằng cám. Bà khen “ngon đáo để”, bà an ủi, động viên so sánh “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Chao ôi là khổ! Phải đói đến mức nào thì mới ăn cám thấy ngon? Cuộc sống khắc nghiệt đày đọa con người, bắt họ phải sống cuộc sống của loài vật, song nó không thể dập tắt được phần người, rất người trong bà mẹ khốn khổ kia. Bà cố đổi buồn thành vui, “tươi cười, đon đả” cho bữa cơm đỡ phần thê thảm, còn tác giả và chúng ta thì khóc. Khóc vì thương, vì quý tấm chân tình của bà.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ: Ta về mình có nhớ ta.....Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung, trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Cái tài của tác giả là cứ nhẹ nhàng như không mà luồn lách ngòi bút động đến nơi sâu thẳm của hồn người, bắt người ta phải cười, phải khóc, phải sống cùng với nhân vật của mình. Kim Lân đã diễn tả tài tình tâm lí của bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ mà hiểu biết, yêu thương con hết lòng và yêu thương cả những cảnh khổ đời oái oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái sâu xa.
Vanmau.edu.vn
|
Analyzing the character of Mrs. Tu in the short story Picked-up Wife by Kim Lan
Suggest
A. OUTLINE
1. Open the lesson
Among the three characters in the short story The Picked Wife, Mrs. Tu, Mr. Trang's mother, evokes a lot of sympathy from the reader. Her kindness is very respectful and precious.
2. Body of the article
– Mrs. Tu's stunned surprise.
– Mrs. Tu's self-pity and fate.
– Mrs. Tu's worries.
– The joy and hope of Mrs. Tu.
3. Conclusion
Kim Lan skillfully described the psychology of Mrs. Tu, a poor mother who understood and loved her children with all her heart and loved even the miserable and pitiful scenes of life with a deep compassion.
B. WORK
Kim Lan's short story The Picked Wife is written about the suffocating and frustrating life of our people in 1945, with a terrible famine that killed more than two million people - the consequence of the French colonial policy for decades and its consequences. result of the brutal policy of "harvesting rice, uprooting rice, planting jute" of the Japanese fascists.
Like some other works written about famine, Kim Lan's pen is filled with sympathy for the kind and miserable fates. He did not spend many pages describing the cruel reality at that time, but instead aimed to show the spiritual beauty hidden behind the poor people's ragged appearance due to hunger and thirst. In that life that is not worth calling life, they still rekindle their faith in life, still shining with rays of hope for a change in life, a good future. See more: There is an opinion that the collection of poems Ho Chi Minh's prison diary has both classic and modern beauty. Using your understanding of the poem Evening, please discuss the above ideas. Of the three characters in the story, Mrs. Tu, Mr. Trang's mother, evokes a lot of sympathy for readers. Her kindness is truly admirable and precious.
At first, seeing a strange woman sitting at the head of her child's bed, she was very surprised. Being greeted with "u", she didn't understand anything even more. She tried to look closely but still didn't recognize who she was. She wondered, guessed... Until Trang said: "Hey, my family says hello." then she understood. “The old woman bowed her head and remained silent. The old lady understood. That poor mother's heart still understood so many things, both sorrowful and pitiful for her child's fate...". Oh! My son has a wife.
She felt sorry for herself and felt sorry for herself as a parent but did not fulfill her duty to her children. Hundreds of things are caused by poverty: "Alas, people marry their children when they can make ends meet at home, but they hope to have children and open their eyes later. As for me... In the corner of her blurred eyes, two tears flowed down...".
She was really worried: "Do you know if they can feed each other and survive this hunger?"
But then thinking about the poor status of her mother and child, she comforted herself: "People have to face this difficult and hungry step, only then can they marry their children, and only then can their children have a wife..." Thinking So she happily accepted the new bride. She treated her gently and lovingly, calling her "son", saying "u", and "the old woman looked at the woman, filled with pity. She is now the daughter-in-law of the family..." See more: Converting the content of To Huu's poem "Viet Bac" into prose according to the author's words As a mother, she wished to have "a few three trays", first worship ancestors and grandparents, then present to the village and neighbors. But that wish could not be fulfilled because she was too poor. She knew very well, but "when the difficult things come, the wise" she had to accept. She only knows how to give her children sincere advice: "The point is that you all get along and are happy. You guys are getting married now, it's so sad!"
When her son got a wife, the old woman was very happy: "She was relieved, brighter than usual, her gloomy, gloomy face was brighter. The tattooed old lady tidied up and swept the house...". How can she not be happy when her son is married? She also relieved a worry that had been lingering in her heart for a long time. During the first meal between mother and child, even though it was only thin porridge with salt, "She only talked about happy things, only about happiness in the future."
This poor, old woman contains traditional moral traits. She tried to dispel the dark and terrifying obsession of reality and rekindle her children's faith and joy in life. In that skinny, starved body, there was still a strong will to live.
The old woman treated her daughter-in-law to a special dish she called "che", cooked with bran. She praised it as "delicious", she comforted and encouraged her, comparing it to "our neighborhood doesn't even have bran to eat". Oh, the suffering! How hungry do you have to be to eat bran to feel delicious? Harsh life torments people, forcing them to live the lives of animals, but it cannot extinguish the human, very human part of that miserable mother. She tried to change sadness into happiness, "smiling and cheerful" to make the meal less miserable, while the author and we cried. Crying because of love and appreciation for her sincerity. See more: Analysis of the poem: When I return, do you miss me.....Remembering someone, the song of faithful love, in the poem Viet Bac by To Huu. The author's talent is to gently slide his pen into the depths of people's souls, forcing people to laugh, cry, and live with his characters. Kim Lan skillfully described the psychology of Mrs. Tu, a poor mother who understood and loved her children with all her heart and loved even the miserable and pitiful scenes of life with a deep compassion.
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt
Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ tình cảnh thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945 đồng thời khẳng định, ca ngợi tình yêu thương, đùm bọc, khát khao hạnh phúc, hướng đến tương lai của những người dân lao động. Trong đó nhân vật bà cụ Tứ được nhà văn khắc hoạ rất sinh động, tinh tế, là một người mẹ nghèo khổ, trải đời, giàu tình yêu thương và có nội tâm phong phú, phức tạp.
Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.
Tác phẩm dã tái hiện lại bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945. Ông đặc tả chân dung người năm đói “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người”. Nhưng quan trọng hơn, bên cạnh mảng tối của bức tranh hiện thực buồn đau là mảng sáng của tình người, của một chủ nghĩa nhân văn tha thiết, cảm động.
Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai.
Thể hiện sâu sắc cho tư tưởng ấy là chân dung tính cách, tâm lý của bà cụ Tứ trước tình huống bất ngờ: con trai mình đột ngột có vợ.
Tâm lí ở cụ Tứ có phần phức tạp, với những nỗi niềm trắc ẩn trong chiều sâu riêng của người già từng trải và nhân hậu.
Xem thêm: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện Vợ nhặtKhởi đầu tâm lí ở bà cụ Tứ là ngỡ ngàng trước một sự việc dường như không hiểu được. Cô gái xuất hiện trong nhà bà phút đầu là một hiện tượng lạ. Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ Tứ được khơi sâu bởi hàng loạt những câu hỏi nghi vấn: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?” Rồi lại:”Ô hay, thế là thế nào nhỉ?”. Sự ngạc nhiên này thể hiện nỗi đau của người viết: chính là sự cùng quẩn của hoàn cảnh đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm trước việc con trai yêu quý của mình có vợ.
Sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà lão”cúi đầu nín lặng”. Sự nín lặng đầy nội tâm. Đó là nỗi niềm xót xa, lo, thương trộn lẫn. Tình thương của bà mẹ nhân hậu mới bao dung làm sao: “… chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”. Trong chữ “chúng nó” người mẹ đã đi từ lòng thương con trai sang con dâu. Trong chữ cúi đầu, bà mẹ tiếp nhận hạnh phúc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh.
Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thái tâm lí triền miên day dứt. Bà mẹ: nghĩ đến bổn phận làm mẹ chưa tròn, nghĩ đến ông lão, đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ đời của mình, nghĩ đến tương lai của con…, để cuối cùng dồn tụ bao lo lắng, yêu thương trong một câu nói giản dị:”chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…” Trên ngổn ngang những nỗi buồn lo, niềm vui của mẹ vẫn cố ánh lên. Cảm động thay, Kim Lân lại để cái ánh sáng kỳ diệu đó tỏa ra từ… nồi cháo cám. Hãy nghe người mẹ nói: “chè đây – Bà lão múc ra một bát – chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Chữ “ngon”này cần phải cảm thụ một cách đặc biệt. Đó không phải là xúc cảm về vật chất, (xúc cảm về cháo cám) mà là xúc cảm về tinh thần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát thành ngọt ngào. Chọn hình ảnh nồi cháo cám, Kim Lân muốn chính mình cho cái chất người: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hi vọng không thể bị tiêu diệt, con người muốn sống cho ra sống, và cái chất người thể hiện ở cách sống tình nghĩa và hi vọng. Nhưng Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn. Niềm vui của cụ Tứ vẫn cứ là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với miếng cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ”.
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo ; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu: "Những đường Việt Bắc của ta/... / Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
|
Topic: Analyze the character of Mrs. Tu in the story The Picked Wife
Kim Lan belongs to the ranks of talented short story writers in modern Vietnamese literature. He often writes about the countryside and the rural people, who are kind, simple and rich in love. Picked Wife is one of his typical compositions. The work portrayed the tragic situation of our people during the famine in 1945 while affirming and praising the love, care, desire for happiness, and looking forward to the future of working people. In which, the character of Mrs. Tu is portrayed by the writer very vividly and delicately, as a poor mother, experienced in life, rich in love and with a rich and complex interior.
Kim Lan is very knowledgeable about the countryside and people's lives, so he writes profound and touching pages. The story The Wife (taken from the collection The Ugly Dog) is considered Kim Lan's best short story. The story has a rather long writing process. It was originally drawn from the novel Hamlet Dwelling (an unfinished novel written in the pre-Revolutionary period). Peace was restored, Kim Lan wrote again. Picked by Wife bears the mark of a long process of pondering content and careful contemplation of art.
The work recreates the scene of the extremely miserable famine in the Vietnamese countryside caused by the French colonialists and Japanese fascists in 1945. He describes the portrait of the hungry person with "a haggard and dark face", " Families from the Nam Dinh and Thai Binh regions, holding mats, carried each other, holding each other up like ghosts", and "the shadows of hungry people moved around quietly like ghosts". In the space of that world filled with the living and the dead, the sound of crows "screamed painfully" along with "the smell of human corpses". But more importantly, next to the dark side of the picture of sad reality is the bright side of human love, of an earnest, touching humanism.
In the short story Picked Up Wife, Kim Lan reveals his profound humanitarian perspective. The writer discovered the magical beauty of workers in extreme poverty and hunger. In any miserable situation, people still overcome death, lead family life, still love each other and hope. hope for tomorrow.
Deeply expressing that thought is the portrait of Mrs. Tu's personality and psychology in the face of an unexpected situation: her son suddenly got a wife.
Mr. Tu's psychology is somewhat complex, with deep feelings of compassion unique to an experienced and kind old man.
See more: Analyzing the realistic value and humanitarian value of the story The Picked Wife. The psychological beginning of Mrs. Tu's mind was to be surprised by a seemingly incomprehensible event. The girl who appeared in her house at the first minute was a strange phenomenon. Mrs. Tu's state of surprise was deepened by a series of questionable questions: "Why the hell is there a woman in that house? What kind of woman would stand right at the head of her son's bed like that? Why salutations with u? Not Duc's children. Who is that?” Then again: "Oh good, what does it mean?". This surprise represents the writer's pain: it is the misery of the situation of losing the mother's sensitivity to her beloved son having a wife.
After understanding everything, the old woman "bowed her head and remained silent". Inner silence. It is a mixture of sadness, worry, and love. How tolerant is the love of a kind mother: "... can they feed each other to survive this hunger and thirst?". In the word "they" the mother has gone from loving her son to loving her daughter-in-law. In the word bow, the mother receives her child's happiness through life experience, at the cost of a series of hard lives, and through a deep awareness of the situation.
Then love sinks into worry, creating a constant psychological state of torment. Mother: think about her unfulfilled motherhood duty, think about the old man, think about her youngest daughter, think about her suffering in life, think about her child's future..., to finally gather all the worries and love in her heart. a simple sentence: "You guys are getting married now, it's so sad..." Amidst all the sadness and worries, my mother's joy still tried to shine through. Touched, Kim Lan let that magical light shine from... the pot of bran porridge. Listen to the mother say: "Here's sweet soup - The old woman scooped out a bowl - here's sweet soup, it's so delicious." This word "delicious" needs to be felt in a special way. It is not a material emotion (emotion about rice porridge) but a spiritual emotion: in the mother, the belief in her child's happiness turns bitterness into sweetness. Choosing the image of a pot of bran porridge, Kim Lan wants to show her human qualities: in any situation, love and hope cannot be destroyed, people want to live, and human qualities are shown in a way of living with gratitude and hope. But Kim Lan is not a romantic writer. Mr. Tu's joy is still a pitiful joy, because reality is still harsh with the "bitter and choking" bran porridge.
The Picked Wife is Kim Lan's best short story, a work rich in realistic and humanitarian values; is a song about humanity among the poor, praising the eternal faith in humanity's bright future. The story successfully builds the image of the character Mrs. Tu, a poor mother with warm love, hope, and optimism through a unique way of creating story situations and narration, especially the pen describing psychology. delicate, giving the work a touching and attractive poetic quality.
Source Edufly
See more: Analysis of the following poem in the song "Viet Bac" by To Huu: "Our Viet Bac roads/... / Cheer up Viet Bac, De pass, Hong mountain"
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ‘Vợ nhặt’ của nhà văn Kim Lân.
Có thể thấy truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945 để có thể diễn tả được cái đói có sức nặng như thế nào. Nhưng dường như những ngụ ý của tác giả chính là việc dựa trên nạn đói để lột tả tính cách “trong như ngọc sáng ngời” của những con người, của những kiếp người hay là những mảnh đời lầm thân. Ta như có thể thấy nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng điển hình cho người đàn bà nghèo khổ cho đến cùng cực nhưng có tình yêu thương con đến vô bờ bến. Và dường như hẳn rằng người đọc sẽ không bao giờ quên những lời mà Kim Lân đã dành cho bà.
Kim Lân đã tỏ ra rất khôn khéo khi lựa chọn thời điểm thích hợp để bà cụ Tứ xuất hiện. Và câu hỏi của rất nhiều người thắc mắc tại sao không phải là đầu câu chuyện mà lại ở giữa câu chuyện. Dường như tác giả muốn gợi lên cái nghèo đói đến thê lương của xóm ngụ cư này, lấy nó làm nền, làm đòn bẩy để đi sâu vào phân tích diễn biến tâm lý, nội tâm của người đàn bà này. Bà cụ Tứ xuất hiện khi mà nhân vật Tràng đưa vợ về nhà, và cũng có thể từ đây diễn biến tâm lý của bà cụ thay đổi liên tục từ khi có một người đàn bà khác đã lại xuất hiện trong ngôi nhà của mình.
Cũng giống như những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ khác trong thời kỳ cách mạng tháng tám, thì nhân vật bà cụ Tứ hiện lên là một người mẹ nghèo, bị cái đói làm cho cùng cực, và bà như phải suy nghĩ quá nhiều. Bà cụ Tứ đường như đã xuất hiện thật rõ nét qua lời kể tác giả đó là “Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào. Tính bà thì vẫn thế, bà như vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng. Nhưng hôm nay khác hẳn, khi mà thấy mẹ, Tràng đã sung sướng và reo lên như một đứa trẻ và gọi ới vào trong nhà rằng “U đã về đấy! Anh con trai lật đật chạy ra đón mẹ từ ngoài cổng và trách sao bà về muộn”. Một bà cụ có thể thấy có cái bóng dáng dấp đã không còn nhanh nhẹn, tháo vát nữa mà đó là một bà cụ phải “lọng khọng” đi vào nhà gợi nên một thảm cảnh thê lương đến não lòng.Xem thêm: Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống”
Đặc biệt hơn nữa chính là sự thay đổi bất ngờ khi bà nhìn thấy người đàn bà lạ ngồi ngay giữa nhà mình “Bà cụ Tứ phấp phỏng bước vào theo con vào nhà. Phấp phỏng chính vì linh tính cho bà biết trong nhà hẳn xảy ra chuyện gì. Và thật là quả đúng như vậy. Khi mới đến giữa sân, bà cụ như đã đứng sững lại và càng ngạc nhiên hơn. Và dường như trong nhà bà có người, lại là đàn bà. Bà Tứ như thắc mắc “Người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Bà chưa gặp, bà không quen bao giờ. Người ấy lại đướng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?.. Ai thế nhỉ?” Có thể dễ nhận thất hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà lão.
Và hay có thể rằng bà Tứ đã già rôi, mắt kèm nhèm nên cũng nhìn rõ nữa, hay như bà nhìn nhầm. Và bà “hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn” và chính vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải. Và khi đã nhìn thật kỹ thì dường như bà đã hiểu ra biết bao những cơ sự được hiển hiện ra trước mắt. Bà như cảm thấy thương thấy như chua chat và thương con và thương cho người đàn bà lạ kia nữa. Vì có thể thấy giữa cảnh chết choc như ngả rạ, nạn đói hoành hành, khi mà cái ăn chẳng có, lại còn rước thêm người để đèo bòng như thế này bà không lo, không buồn sao được cơ chứ.
Bà dường như đã nghĩ đến cái cảnh người ta dựng vợ gả chồng cho con cái trong lúc ăn nên làm ra và dường như đằng này con trai bà lấy vợ trong cảnh bần hàn, thiếu thốn đủ đường thế này. Bà lão dường như đã thương mình bao nhiêu thì thương cho con gấp bội phần, bà cũng như đã cảm thấy tủi nhục khi không thể mang lại ấm no và hạnh phúc cho đứa con trai tội nghiệp. Bà cụ Tứ lúc này thương cho người đàn bà héo hon kia cũng vì cái đói đã làm ra như vậy. Và vì không còn gì nên mới theo Tràng về làm vợ. Chao ôi! Người đọc như đã đồng cảm với những suy nghĩ của bà cụ Tứ thật khiến người ta đau lòng, não nề. Và dường như nó đã khiến người ta xót thương nhưng chẳng biết cách nào có thể thương lấy bà, thương lấy những con người trong thời đại này.Xem thêm: Nghị luận xã hội về trò chơi điện tử
Có thể thấy Kim Lân dường như đã rất thành công khi phác họa hình ảnh bà cụ Tứ đầy ám ảnh trong lòng người đọc đến như vậy.
Và hơn hết những diễn biến tâm lý của bà cụ Tứ cũng như đã thay đổi rất đột ngột, nhưng dường như ta thấy những sự thay đổi đó là tín hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng bà đã chấp nhận người vợ “nhặt” của đứa con mình. Và điều đó nó cũng giống như việc chấp nhận sẽ gánh thêm cái khổ, gánh thêm cả cái đói, cái nghèo cùng với các con. Và dường như chính cái cách bà cụ Tứ dặn dò đôi vợ chồng trẻ thật khiến con người ta cảm phục “ Nhà ta nghèonên các con phải liệu mà bảo nhau làm ăn. Và ta như thấy khi anh Tràng bước dài ra sân, bà động viên nàng dâu câu nói chứa chan “ Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về sau.”. Ta như có thể thấy chính sự ân tình, chu đáo biết bao nhiêu của người mẹ nghèo dường như đã khiến đôi vợ chồng trẻ cảm động, và cũng như không biết nói gì hơn, bà đã chấp nhận “người vợ mới” của đứa con, và quan trọng bà đã chấp nhận cả cái đói nghèo mà gia đình bà mang.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bà cụ Tứ như thật ân tình với con dâu, nói cho con dâu yên lòng rằng nhà nghèo, nếu có thì sẽ làm dăm ba mâm nhưng nhà mình nghèo nên bà đã động viên con dâu và con trai mình cố gắng. Chính những chi tiết này đã cho thấy sự đồng cảm giữa một người phụ nữ nghèo với một người phụ nữ nghèo. Ta như thấy chính sự gắn kết này sẽ mang lại một hơi ấm và sức sống cho gia đình sau này.
Ta như thấy được hình ảnh “nồi cháo cám” sau đêm tân hôn của con mà người mẹ này dường như đã mang đến thực sự khiến chúng ta cảm động đến rơi nước mắt. Và chính hình ảnh nồi cháo cám ấy không còn nguyên giá trị thực như nó vẫn mang, nó như chính là hiện thân của tình yêu thương con, một tình yêu thương con vô bờ bến. Người đọc thật không khó nhận ra đức hi sinh lớn lao của người mẹ nghèo dành cho những đứa con. Và cũng chính hình ảnh nồi cháo cám là chi tiết cực kỳ đắt giá của câu chuyện, ta như thấy được nhân phẩm và lòng vị tha, yêu thương của bà cụ Tứ cũng từ chi tiết này mà được nhân lên gấp bội, gấp vạn lần.
Hẳn người đọc sẽ không bao giờ quên đi hình ảnh bà cụ Tứ gắn với nồi cháo cám ở cuối truyện, bà kể toàn chuyện vui cho các con nghe và với hi vọng và mong muốn có một tương lai đỡ khổ, đỡ nhọc nhằn hơn. Và đó chính là một tình yêu đáng ngưỡng mộ trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Hiện thực nghèo khó dường như không thể đánh gục được tình yêu thương giữa con người với con người với nhau.
Chỉ bằng bút pháp khắc họa diễn biến tâm lý sâu sắc, tác giả Kim Lân dường như cũng đã để lại trong lòng người đọc những dư âm khó phai về hình ảnh bà cụ Tứ nghèo đó nhưng vẫn ánh lên tình yêu thương đáng ngưỡng mộ. Bà cụ Tứ chính là hiện thân của những gì cao đẹp nhất, tốt nhất của một con người, một nhân cách.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ‘Vợ nhặt’ của nhà văn Kim Lân.
Có thể thấy truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945 để có thể diễn tả được cái đói có sức nặng như thế nào. Nhưng dường như những ngụ ý của tác giả chính là việc dựa trên nạn đói để lột tả tính cách “trong như ngọc sáng ngời” của những con người, của những kiếp người hay là những mảnh đời lầm thân. Ta như có thể thấy nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng điển hình cho người đàn bà nghèo khổ cho đến cùng cực nhưng có tình yêu thương con đến vô bờ bến. Và dường như hẳn rằng người đọc sẽ không bao giờ quên những lời mà Kim Lân đã dành cho bà.
Kim Lân đã tỏ ra rất khôn khéo khi lựa chọn thời điểm thích hợp để bà cụ Tứ xuất hiện. Và câu hỏi của rất nhiều người thắc mắc tại sao không phải là đầu câu chuyện mà lại ở giữa câu chuyện. Dường như tác giả muốn gợi lên cái nghèo đói đến thê lương của xóm ngụ cư này, lấy nó làm nền, làm đòn bẩy để đi sâu vào phân tích diễn biến tâm lý, nội tâm của người đàn bà này. Bà cụ Tứ xuất hiện khi mà nhân vật Tràng đưa vợ về nhà, và cũng có thể từ đây diễn biến tâm lý của bà cụ thay đổi liên tục từ khi có một người đàn bà khác đã lại xuất hiện trong ngôi nhà của mình.
Cũng giống như những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ khác trong thời kỳ cách mạng tháng tám, thì nhân vật bà cụ Tứ hiện lên là một người mẹ nghèo, bị cái đói làm cho cùng cực, và bà như phải suy nghĩ quá nhiều. Bà cụ Tứ đường như đã xuất hiện thật rõ nét qua lời kể tác giả đó là “Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào. Tính bà thì vẫn thế, bà như vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng. Nhưng hôm nay khác hẳn, khi mà thấy mẹ, Tràng đã sung sướng và reo lên như một đứa trẻ và gọi ới vào trong nhà rằng “U đã về đấy! Anh con trai lật đật chạy ra đón mẹ từ ngoài cổng và trách sao bà về muộn”. Một bà cụ có thể thấy có cái bóng dáng dấp đã không còn nhanh nhẹn, tháo vát nữa mà đó là một bà cụ phải “lọng khọng” đi vào nhà gợi nên một thảm cảnh thê lương đến não lòng.Xem thêm: Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống”
Đặc biệt hơn nữa chính là sự thay đổi bất ngờ khi bà nhìn thấy người đàn bà lạ ngồi ngay giữa nhà mình “Bà cụ Tứ phấp phỏng bước vào theo con vào nhà. Phấp phỏng chính vì linh tính cho bà biết trong nhà hẳn xảy ra chuyện gì. Và thật là quả đúng như vậy. Khi mới đến giữa sân, bà cụ như đã đứng sững lại và càng ngạc nhiên hơn. Và dường như trong nhà bà có người, lại là đàn bà. Bà Tứ như thắc mắc “Người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Bà chưa gặp, bà không quen bao giờ. Người ấy lại đướng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?.. Ai thế nhỉ?” Có thể dễ nhận thất hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu bà lão.
Và hay có thể rằng bà Tứ đã già rôi, mắt kèm nhèm nên cũng nhìn rõ nữa, hay như bà nhìn nhầm. Và bà “hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn” và chính vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải. Và khi đã nhìn thật kỹ thì dường như bà đã hiểu ra biết bao những cơ sự được hiển hiện ra trước mắt. Bà như cảm thấy thương thấy như chua chat và thương con và thương cho người đàn bà lạ kia nữa. Vì có thể thấy giữa cảnh chết choc như ngả rạ, nạn đói hoành hành, khi mà cái ăn chẳng có, lại còn rước thêm người để đèo bòng như thế này bà không lo, không buồn sao được cơ chứ.
Bà dường như đã nghĩ đến cái cảnh người ta dựng vợ gả chồng cho con cái trong lúc ăn nên làm ra và dường như đằng này con trai bà lấy vợ trong cảnh bần hàn, thiếu thốn đủ đường thế này. Bà lão dường như đã thương mình bao nhiêu thì thương cho con gấp bội phần, bà cũng như đã cảm thấy tủi nhục khi không thể mang lại ấm no và hạnh phúc cho đứa con trai tội nghiệp. Bà cụ Tứ lúc này thương cho người đàn bà héo hon kia cũng vì cái đói đã làm ra như vậy. Và vì không còn gì nên mới theo Tràng về làm vợ. Chao ôi! Người đọc như đã đồng cảm với những suy nghĩ của bà cụ Tứ thật khiến người ta đau lòng, não nề. Và dường như nó đã khiến người ta xót thương nhưng chẳng biết cách nào có thể thương lấy bà, thương lấy những con người trong thời đại này.Xem thêm: Nghị luận xã hội về trò chơi điện tử
Có thể thấy Kim Lân dường như đã rất thành công khi phác họa hình ảnh bà cụ Tứ đầy ám ảnh trong lòng người đọc đến như vậy.
Và hơn hết những diễn biến tâm lý của bà cụ Tứ cũng như đã thay đổi rất đột ngột, nhưng dường như ta thấy những sự thay đổi đó là tín hiệu đáng mừng chứng tỏ rằng bà đã chấp nhận người vợ “nhặt” của đứa con mình. Và điều đó nó cũng giống như việc chấp nhận sẽ gánh thêm cái khổ, gánh thêm cả cái đói, cái nghèo cùng với các con. Và dường như chính cái cách bà cụ Tứ dặn dò đôi vợ chồng trẻ thật khiến con người ta cảm phục “ Nhà ta nghèonên các con phải liệu mà bảo nhau làm ăn. Và ta như thấy khi anh Tràng bước dài ra sân, bà động viên nàng dâu câu nói chứa chan “ Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Rồi ra thì con cái chúng mày về sau.”. Ta như có thể thấy chính sự ân tình, chu đáo biết bao nhiêu của người mẹ nghèo dường như đã khiến đôi vợ chồng trẻ cảm động, và cũng như không biết nói gì hơn, bà đã chấp nhận “người vợ mới” của đứa con, và quan trọng bà đã chấp nhận cả cái đói nghèo mà gia đình bà mang.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bà cụ Tứ như thật ân tình với con dâu, nói cho con dâu yên lòng rằng nhà nghèo, nếu có thì sẽ làm dăm ba mâm nhưng nhà mình nghèo nên bà đã động viên con dâu và con trai mình cố gắng. Chính những chi tiết này đã cho thấy sự đồng cảm giữa một người phụ nữ nghèo với một người phụ nữ nghèo. Ta như thấy chính sự gắn kết này sẽ mang lại một hơi ấm và sức sống cho gia đình sau này.
Ta như thấy được hình ảnh “nồi cháo cám” sau đêm tân hôn của con mà người mẹ này dường như đã mang đến thực sự khiến chúng ta cảm động đến rơi nước mắt. Và chính hình ảnh nồi cháo cám ấy không còn nguyên giá trị thực như nó vẫn mang, nó như chính là hiện thân của tình yêu thương con, một tình yêu thương con vô bờ bến. Người đọc thật không khó nhận ra đức hi sinh lớn lao của người mẹ nghèo dành cho những đứa con. Và cũng chính hình ảnh nồi cháo cám là chi tiết cực kỳ đắt giá của câu chuyện, ta như thấy được nhân phẩm và lòng vị tha, yêu thương của bà cụ Tứ cũng từ chi tiết này mà được nhân lên gấp bội, gấp vạn lần.
Hẳn người đọc sẽ không bao giờ quên đi hình ảnh bà cụ Tứ gắn với nồi cháo cám ở cuối truyện, bà kể toàn chuyện vui cho các con nghe và với hi vọng và mong muốn có một tương lai đỡ khổ, đỡ nhọc nhằn hơn. Và đó chính là một tình yêu đáng ngưỡng mộ trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Hiện thực nghèo khó dường như không thể đánh gục được tình yêu thương giữa con người với con người với nhau.
Chỉ bằng bút pháp khắc họa diễn biến tâm lý sâu sắc, tác giả Kim Lân dường như cũng đã để lại trong lòng người đọc những dư âm khó phai về hình ảnh bà cụ Tứ nghèo đó nhưng vẫn ánh lên tình yêu thương đáng ngưỡng mộ. Bà cụ Tứ chính là hiện thân của những gì cao đẹp nhất, tốt nhất của một con người, một nhân cách.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân
Gợi ý
Viết về nỗi cơ hàn, cực khổ của người nông dân Việt Nam những năm trước Cách mạng không chỉ có Kim Lân, nhưng những gì nhà văn này đã mang đến bạn đọc qua truyện ngắn Vợ nhặt thật đặc biệt. Sự xuất hiện của mỗi nhân vật trong tác phẩm đều khiến người đọc bứt rứt, xót xa nhưng có lẽ khiến ta thương cảm hơn cả là bà cụ Tứ – bà mẹ già của anh cu Tràng.
Nếu đã từng đọc những trang truyện của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, chứng ta sẽ ít nhiều hình dung được cảnh sông của đại bộ phận nhân dân Việt Nam thời điểm đêm trước cuộc Cách mạng. Trong truyện ngắn Đôi mắt (viết năm 1948), Nam Cao dự đoán “có lẽ đến nãm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình” về “cái hồi đói khủng khiếp” năm 1945. Năm 2000 đã đi qua gần một thập kỉ nhưng nỗi kinh hoàng về những năm tháng đó vẫn còn in dấu ấn đậm nét trên trang viết của các nhà văn ở Vợ nhặt, Kim Lân chỉ phác qua vài nét về nạn dịch thảm khốc đó bằng một vài chi tiết. Bao trùm không gian xóm ngụ cư trong truyện là “mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Tâm điểm của bức tranh u ám, thiếu sính khí này là con người, nhưng thấy người chết thì nằm còng queo bên đường còn người sống thì “dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Hơn một lần trong truyện, hình ảnh những bóng ma sông được trở lại. Phụ hoạ với nó là tiếng hờ khóc ngoài xóm và tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Cuộc sống của xóm ngụ cư đang mon men tiến sát bờ vực của cái tận diệt. Những đứa trẻ con vô tư nhất cũng không thể nò đùa, láu lỉnh như mọi khi. Chi tiết đó đủ cho chúng ta cảm nhận về sự sống tàn lụi, héo hắt của con người.
Thế mà, giữa nạn đói thê thảm, khi mọi người đang quay cuồng đôi mặt với cái chết, thì riêng Tràng – con trai bà cụ Tứ – nhân vật chính trong tác phẩm lại sắng sửa lấy vợ.Xem thêm: Bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích. Em có đồng ý như vậy không? Có thể cho đây chỉ là một tình huống nghệ thuật Kim Lân cố tình tạo dựng trong tác phẩm. Cũng có thể lí giải hành động của nhân vật bằng sự gàn dở bẩm sinh của nhân vật Tràng. Nhưng dù thế nào, điều tác giả muốn người đọc hướng tới là thái độ ứng xử của mỗi nhân vật trước sự kiện éo le này.
Truyện có ba nhân vật, tham dự trực tiếp vào sự kiện đặc biệt là Tràng và cô vợ nhặt. Người thứ ba gần như bị động trước sự kiện này là bà cụ Tứ. Với bà cụ, sự việc trọng đại trong cuộc đời anh con trai lại đến quá đột ngột, bất ngả. Trong tư cách người mẹ, bà cụ có quyền phản đối cuộc hôn nhân lắm chứ. Nhưng không như ta dự đoán, không như sự lo lắng của anh cu Tràng, người mẹ ây lại có thái độ đón nhận rất điềm đạm. Sự nhạy cảm sâu sắc của nhà văn đã giúp chúng ta phát hiện ra bao tâm tư ẩn sâu trong mội lời nói, cử chỉ của bà cụ.
Xuất hiện ở nửa sau của truyện, trước hết bằng tiếng ho “húng hăng” và dáng đi “lọng khọng”, nhân vật khiến người đọc liên tưởng tới một bà cụ già yếu, lẩm cẩm. Không ai nghĩ một người như thế lại có suy nghĩ, hành động sâu sắc, cảm động lạ lùng. Bà cụ Tứ đón nhận tin vui của anh con trai không phải bằng thái độ bực dọc, khó chịu mà bằng sự ngạc nhiên: “Đến giữa sân, bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn”.. Hai động từ, một chỉ hành động, một chỉ trạng thái tình cảm thể hiện rõ ràng nỗi kinh ngạc. Hàng loạt câu hỏi nảy ra trong đầu bà cụ: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia?Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà? Ai thế nhỉ?”. Ngòi bút nhà văn thâm nhập hẳn vào suy nghĩ nhân vật diễn tả thành công nỗi băn khoăn, thắc mắc. Cảm giác ấy có cơ sở từ những điều bất thường bà cụ đang chứng kiến. Cảm giác đó còn kéo dài cho đến khi anh cu Tràng rành rọt giảng giải.Xem thêm: Bậc thánh nhân không tích lũy, càng giúp con người giàu có, càng cho đi càng nhận lại nhiều hơn. Đạo của trời làm lợi mà không làm hại. Đức của thánh nhân chia sẻ chứ không tranh giành... hiện đại
Hành động “cúi đầu nín lặng” xác nhận sự thông tỏ đầy cay đắng. Cái bà cụ hiểu còn nhiều hơn, sâu sắc hơn gấp bội điều anh cu Tràng trình bày: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì.”..; “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có được vợ.”… Hơn bao giờ hết, bà lão thấm thía những cay cực của chính mình, những tủi hờn của thân phận con trai. Dòng nước mắt của người mẹ già khiến người đọc xúc động nghẹn ngào. Nỗi hờn tủi không thể dè dàng bộc phát như đứa trẻ mà bị dồn ép, nức nở.
Nhưng không chìm đắm trong sự thua thiệt để hờn giận bản thân, bà cụ chấp nhận hoàn cảnh và kịp thời yên ủi con dâu bằng giọng “nhẹ nhàng”: “ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng.”… Không phải là “bằng lòng” một cách miễn cưỡng mà là “mừng lòng”- tức là có sự vừa ý, có niềm vui, hân hoan. Lời nói đó chứa chan nỗi niềm cảm thông, thương yêu. ánh mắt nhìn con dâu đầy “thương xót” và lời nói của bà cụ: “Chúng mày lây nhau lúc này, u thương quá.”., là tình cảm chân thành nhất, giản dị nhất mà cũng cao quí nhất mà bà mẹ nghèo có thể ban tặng cho các con của mình. Hai dòng nước mắt không còn “rỉ” một cách kiềm chế mà “cứ chảy xuống ròng ròng”. Những yêu thương của bà cụ tưởng như vô bờ bến.
Lòng thương vẫn thường hay đi liền với sự lo lắng. Càng thương, bà cụ Tứ càng lo cho cuộc sống các con: “Biết rằng, chúng nó có nuôi nổi nhau sông qua được cơn đói khát này không?”; “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?”. Nỗi lo có cơ sở thực tiễn từ “mùi đốt đông rấm ở những nhà có người chết”; từ chính “cuộc đời cực khổ dài dằng dặc” của vợ chồng, con cái bà cụ. Với tất cả những điều đó, đáp án cho những toan lo của bà cụ Tứ sẽ mang ý nghĩa phủ định. Những toan lo này không thể giúp các con bà thoát khỏi các bế tắc nhưng chắc chắn sẽ là nguồn động viên để chúng vững tin vào cuộc đời. Không thương xót các con, chắc chắn bà cụ Tứ đã chẳng nhọc lòng như thế.Xem thêm: Thuyết minh yêu cầu đọc - hiểu văn bản văn học Ngày mới lại đến, và lần này, nó mang đến cuộc sông gia đình bà cụ Tứ những điều mới mẻ dễ chịu. Trong bữa cơm sum họp đầu tiên, bà lão “toàn nói chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này:
– Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có đàn gà cho mà xem.”..
Giấc mơ của bà cụ làm ta nhớ đến bài ca dao Mười cái trứng của người dân lao động Việt Nam:
“Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”
ở đâu ta cũng bất gặp một tinh thần lạc quan tột độ. Trong cái đói khổ, khi bờ vực của sự sống lay lắt là cái chết thảm thương, con người vẫn hướng về sự sông tươi mới, vẫn vun cho cuộc đời những mầm sông nhỏ nhoi. Dù trên tay bưng bát cháo cám, bà cụ Tứ vẫn mong mỏi, chờ đợi điều tốt đẹp nhất đến với các con. Cách mạng chưa đến nhưng chính bà cụ đã tự làm một cuộc cách mạng trong suy nghĩ của mình. Bà cụ là chỗ dựa tinh thần vững chãi nhất cho cái gia đình bé nhỏ mới được hình thành kia.
Ngạc nhiên – lo lắng; hờn tủi – xót thương, mừng lòng – mong mỏi là những diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trước “đám cưới” bất ngờ của anh con trai. Với tình huổng truyện độc đáo, sự lựa chọn chi tiết đặc sắc, nhà vãn Kim Lân đã miêu tả diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ chân thực, tinh tế, cảm động. Qua đó, ta bắt gặp tấm lòng nhân hậu, bao dung của nhân vật và trái tim nhân đạo của tác giả.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân
Gợi ý
Viết về nỗi cơ hàn, cực khổ của người nông dân Việt Nam những năm trước Cách mạng không chỉ có Kim Lân, nhưng những gì nhà văn này đã mang đến bạn đọc qua truyện ngắn Vợ nhặt thật đặc biệt. Sự xuất hiện của mỗi nhân vật trong tác phẩm đều khiến người đọc bứt rứt, xót xa nhưng có lẽ khiến ta thương cảm hơn cả là bà cụ Tứ – bà mẹ già của anh cu Tràng.
Nếu đã từng đọc những trang truyện của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, chứng ta sẽ ít nhiều hình dung được cảnh sông của đại bộ phận nhân dân Việt Nam thời điểm đêm trước cuộc Cách mạng. Trong truyện ngắn Đôi mắt (viết năm 1948), Nam Cao dự đoán “có lẽ đến nãm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình” về “cái hồi đói khủng khiếp” năm 1945. Năm 2000 đã đi qua gần một thập kỉ nhưng nỗi kinh hoàng về những năm tháng đó vẫn còn in dấu ấn đậm nét trên trang viết của các nhà văn ở Vợ nhặt, Kim Lân chỉ phác qua vài nét về nạn dịch thảm khốc đó bằng một vài chi tiết. Bao trùm không gian xóm ngụ cư trong truyện là “mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Tâm điểm của bức tranh u ám, thiếu sính khí này là con người, nhưng thấy người chết thì nằm còng queo bên đường còn người sống thì “dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Hơn một lần trong truyện, hình ảnh những bóng ma sông được trở lại. Phụ hoạ với nó là tiếng hờ khóc ngoài xóm và tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Cuộc sống của xóm ngụ cư đang mon men tiến sát bờ vực của cái tận diệt. Những đứa trẻ con vô tư nhất cũng không thể nò đùa, láu lỉnh như mọi khi. Chi tiết đó đủ cho chúng ta cảm nhận về sự sống tàn lụi, héo hắt của con người.
Thế mà, giữa nạn đói thê thảm, khi mọi người đang quay cuồng đôi mặt với cái chết, thì riêng Tràng – con trai bà cụ Tứ – nhân vật chính trong tác phẩm lại sắng sửa lấy vợ.Xem thêm: Bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích. Em có đồng ý như vậy không? Có thể cho đây chỉ là một tình huống nghệ thuật Kim Lân cố tình tạo dựng trong tác phẩm. Cũng có thể lí giải hành động của nhân vật bằng sự gàn dở bẩm sinh của nhân vật Tràng. Nhưng dù thế nào, điều tác giả muốn người đọc hướng tới là thái độ ứng xử của mỗi nhân vật trước sự kiện éo le này.
Truyện có ba nhân vật, tham dự trực tiếp vào sự kiện đặc biệt là Tràng và cô vợ nhặt. Người thứ ba gần như bị động trước sự kiện này là bà cụ Tứ. Với bà cụ, sự việc trọng đại trong cuộc đời anh con trai lại đến quá đột ngột, bất ngả. Trong tư cách người mẹ, bà cụ có quyền phản đối cuộc hôn nhân lắm chứ. Nhưng không như ta dự đoán, không như sự lo lắng của anh cu Tràng, người mẹ ây lại có thái độ đón nhận rất điềm đạm. Sự nhạy cảm sâu sắc của nhà văn đã giúp chúng ta phát hiện ra bao tâm tư ẩn sâu trong mội lời nói, cử chỉ của bà cụ.
Xuất hiện ở nửa sau của truyện, trước hết bằng tiếng ho “húng hăng” và dáng đi “lọng khọng”, nhân vật khiến người đọc liên tưởng tới một bà cụ già yếu, lẩm cẩm. Không ai nghĩ một người như thế lại có suy nghĩ, hành động sâu sắc, cảm động lạ lùng. Bà cụ Tứ đón nhận tin vui của anh con trai không phải bằng thái độ bực dọc, khó chịu mà bằng sự ngạc nhiên: “Đến giữa sân, bà lão đứng sững lại, bà lão càng ngạc nhiên hơn”.. Hai động từ, một chỉ hành động, một chỉ trạng thái tình cảm thể hiện rõ ràng nỗi kinh ngạc. Hàng loạt câu hỏi nảy ra trong đầu bà cụ: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia?Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà? Ai thế nhỉ?”. Ngòi bút nhà văn thâm nhập hẳn vào suy nghĩ nhân vật diễn tả thành công nỗi băn khoăn, thắc mắc. Cảm giác ấy có cơ sở từ những điều bất thường bà cụ đang chứng kiến. Cảm giác đó còn kéo dài cho đến khi anh cu Tràng rành rọt giảng giải.Xem thêm: Bậc thánh nhân không tích lũy, càng giúp con người giàu có, càng cho đi càng nhận lại nhiều hơn. Đạo của trời làm lợi mà không làm hại. Đức của thánh nhân chia sẻ chứ không tranh giành... hiện đại
Hành động “cúi đầu nín lặng” xác nhận sự thông tỏ đầy cay đắng. Cái bà cụ hiểu còn nhiều hơn, sâu sắc hơn gấp bội điều anh cu Tràng trình bày: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì.”..; “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có được vợ.”… Hơn bao giờ hết, bà lão thấm thía những cay cực của chính mình, những tủi hờn của thân phận con trai. Dòng nước mắt của người mẹ già khiến người đọc xúc động nghẹn ngào. Nỗi hờn tủi không thể dè dàng bộc phát như đứa trẻ mà bị dồn ép, nức nở.
Nhưng không chìm đắm trong sự thua thiệt để hờn giận bản thân, bà cụ chấp nhận hoàn cảnh và kịp thời yên ủi con dâu bằng giọng “nhẹ nhàng”: “ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng.”… Không phải là “bằng lòng” một cách miễn cưỡng mà là “mừng lòng”- tức là có sự vừa ý, có niềm vui, hân hoan. Lời nói đó chứa chan nỗi niềm cảm thông, thương yêu. ánh mắt nhìn con dâu đầy “thương xót” và lời nói của bà cụ: “Chúng mày lây nhau lúc này, u thương quá.”., là tình cảm chân thành nhất, giản dị nhất mà cũng cao quí nhất mà bà mẹ nghèo có thể ban tặng cho các con của mình. Hai dòng nước mắt không còn “rỉ” một cách kiềm chế mà “cứ chảy xuống ròng ròng”. Những yêu thương của bà cụ tưởng như vô bờ bến.
Lòng thương vẫn thường hay đi liền với sự lo lắng. Càng thương, bà cụ Tứ càng lo cho cuộc sống các con: “Biết rằng, chúng nó có nuôi nổi nhau sông qua được cơn đói khát này không?”; “Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?”. Nỗi lo có cơ sở thực tiễn từ “mùi đốt đông rấm ở những nhà có người chết”; từ chính “cuộc đời cực khổ dài dằng dặc” của vợ chồng, con cái bà cụ. Với tất cả những điều đó, đáp án cho những toan lo của bà cụ Tứ sẽ mang ý nghĩa phủ định. Những toan lo này không thể giúp các con bà thoát khỏi các bế tắc nhưng chắc chắn sẽ là nguồn động viên để chúng vững tin vào cuộc đời. Không thương xót các con, chắc chắn bà cụ Tứ đã chẳng nhọc lòng như thế.Xem thêm: Thuyết minh yêu cầu đọc - hiểu văn bản văn học Ngày mới lại đến, và lần này, nó mang đến cuộc sông gia đình bà cụ Tứ những điều mới mẻ dễ chịu. Trong bữa cơm sum họp đầu tiên, bà lão “toàn nói chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này:
– Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có đàn gà cho mà xem.”..
Giấc mơ của bà cụ làm ta nhớ đến bài ca dao Mười cái trứng của người dân lao động Việt Nam:
“Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”
ở đâu ta cũng bất gặp một tinh thần lạc quan tột độ. Trong cái đói khổ, khi bờ vực của sự sống lay lắt là cái chết thảm thương, con người vẫn hướng về sự sông tươi mới, vẫn vun cho cuộc đời những mầm sông nhỏ nhoi. Dù trên tay bưng bát cháo cám, bà cụ Tứ vẫn mong mỏi, chờ đợi điều tốt đẹp nhất đến với các con. Cách mạng chưa đến nhưng chính bà cụ đã tự làm một cuộc cách mạng trong suy nghĩ của mình. Bà cụ là chỗ dựa tinh thần vững chãi nhất cho cái gia đình bé nhỏ mới được hình thành kia.
Ngạc nhiên – lo lắng; hờn tủi – xót thương, mừng lòng – mong mỏi là những diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trước “đám cưới” bất ngờ của anh con trai. Với tình huổng truyện độc đáo, sự lựa chọn chi tiết đặc sắc, nhà vãn Kim Lân đã miêu tả diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ chân thực, tinh tế, cảm động. Qua đó, ta bắt gặp tấm lòng nhân hậu, bao dung của nhân vật và trái tim nhân đạo của tác giả.
Vanmau.edu.vn
|
Bà cụ Tứ là mẹ của Tràng, là một người đàn bà nhân hậu và hết mực yêu thương con. Ở bà cụ Tứ hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Ở vào cái thế bông dưng được làm mẹ chồng, bà vẫn vui vẻ chấp thuận và vun vén cho con trai.
Dưới đây, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết và phân tích nhân vật bà cụ Tứ để các em có thể thấy được những điểm nổi bật trong tính cách của nhân vật này.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật bà cụ Tứ
1. Mở bài
– Nhà văn Kim Lân là tác gia nổi tiếng của văn học Việt Nam.
– Truyện ngắn Vợ nhặt là sáng tác hấp dẫn để lại nhiều dấu ấn của tác giả.
– Nhân vật bà cụ Tứ là hiện thân của người nông dân nghèo và có diễn biến tâm trạng khá phức tạp.
2. Thân bài phân tích nhân vật bà cụ Tứ
Bà cụ Tứ ngạc nhiên khi Tràng dắt vợ về
– Hoàn cảnh lúc này đang vô cùng khó khăn nhưng con trai bà lại dẫn vợ về.
– Bà cụ Tứ vô cùng ngạc nhiên vì con mình không chỉ nghèo mà lại còn xấu xí nhưng vẫn lấy được vợ.
– Bà không dám tin vào những điều mắt thấy, tai nghe.
Bà cụ Tứ vừa mừng vừa tủi
– Lòng bà có chút buồn khi nghĩ đến chồng và con gái.
– Bà vui vì cuối cùng con trai cũng lấy được vợ nhưng buồn vì không thể cho con một lễ cưới hỏi đàng hoàng.Xem thêm: Suy nghĩ và cảm xúc của anh (chị) về hình ảnh đôi bàn tay Tnú
– Bà cũng không biết lấy gì để cúng tổ tiên, báo cáo rằng con mình đã có vợ.
– Bà thương cho cô con dâu vì cũng phải chịu nhiều thiệt thòi.
Nỗi lo của bà cụ Tứ
– Bà lo lắng cho gia đình nhỏ không biết sẽ sống thế nào trong hoàn cảnh đói kém này.
– Bà khuyên nhủ các con nương vào nhau để sống.
Niềm tin vào tương lai của cụ Tứ
– Bà có những suy nghĩ tốt đẹp về tương lai.
– Bà sửa sang lại nhà cửa vườn tược.
– Bà nấu bữa cháo cám đầy tình yêu thương.
– Trong đói khổ bà vẫn tạo ra một không khí ấm cúng.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật bà cụ Tứ.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật bà cụ Tứ
Năm 1945, miền Bắc nước ta rơi vào nạn đói vô cùng khủng khiếp. Bối cảnh lịch sử này đã được nhiều nhà văn, nhà biên kịch đưa vào trong các sáng tác của mình. Nhà văn Kim Lân cũng vậy. Tuy nhiên, mặc dù lấy bối cảnh là nạn đói năm Ất Dậu nhưng ông lại viết theo một chiều hướng khác đó chính là làm nổi bật lên tình người trong khó khăn. Các nhân vật trong tác phẩm được miêu tả kĩ về tâm trạng, đặc biệt là bà cụ Tứ, mẹ của Tràng.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi. Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Nói về bà cụ Tứ thì trước hết đây là một người mẹ nghèo đã già yếu với cái lưng lòng khòng, hai mắt đã lèm nhèm, khuôn mặt thì bủng beo và u ám. Cái nghèo thể hiện rõ ở ngoại hình của bà. Nhưng cái đói, cái khổ không làm cho con người ta đánh mất đi phẩm giá của mình. Chồng và con gái qua đời, bà cụ Tứ sống cùng với người con trai tên là Tràng. Nghèo khổ mấy, bà vẫn nuôi dạy Tràng nên người. Nhân vật Tràng hiền lành, chất phác cũng cho thấy sự khéo léo của bà cụ Tứ trong việc nuôi dạy con cái.
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ
Bà cụ Tứ mặc dù xuất hiện sau khi Tràng dẫn vợ về nhưng lại là nhân vật được Kim Lân dành nhiều ưu ái. Diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ kể từ lúc nhìn thấy người đàn bà kia ngồi trong nhà đã bắt đầu có những xáo trộn. Đầu tiên, bà nghĩ đến chồng và con mình nên rất buồn. Sau khi biết đây là người vợ mà con mình đã nhặt được thì bà vừa buồn, vừa lo. Đây là tâm lý dễ hiểu của bà cụ Tứ khi bị đặt vào trong hoàn cảnh này. Bà cụ lo là bởi hai mẹ con bà đang không có gì bỏ miệng. Bà thì hoàn toàn phụ thuộc vào người con trai. Cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc thì lấy gì để con trai bà nuôi vợ? Nhưng lo lắng là vậy, bà vẫn từ từ chấp thuận cô con dâu này. Bà thương cho con trai vì phải lấy vợ trong cái hoàn cảnh này. Bà không có thứ gì để mà thắp hương báo cáo với gia tiên rằng con trai bà đã có vợ. Rồi bà lại thương cho cô con dâu vì không có được một lễ cưới hỏi đàng hoàng. Người ta phải rơi vào hoàn cảnh túng quấn lắm mới chịu theo con bà về làm vợ. Sự lo lắng của bà cụ Tứ cho thấy bà là người mẹ giàu lòng nhân ái.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Tây Tiến của Quang Dũng: "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói...Sông Mã gầm lên khúc độc hành."
Buổi sáng đầu tiên có cô con dâu mới, bà cụ Tứ thấy lòng mình vui vẻ hẳn. Bà sửa sang lại nhà cửa, vườn tược rồi nấu một nồi cháo cám to để cả nhà cùng ăn. Vừa múc cháo, bà vừa khen ngon rồi nở nụ cười hạnh phúc. Nồi cháo ấy hẳn đã được nấu bằng tất cả tình yêu thương của người mẹ. Bà cụ Tứ đã nén những lo toan vào trong lòng mình để cho con của bà cảm thấy bớt gánh nặng. Không khí gia đình vì thế trở nên vô cùng đầm ấm.
Bà cụ Tứ, đại diện cho người mẹ Việt Nam đôn hậu đã trở thành hình ảnh khó phai trong lòng người đọc. Qua đây, ta thấy được tấm lòng người mẹ thật vĩ đại. Cũng nhờ có bà cụ Tứ mà Tràng mới có được những suy nghĩ tích cực khi hướng đến tương lai tốt đẹp.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích nhân vật bà cụ Tứ. Sau khi đọc tham khảo bài viết này, các em hãy tự làm một bài phân tích của riêng mình và chia sẻ nó để chúng ta cùng nhau học tập tốt hơn nhé.
Thu Thủy
|
Mrs. Tu is Trang's mother, a kind woman who loves her child very much. Mrs. Tu brings together the good qualities of Vietnamese women. In the awkward position of being a mother-in-law, she still happily accepted and nurtured her son.
Below, Sample Literature Treasury will guide you to create a detailed outline and analyze the character of Mrs. Tu so that you can see the outstanding points in this character's personality.
I. Create an outline to analyze the character of Mrs. Tu
1. Open the lesson
– Writer Kim Lan is a famous author of Vietnamese literature.
– The short story The Wife Picked Up is an attractive composition that leaves many marks on the author's part.
– The character of Mrs. Tu is the embodiment of a poor farmer and has quite complex mood changes.
2. The body of the essay analyzes the character of Mrs. Tu
Mrs. Tu was surprised when Trang brought his wife home
– The situation right now is extremely difficult, but your son brought his wife home.
- Mrs. Tu was extremely surprised because her son was not only poor but also ugly but still managed to get married.
– She did not dare to believe what her eyes saw and ears heard.
Mrs. Tu was both happy and sad
– Her heart felt a bit sad when thinking about her husband and daughter.
– She is happy because her son finally got married but sad because she cannot give him a proper wedding ceremony. See more: Your thoughts and feelings about the image of Tnú's hands
– She also did not know what to offer to her ancestors, and reported that her child was married.
– She felt sorry for her daughter-in-law because she also suffered many disadvantages.
Mrs. Tu's worries
– She worries about her small family, not knowing how they will live in this famine situation.
– She advised her children to rely on each other to survive.
Mr. Tu's faith in the future
– She has good thoughts about the future.
– She renovated the house and garden.
– She cooks bran porridge with love.
– In poverty, she still created a cozy atmosphere.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character of Mrs. Tu.
Related articles:
>> Analysis of Trang's character in The Picked Wife (With detailed outline)
>> Analysis of Kim Lan's The Picked-Up Wife (With detailed outline)
>> Analysis of the character Mi in A Phu Couple (With detailed outline)
II. The article analyzes the character of Mrs. Tu
In 1945, the North of our country fell into an extremely terrible famine. This historical context has been included by many writers and screenwriters in their works. The same goes for writer Kim Lan. However, although the context was the famine in the year of At Dau, he wrote in a different direction, highlighting human love in difficulties. The characters in the work are carefully described in terms of mood, especially Mrs. Tu, Trang's mother. See more: Comment on the following poem in the poem Tay Tien by Quang Dung: The Ma River is far away, Tay Tien. Remembering the mountains and forests, remembering playing around...Remembering Tay Tien, rice rising in smoke. In Mai Chau, this season is fragrant with sticky rice
Talking about Mrs. Tu, first of all this is a poor mother who is old and weak with a hunched back, blurred eyes, and a flabby and gloomy face. Poverty is clearly shown in her appearance. But hunger and suffering do not make people lose their dignity. Her husband and daughter passed away, and Mrs. Tu lived with her son named Trang. No matter how poor she was, she still raised Trang to be a good person. The gentle and simple character of Trang also shows Mrs. Tu's skill in raising her children.
Analyze the character of Mrs. Tu
Although Mrs. Tu appeared after Trang brought his wife home, she was a character that Kim Lan favored a lot. The evolution of Mrs. Tu's mood from the moment she saw the other woman sitting in the house began to have disturbances. First, she thought about her husband and children and was very sad. After knowing that this was the wife her child had picked up, she was both sad and worried. This is the understandable psychology of Mrs. Tu when placed in this situation. The old lady was worried because she and her daughter had nothing to say. She is completely dependent on her son. If you don't have food to eat or clothes to wear, how will your son support his wife? But despite her worries, she still slowly accepted this daughter-in-law. She felt sorry for her son because he had to get married in this situation. She had nothing to burn incense to report to her ancestors that her son was married. Then she felt sorry for her daughter-in-law because she couldn't have a proper wedding ceremony. A person must be in a very difficult situation to accept her daughter as his wife. Mrs. Tu's concern shows that she is a compassionate mother. See more: Commentary on the following poem in the poem Tay Tien by Quang Dung: "Remember, oh Tay Tien, the rice smokes... Ma River roars solo song."
On the first morning of having a new daughter-in-law, Mrs. Tu felt completely happy. She renovated the house and garden and cooked a large pot of bran porridge for the whole family to eat together. While scooping the porridge, she praised it as delicious and smiled happily. That pot of porridge must have been cooked with all the love of a mother. Mrs. Tu suppressed her worries in her heart to make her child feel less burdened. The family atmosphere thus becomes extremely warm.
Mrs. Tu, representing the kind Vietnamese mother, has become an unforgettable image in the hearts of readers. Through this, we can see how great a mother's heart is. Thanks to Mrs. Tu, Trang can have positive thoughts when looking towards a good future.
So we have together outlined and analyzed the character of Mrs. Tu. After reading this article, please make your own analysis and share it so we can learn better together.
Thu Thuy
|
Bé Thu là một em bé chỉ mới 8, 9 tuổi nhưng đã thể hiện rõ cá tính của mình. Cô bé tỏ ra bướng bỉnh nhưng từ sâu thẳm trong tim bé Thu cực kỳ yêu cha của mình là ông Sáu. Phân tích nhân vật bé Thu sẽ cho các em thấy được rõ tính cách của nhân vật này.
Trước khi làm bài phân tích nhân vật bé Thu, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích nhân vật này. Dàn ý chi tiết sẽ giúp các em không bỏ sót ý trong quá trình làm bài.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật bé Thu
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Nguyễn Quang Sáng và tác phẩm Chiếc lược ngà.
– Giới thiệu về nhân vật bé Thu, một cô bé khoảng 8-9 tuổi, là con của ông Sáu.
2. Thân bài phân tích nhân vật bé Thu
Khái quát cảnh ngộ của bé Thu
– Cha bé Thu là ông Sáu đi chiến đấu từ ngày bé Thu chưa được 1 tuổi.
– Những kí ức về cha chỉ qua lời kể của mẹ và tấm ảnh cưới của cha mẹ.
Bé Thu có tính cách khá ngang ngạnh nhưng giàu tình cảm
– Bé Thu như một con nhím nhỏ cố thu mình trong những cái gai nhọn, cố gắng tỏ ra mạnh mẽ để không ai có thể chạm vào. Thế nhưng thực chất bên trong bé Thu lại là người giàu tình cảm, đặc biệt là tình yêu dành cho bố của mình.
– Bé Thu lúc thì như bà cụ non, lúc lại tỏ rõ mình là đứa trẻ ngây thơ, hồn nhiên.
– Bé Thu nhất định không chịu nhận ông Sáu cũng bởi vì bé Thu quá yêu ba của mình.
Diễn biến tâm lí của nhân vật Thu
– Bé Thu nhất quyết không chịu nhận ba và tỏ ra vô cùng ngang bướng khiến cho ông Sáu phải tức giận.Xem thêm: Nghị luận về câu "Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn"
– Bé Thu nhận ba vào giây phút ông Sáu chuẩn bị lên đường. Giây phút thiêng liêng khiến nhiều người bật khóc. Bé Thu không muốn phải xa ba của mình.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật bé Thu.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật bé Thu
Tình cảm gia đình vẫn luôn là thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng đối với con người. Chúng ta đã từng thấy rất nhiều tác phẩm văn học có nói về tình mẫu tử chẳng hạn như Người mẹ cầm súng, Hòn đất, Tắt đèn nhưng tình phụ tử thì lại không nhiều. Thật ra, không phải giữa cha và con có ít tình cảm mà chỉ là người cha thường ít bộc lộ cảm xúc hơn so với mẹ. Một trong những tác phẩm văn học viết về tình cha con để lại ấn tượng sâu đậm cho người đọc đó chính là Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện kể về hai cha con ông Sáu và bé Thu mà nổi bật lên là tình cảm bé Thu dành cho cha của mình.
Ông Sáu phải lên đường ra trận khi mà cô con gái của ông là bé Thu vẫn chưa đầy 1 tuổi. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kì, ông Sáu chưa một lần được về thăm nhà. Lần này được nghỉ phép 3 ngày, ông Sáu hoan hỉ trở về, trong lòng mường tượng ra cảnh con gái chạy lại ôm lấy ba rồi ríu rít gọi ba ơi. Nhưng thực tế lại không được như mong đợi. Bé Thu không nhận ông Sáu làm cha. Điều này không ai lý giải nổi bởi ai cũng biết dù chỉ được nghe về ba qua lời kể của mẹ và cũng chỉ biết mặt ba qua bức ảnh cưới chụp chung với mẹ nhưng bé Thu vô cùng yêu ba. Bé Thu lúc nào cũng mong ba về để được ba ôm vào lòng, để được gọi một tiếng ba ơi.Xem thêm: “Trên đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” (Phơ-rang-cơ-lanh). Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên
Phân tích nhân vật bé Thu
Bé Thu là một cô bé vô cùng ngang bướng. Dù mọi người có khuyên nhủ thế nào đi chăng nữa thì bé Thu cũng không chấp nhận ông Sáu. Mẹ nói rồi bà nói cũng đều không có tác dụng. Ông Sáu sau nhiều lần muốn làm thân với bé Thu mà nhận về phản ứng dữ dội cũng đành bất lực. Có lúc, ông Sáu đã nổi cáu với bé Thu cũng chỉ vì quá yêu con và mong mỏi được nghe con gọi một tiếng ba. Bé Thu thì vẫn rất ngang bướng. Biểu hiện là khi bé Thu đun nước sôi, cô bé không chịu gọi ba giúp đỡ mà tự mình làm. Khi mẹ bảo bé Thu gọi ba ra ăn cơm, bé Thu có đi gọi nhưng lại nói trống không. Rồi khi ông Sáu gắp cho bé Thu miếng trứng cá, bé Thu gẩy ra làm rơi miếng trứng cá xuống. Bị ông Sáu đánh, bé Thu gan dạ không khóc. Theo tâm lý thông thường của trẻ nhỏ, chúng sẽ oà lên chạy đi mách mẹ. Nhưng bé Thu thì lặng lẽ gắp bỏ miếng trứng cá lại vào bát rồi bỏ đi. Tất cả những điều ấy cho thấy sự ngang bướng của bé Thu. Thế nhưng người đọc cũng có thể thấy một điều rằng bé Thu giống như một con nhím đang thu mình lại và cố tỏ ra mạnh mẽ với cái vỏ ngoài gai góc và xù xì. Nhưng thực chất bên trong cô bé vẫn còn trẻ con, hồn nhiên và đầy mềm yếu. Bé Thu sở dĩ không nhận ông Sáu là vì vết sẹo trên mặt ông Sáu. Trong ảnh, ba của bé Thu không có vết sẹo nào như vậy.Xem thêm: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi. (Yêu cầu viết bài văn)
Sau khi nghe bà ngoại giải thích về vết sẹo trên mặt ba, bé Thu đã hiểu ra. Thế nhưng lúc này cũng là lúc mà ông Sáu phải trở lại làm nhiệm vụ. Bé Thu lén đứng nhìn ba chia tay mọi người. Tình yêu ba trào dâng trong lòng, cuối cùng bé Thu đã chạy đến ôm chầm lấy ông Sáu từ phía sau và gọi ba ơi rất nhiều lần. Hai tiếng ba ơi đã xé tan bầu không khí nặng nề trong gia đình suốt những ngày qua, làm xé toạc lớp vỏ ngoài gai góc của bé Thu, chỉ còn lại một cô bé với trái tim yêu ba tha thiết. Cuộc đoàn tụ chỉ trong chớp mắt của hai ba con đã lấy đi không biết bao nhiêu nước mắt của tất cả những người chứng kiến và hẳn là đã lấy đi nước mắt của không ít độc giả.
Nhân vật bé Thu đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Đó là một cô bé gan dạ, ngang bướng nhưng sống thật tình cảm. Những tính cách ấy chính là tiền đề để sau này bé Thu trở thành cô giao liên. Xây dựng nhân vật bé Thu, có lẽ nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng muốn tố cáo tội ác chiến tranh đã cướp đi một phần tuổi thơ của những đứa trẻ vô tội, khiến cho chúng lớn lên mà thiếu đi sự dạy bảo và tình yêu thương của cha. Buồn làm sao khi lần đầu cũng là lần cuối hai cha con gặp nhau.
Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và làm bài phân tích nhân vật bé Thu. Ở bé Thu có rất nhiều điều cho chúng ta học hỏi. Trên hết đó là tình yêu của người con dành cho cha của mình.
Thu Thuỷ
|
Baby Thu is only 8 or 9 years old but has clearly shown her personality. She seems stubborn, but from the bottom of her heart, Thu loves her father, Mr. Sau, very much. Analyzing the character of little Thu will help you clearly see this character's personality.
Before doing the character analysis of little Thu, Sample Literature Treasury will guide you to create an outline to analyze this character. A detailed outline will help students not miss ideas during the exam.
I. Create an outline to analyze the character of little Thu
1. Open the lesson
– Introducing writer Nguyen Quang Sang and his work The Ivory Comb.
– Introducing the character Thu, a girl about 8-9 years old, the child of Mr. Sau.
2. The body of the essay analyzes the character of little Thu
Overview of baby Thu's situation
– Little Thu's father, Mr. Sau, went to fight when little Thu was not yet 1 year old.
– Memories of my father are only through my mother's words and my parents' wedding photos.
Baby Thu has a rather stubborn but affectionate personality
– Baby Thu is like a small hedgehog trying to hide herself in sharp thorns, trying to appear strong so that no one can touch her. But inside, Thu is actually a person rich in love, especially love for her father.
– Baby Thu sometimes looks like a young old lady, other times she clearly shows that she is an innocent and innocent child.
– Little Thu definitely refused to accept Mr. Sau because little Thu loved her father too much.
Psychological developments of character Thu
- Little Thu insisted on refusing to accept her father and was extremely stubborn, making Mr. Sau angry. See more: Discussion on the sentence "When I come home, I bathe in my pond. Even if it's clear or opaque, the pond at home is better"
– Baby Thu accepted her father the moment Mr. Sau was about to leave. The sacred moment made many people cry. Baby Thu doesn't want to be away from her father.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Thu.
Related articles:
>> Analysis of the young man's character in Quiet Sa Pa (With detailed outline)
>> Analysis of the character Vu Nuong in The Story of a Nam Xuong Girl (With detailed outline)
>> Analysis of Mr. Hai's character in the short story Village (With detailed outline)
II. Essay analyzing the character of baby Thu
Family love is always an extremely sacred feeling for people. We have seen many literary works that talk about motherly love such as Mother Holding a Gun, The Earth, Turning Off the Light, but not much fatherly love. Actually, it's not that there is little affection between father and child, it's just that fathers often show less emotion than mothers. One of the literary works about father-son love that leaves a deep impression on readers is The Ivory Comb by Nguyen Quang Sang. The story is about father and son, Mr. Sau and little Thu, with the highlight being little Thu's love for her father.
Mr. Sau had to go to war when his daughter Thu was still less than 1 year old. During the 9 years of the long resistance war against the French, Mr. Sau never once returned home to visit. This time, after being on leave for 3 days, Mr. Sau happily returned, imagining his daughter running to hug her father and chirping, calling for him. But the reality was not as expected. Baby Thu does not recognize Mr. Sau as her father. No one can explain this because everyone knows that even though they have only heard about her father through her mother's words and only know her father through the wedding photo taken with her mother, little Thu loves her father very much. Baby Thu always looks forward to her father coming home so that he can hug her, to call him "Daddy". See more: "On the road to success, there are no footprints of lazy people" (Ph-rang-c-lanh). What do you think about the above opinion?
Analysis of Thu's character
Baby Thu is an extremely stubborn girl. No matter how much everyone advised, Thu would not accept Mr. Sau. What my mother told me and what my grandmother said didn't work either. Mr. Sau, after many times wanting to get close to little Thu but receiving backlash, was helpless. At one point, Mr. Sau got angry with little Thu just because he loved her so much and wanted to hear her call dad. Baby Thu is still very stubborn. The manifestation is that when Thu boiled water, she refused to call her father for help and did it herself. When her mother asked Thu to call her father for dinner, Thu went to call but said it was empty. Then, when Mr. Sau gave little Thu a piece of fish roe, little Thu pulled it out and dropped the fish roe. Being beaten by Mr. Sau, little Thu bravely did not cry. According to the normal psychology of young children, they will run away to tell their mother. But little Thu quietly put the fish eggs back in the bowl and left. All of these things show Thu's stubbornness. However, readers can also see that little Thu is like a hedgehog cowering and trying to appear strong with a thorny and rough exterior. But actually inside she is still childish, innocent and soft. The reason Baby Thu did not recognize Mr. Sau was because of the scar on Mr. Sau's face. In the photo, Thu's father does not have any such scars. See more: Explanation about author Nguyen Trai. (Required essay writing)
After listening to her grandmother explain about the scar on her father's face, little Thu understood. But now is also the time for Mr. Sau to return to duty. Baby Thu secretly watched her father say goodbye to everyone. Dad's love welled up in her heart, and in the end little Thu ran to hug Mr. Sau from behind and called dad many times. The two words, oh dad, have torn apart the heavy atmosphere in the family over the past few days, tearing off baby Thu's thorny outer shell, leaving only a little girl with a heart that loves her dad dearly. The reunion of two or three children in just a blink of an eye brought countless tears from all the witnesses and must have brought tears from many readers.
The character Thu has left many deep impressions in the hearts of readers. She is a brave and stubborn girl, but very emotional. Those characteristics are the foundation for little Thu to become a courier in the future. Building the character of little Thu, perhaps writer Nguyen Quang Sang also wanted to denounce war crimes that robbed innocent children of a part of their childhood, causing them to grow up without guidance and love. father's love. How sad that the first time was also the last time father and son met.
Above, we together made an outline and did an analysis of the character of little Thu. There are many things for us to learn from Thu. Above all is the love of a son for his father.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật bé Thu trong đoạn trích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
Gợi ý
Tình cảm gia đình là một đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Khai thác mảng đề tài này, Nguyễn Quang Sáng đã có một số tác phẩm đặc sắc như “Chiếc lược ngà”, “Bông cẩm thạch”,… Trong đó, “Chiếc lược ngà” tạo được nhiều ấn tượng hơn cả. Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật chính – nhân vật bé Thu – một cô bé cá tính, đáng yêu và có tình yêu ba tha thiết.
“Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966 rồi được đưa vào tập truyện cùng tên (Chiếc lược ngà) của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện được xây dựng trên một tình huống hiểu lầm tạo nhiều bất ngờ cảm động: Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh cha đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.
Nhân vật cô bé tám tuổi ấy là Thu, mới có tám tuổi nhưng cô đã bướng bỉnh, gan góc và rất có cá tính. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một người ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó nhát quyết không chịu nhận ông Sáu là ba dù cả nhà – trong đó có bà nội – thừa nhận điều đó. Họ đón ông với tất cả tấm lòng chân thành, yêu thương của con người Nam Bộ. Chẳng những thế, ông còn vô cùng xúc động khi gặp nó. Nhưng bỏ qua tất cả, Thu vẫn hét lên sợ hãi khi ông Sáu lập cập đến với nó và lắp bắp gọi: “Thu! Ba đây con…”. Có điều đó bởi Thu thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt.nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má.Xem thêm: Viết đoạn văn diễn dịch trình bày ý kiến của anh (chị) về tầm quan trọng của việc xác định mục đích học tập Không chỉ vậy, qua nhiều chi tiết miêu tả hành động của bé Thu Nguyễn Quang Sáng vừa thể hiện được tính cách đặc biệt của cô bé vừa tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Khi mẹ yêu cầu “mời ba vô ăn cơm”, Thu gọi "trống" “vô ăn cơm”. Nồi cơm sôi, không tự chắt được con bé nhất quyết không chịu gọi ba để được giúp đỡ. Nó tìm mọi cách chăt nước không cần nhờ vả. Đặc biệt, tính cách rắn rỏi, ngang bướng vô cùng trẻ con của Thu được thể hiện qua chi tiết bé hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.". Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, nhưng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bướng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu đã trở thành tiền đề để sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, Thu cùng “Chiếc lược ngà” sẽ nằm lẫn vào vô vàn tác phẩm khác viết cho thiếu nhi. Điều khiến nhân vật cùng tác phẩm đi xa hơn trong lòng người đọc là ở chỗ bé Thu có một tình yêu ba nồng nàn, tha thiết.
Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Cô đã nghĩ rằng “người ta” mang đến cho mình một người “ba giả”! Và vì thế, Thu càng phản đốì quyết liệt người “ba giả” ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tât cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.Xem thêm: Cho câu chủ đề: “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp - phân tích - tổng hợp Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba "Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất. dễ thương. Với đỏi mi dài uôn cong, và như không hao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa." Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sầu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba., a… a…ba!". Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. "Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhát quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thây nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.Xem thêm: Em hãy nêu định nghĩa truyện Cổ tích. Qua đó em hãy làm rõ thể loại của tác phẩm Sọ Dừa Trong quá trình thề hiện diễn biến tâm lí nhân vật bé Thu có một chỉ tiết vô cùng quan trọng: chi tiết cái thẹo. Chính cái thẹo là nguyên nhân gây ra những hiểu lầm trong tình cảm của cha con mà Thu dành cho ba. Cái thẹo là vết thương mà giặc Mĩ gây ra cho ba Thu. Sự chia cắt gia đình không chỉ riêng gia đình bé Thu mà còn hàng triệu gia đình người Việt cũng là do giặc Mĩ gây ra. Thấu hiểu sâu sắc điều đó, sau này, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô đã quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi đế đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Xây dựng nhân vật bé Thu – một cô bé bướng bỉnh, cá tính nhưng có tình cảm yêu ba tha thiết cảm động – Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ bởi vậy nhà văn đã tạo nên được một nhân vật trẻ thơ thực sự sông động gây nhiều niềm xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Bên cạnh đó, tác phẩm đã tạo nên một tình huống hiểu lầm độc đáo mà chi tiết quan trọng nhất là chi tiết cái thẹo. Chi tiết này có giá trị giống như một “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ hay “chiếc lá cuối cùng” trong truyện ngắn cùng tên của O.Hen-ri,…
Nhân vật bé Thu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc bởi một tính cách đặc biệt khó có thể nhầm lẫn. Nhân vật này đã góp phần tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm. Và vì vậy, cùng với tác phẩm, nhân vật bé Thu đã giành được một vị trí riêng trong lòng độc giả yêu truyện ngắn Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật bé Thu trong đoạn trích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
Gợi ý
Tình cảm gia đình là một đề tài quan trọng của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Khai thác mảng đề tài này, Nguyễn Quang Sáng đã có một số tác phẩm đặc sắc như “Chiếc lược ngà”, “Bông cẩm thạch”,… Trong đó, “Chiếc lược ngà” tạo được nhiều ấn tượng hơn cả. Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật chính – nhân vật bé Thu – một cô bé cá tính, đáng yêu và có tình yêu ba tha thiết.
“Chiếc lược ngà” ra đời năm 1966 rồi được đưa vào tập truyện cùng tên (Chiếc lược ngà) của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện được xây dựng trên một tình huống hiểu lầm tạo nhiều bất ngờ cảm động: Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh cha đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.
Nhân vật cô bé tám tuổi ấy là Thu, mới có tám tuổi nhưng cô đã bướng bỉnh, gan góc và rất có cá tính. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một người ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày cưới. Nó nhát quyết không chịu nhận ông Sáu là ba dù cả nhà – trong đó có bà nội – thừa nhận điều đó. Họ đón ông với tất cả tấm lòng chân thành, yêu thương của con người Nam Bộ. Chẳng những thế, ông còn vô cùng xúc động khi gặp nó. Nhưng bỏ qua tất cả, Thu vẫn hét lên sợ hãi khi ông Sáu lập cập đến với nó và lắp bắp gọi: “Thu! Ba đây con…”. Có điều đó bởi Thu thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn người cứ gọi nó là con, bắt.nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má.Xem thêm: Viết đoạn văn diễn dịch trình bày ý kiến của anh (chị) về tầm quan trọng của việc xác định mục đích học tập Không chỉ vậy, qua nhiều chi tiết miêu tả hành động của bé Thu Nguyễn Quang Sáng vừa thể hiện được tính cách đặc biệt của cô bé vừa tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Khi mẹ yêu cầu “mời ba vô ăn cơm”, Thu gọi "trống" “vô ăn cơm”. Nồi cơm sôi, không tự chắt được con bé nhất quyết không chịu gọi ba để được giúp đỡ. Nó tìm mọi cách chăt nước không cần nhờ vả. Đặc biệt, tính cách rắn rỏi, ngang bướng vô cùng trẻ con của Thu được thể hiện qua chi tiết bé hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.". Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, nhưng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bướng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu đã trở thành tiền đề để sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, Thu cùng “Chiếc lược ngà” sẽ nằm lẫn vào vô vàn tác phẩm khác viết cho thiếu nhi. Điều khiến nhân vật cùng tác phẩm đi xa hơn trong lòng người đọc là ở chỗ bé Thu có một tình yêu ba nồng nàn, tha thiết.
Cô bé không nhận ba bởi cô hiểu nhầm về vết sẹo trên mặt ba. Cô đã nghĩ rằng “người ta” mang đến cho mình một người “ba giả”! Và vì thế, Thu càng phản đốì quyết liệt người “ba giả” ấy bao nhiêu càng thể hiện cô bé yêu ba mình bấy nhiêu. Cái tình yêu ấy thật sâu sắc: nó chỉ có một, không thể chia sẻ cho bất kì ai khác, ngay cả khi đó là người được tât cả mọi người thừa nhận là ba của nó, là người yêu thương và quan tâm đến nó rất chân thành.Xem thêm: Cho câu chủ đề: “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp - phân tích - tổng hợp Khi biết rằng ông Sáu là ba thật của mình, và vết sẹo trên mặt ông là do thằng Mĩ gây nên, buổi sáng cuối cùng trong những ngày phép của ba "Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất. dễ thương. Với đỏi mi dài uôn cong, và như không hao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa." Không hiểu con bé “nghĩ ngợi sầu xa” điều gì, chỉ biết rằng khi ông Sáu buồn rầu quay lại nhìn nó – không dám lại gần sợ nó lại bỏ chạy như lần trước – nói: “Ba đi nghe con” thì nó bất ngờ lao đến thét lên: Ba., a… a…ba!". Rồi ôm chặt lấy ông nức nở “Con không cho ba đi”. Đến đây, người đọc mới vỡ lẽ ra rằng Thu thèm được gọi ba như thế nào. "Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba bây giờ trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà. Song, trái ngược mà vẫn nhát quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát được có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như xé kia cất lên ta thây nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, thương yêu con vô hạn của người cha.Xem thêm: Em hãy nêu định nghĩa truyện Cổ tích. Qua đó em hãy làm rõ thể loại của tác phẩm Sọ Dừa Trong quá trình thề hiện diễn biến tâm lí nhân vật bé Thu có một chỉ tiết vô cùng quan trọng: chi tiết cái thẹo. Chính cái thẹo là nguyên nhân gây ra những hiểu lầm trong tình cảm của cha con mà Thu dành cho ba. Cái thẹo là vết thương mà giặc Mĩ gây ra cho ba Thu. Sự chia cắt gia đình không chỉ riêng gia đình bé Thu mà còn hàng triệu gia đình người Việt cũng là do giặc Mĩ gây ra. Thấu hiểu sâu sắc điều đó, sau này, Thu đã trở thành một nữ giao liên dũng cảm, can đảm. Cô đã quyết tâm tiếp bước con đường cha cô đã đi đế đánh đuổi kẻ thù của gia đình, kẻ thù của dân tộc.
Xây dựng nhân vật bé Thu – một cô bé bướng bỉnh, cá tính nhưng có tình cảm yêu ba tha thiết cảm động – Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ bởi vậy nhà văn đã tạo nên được một nhân vật trẻ thơ thực sự sông động gây nhiều niềm xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Bên cạnh đó, tác phẩm đã tạo nên một tình huống hiểu lầm độc đáo mà chi tiết quan trọng nhất là chi tiết cái thẹo. Chi tiết này có giá trị giống như một “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ hay “chiếc lá cuối cùng” trong truyện ngắn cùng tên của O.Hen-ri,…
Nhân vật bé Thu trong “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc bởi một tính cách đặc biệt khó có thể nhầm lẫn. Nhân vật này đã góp phần tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm. Và vì vậy, cùng với tác phẩm, nhân vật bé Thu đã giành được một vị trí riêng trong lòng độc giả yêu truyện ngắn Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Nhân vật Chiến là chị của Việt, là một người con gái mạnh mẽ, gan dạ, dũng cảm và hết mực yêu thương em. Ở Chiến có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Phân tích nhân vật Chiến sẽ giúp các em hiểu thêm về nhân vật này.
Trước khi đi vào bài phân tích nhân vật Chiến, chúng ta hãy cùng nhau lập dàn ý phân tích nhân vật này. Bài viết do Kho tàng văn mẫu biên soạn.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Chiến
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Thi, một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ.
– Giới thiệu về tác phẩm Những đứa con trong gia đình.
– Giới thiệu về nhân vật Chiến.
2. Thân bài phân tích nhân vật Chiến
Vẻ đẹp của một cô gái đời thường
– Chiến chỉ mới 19 tuổi nên đôi lúc Chiến còn trẻ con nhưng dáng vẻ đã cho thấy những nét duyên dáng nữ tính.
– Chiến là chị nên lúc nào cũng thương em và nhường nhịn em.
– Chiến biết lo toan các công việc nhà bởi cha mẹ mất sớm.
– Chiến dành nhiều tình cảm cho gia đình, thương cha mẹ của mình.
– Chiến chăm chỉ học đánh vần.
Vẻ đẹp của phẩm chất người anh hùng
– Chiến là người gan góc: dù đọc chưa thạo nhưng có thể ngồi cả buổi để đánh vần cuốn sổ của gia đình.
– Chiến dũng cảm khi cùng với Việt bắn cháy máy bay giặc. Chiến lên đường đi đánh giặc để trả thù cho gia đình, trả thù cho bố mẹ.
Xem thêm: Cảm nghĩ về người ông đáng kính hay nhất
– Chiến giống như một bản sao của người mẹ từ ngoại hình cho đến tính cách.
3. Kết luận
– Đánh giá chung về nhân vật.
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Chiến.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật A Phủ trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Chiến
Nhà văn Nguyễn Thi là một tác giả nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời kì chống Mĩ. Những tác phẩm của ông thường viết về những người phụ nữ Nam Bộ dũng cảm, giỏi giang. Tác phẩm Những đứa con trong gia đình cũng viết về những con người Nam Bộ như vậy và nổi bật lên chính là nhân vật Chiến. Chiến là một cô gái nhân hậu, đảm đang, giàu tình yêu thương với gia đình.
Chiến sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Từ thời ông bà của Chiến đã tham gia cách mạng. Rồi đến thời ba mẹ của Chiến. Cả gia đình giống như một dòng sông mà mỗi thành viên là một khúc của dòng sông ấy. Vì truyền thống gia đình như vậy nên Chiến cũng sớm được giác ngộ lý tưởng cách mạng. Ngay khi còn nhỏ, Chiến đã được nghe về truyền thống gia đình. Sau đó, Chiến cùng với Việt đi theo bộ đội, hai chị em còn bắn rơi máy bay của địch. Chiến căm thù giặc không chỉ bởi quân giặc làm đất nước và con người Việt Nam rơi vào cảnh lầm than mà Chiến căm thù giặc còn bởi chúng đã cướp đi mạng sống của chính những người thân yêu của cô. Đó là ông bà, là thím, là cha mẹ của Chiến. Nỗi đau ấy không gì có thể nguôi ngoai được. Đó là lý do vì sao Chiến quyết tâm đi lính để trả thù cho gia đình.Xem thêm: Nghị luận xã hội câu tục ngữ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Phân tích nhân vật Chiến
Chiến khi ấy mới chỉ là cô bé 19 tuổi nên tính tình vẫn còn những nét trẻ con. Lúc trước, Chiến tranh bắt ếch với em rồi lại tranh đi bộ đội với em. Trẻ con như vậy nhưng Chiến vẫn đảm đang việc nhà. Từ ngày mẹ mất, Chiến thay mẹ chăm lo cho em và các công việc nhà. Vì vậy gần như việc gì Chiến cũng có thể làm được. Những nét về ngoại hình và tính cách của Chiến có một chút gì đó giống với mẹ của cô. Chính Việt cũng nhận thấy chị Chiến giống mẹ từ điệu bộ, cử chỉ cho tới lời nói. Chú Năm cũng khẳng định điều ấy. Chiến có đức tính kiên trì và chịu khó. Từ những việc nhỏ Chiến đều cố gắng làm thật tốt. Chẳng hạn như trong việc đánh vần, Chiến dù không biết đọc nhưng vẫn chăm chỉ ngồi đánh vần để có thể đọc được hết nội dung của cuốn sổ gia đình. Sự gan dạ của cô bé 19 tuổi còn thể hiện qua câu nói Nếu giặc còn thì tao mất. Trước khi đi lính, Chiến đã lo thu vén việc nhà, việc cửa đâu ra đấy. Ban đầu, Chiến không cho Việt đi bộ đội vì thương em nhưng rồi Chiến cũng không cản được Việt. Chiến hiểu rõ hơn ai hết sự tàn khốc của cuộc chiến tranh ác liệt này. Chiến đã mất đi ba mẹ là những người thân yêu nhất. Chiến không thể mất đi thêm em trai của mình nữa. Nhưng biết làm sao được, Chiến muốn trả thù cho cha mẹ thì Việt cũng vậy. Chiến chỉ còn biết giúp em dọn đồ, dặn dò em đủ mọi điều như một người mẹ dặn con trước lúc đi xa. Nhìn hình ảnh hai chị em Chiến và Việt khiêng bàn thờ đi gửi, người đọc vừa thấy cảm động, vừa thấy thương cho hai chị em. Qua đây, chúng ta cũng thấy được sự tàn khốc của cuộc chiến tranh này.Xem thêm: Hãy nói lời đáp của em khi được người khác khen
Chiến và Việt chính là những người đại diện cho thế hệ tương lai của đất nước. Chính họ đã bảo vệ đất nước này được bình yên. Thế hệ trẻ hôm nay nên học tập những đức tính tốt đẹp của Chiến và của Việt để có thể xây dựng đất nước được tốt đẹp hơn.
Qua bài lập dàn ý và bài văn mẫu phân tích nhân vật Chiến trên đây, hy vọng các em đã hiểu thêm phần nào về nhân vật này và đã biết cách tự làm bài văn cho riêng mình.
Thu Thủy
|
The character Chien is Viet's older sister, a strong, brave, courageous girl who loves her sister very much. In Chien, there are good qualities of Vietnamese women. Analyzing the character Chien will help you understand more about this character.
Before going into the analysis of Chien's character, let's create an outline to analyze this character. Article compiled by Sample Literature Treasury.
I. Create an outline to analyze Chien's character
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Thi, a writer who grew up during the resistance war against America.
– Introduction to the work Children in the Family.
– Introducing the character Chien.
2. The body of the article analyzes Chien's character
The beauty of an ordinary girl
– Chien is only 19 years old, so sometimes Chien is still childish, but his appearance shows feminine charm.
– Chien is my sister, so I always love you and give in to you.
– Chien knows how to take care of housework because his parents passed away early.
– Chien has a lot of love for his family and loves his parents.
– Chien diligently studies spelling.
The beauty of a hero's qualities
– Chien is a brave person: even though he can't read well, he can sit all day to spell out the family notebook.
– Chien was brave when he and Viet shot down enemy planes. Chien set out to fight the enemy to avenge his family and his parents.
See more: The best thoughts about a respected grandfather
– Chien is like a copy of his mother from appearance to personality.
3. Conclusion
– General assessment of the character.
– Describe your feelings about the character Chien.
Related articles:
>> Analysis of Vietnamese characters in Children in the Family (With detailed outline)
>> Analysis of Trang's character in The Picked Wife (With detailed outline)
>> Analysis of the character A Phu in A Phu and his wife (With detailed outline)
II. Essay analyzing Chien's character
Writer Nguyen Thi is a famous author of Vietnamese literature during the anti-American period. His works are often written about brave and talented Southern women. The work Children in the Family is also written about such Southern people and the character Chien stands out. Chien is a kind, responsible girl with a lot of love for her family.
Chien was born into a family with a revolutionary tradition. From the time Chien's grandparents participated in the revolution. Then came the time of Chien's parents. The whole family is like a river in which each member is a section of that river. Because of this family tradition, Chien was also soon enlightened to revolutionary ideals. Even as a child, Chien heard about family traditions. After that, Chien and Viet followed the soldiers. The two sisters also shot down an enemy plane. Chien hated the enemy not only because they made the country and people of Vietnam fall into misery, but Chien hated the enemy also because they took the lives of her loved ones. Those are Chien's grandparents, aunt, and parents. Nothing can ease that pain. That's why Chien is determined to join the army to avenge his family. See more: Proverb, social commentary Near ink, it's black, near the light, it's bright.
Analysis of Chien's character
Chien was only a 19-year-old girl at that time, so her personality still had childish features. Before, War caught frogs with me and then fought with me to join the army. Despite being such a child, Chien still takes care of the housework. Since his mother passed away, Chien took care of his younger brother and the housework on his mother's behalf. So Chien can do almost anything. Chien's appearance and personality are somewhat similar to her mother's. Viet himself also realized that Ms. Chien resembled her mother in her manners, gestures, and words. Uncle Nam also confirmed that. Chien has the qualities of perseverance and hard work. From small things, Chien tries to do well. For example, in spelling, even though Chien cannot read, he still works hard to spell so that he can read all the contents of the family book. The 19-year-old girl's bravery is also shown through the statement: If the enemy remains, I will die. Before joining the army, Chien took care of the housework and housework. At first, Chien did not let Viet join the army because he loved him, but then Chien could not stop Viet. Chien understands better than anyone the brutality of this fierce war. Chien lost his parents, his most beloved people. Chien cannot lose another brother. But what can be done? Chien wants to avenge his parents, so does Viet. Chien could only help her pack, telling her everything like a mother would tell her child before going away. Looking at the image of sisters Chien and Viet carrying the altar to send, the reader feels both touched and sorry for the two sisters. Through this, we can also see the cruelty of this war. See more: Say your response when others praise you.
Chien and Viet are the representatives of the country's future generations. It was they who kept this country safe. Today's young generation should learn the good qualities of Chien and Viet to be able to build a better country.
Through the above outline and sample essay analyzing Chien's character, we hope you have understood more about this character and learned how to write your own essay.
Thu Thuy
|
Chị Dậu là một người phụ nữ tài giỏi, tháo vát và hết mức yêu thương chồng con. Chị cũng như nhiều phụ nữ khác thời ấy đã phải trải qua nhiều đắng cay và khổ cực. Đau đớn nhất có lẽ là khi chị Dậu phải bán con của mình để có tiền nộp sưu cho chồng.
Để các em có thể làm bài phân tích nhân vật chị Dậu được tốt nhất, trong bài viết này Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đề văn này.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật chị Dậu
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Ngô Tất Tố và tác phẩm Tắt đèn.
– Đoạn trích Tức nước vỡ bờ đã thể hiện rõ nét cuộc đời, tính cách của chị Dậu.
2. Thân bài phân tích nhân vật chị Dậu
Hết lòng thương yêu chăm sóc chồng
– Khi anh Dậu bị đánh đến ngất xỉu, chị đã nấu cháo rồi dỗ dành chồng ăn cho lại sức.
– Chị dành cho chồng những cử chỉ âu yếm, thiết tha.
Nhẫn nhục chịu đựng, van xin bọn cai lệ tha cho chồng mình
– Mặc dù vô cùng căm phẫn nhưng chị Dậu vẫn van xin bọn cai lệ tha cho chồng, cho chồng khất tiền sưu.
– Chị nhịn nhục, dùng những lời lẽ khẩn thiết.
Chị Dậu vùng lên chống trả
– Khi bọn cai lệ không chịu tha, chị bắt đầu cự lại bằng lí lẽ và thách thức.Xem thêm: Trong bài Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có viết: "Một bài thơ... đọc... ". Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên. Từ đó hãy trình bày cảm nhận về một bài thơ mà em yêu thích.– Chị còn dám đánh lại tên cai lệ.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật chị Dậu.
II. Bài làm phân tích nhân vật chị Dậu
Tiểu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố là một tác phẩm để đời. Tác phẩm ra đời đã tạo nên một tiếng vang lớn và khẳng định tên tuổi của Ngô Tất Tố. Đoạn trích Tức nước vỡ bờ đã nêu bật lên được cuộc đời và tính cách của chị Dậu, một người phụ nữ khốn khổ nhưng giàu đức hạnh.
Chị Dậu cũng như rất nhiều người phụ nữ khác sống trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, phải chịu quá nhiều cực khổ. Cuộc đời của chị khiến bất cứ ai nhìn vào cũng phải xót thương. Không thương sao được khi người đọc phải chứng kiến cảnh chị Dậu bán đi gánh khoai, bán đi ổ cho vừa mới đẻ và đứt ruột nhất chính là bán đi cái Tí, đứa con cả chỉ mới lên 7 tuổi của chị. Không có người phụ nữ nào có thể xa được con của mình. Chị Dậu cũng vậy, chị yêu con còn hơn chính bản thân mình. Bán đàn chó vừa đẻ chị còn thương, nói gì đến bán con gái ruột. Vậy nhưng chị Dậu vẫn phải làm như vậy bởi vì chồng chị là anh Dậu đang bị trói ở sân đình, tiền sưu nhà chị vẫn chưa trả được. Đó là suất đinh của chú Hợi, em ruột anh Dậu. Dù chú Hợi đã chết từ năm ngoái nhưng người nhà nước vẫn nhất quyết thu bằng được. Anh Dậu ốm yếu lại bị bọn cai lệ bắt đi trói cả ngày lẫn đêm, anh ngất đi chúng cũng không tha. Là vợ, nhìn thấy chồng mình như vậy khiến chị Dậu không cam lòng. Nỗi đau chồng lên nỗi đau, chị Dậu như rơi vào bước đường cùng.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn
Phân tích nhân vật chị Dậu
Chị Dậu là một người vợ một người mẹ hết lòng yêu thương chồng con. Khi anh Dậu bị bọn cai lệ đánh cho ngất xỉu, chị đã nấu cháo rồi nịnh cho chồng ăn bằng được để cho lại sức. Chị Dậu tha thiết mời chồng và cất lên những lời lẽ khẩn khoản: thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. Trong lời nói ấy có sự an ủi vỗ về, chứa đựng biết bao nhiêu tình thương của chị dành cho người chồng của mình. Rồi khi anh Dậu chịu ăn cháo, chị bé cái Tỉu bên cạnh, chị chờ xem chồng ăn có ngon miệng hay không, có cần chị giúp gì hay không. Những hành động ấy tuy rất nhỏ nhưng cũng góp phần khẳng định tình yêu của chị Dậu dành cho chồng.
Lúc đầu, chị Dậu tỏ ra mềm yếu và nhún nhường khi chị Dậu bị bọn cai bắt trói. Chị van xin chúng tha cho chồng chị để chồng chị được nghỉ ngơi cho lại sức. Nhưng bọn cai nào có chút tình người. Chúng lao vào đánh anh Dậu. Lúc này chị không nhịn được nữa. Chị Dậu đã xông lên chống lại chúng. Chị dùng những lời lẽ đanh thép, gọi chúng bằng mày, xưng bà thậm chí còn túm lấy cổ chúng rồi ấn dúi ra cửa khiến cho chúng ngã chỏng queo trên mặt đất. Tên còn lại thì chị túm tóc lẳng cho một cái khiến nó ngã nhào ra thềm. Những kẻ vẫn luôn vỗ ngực tỏ ra oai phong kia nay lại bị chị làm nhục, thật đáng xấu hổ.Xem thêm: Đất nước Việt Nam ta có một nỗi đau mang tên "màu da cam". Để góp phần giảm bớt nỗi đau do di họa của chất độc này, cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân. Hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đóCó áp bức thì có đấu tranh, chị Dậu chính là minh chứng cho điều đó. Không ai có thể nhịn nhục được mãi nên hành động vùng lên của chị Dậu là đúng với lẽ thường. Qua đoạn miêu tả cảnh chị Dậu hạ nhục tên cai lệ và tên hầu cận, ta thấy được rõ sự hả hê của Ngô Tất Tố. Đàn bà có thể là những người chân yếu tay mềm thật nhưng khi cần, họ mạnh mẽ hơn bất cứ ai.
Chị Dậu là hình ảnh đại diện cho những người phụ nữ nông dân khác thời ấy. Qua miêu tả chị Dậu, nhà văn Ngô Tất Tố đã đề cao phẩm chất, đức hạnh của người phụ nữ Việt Nam.
Trên đây là dàn ý và bài văn mẫu cho đề phân tích nhân vật chị Dậu. Chúc các em có những giờ học lí thú và bổ ích với những gợi ý trên của chúng tôi.
Thu Thủy
|
Ms. Dau is a talented, resourceful woman who loves her husband and children very much. She, like many other women at that time, had to go through a lot of bitterness and hardship. The most painful thing was probably when Ms. Dau had to sell her child to have money to pay taxes to her husband.
In order for you to be able to best analyze the character of Ms. Dau, in this article, Sample Literature Treasury will guide you to create a detailed outline for this topic.
I. Create an outline to analyze the character of Ms. Dau
1. Open the lesson
– Introducing author Ngo Tat To and the work Lights Out.
– The excerpt The Water Breaks the Shore clearly shows the life and personality of Ms. Dau.
2. The body of the essay analyzes the character of Ms. Dau
Loving and caring for her husband with all her heart
– When Mr. Dau was beaten to the point of fainting, she cooked porridge and coaxed her husband to eat to regain his strength.
– She gives her husband affectionate and passionate gestures.
Patiently endured, begging the rulers to spare her husband
– Even though she was extremely indignant, Ms. Dau still begged the rulers to forgive her husband and let him beg for money.
– She was patient, using urgent words.
Ms. Dau rose up to fight back
– When the rulers refused to let go, she began to resist with arguments and challenges. See more: In the article Voice of Literature, Nguyen Dinh Thi wrote: "A poem... read..." . What do you think about the above opinion? From there, express your feelings about a poem that you love. – I even dare to fight against the ruler.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Ms. Dau.
II. The article analyzes the character of Ms. Dau
The novel Lights Out by writer Ngo Tat To is a lifetime work. The release of the work created a great buzz and affirmed the name of Ngo Tat To. The excerpt The Water Breaks the Banks highlights the life and personality of Ms. Dau, a miserable but virtuous woman.
Ms. Dau, like many other women living before the August Revolution of 1945, had to endure many hardships. Her life makes anyone who looks at it sad. How can one not feel sorry for the reader when they have to witness the scene of Ms. Dau selling her potatoes, selling her nest that had just given birth, and the most heartbreaking thing of all was selling Ti, her eldest child who was only 7 years old. No woman can stay away from her children. Ms. Dau is the same, she loves her children more than herself. She still loves selling the dogs she just gave birth to, let alone selling her biological daughter. However, Ms. Dau still has to do so because her husband, Mr. Dau, is tied up in the communal house yard and she has not paid the rent yet. That is the fate of Uncle Hoi, Mr. Dau's younger brother. Even though Uncle Hoi died last year, the government is still determined to collect the money. Mr. Dau was sick and was forced by the guards to tie him up day and night. He fainted and they did not forgive him. As a wife, seeing her husband like that made Ms. Dau unhappy. Pain piled on top of pain, Ms. Dau seemed to be at a dead end. See more: Feelings about the poem Breaking Stones in Kunlun
Analyze the character of Ms. Dau
Ms. Dau is a wife and mother who wholeheartedly loves her husband and children. When Mr. Dau was beaten unconscious by the rulers, she cooked porridge and flattered her husband to eat as much as he could to regain his strength. Ms. Dau earnestly invited her husband and spoke in pleading words: please try to sit up and sip some porridge to ease your stomachache. In those words there was comfort and comfort, containing so much love for her husband. Then when Mr. Dau refused to eat porridge, little sister Tiu was next to him, waiting to see if her husband had an appetite or not, and if he needed any help. These actions, although very small, still contribute to affirming Ms. Dau's love for her husband.
At first, Ms. Dau appeared weak and humble when Ms. Dau was arrested and tied up by the guards. She begged them to spare her husband so that he could rest and regain his strength. But the guards don't have any humanity. They rushed to beat Mr. Dau. At this point, she couldn't bear it anymore. Ms. Dau rushed forward to fight them. She used sharp words, called them by their eyebrows, confessed that she even grabbed them by the neck and pushed them out the door, causing them to fall on the ground. She grabbed the other guy's hair and shook it, causing him to fall onto the steps. Those who have always patted their chests to appear majestic are now being humiliated by her, which is shameful. See more: Our country, Vietnam, has a pain called "orange". To contribute to reducing the pain caused by this toxic disaster, the whole country has set up a fund to help victims. Please give your thoughts on those events. If there is oppression, there will be struggle. Ms. Dau is proof of that. No one can endure forever, so Ms. Dau's act of rising up is in accordance with common sense. Through the description of the scene where Ms. Dau humiliates the ruler and the servant, we can clearly see Ngo Tat To's gloating. Women may be weak and weak, but when needed, they are stronger than anyone.
Ms. Dau is a representative image of other peasant women at that time. Through describing Ms. Dau, writer Ngo Tat To promoted the qualities and virtues of Vietnamese women.
Above is an outline and sample essay for the question analyzing the character of Ms. Dau. We hope you have interesting and useful lessons with our above suggestions.
Thu Thuy
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành.
Một trong những nhân vật mà góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm và làm đậm thêm chất sử thi cho truyện ngắn ‘Rừng xà nu’ của Nguyễn Trung Thành chính là nhân vật cụ Mết – kiểu nhân vật già làng tộc trưởng dường như vốn rất quen thuộc trong các thiên anh hùng ca Tây Nguyên, và nhân vật cụ Mết chính là biểu tượng cho sức mạnh truyền thống, tinh thần bất khuất kiên cường của nhân dân Tây Nguyên, là chỗ dựa tinh thần
Ta có thể nhận thấy rằng ngay khi vừa xuất hiện, ấn tượng về một vị già làng mạnh mẽ đã thể hiện trong chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”. Tác giả Nguyễn Trung Thành như đã vẽ những nét vẽ ngoại hình về một cụ già “quắc thước … mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng … ngực căng như một cây xà nu lớn”. Và những câu văn như đã khắc họa hình ảnh của một già làng sắc sảo, kiên nghị, vững chai qua đó nói lên được vẻ tiềm tàng sức mạnh thể chất, tràn trề uy lực tinh thần, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ với cộng đồng.
Và dường như ở hầu như nét miêu tả nào ở cụ Mết cũng có tính cá biệt. Qua chính những cách nói như ra lệnh, ngôn ngữ giản dị mà dứt khoát thể hiện sự quyết đoán của những người đứng đầu. Hay cả nhữngviệc cụ không bao giờ khen, khi vừa ý nhất cũng chỉ nói “được” là tính cách của những người luôn yêu cầu cao ở người khác cũng như ở chính mình. Có thể thấy đặc biệt ấn tượng ở cụ Mết mà người đọc có thể nhận thấy đó chính là giọng nói, đó là “tiếng nói ồ ồ đội vang trong lồng ngực”, tiếng nói ấy hoặc “vang” khi hô hào dân làng Xô Man nổi dậy đánh giặc hoặc “trầm và nặng” như tiếng vọng của núi rừng. Và đó chính như lời phán truyền của quá khứ khi kể chuyện về cuộc đời Tnú, về lịch sử oanh liệt của làng, tiếng nói ấy tha thiết trang nghiêm khi nhắc nhở dân làng và con cháu: “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy!…”Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong tác phẩm "Rừng xà nu" của nhà văn Nguyên Ngọc
Hình ảnh cụ Mết được hiện lên là người có tình yêu sâu sắc, sự gắn bó máu thịt với quê hương
Khi mag nhân vật Tnú đi xa về, cụ đã dẫn anh ra máng nước đầu làng dội rửa, bằng việc ấy, cụ như muốn nhắc nhở người con xa quê. Và cho dù có đi tới phương trời nào cũng phải ghi nhớ và trân trọng nguồn cội thiêng liêng của quê hương. Nói chuyện với Tnú thì dường như ở cụ luôn tự hào khẳng định bằng cách nói tuyệt đối, cũng có thể có phần hơi cực đoan, thái quá, cách nói quen thuộc của lòng yêu: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta” và câu “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Dường như đối với cụ Mết, quê hương hiện lên thật đẹp đẽ và lớn lao, thiêng liêng và thân thuộc. Đó chính là hình ảnh dòng nước trong nguồn, hạt gạo trên nương cho tới những cánh rừng xà nu bạt ngàn, mạnh mẽ và cường tráng biết bao nhiêu
Và ta như thấy ở cụ Mết luôn luôn tâm niệm và dặn dò con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Như vậy, người đọc cũng có thể thấy tấm lòng trung thành với Đảng và cách mạng của cụ Mết cũng xuất phát từ tình yêu sâu sắc với rừng núi quê hương. Và như chính như bên trong con người có vẻ ngoài quắc thước, nghiêm nghị ấy lại là một trái tim trĩu nặng tình thương yêu đối với dân làng
Nhất là khi Tnú trở về thăm làng sau ba năm đi lực lượng, cụ Mết đã đón anh bằng tấm lòng yêu thương nồng hậu của một người cha, và cụ Mết đã quyết định anh ở nhà cụ trong đêm về làng, động viên khích lệ anh rằng “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”. Chính chi tiết này ta như có thể thấy được cụ Mết dường như đã đem đến cho Tnú- một người con bất hạnh của dân làng Xô Man thấy được một cảm giác ấm áp của gia đình khi trở về làng. Và khi ngồi ăn cơm với Tnú, nhìn hai bàn tay cụt đốt của anh, “ông cụ đặt chén cơm xuống giận dữ”, đó chính là một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của nỗi đau đớn xót thương cho Tnú. Và dường như những nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo không thể nguôi ngoai. Và việc khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú,mặc dù câu chuyện đã xảy ra tới ba năm nhưng dường như ở cụ cũng không kìm nổi sự tiếc thương vô hạn và đau đớn và xúc động, cụ Mết thật “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt” như muốn che giấu lòng mình vậy. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộ trái tim nhân hậu và tình yêu sâu sắc của cụ với dân làng.Xem thêm: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái... anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên và chứng minh bằng các tác phẩm của Tố Hữu anh (chị) đã được học
Và khi nhận được gói muối quý giá từ những người đi xa về cụ Mết đã luônluôn chia đều cho các bếp trong làng, để dành cho những người đau ốm. Đó chính là vị mặn của những hạt muối nhỏ bé cũng là vị mặn đậm đà của tình yêu thương trong trái tim người già làng.
Có thể thấy được trong vai trò của một già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết kiên cường, vững chãi như một cây xà nu lớn. Và hình ảnh cụ Mết chính là chỗ dựa tin cậy của dân làng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ với dân làng. Và hình ảnh cụ Mết lại luôn luôn giữ cho mình tình yêu, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng. Câu nói nổi tiếng và chất chứa tình cảm của cụ với Đảng là “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”
Có thể nhận thấy ở trong làng, cụ cũng là người đứng đầu biết nhìn xa trông rộng, biết lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Cụ cũng như đã ân cần và động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh Mỹ phải đánh dài”. Qua nhân vật cụ Mết dường như cũng đã thể hiện vai trò của một già làng tỉnh táo, sáng suốt để có thể kiềm chế nỗi những đau đớn và căm hờn ngay trong giây phút khốc liệt nhất,và quan trọng hơn nưa là đã tìm ra con đường đúng đắn nhất lãnh đạo dân làng nổi dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù. Có thể thấy được trước cái chết của vợ con Tnú, trước cảnh Tnú bị bắt trói, tra tấn dã man kai thì cụ Mết đau đớn nhưng tỉnh táo, không để tình cảm chi phối. Cụ Mết dường như cũng đã nhắc đi nhắc lại: “Tao cũng chỉ có hai bàn tay không. Tao quay vào rừng… tìm bọn thanh niên… tìm giáo mác”. Có thể thấy chính lý trí sáng suốt cần thiết của một già làng, một người đứng đầu, và cụ còn là người chịu trách nhiệm với sự sống còn của cả cộng đồng đã giúp cụ Mết cùng với dân làng chiến đấu và chiến thắng quân giặc tàn bạo.Xem thêm: Chỉ ra và phân lích hiệu quả của thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ dưới đây: "Lòng này gửi gió đông có tiện? ... Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong." (Chinh phụ ngâm - Nguyễn Gia Thiều; bản dịch của Đoàn Thị Điểm).
Cùng với những sự trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu, cụ Mết không chỉ nhắc tới sự kiện đau thương và chiến thắng oanh liệt của dân làng trong đêm ấy như một kỷ niệm. Ở cụ đã khái quát, dường như cũng đã đúc kết và khắc sâu quy luật tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng là“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có lẽ chân lý ấy đã được rút ra từ chính những trang sử đầy máu và nước mắt của làng Xô Man, thông qua giọng kể “trầm và nặng” của già làng là cụ Mết. Chắc chắn nó sẽ trở thành lời phán truyền thiêng liêng của lịch sử cho các thế hệ con cháu.
Cụ Mết chính là một hình tượng nhân vật đẹp gợi nhớ hình ảnh những già làng, tộc trưởng trong sử thi, thần thoại, truyền thuyết, và dường như có cả trong những bản trường ca Tây Nguyên xưa. Sử dụng bút pháp miêu tả đặc sắc của nhà văn Nguyễn Trung Thành đã cùng sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền cảm hứng chung của văn học giai đoạn 1945 – 1975 dường như ta như cũng đã khiến chó nhân vật không chỉ hiện lên với những phẩm chất ưu tú của cộng đồng mà còn là nhân vật có cá tính riêng đặc sắc. Và cũng chỉ qua việc thông qua nhân vật cụ Mết, Nguyễn Trung Thành đã ca ngợi lòng yêu nước, ca ngợi những người anh hùng và cả tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong thời đánh Mỹ. Và lớn hơn đó cũng đồng thời khái quát chân lý lịch sử lớn lao của thời đại, lý giải sâu sắc cũng như rất thuyết phục con đường giải phóng nhân dân, đất nước.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành.
Một trong những nhân vật mà góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm và làm đậm thêm chất sử thi cho truyện ngắn ‘Rừng xà nu’ của Nguyễn Trung Thành chính là nhân vật cụ Mết – kiểu nhân vật già làng tộc trưởng dường như vốn rất quen thuộc trong các thiên anh hùng ca Tây Nguyên, và nhân vật cụ Mết chính là biểu tượng cho sức mạnh truyền thống, tinh thần bất khuất kiên cường của nhân dân Tây Nguyên, là chỗ dựa tinh thần
Ta có thể nhận thấy rằng ngay khi vừa xuất hiện, ấn tượng về một vị già làng mạnh mẽ đã thể hiện trong chi tiết “một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy Tnú như một cái kìm sắt”. Tác giả Nguyễn Trung Thành như đã vẽ những nét vẽ ngoại hình về một cụ già “quắc thước … mắt sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng bóng … ngực căng như một cây xà nu lớn”. Và những câu văn như đã khắc họa hình ảnh của một già làng sắc sảo, kiên nghị, vững chai qua đó nói lên được vẻ tiềm tàng sức mạnh thể chất, tràn trề uy lực tinh thần, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ với cộng đồng.
Và dường như ở hầu như nét miêu tả nào ở cụ Mết cũng có tính cá biệt. Qua chính những cách nói như ra lệnh, ngôn ngữ giản dị mà dứt khoát thể hiện sự quyết đoán của những người đứng đầu. Hay cả nhữngviệc cụ không bao giờ khen, khi vừa ý nhất cũng chỉ nói “được” là tính cách của những người luôn yêu cầu cao ở người khác cũng như ở chính mình. Có thể thấy đặc biệt ấn tượng ở cụ Mết mà người đọc có thể nhận thấy đó chính là giọng nói, đó là “tiếng nói ồ ồ đội vang trong lồng ngực”, tiếng nói ấy hoặc “vang” khi hô hào dân làng Xô Man nổi dậy đánh giặc hoặc “trầm và nặng” như tiếng vọng của núi rừng. Và đó chính như lời phán truyền của quá khứ khi kể chuyện về cuộc đời Tnú, về lịch sử oanh liệt của làng, tiếng nói ấy tha thiết trang nghiêm khi nhắc nhở dân làng và con cháu: “Nghe rõ chưa các con? Rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy!…”Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích phẩm chất anh hùng của các nhân vật trong tác phẩm "Rừng xà nu" của nhà văn Nguyên Ngọc
Hình ảnh cụ Mết được hiện lên là người có tình yêu sâu sắc, sự gắn bó máu thịt với quê hương
Khi mag nhân vật Tnú đi xa về, cụ đã dẫn anh ra máng nước đầu làng dội rửa, bằng việc ấy, cụ như muốn nhắc nhở người con xa quê. Và cho dù có đi tới phương trời nào cũng phải ghi nhớ và trân trọng nguồn cội thiêng liêng của quê hương. Nói chuyện với Tnú thì dường như ở cụ luôn tự hào khẳng định bằng cách nói tuyệt đối, cũng có thể có phần hơi cực đoan, thái quá, cách nói quen thuộc của lòng yêu: “Không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta” và câu “Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất rừng núi này”. Dường như đối với cụ Mết, quê hương hiện lên thật đẹp đẽ và lớn lao, thiêng liêng và thân thuộc. Đó chính là hình ảnh dòng nước trong nguồn, hạt gạo trên nương cho tới những cánh rừng xà nu bạt ngàn, mạnh mẽ và cường tráng biết bao nhiêu
Và ta như thấy ở cụ Mết luôn luôn tâm niệm và dặn dò con cháu rằng “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”. Như vậy, người đọc cũng có thể thấy tấm lòng trung thành với Đảng và cách mạng của cụ Mết cũng xuất phát từ tình yêu sâu sắc với rừng núi quê hương. Và như chính như bên trong con người có vẻ ngoài quắc thước, nghiêm nghị ấy lại là một trái tim trĩu nặng tình thương yêu đối với dân làng
Nhất là khi Tnú trở về thăm làng sau ba năm đi lực lượng, cụ Mết đã đón anh bằng tấm lòng yêu thương nồng hậu của một người cha, và cụ Mết đã quyết định anh ở nhà cụ trong đêm về làng, động viên khích lệ anh rằng “Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được”. Chính chi tiết này ta như có thể thấy được cụ Mết dường như đã đem đến cho Tnú- một người con bất hạnh của dân làng Xô Man thấy được một cảm giác ấm áp của gia đình khi trở về làng. Và khi ngồi ăn cơm với Tnú, nhìn hai bàn tay cụt đốt của anh, “ông cụ đặt chén cơm xuống giận dữ”, đó chính là một trong những biểu hiện sâu sắc nhất của nỗi đau đớn xót thương cho Tnú. Và dường như những nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo không thể nguôi ngoai. Và việc khi kể cho dân làng nghe về cái chết của vợ con Tnú,mặc dù câu chuyện đã xảy ra tới ba năm nhưng dường như ở cụ cũng không kìm nổi sự tiếc thương vô hạn và đau đớn và xúc động, cụ Mết thật “vụng về trở bàn tay lau một giọt nước mắt” như muốn che giấu lòng mình vậy. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được chính cử chỉ vụng về ấy đã bộc lộ trái tim nhân hậu và tình yêu sâu sắc của cụ với dân làng.Xem thêm: Bàn về thơ Tố Hữu, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái... anh” (Tuyển tập Hoài Thanh, NXB Văn học, 1982). Bình luận ý kiến trên và chứng minh bằng các tác phẩm của Tố Hữu anh (chị) đã được học
Và khi nhận được gói muối quý giá từ những người đi xa về cụ Mết đã luônluôn chia đều cho các bếp trong làng, để dành cho những người đau ốm. Đó chính là vị mặn của những hạt muối nhỏ bé cũng là vị mặn đậm đà của tình yêu thương trong trái tim người già làng.
Có thể thấy được trong vai trò của một già làng thời đánh Mỹ, cụ Mết kiên cường, vững chãi như một cây xà nu lớn. Và hình ảnh cụ Mết chính là chỗ dựa tin cậy của dân làng, có sức lôi cuốn mạnh mẽ với dân làng. Và hình ảnh cụ Mết lại luôn luôn giữ cho mình tình yêu, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với cách mạng. Câu nói nổi tiếng và chất chứa tình cảm của cụ với Đảng là “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn”
Có thể nhận thấy ở trong làng, cụ cũng là người đứng đầu biết nhìn xa trông rộng, biết lo cho cuộc chiến đấu chung của dân làng. Cụ cũng như đã ân cần và động viên dân làng lo dự trữ lương thực để có thể đủ ăn tới ba năm bởi “đánh Mỹ phải đánh dài”. Qua nhân vật cụ Mết dường như cũng đã thể hiện vai trò của một già làng tỉnh táo, sáng suốt để có thể kiềm chế nỗi những đau đớn và căm hờn ngay trong giây phút khốc liệt nhất,và quan trọng hơn nưa là đã tìm ra con đường đúng đắn nhất lãnh đạo dân làng nổi dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù. Có thể thấy được trước cái chết của vợ con Tnú, trước cảnh Tnú bị bắt trói, tra tấn dã man kai thì cụ Mết đau đớn nhưng tỉnh táo, không để tình cảm chi phối. Cụ Mết dường như cũng đã nhắc đi nhắc lại: “Tao cũng chỉ có hai bàn tay không. Tao quay vào rừng… tìm bọn thanh niên… tìm giáo mác”. Có thể thấy chính lý trí sáng suốt cần thiết của một già làng, một người đứng đầu, và cụ còn là người chịu trách nhiệm với sự sống còn của cả cộng đồng đã giúp cụ Mết cùng với dân làng chiến đấu và chiến thắng quân giặc tàn bạo.Xem thêm: Chỉ ra và phân lích hiệu quả của thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ dưới đây: "Lòng này gửi gió đông có tiện? ... Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong." (Chinh phụ ngâm - Nguyễn Gia Thiều; bản dịch của Đoàn Thị Điểm).
Cùng với những sự trí tuệ sắc sảo của một người đứng đầu, cụ Mết không chỉ nhắc tới sự kiện đau thương và chiến thắng oanh liệt của dân làng trong đêm ấy như một kỷ niệm. Ở cụ đã khái quát, dường như cũng đã đúc kết và khắc sâu quy luật tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng là“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có lẽ chân lý ấy đã được rút ra từ chính những trang sử đầy máu và nước mắt của làng Xô Man, thông qua giọng kể “trầm và nặng” của già làng là cụ Mết. Chắc chắn nó sẽ trở thành lời phán truyền thiêng liêng của lịch sử cho các thế hệ con cháu.
Cụ Mết chính là một hình tượng nhân vật đẹp gợi nhớ hình ảnh những già làng, tộc trưởng trong sử thi, thần thoại, truyền thuyết, và dường như có cả trong những bản trường ca Tây Nguyên xưa. Sử dụng bút pháp miêu tả đặc sắc của nhà văn Nguyễn Trung Thành đã cùng sự chi phối của khuynh hướng sử thi trong nền cảm hứng chung của văn học giai đoạn 1945 – 1975 dường như ta như cũng đã khiến chó nhân vật không chỉ hiện lên với những phẩm chất ưu tú của cộng đồng mà còn là nhân vật có cá tính riêng đặc sắc. Và cũng chỉ qua việc thông qua nhân vật cụ Mết, Nguyễn Trung Thành đã ca ngợi lòng yêu nước, ca ngợi những người anh hùng và cả tinh thần chiến đấu kiên cường bất khuất của nhân dân Tây Nguyên trong thời đánh Mỹ. Và lớn hơn đó cũng đồng thời khái quát chân lý lịch sử lớn lao của thời đại, lý giải sâu sắc cũng như rất thuyết phục con đường giải phóng nhân dân, đất nước.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Nêu nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật này của nhà văn
Gợi ý
p>A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Thành công nổi bật của Nam Cao ở truyện ngắn Đôi mắt là đã xây dựng nhân vật Hoàng trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm.
2. Thân bài
a. Về lai lịch, diện mạo
– Hoàng là nhà văn cũ, thuộc lớp đàn anh, tiêu biểu cho loại trí thức trưởng giả ở Hà Nội. Anh ta đồng thời còn là “một tay chợ đen rất tài tình”.
– Vẻ bề ngoài của Hoàng cũng góp phần thể hiện con người anh: bước đi khệnh khạng (vì to béo quá); dáng điệu nặng nề, trỏng chỉ thấy chững chạc và hơi bệ vệ.
– Nói năng có lúc lâm li kêu lên những tiếng trong cổ họng; có lúc cái giọng dậm dọa buồn cười; cũng có khi nhếch một khoé môi lên, gay gắt, hay co vẻ mừng rỡ lắm và nhất là cười cùng cục trong cổ như một con gà sống…
h. Về tính cách
– Hoàng là người không chung thủy.
– Khi tản cư về vùng quê, Hoàng đóng kín cửa, không tiếp xúc với ai, ngoài những tay là thứ cặn bã của giới thượng lưư trí thức.
c. Về tư tưởng
– Hoàng khinh miệt quần chúng nông dân.
– Hoàng có thái độ bàng quan của người ngoài cuộc, bát hợp tác với cuộc kháng chiến toàn dân đang diễn ra.
– Dè bỉu nông dân, những người đang làm cách mạng hăng hái, nhưng Hoàng lại sùng bái cụ Hồ như một siêu nhân.
– Lập trường, tư tưởng của Hoàng xuất phát từ chỗ anh đã quen nhìn người và nhìn đời từ một phía.
3. Kết bài
Hoàng là nhân vật được nhà văn Nam Cao xây dựng thành hình tượng đặc biệt mang tính điển hình, sinh động, có cá tính độc đáo và sức sống nội tâm mạnh mẽ.
B. BÀI LÀM
Ta đã từng tiếp xúc với những Điền, những Hộ, với một Chí Phèo, một lão Hạc của Nam Cao trong những sáng tác trước Cách mạng Ta đã bắt gặp được ở đó những người dân quê lam lũ nghèo nàn, sớm tối quần quật với cây cày lưỡi cuốc, bị biến chất bởi xã hội đen tối xấu xa. Ta đã nhìn thấy và thông cảm, đớn đau cùng với nỗi bi kịch tinh thần đang chất chứa, xâu xé tâm hồn của những người trí thức nghèo trong xã hội. Những con người ấy dường như đã được tập hợp lại để trở thành một hệ thống nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao.
Sau Cách mạng một thời gian, ta lại được tiếp xúc với những tác phẩm mới của ông. Và, ta chợt ngỡ ngàng và không nén nổi cái thú vị trước một hình tượng nhân vật mới của Nam Cao. Đó là Hoàng trong Đôi mắt.Xem thêm: Kể về một kỉ niệm đáng nhớ của em với người… Ở đây, nhân vật trung gian được phản ánh qua câu chuyện cũng là một trong những nhân vật nằm trong hệ thống quen thuộc của Nan Cao. Hoàng được giới thiệu với chúng ta với tư cách là một nhà văn, nghĩa là cũng sử dụng ngòi bút để làm một cái nghề cao quý. Nhưng có lẽ không hoàn toàn là một nhân vật Điền luôn đớn đau day dứt trong Trăng sáng những ngày xưa. Ở đây Hoàng hiện lên với hình ảnh của một nhà văn có tư cách của một con buôn giữa chợ đen. Cũng sử dụng ngòi bút, nhưng Hoàng chưa một lần phải băn khoăn day dứt, phải tự đối diện và suy ngẫm cùng chính bản thân mình về thiên chức của một nhà văn, chưa một lần nào Hoàng dằn vặt, đớn đau với những “dòng văn chương viết dễ dãi, cẩu thả và vô nghĩa lí”. Nói chung là chưa bao giờ Hoàng tự nghĩ về trách nhiệm xã hội của mình đối với nghề văn. Trong Hoàng, dường như cái ý nghĩ “là nhà văn thì trong suốt cuộc đời không thể cho phép mình sống thờ ơ, ích kỉ” chưa từng tồn tại, Hoàng sống giữa cuộc đời, cũng tính toán suy tư, nhưng đó lại là những “suy tư” làm sao để có thể được an nhàn hưởng thụ. Hoàng chấp nhận và ca tụng một lối sống ích kỉ, chỉ biết lo và nghĩ đến bản thân mình. Hoàng sẵn sàng đặt lợi ích của cá nhân lên trên tất cả.
“Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Mác), một cuộc sống có ý nghĩa phải là cuộc sống có cho và có nhận. Anh phải sống vì anh và vì cả mọi người. Thực ra, nếu suy xét cho đến tận cùng, thì việc đem lại hạnh phúc cho người khác cũng chính là đem hạnh phúc cho chính bản thân mình, và hơn nữa, đó có thể được coi như là một nhiệm vụ cần phải được làm ở mỗi người:
"Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho đâu phải nhận riêng mình”.
Trong Đôi mắt, thông qua nhân vật Hoàng, Nam Cao đã nêu bật lên một vấn đề có ý nghĩa vĩnh cửu. Nó khiến những người làm nghệ thuật phải day dứt. Bất kì một nhà văn nào mà lại không cần đến “đôi mắt” và cái nhìn đúng đắn để khám phá và sáng tạo thực tại. Nhưng, nếu có một “đôi mắt” như Hoàng thì không nên có và quả thực không cần phải có, nhất là cho những người làm nghệ thuật! Với đôi mắt ấy, Hoàng dường như đã bị “mù” trước thời đại. Những người kháng chiến trí thức nhập cuộc sẵn sàng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, hay như trong lời một bài hát “Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi, nào có sá chi đến ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi, ra đi ra đi thà chết không lui”, nhưng với Hoàng thì người nông dân, lực lượng chủ yếu của kháng chiến chỉ là một lũ “đần độn, lỗ mãng, ích kỉ tham lam, bần tiện cả”! Anh nhìn họ với đôi mắt “thiếu tình thương, thiếu trân trọng”.Xem thêm: Tnú là nhân vật đậm màu sắc sử thi mà vẫn có tính cách riêng biệt, độc đáo. Những gì mà anh nói với họ không phải là không có cơ sở, tuy nhiên nói theo Nam Cao là “chỉ nhìn thấy cái ngố bên ngoài mà không thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong”. Chính vì “vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn”, nên nếu nhìn càng nhiều, càng quan sát lắm thì chỉ càng thêm “chua chát và chán nản” mà thôi. Hoàng nhìn cuộc kháng chiến một cách bi quan, dù có được một chút thán phục người lãnh tụ. Nhưng nếu xét kĩ thì cái “chút xíu” tin tưởng ấy là xuất phát từ cái nhìn duy tâm, do sự sùng bái cá nhân. Chỉ thán phục có “ông cụ” như đã từng đắc ý với Tào Tháo. Hoàng đã thực sự sống xa rời quần chúng, chính vì vậy nên anh đánh giá không hết những khả năng của họ.
Đối với Độ, một con người sống gần gũi, hòa nhập với sinh hoạt và gắn bó với quần chúng lao động thì lại bị Hoàng cho là “làm một anh tuyên truyền nhãi nhép”. Độ nhìn người nông dân với cái nhìn “người nông dân nước mình vẫn còn có thể làm cách mạng mà làm cách mạng thì hăng hái lắm, và can đảm lắm”, anh nhìn họ băng cái nhìn đầy nâng niu và trìu mến khác hẳn với Hoàng là khinh khi miệt thị bởi phần đông họ “dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, chịu nhục một cách đáng thương” Hoàng không như Độ có thể cảm thông trước những tật xấu của người nông dân, để hiểu được họ và đánh giá đúng mức sự đóng góp của họ vào kháng chiến. Sống cuộc sống trưởng giả sang giàu nên Hoàng không thể từ bỏ nó để hòa mình vào bầu không khí chung của dân tộc. Anh đứng bên lề cuộc chiến, nhìn đời bằng đôi mắt thiển cận, thản nhiên với tình cảnh dầu sôi lửa bỏng, vô tình với cái vận mệnh đang “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước nhân dân. Trong cảnh tản cư mà Hoàng vẫn thuê được một căn nhà khang trang với “cái sàn gạch” đàng hoàng, vẫn “nuôi chó Tây” và “màn chăn rắc nước hoa sực nức” và “cả cái thú vui yên bình đêm đêm nằm đọc truyện Tam quốc. Dĩ nhiên sống giàu sang, ung dung thư thái như thế thì không có hại cho ai, và nếu nhìn kĩ thì đó chính là cách sống của những người có văn hóa cần đáng được biểu dương và ca tụng. Nhưng điều đáng nói ở đây là tình cảnh đất nước đang cần những người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, bao người đã và đang sẵn sàng giũ áo ra đi, sẵn sàng hi sinh và cống hiến bao xương máu, bao nhà văn đã tự nguyện đến với nhân dân, với dân tộc, với trách nhiệm công dân. Xuân Diệu, Nguyễn Tuân đã hi ánh cái sở trường tình yêu và sở thích “nhâm nhi chén trà trong sương sớm” để cho giọt mực thấm đẫm cái sức ấm nóng của thời đại, thì lối sống của Hoàng quả thực là lối sống của một con người vô trách nhiệm, nhẫn tâm đến vô tình ác độc. Nó biểu hiện tư chất của một con người ích kỉ, sống chỉ lo cho lợi ích của bản thân mình!Xem thêm: Tả bà cụ bán hàng ở nơi em sống Nam Cao đã xây dựng nhân vật Hoàng bằng một nghệ thuật vô cùng độc đáo. Hoàng “được” Nam Cao khắc họa với cái xấu cả nhân hình lẫn nhân tính. Ghét cay ghét đắng Hoàng lẫn cái “tuýp” người như Hoàng trong xã hội đương thời, Nam Cao đã rất thâm thúy khi đặt Hoàng ở bên cạnh con chó của anh ta. Con chó của Hoàng chết, “chết không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn, mà nó chết có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hít phải mùi xú khí”.
Như vậy, từ vô số những “đôi mắt” ích kỉ, vô tâm như vậy ở ngoài đời, Nam Cao đã hệ thống lại mọi bản chất trong cùng một con người, chính vì vậy nên nhân vật Hoàng có giá trị điển hình rất cao. Một con người “bước thong thả từ từ vì người anh quá béo, vừa bước vừa bơi bơi hai cánh tay khềnh khệnh ra hai bên, những khối u ở hai bên nách kềnh ra, tủn mủn vì quá ngắn” phải chăng là biểu tượng của một con người luôn bơi ngược dòng thời đại, luôn là một vật cản đối với xã hội đương thời? Xây dựng nhân vật bằng những nét điển hình độc đáo, bằng những chi tiết tả thực để từ đó có thể lột tả hết những bản chất sâu xa bên trong của mỗi con người, đó chính là một thành công khá xuất sắc của Nam Cao – một nhà văn lớn của văn học Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Nêu nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật này của nhà văn
Gợi ý
p>A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Thành công nổi bật của Nam Cao ở truyện ngắn Đôi mắt là đã xây dựng nhân vật Hoàng trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm.
2. Thân bài
a. Về lai lịch, diện mạo
– Hoàng là nhà văn cũ, thuộc lớp đàn anh, tiêu biểu cho loại trí thức trưởng giả ở Hà Nội. Anh ta đồng thời còn là “một tay chợ đen rất tài tình”.
– Vẻ bề ngoài của Hoàng cũng góp phần thể hiện con người anh: bước đi khệnh khạng (vì to béo quá); dáng điệu nặng nề, trỏng chỉ thấy chững chạc và hơi bệ vệ.
– Nói năng có lúc lâm li kêu lên những tiếng trong cổ họng; có lúc cái giọng dậm dọa buồn cười; cũng có khi nhếch một khoé môi lên, gay gắt, hay co vẻ mừng rỡ lắm và nhất là cười cùng cục trong cổ như một con gà sống…
h. Về tính cách
– Hoàng là người không chung thủy.
– Khi tản cư về vùng quê, Hoàng đóng kín cửa, không tiếp xúc với ai, ngoài những tay là thứ cặn bã của giới thượng lưư trí thức.
c. Về tư tưởng
– Hoàng khinh miệt quần chúng nông dân.
– Hoàng có thái độ bàng quan của người ngoài cuộc, bát hợp tác với cuộc kháng chiến toàn dân đang diễn ra.
– Dè bỉu nông dân, những người đang làm cách mạng hăng hái, nhưng Hoàng lại sùng bái cụ Hồ như một siêu nhân.
– Lập trường, tư tưởng của Hoàng xuất phát từ chỗ anh đã quen nhìn người và nhìn đời từ một phía.
3. Kết bài
Hoàng là nhân vật được nhà văn Nam Cao xây dựng thành hình tượng đặc biệt mang tính điển hình, sinh động, có cá tính độc đáo và sức sống nội tâm mạnh mẽ.
B. BÀI LÀM
Ta đã từng tiếp xúc với những Điền, những Hộ, với một Chí Phèo, một lão Hạc của Nam Cao trong những sáng tác trước Cách mạng Ta đã bắt gặp được ở đó những người dân quê lam lũ nghèo nàn, sớm tối quần quật với cây cày lưỡi cuốc, bị biến chất bởi xã hội đen tối xấu xa. Ta đã nhìn thấy và thông cảm, đớn đau cùng với nỗi bi kịch tinh thần đang chất chứa, xâu xé tâm hồn của những người trí thức nghèo trong xã hội. Những con người ấy dường như đã được tập hợp lại để trở thành một hệ thống nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao.
Sau Cách mạng một thời gian, ta lại được tiếp xúc với những tác phẩm mới của ông. Và, ta chợt ngỡ ngàng và không nén nổi cái thú vị trước một hình tượng nhân vật mới của Nam Cao. Đó là Hoàng trong Đôi mắt.Xem thêm: Kể về một kỉ niệm đáng nhớ của em với người… Ở đây, nhân vật trung gian được phản ánh qua câu chuyện cũng là một trong những nhân vật nằm trong hệ thống quen thuộc của Nan Cao. Hoàng được giới thiệu với chúng ta với tư cách là một nhà văn, nghĩa là cũng sử dụng ngòi bút để làm một cái nghề cao quý. Nhưng có lẽ không hoàn toàn là một nhân vật Điền luôn đớn đau day dứt trong Trăng sáng những ngày xưa. Ở đây Hoàng hiện lên với hình ảnh của một nhà văn có tư cách của một con buôn giữa chợ đen. Cũng sử dụng ngòi bút, nhưng Hoàng chưa một lần phải băn khoăn day dứt, phải tự đối diện và suy ngẫm cùng chính bản thân mình về thiên chức của một nhà văn, chưa một lần nào Hoàng dằn vặt, đớn đau với những “dòng văn chương viết dễ dãi, cẩu thả và vô nghĩa lí”. Nói chung là chưa bao giờ Hoàng tự nghĩ về trách nhiệm xã hội của mình đối với nghề văn. Trong Hoàng, dường như cái ý nghĩ “là nhà văn thì trong suốt cuộc đời không thể cho phép mình sống thờ ơ, ích kỉ” chưa từng tồn tại, Hoàng sống giữa cuộc đời, cũng tính toán suy tư, nhưng đó lại là những “suy tư” làm sao để có thể được an nhàn hưởng thụ. Hoàng chấp nhận và ca tụng một lối sống ích kỉ, chỉ biết lo và nghĩ đến bản thân mình. Hoàng sẵn sàng đặt lợi ích của cá nhân lên trên tất cả.
“Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Mác), một cuộc sống có ý nghĩa phải là cuộc sống có cho và có nhận. Anh phải sống vì anh và vì cả mọi người. Thực ra, nếu suy xét cho đến tận cùng, thì việc đem lại hạnh phúc cho người khác cũng chính là đem hạnh phúc cho chính bản thân mình, và hơn nữa, đó có thể được coi như là một nhiệm vụ cần phải được làm ở mỗi người:
"Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho đâu phải nhận riêng mình”.
Trong Đôi mắt, thông qua nhân vật Hoàng, Nam Cao đã nêu bật lên một vấn đề có ý nghĩa vĩnh cửu. Nó khiến những người làm nghệ thuật phải day dứt. Bất kì một nhà văn nào mà lại không cần đến “đôi mắt” và cái nhìn đúng đắn để khám phá và sáng tạo thực tại. Nhưng, nếu có một “đôi mắt” như Hoàng thì không nên có và quả thực không cần phải có, nhất là cho những người làm nghệ thuật! Với đôi mắt ấy, Hoàng dường như đã bị “mù” trước thời đại. Những người kháng chiến trí thức nhập cuộc sẵn sàng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, hay như trong lời một bài hát “Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi, nào có sá chi đến ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi, ra đi ra đi thà chết không lui”, nhưng với Hoàng thì người nông dân, lực lượng chủ yếu của kháng chiến chỉ là một lũ “đần độn, lỗ mãng, ích kỉ tham lam, bần tiện cả”! Anh nhìn họ với đôi mắt “thiếu tình thương, thiếu trân trọng”.Xem thêm: Tnú là nhân vật đậm màu sắc sử thi mà vẫn có tính cách riêng biệt, độc đáo. Những gì mà anh nói với họ không phải là không có cơ sở, tuy nhiên nói theo Nam Cao là “chỉ nhìn thấy cái ngố bên ngoài mà không thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong”. Chính vì “vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn”, nên nếu nhìn càng nhiều, càng quan sát lắm thì chỉ càng thêm “chua chát và chán nản” mà thôi. Hoàng nhìn cuộc kháng chiến một cách bi quan, dù có được một chút thán phục người lãnh tụ. Nhưng nếu xét kĩ thì cái “chút xíu” tin tưởng ấy là xuất phát từ cái nhìn duy tâm, do sự sùng bái cá nhân. Chỉ thán phục có “ông cụ” như đã từng đắc ý với Tào Tháo. Hoàng đã thực sự sống xa rời quần chúng, chính vì vậy nên anh đánh giá không hết những khả năng của họ.
Đối với Độ, một con người sống gần gũi, hòa nhập với sinh hoạt và gắn bó với quần chúng lao động thì lại bị Hoàng cho là “làm một anh tuyên truyền nhãi nhép”. Độ nhìn người nông dân với cái nhìn “người nông dân nước mình vẫn còn có thể làm cách mạng mà làm cách mạng thì hăng hái lắm, và can đảm lắm”, anh nhìn họ băng cái nhìn đầy nâng niu và trìu mến khác hẳn với Hoàng là khinh khi miệt thị bởi phần đông họ “dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, chịu nhục một cách đáng thương” Hoàng không như Độ có thể cảm thông trước những tật xấu của người nông dân, để hiểu được họ và đánh giá đúng mức sự đóng góp của họ vào kháng chiến. Sống cuộc sống trưởng giả sang giàu nên Hoàng không thể từ bỏ nó để hòa mình vào bầu không khí chung của dân tộc. Anh đứng bên lề cuộc chiến, nhìn đời bằng đôi mắt thiển cận, thản nhiên với tình cảnh dầu sôi lửa bỏng, vô tình với cái vận mệnh đang “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước nhân dân. Trong cảnh tản cư mà Hoàng vẫn thuê được một căn nhà khang trang với “cái sàn gạch” đàng hoàng, vẫn “nuôi chó Tây” và “màn chăn rắc nước hoa sực nức” và “cả cái thú vui yên bình đêm đêm nằm đọc truyện Tam quốc. Dĩ nhiên sống giàu sang, ung dung thư thái như thế thì không có hại cho ai, và nếu nhìn kĩ thì đó chính là cách sống của những người có văn hóa cần đáng được biểu dương và ca tụng. Nhưng điều đáng nói ở đây là tình cảnh đất nước đang cần những người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, bao người đã và đang sẵn sàng giũ áo ra đi, sẵn sàng hi sinh và cống hiến bao xương máu, bao nhà văn đã tự nguyện đến với nhân dân, với dân tộc, với trách nhiệm công dân. Xuân Diệu, Nguyễn Tuân đã hi ánh cái sở trường tình yêu và sở thích “nhâm nhi chén trà trong sương sớm” để cho giọt mực thấm đẫm cái sức ấm nóng của thời đại, thì lối sống của Hoàng quả thực là lối sống của một con người vô trách nhiệm, nhẫn tâm đến vô tình ác độc. Nó biểu hiện tư chất của một con người ích kỉ, sống chỉ lo cho lợi ích của bản thân mình!Xem thêm: Tả bà cụ bán hàng ở nơi em sống Nam Cao đã xây dựng nhân vật Hoàng bằng một nghệ thuật vô cùng độc đáo. Hoàng “được” Nam Cao khắc họa với cái xấu cả nhân hình lẫn nhân tính. Ghét cay ghét đắng Hoàng lẫn cái “tuýp” người như Hoàng trong xã hội đương thời, Nam Cao đã rất thâm thúy khi đặt Hoàng ở bên cạnh con chó của anh ta. Con chó của Hoàng chết, “chết không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn, mà nó chết có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hít phải mùi xú khí”.
Như vậy, từ vô số những “đôi mắt” ích kỉ, vô tâm như vậy ở ngoài đời, Nam Cao đã hệ thống lại mọi bản chất trong cùng một con người, chính vì vậy nên nhân vật Hoàng có giá trị điển hình rất cao. Một con người “bước thong thả từ từ vì người anh quá béo, vừa bước vừa bơi bơi hai cánh tay khềnh khệnh ra hai bên, những khối u ở hai bên nách kềnh ra, tủn mủn vì quá ngắn” phải chăng là biểu tượng của một con người luôn bơi ngược dòng thời đại, luôn là một vật cản đối với xã hội đương thời? Xây dựng nhân vật bằng những nét điển hình độc đáo, bằng những chi tiết tả thực để từ đó có thể lột tả hết những bản chất sâu xa bên trong của mỗi con người, đó chính là một thành công khá xuất sắc của Nam Cao – một nhà văn lớn của văn học Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
|
Huấn Cao là nhân vật trung tâm của truyện ngắn Chữ người tử tù. Mặc dù là một tên tử tù nhưng Huấn Cao được viên quản ngục biệt đãi bởi vì ông có những tài năng đáng để người khác phải nể phục. Phân tích nhân vật Huấn Cao sẽ giúp các em thấy rõ được điều này.
Trước khi bước vào bài làm phân tích nhân vật Huấn Cao, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn phân tích này. Với việc lập dàn ý phân tích nhân vật Huấn Cao các em sẽ không lo bị thiếu ý trong quá trình làm bài.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Huấn Cao
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù.
– Giới thiệu về nhân vật Huấn Cao.
– Huấn Cao là nhân vật nổi bật trong truyện với nhiều phẩm chất tốt đẹp.
2. Thân bài phân tích nhân vật Huấn Cao
Vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa
– Huấn Cao có tài viết chữ thư pháp rất đẹp.
– Ông là một người nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp.
Vẻ đẹp của con người có khí phách hiên ngang
– Huấn Cao đã đứng lên để chống lại triều đình mà ông căm ghét.
– Mặc dù mấy lần đều thất bại nhưng khi vào ngục ông vẫn tỏ thái độ hiên ngang không hề run sợ.
– Giữ phong thái ung dung đợi ngày ra pháp trường.
Huấn Cao là người có thiên lương trong sáng
– Mặc dù có tài viết chữ đẹp nhưng không phải ai Huấn Cao cũng cho chữ.
– Huấn Cao chỉ chấp nhận cho chữ viên quản ngục khi biết rằng đây là một người có thiên lương trong sáng.
Sự thống nhất của cái tài, tái tâm và khí phách anh hùng của Huấn Cao
– Vẻ đẹp của cái tài, cái tâm nổi bật lên trong cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm.
– Dù trong tư thế bị gông cùm nhưng cũng không ngăn được Huấn Cao sáng tạo nghệ thuật.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao
Xem thêm: Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp có nói: "Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung". Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên
– Tác giả đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo.
– Xây dựng nhân vật Huấn Cao để làm nổi bật lên chiến thắng của cái tài, cái đẹp.
– Ngôn ngữ sử dụng nhiều từ Hán Việt làm tăng thêm vẻ đẹp của vang bóng một thời.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Huấn Cao.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Huấn Cao
Tác phẩm Chữ người tử tù là một truyện ngắn được rút ra từ tập Vang bóng một thời của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác giả Nguyễn Tuân vẫn được biết đến là bậc thầy về ngôn ngữ và với tác phẩm này ông vẫn cho thấy được điều đó. Trong Chữ người tử tù, nổi bật lên là nhân vật Huấn Cao, một người tử tù nhưng có tài năng và khí phách hơn người. Ở Huấn Cao hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý.
Trước tiên, Huấn Cao được miêu tả với một vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa. Nhân vật Huấn Cao có tài viết rất đẹp. Thời xưa, các nhà nho rất coi trọng chữ viết bởi người ta quan niệm rặng chữ viết bộc lộ được cái tâm, cái chí của người viết. Chính vì vậy mà viết chữ trở thành một bộ môn nghệ thuật gọi là thư pháp. Khi có người viết chữ đẹp thì xã hội cũng sinh ra những người muốn chơi chữ. Có rất nhiều người có sở thích treo chữ trong nhà để trang trí và xem đó như là một thú chơi tao nhã. Trong thư pháp, Huấn Cao là một người nghệ sĩ thực thụ. Ông viết chữ rất nhanh nhưng vẫn rất đẹp. Cái tài của Huấn Cao cả vùng tỉnh Sơn không ai là không biết. Người ta xem chữ của ông giống như một vật báu ở trong nhà vậy. Chính vì lẽ đó là viên quản ngục cũng muốn được treo câu đối do ông viết.Xem thêm: Giới thiệu về lễ hội chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Hà Tây nay thuộc Hà Nội
Phân tích nhân vật Huấn Cao
Vẻ đẹp tiếp theo của Huấn Cao đó chính là vẻ đẹp của khí phách hiên ngang và bất khuất. Huấn Cao đã dám đứng lên để chống lại triều đình khi mà ông thấy khinh bỉ và căm ghét triều đình lúc đó. Đã bị bắt vào tù nhiều lần nhưng Huấn Cao luôn bẻ khóa trốn ngục. Đến lần này, ông bị giam một cách nghiêm ngặt hơn, trở thành kẻ từ tù chỉ chờ ngày được đem ra xét xử. Với vị trí của một kẻ tử tù nhưng Huấn Cao lại không hề tỏ ra run sợ trước cường quyền. Huấn Cao chờ đợi ngày ra pháp trường trong một tư thế vô cùng ung dung và đường hoàng. Khi được biệt đãi, ông cũng không lấy đó làm vui mừng hay vì thế mà khúm núm viên quản ngục.
Trên hết, Huấn Cao là người có thiên lương vô cùng trong sáng. Cái tài viết chữ của Huấn Cao thì không còn phải bàn cãi nữa. Nhưng không phải bạ ai ông cũng cho chữ. Không bao giờ có chuyện vì vàng ngọc quyền thế mà ông ép mình phải cho chữ. Huấn Cao là người có thiên lương nên ông chỉ yêu quý những ai biết trân trọng cái đẹp, cái tài. Chính vì vậy mà trong suốt cuộc đời mình ông chỉ viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân. Ban đầu không tỏ thái độ khinh bạc đối với viên quản ngục vì nghĩ rằng ngục quan có ý đồ đen tối với mình. Nhưng sau đó ông lại cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài của ngục quan và viên thơ lại nên cuối cùng ông đã quyết định cho chữ. Chính điều này đã dẫn đến cảnh cho chữ xưa nay chưa từng có.
Chính hình ảnh cho chữ cuối bài đã làm bừng sáng lên khí phách anh hùng và nhân cách cao đẹp của Huấn Cao. Nhà văn Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật của mình dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mĩ qua đó vẻ đẹp của nhân vật được bộc lộ rõ nét. Cũng từ đây dẫn đến cuộc đổi ngôi kì diệu, khi mà kẻ tử tù trở thành người làm chủ tình huống còn người cai ngục lại khúm núm và nghe những lời khuyên dạy của kẻ tử tù về cách sống. Có thể thấy dù đang ở trong cái thế bị gông cùm, xiềng xích nhưng Huấn Cao vẫn có thể thỏa sức sáng tạo nghệ thuật. Điều này cho thấy rằng tâm hồn của Huấn Cao hông hề chị trói buộc. Chẳng xiềng xích nào có thể giam câm được cái đẹp. Nhờ vậy mà hình tượng nhân vật Huấn Cao trở thành biểu tượng cho sự chiến thằng của ánh sáng trước bóng tối, chiến thắng của cái cao cả, cái đẹp trước những cái dơ bẩn, phàm tục.Xem thêm: Sự kết hợp giữa chất chính luận với chất trữ tình trong đoạn trích Đất Nước (trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
Bằng cách đặt nhân vật vào trong một tình huống truyện độc đáo, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của Huấn Cao. Bên cạnh đó, ông khéo léo sử dụng nghệ thuật tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn, đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, đối lập giữa cái đẹp với cái phàm tục. Ngoài ra, ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân cũng giàu chất tạo hình. Với việc sử dụng nhiều từ Hán Việt cũng như lời ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa khiến cho hình tượng Huấn Cao càng tăng thêm vẻ đẹp vang bóng một thời.
Nhà văn Nguyễn Tuân thông qua xây dựng nhân vật Huấn Cao đã thể hiện được tài năng nghệ thuật của mình. Có người nói hình tượng Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu Cao Bá Quát. Qua nhân vật này, ta thấy bộc lộ lên tình yêu nước, yêu dân tộc thầm kín của tác giả.
Trên đây là bài làm phân tích nhân vật Huấn Cao và dàn ý phân tích nhân vật Huấn Cao. Bài viết này hy vọng đã đem đến cho các em những kiến thức bổ ích và lý thú.
Thu Thủy
|
Huấn Cao là nhân vật trung tâm của truyện ngắn Chữ người tử tù. Mặc dù là một tên tử tù nhưng Huấn Cao được viên quản ngục biệt đãi bởi vì ông có những tài năng đáng để người khác phải nể phục. Phân tích nhân vật Huấn Cao sẽ giúp các em thấy rõ được điều này.
Trước khi bước vào bài làm phân tích nhân vật Huấn Cao, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn phân tích này. Với việc lập dàn ý phân tích nhân vật Huấn Cao các em sẽ không lo bị thiếu ý trong quá trình làm bài.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Huấn Cao
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù.
– Giới thiệu về nhân vật Huấn Cao.
– Huấn Cao là nhân vật nổi bật trong truyện với nhiều phẩm chất tốt đẹp.
2. Thân bài phân tích nhân vật Huấn Cao
Vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa
– Huấn Cao có tài viết chữ thư pháp rất đẹp.
– Ông là một người nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp.
Vẻ đẹp của con người có khí phách hiên ngang
– Huấn Cao đã đứng lên để chống lại triều đình mà ông căm ghét.
– Mặc dù mấy lần đều thất bại nhưng khi vào ngục ông vẫn tỏ thái độ hiên ngang không hề run sợ.
– Giữ phong thái ung dung đợi ngày ra pháp trường.
Huấn Cao là người có thiên lương trong sáng
– Mặc dù có tài viết chữ đẹp nhưng không phải ai Huấn Cao cũng cho chữ.
– Huấn Cao chỉ chấp nhận cho chữ viên quản ngục khi biết rằng đây là một người có thiên lương trong sáng.
Sự thống nhất của cái tài, tái tâm và khí phách anh hùng của Huấn Cao
– Vẻ đẹp của cái tài, cái tâm nổi bật lên trong cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm.
– Dù trong tư thế bị gông cùm nhưng cũng không ngăn được Huấn Cao sáng tạo nghệ thuật.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao
Xem thêm: Nhà văn Nga Lêônít Lêônốp có nói: "Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung". Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên
– Tác giả đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo.
– Xây dựng nhân vật Huấn Cao để làm nổi bật lên chiến thắng của cái tài, cái đẹp.
– Ngôn ngữ sử dụng nhiều từ Hán Việt làm tăng thêm vẻ đẹp của vang bóng một thời.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Huấn Cao.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Huấn Cao
Tác phẩm Chữ người tử tù là một truyện ngắn được rút ra từ tập Vang bóng một thời của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác giả Nguyễn Tuân vẫn được biết đến là bậc thầy về ngôn ngữ và với tác phẩm này ông vẫn cho thấy được điều đó. Trong Chữ người tử tù, nổi bật lên là nhân vật Huấn Cao, một người tử tù nhưng có tài năng và khí phách hơn người. Ở Huấn Cao hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý.
Trước tiên, Huấn Cao được miêu tả với một vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa. Nhân vật Huấn Cao có tài viết rất đẹp. Thời xưa, các nhà nho rất coi trọng chữ viết bởi người ta quan niệm rặng chữ viết bộc lộ được cái tâm, cái chí của người viết. Chính vì vậy mà viết chữ trở thành một bộ môn nghệ thuật gọi là thư pháp. Khi có người viết chữ đẹp thì xã hội cũng sinh ra những người muốn chơi chữ. Có rất nhiều người có sở thích treo chữ trong nhà để trang trí và xem đó như là một thú chơi tao nhã. Trong thư pháp, Huấn Cao là một người nghệ sĩ thực thụ. Ông viết chữ rất nhanh nhưng vẫn rất đẹp. Cái tài của Huấn Cao cả vùng tỉnh Sơn không ai là không biết. Người ta xem chữ của ông giống như một vật báu ở trong nhà vậy. Chính vì lẽ đó là viên quản ngục cũng muốn được treo câu đối do ông viết.Xem thêm: Giới thiệu về lễ hội chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Hà Tây nay thuộc Hà Nội
Phân tích nhân vật Huấn Cao
Vẻ đẹp tiếp theo của Huấn Cao đó chính là vẻ đẹp của khí phách hiên ngang và bất khuất. Huấn Cao đã dám đứng lên để chống lại triều đình khi mà ông thấy khinh bỉ và căm ghét triều đình lúc đó. Đã bị bắt vào tù nhiều lần nhưng Huấn Cao luôn bẻ khóa trốn ngục. Đến lần này, ông bị giam một cách nghiêm ngặt hơn, trở thành kẻ từ tù chỉ chờ ngày được đem ra xét xử. Với vị trí của một kẻ tử tù nhưng Huấn Cao lại không hề tỏ ra run sợ trước cường quyền. Huấn Cao chờ đợi ngày ra pháp trường trong một tư thế vô cùng ung dung và đường hoàng. Khi được biệt đãi, ông cũng không lấy đó làm vui mừng hay vì thế mà khúm núm viên quản ngục.
Trên hết, Huấn Cao là người có thiên lương vô cùng trong sáng. Cái tài viết chữ của Huấn Cao thì không còn phải bàn cãi nữa. Nhưng không phải bạ ai ông cũng cho chữ. Không bao giờ có chuyện vì vàng ngọc quyền thế mà ông ép mình phải cho chữ. Huấn Cao là người có thiên lương nên ông chỉ yêu quý những ai biết trân trọng cái đẹp, cái tài. Chính vì vậy mà trong suốt cuộc đời mình ông chỉ viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân. Ban đầu không tỏ thái độ khinh bạc đối với viên quản ngục vì nghĩ rằng ngục quan có ý đồ đen tối với mình. Nhưng sau đó ông lại cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài của ngục quan và viên thơ lại nên cuối cùng ông đã quyết định cho chữ. Chính điều này đã dẫn đến cảnh cho chữ xưa nay chưa từng có.
Chính hình ảnh cho chữ cuối bài đã làm bừng sáng lên khí phách anh hùng và nhân cách cao đẹp của Huấn Cao. Nhà văn Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật của mình dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mĩ qua đó vẻ đẹp của nhân vật được bộc lộ rõ nét. Cũng từ đây dẫn đến cuộc đổi ngôi kì diệu, khi mà kẻ tử tù trở thành người làm chủ tình huống còn người cai ngục lại khúm núm và nghe những lời khuyên dạy của kẻ tử tù về cách sống. Có thể thấy dù đang ở trong cái thế bị gông cùm, xiềng xích nhưng Huấn Cao vẫn có thể thỏa sức sáng tạo nghệ thuật. Điều này cho thấy rằng tâm hồn của Huấn Cao hông hề chị trói buộc. Chẳng xiềng xích nào có thể giam câm được cái đẹp. Nhờ vậy mà hình tượng nhân vật Huấn Cao trở thành biểu tượng cho sự chiến thằng của ánh sáng trước bóng tối, chiến thắng của cái cao cả, cái đẹp trước những cái dơ bẩn, phàm tục.Xem thêm: Sự kết hợp giữa chất chính luận với chất trữ tình trong đoạn trích Đất Nước (trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
Bằng cách đặt nhân vật vào trong một tình huống truyện độc đáo, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên vẻ đẹp của Huấn Cao. Bên cạnh đó, ông khéo léo sử dụng nghệ thuật tương phản, đối lập của bút pháp lãng mạn, đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, đối lập giữa cái đẹp với cái phàm tục. Ngoài ra, ngôn ngữ miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân cũng giàu chất tạo hình. Với việc sử dụng nhiều từ Hán Việt cũng như lời ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa khiến cho hình tượng Huấn Cao càng tăng thêm vẻ đẹp vang bóng một thời.
Nhà văn Nguyễn Tuân thông qua xây dựng nhân vật Huấn Cao đã thể hiện được tài năng nghệ thuật của mình. Có người nói hình tượng Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu Cao Bá Quát. Qua nhân vật này, ta thấy bộc lộ lên tình yêu nước, yêu dân tộc thầm kín của tác giả.
Trên đây là bài làm phân tích nhân vật Huấn Cao và dàn ý phân tích nhân vật Huấn Cao. Bài viết này hy vọng đã đem đến cho các em những kiến thức bổ ích và lý thú.
Thu Thủy
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù
Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sang tác xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như “chiếc ấm đất”, “chén trà sương”… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung tài hoa trong thiên hạ, đó là vẻ đẹp của Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân cách sang ngời và rất đỗi tài hoa.
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp.
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài tâm vẹn toàn.
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé họng”. Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục!
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời:
Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh quê hương đất nước qua ca dao, dân ca“Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”
Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là…” Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội.
“Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương”, bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Húan Cao không nhữg nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng:
“Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”.
Hành động cho chữ viên quản ngụ chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
Quay cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo con:
“Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”.
Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi.
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi’ Huấn Cao, người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm” và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Bài ca chúc tết thanh niên của Phan Bội Châu
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù
Nguyễn Tuân, một nhà văn nổi tiếng của làng văn học Việt Nam; có những sang tác xoay quanh những nhân vật lí tưởng về tài năng xuất chúng, về cái đẹp tinh thần như “chiếc ấm đất”, “chén trà sương”… và một lần nữa, chúng ta lại bắt gặp chân dung tài hoa trong thiên hạ, đó là vẻ đẹp của Huấn Cao trong tác phầm Chữ người tử tù.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã lấy nguyên mẫu hình tượng của Cao Bá Quát với văn chương “vô tiền Hán”, còn nhân cách thì “một đời chỉ cúi đầu trước hoa mai” làm nguồn cảm hứng sang tạo nhân vật Huấn Cao. Họ Cao là một lãnh tụ nông dân chống triều Nguyễn năm 1854. Huấn Cao được lấy từ hình tượng này với tài năng, nhân cách sang ngời và rất đỗi tài hoa.
Huấn Cao là một con người đại diện cho cái đẹp, từ cái tài viết chữ của một nho sĩ đến cái cốt cách ngạo nghễ phi thường của một bậc trượng phu đến tấm long trong sang của một người biết quý trọng cái tài, cái đẹp.
Huấn Cao với tư cách là người nho sĩ viết chữ đẹp thể hiện ở cái tài viết chữ. Chữ viết không chỉ là kí hiệu ngôn ngữ mà còn thể hiện tính cách của con người. Chữ của Huấn Cao “vuông lắm” cho thấy ông có khí phách hiên ngang, tung hoành bốn bể. Cái tài viết chữ của ông được thể hiện qua đoạn đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Chữ Huấn Cao đẹp và quý đến nỗi viên quản ngục ao ước suốt đời. Viên quản ngục đến “mất ăn mất ngủ”; không nề hà tính mạng của mình để có được chữ của Huấn Cao, “một báu vật trên đời”. Chữ là vật báu trên đời thì chắc chắn là chủ nhân của nó phải là một người tài năng xuất chúng có một không hai, là kết tinh mọi tinh hoa, khí thiêng của trời đất hun đúc lại mà thành. Chữ của Huấn Cao đẹp đến như vậy thì nhân cách của Huấn Cao cũng chẳng kém gì. Ông là con người tài tâm vẹn toàn.
Huấn Cao trong cốt cách ngạo nghễ, phi thường của một bậc trượng phu. Ông theo học đạo nho thì đáng lẽ phải thể hiện lòng trung quân một cách mù quáng. Nhưng ông đã không trung quân mà còn chống lại triều đình để giờ đây khép vào tội “đại nghịch”, chịu án tử hình. Bởi vì Huấn Cao có tấm lòng nhân ái bao la; ông thương cho nhân dân vô tội nghèo khổ, lầm than bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị tàn bạo thối nát. Huấn Cao rất căm ghét bọn thống trị và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân “thấp cổ bé họng”. Nếu như Huấn Cao phục tùng cho bọn phong kiến kia thì ông sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng không, ông Huấn đã lựa chọn con đường khác: con đường đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội. Cuộc đấu tranh không thành công ông bị bọn chúng bắt. Giờ đây phải sống trong cảnh ngục tối chờ ngày xử chém. Trước khi bị bắt vào ngục, viên quản ngục đã nghe tiếng đồn Huấn Cao rất giỏi võ, ông có tài “bẻ khoá, vượt ngục” chứng tỏ Huấn Cao là một người văn võ toàn tài, quả là một con người hiếm có trên đời.
Tác giả miêu tả sâu sắc trạng thái tâm lí của Huấn Cao trong những ngày chờ thi hành án. Trong lúc này đây, khi mà người anh hùng “sa cơ lỡ vận” nhưng Huấn Cao vẫn giữ được khí phách hiên ngang,kiên cường. Tuy bị giam cầm về thể xác nhưng ông Huấn vẫn hoàn toàn tự do bằng hành động “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỵch một cái” và “lãnh đạm” khong thèm chấp sự đe doạ của tên lính áp giải. Dưới mắt ông, bọn kia chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. Ông đứng đầu goong, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo. Người anh hùng ấy dùng cho thất thế nhưng vẫn giữ được thế lực, uy quyền của mình. Thật đáng khâm phục!
Mặc dù ở trong tù, ông vẫn thản nhiên “ăn thịt, uống rượu như một việc vẫn làm trong hứng bình sinh”. Huấn Cao hoàn toàn tự do về tinh thần. Khi viên cai ngục hỏi Huấn Cao cần gì thì ông trả lời:
Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh quê hương đất nước qua ca dao, dân ca“Người hỏi ta cần gì à? Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng bước chân vào đây nữa thôi”
Cách trả lời ngang tàn, ngạo mạn đầy trịch thượng như vậy là bởi vì Huấn Cao vốn hiên ngang, kiên cường; “đến cái chết chém cũng còn chẳng sợ nữa là…” Ông không thèm đếm xỉa đến sự trả thù của kẻ đã bị mình xúc phạm. Huấn Cao rất có ý thức được vị trí của mình trong xã hội, ông biết đặt vị trí của mình lên trên những loại dơ bẩn “cặn bã” của xã hội.
“Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Nhân cách của Huấn Cao quả là trong sáng như pha lê, không hề có một chút trầy xước nào. Theo ông, chỉ có “thiên lương”, bản chất tốt đẹp của con người mới là đáng quý.
Thế nhưng khi biết được nỗi lòng viên quản ngục, Húan Cao không nhữg nhận lời cho chữ mà còn thốt ra rằng:
“Ta cảm tấm lòng biệt nhãn liên tài của các ngươi. Ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có sở thích cao quý đến như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”.
Huấn Cao cho chữ là một việc rất hiếm bởi vì “tính ông vốn khoảnh. Ta không vì vàng bạc hay quyền uy mà ép cho chữ bao giờ”.
Hành động cho chữ viên quản ngụ chứng tỏ Huấn Cao là một con người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, biết nâng niu những kẻ tầm thường lên ngang tàng với mình.
Quay cảnh “cho chữ” diễn ra thật lạ, quả là cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Kẻ tử từ “cổ đeo gông, chân vướng xích” đang “đậm tô từng nét chữ trên vuông lụa bạch trắng tinh” với tư thế ung dung tự tại, Huấn Cao đang dồn hết tinh hoa vào từng nét chữ. Đó là những nét chữ cuối cùng của con người tài hoa ấy. Những nét chữ chứa chan tấm lòng của Huấn Cao và thấm đẫm nước mắt thương cảm của người đọc. Con người tài hoa vô tội kia chỉ mới cho chữ ba lần trong đời đã vội vã ra đi, để lại biết bao tiếc nuối cho người đọc. Qua đó, tác giả Nguyễn Tuân cũng gián tiếp lên án xã hội đương thời đã vùi dập tài hoa của con người.
Và người tù kia bỗng trở nên có quyền uy trước những người đang chịu trách nhiệm giam giữ mình. Ông Huấn đã khuyên viên quản ngục như một người ca khuyên bảo con:
“Tôi bảo thực thầy quản nên về quê ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ được thiên lương cho lành lắm rồi cũng có ngày nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”.
Theo Huấn Cao, cái đẹp không thể nào ở chung với cái xấu được. Con người chỉ thưởng thức cái đẹp khi có bản chất trong sáng, nhân cách cao thượng mà thôi.
Những nét chữ cuối cùng đã cho rồi, những lời nói cuối cùng đã nói rồi’ Huấn Cao, người anh hùng tài hoa kia dù đã ra đi mãi mãi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc cho những ai đã thấy, đã nghe, đã từng được thưởng thức nét chữ của ông. Sống trên cõi đời này, Huấn Cao đã đứng lên đấu tranh vì lẽ phải; đã xoá tan bóng tối hắc ám của cuộc đời này. Chính vì vậy, hình tượng Huấn Cao đã trở nên bất tử. Huấn Cao sẽ không chết mà bước sang một cõi khác để xua tan bóng tối nơi đó, đem lại hạnh phúc cho mọi người ở mọi nơi.
Ở Huấn Cao ánh lên vẻ đẹp của cái “tài” và cái “tâm”. Trong cái “tài” có cái “tâm” và cái “tâm” ở đây chính là nhân cách cao thượng sáng ngời của một con người tài hoa. Cái đẹp luôn song song “tâm” và “tài” thì cái đẹp đó mới trở nên có ý nghĩa thực sự. Xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã thành công trong việc xây dựng nên chân dung nghệ thuật điển hình lí tưởng trong văn học thẩm mĩ. Dù cho Huấn Cao đã đi đến cõi nào chăng nữa thì ông vẫn sẽ mãi trong lòng người đọc thế hệ hôm nay và mai sau.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Bài ca chúc tết thanh niên của Phan Bội Châu
|
Phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Gợi ý
p>Năm 1940, tập truyện "Vang bóng một thời" của nhà văn Nguyễn Tuân ra đời thể hiện một bút pháp tài hoa, độc đáo, giàu màu sắc lãng mạn. Nó gồm có 12 truyện, nhân vật chính phần lớn là các nhà nho, những kẻ sĩ một thời "vang bóng". "Chữ người tử tù" là một trong những truyện ngắn đặc sắc trong tập "Vang bóng một thời".
Truyện chỉ có ba nhân vật xoay quanh chuyện xin chữ và cho chữ diễn ra trong nhà giam tử tù. Bên cạnh viên quản ngục, thầy thơ lại là nhân vật Huấn Cao – một tử tù – có khí phách hiên ngang, rất tài tử, đến chết vẫn coi trọng thiên lương – đã được nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng và miêu tả một cách tài hoa, độc đáo, đầy ấn tượng.
Huấn Cao là một kẻ sĩ dám xả thân vì đại nghĩa, dũng cảm đứng về phía nhân dân để chống lại triều đình phong kiến mục nát đương thời, trở thành "người đứng đầu bọn phản nghịch". Trong tâm hồn quản ngục thì Huấn Cao là một con người "chọc trời quấy nước" coi thường cường quyền bạo lực, "chẳng biết có ai nữa" trên đầu mình. Với thầy thơ lại thì Huấn Cao "văn võ đều có tài cả. Chà chà!". Với bọn lính thì Huấn Cao là "thủ xướng", "hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn". Cách nhìn nhận ấy của ngục quan, của viên thơ lại, của bọn lính đều cho thấy Huấn Cao là một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân, tiếng tăm lừng lẫy; khi trở thành tử tù vẫn được người đời khâm phục hoặc kinh sợ! Nguyễn Tuân miêu tả chiếc gông bằng gỗ lim dài đến tám thước, nặng đến bảy tám tạ "đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn", miêu tả hành động "dỗ gông" với "một trận mưa rệp" trước cửa ngục và trước mũi bọn lính, điều đó cho thấy Huấn Cao và các đồng chí của mình vô cùng hiên ngang, bất khuất, coi thường mọi nhục hình, đày dọa, trước cái chết vẫn ngẩng cao đầu! Câu nói của Huấn Cao với quản ngục cũng thể hiện một khí phách ngang tàng trước cường quyền bạo lực: "Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng tới quấy rầy ta". Chỉ bằng một vài chi tiết nghệ thuật rất chọn lọc về hành động, cử chỉ, ngôn ngữ nhân vật, một vài lời nhận xét bình phẩm, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công tinh thần "đại vô úy" của Huấn Cao. Nét vẽ chân dung của Nguyễn Tuân rất độc đáo và có thần! Xem thêm: Vẻ đẹp độc đáo đồng thời cũng là đặc sắc bao trùm bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Hãy giải thích vì sao có điều đó và phân tích bài thơ để làm sáng tỏ Huấn Cao là kẻ sĩ tài tử, tài hoa được nhiều người mến mộ "cái người mà vùng tỉnh Sơn đã khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp"… Chữ của ông Huấn là "một báu vật trẽn đời", tượng trưng cho cái đẹp, cái cao quý trong thiên hạ. Quán ngục cũng là một người có học đã "biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền". Đã từ rất lâu, "từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm". Huấn Cao là một khách tài tử, không chỉ tài hoa sáng tạo ra cái đẹp mà còn có một tâm hồn thanh cao, trong sạch, ông tự biết "chữ thì quý thật", nhưng không bao giờ "vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết bao giờ". Điều đó cho thấy, Huấn Cao đi "làm giặc" không phải "mưu bá đồ vương" mà chính là để "cứu vớt dân đen đang đói khổ"; chữ là một thứ "vật báu" nhưng ông ta không bán văn bán chữ để được phú quý giàu sang. Đúng, "tính ông vẫn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ". Huấn Cao vừa có tài vừa có cái tâm đẹp.
Là một khách tài tử, Huấn Cao coi trọng tình bạn tri âm tri kỉ, mến mộ những con người có tinh thần biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ. Ai đã từng được ông Huấn tặng chữ? "Nhất sinh" ông mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường để tặng ba người bạn thân. Và ai đã được ông Huấn Cao cho chữ? Khi chưa hiểu "lòng dạ" quản ngục thì ông Huấn nặng lời "cố ý làm ra khinh bạc đến điều". Nhưng khi qua lời thỉnh cầu viên thơ lại, ông Huấn biết quản ngục là một con người rất yêu quý cái đẹp, khao khát có "chữ" để "treo ở nhà riêng mình" thì ông đã xúc động nói: ‘Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết đem một người như thầy quán đây mà lợi có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Trước lúc bước ra pháp trường, Huấn Cao đã cho chữ quản ngục, đó là một nghĩa cử. Trên binh diện "phép nước”, quản ngục và tử tù là đối địch, nhưng trên lĩnh vực nghệ thuật thì hai người lại là tri âm. Khách tài tử không thể nào "phụ một tấm lòng trong thiên hạ" là vậy. Vượt qua được cái đáng sợ của "phép nước", phá tan được hàng rào vị thế hiện tại trong xã hội, Huấn Cao và quản ngục đã trở thành đồi bạn tri âm, giữa tài tử và người liên tài. Sức mạnh nghệ thuật hay ánh sáng tâm hồn kẻ sĩ đã tạo nên sự kì diệu ấy? Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của tác giả Huy Cận Cảnh cho chữ là một cành tượng "xưa nay chưa từng có" đã làm cho bức chân dung nhân vật Huấn Cao, ngục quan, thầy thơ lại trong cảnh tượng ấy, vô hình trung đã trở thành tương tri, tương thân, tâm đắc trong việc sáng tạo cái đẹp. Ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, mùi mực thơm, màu trắng của tấm lụa bạch như xua tan đi bóng tối ngục thất đầy mạng nhện, tổ rệp, phân gián, phân chuột. Ánh sáng đỏ rực của bó đuốc hay ánh sáng thiện lương làm cho hình ảnh tử tù Huấn Cao thêm ngạo nghễ, uy nghi, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, tử tù vung bút viết "những nét chữ vuông vắn rõ ràng". Thật là đĩnh đạc, đàng hoàng, sau khi "đề xong lạc khoản", Huấn Cao khen mùi mực thơm, "thở dài" đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy, nói: "… Tôi bào thực đấy, thầy quán nên tìm về nhà quê mà ở, rỗi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi". Hình ảnh quản ngục "nước mắt rỉ vào kẽ miệng" vái tử tù một vái, nghẹn ngào nói: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh" đã làm cho hình ảnh Huấn Cao trở nên kì vĩ sắp bước lên đoạn đầu đài vẫn quyết giữ vững thiên lương. Kẻ "làm giặc" không thể có cái tâm thế ấy. Huấn Cao là một anh hùng! Xem thêm: Cảm nhận về nỗi buồn chinh phụ trong đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) ‘Văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn đẻ người nông nổi thưởng thức" (Vũ Ngọc Phan). Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao rất đặc sắc. Hầu như không có chi tiết nghệ thuật nào thừa. Tiếng đồn đại, lai lịch, cử chi, ngôn ngữ, hành động… của nhân vật được tác giá lựa chọn rất "đắt" làm hiện lên một Huấn Cao hiên ngang bất khuất, tài tử tài hoa, quý trọng bằng hữu và trân trọng những tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ. Từ một nhân vật lịch sử trong thế kỉ XIX, gắn liền với những giai thoại, những câu đối: "Một chiếc cùm lim chân có đế – Ba vồng xích sắt bước thì vương"…, Nguyễn Tuân đã sáng tạo nên một hình tượng văn học Huấn Cao cho chữ trước lúc ra pháp trường. Văn học lãng mạn Việt Nam thời tiền chiến chỉ có một hình tượng Huấn Cao đẹp bi tráng như vậy.
Xây dựng nhân vật Huấn Cao – kẻ sĩ tài từ, anh hùng – nhà văn Nguyễn Tuân vừa biểu lộ một tấm lòng kính phục, ưu ái đặc biệt, vừa thể hiện một bút pháp tài hoa, độc đáo tuyệt vời. Ngoài việc ca ngợi một con người tài tử, bất khuất, anh hùng, truvện "Chừ người tử tù" còn hàm chứa một ý tưởng sâu sắc: thương tiếc những tài năng bị hãm hại, khẳng định cái đẹp có một sức mạnh kì diệu không một thế lực tàn bạo nào có thể hủy diệt được. Cái đẹp của tài hoa, cái đẹp của thiên lương đã làm lung linh nhân cách kẻ sĩ Huấn Cao, để chúng ta ngưỡng mộ. Thấm thía biết bao bài học thiên lương ở đời. Sống vì thiên lương. Và chết cũng giữ trọn thiên lương. "Chữ người tử tù" là một truyện ngắn kiệt tác lung linh vẻ đẹp thiên lương.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Gợi ý
p>Năm 1940, tập truyện "Vang bóng một thời" của nhà văn Nguyễn Tuân ra đời thể hiện một bút pháp tài hoa, độc đáo, giàu màu sắc lãng mạn. Nó gồm có 12 truyện, nhân vật chính phần lớn là các nhà nho, những kẻ sĩ một thời "vang bóng". "Chữ người tử tù" là một trong những truyện ngắn đặc sắc trong tập "Vang bóng một thời".
Truyện chỉ có ba nhân vật xoay quanh chuyện xin chữ và cho chữ diễn ra trong nhà giam tử tù. Bên cạnh viên quản ngục, thầy thơ lại là nhân vật Huấn Cao – một tử tù – có khí phách hiên ngang, rất tài tử, đến chết vẫn coi trọng thiên lương – đã được nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng và miêu tả một cách tài hoa, độc đáo, đầy ấn tượng.
Huấn Cao là một kẻ sĩ dám xả thân vì đại nghĩa, dũng cảm đứng về phía nhân dân để chống lại triều đình phong kiến mục nát đương thời, trở thành "người đứng đầu bọn phản nghịch". Trong tâm hồn quản ngục thì Huấn Cao là một con người "chọc trời quấy nước" coi thường cường quyền bạo lực, "chẳng biết có ai nữa" trên đầu mình. Với thầy thơ lại thì Huấn Cao "văn võ đều có tài cả. Chà chà!". Với bọn lính thì Huấn Cao là "thủ xướng", "hắn ngạo ngược và nguy hiểm nhất trong bọn". Cách nhìn nhận ấy của ngục quan, của viên thơ lại, của bọn lính đều cho thấy Huấn Cao là một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân, tiếng tăm lừng lẫy; khi trở thành tử tù vẫn được người đời khâm phục hoặc kinh sợ! Nguyễn Tuân miêu tả chiếc gông bằng gỗ lim dài đến tám thước, nặng đến bảy tám tạ "đóng khung lấy sáu cái cổ phiến loạn", miêu tả hành động "dỗ gông" với "một trận mưa rệp" trước cửa ngục và trước mũi bọn lính, điều đó cho thấy Huấn Cao và các đồng chí của mình vô cùng hiên ngang, bất khuất, coi thường mọi nhục hình, đày dọa, trước cái chết vẫn ngẩng cao đầu! Câu nói của Huấn Cao với quản ngục cũng thể hiện một khí phách ngang tàng trước cường quyền bạo lực: "Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng tới quấy rầy ta". Chỉ bằng một vài chi tiết nghệ thuật rất chọn lọc về hành động, cử chỉ, ngôn ngữ nhân vật, một vài lời nhận xét bình phẩm, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công tinh thần "đại vô úy" của Huấn Cao. Nét vẽ chân dung của Nguyễn Tuân rất độc đáo và có thần! Xem thêm: Vẻ đẹp độc đáo đồng thời cũng là đặc sắc bao trùm bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Hãy giải thích vì sao có điều đó và phân tích bài thơ để làm sáng tỏ Huấn Cao là kẻ sĩ tài tử, tài hoa được nhiều người mến mộ "cái người mà vùng tỉnh Sơn đã khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp"… Chữ của ông Huấn là "một báu vật trẽn đời", tượng trưng cho cái đẹp, cái cao quý trong thiên hạ. Quán ngục cũng là một người có học đã "biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền". Đã từ rất lâu, "từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm". Huấn Cao là một khách tài tử, không chỉ tài hoa sáng tạo ra cái đẹp mà còn có một tâm hồn thanh cao, trong sạch, ông tự biết "chữ thì quý thật", nhưng không bao giờ "vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết bao giờ". Điều đó cho thấy, Huấn Cao đi "làm giặc" không phải "mưu bá đồ vương" mà chính là để "cứu vớt dân đen đang đói khổ"; chữ là một thứ "vật báu" nhưng ông ta không bán văn bán chữ để được phú quý giàu sang. Đúng, "tính ông vẫn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ". Huấn Cao vừa có tài vừa có cái tâm đẹp.
Là một khách tài tử, Huấn Cao coi trọng tình bạn tri âm tri kỉ, mến mộ những con người có tinh thần biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ. Ai đã từng được ông Huấn tặng chữ? "Nhất sinh" ông mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường để tặng ba người bạn thân. Và ai đã được ông Huấn Cao cho chữ? Khi chưa hiểu "lòng dạ" quản ngục thì ông Huấn nặng lời "cố ý làm ra khinh bạc đến điều". Nhưng khi qua lời thỉnh cầu viên thơ lại, ông Huấn biết quản ngục là một con người rất yêu quý cái đẹp, khao khát có "chữ" để "treo ở nhà riêng mình" thì ông đã xúc động nói: ‘Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết đem một người như thầy quán đây mà lợi có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ". Trước lúc bước ra pháp trường, Huấn Cao đã cho chữ quản ngục, đó là một nghĩa cử. Trên binh diện "phép nước”, quản ngục và tử tù là đối địch, nhưng trên lĩnh vực nghệ thuật thì hai người lại là tri âm. Khách tài tử không thể nào "phụ một tấm lòng trong thiên hạ" là vậy. Vượt qua được cái đáng sợ của "phép nước", phá tan được hàng rào vị thế hiện tại trong xã hội, Huấn Cao và quản ngục đã trở thành đồi bạn tri âm, giữa tài tử và người liên tài. Sức mạnh nghệ thuật hay ánh sáng tâm hồn kẻ sĩ đã tạo nên sự kì diệu ấy? Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của tác giả Huy Cận Cảnh cho chữ là một cành tượng "xưa nay chưa từng có" đã làm cho bức chân dung nhân vật Huấn Cao, ngục quan, thầy thơ lại trong cảnh tượng ấy, vô hình trung đã trở thành tương tri, tương thân, tâm đắc trong việc sáng tạo cái đẹp. Ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, mùi mực thơm, màu trắng của tấm lụa bạch như xua tan đi bóng tối ngục thất đầy mạng nhện, tổ rệp, phân gián, phân chuột. Ánh sáng đỏ rực của bó đuốc hay ánh sáng thiện lương làm cho hình ảnh tử tù Huấn Cao thêm ngạo nghễ, uy nghi, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, tử tù vung bút viết "những nét chữ vuông vắn rõ ràng". Thật là đĩnh đạc, đàng hoàng, sau khi "đề xong lạc khoản", Huấn Cao khen mùi mực thơm, "thở dài" đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy, nói: "… Tôi bào thực đấy, thầy quán nên tìm về nhà quê mà ở, rỗi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi". Hình ảnh quản ngục "nước mắt rỉ vào kẽ miệng" vái tử tù một vái, nghẹn ngào nói: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh" đã làm cho hình ảnh Huấn Cao trở nên kì vĩ sắp bước lên đoạn đầu đài vẫn quyết giữ vững thiên lương. Kẻ "làm giặc" không thể có cái tâm thế ấy. Huấn Cao là một anh hùng! Xem thêm: Cảm nhận về nỗi buồn chinh phụ trong đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) ‘Văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn đẻ người nông nổi thưởng thức" (Vũ Ngọc Phan). Nghệ thuật xây dựng nhân vật Huấn Cao rất đặc sắc. Hầu như không có chi tiết nghệ thuật nào thừa. Tiếng đồn đại, lai lịch, cử chi, ngôn ngữ, hành động… của nhân vật được tác giá lựa chọn rất "đắt" làm hiện lên một Huấn Cao hiên ngang bất khuất, tài tử tài hoa, quý trọng bằng hữu và trân trọng những tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ. Từ một nhân vật lịch sử trong thế kỉ XIX, gắn liền với những giai thoại, những câu đối: "Một chiếc cùm lim chân có đế – Ba vồng xích sắt bước thì vương"…, Nguyễn Tuân đã sáng tạo nên một hình tượng văn học Huấn Cao cho chữ trước lúc ra pháp trường. Văn học lãng mạn Việt Nam thời tiền chiến chỉ có một hình tượng Huấn Cao đẹp bi tráng như vậy.
Xây dựng nhân vật Huấn Cao – kẻ sĩ tài từ, anh hùng – nhà văn Nguyễn Tuân vừa biểu lộ một tấm lòng kính phục, ưu ái đặc biệt, vừa thể hiện một bút pháp tài hoa, độc đáo tuyệt vời. Ngoài việc ca ngợi một con người tài tử, bất khuất, anh hùng, truvện "Chừ người tử tù" còn hàm chứa một ý tưởng sâu sắc: thương tiếc những tài năng bị hãm hại, khẳng định cái đẹp có một sức mạnh kì diệu không một thế lực tàn bạo nào có thể hủy diệt được. Cái đẹp của tài hoa, cái đẹp của thiên lương đã làm lung linh nhân cách kẻ sĩ Huấn Cao, để chúng ta ngưỡng mộ. Thấm thía biết bao bài học thiên lương ở đời. Sống vì thiên lương. Và chết cũng giữ trọn thiên lương. "Chữ người tử tù" là một truyện ngắn kiệt tác lung linh vẻ đẹp thiên lương.
Vanmau.edu.vn
|
Liên là một cô bé chỉ mới khoảng mười một, mười hai tuổi nhưng lại có suy nghĩ chín chắn. Liên biết giúp bố mẹ trông em, trông quán tạp hoá của gia đình và biết thương cảm cho những mảnh đời nơi phố huyện.
Để phân tích nhân vật Liên, các em nên lập dàn ý trước khi làm bài. Dưới đây sẽ là dàn ý và bài văn mẫu tham khảo cho đề phân tích nhân vật Liên.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Liên
1. Mở bài
– Nhà văn Thạch Lam là một cây bút của nhóm tự lực văn đoàn.
– Tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam tuy không có cốt truyện đặc biệt nhưng nổi bật lên là cảm xúc của nhân vật Liên.
– Nhân vật Liên là một đứa trẻ nhưng có suy nghĩ chín chắn như người lớn.
2. Thân bài phân tích nhân vật Liên
Liên là một cô bé nghèo và đáng thương
– Liên từng sống với gia đình của mình ở Hà Nội.
– Cha mất việc, gia đình Liên phải chuyển về sống nơi phố huyện nghèo, tương lai mù mịt.
– Tối nào hai chị em Liên cũng phải ngồi trông quán đến tối mịt.
Liên có trái tim nhạy cảm và giàu tình yêu thương
– Liên có một tâm hồn đón nhận thiên nhiên:
+ Cô bé lắng nghe từng tiếng động của phố huyện.
+ Từng màu sắc và đường nét được Liên quan sát.
– Hoàng hôn nơi phố huyện mang một vẻ tiêu điều khiến cho lòng người thêm buồn. Dù vậy, Liên vẫn tha thiết gắn bó với mảnh đất này.Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”
– Liên có trái tim nhân hậu, biết yêu thương con người.
+ Liên xót xa cho cuộc sống của những người dân phố huyện.
+ Chia sẻ với người dân phố huyện về cuộc sống tù đọng.
+ Đồng cảm với những người nghèo khó.
– Liên dành cho em trai mình một tình thương yêu đặc biệt.
+ Liên luôn lắng nghe em để trả lời tất cả các câu hỏi.
+ Liên thay cha mẹ chăm sóc cho em.
Liên có tâm hồn khoẻ khoắn biết hướng đến tương lai
– Hàng ngày Liên chờ đợi chuyến tàu đêm đi qua. Chuyến tàu mang theo ước mơ của Liên.
3. Kết bài
– Nêu nhận xét của bản thân về nhân vật Liên.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật viên quản ngục trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Liên
Nhà văn Thạch Lam là một cây bút viết truyện ngắn gặt hái được nhiều thành công. Ông là một trong những tác giả thuộc nhóm Tự lực văn đoàn. Những sáng tác của Thạch Lam thường có nội dung nhẹ nhàng, chứa đựng nhiều cảm xúc. Tác phẩm Hai đứa trẻ cũng là một trong những sáng tác như vậy. Truyện nêu bật lên hình ảnh của Liên, một cố bé mười một, mười hai tuổi nhưng lại có những suy nghĩ chín chắn như một người trưởng thành.Xem thêm: Nghị luận xã hội Hãy sống trọn vẹn nhất
Trước đây, Liên có một cuộc sống khá êm đềm bên gia đình ở Hà Nội. Tuy nhiên, vì cha của Liên bị mất việc nên gia đình Liên phải chuyển về phố huyện nghèo để sinh sống. Cuộc sống ở phố huyện khác hẳn với cuộc sống ở Hà Nội. Tương lai của chị em Liên bỗng chốc trở nên mù mịt. Liên là một đứa trẻ nhưng sớm trưởng thành hơn tuổi khi giúp mẹ chăm cho em và trông coi hàng nước.
Phân tích nhân vật Liên
Mặc dù phố huyện nghèo nhưng Liên vẫn tha thiết gắn bó với nơi này. Liên cảm nhận cụ thể từng âm thanh và cả cái mùi của phố huyện. Đó là tiếng trống thu không, là tiếng ếch nhái kêu và là cái mùi ẩm mốc của một phiên chợ đã tàn. Đó là mùi quen thuộc của phố huyện. Điều đó cho thấy tâm hồn của Liên khá tinh tế. Cảnh chợ tiền tàn cùng với âm thanh và mùi vị phố huyện khiến cho không khí buổi hoàng hôn trở nên ảm đạm. Nó làm cho con người sống trong khung cảnh ấy trở nên buồn hơn. Thế nhưng dù buồn thì Liên cũng vẫn gắn bó với mảnh đất này. Chính vì gắn bó với phố huyện nên Liên cũng gắn bó hơn với những con người nơi đây. Liên đã quan sát kĩ lưỡng từng mảnh đời một và cảm thông cho những hoàn cảnh ấy. Đó là quán nước của mẹ con chị Tí. Liên thương họ vất vả từ sáng sớm đến tối mịt. Liên thương cho gia đình bác xẩm. Liên thương cho bà cụ Thi điên. Liên thương những đứa trẻ mà tuổi thơ của chúng là những ngày đi nhặt nhạnh những gì còn sót lại ở chợ. Liên thương họ, cảm thông với họ mặc dù cuộc sống của Liên cũng không khá hơn họ là bao. Bên cạnh sự yêu thương những mảnh đời nơi phố huyện, Liên còn dành một tình yêu đặc biệt cho em trai của mình. Lúc nào, Liên cũng cố gắng lắng nghe An để có thể trả lời hết những câu hỏi của em. Mặc dù cũng còn nhỏ nhưng Liên đã thay cha mẹ chăm em. Liên cùng với An trông quán tạp hoá giúp cha mẹ. Đêm nào, hai chị em cũng chờ đoàn tàu từ Hà Nội chạy qua. Đoàn tàu mang theo ánh sáng và ước mơ của hai chị em Liên. Ước mơ của Liên là mong ước về một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân mình và cho những con người nơi đây.Xem thêm: Hãy nói lên những suy tưởng của mình về thân phận những con người sống chết với biển cả mà nhà thơ Victo Huygô đã gợi lên trong hai câu thơ: "Thân dưới nước, tên chìm trong ký ức. Dòng thời gian tô thêm đậm bóng đen" (Đêm đại dương)
Nhân vật Liên dù còn nhỏ nhưng lại có nhiều phẩm chất đáng để chúng ta học hỏi. Thông qua nhân vật Liên, Thạch Lam cũng gửi đến người đọc hãy biết yêu thương và hãy biết ước mơ.
Trên đây là dàn bài và bài văn mẫu phân tích nhân vật Liên. Bài viết này hy vọng sẽ giúp các em có thêm một tài liệu tham khảo bổ ích.
Thu Thuỷ
|
Lien is a girl who is only about eleven or twelve years old but has mature thoughts. Lien knows how to help her parents take care of her younger siblings, the family's grocery store and knows how to sympathize with the lives in the district streets.
To analyze Lien's character, you should make an outline before doing the test. Below is an outline and reference sample essay for the question analyzing Lien's character.
I. Create an outline to analyze Lien's character
1. Open the lesson
– Writer Thach Lam is a writer of the self-help group Van Doan.
Although the work "Two Children" by writer Thach Lam does not have a special plot, what stands out is the emotions of the character Lien.
– The character Lien is a child but has mature thoughts like an adult.
2. The body of the essay analyzes Lien's character
Lien is a poor and pitiful girl
– Lien used to live with her family in Hanoi.
– Father lost his job, Lien's family had to move back to live in a poor district, with an uncertain future.
– Every night, Lien and her sisters have to sit and look after the restaurant until dark.
Lien has a sensitive and loving heart
– Lien has a soul that welcomes nature:
+ The girl listened to every sound of the district town.
+ Each color and line is observed by Lien.
- The sunset in the district town has a desolate look that makes people's hearts feel sadder. Even so, Lien is still passionately attached to this land. See more: Proving the proverb "If hard work sharpens iron, one day you will make money"
– Lien has a kind heart and knows how to love people.
+ Lien feels sorry for the lives of the people in the district.
+ Share with district residents about stagnant life.
+ Sympathize with the poor.
– Lien has a special love for her younger brother.
+ Lien always listens to me to answer all questions.
+ Lien took care of me on behalf of my parents.
Lien has a strong soul and knows how to look towards the future
– Every day Lien waits for the night train to pass. The train carried Lien's dream.
3. Conclusion
– State your opinion about the character Lien.
Related articles
>> Analysis of the prison warden's character in Death Row Prisoner (With detailed outline)
>> Analysis of the character Chi Pheo in the short story of the same name (With detailed outline)
>> Analysis of Huan Cao's character in Death Row Prisoner (With detailed outline)
II. Lien character analysis essay
Writer Thach Lam is a successful short story writer. He is one of the authors of the Tu Luc Van Doan group. Thach Lam's compositions often have gentle content, containing many emotions. The work "Two Children" is also one such composition. The story highlights the image of Lien, an eleven or twelve year old child who has mature thoughts like an adult. See more: Social commentary Live to the fullest
Previously, Lien had a quite peaceful life with her family in Hanoi. However, because Lien's father lost his job, Lien's family had to move to a poor district to live. Life in district towns is completely different from life in Hanoi. The future of the Lien sisters suddenly became unclear. Lien was a child but soon matured beyond her years as she helped her mother take care of her younger siblings and look after the water supply.
Analyzing Lien's character
Even though the district is poor, Lien is still deeply attached to this place. Lien specifically feels every sound and smell of the district town. It was the sound of empty drums, the croaking of frogs and the musty smell of an ended market. That is the familiar smell of the district town. That shows that Lien's soul is quite delicate. The scene of the ruined market along with the sounds and smells of the district town makes the atmosphere at sunset become gloomy. It makes people living in that scene sadder. But even though sad, Lien is still attached to this land. Because of her attachment to the district town, Lien is also more attached to the people here. Lien carefully observed each piece of life and sympathized with those situations. That's the restaurant owned by Ti and her mother. Lien Thuong worked hard from early morning until late at night. Condolences to Mr. Xam's family. Lien feels sorry for the crazy old lady Thi. Lien loves the children whose childhood consisted of days of scavenging what was left at the market. Lien loves them and sympathizes with them even though Lien's life is not much better than theirs. Besides loving the lives in the district, Lien also has a special love for her younger brother. At all times, Lien tries to listen to An so she can answer all of her questions. Even though she was still young, Lien took care of her on behalf of her parents. Lien and An help their parents look after the grocery store. Every night, the two sisters waited for the train from Hanoi to pass. The train carries the light and dreams of two sisters Lien. Lien's dream is a wish for a better future for herself and for the people here. See more: Please express your thoughts about the fate of people who live and die with the sea and their families. Victo Huygo's poem evoked in two lines: "Body under water, name submerged in memory. The flow of time deepens the darkness" (Ocean Night)
Although the character Lien is young, she has many qualities worth learning from. Through the character Lien, Thach Lam also sends readers to know how to love and know how to dream.
Above is an outline and sample essay analyzing Lien's character. This article hopes to help you have a useful reference.
Thu Thuy
|
Lão Hạc là một nông dân hiền lành, nghèo khổ. Lão sống có một mình và lúc nào cũng tằn tiện để lo cho con trai. Dù lúc bị đẩy vào hoàn cảnh khốn cùng, lão vẫn giữ được phẩm chất, cốt cách của con người lương thiện.
Để giúp các em có thể làm tốt đề văn phân tích nhân vật lão Hạc, Kho tàng văn mẫu sẽ gợi ý cho các em cách lập dàn ý chi tiết và bài văn mẫu của đề văn này.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật lão Hạc
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Nam Cao và tác phẩm Lão Hạc.
– Giới thiệu về nhân vật lão Hạc.
2. Thân bài phân tích nhân vật lão Hạc
Lão hạc là một người nông dân nghèo khổ và bất hạnh
– Tài sản của lão Hạc chỉ có 3 sào vườn, 1 túp lều và 1 con cho tên là Vàng.
– Vợ lão chết sớm, lão phải một mình nuôi con.
– Con trai lão bỏ đi đồn điền cao su nên lão sống lủi thủi một mình.
– Liên tiếp những tai họa ập đến đối với lão Hạc. Lão ốm hơn 2 tháng, rồi trận bão phá tan hết vườn cây cối và hoa lợi trong vườn nhà lão. Giá gạo cũng ngày một tăng cao vì làng mất mùa sợi. Không có việc làm, mất mùa, lão Hạc trở nên vô cùng túng thiếu.
– Lão bán cậu Vàng đi vì không còn tiền để nuôi cậu nữa.
– Lão Hạc ăn bả chó để tự vẫn.
Lão Hạc là một não nông chất phác, nhân hậu
– Lão yêu con, không muốn con phải khổ, không muốn tiêu vào tiền dành dụm cho con.Xem thêm: Nghị luận xã hội về kỷ luật học đường
– Lão yêu con chó Vàng nên khi phải bán chó lão cảm thấy tội lỗi, xấu hổ.
Lão Hạc sống cuộc đời nghèo khổ nhưng trong sạch
– Lão thà chết chứ không bán đi một sào.
– Lão để vườn và tiền lại cho con trai lão.
– Lão dùng bả chó để kết liễu cuộc đời.
3. Kết bài
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật lão Hạc.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật bé Thu trong Chiếc lược ngà (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài văn phân tích nhân vật lão Hạc
Tác giả Nam Cao là một tên tuổi lớn trong văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông được đánh giá rất cao, đặc biệt là các tác phẩm viết về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Nhà văn như hiểu được nỗi khổ của người dân khi ông đi sâu vào khai thác tâm lí của nhân vật. Truyện ngắn Lão Hạc cũng được Nam viết tỉ mỉ. Nhân vật lão Hạc trong tác phẩm này đã được tác giả khắc họa rõ nét từ ngoại hình cho tới tính cách.
Lão Hạc cũng như rất nhiều người nông dân Việt Nam khác thời ấy phải sống trong cảnh nghèo đói, cơ cực, tối tăm. Nỗi khổ của lão Hạc còn ở chỗ vợ lão mất sớm. Một mình lão phải chăm lo cho cậu con trai. Đến khi con trai lão muốn lấy vợ, lão lại chẳng có tiền cho con cưới hỏi. Quẫn chí, con trai lão bỏ đi làm đồn điền cao su. Đã bước chân vào ấy thì chẳng biết đến khi nào mới có thể trở về. Lão sống còm cõi và đơn độc trong căn lều nhỏ. Tài sản duy nhất chỉ là 1 mảnh vườn nhỏ với con chó Vàng do con trai lão mua để đến khi lấy vợ sẽ làm thịt.Xem thêm: Giải thích bài ca dao “Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư”
Phân tích nhân vật lão Hạc
Con trai lão đi rồi, lão coi cậu Vàng như con mình. Lão chăm cậu Vàng cẩn thận, chẳng bao giờ để cậu phải đói. Gia cảnh lão nghèo khó như vậy nhưng lão vẫn dành riêng cho cậu một cái bát ăn. Thi thoảng, lão trò chuyện với cậu Vàng như trò chuyện với một con người. Nhưng cuộc đời lão Vàng chịu nhiều cực khổ quá. Lão bị ốm một trận lên tới 2 tháng 18 ngày. Vậy là tiền bạc trong nhà lão dành ra để mua thuốc chạy chữa. Không những vậy, trận bão lại phá tan cả mùa màng, vườn tược. Tiền trong nhà cạn dần lại chẳng kiếm thêm được đồng nào nên lão cũng không còn gì cho cậu Vàng ăn cả. Tình thương của lão dành cho cậu Vàng thì ai cũng biết nhưng rồi lão vẫn buộc lòng phải bán cậu Vàng đi cho người ta làm thịt ăn. Cái giây phút ấy với lão là một sự đau đớn. Cái ánh mắt con chó Vàng nhìn lão, lão nghĩ nó đang hận lão vì đã lừa dối nó. Cứ nghĩ đến giây phút ấy là lão lại thấy xấu hổ vì bản thân mình.
Số tiền ít ỏi còn lại trong nhà, lão để dành cho con trai của mình. Mảnh vườn nhỏ lão cũng để lại cho con chứ quyết không bán. Có thể thấy, lão Hạc là người cha giàu tình thương. Lão ăn củ khoai rồi củ chuối cho qua ngày chứ quyết không tiêu vào số tiền đã để cho con. Rồi đến cái ngày chẳng còn gì có thể ăn được nữa, lão quyết tự vẫn chứ không bán rẻ nhân phẩm của mình cho quỷ dữ. Nếu như Chí Phèo bị xã hội làm cho tha hóa thì lão Hạc không như vậy. Lão đi xin Binh Tư ít bả chó khiến Binh Tư tưởng đâu lão cũng như mình, cũng trở thành kẻ trộm chó khi cùng đường. Nhưng Binh Tư đã nhầm, lão xin bả chó cho chính lão. Lão muốn kết thúc cuộc đời bằng bả chó. Nói ra thì nghe đau đớn và chua xót nhưng quả thực cuộc đời của lão có sung sướng gì hơn số phận một con chó đâu.Xem thêm: Lớp em tổ chức thảo luận với chủ đề “Nhà văn mà tôi hâm mộ”. Em hãy viết bài văn ngắn giới thiệu về nhà văn mà em yêu quý
Như vậy là lão Hạc đã chết, đã sống những năm tháng đầy khổ cực nhưng vẫn giữ được nhân phẩm của mình. Lão Hạc khiến người đọc phải ngưỡng mộ và khâm phục cách sống của lão. Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn Nam Cao đã gửi gắm nhiều điều, đó là tình cha con, là cái phẩm giá của con người, là cuộc đời thống khổ của người nông dân. Tài năng của Nam Cao xứng đáng được ca ngợi và được người đời sau nhắc tới.
Qua bài dàn ý và bài làm phân tích nhân vật lão Hạc trên đây, Kho tàng văn mẫu hy vọng các em đã hiểu thêm về nhân vật này và có cái nhìn tổng quan nhất về nhân vật.
Thu Thủy
|
Old Hac was a gentle, poor farmer. He lived alone and was always frugal to take care of his son. Even when pushed into miserable circumstances, he still maintained the qualities and personality of an honest person.
To help you do well in your essay analyzing the character of Old Hac, Sample Literature Treasury will suggest you how to create a detailed outline and sample essay for this essay.
I. Create an outline to analyze the character of Mr. Hac
1. Open the lesson
– Introduction to writer Nam Cao and his work Lao Hac.
– Introducing the character Old Hac.
2. The body of the essay analyzes the character of Mr. Hac
The old crane was a poor and unhappy farmer
- Old Hac's assets are only 3 acres of garden, 1 hut and 1 dog named Vang.
– His wife died early, so he had to raise the children alone.
– His son left the rubber plantation so he lived alone.
– A series of disasters befell Mr. Hac. He was sick for more than 2 months, then the storm destroyed all the trees and flowers in his garden. Rice prices are also increasing day by day because the village has lost its fiber crop. Without a job, with poor harvests, Mr. Hac became extremely needy.
– He sold Mr. Vang because he had no more money to feed him.
– Old Hac ate dog bait to commit suicide.
Old Hac is a simple and kind-hearted peasant
– I love you, don't want you to suffer, don't want to spend the money I saved for you. See more: Social commentary on school discipline
– He loved the Golden Dog, so when he had to sell the dog, he felt guilty and ashamed.
Old Hac lived a poor but pure life
– He would rather die than sell a single pole.
– He left the garden and money to his son.
– He used dog bait to end his life.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character of Mr. Hac.
Related articles
>> Analysis of Mr. Sau's character in The Ivory Comb (With detailed outline)
>> Analysis of Thu's character in The Ivory Comb (With detailed outline)
>> Analysis of the young man's character in Quiet Sa Pa (With detailed outline)
II. The article analyzes the character of Old Hac
Author Nam Cao is a big name in Vietnamese literature. His works are highly appreciated, especially the works about farmers before the August Revolution. The writer seemed to understand the suffering of the people when he delved into the psychology of the characters. The short story Lao Hac was also meticulously written by Nam. The character of Old Hac in this work has been clearly portrayed by the author from appearance to personality.
Old Hac, like many other Vietnamese farmers at that time, had to live in poverty, destitution, and darkness. Old Hac's suffering also lies in the fact that his wife passed away early. He alone had to take care of his son. When his son wanted to get married, he had no money for his son's wedding. Distraught, his son left to work on a rubber plantation. Once you step foot there, you don't know when you'll be able to return. He lived a meager and lonely life in a small tent. The only asset is just a small garden with a Golden dog bought by his son so that when he gets married, he will slaughter it. See more: Explanation of the folk song "Fish do not eat salt, rotten fish, I will force my parents a hundred ways." bad child"
Analyze the character of Old Hac
After his son left, he considered Mr. Vang as his own son. He took care of Vang carefully, never letting him go hungry. His family was so poor, but he still gave him a bowl to eat. Occasionally, he talked to Mr. Vang like he was talking to a human being. But Mr. Vang's life was filled with many hardships. He was sick for 2 months and 18 days. So the money in his family was spent to buy medicine for treatment. Not only that, the storm destroyed crops and gardens. The family's money was running out and he couldn't earn any more money, so he had nothing left for Mr. Vang to eat. Everyone knows his love for Mr. Vang, but he was still forced to sell Mr. Vang for people to eat. That moment for him was painful. The way the Golden Dog looked at him made him think he hated him for deceiving him. Every time he thought about that moment, he felt ashamed of himself.
The little money left in the house, he saved for his son. He also left the small garden to his children but decided not to sell it. It can be seen that Mr. Hac is a loving father. He ate potatoes and bananas to get through the day but decided not to spend the money he had left for his children. Then the day came when there was nothing left to eat, so he decided to commit suicide rather than sell his dignity to the devil. If Chi Pheo was corrupted by society, old Hac was not like that. He went to ask Binh Tu for some dog bait, which made Binh Tu, like him, also become a dog thief in the end. But Binh Tu was wrong, he asked for the dog bait for himself. He wanted to end his life with dog bait. Saying it out loud sounds painful and bitter, but in reality his life is no happier than the fate of a dog. See more: My class organized a discussion with the topic "Writers I admire". Write a short essay introducing the writer you love
So old Hac died, having lived many years of hardship but still retaining his dignity. Old Hac makes readers admire and admire his way of life. Through the character of old Hac, writer Nam Cao conveyed many things, including father-son love, human dignity, and the miserable life of a farmer. Nam Cao's talent deserves to be praised and mentioned by future generations.
Through the outline and character analysis exercise above, Old Hac's character library hopes that you will understand more about this character and have the most general view of the character.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, từ đó rút ra ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm
Gợi ý
Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật lão Hạc – dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.
Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn. Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ốm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi con chó Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bền, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,…
Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử…! Cái chết của lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên… Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của con chó Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.Xem thêm: Tả con lạc đà Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không. Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.
Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,… ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng. Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là con chó khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,… là bởi con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.
Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!Xem thêm: Tả giá sách của em
Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Cao,…) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch” khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng. Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “"con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn đi. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!
Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người – kể cả với con chó Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng.
Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, đặng khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!
Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.Xem thêm: Đóng vai người hàng xóm của anh có "áo mới" em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Lợn cưới, áo mới" và rút ra bài học cho mình Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc.
Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.
Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.
Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiêm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!
Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dận Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, từ đó rút ra ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm
Gợi ý
Nam Cao là một nhà văn lớn của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông vẫn cảm nhận được những vẻ đẹp cao quý trong tâm hồn của họ trước bờ vực của cái đói, cái nghèo. Truyện ngắn “Lão Hạc” của nhà văn là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật lão Hạc – dù có một hoàn cảnh bất hạnh, đau đớn nhưng lão vẫn giữ được tình yêu thương đối với những người thân yêu và đặc biệt là một lòng tự trọng cao cả. Qua nhân vật này, nhà văn đã thể hiện tư tưởng nhân đạo tiến bộ và sâu sắc.
Lão Hạc cũng như bao người nông dân Việt Nam khác phải đối mặt với cái nghèo, cái đói của cuộc sống cơ cực, tăm tối trước Cách mạng. Nhưng lão còn có những hoàn cảnh riêng vô cùng bất hạnh. Vợ lão chết sớm. Con trai lão phẫn chí vì nghèo không lấy được người mình yêu nên bỏ đi đồn điền cao su. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con để làm bạn. Vậy là cùng một lúc lão phải đối mặt với bao đau khổ: cái đói, sự cô đơn và tuổi già với ốm đau, bệnh tật. Rồi cuộc đời cực khổ, dồn lão đến mức hết đường sinh sống. Lão phải dứt ruột bán đi con chó Vàng mà lão yêu thương nhất. Lão bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bền, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”,…
Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Rồi điều gì đến sẽ phải đến. Không còn đường sinh sống, lão Hạc chỉ còn đường chết. Và đó là một cái chết thật đau đớn, thật tủi nhục: chết “nhờ” ăn bả chó tự tử…! Cái chết của lão dữ dội vô cùng: lão sùi bọt mép, lão co giật phải hai người đàn ông lực lưỡng đè lên… Cái chết ấy khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của con chó Vàng để rồi rùng mình nhận ra rằng cái chết của lão đâu khác gì cái chết của một con chó.Xem thêm: Tả con lạc đà Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Binh Tư đã tưởng lão xin bả chó để ăn trộm. Ông giáo cũng nghi ngờ lão. Nhưng không. Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.
Lão yêu thương con rất mực. Văn học Việt Nam đã có những “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,… ngợi ca tình phụ tử. Và trong đó cũng cần nhắc đến “Lão Hạc” của Nam Cao. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng. Đừng nghĩ đơn giản rằng lão cưng chiều “cậu” Vàng vì đó là con chó khôn, chó đẹp. Điều quan trọng nhất khiến lão yêu quý con Vàng đến mức chia với nó từng cái ăn, cho nó ăn vào bát như người, rồi đến lúc nó chết lão quằn quại, đau đớn,… là bởi con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình.
Không chỉ vậy, lão thương con đến độ chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn. Vậy là lão đã nhận lấy cái chết rồi nhờ ông giáo giữ đất cho con. Chao ôi! Tình yêu thương con của lão thật cảm động biết mấy!Xem thêm: Tả giá sách của em
Yêu thương những người thân yêu ruột thịt, lão Hạc còn là một người sống đầy tự trọng trước cuộc đời nhiều cám dỗ và tội lỗi. Vào hoàn cảnh như lão, người ta đã có thể ăn trộm, ăn cắp hay thậm chí ăn bám vào người khác (như Binh Tư chẳng hạn, hay người đàn bà trong “Một bữa no” của Nam Cao,…) nhưng lão Hạc thì không. Với sự giúp đỡ của ông giáo (mà cũng có gì đâu, đó chỉ là củ khoai, củ sắn) lão “từ chối gần như hách dịch” khiến ông giáo nhiều khi cũng chạnh lòng. Binh Tư ngỡ rằng lão xin bả để ăn trộm chó “lão cũng ra phết đấy chứ chẳng vừa đâu”. Đến lượt ông giáo cũng nghi ngờ: “"con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Nhưng cuối cùng tất cả đều ngỡ ngàng, sửng sốt trước cái chết đột ngột của lão. Hay còn cách khác: lão có thể bán quách mảnh vườn đi. Nhưng lão lại nghĩ rằng đó là mảnh vườn của con lão. Và lão đã thà chết chứ không ăn của con!
Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người – kể cả với con chó Vàng tội nghiệp. Nhưng còn một chi tiết khác cũng cảm động vô cùng.
Lão đã tính toán để ngay cả khi chết đi rồi cũng không làm phiền đến mọi người: lão đã gửi ông giáo mấy chục đồng bạc, đặng khi mình nằm xuống thì nhờ ông giáo lo liệu ma chay khỏi làm phiền hàng xóm! Hỡi ôi lão Hạc!
Xây dựng nhân vật lão Hạc, Nam Cao đã sử dụng nghệ thuật khắc họa nhân vật tài tình. Điều đó được thể hiện trong đoạn văn miêu tả bộ dạng, cử chỉ của lão Hạc khi kể cho ông giáo chuyện lừa bán cậu Vàng, trong đoạn miêu tả sự vật vã đau đớn dữ dội của lão Hạc trước lúc chết. Ngôn ngữ nhà văn sử dụng trong tác phẩm sinh động, ấn tượng, giàu tính tạo hình và hết sức gợi cảm.Xem thêm: Đóng vai người hàng xóm của anh có "áo mới" em hãy kể lại truyện ngụ ngôn “Lợn cưới, áo mới" và rút ra bài học cho mình Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn đã thể hiện tinh thần nhân đạo tiến bộ sâu sắc.
Nam Cao đã đồng cảm đến tận cùng với cái nghèo, cái đói của người nông dân Việt Nam trong nạn đói 1945. Thời cuộc đã dồn họ đến đường cùng và lối thoát nhanh chóng nhất là cái chết nghiệt ngã.
Nhưng trên hết, nhà văn đã biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết của người nông dân ngay cả khi họ bước vào đường cùng. Không chỉ giàu tình yêu thương, người nông dân còn sống đầy tự trọng. Trong cái đói, tự trọng là thứ gì đó xa xỉ vô cùng. Vì miếng ăn, người ta có thể tàn nhẫn, dã man, thậm chí mất hết nhân tính. Nhưng đáng trọng thay lão Hạc, lão không chỉ giữ được tình thương tươi mát mà còn giữ được lòng tự trọng vàng đá của mình.
Và chính nhờ vẻ đẹp tươi sáng ấy của lão Hạc mà Nam Cao đã chiêm nghiệm: “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Chưa đáng buồn bởi còn có những con người cao quý như Lão Hạc. Viết câu văn ấy, nhà văn đã bày tỏ thái độ tin tưởng đối phẩm cách tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Điều ấy đáng quý vô cùng bởi trước Cách mạng, người nông dân bị coi rẻ như cỏ rác, thậm chí có nhà văn còn nhận định người nông dân “như những con lợn không tư tưởng”. Và bởi thế, tư tưởng của Nam Cao đáng ca ngợi biết bao!
Nhân vật lão Hạc của nhà văn Nam Cao là một nhân vật có nhiều đặc điểm đáng quý, đáng trân trọng. Từ lão Hạc, người nông dận Việt Nam có quyền tự hào về tâm hồn và phẩm cách của mình. Dựng lên nhân vật này, nhà văn Nam cao đã khẳng định một quan điểm giàu tính nhân đạo sâu sắc.
Vanmau.edu.vn
|
Mị là nhân vật chính trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Mị có cuộc sống khổ cực trong những năm tháng làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Khi đi vào phân tích nhân vật Mị, chúng ta sẽ thấy rõ được những đau khổ mà Mị phải gánh chịu.
Trước khi bước vào phân tích nhân vật Mị, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn này để các em có thể làm bài văn phân tích được tốt hơn.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Mị
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
– Giới thiệu về nhân vật Mị – cô con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra.
2. Thân bài phân tích nhân vật Mị
Mị là cô gái có nhiều phẩm chất tốt đẹp
– Mị trẻ trung, xinh đẹp, có nhiều tài lẻ, được nhiều chàng trai say đắm.
– Mị đã từng có mối tình đẹp.
– Mị là người con hiếu thảo, ý thức được cuộc sống tự do, chăm chỉ làm nương ngô.
Mị là nạn nhân của những áp bức bất công
– Mị về làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, bị bóc lột sức lao động, bị đánh đập và đày đọa như sống trong địa ngục.
– Mị quen dần với hoàn cảnh và chấp nhận cuộc sống thực tại.
– Mị sống cuộc đời lầm lũi như con rùa.
Sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị
– Mị đã từng muốn tự tử bằng lá ngon vì không thể chấp nhận được cuộc sống không có tự do.
– Sức sống của Mị trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân:
+ Những thanh âm của cuộc sống ngoài kia ùa vào trong tâm trí của Mị.
+ Mị lẩm nhẩm hát, Mị như trở về với những ngày còn tự do, Mị lại khao khát yêu đương.
+ Mị khát khao tự do và ý thức được sự tồn tại của bản thân.
+ Mị bị A Sử trói nhưng tâm hồn vẫn lơ lửng theo tiếng sáo gọi bạn tình.
=> Sức sống vẫn luôn tiềm tàng trong con người Mị.
– Tâm trạng của Mị khi thấy A Phủ làm mất bò và bị trói đứng, bị đánh đập:
+ Mị dửng dưng tỏ ra không quan tâm.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
+ Mị đồng cảm và cởi chói cho A Phủ.
+ Mị chạy theo A Phủ để tìm lối thoát cho mình.
=> Mị là người mạnh mẽ, dám hành động để đạp đổ cường quyền.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Mị.
Bài viết liên quan
>> Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Mị
Nhà văn Tô Hoài sau chuyến đi thực tế ở Tây Bắc đã có cho mình rất nhiều kỉ niệm. Cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ khác, mảnh đất Tây Bắc đã để lại cho tác giả nhiều kỉ niệm sâu sắc và rồi ông đã viết tác phẩm Vợ chồng A phủ, thể hiện rõ nét cuộc sống của những con người nơi miền núi cao này. Họ có một cuộc sống khổ cực, cuộc sống bị phụ thuộc và chẳng khác nào kiếp trâu ngựa. Nổi bật lên đó chính là nhân vật Mị, một cô gái xinh đẹp nhưng lúc nào cũng lầm lũi.
Trước đây, Mị vốn là một cô gái xinh đẹp, hiền lành. Mị có một cuộc sống bình thường giống như bao người khác. Mị có nhiều tài chẳng hạn như tài thổi lá, tài thổi sáo. Mị thổi lá cũng hay như thổi sáo vậy. Chính vì thế nên Mị được nhiều chàng trai để ý. Những chàng trai theo đuổi Mị đứng chật kín cả một vách nhà. Thuở ấy, Mị cũng đã có một tình yêu đẹp. Lẽ ra, cuộc đời Mị sẽ cứ trôi qua êm đềm như vậy nếu như không có biến cố ập đến. Mị phải đi làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra bởi vì cha của Mị nợ nhà thống lí một khoản tiền lớn và không thể trả được. Mị đã từng cầu xin cha hãy để cho Mị được làm ruộng ngô để trả nợ chỉ xin cha đừng có bán Mị đi mà không thành. Cuối cùng Mị đã phải làm tròn chữ hiếu, chấp nhận cuộc sống đi làm dâu nhà giàu có mà không hề có tình yêu. Ai cũng nghĩ chuyện con gái nhà nghèo về lam dâu nhà giàu là sẽ được ăn sung mặc sướng như chuột sa chĩnh gạo. Nhưng không phải ai cũng như vậy. Mị mang tiếng làm con dâu nhưng chẳng khác nào con ở, không khác nào kẻ hầu người hạ trong gia đình thống lí.Xem thêm: Bài văn tả ông nội của em lớp 5
Phân tích nhân vật Mị
Mị chính là nạn nhân của những áp bức, bất công trong xã hội miền núi lúc bấy giờ. Những kẻ có tiền nắm trong tay cái quyền định đoạt cuộc sống của người khác. Mị từ ngày phải đi làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí thì trở nên thay đổi. Mị bị đối xử thậm chí còn không bằng được con trâu, con ngựa. Mất đi quyền tự do, bị trói, bị đánh, bị đày đọa, cuộc sống của Mị giống như đang ở nơi địa ngục của trần gian. Ở lâu trong cái khổ ấy, Mị quen dần và trở nên chai sạn với nỗi đau. Mị ngày nào cũng quay sợi, thái cỏ ngựa,… làm gì Mị cũng cúi găm mặt xuống, không nói, không cười. Mị sống buồn tủi và đơn độc như một cái bóng, một cái xác không hồn.
Mặc dù vậy, trong Mị vẫn có một sức sống tiềm tàng. Những ngày đầu mới về làm con dâu gạt nợ, nhiều lần Mị có ý định ăn lá ngón tự tử. Nhưng rồi, Mị sợ Mị chết đi thì cha Mị sẽ bị nhà thống lí bắt vạ. Vì chữ hiếu nên Mị chấp nhận cam chịu và nhẫn nhịn. Nhưng như thế không có nghĩa là Mị đánh mất đi sức sống. Trong đêm tình mùa xuân, khi nghe thấy những âm thanh của cuộc sống bên ngoài như tiếng sáo gọi bạn tình, tiếng nô đùa của những đứa trẻ đang chơi quay, sức sống trong Mị một lần nữa trỗi dậy. Mị lắng nghe được những thanh âm từ quá khứ vọng về. Mị nhớ về những ngày mà Mị còn được tự do, được các chàng trai theo đuổi. Miệng Mị lẩm nhẩm lời bài hát. Mị trở lại với thời thanh xuân tươi đẹp rực rỡ. Mị lại dấy len cái khát khao được tự do. Mị muốn chạy ra ngoài kia để được hòa mình vào cuộc sống chứ không phải ngồi nhìn nó qua cái ô cửa sổ bé bằng lòng bàn tay nữa. Mị muốn có một tình yêu thực sự cho riêng mình. Chính từ những khát khao ấy nên Mị đã vùng dậy, đôi chân Mị đã đi để giải thoát cho chính mình nhưng Mị bị A Sử chói lại. Lúc này Mị nửa say nửa tỉnh. Khi say, Mị nhớ về những ngày trong quá khứ. Khi tỉnh, Mị nhận ra cuộc sống kiếp trâu ngựa của thực tại. Bị trói, bị đánh cũng không đau bằng hiện thực cuộc sống. Sau đêm tình mùa xuân ấy, sau cái khát khao bị dập tắt ấy, Mị đã lại chấp nhận cuộc sống tàn nhẫn này, lại trở về lầm lũi như con rùa rụt cổ nơi xó nhà.Xem thêm: So sánh nghệ thuật xây dựng hai nhân vật Mị và A Phủ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
Khi Mị nhìn thấy A Phủ bị trói đứng vào cột nhà, bị đánh một cách tàn nhẫn, Mị đã cố gắng để không động lòng. Mị làm ngơ xem A Phủ như một kẻ chết đứng. Thế nhưng giọt nước mắt của A Phủ khiến Mị không ngồi yên được nữa. Mị đã cởi trói cho A Phủ, một cách để Mị chống lại cường quyền. Mị biết nếu bị phát hiện thì Mị chỉ có nước chết nhưng Mị vẫn làm, không phải vì A Phủ mà vì chính mình. Đó là lý do vì sao Mị chạy theo A Phủ. Cha không còn, không có lý do gì để Mị tiếp tục cuộc sống như địa ngục này. Và Mị đã đi theo tiếng gọi của tự do.
Mị là một cô gái đầy mạnh mẽ. Chỉ cần có cơ hội, Mị sẵn sàng đứng lên chống lại cường quyền, ác bá. Nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn ngữ chân tình của người miền núi, những câu văn có sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật linh hoạt, các nhân vật hiện lên có màu sắc, có tính cách rõ rệt. Qua đây, người đọc thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc của nhà văn và thêm cảm thông cho số phận của những con người chịu nhiều bất công. Truyện lên án xã hội phong kiến miền núi đồng thời ca ngợi sức sống tiềm tàng của con người Tây Bắc.
Như vậy là chúng ta vừa cùng nhau làm bài văn mẫu phân tích nhân vật Mị cũng như lập dàn ý phân tích nhân vật Mị. Các em hãy đọc thật kĩ bài mẫu này để chọn lọc ra những ý hay và đưa vào bài văn của mình nhé.
Thu Thủy
|
Mị là nhân vật chính trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Mị có cuộc sống khổ cực trong những năm tháng làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Khi đi vào phân tích nhân vật Mị, chúng ta sẽ thấy rõ được những đau khổ mà Mị phải gánh chịu.
Trước khi bước vào phân tích nhân vật Mị, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn này để các em có thể làm bài văn phân tích được tốt hơn.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Mị
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
– Giới thiệu về nhân vật Mị – cô con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra.
2. Thân bài phân tích nhân vật Mị
Mị là cô gái có nhiều phẩm chất tốt đẹp
– Mị trẻ trung, xinh đẹp, có nhiều tài lẻ, được nhiều chàng trai say đắm.
– Mị đã từng có mối tình đẹp.
– Mị là người con hiếu thảo, ý thức được cuộc sống tự do, chăm chỉ làm nương ngô.
Mị là nạn nhân của những áp bức bất công
– Mị về làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra, bị bóc lột sức lao động, bị đánh đập và đày đọa như sống trong địa ngục.
– Mị quen dần với hoàn cảnh và chấp nhận cuộc sống thực tại.
– Mị sống cuộc đời lầm lũi như con rùa.
Sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị
– Mị đã từng muốn tự tử bằng lá ngon vì không thể chấp nhận được cuộc sống không có tự do.
– Sức sống của Mị trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân:
+ Những thanh âm của cuộc sống ngoài kia ùa vào trong tâm trí của Mị.
+ Mị lẩm nhẩm hát, Mị như trở về với những ngày còn tự do, Mị lại khao khát yêu đương.
+ Mị khát khao tự do và ý thức được sự tồn tại của bản thân.
+ Mị bị A Sử trói nhưng tâm hồn vẫn lơ lửng theo tiếng sáo gọi bạn tình.
=> Sức sống vẫn luôn tiềm tàng trong con người Mị.
– Tâm trạng của Mị khi thấy A Phủ làm mất bò và bị trói đứng, bị đánh đập:
+ Mị dửng dưng tỏ ra không quan tâm.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
+ Mị đồng cảm và cởi chói cho A Phủ.
+ Mị chạy theo A Phủ để tìm lối thoát cho mình.
=> Mị là người mạnh mẽ, dám hành động để đạp đổ cường quyền.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Mị.
Bài viết liên quan
>> Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Mị
Nhà văn Tô Hoài sau chuyến đi thực tế ở Tây Bắc đã có cho mình rất nhiều kỉ niệm. Cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ khác, mảnh đất Tây Bắc đã để lại cho tác giả nhiều kỉ niệm sâu sắc và rồi ông đã viết tác phẩm Vợ chồng A phủ, thể hiện rõ nét cuộc sống của những con người nơi miền núi cao này. Họ có một cuộc sống khổ cực, cuộc sống bị phụ thuộc và chẳng khác nào kiếp trâu ngựa. Nổi bật lên đó chính là nhân vật Mị, một cô gái xinh đẹp nhưng lúc nào cũng lầm lũi.
Trước đây, Mị vốn là một cô gái xinh đẹp, hiền lành. Mị có một cuộc sống bình thường giống như bao người khác. Mị có nhiều tài chẳng hạn như tài thổi lá, tài thổi sáo. Mị thổi lá cũng hay như thổi sáo vậy. Chính vì thế nên Mị được nhiều chàng trai để ý. Những chàng trai theo đuổi Mị đứng chật kín cả một vách nhà. Thuở ấy, Mị cũng đã có một tình yêu đẹp. Lẽ ra, cuộc đời Mị sẽ cứ trôi qua êm đềm như vậy nếu như không có biến cố ập đến. Mị phải đi làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra bởi vì cha của Mị nợ nhà thống lí một khoản tiền lớn và không thể trả được. Mị đã từng cầu xin cha hãy để cho Mị được làm ruộng ngô để trả nợ chỉ xin cha đừng có bán Mị đi mà không thành. Cuối cùng Mị đã phải làm tròn chữ hiếu, chấp nhận cuộc sống đi làm dâu nhà giàu có mà không hề có tình yêu. Ai cũng nghĩ chuyện con gái nhà nghèo về lam dâu nhà giàu là sẽ được ăn sung mặc sướng như chuột sa chĩnh gạo. Nhưng không phải ai cũng như vậy. Mị mang tiếng làm con dâu nhưng chẳng khác nào con ở, không khác nào kẻ hầu người hạ trong gia đình thống lí.Xem thêm: Bài văn tả ông nội của em lớp 5
Phân tích nhân vật Mị
Mị chính là nạn nhân của những áp bức, bất công trong xã hội miền núi lúc bấy giờ. Những kẻ có tiền nắm trong tay cái quyền định đoạt cuộc sống của người khác. Mị từ ngày phải đi làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí thì trở nên thay đổi. Mị bị đối xử thậm chí còn không bằng được con trâu, con ngựa. Mất đi quyền tự do, bị trói, bị đánh, bị đày đọa, cuộc sống của Mị giống như đang ở nơi địa ngục của trần gian. Ở lâu trong cái khổ ấy, Mị quen dần và trở nên chai sạn với nỗi đau. Mị ngày nào cũng quay sợi, thái cỏ ngựa,… làm gì Mị cũng cúi găm mặt xuống, không nói, không cười. Mị sống buồn tủi và đơn độc như một cái bóng, một cái xác không hồn.
Mặc dù vậy, trong Mị vẫn có một sức sống tiềm tàng. Những ngày đầu mới về làm con dâu gạt nợ, nhiều lần Mị có ý định ăn lá ngón tự tử. Nhưng rồi, Mị sợ Mị chết đi thì cha Mị sẽ bị nhà thống lí bắt vạ. Vì chữ hiếu nên Mị chấp nhận cam chịu và nhẫn nhịn. Nhưng như thế không có nghĩa là Mị đánh mất đi sức sống. Trong đêm tình mùa xuân, khi nghe thấy những âm thanh của cuộc sống bên ngoài như tiếng sáo gọi bạn tình, tiếng nô đùa của những đứa trẻ đang chơi quay, sức sống trong Mị một lần nữa trỗi dậy. Mị lắng nghe được những thanh âm từ quá khứ vọng về. Mị nhớ về những ngày mà Mị còn được tự do, được các chàng trai theo đuổi. Miệng Mị lẩm nhẩm lời bài hát. Mị trở lại với thời thanh xuân tươi đẹp rực rỡ. Mị lại dấy len cái khát khao được tự do. Mị muốn chạy ra ngoài kia để được hòa mình vào cuộc sống chứ không phải ngồi nhìn nó qua cái ô cửa sổ bé bằng lòng bàn tay nữa. Mị muốn có một tình yêu thực sự cho riêng mình. Chính từ những khát khao ấy nên Mị đã vùng dậy, đôi chân Mị đã đi để giải thoát cho chính mình nhưng Mị bị A Sử chói lại. Lúc này Mị nửa say nửa tỉnh. Khi say, Mị nhớ về những ngày trong quá khứ. Khi tỉnh, Mị nhận ra cuộc sống kiếp trâu ngựa của thực tại. Bị trói, bị đánh cũng không đau bằng hiện thực cuộc sống. Sau đêm tình mùa xuân ấy, sau cái khát khao bị dập tắt ấy, Mị đã lại chấp nhận cuộc sống tàn nhẫn này, lại trở về lầm lũi như con rùa rụt cổ nơi xó nhà.Xem thêm: So sánh nghệ thuật xây dựng hai nhân vật Mị và A Phủ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
Khi Mị nhìn thấy A Phủ bị trói đứng vào cột nhà, bị đánh một cách tàn nhẫn, Mị đã cố gắng để không động lòng. Mị làm ngơ xem A Phủ như một kẻ chết đứng. Thế nhưng giọt nước mắt của A Phủ khiến Mị không ngồi yên được nữa. Mị đã cởi trói cho A Phủ, một cách để Mị chống lại cường quyền. Mị biết nếu bị phát hiện thì Mị chỉ có nước chết nhưng Mị vẫn làm, không phải vì A Phủ mà vì chính mình. Đó là lý do vì sao Mị chạy theo A Phủ. Cha không còn, không có lý do gì để Mị tiếp tục cuộc sống như địa ngục này. Và Mị đã đi theo tiếng gọi của tự do.
Mị là một cô gái đầy mạnh mẽ. Chỉ cần có cơ hội, Mị sẵn sàng đứng lên chống lại cường quyền, ác bá. Nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn ngữ chân tình của người miền núi, những câu văn có sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật linh hoạt, các nhân vật hiện lên có màu sắc, có tính cách rõ rệt. Qua đây, người đọc thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc của nhà văn và thêm cảm thông cho số phận của những con người chịu nhiều bất công. Truyện lên án xã hội phong kiến miền núi đồng thời ca ngợi sức sống tiềm tàng của con người Tây Bắc.
Như vậy là chúng ta vừa cùng nhau làm bài văn mẫu phân tích nhân vật Mị cũng như lập dàn ý phân tích nhân vật Mị. Các em hãy đọc thật kĩ bài mẫu này để chọn lọc ra những ý hay và đưa vào bài văn của mình nhé.
Thu Thủy
|
Nhân vật Mị là một cô gái hiền lành, xinh đẹp nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh khi phải đi làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Trong đêm tình mùa xuân, tâm trạng của Mị đã có những thay đổi, ý thức sống trỗi dậy và Mị đã muốn bỏ trốn.
Để phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân thì trước hết các em cần đọc kĩ tác phẩm để hiểu hoàn cảnh của Mị, đọc kĩ đoạn văn miêu tả Mị trong đêm tình mùa xuân sau đó lập dàn ý phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ.
– Giới thiệu về nhân vật Mị và tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân.
2. Thân bài
Trước đêm tình mùa xuân
– Mị bị đày đoạ và áp chế nên sống như một người vô hồn, hoàn toàn mất đi ý thức.
– Mị sống lầm lũi qua ngày nhưng không có nghĩa là mất hẳn đi sức sống. Sức sống vẫn tiềm tàng trong con người Mị và chỉ cần có cơ hội là nó sẽ bùng cháy lên mạnh mẽ.
Trong đêm tình mùa xuân
– Bối cảnh bên ngoài tác động lên tâm trạng của Mị. Mùa xuân nhiều màu sắc và rộn rã âm thanh khiến Mị muốn ra ngoài.
– Mị uống rượu đến say khướt. Trong cơn say Mị nhớ lại những ngày còn được tự do.
– Thế giới được đánh thức trong lòng Mị đối lập với cuộc sống thực tại.
– Mị có ý định giải thoát mình, giải thoát khỏi cuộc sống như ngục tù.
– Mị không thực hiện được ý định vì đã bị A Sử bắt lại.
– A Sử trói thân xác Mị nhưng tâm trí của Mị vẫn lạc ra ngoài kia. Mị dù không tự giải thoát được thân xác nhưng Mị đã giải thoát được tâm tưởng của mình.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật Tnú trong Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân
Nhà văn Tô Hoài có rất nhiều tác phẩm xuất sắc, trong số đó, tác phẩm Vợ chồng A Phủ viết sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 được đánh giá cao. Tác phẩm viết về cuộc đời, số phận của những người nông dân miền núi cao Tây Bắc sống dưới chế độ phong kiến miền núi. Nổi bật lên chính là nhân vật Mị và A Phủ.
Mị là nhân vật trung tâm trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Ở Mị hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ miền núi cao Tây Bắc nhưng cũng là nhân vật tiêu biểu cho cuộc sống khổ đau và tủi nhục. Trong suốt những trang văn miêu tả về Mị thì đoạn văn miêu tả diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân là đoạn văn miêu tả chân thực nhất, cảm động nhất. Đoạn văn đã thể hiện được sức sống tiềm tàng mãnh liệt trong con người của Mị cùng với những khát khao bỏng cháy về một tình yêu đích thực.
Phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân
Mị vốn là một cô gái xinh đẹp, nết xa, sống cùng với người cha già. Thuở ấy, Mị được nhiều chàng trai để ý. Nếu cứ theo lẽ thường, tương lai của Mị chắc chắn sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp. Thế nhưng, cha Mị nợ tiền người ta mà không trả được, Mị phải đi làm con dâu cho nhà thống lí Pá Tra để trừ nợ. Kể từ ấy, Mị phải chôn vùi tuổi xuân của mình nơi xó nhà. Mị sống trong nhà thống lí giống như sống trong địa ngục, hoàn toàn không được hưởng phúc phận của một kẻ làm dâu nhà giàu. Mị sống như một kẻ đầy tớ, làm việc như một tên nô lệ. Đó là lý do vì sao người ta lúc nào cũng thấy Mị cúi gằm mặt, không bao giờ cười, sống lầm lũi như con rùa. Tuy nhiên, những điều ấy chỉ là vẻ bên ngoài, ẩn sâu bên trong Mị vẫn là sức sống tiềm tàng mà đoạn văn miêu tả đêm tình mùa xuân đã cho thấy rõ điều đó.Xem thêm: Miêu tả hàng phượng vĩ và tiếng ve vào một ngày hè
Khung cảnh của đêm mùa xuân được tác giả lấy làm nền cho tâm trạng của Mị. Lúc này trời đất đang vào xuân, khung cảnh chứa đựng màu sắc và thanh âm rộn rã. Tục lệ ở Hồng Ngài là ăn tết sau khi vừa gặt hái xong. Năm ấy, Hồng Ngài ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng. Tất cả những âm thanh và màu sắc ngoài kia như mời gọi Mị, khiến cho tâm hồn Mị như được hồi sinh. Nó khiến cho tâm trạng của Mị có nhiều pha trộn: vui sướng và khổ đau, tủi nhục muốn chết và khát khao sống.
Khung cảnh mùa xuân và cảnh ăn Tết ồn ào trong nhà thống lí đã tác động tới Mị. Mị nhớ về quá khứ, nhớ về những ngày mà mình còn được tự do. Vậy là Mị lẩm nhẩm hát. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm câm lặng, Mị cất tiếng hát. Rồi Mị lén lấy hũ rượu ra uống từng bát. Dường như Mị đang cố gắng say để quên đi đau khổ trong thực tại của mình. Chẳng rõ vì men rượu hay vì cái gì, Mị bắt đầu ý thức về bản thân của mình. Bên tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn tình, đó là tiếng sáo của tình yêu, tiếng sáo của thanh xuân. Mị trong phút chốc đã quên đi thân phận của mình, Mị thổi lá, Mị nhớ về ngày những chàng trai đứng đầy vách nhà.Xem thêm: Bạn Trần Thảo Nguyên viết một đoạn văn nói về bạn cũ
Nỗi phẫn uất trước tình cảnh tủi nhục của mình và khát vọng tự do cháy bỏng đã thôi thúc Mị vùng bỏ trốn. Mị đã toan bỏ trón nhưng lại bị A Sử phát hiện và bắt lại. A Sử trói Mị vào cột nhưng không trói được tâm hồn của Mị. Bị A Sử trói, Mị không nói một lời nào mà âm thầm cam chịu. Nhưng ẩn sâu trong lòng Mị, Mị đang sống với những hồi ức tốt đẹp xưa kia.
Dường như, Tô Hoài đã nhập thân vào Mị khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân. Cuộc trỗi dậy của Mị tuy không thành nhưng qua đây người đọc cũng thấy được sức sống tiềm tàng trong Mị. Nó lí giải cho hành động cởi trói cho A Phủ sau này.
Mặc dù nhà văn Tô Hoài không miêu tả hành động của Mị không nhiều nhưng cũng đủ để người đọc bị cuốn hút. Từ không gian, thời gian cho đến cách kể chuyện đều dẫn dắt người đọc dõi theo tâm trạng của Mị. Nó khiến người đọc thêm xót xa cho số phận của người con gái này.
Trên đây là dàn ý và bài làm phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. Đoạn văn này thấm đẫm tính nhân văn và thể hiện được tinh thần nhân đạo của tác phẩm. Tài liệu này hy vọng đã giúp các em hiểu hơn được về đoạn văn này.
Thu Thuỷ
|
The character Mi is a gentle and beautiful girl, but her life is full of misfortunes when she has to work as a daughter-in-law to clear debts for the governor Pa Tra. On the night of spring love, My mood changed, my sense of life arose and I wanted to run away.
To analyze the character Mi on a spring night of love, you first need to read the work carefully to understand Mi's situation, carefully read the passage describing Mi on a spring love night, then create an outline to analyze the character of Mi. in the night of spring love.
I. Create an outline to analyze the character Mi in the spring love night
1. Open the lesson
– Introducing writer To Hoai and his work A Phu and His Wife.
– Introducing the character Mi and her mood on the spring love night.
2. Body of the article
Before the spring love night
– I was exiled and oppressed, so I lived like a soulless person, completely losing my consciousness.
– I live a miserable life day by day, but that doesn't mean I've completely lost my vitality. Life is still hidden within Mi and as long as there is a chance, it will burn out strongly.
In the night of spring love
– The external context affects Mi's mood. Spring is colorful and bustling with sounds, making me want to go out.
– I drank until I got drunk. In a drunken state, I remembered the days when I was still free.
– The world awakened in Mi's heart is the opposite of real life.
– I intend to free myself, from a life like a prison.
– I couldn't carry out my plan because I was caught by A Su.
– A Su tied My body but My mind was still lost out there. Even though I couldn't free my body, I was able to free my mind. See more: Your feelings about the mood of the lyrical character in the poem The Singing of the Ship by Che Lan Vien
3. Conclusion
– Describe your feelings about Mi's mood during the spring love night.
Related articles
>> Analysis of the character Tnú in Snake Forest (With detailed outline)
>> Analysis of the character Mi in A Phu Couple (With detailed outline)
>> Analysis of the work The Da River Boatman by Nguyen Tuan (With detailed outline)
II. The article analyzes the character Mi in the spring love night
Writer To Hoai has many excellent works, among them, the work A Phu and his wife written after the August Revolution in 1945 is highly appreciated. The work is written about the life and fate of farmers in the Northwest highlands living under mountain feudalism. The main characters that stand out are Mi and A Phu.
Mi is the central character in the work A Phu and his wife. Mi brings together all the good qualities of women in the Northwest highlands, but is also a representative character for a life of suffering and humiliation. Among the pages describing Mi, the paragraph describing the evolution of Mi's mood during the spring love night is the most realistic and touching description. The passage shows the strong potential vitality in Mi's personality along with her burning desire for true love.
Analyze the character Mi in the spring love night
Mi was originally a beautiful, distant girl who lived with her old father. At that time, Mi was noticed by many boys. If I follow common sense, my future will definitely bring many good things. However, My father owed money to someone and could not pay it back, so I had to become a daughter-in-law for the governor of Pa Tra to pay off the debt. Since then, Mi had to bury her youth in a corner of the house. Living in the governor's house is like living in hell, completely deprived of the blessings of being the daughter-in-law of a rich family. I live like a servant, work like a slave. That's why people always see Mi with her head down, never smiling, living like a turtle. However, those things are just appearances, hidden deep inside Mi is still the potential vitality that the passage describing the spring love night clearly shows. See more: Description of the row of poincianas and the sound of cicadas on a summer day
The scene of the spring night was taken by the author as the background for Mi's mood. At this time, the sky and earth are in spring, the scene contains bustling colors and sounds. The custom in Hong Ngai is to celebrate Tet after harvesting. That year, Hong Ngai celebrated Tet while the wind blew the green grass. All the sounds and colors out there seem to invite me, making my soul feel revived. It made Mi's mood mixed: joy and suffering, shame and desire to die and desire to live.
The spring scene and the noisy Tet celebration in the governor's house had an impact on Mi. I remember the past, I remember the days when I was still free. So I mumbled and sang. For the first time after many years of silence, Mi sang. Then Mi secretly took out the jar of wine and drank each bowl. It seems like Mi is trying to get drunk to forget the suffering in her reality. Not sure if it was because of the alcohol or what, Mi started to become aware of herself. In My ears, the sound of a flute calling for a partner is heard, it is the flute sound of love, the flute sound of youth. For a moment I forgot my identity, I blew leaves, I remembered the day when the boys stood on the walls of the house. See more: Tran Thao Nguyen wrote a paragraph about an old friend
Anger at her humiliating situation and a burning desire for freedom prompted Mi to flee. I tried to run away but was discovered and captured by A Su. A Su tied Mi to the post but could not tie her soul. Being tied up by A Su, Mi did not say a word but silently resigned. But hidden deep in my heart, I am living with good memories of the past.
It seems that To Hoai has reincarnated into Mi when describing the evolution of Mi's mood and actions during the spring love night. Although Mi's rise was unsuccessful, readers can see the potential vitality in Mi. It explains the later action of untying A Phu.
Although writer To Hoai does not describe Mi's actions much, it is enough to keep the reader fascinated. From space, time to storytelling, all lead readers to follow Mi's mood. It makes the reader feel more sorry for this girl's fate.
Above is the outline and analysis of the character Mi in the spring love night. This passage is imbued with humanity and shows the humane spirit of the work. This document hopes to help you better understand this passage.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật mụ vợ trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Puskin
Gợi ý
Ông lão đánh cá và con cá vàng của Pus-kin là một truyện cổ tích nổi tiếng của nước Nga và của thế giới. Đọc truyện, người đọc thấy yêu mến cá vàng, thương xót ông lão và vô cùng bất bình, căm giận mụ vợ. Có thể nói, nhân vật mụ vợ xứng đáng với sự chê trách của người đọc bởi mụ là một người tham lam và bội bạc.
Mụ ta trước hết là người hết sức tham lam. Chồng mù vì thương xót cá vàng nên đã rộng lượng tha cho cá. Cảm tấm lòng ông lão, cá ban cho ông những điều ước. Như vậy là mụ vợ hoàn toàn khôrg có công lao gì với cá. Mặc dù vậy, mụ đã liên tục đưa ra đòi hỏi, từ những đòi hỏi về vật chất ít giá trị: cái máng lợn, cái nhà; cho đến những đòi hỏi lớn về cả của cải và danh vọng: lâu đài, nhất phẩm phu nhân. Không thỏa mãn với của cải và danh vọng, mụ đòi hỏi đến quyền lực tối cao: nữ hoàng. Lòng tham của mụ đi đến tột cùng khi mụ đòi được làm Long Vương, bắt cá vàng hầu hạ bên cạnh. Đó là một đòi hỏi quá đáng, vượt qua mọi giới hạn có thể chấp nhận trong đạo lí làm người.Xem thêm: Hãy kể lại truyện "Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng" bằng lời văn của em và nêu lên những suy nghĩ của mình về nhân vật chính trong câu chuyện
Không chỉ tham lam, mụ vợ ông lão còn hết sức bội bạc. Với cá vàng, là "người dưng", mụ xử sự như vậy là đã vô cùng quá đáng. Vậy mà ngay cả với ông lão, người vừa là chồng vừa là ân nhân, mụ cũng đối xử không ra gì. Cùng với lòng tham vô độ, sự bội bạc của mụ càng ngày càng tăng. Khi ông lão trở về mà không đòi hỏi điều gì ở cá vàng, mụ mắng chồng là "đồ ngốc". Khi ông chỉ xin cái máng theo yêu cầu của mụ, mụ quát to, chửi chồng là "đồ ngu". Lần tiếp theo, mụ "mắng như tát nước vào mặt" chồng. Rồi lần tiếp, mụ "nổi trận lôi đình, tát vào mặt ông lão"; được làm nữ hoàng, mụ đuổi thẳng ông lão ra ngoài. Và lần cuối, sau khi đã được làm "nhất phẩm phu nhân", mụ "nổi cơn thịnh nộ, sai người đi bắt ông lão đến để ông đi tìm cá vàng, bắt nó phải chiều theo ý thích ngông cuồng của mụ.
Rõ ràng, lòng tham của mụ vợ càng tăng thì tình nghĩa vợ chồng càng suy giảm. Khi lòng tham lên đến đỉnh điểm, thậm chí mụ vợ còn muốn gạt hẳn ông lão ra ngoài để cá vàng trực tiếp hầu hạ mụ.
Kết cục, mụ đã bị cá vàng trừng trị vì cả hai tội tham lam và bội bạc, trong đó lòng tham đã làm mụ mù quáng, mất hết lương tri. Tuy nhiên, ở đây, tội bội bạc có ý nghĩa quyết định khiến lòng tham trở nên vô hạn độ và dẫn đến sự trừng trị đích đáng của cá vàng với mụ vợ.Xem thêm: Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tú Xương hay nhấtNhân vật mụ vợ ông lão đánh cá là hiện thân của sự tham lam và bội bạc tột cùng. Những kẻ như mụ phải trở lại cảnh máng lợn sứt, nhà tranh vách đất và bộ quần áo rách nát dường như vẫn còn chưa thoả đáng. Dẫu sao, kết thúc của tác phẩm đã gióng lên một lời nhắc nhở và cảnh tỉnh những ai còn đang mang trong mình những ước mơ ngông cuồng về tiền tài, danh vọng mà quên đi tình nghĩa con người.
Vanmau.edu.vn
|
Analyze the character of the wife in Pushkin's story The Old Fisherman and the Goldfish
Suggest
The old fisherman and the goldfish by Pus-kin is a famous Russian and world fairy tale. Reading the story, the reader feels love for the goldfish, pity for the old man and extreme dissatisfaction and anger at his wife. It can be said that the character of the wife deserves the reader's criticism because she is a greedy and ungrateful person.
First of all, she is extremely greedy. The blind husband felt sorry for the goldfish so he generously spared the fish. Feeling the old man's heart, the fish granted him his wishes. So the wife has absolutely no merit to the fish. Even so, she continuously made demands, from material demands of little value: a pig trough, a house; to the great demands of both wealth and fame: castles, first-class ladies. Not satisfied with wealth and fame, she demanded the ultimate power: the queen. Her greed reached its extreme when she wanted to be the Dragon King and catch goldfish to serve her. That is an excessive demand, exceeding all acceptable limits in human morality. See more: Retell the story "The best doctor is in the heart" in your own words and give your thoughts. What do you think about the main character in the story?
Not only was the old man's wife greedy, she was also extremely ungrateful. For the goldfish, as a "stranger", her behavior like that was extremely excessive. Yet even with the old man, who was both her husband and benefactor, she treated her poorly. Along with her insatiable greed, her treachery increased day by day. When the old man returned without asking for anything from the goldfish, she scolded her husband as an "idiot". When he only asked for the trough as she requested, she shouted loudly, cursing her husband as "stupid". The next time, she "scolded" her husband like a slap in the face. Then the next time, she "got angry and slapped the old man in the face"; Being queen, she kicked the old man out. And the last time, after being made "first lady", she "got angry and sent someone to arrest the old man so that he could go find the goldfish and force it to follow her extravagant whims.
Obviously, the more the wife's greed increases, the more the relationship between husband and wife declines. When greed reached its peak, the wife even wanted to push the old man out completely so that the goldfish could directly serve her.
In the end, she was punished by the goldfish for both greed and treachery, in which greed blinded her and made her lose all sense of conscience. However, here, the crime of treachery has decisive significance, causing greed to become limitless and leading to the goldfish's just punishment for the wife. See more: Analysis of the poem Loving the Wife by Tu Xuong The character of the old fisherman's wife is the embodiment of extreme greed and treachery. People like her have to return to a broken pig trough, a thatched house with mud walls, and tattered clothes that still seem unsatisfactory. Anyway, the ending of the work sounded a reminder and warning to those who still carry wild dreams of money and fame while forgetting human affection.
Vanmau.edu.vn
|
Ngô Tử Văn là nhân vật trung tâm trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ. Truyện có nội dung đặc sắc bởi có mang một chút yếu tố kì ảo. Nhân vật Ngô Tử Văn đã chứng tỏ bản lĩnh và trí tuệ của mình để chiến thắng cái xấu.
Trước khi phân tích nhân vật Ngô Tử Văn, các em nên lập dàn ý phân tích nhân vật Ngô Tử Văn để quá trình làm bài không sợ bị thiếu ý hay sót ý.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Ngô Tử Văn
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Dữ. Ông là tác giả có nhiều sáng tác thiên hướng li kì, mang màu sắc kì ảo.
– Giới thiệu về nhân vật Ngô Tử Văn.
2. Thân bài phân tích nhân vật Ngô Tử Văn
Lời giới thiệu của tác giả về Tử Văn
– Tên thật của Ngô Tử Văn là Soạn.
– Là người có tính tình nóng nảy và cương trực.
– Đây là những lời giới thiệu khá đơn giản va có tính truyền thống nhưng nó đủ để làm nổi bật lên hình ảnh của nhân vật.
Ngô Tử Văn đốt đền
– Nguyên nhân khiến Ngô Tử Văn đốt đền là vì muốn trừ ma tướng giặc để giúp cho dân được sống yên ổn.
– Hành động đốt đền của Ngô Tử Văn có mục đích rất rõ ràng.
– Ngô Tử Văn tin những hành động của mình là vì chính nghĩa.
– Qua hành động thấy được Ngô Tử Văn là người có tính cách quyết liệt và cương trực.
Ngô Tử Văn sau khi đốt đền
– Những hành động của Tử Văn sau khi đốt đền cho thấy anh là người quyết liệt và cương trực.
– Ngô Tử Văn là một nhân vật anh hùng.
3. Kết bài
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Ngô Tử Văn.
Bài viết liên quan:
Xem thêm: Nói về Nguyễn Trãi, vua Lê Thánh Tông đã mệnh danh ông là ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo. Bằng tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi, anh (chị) hãy chứng minh nhận định trên
>> Phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Ngô Tử Văn
Nguyễn Dữ là một tác giả thuộc văn học trung đại Việt Nam. Sáng tác của ông thường có xu hướng thêm vào những yếu tố kì ảo nhờ vậy mà tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn, li kì hơn. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên cũng là một trong những sáng tác như vậy. Câu chuyện đưa người đọc đến với những tình huống thú vị thông qua nhân vật Ngô Tử Văn. Đây là nhân vật chính diện, có tính cách khẳng khái và cương trực.
Mở đầu tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ đã giới thiệu về nhân vật Ngô Tử Văn theo một cách phổ thông nhất. Ngô Tử Văn được giới thiệu có tên thật là Soạn, là một người có tính tình nóng nẩy nhưng lại khá cương trực. Chính tính cách này đã lý giải cho những hành động của Ngô Tử Văn về sau. Những lời giới thiệu này mang một chút sự ngợi ca đối với nhân vật Ngô Tử Văn, góp phần định hướng người đọc về hành động của nhân vật này. Mỗi khi nghĩ đến quỷ thần, người ta thường lắc đầu sợ hãi nhưng Ngô Tử Văn thì không hề nao núng mà sẵn sàng trừ hại cho dân. Tử Văn sẵn sàng đối đầu với cái xấu, với ma quỷ mà chẳng hề tỏ ra sợ hãi. Ngược lại, Tử Văn từ đầu chí cuối luôn tỏ một thái độ ung dung, đường hoàng. Trước khi đi đốt đền tà, Tử Văn còn tắm rửa sạch sẽ sau đó khấn trời. Điều này cho thấy Tử Văn vẫn tôn trọng thế giới thần linh chứ không hề phỉ báng. Đốt đền chỉ là vì Tử Văn muốn trừ hại cho dân mà thôi. Hành động này chứng tỏ được cốt cách khảng khái của một kẻ sĩ.Xem thêm: Trẻ em lang thang cơ nhỡ với cộng đồng xã hội. (Yêu cầu lập dàn bài)
Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn
Tính cách khẳng khái và vương trực của Ngô Tử Văn thể hiện rõ thông qua thái độ của chàng với hồn ma tên tướng giặc. Khi còn sống, tướng giặc cầm đầu đám quân xâm lược nước ta, làm hại những người dân vô tội. Vậy mà đến khi chết, hắn vẫn không để cho người dân nước ta được yên. Hắn ngang nhiên quen thói ỷ mạnh hiếp yếu. Hắn chiếm nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, hắn đút lót để được các vị thần cho qua và tiếp tục tác yêu tác quái. Những kẻ như hắn rất đáng bị trừng phạt và Tử Văn chính là nhân vật anh hùng giúp dân trừ hại. Một kẻ như tên tướng giặc đúng là không thể khoan nhượng, bị đốt mất đền, hắn không những không biết sợ mà còn dùng tà phép khiến cho Ngô Tử Văn bị sốt nóng sốt rét. Tiếp đến, hắn mắng mỏ và kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Nhưng vỏ quýt dày thì có móng tay nhọn, hồn ma tên tướng giặc đã khiêu khích nhầm người bởi Tử Văn không hề tỏ ra sợ hãi chút nào. Ngược lại, Tử Văn tự tin vào hành động của mình, tỏ ra là một người có bản lĩnh và sẵn sàng xuống gặp Diêm Vương để hầu kiện.
Đối với người trần mắt thịt thì khung cảnh dưới địa phủ quả thật vô cùng đáng sợ. Nào là những con quỷ sứ hung ác nào là con sông đầy gió tanh sóng xám. Ở dưới ấy hẳn sẽ khiến người ta cảm thấy lạnh lẽo. Ngô Tử Văn khi bị lôi xuống đó, bị phán xét với thái độ lạnh lùng rồi còn bị kết tội ngang bướng nhưng Tử Văn không một chút sợ hãi. Tử Văn vẫn một mực kêu oan. Ngay cả khi đối đầu với Diêm Vương, Tử Văn cũng vẫn tỏ thái độ cương quyết và muốn được phát xét minh bạch. Tử Văn dùng lí lẽ cứng cỏi, bằng chứng cụ thể để vạch trần hồn ma tên ác nhân. Chính giọng điệu đanh thép ấy đã khiến Diêm Vương bị khuất phục và cho người đi điều tra đến cùng. Cuối cùng thì chính nghĩa đã thắng gian tà, Tử Văn đã được minh oan, được trả lại sự trong sạch. Đây cũng là một cách để khẳng định hành động của Tử Văn là đúng đắn.Xem thêm: Nghị luận về tình yêu quê hương
Thông qua hành động của mình, Ngô Tử Văn nổi bật lên là một người chính trực, khẳng khái đồng thời là người dũng cảm dám đứng lên bảo vệ công lí tới cùng. Cũng thông qua nhân vật này, Nguyễn Dữ đã khẳng định lòng tin vào chính nghĩa, tin rằng những người làm điều tốt thì sẽ luôn được chính nghĩa bảo vệ. Tác phẩm đã đề cao tinh thần đấu tranh của con người trước cái xấu.
Thông qua cuộc đời của nhân vật Ngô Tử Văn, Nguyễn Dữ đã phản ánh một xã hội bất công bị đồng tiền thao túng trong xã hội cũ. Việc đưa yếu tố kì ảo vào trong tác phẩm không chỉ giúp cho tác phẩm có màu sắc huyền ảo gây hứng thú đối với người đọc mà còn cho thấy giá trị nhân văn đó chính là người tốt sẽ luôn được giúp đỡ.
Trên đây là bài làm phân tích nhân vật Ngô Tử Văn và phần dàn ý phân tích nhân vật Ngô Tử Văn mà Kho tàng văn mẫu đã biên soạn. Chúc các em học tập tốt với bài hướng dẫn này.
Thu Thủy
|
Ngo Tu Van is the central character in The Story of the Judge of Tan Vien Temple by Nguyen Du. The story has unique content because it has a bit of a magical element. The character Ngo Tu Van proved his bravery and intelligence to defeat evil.
Before analyzing the character of Ngo Tu Van, you should create an outline to analyze the character of Ngo Tu Van so that in the writing process you will not be afraid of missing or missing ideas.
I. Create an outline to analyze the character Ngo Tu Van
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Du. He is an author with many works that tend to be thrilling and have magical colors.
– Introducing the character Ngo Tu Van.
2. The body of the essay analyzes the character Ngo Tu Van
The author's introduction to Tu Van
– Ngo Tu Van's real name is Soan.
– Is a person with a hot-tempered and straightforward personality.
– These are quite simple and traditional introductions, but they are enough to highlight the character's image.
Ngo Tu Van burned the temple
– The reason why Ngo Tu Van burned the temple was because he wanted to eliminate enemy ghosts and generals to help the people live peacefully.
– Ngo Tu Van's act of burning the temple had a very clear purpose.
– Ngo Tu Van believes his actions are for justice.
– Through his actions, it can be seen that Ngo Tu Van is a person with a fierce and upright personality.
Ngo Tu Van after burning the temple
– Tu Van's actions after burning the temple showed that he was a fierce and upright person.
– Ngo Tu Van is a heroic character.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Ngo Tu Van.
Related articles:
See more: Talking about Nguyen Trai, King Le Thanh Tong named him "Que Tao's noble heart". With Nguyen Trai's talent and personality, please prove the above statement
>> Analysis of the first 12 lines of the poem "Giving Love" from the Tale of Kieu (with a detailed outline)
>> Analysis of the poem Phu Bach Dang River by Truong Han Sieu (With detailed outline)
>> Analysis of the poem Chinh Phu Ngam by Dang Tran Con (With detailed outline)
II. The article analyzes the character Ngo Tu Van
Nguyen Du is an author of Vietnamese medieval literature. His works often tend to add magical elements, making the work more attractive and thrilling. The story of the magistrate of Tan Vien temple is also one of such works. The story brings readers to interesting situations through the character Ngo Tu Van. This is a positive character, with an assertive and upright personality.
At the beginning of the work The Story of the Judge of Tan Vien Temple, Nguyen Du introduced the character Ngo Tu Van in the most popular way. Ngo Tu Van's real name is Soan, and is a person with a hot temper but is quite upright. It is this personality that explains Ngo Tu Van's later actions. These introductions carry a bit of praise for the character Ngo Tu Van, contributing to orienting readers about this character's actions. Whenever thinking about ghosts and gods, people often shake their heads in fear, but Ngo Tu Van did not flinch and was ready to eliminate harm to the people. Tu Van is ready to confront evil and demons without showing any fear. On the contrary, Tu Van from beginning to end always showed a leisurely and dignified attitude. Before going to burn the evil temple, Tu Van took a bath and then prayed to heaven. This shows that Tu Van still respects the divine world and does not slander it. Burning the temple was only because Tu Van wanted to eliminate harm to the people. This action proves the brave character of a scholar. See more: Wandering children are lost in the social community. (Requires an outline)
Analysis of character Ngo Tu Van
Ngo Tu Van's assertive and upright personality is clearly shown through his attitude towards the enemy general's ghost. When he was alive, the enemy general led the army that invaded our country, harming innocent people. Yet until his death, he still did not leave the people of our country in peace. He is blatantly accustomed to relying on the strong to bully the weak. He took over the residence of the land god of Vietnam, he bribed the gods to let him go and continued to act mischievously. People like him deserve to be punished and Tu Van is a heroic character who helps people eliminate harm. A person like the enemy general was truly unforgiving. His temple was burned. Not only did he not know fear, but he also used evil magic to cause Ngo Tu Van to suffer from fever and malaria. Next, he scolded and sued Tu Van down to the King of Hell. But the tangerine peel is thick and has sharp nails. The enemy general's ghost provoked the wrong person because Tu Van did not show any fear. On the contrary, Tu Van is confident in his actions, appears to be a brave person and is willing to go down to meet the King of Hell to sue.
For mortals, the underworld scene is truly terrifying. These are the cruel demons and the river is full of wind and fishy gray waves. It must feel cold down there. When Ngo Tu Van was dragged down there, he was judged with a cold attitude and then accused of being stubborn, but Tu Van was not afraid at all. Tu Van still continues to complain. Even when confronting the King of Hell, Tu Van still showed a determined attitude and wanted to be judged transparently. Tu Van uses strong arguments and concrete evidence to expose the evil man's ghost. It was that strong tone that made the King of Hell subdued and sent someone to investigate until the end. In the end, justice prevailed over evil, Tu Van was vindicated and his innocence was restored. This is also a way to confirm that Tu Van's actions are correct. See more: Essay on love for the homeland
Through his actions, Ngo Tu Van stands out as a righteous and assertive person and also a brave person who dares to stand up and defend justice to the end. Also through this character, Nguyen Du affirmed his belief in justice, believing that those who do good things will always be protected by justice. The work highlights the human fighting spirit against evil.
Through the life of character Ngo Tu Van, Nguyen Du reflected an unjust society manipulated by money in the old society. Introducing fantasy elements into the work not only helps the work have a magical color that attracts readers, but also shows the humanistic value that good people will always be helped.
Above is the essay analyzing the character Ngo Tu Van and the outline for analyzing the character Ngo Tu Van that the Sample Literature Treasury has compiled. Hope you all study well with this tutorial.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn – bài văn tuyển chọn
Hướng dẫn
Ngô Tử Văn là nhân vật được miêu tả trong Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên, câu chuyện ca ngợi đức cương trực, lòng nghĩa khí và sự chiến thắng của kẻ sĩ đối với bọn gian tà, đó là hình tượng đẹp đáng ngợi ca và đáng tự hào của dân tộc.
Ngay ở đầu tác phẩm Ngô Tử Văn hiện lên là người có tính cách cương trực, khẳng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà là ko thể chịu nổi. Tính cách đó được thể hiện ở hành động đốt đền tà của chàng. Khi phát hiện ngôi đền gần làng có quỷ thần án ngự quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Đó là hành động cương quyết của kẻ sĩ trước những gì có hại với dân với nước.
Sau khi đốt đền Ngô Tử Văn đã bị hồn ma của tên tướng giặc đe dọa nhưng chàng vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lời đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc. Thái độ của chàng thể hiện một niềm tin mạnh mẽ vào chính nghĩa, sự đúng đắn trong hành động của Ngô Tử Văn.
Thái độ và khí phách đáng quý của chàng còn thể hiện khi chàng được lôi xuống địa ngục, bị kết tội, bị đày đọa nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Đứng trước Diêm vương, chàng vẫn dũng cảm đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chững không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng. Trước những lời lẽ thuyết phục của chàng, Diêm Vương đã bảo toàn được sự sống cho chàng và được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí. Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuấ, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân.Xem thêm: “Giá trị của con người... tìm chân lí”. (Lét-xinh). Từ câu nói trên, anh (chị) suy nghĩ gì về những thành công và thất bại trong hành trình kiếm tìm những giá trị cao đẹp của đời sống con người
Thông qua nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác. Câu chuyện có phần hư ảo nhưng đã tái hiện lại thế giới thực của con người, đó là nạn ăn của đút lót,tham quan dung túng che dấu cho cái ác hoành hành, công lí bị che mắt, đang tồn tại trong xã hội hiện nay.
Những lời văn súc tích trau chuốt của tác giả đã làm, nhân vật hiện lên thật đẹp, thật oai hùng. Chàng chính là đại diện của chính nghĩa của công lí cho con người trong mọi thời đại. Nhân vật Ngô Tử Văn đã làm tác phẩm mang lại giá trị sâu sắc, khẳng định niềm tin vào công lí, chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà.
Nguồn:
|
Character analysis of Ngo Tu Van – selected essay
Instruct
Ngo Tu Van is the character described in The Story of the Judge at Tan Vien Temple, the story praises the integrity, kindness and victory of the scholar over the wicked, it is a beautiful image worthy of praise. singing and proud of the nation.
Right at the beginning of the work, Ngo Tu Van appears to be a person with an upright, assertive, hot-tempered personality who finds evil unbearable. That personality is shown in his action of burning evil temples. When Tu Van discovered that a temple near the village had a demonic spirit that was harming the people, he resolutely, openly, dignifiedly, and leisurely bathed, prayed to heaven, then set fire to the temple and destroyed it. That is the resolute action of a scholar in the face of what is harmful to the people and the country.
After burning Ngo Tu Van temple, he was threatened by the ghost of the enemy general, but he remained calm, not afraid but confident, not taking the threats seriously, not even bothering to respond to the enemy general's ghost. . His attitude shows a strong belief in the justice and correctness of Ngo Tu Van's actions.
His noble attitude and courage were also shown when he was dragged to hell, convicted, and damned, but he was never afraid, never discouraged, and insisted on complaining and demanding to be judged fairly. open and transparent. Standing before the King of Hell, he still bravely fought to expose the enemy general's crimes with tough arguments, undeniable certainty, and a very strong and steady tone. With his convincing words, the King of Hell saved his life and was promoted to the position of judge of Tan Vien temple, responsible for preserving and protecting justice. Ngo Tu Van's victory was of great significance. He punished the ghosts of treacherous enemy generals, cleared up the injustice, restored the position of the land god of Vietnam, and eliminated disasters for the people. people. See more: "Human values... finding the truth". (Let-beauty). From the above statement, what do you think about the successes and failures in the journey to find the noble values of human life?
Through the character Ngo Tu Van, author Nguyen Du affirmed the belief that justice will definitely overcome evil, expressed the spirit of national pride, and revealed the determination to thoroughly fight against evil and evil. The story is somewhat fictional but recreates the real world of people, which is bribery, corruption, tolerance to cover up evil, justice being blinded, existing in society. Currently.
The author's concise and elaborate writing, the characters appear so beautiful and majestic. He is the representative of justice for people of all times. The character Ngo Tu Van created a work that brings profound value, affirming the belief in justice and that righteousness will definitely overcome evil.
Source:
|
Người đàn bà hàng chài là một người phụ nữ khắc khổ. Chị phải chịu nhiều khổ cực từ cuộc sống, nghèo đói, đông con lại bị chồng đánh đập nhưng chị vẫn luôn cam chịu. Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài sẽ giúp các em hiểu được vì sao người phụ nữ ấy lại phải cam chịu cuộc sống như vậy.
Trước khi đi vào phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài, các em cần lập dàn ý chi tiết cho đề văn này. Có như vậy bài viết mới được trôi trảy và không lo thiếu ý.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.
– Giới thiệu về nhân vật người đàn bà hàng chài.
2. Thân bài
Tên tuổi
– Người đàn bà hàng chài không có tên gọi cụ thể. Tác giả chỉ dùng cách gọi phiếm định là mụ hoặc người đàn bà hàng chài.
– Tác giả đã dành nhiều câu văn để miểu tả ngoại hình và cuộc đời của người đàn bà vô danh này.
Vóc dáng ngoại hình
– Người đàn bà có dáng vẻ thô kệch, khuôn mặt luôn mệt mỏi, không có sức sống.
– Sự nghèo khổ và nhọc nhằn thể hiện rõ thông qua ngoại hình, trang phục.
– Dáng vẻ lúng túng thể hiện sự mặc cảm và tự ti.
=> Nỗi niềm xót thương của tác giả thông qua miêu tả ngoại hình nhân vật.
Số phận đau khổ và bất hạnh
– Người đàn bà bị chồng đánh đập một cách tàn nhẫn mà vẫn nhịn nhục chịu đựng.Xem thêm: Kể tóm tắt lại một truyện ngắn mà anh chị yêu thích
– Người đàn bà mệt mỏi vì công việc, đau đớn vì chịu đòn roi và lo sợ con cái bị tổn thương => nỗi đau chồng lên nỗi đau.
Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách
– Một mực bênh chồng và đổi lỗi cho hoàn cảnh để không phải bỏ chồng.
– Người đàn bà cần người đàn ông bên cạnh nhất là những ngày mưa bão.
– Tự trách mình vì đẻ nhiều nên nghèo đói mới khiến chồng đánh.
– Chấp nhận để chồng đánh để chồng giải tỏa u uất trong lòng.
– Muốn gia đình có cả cha mẹ để con cái không phải chịu thiệt thòi => tình mẫu tử thiêng liêng.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật người đàn bà hàng chài.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài
Tác giả Nguyễn Minh Châu vẫn được biết đến là nhà văn suốt đời trăn trở về người và về nghề. Chính từ những trăn trở ấy của mình mà giọng văn của Nguyễn Minh Châu có sự chuyển biến khi chuyển từ sử thi trữ tình lãng mạn sang thế sự đời thường. Nhắc đến các sáng tác của Nguyễn Minh Châu, người đọc ấn tượng hơn cả vẫn là Chiếc thuyền ngoài xa, một tác phẩm mang đậm chất thế sự với hình ảnh nổi bật lên là người đàn bà hàng chài. Người phụ nữ này đã trải qua quá nhiều đau khổ trong cuộc đời của mình.Xem thêm: Mùa hè đến với rực rỡ hoa phượng, râm ran tiếng ve. Em hãy tả lại cảnh này và nói lên cảm tưởng của mình khi hè đến
Khác với nhân vật Nguyệt đẹp một cách hoàn mĩ của Mảnh trăng cuối rừng, người đàn bà hàng chài của Chiếc thuyền ngoài xa có vẻ ngoài thô kệch, xấu xí. Không chỉ vậy, gương mặt còn tỏ rõ sự mệt mỏi, hoàn toàn không có chút sức lực nào. Chị không được tác giả đặt cho một cái tên nào bởi có lẽ Nguyễn Minh Châu muốn chị đại diện cho nhiều phụ nữ khác ở làng chài ấy. Chị không phải cá biệt, không phải duy nhất. Chị không tên bởi chị có thể là bất cứ cái tên nào. Người phụ nữ ấy mặc một bộ quần áo bạc phếch, vá víu và ướt sũng. Nhìn vào vẻ ngoài của chị, người đọc có thể thấy được phần nào cuộc sống nghèo khổ của người đàn bà này. Cuộc đời của chị không chỉ phải trải qua sự nghèo đói mà còn chịu nhiều những nỗi đau khác. Nhưng ẩn chứa đằng sau những khổ cực ấy lại là một tâm hồn rất đáng được trân trọng.
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài
Những đêm thức trắng vì kéo lưới đã khiến cho chị luôn mang một vẻ mặt mệt mỏi. Như bình thường khi mệt mỏi con người ta thường dễ sinh cáu gắt thì chị lại không như vậy. Chị vẫn cam chịu những cơn cuồng nộ của người chồng. Chị không sợ bị chồng đánh mà chỉ sợ các con chứng kiến cảnh bạo lực gia đình thì sẽ bị tổn thương. Không chỉ là một người mẹ thương con, chị còn là một người vợ thấu hiểu cho nỗi khổ của người chồng. Nói như vậy là vì chị chấp nhận bị đánh để cho chồng được giải tỏa áp lực của cuộc sống. Cảnh lênh đênh trên thuyền khiến cuộc sống của gia đình chị bấp bênh. Rồi lại đẻ nhiều nên nghèo lại càng nghèo. Áp lực cuộc sống đè nặng lên vai người chồng. Chị hiểu điều đó nên đã luôn nhẫn nhịn. Ra tòa, lúc đầu chị còn e ngại, sợ hãi nhưng sau đó chị đã thể hiện sự bình đẳng bằng cách thay đổi cách xưng hô. Qua những lời tâm sự như rút ruột của chị, người đọc hiểu và cảm thông cho hành động của chị. Người đàn bà ấy cam chịu phần lớn còn là vì con. Chị không muốn con chị phải xa nhau, phải sống thiếu bố hoặc thiếu mẹ. Chị sợ chúng sẽ bị tổn thương. Và bản thân chị cũng cần có một người đàn ông bên cạnh. Sức đàn bà khó lòng chèo lái con thuyền những lúc bão nổi.Xem thêm: Về một câu chuyện trong cuộc sống để lại trong anh (chị) nhiều suy nghĩ.
Thông qua nhân vật người đàn bà hàng chài, chúng ta thấy được tài năng của Nguyễn Minh Châu thông qua việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Ông đã xây dựng một nhân vật chứa đựng nhiều đau khổ, là cộng hưởng của số phận nhiều người đàn bà khác. Hẳn nhiều người đã phải rơi lệ khi đọc những trang văn viết về người phụ nữ này.
Trên đây là phần dàn ý và bài làm phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài mà Kho tàng văn mẫu đã biên soạn. Nếu có góp ý cho bài viết này, các bạn, các em hãy để lại bình luận bên dưới nhé.
Thu Thủy
|
The fisherman is an austere woman. She had to endure many hardships in life, poverty, many children, and being beaten by her husband, but she always endured. Analyzing the character of the fisherman will help you understand why that woman had to endure such a life.
Before analyzing the character of the fisherman, you need to create a detailed outline for this topic. Only then will the article flow smoothly without worrying about missing ideas.
I. Create an outline to analyze the character of the fisherman
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Minh Chau and his work The boat in the distance.
– Introducing the character of the fisherman.
2. Body of the article
Name
– The fishing woman has no specific name. The author only uses the casual title of woman or fisherman.
– The author spent many sentences describing the appearance and life of this anonymous woman.
Physical appearance
– The woman has a rough appearance, her face is always tired and lifeless.
– Poverty and hardship are clearly shown through appearance and clothing.
– An awkward appearance shows guilt and low self-esteem.
=> The author's grief through describing the character's appearance.
A fate of suffering and misfortune
– The woman was brutally beaten by her husband but still patiently endured it. See more: Summarize a short story that you love
– The woman is tired from work, in pain from being beaten and afraid of hurting her children => pain on top of pain.
Spiritual beauty and personality
– Consistently defends her husband and blames the situation so she doesn't have to leave her husband.
– A woman needs a man by her side especially on stormy days.
– Blame yourself for giving birth so much that poverty makes your husband beat you.
– Accept to let your husband beat you so that your husband can relieve the sadness in his heart.
– Want the family to have both parents so that the children do not suffer disadvantages => sacred motherhood.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character of the fisherman.
Related articles
>> Analysis of the character of Mrs. Tu in The Picked Wife (With detailed outline)
>> Analysis of Trang's character in The Picked Wife (With detailed outline)
>> Analysis of the work The Boat in the Distance by Nguyen Minh Chau (With detailed outline)
II. The essay analyzes the character of the fishing woman
Author Nguyen Minh Chau is still known as a writer who has worried about people and his profession all his life. It is from these concerns that Nguyen Minh Chau's writing voice changes when moving from romantic lyrical epic to everyday life. Referring to Nguyen Minh Chau's works, the most impressive thing to readers is still The Boat in the Far Away, a work full of real life with the prominent image of a fishing woman. This woman has gone through so much suffering in her life. See more: Summer comes with brilliant poinciana flowers and the buzzing sound of cicadas. Please describe this scene and express your feelings when summer comes
Unlike the flawlessly beautiful character Nguyet of The Moon at the End of the Forest, the fisherman of The Boat in the Far Away has a rough, ugly appearance. Not only that, his face also showed fatigue, completely lacking any strength. She was not given a name by the author because perhaps Nguyen Minh Chau wanted her to represent many other women in that fishing village. You are not special, not the only one. She has no name because she could be any name. The woman was wearing faded, patched, and wet clothes. Looking at her appearance, readers can see a part of this woman's poor life. Her life not only experienced poverty but also suffered many other pains. But hidden behind those hardships is a soul worthy of respect.
Analyze the character of the fisherman
The sleepless nights pulling nets have always left her with a tired look on her face. Normally, when people are tired, they tend to get irritable, but I'm not like that. She still endured her husband's rage. She is not afraid of being beaten by her husband, but only afraid that if her children witness domestic violence, they will be hurt. Not only is she a loving mother, she is also a wife who understands her husband's suffering. Saying so is because she accepted being beaten so that her husband could relieve the pressure of life. The scene of being on a boat made her family's life unstable. Then they gave birth to many children, so the poor became even poorer. The pressure of life weighs heavily on the husband's shoulders. She understood that so she was always patient. Going to court, at first she was hesitant and afraid, but then she showed equality by changing the way she addressed herself. Through her gut-wrenching confessions, readers understand and sympathize with her actions. That woman endured it mostly for her children. She doesn't want her children to be separated from each other, to live without their father or mother. She was afraid they would get hurt. And she herself also needs a man by her side. It is difficult for a woman's strength to steer the boat during storms. See more: About a story in life that leaves you with many thoughts.
Through the character of the fisherman, we see Nguyen Minh Chau's talent through describing the character's psychological developments. He built a character filled with much suffering, a resonance of the fate of many other women. Many people must have shed tears when reading the pages about this woman.
Above is the outline and analysis of the character of the fisherman that the Treasury of Model Literature has compiled. If you have comments for this article, please leave a comment below.
Thu Thuy
|
Phùng là một nhân vật quan trọng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Đây là một nhiếp ảnh gia đi tìm cái đẹp. Qua góc nhìn của Phùng, thế giới được mở ra không đẹp đẽ như những gì mà chúng ta thường thấy.
Để giúp các em làm tốt đề phân tích nhân vật Phùng, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích nhân vật Phùng và gợi ý bài văn mẫu.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Phùng
1. Mở bài
– Nhà văn Nguyễn Minh Châu luôn không ngừng trăn trở về số phận nhân dân và trách nhiệm của người nghệ sĩ.
– Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.
– Nhân vật Phùng đã thể hiện được góc nhìn của tác giả và thể hiện được những quan niệm của tác giả.
2. Thân bài phân tích nhân vật Phùng
Một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm, say mê với cái đẹp
– Phùng say mê nghệ thuật và luôn đề cao trách nhiệm đối với công việc.
– Phùng nhạy cảm với cái đẹp.
Một tấm lòng luôn trăn trở về thân phận con người
– Ngạc nhiên tột độ trước cảnh bạo hành ở gia đình làng chài.
– Lúc đầu Phùng muốn đòi lại công lý cho người đàn bà hàng chài nhưng sau khi nghe những lời tâm sự của mụ, Phùng lại thấy day dứt trong lòng.
Là nhân vật tự ý thức
Xem thêm: Em hãy viết thư cho bạn và miêu tả nơi em ở vào một ngày mùa thu
– Ban đầu Phùng nhìn đời bằng con mắt một chiều.
– Qua số phận của người đàn bà hàng chài anh đã chấp nhận những nghịch lý ở đời.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Phùng.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Chiến trong Những đứa con trong gia đình (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Phùng
Nhà văn Nguyễn Minh Châu là một cây bút văn xuôi nổi tiếng của văn học Việt Nam. Những tác phẩm của ông thường thể hiện rõ quan điểm nhân sinh và triết lý sống sâu sắc. Một trong những sáng tác ghi được dấu ấn với người đọc đó chính là Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm này nổi bật lên hình ảnh nhân vật Phùng, một người nhiếp ảnh say mê đi tìm cái đẹp và đã phát hiện ra nhiều điều, thay đổi nhân sinh quan của chính bản thân mình.
Nhân vật Phùng là một nhiếp ảnh gia. Bối cảnh của câu chuyện xảy ra khi Phùng đi chụp ảnh cho cơ quan nơi anh đang làm việc. Với bản chất của một người lính, nhân vật Phùng hiện lên với những nét tính cách cụ thể.
Phân tích nhân vật Phùng
Điểm nổi bật đầu tiên ở nhân vật này đó chính là tâm hồn người nghệ sĩ. Anh say mê đi tìm cái đẹp, say mê chụp ảnh để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất. Chính vì vậy mà khi chụp được bức tranh về chiếc thuyền vào buổi sớm ban mai khi ánh nắng mới chỉ chiếu nhẹ xuống mặt nước, Phùng thấy nó đẹp như một bức tranh vẽ bằng mực tàu. Cảnh bình minh ấy đập vào mắt Phùng, lấn át tâm trí của Phùng và khiến cho anh không thể rời mắt. Hạnh phúc xen lẫn bối rối, trái tim của Phùng như có ai đó đang thắt lại, nghèn ngào trong một thứ cảm xúc khó có thể diễn tả được thành lời nói. Nhìn vào một khung cảnh đẹp, Phùng có cảm giác như tâm hồn của mình được thanh lọc và trở nên thanh khiết hơn. Cái đẹp quả là có sức mạnh vi diệu. Với những cảm nhận như vậy về cái đẹp, Phùng còn nhận ra rằng cái đẹp mang giá trị đạo đức. Cái đẹp không chỉ đơn thuần làm “mát mắt” mà nó còn tác động đến tâm hồn của con người.Xem thêm: Sức mạnh của tình thương yêu con người thể hiện trong các tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), “Vợ nhặt” (Kim Lân)
Cũng từ bức ảnh đẹp, Phùng nhìn thấy được cảnh tượng người chồng ra tay đánh vợ trên chiếc thuyền nhỏ. Người đàn bà có hình dáng thô kệch, khắc khổ lại bị chính chồng của mình bạo hành mà không một lời van xin hay chống trả khiến cho Phùng ngạc nhiên không thể rời mắt. Cảm thông cho số phận người đàn bà bất hạnh, Phùng muốn giúp đỡ mụ. Phùng muốn giúp mụ, muốn đòi lại công bằng cho mụ để mụ không phải chịu cảnh đòn roi như vậy nữa. Có lẽ Phùng đã nghĩ rằng cuộc đời của Mụ sẽ tốt đẹp hơn khi mà mụ không còn phải chịu cảnh bạo hành kia nữa. Nhưng Phùng một lần nữa ngỡ ngàng khi người đàn bà hàng chài không đồng ý ly hôn. Khi nghe những lời tâm sự của mụ, Phùng mới hiểu lý do vì sao người đàn bà ấy lại có hành động như vậy. Thì ra, Phùng đã nhìn mọi thứ ở 1 chiều của sự việc. Để hiểu thấu đáo câu chuyện, cần phải nhìn sự việc ở nhiều chiều khác nhau. Phùng nghẹn ngào và cảm thấy day dứt trong lòng. Qua câu chuyện về người đàn bà hàng chài, Phùng đã bắt đầu chấp nhận những nghịch lý ở trên đời. Phùng nhận ra rằng, nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, gắn liền với con người, cái đẹp như vậy mới toàn mĩ.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu thông qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện rõ nét cái nhìn của mình về cái đẹp. Ông gắn cái đẹp và cuộc sống, cái đẹp mở ra cuộc sống. Nhân vật Phùng đã giúp người đọc nhìn ra được những khóc khuất của đời người.Xem thêm: Cây xà nu và ý nghĩa biểu tượng của loài cây này (Truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)
Trên đây là phần lập dàn ý và bài văn mẫu phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa. Qua đây, chúc các em học tập môn Văn học được tốt hơn.
Thu Thủy
|
Phung is an important character in the work The Boat in the Far Away by Nguyen Minh Chau. This is a photographer in search of beauty. Through Phung's perspective, the world that opens up is not as beautiful as what we usually see.
To help you do well in analyzing Phung's character, Sample Literature Treasury will guide you in creating an outline to analyze Phung's character and suggest sample essays.
I. Create an outline to analyze Phung's character
1. Open the lesson
– Writer Nguyen Minh Chau always worries about the fate of the people and the responsibility of the artist.
– The work The boat in the distance demonstrated Nguyen Minh Chau's artistic talent.
– The character Phung expressed the author's perspective and expressed the author's concepts.
2. The body of the essay analyzes the character Phung
A sensitive artistic soul, passionate about beauty
– Phung is passionate about art and always emphasizes responsibility towards work.
– Phung is sensitive to beauty.
A heart that always worries about the human condition
– Extremely surprised by the violence in the fishing village family.
– At first, Phung wanted to seek justice for the fishing woman, but after hearing her confessions, Phung felt pain in his heart.
Is a self-aware character
See more: Write a letter to your friend and describe where you are on an autumn day
– At first, Phung looked at life with one-sided eyes.
– Through the fate of the fisherman woman, he accepted the paradoxes in life.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Phung.
Related articles:
>> Analysis of the character of the fisherman in The Boat Far Away (With detailed outline)
>> Analysis of the work The Boat in the Distance by Nguyen Minh Chau (With detailed outline)
>> Analysis of Chien's character in The Children of the Family (With detailed outline)
II. The article analyzes the character of Phung
Writer Nguyen Minh Chau is a famous prose writer of Vietnamese literature. His works often clearly express his views on life and his profound philosophy of life. One of the compositions that left an impression on readers is The Boat in the Far Away. This work highlights the image of the character Phung, a photographer who is passionate about finding beauty and has discovered many things, changing his own outlook on life.
The character Phung is a photographer. The context of the story happened when Phung went to take photos for the agency where he was working. With the nature of a soldier, the character Phung appears with specific personality traits.
Analysis of Phung's character
The first thing that stands out about this character is the artist's soul. He is passionate about finding beauty and taking photos to create the most beautiful works of art. That's why when he took a picture of the boat in the early morning when the sunlight was only lightly shining on the water surface, Phung found it as beautiful as a picture drawn with Chinese ink. That sunrise caught Phung's eyes, overwhelmed Phung's mind and made him unable to look away. Happiness mixed with confusion, Phung's heart felt like someone was tightening, choking in an emotion that was difficult to describe in words. Looking at a beautiful scene, Phung feels like his soul is purified and becomes purer. Beauty truly has magical power. With such feelings about beauty, Phung also realized that beauty has moral value. Beauty does not simply "cool the eyes" but it also affects the human soul. See more: The power of human love is shown in the works "A Phu and his wife" (To Hoai) , “The Picked Wife” (Kim Lan)
Also from the beautiful photo, Phung saw the scene of the husband beating his wife on a small boat. The woman with a rough and austere appearance was abused by her own husband without a word of begging or resistance, making Phung surprised and unable to look away. Sympathizing with the unfortunate woman's fate, Phung wanted to help her. Phung wanted to help her, wanted to get justice for her so she wouldn't have to suffer such beatings again. Perhaps Phung thought that Mu's life would be better when she no longer had to endure that violence. But Phung was once again surprised when the fishing woman did not agree to a divorce. When he heard her confession, Phung understood why the woman acted like that. It turns out, Phung saw everything from one side of things. To fully understand the story, it is necessary to look at things from many different dimensions. Phung choked and felt tormented in his heart. Through the story of the fisherman, Phung began to accept the paradoxes in life. Phung realized that art must be associated with life, associated with people, for such beauty to be perfect.
Writer Nguyen Minh Chau, through his work The Boat in the Distance, clearly expressed his view on beauty. He linked beauty and life, beauty opens life. The character Phung helps readers see the hidden tears of human life. See also: The snake plant and the symbolic meaning of this tree (Short story The Snake Forest by Nguyen Trung Thanh)
Above is the outline and sample essay analyzing the character Phung in the work The Boat in the Far Away. Through this, I hope you will study Literature better.
Thu Thuy
|
Phương Định là một cô gái có vẻ ngoài xinh đẹp, tâm hồn lại rất ngây thơ và trong sáng. Ở Phương Định hội tụ rất nhiều phẩm chất tốt đẹp mà khi phân tích nhân vật Phương Định thì các em sẽ thấy rõ điều này.
Trước khi phân tích nhân vật Phương Định các em cần lập dàn ý chi tiết cho để văn này. Dàn ý giúp các em có thể vạch ra những ý chí cần có trong bài văn phân tích của mình.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Phương Định
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Lê Minh Khuê và tác phẩm Những ngôi sao xa xôi.
– Giới thiệu về nhân vật Phương Định.
2. Thân bài phân tích nhân vật Phương Định
Trước khi đi làm nhiệm vụ
– Mặc dù là cô gái thành phố nhưng Phương Định lại rất thích mặc quân phục. Đối với cô đó là bộ đồ đẹp nhất.
– Phương Định thuộc rất nhiều bài hát hay.
– Phương Định có tâm hồn mơ mộng và hay nghĩ vẩn vơ.
Khi vào quân ngũ
– Ngày ngày Phương Định làm quen với công việc và sự căng thẳng.
– Với Phương Định mỗi ngày là một thử thách.
– Lâu dần, Phương Định thực hiện công việc một cách thuần thục.
– Bỏ qua sự an nguy của bản thân, Phương Định chỉ nghĩ đến việc có gỡ được bom hay không.
Tình cảm của cô đối với đồng đội
– Phương Định yêu thương Nho.
– Đối với chị Thao Phương Định cũng dành nhiều tình cảm quý mến và tôn trọng.
– Phương Định chăm sóc đồng đội nhiệt tình và chu đáo.
– Phương Định thích mưa và trở nên trẻ con khi gặp mưa.
– Phương Định là người sống rất tình cảm.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân Phương Định.Xem thêm: Bình luận câu nói: Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Tức cảnh Pắc Bó của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Con cò của Nguyễn Duy (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Phương Định
Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm ngợi ca thế hệ thanh niên lúc bấy giờ. Chẳng hạn như người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính hay những cô gái mở đường trong Khoảng trời hố bom,… Trong số những nhà văn thời ấy, Lê Minh Khuê cũng là một tác giả có nhiều đóng góp cho văn học. Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi đã làm nổi bật lên hình ảnh cô gái trẻ Phương Định với tâm hồn trong sáng và tính cách gan dạ.
Phương Định là một cô gái thanh niên xung phong, giống như rất nhiều cô gái khác, công việc của cô là san lấp những hố bom trên tuyến đường Trường Sơn. Đây là tuyến đường vô cùng ác liệt trong chiến tranh. Ngày ngày, cô cùng các đồng đội của mình phải đối mặt với khói bom và đất bụi. Thế nhưng, Phương Định vẫn không vì thế mà đánh mất đi sự trẻ trung và xinh đẹp của một người con gái mới lớn. Phương Định vốn là một cô gái nhạy cảm, cô cũng khá quan tâm đến ngoại hình của mình. Phương Định tự nhận thấy mình là người có ngoại hình xinh xắn với hai bím tóc dày và mềm. Vẻ đẹp dịu dàng, hiên hòa của Phương Định đã khiến không ít các anh pháo thủ và lái xe phải say đắm. Phương Định lấy đó làm niềm vui, làm nguồn động viên để tự nhủ bản thân phải nỗ lực hơn nữa để không chỉ đẹp về ngoại hình mà còn đẹp trong tâm hồn.Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn nêu cách hiểu của bản thân về nhan đề văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình của G. Mác-két
Phân tích nhân vật Phương Định
Công việc của Phương Định vô cùng gian nguy và vất vả. Cô phải làm việc trên cao điểm, phải đối diện với bom đạn và khói bụi, cái chết rình rập bất cứ lúc nào bởi vì bom có thể nổ. Cô phải đi dò tìm xem quả bom nào đã nổ, qua bom nào chưa nổ và phải tìm cách làm cho để cho nó nổ mà không nguy hại đến ai. Trong công việc này, Phương Định và những đồng đội của cô lúc nào cũng bình tĩnh, sáng suốt và giữ được một tinh thần thép. Đối với họ công việc này đã trở nên rất đỗi bình thường. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ thở phào một cách nhẹ nhõm. Tuy đã quen với việc nhưng mỗi lần đi phá bom lại là một lần đương đầu với thử thách mới. Không khí trong lúc làm nhiệm vụ bao giờ cũng đầy căng thẳng và hồi hộp. Dường như ai cũng phải nín thở chờ đợi.
Mặc dù sống ở nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau có 1 tích tắc nhưng Phương Định vẫn giữ cho mình một tâm hồn trong sáng. Phương Định lúc nào cũng tỏ ra lạc quan, yêu đời, yêu quê hương và yêu đồng đội của mình. Đối với Nho và Thao, Phương Định lúc nào cũng yêu mến và cảm phục. Cô chăm sóc cho học, thấu hiểu sở thích và tâm trạng của họ, gắn bó với họ như chị em một nhà. Đối với những người chiến sĩ cô vẫn gặp mỗi đêm trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận, cô cũng yêu mến và cảm phục tất cả.Xem thêm: Là thư kí của lớp, em hãy viết biên bản sinh hoạt lớp
Vốn sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, Phương Định đã từng có những năm tháng học sinh đầy hồn nhiên và vô tư bên bạn bè, người thân. Không gian yên tĩnh của phố phường Hà Nội lúc trước chiến tranh khiến Phương Định cảm thấy yên bình. Phương Định đã mang những kí ức của tuổi thơ ra để xoa dịu sự tàn khốc của chiến tranh. Vì vậy mà cô vẫn giữ được cho mình những nét hồn nhiên trong sáng, vẫn giữ những ước mơ về tương lai của bản thân.
Lê Minh Khuê đã khéo léo khi lựa chọn ngôi kể thứ nhất, nhờ vậy mà thế giới nội tâm của nhân vật được bộc lộ một cách cụ thể và chân thực. Phương Định như một nhân vật đại diện cho thế hệ trẻ của Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ. Họ là những người trẻ có mơ ước, có lí tưởng cao đẹp. Khi đất nước có chiến tranh, họ sẵn sàng đi lính và gan dạ trong chiến đấu. Lí tưởng của họ lúc này là làm sao giành được độc lập cho dân tộc.
Nhân vật Phương Định được yêu mến chính là vì sự gan dạ, dũng cảm và giữ được cho mình một tâm hồn trong sáng, thánh thiện. Thông qua nhân vật Phương Định, thế hệ trẻ của hôm nay cũng tự nhắn nhủ với bản thân hãy sống hết mình để thực hiện mơ ước, hãy sống chan hòa và đem yêu thương đến cho mọi người.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau làm bài văn phân tích nhân vật Phương Định và lập dàn ý chi tiết cho đề văn này. Chúc các em có những giờ học thật thú vị và bổ ích.
Thu Thủy
|
Phuong Dinh is a girl with a beautiful appearance, but her soul is very innocent and pure. In Phuong Dinh, there are many good qualities that when analyzing Phuong Dinh's character, you will see this clearly.
Before analyzing the character Phuong Dinh, you need to create a detailed outline for this essay. An outline helps you outline the ideas you need in your analytical essay.
I. Create an outline to analyze Phuong Dinh's character
1. Open the lesson
– Introducing author Le Minh Khue and his work Distant Stars.
– Introducing the character Phuong Dinh.
2. The body of the essay analyzes the character Phuong Dinh
Before going on duty
– Even though she is a city girl, Phuong Dinh loves wearing military uniforms. For her it was the most beautiful outfit.
– Phuong Dinh knows many good songs.
– Phuong Dinh has a dreamy soul and often thinks aimlessly.
When entering the army
– Phuong Dinh gets used to work and stress every day.
– For Phuong Dinh every day is a challenge.
– Over time, Phuong Dinh performed the job skillfully.
– Ignoring his own safety, Phuong Dinh only thought about whether or not he could defuse the bomb.
Her feelings towards her teammates
– Phuong Dinh loves Confucianism.
– Ms. Thao Phuong Dinh also has a lot of love and respect.
– Phuong Dinh takes care of his teammates enthusiastically and thoughtfully.
– Phuong Dinh likes rain and becomes childish when it rains.
– Phuong Dinh is a very emotional person.
3. Conclusion
– Describe your feelings about Phuong Dinh's personality. See more: Comment on the saying: The spirit of science must go hand in hand with courage
Related articles:
>> Analysis of the poem Thuy Kieu Sisters from The Tale of Kieu (With detailed outline)
>> Analysis of the poem Pac Bo Scene by Ho Chi Minh (With detailed outline)
>> Analysis of the poem Stork by Nguyen Duy (With detailed outline)
II. The article analyzes the character Phuong Dinh
During the resistance war against America to save the country, Vietnamese literature had many works praising the youth generation at that time. For example, the soldier driving in the poem about the squad of cars without windows or the girls paving the way in the sky of bomb craters, etc. Among the writers of that time, Le Minh Khue was also an author with many contributions to literature. The work Distant Stars highlights the image of young girl Phuong Dinh with a pure soul and courageous personality.
Phuong Dinh is a young volunteer girl, like many other girls, her job is to fill bomb craters on the Truong Son route. This is an extremely fierce route during the war. Every day, she and her teammates had to face bomb smoke and dust. However, Phuong Dinh still did not lose the youthfulness and beauty of a teenage girl. Phuong Dinh is inherently a sensitive girl, she is also quite concerned about her appearance. Phuong Dinh considers herself a pretty person with two thick and soft braids. Phuong Dinh's gentle and peaceful beauty has captivated many gunners and drivers. Phuong Dinh took that as joy and encouragement to remind herself to make more efforts to not only be beautiful in appearance but also beautiful in the soul. See more: Write a paragraph stating your own understanding. about the title of the text Struggle for a peaceful world by G. Marx
Character analysis of Phuong Dinh
Phuong Dinh's work is extremely dangerous and difficult. She had to work on the peak, facing bombs and dust, death lurking at any time because bombs could explode. She had to go find out which bombs had exploded, which bombs had not exploded, and find a way to make it explode without harming anyone. In this job, Phuong Dinh and her teammates are always calm, clear-headed and maintain a spirit of steel. For them, this job has become very normal. After completing their mission, they breathed a sigh of relief. Even though I'm used to the job, every time I go to destroy a bomb, I face a new challenge. The atmosphere while on duty is always full of tension and suspense. It seemed like everyone had to hold their breath and wait.
Although living in a place where life and death are only a split second apart, Phuong Dinh still maintains a pure soul. Phuong Dinh is always optimistic, loves life, loves his homeland and loves his teammates. For Nho and Thao, Phuong Dinh always loves and admires them. She takes care of her students, understands their interests and moods, and bonds with them like sisters. As for the soldiers she still meets every night on the main roads leading to the front, she also loves and admires them all. See more: As the class secretary, write minutes of class activities
Born and raised in Hanoi, Phuong Dinh had innocent and carefree student years with friends and relatives. The quiet space of Hanoi's streets before the war made Phuong Dinh feel peaceful. Phuong Dinh brought out childhood memories to ease the cruelty of war. Therefore, she still retains her innocent and pure features, still keeping her dreams about her future.
Le Minh Khue was skillful in choosing the first person narrator, thanks to which the character's inner world was revealed specifically and honestly. Phuong Dinh is a character representing the young generation of Vietnam during the resistance war against America. They are young people with dreams and noble ideals. When the country is at war, they are ready to join the army and are brave in combat. Their ideal at this time is how to win independence for the nation.
The character Phuong Dinh is loved because of her courage, bravery, and maintaining a pure and holy soul. Through the character Phuong Dinh, today's young generation also reminds themselves to live their lives to the fullest to realize their dreams, to live in harmony and to bring love to everyone.
So together we have written an essay analyzing Phuong Dinh's character and created a detailed outline for this topic. Hope you have interesting and useful lessons.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Qua nhân vật này, em có suy nghĩ gì về thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Gợi ý
Thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước bước vào thơ ca đã có nhiều chân dung quen thuộc và đáng yêu, đáng cảm phục: những chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, những cô gái mở đường trong “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mĩ Dạ,… Và Lê Minh Khuê – một nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ – cũng đóng góp một chân dung như thế cho văn học nước nhà: cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. Đó là một nữ chiến sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan cường.
Là một cô gái thanh niên xung phong có nhiệm vụ cùng đồng đội san lấp những hố bom trên tuyến đường Trường Sơn lửa đạn, ngày đêm đối mặt với đất bụi, khói bom nhưng Phương Định không hề mất đi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Chị là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình. Chị tự đánh giá: ’Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tôn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của chị đã hấp dẫn bao chàng trai: ”các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm tôi”.
Nhưng điều đặc biệt ở Phương Định là không bị ”cái nết đánh chết cái đẹp”; ngược lại, chị đã để sự dũng cảm, ngoan cường và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, giàu tình thương tôn thêm vẻ đẹp cho minh.Xem thêm: Bộ sách dịch Hạt giống tâm hồn do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành đang được giới trẻ đón nhận rất nồng nhiệt. Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về một trong những cuốn sách trong bộ sách dịch đó Phương Định cùng những người bạn của mình sông và chiến đâu trên một cao điếm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nồ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiếm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thẳng. Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải vô cùng bình tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trở thành bình thường: ”Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng có nhiều quả bom chưa nổ, nhưng nhất định sẽ nổ… Rồi khi xong việc, quay lại nhìn đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang”.
Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thể phải phá tới năm quả bom nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách tột độ với thần kinh của Phương Định. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia cũng đang theo dõi từng động tác cử chỉ của mình để lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: ’’Tôi đến gần quả bom… đàng hoàng mà bước tới”, ở bên quả bom, kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: "Thỉnh thoảng lưỡi xẻng… dấu hiệu chẳng lành”.
Sống giữa nơi sự sống và cái chết tranh giành nhau từng li một như thế nhưng Phương Định không để tâm hồn mình sắt lại, mòn đi. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời.Xem thêm: Nghị luận xã hội về Game online vấn nạn học đường
Giống như hai người đồng đội trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận. Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về. Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cảm về Nho, phát hiện ra vẻ đẹp dễ thương ”nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiểu và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao.
Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó Ịà niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.
Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: "Tôi thích nhiều bài hát, dân ca quan họ dịu dàng, dận ca trữ tình giàu có”.
"Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi để tác giả miêu tả thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình.
Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chống Mĩ. Qua nhân vật này, chúng ta hiểu hơn thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.
Bước chân lên đường đánh Mĩ, những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ, có những người vừa rời ghế nhà trường. Tâm hồn các anh, các chị trong trẻo, đầy ước mơ, khao khát và đặc biệt là giàu lí tưởng. Chính những kỉ niệm êm đẹp về gia đình như kỉ niệm về người mẹ trên căn gác nhỏ của Phương Định hay những những kỉ niệm về bàn bè, mái trường,… là hành trang.để các anh, các chị mang vào trận chiến. Sống giữa nơi đầu tên – mũi đạn họ chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ một cách ngoan cường, dùng cảm. Ai bảo không có những phút giây yếu lòng, lo lắng? Ai bảo tâm hồn họ là thép là đá? Không. Con tim họ cũng biết run lên khi tiếng súng phát nổ. Thần kinh họ cũng căng ra khi quan sát trái bom… Nhưng điều đáng quý và điều làm nên sự khác biệt ở họ là các anh các chị đã giữ được tâm hồn trong trẻo, giàu yêu thương đối với gia đình, đồng đội, đất nước. Và rồi, chính những tình cảm cao đẹp đó đã trở thành động lực để họ chiến thắng những phút giây hiểm nguy, nao núng. Các anh các chị thực sự là ”… những con người Việt Nam đẹp nhất / Biết căm thù và cũng biết yêu thương” như nhà thơ Tố Hữu từng ca ngợi. Không tiếc tuổi thanh xuân, họ hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc những gì quý giá nhất:Xem thêm: Mỗi loài hoa đều có một vẻ riêng. Em hãy chọn một loài hoa mà em thích nhất và viết bài văn miêu tả để bạn em cũng thấy rằng loài hoa ấy thật là đẹp”Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Đọc "Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, người đọc thấy khâm phục và yêu mến Phương Định trước hết bởi những nét tính cách đáng quý của cô. Nhưng không chi vậy, qua nhân vật này chúng ta còn cảm nhận được hình ành, tâm hồn thê hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ hào hùng gian khổ. Và đây cũng là thành công quan trọng nhất của tác phẩm giàu chất nhân văn này.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Qua nhân vật này, em có suy nghĩ gì về thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Gợi ý
Thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước bước vào thơ ca đã có nhiều chân dung quen thuộc và đáng yêu, đáng cảm phục: những chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, những cô gái mở đường trong “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mĩ Dạ,… Và Lê Minh Khuê – một nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ – cũng đóng góp một chân dung như thế cho văn học nước nhà: cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. Đó là một nữ chiến sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan cường.
Là một cô gái thanh niên xung phong có nhiệm vụ cùng đồng đội san lấp những hố bom trên tuyến đường Trường Sơn lửa đạn, ngày đêm đối mặt với đất bụi, khói bom nhưng Phương Định không hề mất đi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Chị là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình. Chị tự đánh giá: ’Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tôn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của chị đã hấp dẫn bao chàng trai: ”các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm tôi”.
Nhưng điều đặc biệt ở Phương Định là không bị ”cái nết đánh chết cái đẹp”; ngược lại, chị đã để sự dũng cảm, ngoan cường và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, giàu tình thương tôn thêm vẻ đẹp cho minh.Xem thêm: Bộ sách dịch Hạt giống tâm hồn do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành đang được giới trẻ đón nhận rất nồng nhiệt. Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về một trong những cuốn sách trong bộ sách dịch đó Phương Định cùng những người bạn của mình sông và chiến đâu trên một cao điếm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nồ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiếm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thẳng. Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải vô cùng bình tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trở thành bình thường: ”Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng có nhiều quả bom chưa nổ, nhưng nhất định sẽ nổ… Rồi khi xong việc, quay lại nhìn đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang”.
Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thể phải phá tới năm quả bom nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách tột độ với thần kinh của Phương Định. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia cũng đang theo dõi từng động tác cử chỉ của mình để lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: ’’Tôi đến gần quả bom… đàng hoàng mà bước tới”, ở bên quả bom, kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: "Thỉnh thoảng lưỡi xẻng… dấu hiệu chẳng lành”.
Sống giữa nơi sự sống và cái chết tranh giành nhau từng li một như thế nhưng Phương Định không để tâm hồn mình sắt lại, mòn đi. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời.Xem thêm: Nghị luận xã hội về Game online vấn nạn học đường
Giống như hai người đồng đội trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận. Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về. Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cảm về Nho, phát hiện ra vẻ đẹp dễ thương ”nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiểu và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao.
Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó Ịà niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.
Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: "Tôi thích nhiều bài hát, dân ca quan họ dịu dàng, dận ca trữ tình giàu có”.
"Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi để tác giả miêu tả thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình.
Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chống Mĩ. Qua nhân vật này, chúng ta hiểu hơn thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.
Bước chân lên đường đánh Mĩ, những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ, có những người vừa rời ghế nhà trường. Tâm hồn các anh, các chị trong trẻo, đầy ước mơ, khao khát và đặc biệt là giàu lí tưởng. Chính những kỉ niệm êm đẹp về gia đình như kỉ niệm về người mẹ trên căn gác nhỏ của Phương Định hay những những kỉ niệm về bàn bè, mái trường,… là hành trang.để các anh, các chị mang vào trận chiến. Sống giữa nơi đầu tên – mũi đạn họ chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ một cách ngoan cường, dùng cảm. Ai bảo không có những phút giây yếu lòng, lo lắng? Ai bảo tâm hồn họ là thép là đá? Không. Con tim họ cũng biết run lên khi tiếng súng phát nổ. Thần kinh họ cũng căng ra khi quan sát trái bom… Nhưng điều đáng quý và điều làm nên sự khác biệt ở họ là các anh các chị đã giữ được tâm hồn trong trẻo, giàu yêu thương đối với gia đình, đồng đội, đất nước. Và rồi, chính những tình cảm cao đẹp đó đã trở thành động lực để họ chiến thắng những phút giây hiểm nguy, nao núng. Các anh các chị thực sự là ”… những con người Việt Nam đẹp nhất / Biết căm thù và cũng biết yêu thương” như nhà thơ Tố Hữu từng ca ngợi. Không tiếc tuổi thanh xuân, họ hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc những gì quý giá nhất:Xem thêm: Mỗi loài hoa đều có một vẻ riêng. Em hãy chọn một loài hoa mà em thích nhất và viết bài văn miêu tả để bạn em cũng thấy rằng loài hoa ấy thật là đẹp”Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Đọc "Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, người đọc thấy khâm phục và yêu mến Phương Định trước hết bởi những nét tính cách đáng quý của cô. Nhưng không chi vậy, qua nhân vật này chúng ta còn cảm nhận được hình ành, tâm hồn thê hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ hào hùng gian khổ. Và đây cũng là thành công quan trọng nhất của tác phẩm giàu chất nhân văn này.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật Quan phụ mẫu tong chuyện sống chết mặc bay
Hướng dẫn
I. MỞ BÀI
– Văn xuôi quốc ngữ buổi đầu đã có sự đóng góp của Phạm Duy Tốn. Truyện ngắn ‘Sống chết mặc bay’ của ông là một trong những thành tựu đột xuất của dòng văn học hiện thực thuở sơ khai. Tác giả viết truyện ngắn này vào tháng 7/1928, được đăng tải trên báo Nam Phong số 18, tháng 12.1918.
– Truyện kể chuyện một ‘quan phụ mẫu’ ung dung ăn chơi bài bạc trong cảnh vỡ đê, nhân dân trên một vùng rộng lớn chìm đắm trong thảm họa. Tác giả đã lên án thói vô trách nhiệm, bộ mặt vô nhân đạo của bọn quan lại trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
– Tên ‘quan phụ mẫu’ được miêu tả bằng những chi tiết rất hiện thực có giá trị tố cáo sâu sắc.
II. THÂN BÀI
– Sống sang trọng xa hoa:
+ Đi hộ đê mà mang theo ống thuốc bạc, đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm… trông mà thích mắt.
+ Ăn của ngon vật lạ: yến hấp đường phèn.
– Sống nhàn nhã vương giả:
+ Trong lúc hàng trăm con người đội đất, vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy, trong mưa gió lướt thướt như chuột lột thì quan phụ mẫu ‘uy nghi, chễm chệ ngồi’ trong đình đèn thắp sáng choang.
+ Quan dựa gối xếp, có lính gãi chân, có lính quạt hầu, có tên chực hầu điếu đóm.
+ Trong lúc trăm họ ‘gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến’ ở trên đê, thì trong đình, quan ngồi trên, nha ngồi dưới,- nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh…
– Ăn chơi bài bạc, thản nhiên ung dung:
+ Đê sắp vỡ! ‘Mặc! Dân, chẳng dân thì chớ!’. Quan lớn ngài ăn, ngài đánh; người hầu, kẻ dạ, kẻ vâng!
+ Quan lớn ù thông, xơi yến, vuốt râu, rung đùi, mắt mải trông đĩa nọc.
Xem thêm: Nhân dân ta có câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Nhưng có bạn lại bảo: Gần mực thì chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng. Em hãy viết bài văn chứng minh để thuyết phục bạn ấy theo ý kiến của em– Sống chết mặc bay
+ Có người khẽ nói: ‘dễ có khi đê vỡ’, quan gắt: ‘mặc kệ!’.
+Có người nhà quê hốt hoảng chạy vào đình báo ‘đê vỡ mất rồi!’, ‘quan phụ mẫu’quát: ‘Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày!…’
+ Quan sai bọn lính đuổi người nhà quê ra khỏi đình, rồi vẫn thản nhiên đánh bài.
+ Quan vỗ tay xuống sập kêu to, tay xòe bài, miệng cười: ‘ủ! Thông tôm chi chi nẩy!… Điếu, mày!’.
– Quan sung sướng ù ván bài to khi đê đã vỡ: Cả một miền quê nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết: kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn… lênh đênh mạt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!
– Nghệ thuật tương phản đã vạch trần và lên án thói vô trách nhiệm, nhẫn tâm, vô nhân đạo của bọn quan lại, coi thường tính mạng và đời sống nhân dân, Chúng nó chỉ lo chơi bời bài bạc, ăn chơi hưởng lạc, còn nhân dân thì ‘sống chết mặc bay’.
III. KẾT BÀI
– Một lối viết ngắn, sắc sảo. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thế tương phản rất đặc sắc. Càu chuyện đầy kịch tính, thương tâm, giàu giá trị tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo.
– Xây dựng thành công nhân vật ‘quan phụ mẫu’, mệnh danh là ‘cha mẹ dân’ mà coi tính mạng của dân như rơm rác, ‘sổng chết mặc bay!’. Tên ‘quan phụ mẫu’ khá điển hình cho sự thối nát của chế độ quan trường thời Pháp thuộc.
– Đâu chỉ tên ‘quan phụ mẩu’ thối nát! Hắn là một trong hàng ngàn hàng vạn bọn quan lại ngày xưa; hắn là sản phẩm, là công cụ đắc lực của chế độ thực dân nửa phong kiến thối nát.
Nguồn: thêm: Cảm nhận về tâm trạng của người vợ với nỗi sầu chia li trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc)
|
Analyzing the characters of Guan and his parents, life and death matter
Instruct
I. OPEN LESSON
– Early national language prose had contributions from Pham Duy Ton. His short story 'Live and Die' is one of the outstanding achievements of early realistic literature. The author wrote this short story in July 1928, published in Nam Phong newspaper Không. 18, December 1918.
– The story tells the story of a 'mandarin's mother and father' who leisurely gambled in the scene of a dike failure, and the people of a large area were immersed in disaster. The author condemned the irresponsibility and inhumanity of mandarins in the semi-feudal colonial society.
- The name 'father and mother mandarin' is described with very realistic details that have a profound denunciation value.
II. BODY OF ARTICLE
– Live luxuriously and lavishly:
+ When you go to protect the dike, bring along a silver medicine tube, a gold watch, an ivory-handled knife, a carved lime tube... it looks interesting.
+ Eat delicious and strange things: steamed bird's nest with rock sugar.
– Living leisurely and regal:
+ While hundreds of people carry dirt, carry bamboo, make piles, piles, and crawl in the mud, in the wind and rain, gliding like mice, the mandarins' parents "sit majestically and proudly" in the lighted pavilion. choang.
+ The mandarins leaned on folding pillows, there were soldiers scratching their feet, there were soldiers fanning themselves, and there were soldiers waiting to serve a cigarette.
+ While hundreds of families are 'bathing in the wind and bathing in the rain, like a swarm of ants' on the dike, in the communal house, the mandarins sit on top, the monks sit below, - the guards are dignified, like gods and saints...
– Eating, playing and gambling, calmly and leisurely:
+ The dike is about to break! 'Wear! People, if not the people then no!'. Great officials eat and fight; servant, yes, yes!
+ The big mandarin buzzes, eats bird's nest, strokes his beard, shakes his thighs, his eyes are busy looking at the venom disc.
See more: Our people have a proverb: Near ink, it's dark, near light, it's bright. But some people say: Being close to ink is not necessarily dark, being close to a light is not necessarily bright. Please write a proof essay to convince her of your opinion - Live or die
+ Some people quietly said: 'It's easy for the dike to break', the official said harshly: 'Let it go!'.
+There was a panicked countryman who ran into the pavilion to report 'the dike is broken!', 'the parents' shouted: 'The dike is broken, when I broke your neck, I imprisoned you!...'
+ The mandarin ordered the soldiers to chase the peasants out of the communal house, then calmly played cards.
+ The mandarin clapped his hands down and shouted loudly, spreading his cards and smiling: 'Ho! Thong tom chi chi boi!… Dieu, you!'.
- The mandarin happily played a big game of cards when the dike broke: The whole countryside was filled with water, swirling into deep abysses, houses were floating, rice was flooded: the living had no place to live, the dead had no place to bury... command the end of the water, the helpless shadow, the sad situation, how can you tell!
- The art of contrast has exposed and condemned the irresponsible, callous, and inhumane habits of mandarins, who disregard the lives and lives of the people. They only care about gambling and enjoying themselves. , and the people 'live and die'.
III. END
– A short, sharp writing style. The art of building characters in contrast is very unique. The story is dramatic, pitiful, rich in denunciation of reality and humanitarian spirit.
– Successfully built the character of 'father and mother', known as 'the people's parents' but considered the people's lives as trash, 'live and die!'. The name 'mandarins and parents' is quite typical of the corruption of the official regime during the French colonial period.
– Not just the rotten 'bureaucrat'! He is one of thousands and thousands of mandarins in the past; He is a product and an effective tool of the corrupt semi-feudal colonial regime.
Source: more: Feelings about the wife's mood with the sadness of separation in the excerpt "After the moment of separation" (excerpt from Chinh Phu's Song)
|
Đề bài: Phân tích nhân vật quản ngục trong truyện Chữ người tử tù
Nếu như nhân vật Huấn Cao là biểu tượng về cái đẹp với sức mạnh hướng thiện của nó, thì nhân vật viên quản ngục được sáng tạo ra là để hiện thực hóa sức mạnh ấy. Có viên quản ngục thì ý đồ nghệ thuật của nhà văn mới thực hiện được. Nhưng vai trò cực kì quan trọng ấy của nhân vật quản ngục không dễ nhận ra, bởi vì nhân vật này dường như được Nguyễn Tuân “giấu” đi, ẩn xuống hàng thứ hai đằng sau nhân vật Huấn Cao. Cảm giác ban đầu khi đọc Chữ người tử tù, người đọc choáng ván, ngập trong ánh sáng tỏa ra từ hình tượng Huấn Cao uy nghi, rực rỡ. Từng dòng chữ, từng trang sách cứ lấp lánh Huấn Cao. Người đọc chẳng thiết nghĩ điều gì khác ngoài nghĩ về Huấn Cao. Nhưng đọc thêm một vài lần nữa, gấp trang sách lại, ngẫm nghĩ kĩ, thấy nhân vật quản ngục từ từ hiện lên, ngày một rõ nét và cuốn hút ta bằng một sức mạnh kì lạ. Ta càng thấm thía, cảm phục ngòi bút tài hoa, thâm thúy của Nguyễn Tuân. Khi được khám phá, phát hiện, nhân vật quản ngục sẽ đem lại cho ta nhiều khoái cảm thẩm mĩ mới mẻ, thú vị.
Tính cách của nhân vật Huấn Cao có phần một chiều, bất biến và đơn giản, ít những bất ngờ. Trái lại, nhân vật viên quản ngục có sự vận động về tính cách. Trước khi là quản ngục, ông ta cũng là người đèn sách, “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”. Là người lương thiện, tử tế, lại có chữ thánh hiền bồi đắp cho “thiên lương” nảy nở tốt đẹp, ông ta yêu đến say mê cái đẹp, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”.
Nhưng sự đời run rủi, và “ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”, quản ngục sa vào chỗ tối tăm, phẩm chất từ đó đã hoen ố đi ít nhiều. Giữa chốn tù ngục hầu như chỉ tồn tại hai thứ: cái ác, cái xấu, tàn nhẫn, lừa lọc và những nỗi đau khổ, tuyệt vọng. Tình cờ, viên quản ngục gặp được ông huấn Cao, gặp thần tượng của mình, gặp trong hoàn cảnh cực kì éo le: giữa chốn ngục thất, thần tượng của ông giờ đây lại là một tử tù, còn ông là cai ngục. Một tình huống đầy kịch tính được mở ra: ở bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau ; ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri âm, tri kỉ của nhau. Kẻ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình lại là một nghệ sĩ tài hoa tầm cỡ “thiên hạ đệ nhất thư pháp”, kẻ đại diện cho luật pháp của triều đình lại là người có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”’ ngưỡng mộ tài thư pháp ấy. Cuộc “kì ngộ” khiến cho lòng yêu cái đẹp trong quản ngục sống dậy mãnh liệt tới mức ông có thể bất chấp cả tính mạng và địa vị, mong sao có được mấy chữ của ông Huấn.
Người đọc hồi hộp theo dõi từ đầu chí cuối tác phẩm, không biết quản ngục có xinh nổi chữ của ông Huấn hay không? Nhân vật quản ngục bị đặt vào một thử thách khá gay go quyết liệt. Mấy ngày ngắn ngủi ông Huấn Cao tạm bị giam trong ngục tử tù của y, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căn thẳng, hồi hộp. Y thừa biết tính ông Huấn “vốn khoảng, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Làm sao đây, chỉ trong ít ngày để có thể lấp đầy khoảng cách giữa “cai ngục” và “tử tù”, để thành “tri kỉ” của ông Huấn? “Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất”. Mặt khác, viên quản ngục luôn luôn phải dò xét, đề phòng cả bọn thuộc hạ, ông sợ “tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên”, ông phải “dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu”.
Xem thêm: Suy ngẫm về “vinh” và “nhục” trong cuộc đờiNhân vật viên quản ngục được xây dựng với bút pháp giàu chất hiện thực, gần với cuộc đời hơn, thật hơn. Và chính ở đây thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Đọc truyện, người đọc như thấy hiện ra trước mắt dáng đi, điệu đứng, lời ăn tiếng nói của viên quản ngục này. Lúc ở công đường, dáng điệu của y rõ bệ vệ, quan cách, oai phong, trầm tĩnh, rõ là chu đáo, cần mẫn trong công việc. Tiếp được công văn để lĩnh nhận sáu tên tù án chém, ông ta đọc tên từng người và dừng lại ở cái tên Huấn Cao, rồi hỏi viên thơ lại để xác minh cho rõ. Nhân vật viên quản ngục không chỉ là kẻ biết thi hành phận sự, cần mẫn, tận tụy, mà còn là nhân vật có đời sống nội tâm sâu sắc. Có lúc khuôn mặt tỏ rõ sự nghĩ ngợi đăm chiêu, “ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”, “người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”.
Trong nhận xét rất tinh tế của người dẫn truyện thì viên quản ngục có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”. Ông được coi “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”, là “cái thuần khiết” bị đày ải “vào giữa một đống cặn bã”, là “người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Là quản ngục, nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà tù do ông cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ngục quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời. “Lũ người quay quắt”, cái “đống cặn bã” bao quanh ông chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù “một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đã có lúc, ngục quan thấm thía thân phận lạc loài, cô đơn giữa chốn tù ngục của chính mình, y than thở một mình: “Có lẽ lão bá này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Nếu như bi kịch của ông Huấn là bi kịch của người anh hùng thất thế, thất thế nhưng vẫn kiêu hùng, lẫm liệt ; thì bi kịch của ngục quan là bi kịch lầm đường. kẻ lầm đường lạc lối, may thay, vẫn còn có lương tri, lương năng, còn có “lòng biệt nhỡn liên tài”, còn có khát vọng giải thoát. Y tôn thờ cái đẹp, say mê cái đẹp để hi vọng tự giải thoát. Lúc ngục quan gặp huấn Cao thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”, “bộ mặt tư lự” đã hằn nhiều nếp nhăn của cuộc đời “tù nhân” nhọc nhằn, nhưng khát vọng giải thoát biểu hiện ở khát vọng hướng tới cái đẹp vẫn mãnh liệt vô cùng. Âm ỉ bấy lâu, nay nó bùng cháy lên thành lửa ngọn. Ngục quan tự hạ mình xuống trước tử tù, nhẫn nhục chấp nhận sự “khinh bạc đến điều” của ông Huấn. Y không oán thù, y biết người ta, “y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”. Về bản chất, đó là sự ngưỡng mộ trước cái đẹp một cách hoàn toàn tự nguyện. Hành động biệt đãi ông Huấn cũng là xuất phát từ lòng say mê đó. Nhưng đến cuối tác phẩm thì không chỉ còn là chuyện say mê, tôn thờ mấy cái chữ đẹp nữa, mà cao hơn thế, đó là sự trân trọng, tôn thờ nhân cách cao quý của một bậc tài danh. Bị cái đẹp và nhân cách cao thượng của ông Huấn thuyết phục, viên quản ngục thực sự cảm động cũng giống như ông Huấn Cao đã cảm động trước “sở thích cao quý” và “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của ngục quan. Đó là điểm gặp gỡ để trở thành tri âm, tri kỉ của hai con người cách nhau quá xa về vị trí xã hội. Sự tri kỉ ấy được đánh dấu bằng dòng lệ và tiếng nói nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” và kèm theo một cái vái.
Vận mệnh nghệ thuật của tính cách ông Huấn Cao đã kết thúc cùng với sự kết thúc của thiên truyện ; trong khi đó, vận mệnh vẫn còn tiếp tục ở nhân vật viên quản ngục: người đọc có thể tin rằng sau những lời khuyên bảo ân cần của ông Huấn, viên quản ngục đã luống tuổi ấy sẽ từ bỏ nghề bất nhân về quê ở để giữ thiên lương cho trong sạch, lành vững.
Nhân vật viên quản ngục là một sáng tạo rất mực sinh động của Nguyễn Tuân, để vừa tô đậm vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật Huấn Cao, lại vừa thể hiện vẻ đẹp của một con người đang được dắt dẫn bởi cái đẹp và cái thiện. Đây là kiểu sáng tạo nhân vật rất mới trong văn học hiện đại Việt Nam, cái cách để cho nhân vật tự tạo tính cách.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Hãy viết đoạn văn từ 8 đến 10 câu theo kiểu diễn dịch để nêu cảm nhận của em về khổ thơ trên. Trong đoạn văn, em hãy sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu (gạch dưới những từ ngữ này)
|
Đề bài: Phân tích nhân vật quản ngục trong truyện Chữ người tử tù
Nếu như nhân vật Huấn Cao là biểu tượng về cái đẹp với sức mạnh hướng thiện của nó, thì nhân vật viên quản ngục được sáng tạo ra là để hiện thực hóa sức mạnh ấy. Có viên quản ngục thì ý đồ nghệ thuật của nhà văn mới thực hiện được. Nhưng vai trò cực kì quan trọng ấy của nhân vật quản ngục không dễ nhận ra, bởi vì nhân vật này dường như được Nguyễn Tuân “giấu” đi, ẩn xuống hàng thứ hai đằng sau nhân vật Huấn Cao. Cảm giác ban đầu khi đọc Chữ người tử tù, người đọc choáng ván, ngập trong ánh sáng tỏa ra từ hình tượng Huấn Cao uy nghi, rực rỡ. Từng dòng chữ, từng trang sách cứ lấp lánh Huấn Cao. Người đọc chẳng thiết nghĩ điều gì khác ngoài nghĩ về Huấn Cao. Nhưng đọc thêm một vài lần nữa, gấp trang sách lại, ngẫm nghĩ kĩ, thấy nhân vật quản ngục từ từ hiện lên, ngày một rõ nét và cuốn hút ta bằng một sức mạnh kì lạ. Ta càng thấm thía, cảm phục ngòi bút tài hoa, thâm thúy của Nguyễn Tuân. Khi được khám phá, phát hiện, nhân vật quản ngục sẽ đem lại cho ta nhiều khoái cảm thẩm mĩ mới mẻ, thú vị.
Tính cách của nhân vật Huấn Cao có phần một chiều, bất biến và đơn giản, ít những bất ngờ. Trái lại, nhân vật viên quản ngục có sự vận động về tính cách. Trước khi là quản ngục, ông ta cũng là người đèn sách, “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”. Là người lương thiện, tử tế, lại có chữ thánh hiền bồi đắp cho “thiên lương” nảy nở tốt đẹp, ông ta yêu đến say mê cái đẹp, “cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”.
Nhưng sự đời run rủi, và “ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”, quản ngục sa vào chỗ tối tăm, phẩm chất từ đó đã hoen ố đi ít nhiều. Giữa chốn tù ngục hầu như chỉ tồn tại hai thứ: cái ác, cái xấu, tàn nhẫn, lừa lọc và những nỗi đau khổ, tuyệt vọng. Tình cờ, viên quản ngục gặp được ông huấn Cao, gặp thần tượng của mình, gặp trong hoàn cảnh cực kì éo le: giữa chốn ngục thất, thần tượng của ông giờ đây lại là một tử tù, còn ông là cai ngục. Một tình huống đầy kịch tính được mở ra: ở bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau ; ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri âm, tri kỉ của nhau. Kẻ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình lại là một nghệ sĩ tài hoa tầm cỡ “thiên hạ đệ nhất thư pháp”, kẻ đại diện cho luật pháp của triều đình lại là người có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”’ ngưỡng mộ tài thư pháp ấy. Cuộc “kì ngộ” khiến cho lòng yêu cái đẹp trong quản ngục sống dậy mãnh liệt tới mức ông có thể bất chấp cả tính mạng và địa vị, mong sao có được mấy chữ của ông Huấn.
Người đọc hồi hộp theo dõi từ đầu chí cuối tác phẩm, không biết quản ngục có xinh nổi chữ của ông Huấn hay không? Nhân vật quản ngục bị đặt vào một thử thách khá gay go quyết liệt. Mấy ngày ngắn ngủi ông Huấn Cao tạm bị giam trong ngục tử tù của y, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căn thẳng, hồi hộp. Y thừa biết tính ông Huấn “vốn khoảng, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Làm sao đây, chỉ trong ít ngày để có thể lấp đầy khoảng cách giữa “cai ngục” và “tử tù”, để thành “tri kỉ” của ông Huấn? “Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất”. Mặt khác, viên quản ngục luôn luôn phải dò xét, đề phòng cả bọn thuộc hạ, ông sợ “tên bát phẩm thơ lại này đem cáo giác với quan trên thì khó mà ở yên”, ông phải “dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu”.
Xem thêm: Suy ngẫm về “vinh” và “nhục” trong cuộc đờiNhân vật viên quản ngục được xây dựng với bút pháp giàu chất hiện thực, gần với cuộc đời hơn, thật hơn. Và chính ở đây thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Đọc truyện, người đọc như thấy hiện ra trước mắt dáng đi, điệu đứng, lời ăn tiếng nói của viên quản ngục này. Lúc ở công đường, dáng điệu của y rõ bệ vệ, quan cách, oai phong, trầm tĩnh, rõ là chu đáo, cần mẫn trong công việc. Tiếp được công văn để lĩnh nhận sáu tên tù án chém, ông ta đọc tên từng người và dừng lại ở cái tên Huấn Cao, rồi hỏi viên thơ lại để xác minh cho rõ. Nhân vật viên quản ngục không chỉ là kẻ biết thi hành phận sự, cần mẫn, tận tụy, mà còn là nhân vật có đời sống nội tâm sâu sắc. Có lúc khuôn mặt tỏ rõ sự nghĩ ngợi đăm chiêu, “ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương”, “người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn. Ở đấy, giờ chỉ còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”.
Trong nhận xét rất tinh tế của người dẫn truyện thì viên quản ngục có “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”. Ông được coi “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”, là “cái thuần khiết” bị đày ải “vào giữa một đống cặn bã”, là “người thẳng thắn lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Là quản ngục, nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của cái nhà tù do ông cai quản. Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận của một ngục quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm hồn quản ngục suốt đời. “Lũ người quay quắt”, cái “đống cặn bã” bao quanh ông chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù “một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đã có lúc, ngục quan thấm thía thân phận lạc loài, cô đơn giữa chốn tù ngục của chính mình, y than thở một mình: “Có lẽ lão bá này, cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Nếu như bi kịch của ông Huấn là bi kịch của người anh hùng thất thế, thất thế nhưng vẫn kiêu hùng, lẫm liệt ; thì bi kịch của ngục quan là bi kịch lầm đường. kẻ lầm đường lạc lối, may thay, vẫn còn có lương tri, lương năng, còn có “lòng biệt nhỡn liên tài”, còn có khát vọng giải thoát. Y tôn thờ cái đẹp, say mê cái đẹp để hi vọng tự giải thoát. Lúc ngục quan gặp huấn Cao thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”, “bộ mặt tư lự” đã hằn nhiều nếp nhăn của cuộc đời “tù nhân” nhọc nhằn, nhưng khát vọng giải thoát biểu hiện ở khát vọng hướng tới cái đẹp vẫn mãnh liệt vô cùng. Âm ỉ bấy lâu, nay nó bùng cháy lên thành lửa ngọn. Ngục quan tự hạ mình xuống trước tử tù, nhẫn nhục chấp nhận sự “khinh bạc đến điều” của ông Huấn. Y không oán thù, y biết người ta, “y cũng thừa hiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”. Về bản chất, đó là sự ngưỡng mộ trước cái đẹp một cách hoàn toàn tự nguyện. Hành động biệt đãi ông Huấn cũng là xuất phát từ lòng say mê đó. Nhưng đến cuối tác phẩm thì không chỉ còn là chuyện say mê, tôn thờ mấy cái chữ đẹp nữa, mà cao hơn thế, đó là sự trân trọng, tôn thờ nhân cách cao quý của một bậc tài danh. Bị cái đẹp và nhân cách cao thượng của ông Huấn thuyết phục, viên quản ngục thực sự cảm động cũng giống như ông Huấn Cao đã cảm động trước “sở thích cao quý” và “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của ngục quan. Đó là điểm gặp gỡ để trở thành tri âm, tri kỉ của hai con người cách nhau quá xa về vị trí xã hội. Sự tri kỉ ấy được đánh dấu bằng dòng lệ và tiếng nói nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” và kèm theo một cái vái.
Vận mệnh nghệ thuật của tính cách ông Huấn Cao đã kết thúc cùng với sự kết thúc của thiên truyện ; trong khi đó, vận mệnh vẫn còn tiếp tục ở nhân vật viên quản ngục: người đọc có thể tin rằng sau những lời khuyên bảo ân cần của ông Huấn, viên quản ngục đã luống tuổi ấy sẽ từ bỏ nghề bất nhân về quê ở để giữ thiên lương cho trong sạch, lành vững.
Nhân vật viên quản ngục là một sáng tạo rất mực sinh động của Nguyễn Tuân, để vừa tô đậm vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật Huấn Cao, lại vừa thể hiện vẻ đẹp của một con người đang được dắt dẫn bởi cái đẹp và cái thiện. Đây là kiểu sáng tạo nhân vật rất mới trong văn học hiện đại Việt Nam, cái cách để cho nhân vật tự tạo tính cách.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Hãy viết đoạn văn từ 8 đến 10 câu theo kiểu diễn dịch để nêu cảm nhận của em về khổ thơ trên. Trong đoạn văn, em hãy sử dụng ít nhất hai phép liên kết câu (gạch dưới những từ ngữ này)
|
Phân tích nhân vật Ra-ma đoạn trích Ra-ma buộc tội (trích sử thi Ra-ma-ya-na của Ấn Độ).
Hướng dẫn
Xi-ta là một người phụ nữ được lí tưởng hóa: thông minh, chung thủy, giàu lòng tự trọng, tự tin và vô cùng can đảm.
Phẩm chất thông minh ở nàng thể hiện trước hết ở sự linh cảm. Nóng lòng đến gặp chồng sau khi được chồng cứu thoát khỏi bàn tay nhơ bẩn của quỷ vương Ra-va-na, nhưng “Gia-na-ki mở tròn đôi mắt đẫm lệ” nhìn Ra-ma không chỉ là vì thất vọng (cái mà Xi-ta chờ ở chồng là sự âu yếm của cuộc đoàn viên). Sự mẫn cảm ở Xi-ta dường như mách bảo điều gì ghê gớm, rất hệ trọng với nàng sắp sửa diễn ra. Một cơn bão chỉ giây phút nữa thôi sẽ bất ngờ đổ ập xuống mà dấu hiệu của nó lúc này là sự im lặng rất đáng nghi ngơ. Tai Xi-ta nghe Ra-ma nói mà trí tuệ nàng đã đọc ra những ý nghĩa ở ngoài lời. Bao nhiêu những dấu hiệu không lành giúp cho Xi-ta nhận biết. Nào là chính chàng đã cứu thoát cho nàng. Điều này đã quá rõ ràng nên thật là khó hiểu. Bởi thật ra cứu vợ tai qua nạn khỏi là nghĩa vụ muôn đời của mọi người đàn ông chân chính, chưa nói là người quyền quý như Ra-ma. Vậy mục đích của nó là gì? Nào là tại sao gặp nàng, đối thoại với nàng. Ra-ma chỉ nhắc đến những nhân vật không quan trọng (so với bản thân nàng) là Ha-nu-man và Vi-phi-sa-na? Cũng là còn chưa nói đến sự lảng tránh của chính Ra-ma trong đôi mắt có phần thảng thốt của chàng lúc nhìn Xi-ta (mà người dẫn truyện nhận thấy và miêu tả: “lòng Ra-ma đau như dao cắt”), hoặc cách xưng hô bằng cách các đại từ nhân xưng trang trọng là “phu nhân cao quý” nữa,…
Chỉ người vợ yêu chồng mới cảm nhận được nỗi đau khi tình yêu của mình bị chính người chồng làm thương tổn. “Đôi mắt đẫm lệ” của Xi-ta nhìn chồng là đôi mắt bi thương. Bởi lẽ với Xi-ta, điều cao quý và thiêng liêng nhất là tình yêu với chồng. Ngay cả vẻ đẹp thể chất của nàng mà trời phú cho cũng là vì tình yêu ấy. Và bây giờ vẻ đẹp ấy đang sáng lên, đang chờ đợi như một lần trước đây chờ đợi. Chỉ có điều lúc này nó trở nên lạc lõng biết bao. Nó đã là một nghịch cảnh thật trớ trêu khi tình yêu ở chàng đã hết. Nhưng điều đó đầu tiên mới chỉ là cảm giác thoáng qua. Chỉ sau khi nghe hết lời luận tội của Ra-ma, Xi-ta “đau đớn đến nghẹt thở, như một cái dây leo bị vòi voi quật nát”. Tác giả đã sử dụng phép so sánh để đặc tả nỗiđau của Xi-ta. Rồi cả một trường đoạn tiếp theo như những con sóng ào ạt miêu tả cảnh xô đẩy dập vùi. Mỗi lời nói của Ra-ma nhằm vào Xi-ta như những mũi tên trúng đích. Nàng bị săn đuổi đến cùng: “nghe những lời tố cáo chưa từng có, trước mặt đông đủ mọi người, Gia-na-ki xấu hổ cho số kiếp của nàng. Nàng muốn tựchôn vùi cả hình hài thân xác của mình…” Rồi sau đó, lời biện minh của Xi-ta một phần dựa vào lí lẽ, nhưng đến hai phần lại dựa vào tình yêu. Cái lí lẽ ấy thuộc về hoàn cảnh khách quan, bị động (Ra-va-na bắt cóc khi Xi-ta sợ chết khiếp mà ngất đi).Còn tình yêu của nàng thì chưa bao giờ thay đổi. Đó mới là vũ khí, là sức mạnh của nàng để qủy vương không sao chiếm đoạt nổi: “chỉ có số mệnh của thiếp là đáng bị chê trách, nhưng những gì nằm trong vòng kiểm soát của thiếp, tức trái tim thiếp đây là thuộc về chàng”. Thật đáng kiêu hãnh, tự hào khi người phụ nữ có trái tim son sắt ấy!
Trong mối tương quan, Xi-ta ở vào một cái thế không ngang bằng với Ra-ma.
Xem thêm: Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy phản ánh bi kịch mất nước đồng thời cũng là một bi kịch tình yêu. Bằng việc phân tích tác phẩm, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trênNàng đang bị phán xét và trước mắt Ra-ma, nàng là người mắc trọng tội (tội không chung thủy), nhưng chưa một lúc nào Xi-ta cảm thấy mình đuối sức để cần đến một sự cầu xin. Có hai niềm tin mà Xi-ta dựa vào. Một là nguồn gốc xuất thân cao quý của nàng cũng y hệt như Ra-ma. Thứ hai, nàng tin vào trái tim của mình như tin vào hi vọng. Lòng tin ấy dõng dạc cất lên: “Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận giày vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường. Tên thiếp là Gia-na-ki, bởi vì thiếp có liên quan đêía lễ tế sinh của nhà vua Gia-na-ka… Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp… Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”. Nói đến điều này, Xi-ta òa khóc như một người chịu oan ức. Nàng mới là kẻ đáng thương chứ không phải Ra-ma là kẻ đáng thương.
Hành xử cuối cùng của Xi-ta là bước vào giàn lửa.
Trong tín ngưỡng của đạo Bà La Môn thì thần lửa A-nhi giữ vai trò phán xét tối cao. Lấy cái chết để giải oan là một mô típ nghệ thuật trong văn học bác học và văn học dân gian nhiều nước, nhất là các nước phương Đông. Nhưng có điều trong lời khấn thần linh, nhận ra hai giải pháp sóng đôi: nếu trong sạch thì thế này còn nếu không thì thế khác. Biết rất rõ tấm lòng mình là một dạ kiên trinh, Xi-ta cần đến thần Lửa A-nhi như một sự bao dung, che chở chứ không phải là sự phán xét đúng, sai. Tâm thế của Xi-ta vì thế mà bình tĩnh đến lạ lùng. Trong lúc ấy, mọi người lại đinh ninh là nàng sẽ chết, vì oan ức mà chết. Chính sự so le của hai thế giới quan (một thần thoại và một hiện thực) đã làm cho hành vi tử vì đạo của Xi-ta đột ngột thăng hoa trong sự cao cả tuyệt vời. Một chấn động tinh thần ghê gớm của những người chứng kiến đã xảy ra không gì kiềm giữ nổi cũng là một lẽ đương nhiên khi tiễn biệt một tâm hồn cao cả về với thần linh vĩnh viễn. Nhưng thần Lửa A-nhi đã giải thoát cho nàng. Kết thúc đầy chất lãng mạn này là sự gửi gắm một niềm tin, niềm hi vọng của con người.
Mỗi tiếng trắng thêm tơ một sợi
Sáng ra e bạc cả đầu ai
(Nghe tiếng chày đêm)
Đó là âm thanh sinh hoạt nhưng cũng là những tiếng não lòng, vì đã từ bao lâu rồi, nó là âm thanh gợi niềm thương nhớ người thân nơi phương trời giá lạnh. Nó cũng thắc thỏm một nỗi lo âu vì chiến tranh chưa dứt, bao nhiêu người lính còn trấn thủ nơi biên cương, để cho người ở hậu phương phải hối hả may áo rét gửi ra miền quan ải. Cho nên hai câu kết mà lại là mở ra nỗi âu lo buồn nhớ ấy bắc một nhịp cầu sang Thu ứng bài sau…
Từ cảnh vật đến âm thanh… tứ thơ vận hành thật tự nhiên mà thật diệu. Từ rừng núi, trời đất ngoài xa… thu về trên khóm cúc, lặn vào trong tâm tư. Đó là vận hành của không gian chở vận hành của thời gian. Trời tối dần, tầm nhìn dần thu hẹp và cuối cùng không còn thấy gì nữa, chỉ nghe thấy âm thanh dồn dập của mùa thu giã vào nỗi buồn lo nhung nhớ. Thu cảnh đã chuyển vào thu tâm. Ấy là thu hứng.
Thông qua cảm xúc trước mùa thu Ba Thục, Đỗ Phủ thể hiện nỗi lo âu cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình.
Chùm thơ Thu hứng tiêu biểu cho nghệ thuật thơ của Đỗ Phủ, vì vậy xưa nay nó được đánh giá rất cao. Đặc biệt ở bài thơ thứ nhất, tức bài này, mỗi từ mỗi ý đều có sức kinh nhân.
Nguồn: thêm: Ngạn ngữ châu Âu có câu: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học lấy cách làm cần câu và cách câu con cá ấy”. Ý kiến anh (chị) thế nào
|
Phân tích nhân vật Ra-ma đoạn trích Ra-ma buộc tội (trích sử thi Ra-ma-ya-na của Ấn Độ).
Hướng dẫn
Xi-ta là một người phụ nữ được lí tưởng hóa: thông minh, chung thủy, giàu lòng tự trọng, tự tin và vô cùng can đảm.
Phẩm chất thông minh ở nàng thể hiện trước hết ở sự linh cảm. Nóng lòng đến gặp chồng sau khi được chồng cứu thoát khỏi bàn tay nhơ bẩn của quỷ vương Ra-va-na, nhưng “Gia-na-ki mở tròn đôi mắt đẫm lệ” nhìn Ra-ma không chỉ là vì thất vọng (cái mà Xi-ta chờ ở chồng là sự âu yếm của cuộc đoàn viên). Sự mẫn cảm ở Xi-ta dường như mách bảo điều gì ghê gớm, rất hệ trọng với nàng sắp sửa diễn ra. Một cơn bão chỉ giây phút nữa thôi sẽ bất ngờ đổ ập xuống mà dấu hiệu của nó lúc này là sự im lặng rất đáng nghi ngơ. Tai Xi-ta nghe Ra-ma nói mà trí tuệ nàng đã đọc ra những ý nghĩa ở ngoài lời. Bao nhiêu những dấu hiệu không lành giúp cho Xi-ta nhận biết. Nào là chính chàng đã cứu thoát cho nàng. Điều này đã quá rõ ràng nên thật là khó hiểu. Bởi thật ra cứu vợ tai qua nạn khỏi là nghĩa vụ muôn đời của mọi người đàn ông chân chính, chưa nói là người quyền quý như Ra-ma. Vậy mục đích của nó là gì? Nào là tại sao gặp nàng, đối thoại với nàng. Ra-ma chỉ nhắc đến những nhân vật không quan trọng (so với bản thân nàng) là Ha-nu-man và Vi-phi-sa-na? Cũng là còn chưa nói đến sự lảng tránh của chính Ra-ma trong đôi mắt có phần thảng thốt của chàng lúc nhìn Xi-ta (mà người dẫn truyện nhận thấy và miêu tả: “lòng Ra-ma đau như dao cắt”), hoặc cách xưng hô bằng cách các đại từ nhân xưng trang trọng là “phu nhân cao quý” nữa,…
Chỉ người vợ yêu chồng mới cảm nhận được nỗi đau khi tình yêu của mình bị chính người chồng làm thương tổn. “Đôi mắt đẫm lệ” của Xi-ta nhìn chồng là đôi mắt bi thương. Bởi lẽ với Xi-ta, điều cao quý và thiêng liêng nhất là tình yêu với chồng. Ngay cả vẻ đẹp thể chất của nàng mà trời phú cho cũng là vì tình yêu ấy. Và bây giờ vẻ đẹp ấy đang sáng lên, đang chờ đợi như một lần trước đây chờ đợi. Chỉ có điều lúc này nó trở nên lạc lõng biết bao. Nó đã là một nghịch cảnh thật trớ trêu khi tình yêu ở chàng đã hết. Nhưng điều đó đầu tiên mới chỉ là cảm giác thoáng qua. Chỉ sau khi nghe hết lời luận tội của Ra-ma, Xi-ta “đau đớn đến nghẹt thở, như một cái dây leo bị vòi voi quật nát”. Tác giả đã sử dụng phép so sánh để đặc tả nỗiđau của Xi-ta. Rồi cả một trường đoạn tiếp theo như những con sóng ào ạt miêu tả cảnh xô đẩy dập vùi. Mỗi lời nói của Ra-ma nhằm vào Xi-ta như những mũi tên trúng đích. Nàng bị săn đuổi đến cùng: “nghe những lời tố cáo chưa từng có, trước mặt đông đủ mọi người, Gia-na-ki xấu hổ cho số kiếp của nàng. Nàng muốn tựchôn vùi cả hình hài thân xác của mình…” Rồi sau đó, lời biện minh của Xi-ta một phần dựa vào lí lẽ, nhưng đến hai phần lại dựa vào tình yêu. Cái lí lẽ ấy thuộc về hoàn cảnh khách quan, bị động (Ra-va-na bắt cóc khi Xi-ta sợ chết khiếp mà ngất đi).Còn tình yêu của nàng thì chưa bao giờ thay đổi. Đó mới là vũ khí, là sức mạnh của nàng để qủy vương không sao chiếm đoạt nổi: “chỉ có số mệnh của thiếp là đáng bị chê trách, nhưng những gì nằm trong vòng kiểm soát của thiếp, tức trái tim thiếp đây là thuộc về chàng”. Thật đáng kiêu hãnh, tự hào khi người phụ nữ có trái tim son sắt ấy!
Trong mối tương quan, Xi-ta ở vào một cái thế không ngang bằng với Ra-ma.
Xem thêm: Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy phản ánh bi kịch mất nước đồng thời cũng là một bi kịch tình yêu. Bằng việc phân tích tác phẩm, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trênNàng đang bị phán xét và trước mắt Ra-ma, nàng là người mắc trọng tội (tội không chung thủy), nhưng chưa một lúc nào Xi-ta cảm thấy mình đuối sức để cần đến một sự cầu xin. Có hai niềm tin mà Xi-ta dựa vào. Một là nguồn gốc xuất thân cao quý của nàng cũng y hệt như Ra-ma. Thứ hai, nàng tin vào trái tim của mình như tin vào hi vọng. Lòng tin ấy dõng dạc cất lên: “Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận giày vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường. Tên thiếp là Gia-na-ki, bởi vì thiếp có liên quan đêía lễ tế sinh của nhà vua Gia-na-ka… Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp… Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”. Nói đến điều này, Xi-ta òa khóc như một người chịu oan ức. Nàng mới là kẻ đáng thương chứ không phải Ra-ma là kẻ đáng thương.
Hành xử cuối cùng của Xi-ta là bước vào giàn lửa.
Trong tín ngưỡng của đạo Bà La Môn thì thần lửa A-nhi giữ vai trò phán xét tối cao. Lấy cái chết để giải oan là một mô típ nghệ thuật trong văn học bác học và văn học dân gian nhiều nước, nhất là các nước phương Đông. Nhưng có điều trong lời khấn thần linh, nhận ra hai giải pháp sóng đôi: nếu trong sạch thì thế này còn nếu không thì thế khác. Biết rất rõ tấm lòng mình là một dạ kiên trinh, Xi-ta cần đến thần Lửa A-nhi như một sự bao dung, che chở chứ không phải là sự phán xét đúng, sai. Tâm thế của Xi-ta vì thế mà bình tĩnh đến lạ lùng. Trong lúc ấy, mọi người lại đinh ninh là nàng sẽ chết, vì oan ức mà chết. Chính sự so le của hai thế giới quan (một thần thoại và một hiện thực) đã làm cho hành vi tử vì đạo của Xi-ta đột ngột thăng hoa trong sự cao cả tuyệt vời. Một chấn động tinh thần ghê gớm của những người chứng kiến đã xảy ra không gì kiềm giữ nổi cũng là một lẽ đương nhiên khi tiễn biệt một tâm hồn cao cả về với thần linh vĩnh viễn. Nhưng thần Lửa A-nhi đã giải thoát cho nàng. Kết thúc đầy chất lãng mạn này là sự gửi gắm một niềm tin, niềm hi vọng của con người.
Mỗi tiếng trắng thêm tơ một sợi
Sáng ra e bạc cả đầu ai
(Nghe tiếng chày đêm)
Đó là âm thanh sinh hoạt nhưng cũng là những tiếng não lòng, vì đã từ bao lâu rồi, nó là âm thanh gợi niềm thương nhớ người thân nơi phương trời giá lạnh. Nó cũng thắc thỏm một nỗi lo âu vì chiến tranh chưa dứt, bao nhiêu người lính còn trấn thủ nơi biên cương, để cho người ở hậu phương phải hối hả may áo rét gửi ra miền quan ải. Cho nên hai câu kết mà lại là mở ra nỗi âu lo buồn nhớ ấy bắc một nhịp cầu sang Thu ứng bài sau…
Từ cảnh vật đến âm thanh… tứ thơ vận hành thật tự nhiên mà thật diệu. Từ rừng núi, trời đất ngoài xa… thu về trên khóm cúc, lặn vào trong tâm tư. Đó là vận hành của không gian chở vận hành của thời gian. Trời tối dần, tầm nhìn dần thu hẹp và cuối cùng không còn thấy gì nữa, chỉ nghe thấy âm thanh dồn dập của mùa thu giã vào nỗi buồn lo nhung nhớ. Thu cảnh đã chuyển vào thu tâm. Ấy là thu hứng.
Thông qua cảm xúc trước mùa thu Ba Thục, Đỗ Phủ thể hiện nỗi lo âu cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình.
Chùm thơ Thu hứng tiêu biểu cho nghệ thuật thơ của Đỗ Phủ, vì vậy xưa nay nó được đánh giá rất cao. Đặc biệt ở bài thơ thứ nhất, tức bài này, mỗi từ mỗi ý đều có sức kinh nhân.
Nguồn: thêm: Ngạn ngữ châu Âu có câu: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học lấy cách làm cần câu và cách câu con cá ấy”. Ý kiến anh (chị) thế nào
|
Phân tích nhân vật Sơn trong truyện ‘Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam
Hướng dẫn
Trong truyện không thấy nói đến bố. Hay là Sơn mồ côi bố? Hay là bố Sơn đi làm ăn nơi xa? Sơn ở nhà với mẹ, với chị Lan, với vú già, với em nhỏ…
Sáng sớm ngủ dậy khi gió lạnh đầu mùa đã thổi về, trời trắng đục, gió vi vu, khóm lan trong chậu ‘rung động và hình như sắt lại vì rét’. Sơn cũng thấy lạnh, em kéo chăn lên đầu rồi cất tiếng gọi mẹ. Một chén nước nóng mẹ đưa cho em ‘ấp vào mặt, vào má cho ấm’, một chiếc áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ sinh, ngoài lại phủ cái áo vải thâm, em mặc vào, đứng trên giường quay đi quay lại bốn lần để mẹ ngắm… Những chi tiết ấy cho biết Sơn còn bé nhỏ, ngây thơ, em rất được mẹ yêu. Không một tiếng khóc, một lời vòi vĩnh, Sơn đã cùng chị Lan đi chơi vì em biết lũ bạn con nhà nghèo xóm láng ‘đang đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh đáo’. Gặp các bạn, khi chúng nó đến ngắm cái áo đẹp của Sơn, em cũng hồn nhiên ngây thơ như bất cứ đứa trẻ con nào, Sơn cũng ‘ưỡn ngực’ khoe áo mới: ‘Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một chiếc áo nhiều tiền hơn nữa kia’. Đúng là tâm lí đáng yêu: ‘Già được bát canh, trẻ được manh áo mới’.
Sơn là một em bé rất giàu tình cảm.Anh em như thể chân tay… Sơn đối với em đầy tình thương. Ngủ dậy thấy lạnh, Sơn ‘kéo chăn lên đắp cho em’ đang ngủ. Khi mẹ giơ cái áo bông cánh cũ của em Duyên – đã chết năm lên bốn tuổi – ‘Sơn nhớ em, cảm động và thương em quá’. Những cử chỉ ấy, những cảm xúc ấy cho thấy Sơn có một tâm hồn rất đẹp, rất trong sáng, còn bé nhỏ đã biết quan tâm săn sóc đến mọi người xung quanh. Em rất yêu mẹ, vâng lời mẹ, lễ phép với vú già, biết tôn trọng chị. Sơn là một đứa bé được mẹ chăm sóc và dạy bảo nên em rất ngoan.
Sơn là một em bé sống với bạn bè rất có tình người.Trong lúc mấy đứa em
họ của Sơn thì ‘kiêu kì và khinh khỉnh’ với các bạn, trái lại Sơn và chị Lan rất chan hòa với chúng. Vì thế mới thấy chị em Sơn đến, chúng nó ‘lộ vẻ vui mừng’. Gặp bạn, buổi sớm trong gió lạnh đầu mùa, cái nhìn của Sơn đối với bạn jnhỏ, những thằng Cúc, thằng Xuân, con Tí, con Túc,… là cái nhìn yêu thương, cám thông với cảnh nghèo của bạn. Trời lạnh mà chúng nó vẫn ‘ăn mặc không khác ngày thường, vần những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ’, và ‘môi chúng nó tím lại…’, chỗ áo quần rách ‘da thịt thâm đi’. Mỗi lần làn gió lạnh thổi qua, các bạn nhỏ của Sơn ‘lại run lên’ và ‘hai hàm răng đập vào nhau’. Biết quan tâm tới đồng loại, biết san sẻ, cảm thông với bạn bè chỉ có ở những trái tim nhân ái, những tấm lòng nhân hậu. Sơn đã chơi, đã sống với bạn bằng trái tim nhân ái, bằng tấm lòng nhân hậu như thế!
Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Cảm nghĩ về sắc màu của hoa lá quanh emTinh thương và sự quan tâm của Sơn đối với bạn còn được thể hiện bằng những cử chỉ, hành động cụ thể. Thấy cái Hiên, đứa con gái bên hàng xom, bạn chơi với Lan và Duyên ‘co ro dứng bên cột quán’, chỉ mặc có ‘manh áo rách tả tơi hở cả lưng và tay’, chị Lan gọi,'nó cũng không đến… Nghe cái Hiên ‘bịu xịu’ nói với chị Lan là ‘hết áo rồi, chỉ còn cái áo này’, bấy giờ Sơn mới chợt nhớ ra ‘mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề mò cua bắt ốc thì lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa’. Sơn đã ‘động lòng thương’ bạn và một ‘ỷ nghĩ tốt thoảng qua’… Sơn đã nói thầm với chị Lan về lấy chiếc áo bông cũ của em Duyên đem cho cái Hiên mặc khi gió lạnh đầu mùa đã thổi về. Sơn thấy lòng mình ‘ấm áp vui vui’ khi đứng lặng yên chờ chị Lan chạy về lấy áo. Sao không ‘ấm áp vui vui’ được vì một miếng khi đói bằng một gói khi no.Đâu phải là một sự bố thí ban ơn! Đó là một nghĩa cử san sẻ tình thương đồng loại ‘lá lành đùm lá rách’.Tấm lòng của Sơn đối với bạn nhỏ rất chân thành. Tinh cảm nhường cơm sẻ áo cho bạn rất mãnh liệt! Mặc dù đó là chiếc áo bông của em Duyên, kỉ vật thiêng liêng của mẹ, mặc dù sau đó mẹ cái Hiên đã đem áo đến trả cho mẹ Sơn, nhưng nhờ thế mà mẹ em đã biết cảnh ngộ mẹ cái Hiên, cho mẹ cái Hiên vay năm hào đem về mua áo cho con.
Sơn và chị Lan đã ‘cúi đầu lặng im’ nhận lỗi. Mẹ đã ôm hai em vào lòng, âu yếm nhẹ trách: ‘dám tự do lấy áo đem cho người ta không sợ mẹ mắng ư?’. Hai chị em Lan và Sơn đã được dạy bảo, được sống trong lòng mẹ, được mẹ yêu thương nên Sơn và chị mới biết thương bạn, mới biết ‘thương người như thể thương thân’vậy.
Sơn là một trong những gương mặt tuổi thơ trong truyện Thạch Lam rất đáng yêu, đáng mến. Thạch Lam đôn hậu, tinh tế nên văn ông mới đậm đà và cho ta nhiều nhã thú. Trong gió lạnh đầu mùa mà lòng Sơn ấm áp biết bao!
Nguồn: thêm: Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt Bắc. Phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích.
|
Analysis of the character Son in the story "The First Cold Wind of the Season" by Thach Lam
Instruct
In the story, there is no mention of the father. Or is Son an orphan? Or is Son's father working far away? Son stays at home with his mother, with Lan, with the old nanny, with the baby...
Woke up early in the morning when the first cold wind of the season was blowing, the sky was white, the wind was blowing, the orchids in the pot were 'vibrating and seemed to be frozen because of the cold'. Son also felt cold, so he pulled the blanket over his head and called for his mother. A cup of hot water was given to me by my mother to 'put it on my face and cheeks to keep it warm', a red thread shirt mixed with a sanitary shirt, covered with a dark cloth shirt, I put it on, stood on the bed and turned around four times. times for my mother to look at... Those details show that Son is still young, innocent, and very loved by his mother. Without a cry or a word of entreaty, Son went out with Ms. Lan because he knew that the children from poor families in the neighborhood were 'waiting for him at the end of the market to fight and fight'. Meeting my friends, when they came to look at Son's beautiful shirt, he was as innocent and innocent as any child. Son also 'puffed his chest' to show off his new shirt: 'My mother even promised to buy me a shirt. more money there'. What a lovely mentality: 'The old get a bowl of soup, the young get a new shirt'.
Son is a very affectionate child. Brothers are like limbs... Son is full of love for him. Waking up feeling cold, Son 'pulled the blanket over me' while he was sleeping. When her mother held up Duyen's old cotton shirt - who died when she was four years old - 'Son misses you, feels so touched and loves you'. Those gestures, those emotions show that Son has a very beautiful, very pure soul, and even at a young age, he knows how to care for everyone around him. I love my mother very much, obey her, be polite to my old nurse, and respect her. Son is a child who is cared for and taught by his mother, so he is very obedient.
Son is a child who lives with friends who are very human. Meanwhile, his younger siblings
Son's family is 'haughty and contemptuous' with his friends, on the contrary, Son and Lan are very sociable with them. That's why when they saw the Son sisters coming, they 'exuded joy'. Meeting you, early in the cold wind of the season, Son's look towards his younger friends, Cuc, Xuan, Ti, Tuc,... was a look of love and sympathy for his friends' poverty. It was cold but they still 'dressed the same as usual, wearing silver-brown clothes that were torn and patched in many places', and 'their lips turned purple...', where their clothes were torn 'their skin darkened'. Every time the cold wind blew, Son's children 'shivered' and their 'teeth chatted'. Knowing how to care for fellow human beings, knowing how to share and sympathize with friends is only found in compassionate hearts and kind hearts. Son played and lived with you with such a kind heart and kind heart!
See more: Expressive writing about things and people - Feelings about the colors of flowers and leaves around you Son's love and concern for you are also expressed through specific gestures and actions. Seeing Hien, the girl at the shop, Lan and Duyen's playmate 'huddled up next to the shop's pillar', wearing only 'a tattered piece of shirt that exposed both her back and arms', Ms. Lan called out, 'she's not either. arrived... Hearing Hien 'sufferingly' tell Ms. Lan that 'I'm out of clothes, I only have this shirt', then Son suddenly remembered 'Hien's mother is very poor, she only has the job of catching crabs and snails, so where can she get it? Spend money to buy clothes for your children.' Son was 'moved with pity' for his friend and a 'good thought passed by'... Son whispered to Lan to take Duyen's old cotton shirt and give it to Hien to wear when the first cold wind of the season blew. Son felt 'warm and happy' as he stood quietly waiting for Lan to come back and get her shirt. Why can't it be 'warm and happy' because a piece when hungry is equal to a packet when full. This is not a gracious alms! It is a gesture of sharing love for fellow human beings, 'good leaves cover torn leaves'. Son's heart towards the children is very sincere. The feeling of giving food and clothing to you is very strong! Even though it was Duyen's cotton shirt, a sacred keepsake of her mother, even though Hien's mother later brought the shirt back to Son's mother, thanks to that, her mother knew about Hien's mother's plight and gave it to her. Hien borrowed five dimes to buy a shirt for her child.
Son and Ms. Lan 'bowed their heads in silence' and admitted their mistakes. Mother hugged the two children in her arms and gently scolded them: 'Dare to freely take your shirt and give it to someone without fear of being scolded by mother?'. The two sisters, Lan and Son, were taught, lived in their mother's womb, and loved by their mother, so Son and she learned to love their friends and 'love others as if they loved themselves'.
Son is one of the childhood faces in Thach Lam's story, very lovely and endearing. Thach Lam is kind and sophisticated, so his writing is rich and gives us many pleasures. In the cold wind of the first season, Son's heart is so warm!
Source: more: State the circumstances of the Viet Bac poem's composition. Analyze the mood and response of the lyrical character in the excerpt.
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo
Khi xây dựng nhân vật Thị Nở, nhà văn Nam Cao thẳng cánh hạ bút những dòng này: "Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy". Nghèo, xấu, ngẩn ngơ như ba mặt của một lô cốt hình tam giác chóp, nơi tác giả đã nhốt chặt nhân vật Thị Nở của mình vào trong đó. Nhưng có thật thị chỉ có ba điều ấy không? Nhà văn Nam Cao đã xử lý như thế nào trong quá trình triển khai "dự án thiết kế ban đầu" này?
Tôi cho rằng nhân vật Thị Nở ngay từ đầu là một biểu hiện nguyên khối của con người tự nhiên, thuộc về tự nhiên, chứ không hề sắm vai con người xã hội. Thị xấu ma chê quỷ hờn ư? Trong biết bao nhiêu thành phẩm của tạo hóa có phải thứ nào cũng đẹp cả đâu! Đã là giới tự nhiên thì vừa có cái hoàn toàn đẹp, có cái hoàn toàn xấu, lại có cái vừa đẹp vừa xấu. Thị Nở xấu xí như thể một bộ phận của tự nhiên xấu xí, là chuyện có thực. Hơn nữa, thị ăn ngủ, yếm áo, nghĩ ngợi… lúc nào cũng cứ "vô tâm" như không vậy, thì đó chẳng phải là đặc tính hồn nhiên bậc nhất của tự nhiên đó sao! Cho nên trước sau, toàn bộ con người Thị Nở hiện diện với tư cách là cả một khối tự nhiên thô mộc. Mà đã là tự nhiên thì dù thế nào đi nữa, tự nó có vị trí, quyền năng riêng của nó. Nam Cao đã xây dựng chân dung Thị Nở dưới sự chỉ đạo của luồng ánh sáng tư tưởng này (cũng xin lưu ý điều đang nói ở đây hoàn toàn khác với thứ chủ nghĩa tự nhiên, cái mà Nam Cao đã từng bị mang tiếng).
Thì đây, sau lần "ăn nằm" với Chí, tức là sau cái hành động tạo hóa đầy màu nhiệm này, cả Thị Nở lẫn Chí đều được thay đổi. Thị Nở đã hoàn toàn chìm đắm trong cơn đam mê tột cùng của bản năng thiên tạo. Thị đã quên hết thảy mọi ràng buộc của đời sống thường nhật, quên bà cô, quên bặt cả những định kiến tầng tầng lớp lớp của cái xã hội làng Vũ Đại. Khi mà cả làng Vũ Đại quay lưng với Chí, thì chỉ duy nhất mình thị đến với Chí một cách hồn nhiên hết mực. Thế là cái thiên chức (sự chăm lo), thiên lương (tình thương, lòng tốt), những gì gọi là năng lực đàn bà trong thị bỗng động đậy, đòi được thể hiện. Nhưng khác với thị, trong khi hưởng thụ Chí lại là người không hẳn vô tư. Trong con người anh ta cũng bắt đầu xuất hiện ý thức sở hữu duy nhất, triệt để đối với thị, một ý thức về tình yêu của giống người: vừa dâng hiến vừa đòi hỏi. Chính vì thế mà Chí đã nghĩ xa xôi đến một tổ ấm, thứ hạnh phúc bình dị theo kiểu con người. Chí đã khóc khi ăn bát cháo hành, tức là đã khóc vì cái hạnh phúc lần đầu tiên được hưởng thụ theo cung cách của một tổ ấm. Vì không thể vô tư được nên khi phải chờ đợi Thị Nở, Chí Phèo đã sốt ruột, tức tối. Trong khi đó, cuối cùng thị đã đến để trút giận, rồi "ngoay ngoáy cái mông đít" ra về cũng theo một cách vô tâm nhất, không mảy may băn khoăn tiếc nuối, không tính toán xem lợi hại thế nào, bỏ lại Chí trong nỗi đau phụ bạc (theo cách nghĩ của Chí). Vậy là, cái khối tự nhiên vô tâm Thị Nở kia va đụng vào con người xã hội Chí Phèo vụ lợi này thành ra ắt phải đổ vỡ. Quan hệ Thị Nở – Chí Phèo đến đây đã trở thành hạt nổ quyết định bắn vào quả nổ lớn tiếp theo – tấn kịch ắt phải bùng nổ, đẫm máu, vỡ nát (như đã thấy ở phần cuối truyện). Đây là một quan hệ có tính cách khai sáng. Nhờ đó mà cái đầu mụ mị và đầy thù địch của Chí bỗng thay đổi hẳn. Chí Phèo bắt đầu thấy "thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao". Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Không còn nghi ngờ gì nữa, thị đã can dự sâu sắc vào cuộc đời Chí, đánh thức toàn bộ tâm hồn Chí, làm cho đời sống tâm hồn của hắn rung lên từng nếp xếp bấy nay nằm ngủ. Thị Nở đã mang quyền lực của thiên tạo – chiếc đũa thần yêu thương gõ vào cái hộp tối đen đầy bất trắc ấy, thổi vào đó những đốm lửa nhân văn ấm áp, và trên thực tế đã kéo được Chí ra khỏi cõi rồ dại ấy rồi. Đi theo tiếng gọi cảm động của tình yêu, Chí đã bước những bước chập chững, non nớt về với cõi người. Tội đồ bất đắc dĩ mang về nước chúa phục thiện. Ai ngờ, ngoắt một cái, Chí lại nốc rượu, lại xách dao đi… Thế là cả một công trình do thị tạo dựng bỗng chốc đổ vỡ tan tành. Tại thị cả, người chỉ biết cho, chứ không biết giữ mà, khổ thế!
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ LãoXét toàn bộ hành trạng của Chí có hai sự kiện mang tính bước ngoặt: lần một – đi ở tù, lần hai – tình yêu với Thị Nở. Sự kiện lần một không được miêu tả mà chỉ nhắc đến như một dữ kiện. Tác giả chỉ chú tâm khai thác triệt để sự kiện lần hai, và trên thực tế số trang dành cho nó chiếm hơn một phần ba truyện. Nói như thế để thấy rằng sự có mặt của Thị Nở trong cuộc đời Chí (tuy mới chỉ vẻn vẹn có năm ngày sau chót) thực sự có nghĩa lý và quan trọng đến ngần nào. Giả dụ vắng bóng Thị Nở, thì nhân vật Chí Phèo chả có gì đáng nói đáng bàn lắm.
Vậy thì, với tư cách là một khối tự nhiên thô mộc, khiếm khuyết về hình thể, Thị Nở đã bảo toàn trong mình những phẩm chất "nhân chi sơ, tính bản thiện" của giống người: thiên lương, thiên chức, thiên năng – lớp bản chất nằm ở bề sâu khuất chưa bị tha hóa. Cho nên Thị Nở đã thoát ra khỏi cái lốt bọc xấu xí ấy để trở thành một người đàn bà đáng trọng. Thế mới biết Nam Cao thương nhân vật của mình biết mấy!
Thử đặt lại vấn đề: tại sao Nam Cao cứ phải để cho Thị Nở xấu xí và ngẩn ngơ như thế? Có thể để cho thị xấu vừa thôi, hoặc không xấu tí nào cũng được chứ sao? Thậm chí thị có thể là một người hoàn toàn lành lặn cả diện mạo lẫn tâm hồn?
Thi pháp truyện truyền thống khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo nguyên tắc đồng nhất giữa các mặt của một tính cách: ngoại hình và phẩm hạnh, ngôn ngữ và tính nết, hành động và suy nghĩ… Cô Tấm đã đẹp là đẹp hết từ trong ra ngoài. Chị Dậu của Ngô Tất Tố cũng vậy. Quan phụ mẫu trong Bước đường cùng (của Nguyễn Công Hoan) khi diện mạo, cử chỉ, điệu bộ, lời nói đã xấu xa thì phẩm cách cũng không ra gì… Nhưng đến Nam Cao, ông tiến hành ngược hẳn, và phong phú hơn nhiều: có thể bề ngoài xấu nhưng tâm hồn đẹp (mụ Lợi trong Lang Rận), hoặc tâm địa xấu xa nhưng lại được che đậy bởi mã ngoài khá đẹp (Kha trong Truyện tình, vợ của Phúc trong Điếu văn…), hoặc chỉ nội một phương diện tâm hồn thôi cũng vừa có đẹp, vừa có xấu (Điền, Hộ, Thứ – các nhân vật trí thức)… Ông đã nhận thức con người với tất cả tính chất phức tạp không cùng của nó, và mô tả chúng theo nguyên tắc không đồng nhất. Thị Nở thuộc loại đầu tiên – loại nhân vật là một khối không thống nhất giữa các mặt của một tính cách. Nam Cao đã triệt để đi theo nguyên tắc này.
Thêm nữa, nếu để ý ta thấy Nam Cao đã không chỉ nhận thức thực tại qua và chỉ qua những nhân vật mang ý nghĩa điển hình xã hội với tư cách là đại diện tiêu biểu của một chủng loại người, mà còn cả ở những hiện tượng riêng lẻ, dị biệt (nhiều khi oái oăm, trái khoáy) của cuộc đời. Những thứ ấy không phải là nhiều, nhưng rõ ràng đã có, từng có. Chúng được thể hiện ở cấp độ chi tiết, hình ảnh, tình huống truyện… và cao hơn là cấp độ nhân vật. Kiểu thân phận Lão Hạc, Bá Kiến, Thứ, Điền… có nhiều trong thực tại, chứ còn Lang Rận, Mụ Lợi, Trương Rự, thì chỉ là cá biệt, không tiêu biểu. Thị Nở cũng là một mảnh vụn dị biệt và đơn nhất của dòng đời. Nam Cao là người không ngại, và nhiều khi tỏ ra đầy nhiệt hứng sục sạo vào những chỗ lồi lõm, nham nhở của cõi người.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhân vật Thị Nở phải nói là hiện tượng đột xuất. Truyện cổ Việt Nam không có một hình ảnh đàn bà nào như Thị Nở. Nhìn rộng ra, trong ca dao đôi khi bằng cách ngoa ngôn, dân gian cũng đã có lần chê bai những ngừoi đàn bà thuần xấu xí: "Con gái Sơn Tây yếm thủng tày dần", hoặc vừa xấu xí vừa đoảng tính: "Lỗ mũi mười tám gánh lông…". Ta còn có thể tìm thấy thêm những câu tục ngữ ca dao khác "kể xấu" về người đàn bà nữa. Vậy thì, một người lớn lên từ mái tre xóm rạ, sành ngôn ngữ bùn đất quê kiểng như Nam Cao không thể không biết đến những bài ca "ngoa ngoắt" kiểu ấy.
Đến đây, câu hỏi trên kia có phần sáng tỏ. Rõ ràng, Nam Cao có chủ định, có quan niệm hẳn hoi khi xây dựng nhân vật của mình. Ông đã nhất quán từ đầu đến cuối để cho nhân vật Thị Nở của mình thậm xấu như vậy.
Hiểu được đúng và trả lại ý nghĩa cùng kích thước có tầm khái quát cho hình tượng nhân vật Thị Nở, một lần nữa tác phẩm Chí Phèo sẽ sống dậy với nhiều tầng nghĩa thú vị…
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo
Khi xây dựng nhân vật Thị Nở, nhà văn Nam Cao thẳng cánh hạ bút những dòng này: "Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy". Nghèo, xấu, ngẩn ngơ như ba mặt của một lô cốt hình tam giác chóp, nơi tác giả đã nhốt chặt nhân vật Thị Nở của mình vào trong đó. Nhưng có thật thị chỉ có ba điều ấy không? Nhà văn Nam Cao đã xử lý như thế nào trong quá trình triển khai "dự án thiết kế ban đầu" này?
Tôi cho rằng nhân vật Thị Nở ngay từ đầu là một biểu hiện nguyên khối của con người tự nhiên, thuộc về tự nhiên, chứ không hề sắm vai con người xã hội. Thị xấu ma chê quỷ hờn ư? Trong biết bao nhiêu thành phẩm của tạo hóa có phải thứ nào cũng đẹp cả đâu! Đã là giới tự nhiên thì vừa có cái hoàn toàn đẹp, có cái hoàn toàn xấu, lại có cái vừa đẹp vừa xấu. Thị Nở xấu xí như thể một bộ phận của tự nhiên xấu xí, là chuyện có thực. Hơn nữa, thị ăn ngủ, yếm áo, nghĩ ngợi… lúc nào cũng cứ "vô tâm" như không vậy, thì đó chẳng phải là đặc tính hồn nhiên bậc nhất của tự nhiên đó sao! Cho nên trước sau, toàn bộ con người Thị Nở hiện diện với tư cách là cả một khối tự nhiên thô mộc. Mà đã là tự nhiên thì dù thế nào đi nữa, tự nó có vị trí, quyền năng riêng của nó. Nam Cao đã xây dựng chân dung Thị Nở dưới sự chỉ đạo của luồng ánh sáng tư tưởng này (cũng xin lưu ý điều đang nói ở đây hoàn toàn khác với thứ chủ nghĩa tự nhiên, cái mà Nam Cao đã từng bị mang tiếng).
Thì đây, sau lần "ăn nằm" với Chí, tức là sau cái hành động tạo hóa đầy màu nhiệm này, cả Thị Nở lẫn Chí đều được thay đổi. Thị Nở đã hoàn toàn chìm đắm trong cơn đam mê tột cùng của bản năng thiên tạo. Thị đã quên hết thảy mọi ràng buộc của đời sống thường nhật, quên bà cô, quên bặt cả những định kiến tầng tầng lớp lớp của cái xã hội làng Vũ Đại. Khi mà cả làng Vũ Đại quay lưng với Chí, thì chỉ duy nhất mình thị đến với Chí một cách hồn nhiên hết mực. Thế là cái thiên chức (sự chăm lo), thiên lương (tình thương, lòng tốt), những gì gọi là năng lực đàn bà trong thị bỗng động đậy, đòi được thể hiện. Nhưng khác với thị, trong khi hưởng thụ Chí lại là người không hẳn vô tư. Trong con người anh ta cũng bắt đầu xuất hiện ý thức sở hữu duy nhất, triệt để đối với thị, một ý thức về tình yêu của giống người: vừa dâng hiến vừa đòi hỏi. Chính vì thế mà Chí đã nghĩ xa xôi đến một tổ ấm, thứ hạnh phúc bình dị theo kiểu con người. Chí đã khóc khi ăn bát cháo hành, tức là đã khóc vì cái hạnh phúc lần đầu tiên được hưởng thụ theo cung cách của một tổ ấm. Vì không thể vô tư được nên khi phải chờ đợi Thị Nở, Chí Phèo đã sốt ruột, tức tối. Trong khi đó, cuối cùng thị đã đến để trút giận, rồi "ngoay ngoáy cái mông đít" ra về cũng theo một cách vô tâm nhất, không mảy may băn khoăn tiếc nuối, không tính toán xem lợi hại thế nào, bỏ lại Chí trong nỗi đau phụ bạc (theo cách nghĩ của Chí). Vậy là, cái khối tự nhiên vô tâm Thị Nở kia va đụng vào con người xã hội Chí Phèo vụ lợi này thành ra ắt phải đổ vỡ. Quan hệ Thị Nở – Chí Phèo đến đây đã trở thành hạt nổ quyết định bắn vào quả nổ lớn tiếp theo – tấn kịch ắt phải bùng nổ, đẫm máu, vỡ nát (như đã thấy ở phần cuối truyện). Đây là một quan hệ có tính cách khai sáng. Nhờ đó mà cái đầu mụ mị và đầy thù địch của Chí bỗng thay đổi hẳn. Chí Phèo bắt đầu thấy "thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao". Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Không còn nghi ngờ gì nữa, thị đã can dự sâu sắc vào cuộc đời Chí, đánh thức toàn bộ tâm hồn Chí, làm cho đời sống tâm hồn của hắn rung lên từng nếp xếp bấy nay nằm ngủ. Thị Nở đã mang quyền lực của thiên tạo – chiếc đũa thần yêu thương gõ vào cái hộp tối đen đầy bất trắc ấy, thổi vào đó những đốm lửa nhân văn ấm áp, và trên thực tế đã kéo được Chí ra khỏi cõi rồ dại ấy rồi. Đi theo tiếng gọi cảm động của tình yêu, Chí đã bước những bước chập chững, non nớt về với cõi người. Tội đồ bất đắc dĩ mang về nước chúa phục thiện. Ai ngờ, ngoắt một cái, Chí lại nốc rượu, lại xách dao đi… Thế là cả một công trình do thị tạo dựng bỗng chốc đổ vỡ tan tành. Tại thị cả, người chỉ biết cho, chứ không biết giữ mà, khổ thế!
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ LãoXét toàn bộ hành trạng của Chí có hai sự kiện mang tính bước ngoặt: lần một – đi ở tù, lần hai – tình yêu với Thị Nở. Sự kiện lần một không được miêu tả mà chỉ nhắc đến như một dữ kiện. Tác giả chỉ chú tâm khai thác triệt để sự kiện lần hai, và trên thực tế số trang dành cho nó chiếm hơn một phần ba truyện. Nói như thế để thấy rằng sự có mặt của Thị Nở trong cuộc đời Chí (tuy mới chỉ vẻn vẹn có năm ngày sau chót) thực sự có nghĩa lý và quan trọng đến ngần nào. Giả dụ vắng bóng Thị Nở, thì nhân vật Chí Phèo chả có gì đáng nói đáng bàn lắm.
Vậy thì, với tư cách là một khối tự nhiên thô mộc, khiếm khuyết về hình thể, Thị Nở đã bảo toàn trong mình những phẩm chất "nhân chi sơ, tính bản thiện" của giống người: thiên lương, thiên chức, thiên năng – lớp bản chất nằm ở bề sâu khuất chưa bị tha hóa. Cho nên Thị Nở đã thoát ra khỏi cái lốt bọc xấu xí ấy để trở thành một người đàn bà đáng trọng. Thế mới biết Nam Cao thương nhân vật của mình biết mấy!
Thử đặt lại vấn đề: tại sao Nam Cao cứ phải để cho Thị Nở xấu xí và ngẩn ngơ như thế? Có thể để cho thị xấu vừa thôi, hoặc không xấu tí nào cũng được chứ sao? Thậm chí thị có thể là một người hoàn toàn lành lặn cả diện mạo lẫn tâm hồn?
Thi pháp truyện truyền thống khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo nguyên tắc đồng nhất giữa các mặt của một tính cách: ngoại hình và phẩm hạnh, ngôn ngữ và tính nết, hành động và suy nghĩ… Cô Tấm đã đẹp là đẹp hết từ trong ra ngoài. Chị Dậu của Ngô Tất Tố cũng vậy. Quan phụ mẫu trong Bước đường cùng (của Nguyễn Công Hoan) khi diện mạo, cử chỉ, điệu bộ, lời nói đã xấu xa thì phẩm cách cũng không ra gì… Nhưng đến Nam Cao, ông tiến hành ngược hẳn, và phong phú hơn nhiều: có thể bề ngoài xấu nhưng tâm hồn đẹp (mụ Lợi trong Lang Rận), hoặc tâm địa xấu xa nhưng lại được che đậy bởi mã ngoài khá đẹp (Kha trong Truyện tình, vợ của Phúc trong Điếu văn…), hoặc chỉ nội một phương diện tâm hồn thôi cũng vừa có đẹp, vừa có xấu (Điền, Hộ, Thứ – các nhân vật trí thức)… Ông đã nhận thức con người với tất cả tính chất phức tạp không cùng của nó, và mô tả chúng theo nguyên tắc không đồng nhất. Thị Nở thuộc loại đầu tiên – loại nhân vật là một khối không thống nhất giữa các mặt của một tính cách. Nam Cao đã triệt để đi theo nguyên tắc này.
Thêm nữa, nếu để ý ta thấy Nam Cao đã không chỉ nhận thức thực tại qua và chỉ qua những nhân vật mang ý nghĩa điển hình xã hội với tư cách là đại diện tiêu biểu của một chủng loại người, mà còn cả ở những hiện tượng riêng lẻ, dị biệt (nhiều khi oái oăm, trái khoáy) của cuộc đời. Những thứ ấy không phải là nhiều, nhưng rõ ràng đã có, từng có. Chúng được thể hiện ở cấp độ chi tiết, hình ảnh, tình huống truyện… và cao hơn là cấp độ nhân vật. Kiểu thân phận Lão Hạc, Bá Kiến, Thứ, Điền… có nhiều trong thực tại, chứ còn Lang Rận, Mụ Lợi, Trương Rự, thì chỉ là cá biệt, không tiêu biểu. Thị Nở cũng là một mảnh vụn dị biệt và đơn nhất của dòng đời. Nam Cao là người không ngại, và nhiều khi tỏ ra đầy nhiệt hứng sục sạo vào những chỗ lồi lõm, nham nhở của cõi người.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhân vật Thị Nở phải nói là hiện tượng đột xuất. Truyện cổ Việt Nam không có một hình ảnh đàn bà nào như Thị Nở. Nhìn rộng ra, trong ca dao đôi khi bằng cách ngoa ngôn, dân gian cũng đã có lần chê bai những ngừoi đàn bà thuần xấu xí: "Con gái Sơn Tây yếm thủng tày dần", hoặc vừa xấu xí vừa đoảng tính: "Lỗ mũi mười tám gánh lông…". Ta còn có thể tìm thấy thêm những câu tục ngữ ca dao khác "kể xấu" về người đàn bà nữa. Vậy thì, một người lớn lên từ mái tre xóm rạ, sành ngôn ngữ bùn đất quê kiểng như Nam Cao không thể không biết đến những bài ca "ngoa ngoắt" kiểu ấy.
Đến đây, câu hỏi trên kia có phần sáng tỏ. Rõ ràng, Nam Cao có chủ định, có quan niệm hẳn hoi khi xây dựng nhân vật của mình. Ông đã nhất quán từ đầu đến cuối để cho nhân vật Thị Nở của mình thậm xấu như vậy.
Hiểu được đúng và trả lại ý nghĩa cùng kích thước có tầm khái quát cho hình tượng nhân vật Thị Nở, một lần nữa tác phẩm Chí Phèo sẽ sống dậy với nhiều tầng nghĩa thú vị…
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
|
Phân tích nhân vật Tnu trong tác phẩm Rừng Xà Nu
Hướng dẫn
Tác phẩm Rừng xà nu là một trong những sáng tác tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Thông qua nhân vật Tnu, tác giả đã khắc họa lên những người anh hùng Tây Nguyên hiên ngang bất khuất, không ngại khó khăn gian khổ, quyết chiến đấu đến cùng với kẻ thù,
Ngay ở đầu tác phẩm Tnu hiện ra là một cậu bé gan góc, dũng cảm biểu lộ một tính cách táo bạo mạnh mẽ.Tnú biết làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ, nhanh nhẹn luồn rừng đưa thư, vượt qua suối lũ một cách dũng cảm, rất thông minh khi biết được chỗ nào la an toàn. Tuy ít tuổi nhưng Tnu rất thích học chữ, khi thấy mình học kém thì lấy đá đập vào đầu. Khi bị giặc bắt, chú bé nhỏ tuổi này đã chỉ vào bụng mình và nói: “Cộng sản ở đây này”. Khi phải chịu tra tấn dã man của kẻ thù Tnú vẫn không khai báo, vẫn gan dạ kiên cường.
Bom đạn của kẻ thù không giết được Tnu mà làm Tnu trưởng thành hơn, có khí phách phi thường hơn. Tác giả đã dùng hình ảnh rất tài tình khi ví Tnú giống như một cây xà nu trưởng thành, vạm vỡ, căng đầy nhựa sống và ham ánh sáng. Tnu đã hiểu ra muốn đánh thắng giặc thì phải có công cụ và chàng đã vượt qua khó khăn để lên núi mài giáo mác chuẩn bị cho cuộc nổi dậy.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu, làm rõ thái độ cảm thông, trân trọng với đại thi hào: Tiếng thơ ai động đất trời. Nghe như non nước vọng lời ngàn thu. Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du. Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày
Khi Tnu đang có một cuộc sống hạnh phúc người vợ trẻ và đứa con mới chào đời thì bọn giặc đã cầm súng kéo về phá tan sự hạnh phúc của gia đình nhỏ ấy. Tnú và thanh niên trong làng phải trốn vào rừng, còn Mai và đứa con thì bị bắt. Trước sự tra tấn dã man của kẻ thù, Tnu đã không cầm lòng được và xông ra cứu hai mẹ con. Nhưng cuối cùng Tnu đã phải tận mắt chứng kiến cái chết đau đớn của Mai và con trai và còn bị gặc đốt mười đầu ngón tay. Tra tấn dã man với Tnu, bọn giặc nhằm dập tắt ý chí phản kháng, muốn tiêu diệt khát vọng chiến đấu của người dân Xô Man. Nhưng cuối cùng bọn giặc đã không thực hiện được âm mưu của chúng. Tnu và cả dân làng đã đứng lên phản kháng quyết liệt, họ đã dũng cảm đứng lên cầm vũ khí để tự giải phóng mình.Ngọn lửa thiêu cháy mười ngón tay của Tnu không làm cho Tnu đau đớn mà nó lại thổi bùng lên lòng căm thù của Tnu. Cái đêm mà dân vùng lên chống giặc ấy lửa cháy suốt trong bếp lửa nhà ưng. Không khí trong buôn làng lúc đó thật hào hùng, sôi động: “Tiếng chiêng nổi lên, đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn suốt đêm nghe cả rừng Xôman âo ào rung động và lửa cháy khắp rừng.Cái đêm nổi dậy ấy đâu chỉ là của dân làng Xôman mà là sự lớn dậy phi thường của cả 1 cộng đồng, dân tộc.Dường như trong đêm ấy đang sống lại cái không khí linh thiêng hào hùng của những thiên sử thi Tây Nguyên”.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về tình bạn hay nhất
Khí phách của Tnu càng đáng trân trọng khi Tnu đã dùng chính mười đầu ngón tay bị giặc đốt để giết chết chính những tên giặc đó. “Tôi nói: này tao có súng đây, tao có cả dao găm đây nhưng tao không giết mày súng, tao không đâm mày bằng dao nghe chưa Dục.Tao giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi, tao bóp cổ mày thôi”. Đôi bàn tay của Tnu thật phi thường, đôi bàn tay ấy chính là chí khí là tinh thần chiến đấu của dân làng Xô Man, của đồng bào Tây Nguyên. Đôi bàn tay chính là cuộc sống của Tnu, giúp anh học chữ, giúp anh làm mọi việc cho vợ con, giúp anh đánh giặc. Khi bọn giặc đã hủy hoại đôi bàn tay ấy, nhưng sức chiến đấu của nó thì mãi mãi tồn tại.
Nhân vật Tnu chính là hiện thân của dân làng Tây Nguyên, anh dũng kiên cường, cùng đoàn kết để đứng lên chống lại bọn đế quốc xâm lược. Với tinh thần quyết tâm chiến đấu, bất chấp kho khăn gian khổ của dân làng là nguồn động lực cho toàn quân toàn dân ta đứng lên đấu tranh dành lại độc lập một cách vẻ vang cho dân tộc.
Nguồn:
|
Analysis of the character Tnu in the work Xa Nu Forest
Instruct
The work The Soap Forest is one of the typical works of writer Nguyen Trung Thanh. Through the character Tnu, the author portrayed the heroes of the Central Highlands who were brave and indomitable, not afraid of difficulties and hardships, determined to fight to the end with the enemy.
Right at the beginning of the work, Tnu appears as a brave and courageous boy who displays a bold and strong personality. Tnú knows how to make contacts, hide cadres, nimbly go through the forest to deliver mail, and cross flood streams without hesitation. bravely, very intelligently knowing where is safe. Although he is young, Tnu loves learning and writing. When he sees that he is not learning well, he hits his head with a rock. When captured by the enemy, this young boy pointed to his stomach and said: "The communists are here." When subjected to brutal torture by the enemy, Tnú still did not declare, still courageous and resilient.
The enemy's bombs did not kill Tnu, but made Tnu more mature and have more extraordinary spirit. The author used a very clever image when likening Tnú to a mature, muscular snakehead tree, full of life and hungry for light. Tnu understood that if you want to defeat the enemy, you must have tools and he overcame difficulties to go to the mountain to sharpen his spears to prepare for the uprising. See more: Commentary on the following poem in Dear Nguyen Du - To Huu , clarifying the attitude of sympathy and respect for the great poet: Whose poetry moves heaven and earth. It sounds like mountains and rivers echoing eternal words. Thousands of years from now, remember Nguyen Du. The voice of love is like a mother's lullaby during the day
While Tnu was living a happy life with his young wife and new born child, the enemy came back with guns to destroy the happiness of that small family. Tnú and the young men in the village had to escape into the forest, while Mai and her child were captured. Faced with the brutal torture of the enemy, Tnu could not hold back and rushed out to save mother and child. But in the end, Tnu had to witness the painful death of Mai and her son and also had ten fingers burned. Brutally torturing Tnu, the enemy aimed to extinguish the will to resist and destroy the fighting desire of the Soviet people. But in the end the enemies failed to carry out their plot. Tnu and the villagers stood up to protest fiercely, they courageously stood up and took up arms to liberate themselves. The fire that burned Tnu's ten fingers did not cause Tnu pain, but it inflamed his heart. Tnu's hatred. The night that the people rose up against the enemy, the fire burned throughout the house's kitchen. The atmosphere in the village at that time was very heroic and vibrant: "The gong sounded, standing on the snake hill near the big water all night long, I heard the whole Soman forest vibrating and fire burning throughout the forest. That night of the uprising. It was not just the Soman villagers but the extraordinary growth of an entire community and nation. It seemed that on that night the sacred and heroic atmosphere of the Central Highlands epics was reliving." See more: My thoughts on the best friendship
Tnu's courage is even more admirable when he used the ten fingers burned by the enemy to kill those same enemies. "I said: hey, I have a gun, I have a dagger, but I won't kill you. I won't kill you. I won't stab you with a knife. You hear me, Duc. I'll kill you with these ten missing fingers. I'll just strangle you." . Tnu's hands are extraordinary, those hands are the will and fighting spirit of the Xo Man villagers and the Central Highlands people. His hands are Tnu's life, helping him learn to read, helping him do everything for his wife and children, and helping him fight the enemy. When the enemy destroyed those hands, their fighting power remained forever.
The character Tnu is the embodiment of the villagers of the Central Highlands, courageous and resilient, united to stand up against the invading imperialists. The villagers' determination to fight despite the hardships was the source of motivation for our entire army and people to stand up and fight gloriously to regain independence for the nation.
Source:
|
Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Gợi ý
Đọc truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, sáng tác năm 1965 rút từ tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, điều để lại ấn tượng khó quên trong tâm hồn độc giả không chỉ là hình tượng cây xà nu giàu sức sống, ham ánh sáng, thân cây thẳng tắp vươn lên bầu trời đón lấy nắng vàng toả chất nhựa thơm mỡ màng… mà còn là hình ảnh những con người Tây Nguyên bất khuất, kiên trung, thuỷ chung, trong sáng, giàu tình nghĩa, trọn đời gắn bó với cách mạng và quyết không đội trời chung với kẻ thù Mỹ – Ngụy như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Xứt, bà Nhan… Nổi bật nhất trong số đó là Tnú, một hình tượng vừa kết tinh được phẩm chất tốt đẹp của người Tây Nguyên, vừa được tác giả viết với bút pháp mang đậm màu sắc sử thi.
Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà nu bập bùng, tất cả dân làng Xô Man già trẻ gái trai đã nghe cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu dài ngang ngực kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú.
Tnú hiện lên dưới ngòi bút của nhà văn là người có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng, gan góc, táo bạo… Tnú là người con của dân làng Xô Man, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng có cái bụng thương núi, thương nước, Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Từ tấm lòng này, Tnú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung thành thủy chung sâu nặng với cách mạng, cán bộ cách mạng. Bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn lửa cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn. Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời, Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như Kim Đồng, Lê Ván Tám, Vừ A Dính… Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù: chặt đầu những người đi nuôi cán bộ – đầu anh Xút, bà Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai vẫn xung phong gương mẫu vào rừng bảo vệ nuôi dưỡng anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy hiểm nguy, vốn là con người nhanh trí, táo bạo thích mạo hiểm, Tnú không vượt qua suối những nơi nước cạn dễ đi mà thường băng qua những con thác hiểm như cưỡi lên lưng con cá kình. Có lần vừa vượt qua thác, chuẩn bị bước lên bờ thì hai họng súng đen ngòm đã chĩa vào tai lạnh ngắt của Tnú. Địch tra tấn hỏi Cộng sản ở đâu? Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng: Ở đây này! Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Đúng Tnú là con người rất giàu phẩm chất thuỷ chung, trung thành với cách mạng mà bất khuất hiên ngang trước kẻ thù uy vũ không thể khuất phục.Xem thêm: Viết bài văn ngắn miêu tả hình ảnh những hàng cây của quê hương em vào buổi sáng sớm Tnú không chỉ có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng mà anh còn là con người chính trực, thẳng thắn, trong sáng như cây xà nu. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị hy sinh. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết từ huyện về xã, đảm bảo an toàn, vượt qua tất cả vòng vây của giặc. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình bằng cách cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng. Hành động này có cái gì đó hơi nóng nảy nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá của một người anh hùng mới: Trung với Đảng, hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng (Lời dạy của Bác).
Tnú còn có một tình yêu đẹp: trong sáng, thủy chung… Tnú lớn lên đã trở thành một chàng trai kết tinh được những phẩm chất cao đẹp của người dân Xô Man. Anh là thần tượng, là niềm ngưỡng mộ của nhiều cô gái làng. Trong số đó có Mai, người bạn từ thuở thiếu thời, một cô gái dịu dàng xinh đẹp, có đôi mắt đen long lanh chất chứa biết bao tình yêu thương mà đầy kiên nghị, cứng rắn. Mối tình của họ rất thơ mộng và trưởng thành qua năm tháng đầy thử thách khốc liệt của chiến tranh. Rồi họ trở thành vợ chồng. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thuỷ chung ấy. Hạnh phúc gia đình lứa đôi của Tnú đang đẹp như trăng rằm lung linh tỏa sáng cả núi rừng Tây Nguyên.Xem thêm: Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy vào cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi, huống chi cái vận may không mấy khi được gặp
Càng yêu nước thương dân bao nhiêu thì Tnú càng căm thù giặc bấy nhiêu. Kẻ thù tàn bạo dã man đã phá vỡ tổ ấm hạnh phúc của Tnú một cách không hề tiếc thương. Chúng đã giết vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của Tnú, người cầm đầu, linh hồn của cuộc nổi dậy và nhân dân làng Xô Man. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương tràn đầy xúc cảm và ấn tượng. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy…. bụng anh có lửa đốt Chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Căm thù đau nhói trong tim và bùng cháy trông hai con mắt – một chi tiết thật dữ dội – đã đột nhiên biến thành tiếng thét của Tnú. Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ cầm hòn của dân Xô Man. Trong phút chốc họ đã: Chém! ‘Chém giết!, xác mười tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa.
Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lý giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: Tnú không cứu được vợ, được con… nhớ không… Tao cũng chỉ có hai bàn tay không… nhớ lấy, ghi lấy… sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo. Đó là chân lý của cách mạng được nảy sinh từ mảnh đất Tây Nguyên thấm máu và nước mắt. Đó là một chân lý thật nghiệt ngã nhưng tất yếu: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.
Vượt qua bi kịch cá nhân Tnú đã cầm vũ khí tham gia giải phóng quân. Tnú cũng như cả dân làng Xô Man vùng dậy cầm lấy giáo mác… làm vũ khí chống lại súng đạn tối tân tàn bạo của Mỹ – Ngụy. Và chặng đường cầm vũ khí của Tnú được nối tiếp bằng việc đi lực lượng. Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân, tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả những thằng Dục, kẻ thù không đội trời chung với vợ con anh – còn tồn tại trền đất nước Việt Nam này. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao: tuy nhớ quê hương gia đình, nhưng phải được cấp trên cho phép mới về và cũng chỉ về đúng một đêm như quy định trong giấy phép.Xem thêm: Cảm hứng thẩm mĩ và văn phong của Hoàng Phù Ngọc Tường qua đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Nhân vật Tnú không chỉ hấp dẫn độc giả chúng ta bởi những phẩm chất, tính cách anh hùng; bởi bút pháp mang đậm màu sắc sử thi bi tráng và tính chất triết lý của nó, mà còn hấp dẫn bởi tính chất hình tượng của tác phẩm. Một trong những hình tượng giàu nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ và tạo nên một sức ám ảnh đặc biệt cho độc giả là hình ảnh bàn tay của Tnú. Đây là một hình tượng như có một số phận riêng, gắn bó mật thiết với cuộc đời Tnú, góp phần tô đậm thêm những nét phẩm chất, tính cách cao đẹp của anh. Đó là bàn tay của sự trung thực, tình nghĩa, từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho; từng đặt lên bụng mình mà nói: Cộng sản đây này. Bàn tay ấy cũng đã tùng được Mai nắm chặt mà khóc những giọt nước mắt nóng bỏng yêu thương đồng cảm, khi Tnú vượt ngục trở về… khi giặc đốt mười đầu ngón tay Tnú, bàn tay trở thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời. Lòng hận thù ấy đã biến bàn tay Tnú thành bàn tay quả báo – mười ngọn đuốc từ ngón tay Tnú đã châm bùng lên ngọn lửa nổi dậy của dân làng Xô Man. Bàn tay chỉ còn hai đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng để Tnú lên đường rửa hận. Và cuối cùng với chính bàn tay ấy, Tnú đã xiết vào cổ họng tất cả những thằng Dục tàn ác hơn cả dã thú.
Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú vừa có ý nghĩa cụ thể, cá thể, vừa có ý nghĩa điển hình tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng. Nhân vật Tnú còn có cái gì đó phảng phất như những anh hùng trong các trường ca Đăm Săn, Xinh Nhêu
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Gợi ý
Đọc truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, sáng tác năm 1965 rút từ tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, điều để lại ấn tượng khó quên trong tâm hồn độc giả không chỉ là hình tượng cây xà nu giàu sức sống, ham ánh sáng, thân cây thẳng tắp vươn lên bầu trời đón lấy nắng vàng toả chất nhựa thơm mỡ màng… mà còn là hình ảnh những con người Tây Nguyên bất khuất, kiên trung, thuỷ chung, trong sáng, giàu tình nghĩa, trọn đời gắn bó với cách mạng và quyết không đội trời chung với kẻ thù Mỹ – Ngụy như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Xứt, bà Nhan… Nổi bật nhất trong số đó là Tnú, một hình tượng vừa kết tinh được phẩm chất tốt đẹp của người Tây Nguyên, vừa được tác giả viết với bút pháp mang đậm màu sắc sử thi.
Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà nu bập bùng, tất cả dân làng Xô Man già trẻ gái trai đã nghe cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu dài ngang ngực kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú.
Tnú hiện lên dưới ngòi bút của nhà văn là người có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng, gan góc, táo bạo… Tnú là người con của dân làng Xô Man, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng có cái bụng thương núi, thương nước, Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Từ tấm lòng này, Tnú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung thành thủy chung sâu nặng với cách mạng, cán bộ cách mạng. Bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn lửa cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn. Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời, Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như Kim Đồng, Lê Ván Tám, Vừ A Dính… Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù: chặt đầu những người đi nuôi cán bộ – đầu anh Xút, bà Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai vẫn xung phong gương mẫu vào rừng bảo vệ nuôi dưỡng anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy hiểm nguy, vốn là con người nhanh trí, táo bạo thích mạo hiểm, Tnú không vượt qua suối những nơi nước cạn dễ đi mà thường băng qua những con thác hiểm như cưỡi lên lưng con cá kình. Có lần vừa vượt qua thác, chuẩn bị bước lên bờ thì hai họng súng đen ngòm đã chĩa vào tai lạnh ngắt của Tnú. Địch tra tấn hỏi Cộng sản ở đâu? Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng: Ở đây này! Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Đúng Tnú là con người rất giàu phẩm chất thuỷ chung, trung thành với cách mạng mà bất khuất hiên ngang trước kẻ thù uy vũ không thể khuất phục.Xem thêm: Viết bài văn ngắn miêu tả hình ảnh những hàng cây của quê hương em vào buổi sáng sớm Tnú không chỉ có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng mà anh còn là con người chính trực, thẳng thắn, trong sáng như cây xà nu. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị hy sinh. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết từ huyện về xã, đảm bảo an toàn, vượt qua tất cả vòng vây của giặc. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình bằng cách cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng. Hành động này có cái gì đó hơi nóng nảy nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá của một người anh hùng mới: Trung với Đảng, hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng (Lời dạy của Bác).
Tnú còn có một tình yêu đẹp: trong sáng, thủy chung… Tnú lớn lên đã trở thành một chàng trai kết tinh được những phẩm chất cao đẹp của người dân Xô Man. Anh là thần tượng, là niềm ngưỡng mộ của nhiều cô gái làng. Trong số đó có Mai, người bạn từ thuở thiếu thời, một cô gái dịu dàng xinh đẹp, có đôi mắt đen long lanh chất chứa biết bao tình yêu thương mà đầy kiên nghị, cứng rắn. Mối tình của họ rất thơ mộng và trưởng thành qua năm tháng đầy thử thách khốc liệt của chiến tranh. Rồi họ trở thành vợ chồng. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thuỷ chung ấy. Hạnh phúc gia đình lứa đôi của Tnú đang đẹp như trăng rằm lung linh tỏa sáng cả núi rừng Tây Nguyên.Xem thêm: Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy vào cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi, huống chi cái vận may không mấy khi được gặp
Càng yêu nước thương dân bao nhiêu thì Tnú càng căm thù giặc bấy nhiêu. Kẻ thù tàn bạo dã man đã phá vỡ tổ ấm hạnh phúc của Tnú một cách không hề tiếc thương. Chúng đã giết vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của Tnú, người cầm đầu, linh hồn của cuộc nổi dậy và nhân dân làng Xô Man. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương tràn đầy xúc cảm và ấn tượng. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy…. bụng anh có lửa đốt Chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Căm thù đau nhói trong tim và bùng cháy trông hai con mắt – một chi tiết thật dữ dội – đã đột nhiên biến thành tiếng thét của Tnú. Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ cầm hòn của dân Xô Man. Trong phút chốc họ đã: Chém! ‘Chém giết!, xác mười tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa.
Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lý giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: Tnú không cứu được vợ, được con… nhớ không… Tao cũng chỉ có hai bàn tay không… nhớ lấy, ghi lấy… sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo. Đó là chân lý của cách mạng được nảy sinh từ mảnh đất Tây Nguyên thấm máu và nước mắt. Đó là một chân lý thật nghiệt ngã nhưng tất yếu: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.
Vượt qua bi kịch cá nhân Tnú đã cầm vũ khí tham gia giải phóng quân. Tnú cũng như cả dân làng Xô Man vùng dậy cầm lấy giáo mác… làm vũ khí chống lại súng đạn tối tân tàn bạo của Mỹ – Ngụy. Và chặng đường cầm vũ khí của Tnú được nối tiếp bằng việc đi lực lượng. Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân, tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả những thằng Dục, kẻ thù không đội trời chung với vợ con anh – còn tồn tại trền đất nước Việt Nam này. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao: tuy nhớ quê hương gia đình, nhưng phải được cấp trên cho phép mới về và cũng chỉ về đúng một đêm như quy định trong giấy phép.Xem thêm: Cảm hứng thẩm mĩ và văn phong của Hoàng Phù Ngọc Tường qua đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Nhân vật Tnú không chỉ hấp dẫn độc giả chúng ta bởi những phẩm chất, tính cách anh hùng; bởi bút pháp mang đậm màu sắc sử thi bi tráng và tính chất triết lý của nó, mà còn hấp dẫn bởi tính chất hình tượng của tác phẩm. Một trong những hình tượng giàu nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ và tạo nên một sức ám ảnh đặc biệt cho độc giả là hình ảnh bàn tay của Tnú. Đây là một hình tượng như có một số phận riêng, gắn bó mật thiết với cuộc đời Tnú, góp phần tô đậm thêm những nét phẩm chất, tính cách cao đẹp của anh. Đó là bàn tay của sự trung thực, tình nghĩa, từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho; từng đặt lên bụng mình mà nói: Cộng sản đây này. Bàn tay ấy cũng đã tùng được Mai nắm chặt mà khóc những giọt nước mắt nóng bỏng yêu thương đồng cảm, khi Tnú vượt ngục trở về… khi giặc đốt mười đầu ngón tay Tnú, bàn tay trở thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời. Lòng hận thù ấy đã biến bàn tay Tnú thành bàn tay quả báo – mười ngọn đuốc từ ngón tay Tnú đã châm bùng lên ngọn lửa nổi dậy của dân làng Xô Man. Bàn tay chỉ còn hai đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng để Tnú lên đường rửa hận. Và cuối cùng với chính bàn tay ấy, Tnú đã xiết vào cổ họng tất cả những thằng Dục tàn ác hơn cả dã thú.
Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú vừa có ý nghĩa cụ thể, cá thể, vừa có ý nghĩa điển hình tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng. Nhân vật Tnú còn có cái gì đó phảng phất như những anh hùng trong các trường ca Đăm Săn, Xinh Nhêu
Vanmau.edu.vn
|
Tnú là một nhân vật anh hùng, có xuất thân mồ côi nhưng lớn lên trong tình yêu thương của dân làng và sớm giác ngộ cách mạng. Ở Tnú chứa đựng nhiều phẩm chất tốt đẹp, là tấm gương cho những thế hệ sau noi theo. Muốn hiểu rõ về nhân vật này các em cần đi sâu vào phân tích nhân vật Tnú.
Để có thể làm tốt đề văn phân tích nhân vật Tnú thì trước tiên các em cần phải biết cách lập dàn ý. Dàn ý càng chi tiết thì bài phân tích càng sâu và chắc. Dưới đây sẽ là hướng dẫn về cách lập dàn ý cũng như gợi ý bài làm cho đề văn này.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Tnú
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trung Thành và tác phẩm Rừng xà nu.
– Giới thiệu về nhân vật Tnú, một con người anh hùng của Tây Nguyên.
2. Thân bài phân tích nhân vật Tnú
Sự xuất hiện của nhân vật
– Thông qua lời kể của cụ Mết trong một đêm mưa rì rào như gió nhẹ.
Lúc còn bé đến khi trở thành chiến sĩ
– Cha mẹ Tnú mất sớm, Tnú lớn lên được người dân làng Xô man chăm sóc, cưu mang.
– Tnú là người có nhiều phẩm chất tốt đẹp như trung thực, trong sáng, chính trực, hiên ngang như cây xà nu.
– Tnú có cái đầu sáng lạ lùng.
Tnú và bi kịch gia đình
– Sau thời gian 3 năm ở tù, Tnú đã vượt ngục để trở về lãnh đạo dân làng Xô man đánh giặc.
– Tnú bị bắt trói và vợ con bị giặc giết chết trước mặt anh. Nỗi đau trào dâng lên trong người nhưng Tnú đã nến nỗi đau lại để đứng lên đánh giặc.
Vượt qua bi kịch cá nhân và trở thành chiến sĩ
– Tnú lãnh đạo cả dân làng Xô man đứng lên đánh giặc.
Hình tượng Tnú gắn liền với hình tượng độc đáo: bàn tay
– Bút pháp mang đậm màu sắc sử thi.Xem thêm: Viết đoạn văn tả mẹ đang xem ti vi
– Hình ảnh ngón tay Tnú bị đốt cháy là lời tố cáo tội ác của quân giặc, là ngọn lửa tinh thần của Tnú.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Tnú.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Tnú
Nhà văn Nguyễn Trung Thành là một người con của Quảng Nam nhưng ông dành nhiều tình cảm cho mảnh đất và con người Tây Nguyên. Chính vì vậy mà trong những sáng tác của mình, ông cũng viết nhiều về mảnh đất này. Nổi bật lên trong số đó là tác phẩm Rừng xà nu. Trong tác phẩm này, Nguyễn Trung Thành đã khéo léo xây dựng nhân vật người anh hùng Tnú với nhiều phẩm chất tốt đẹp. Tnú trở thành nhân vật điển hình cho thanh niên thế hệ thời kháng chiến chống Mĩ, trở thành con người điển hình cho mảnh đất Tây Nguyên giàu truyền thống.
Tnú xuất hiện không phải thông qua lời giới thiệu của tác giả mà thông qua lời kể của cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ và đôi mắt sáng quắc. Cụ Mết là người đã chứng kiến biết bao nhiêu sự đổi thay của làng Xô man, chứng kiến sự trưởng thành của Tnú. Chính vì vậy những lời cụ Mết là những lời chân thật nhất, sâu sắc nhất. Tnú qua lời kể của cụ hiện lên một cách khách quan hơn và khiến cho người đọc cảm thấy ấn tượng hơn.
Phân tích nhân vật Tnú
Tnú khá đáng thương khi từ nhỏ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng may mắn là Tnú được lớn lên trong tình yêu thương và sự chăm sóc của dân làng Xô man. Tnú cũng như bao nhiêu người con Tây Nguyên khác có cái bụng thương núi, thương nước. Từ khi còn là một cậu bé, Tnú đã biết yêu thương nhân dân và làng xóm. Tnú lớn dần lên, tình yêu thương làng xóm cũng phát triển thành tình yêu Cách mạng, tình yêu nước. Một phần là vì từ nhỏ Tnú đã sớm được giác ngộ Cách mạng thông qua những lời kể của cụ Mết. Cụ Mết giống như người giữ gìn và truyện ngọn lửa Cách mạng hết thế hệ này sang thế hệ khác. Hình ảnh của Tnú khiến cho chúng ta liên tưởng đến những người anh hùng nhỏ tuổi như Vừ A Dính, như Kim Đồng,… Tnú có tinh thần vô cùng quả cảm mặc dù biết rằng việc theo cách mạng sẽ gặp rất nhiều gian nguy. Giống như anh Xút, bà Nhan cũng đã bị giặc treo đầu lủng lẳng ở đầu bản xóm. Nhưng Tnú không vì thế mà run sợ. Tnú vẫn xung phong cùng với Mai đi vào rừng để bảo vệ anh Quyết. Công việc này vô cùng nguy hiểm nhưng Tnú đã làm và làm rất tốt khiến cho dân làng Xô man vô cùng tự hào.Xem thêm: Hãy phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Cũng như cây xà nu, Tnú trung thực, thẳng thắn, chính trực và trong sáng. Vì muốn trở thành cán bộ giỏi như anh Quyết, Tnú đã quyết tâm học cho bằng được cái chữ cụ Hồ. Trong công việc đưa thư, Tnú có cái đầu sáng lạ lùng khi tìm được đường rừng khiến địch không thể phát hiện ra. Thế nhưng trong việc học chữ thì Tnú lại rất hay quên. Tnú đã lấy đá đập vào đầu mình để tự răn bản thân khi học chữ thua Mai. Mặc dù hành động này có biểu lộ một chút tính khí nóng nảy của Tnú nhưng nó cũng cho thấy Tnú là người có ý chí và quyết tâm sắt đá. Với ý chí ấy, khi bị giặc bắt, Tnú đã dũng cảm không khai ra địa chỉ của Cộng sản dù bị giặc tra tấn như thế nào. Tnú đã bộc lộ khí phách hiên ngang của một người anh hùng dân tộc.
Ở tù 3 năm thì Tnú vượt ngục để trở về trực tiếp lãnh đạo dân làng Xô man đánh giặc. Người bạn từ thuở thiếu thời của Tnú là Mai giờ đây đã trở thành vợ của Tnú. Họ có với nhau một người con trai vô cùng kháu khỉnh. Đó là kết tinh của tình yêu. Hạnh phúc gia đình tưởng như sẽ đẹp mãi như trăng rằm thì biết đâu sự việc bất ngờ ập tới và làm mọi thứ trở nên vỡ nát. Tnú bị bắt trói, phải đứng nhìn vợ con mình bị quân giặc giết hại. Đây là nỗi đau lớn không gì có thể bù đắp được. Quân giặc nghĩ làm như vậy Tnú sẽ phải run sợ mà đầu hàng nhưng chúng không ngờ lại càng khiến ý chí của Tnú trở nên sắt đá hơn. Tnú dù bị giặc đốt cháy 10 đầu ngón tay vẫn vùng lên biến nó thành ngọn lửa căm hờn. Tnú đã biến đau thương thành hành động, anh cùng với dân làng vùng lên chống lại kẻ thù xâm lược.Xem thêm: Thầy cô tư vấn kỹ năng làm tốt bài thi Ngữ văn Kỳ thi THPT quốc gia
Sau những ngày tháng trải qua khổ đau bi kịch của cuộc đời, Tnú đã trở thành một cán bộ chiến sĩ thực thụ. Tnú có tinh thần trách nhiệm và luôn thực hiện đúng kỉ cương, được phép mới trở về quê hương dù rất nhớ buôn làng của mình. Câu chuyện về Tnú và 10 đầu ngón tay bị đốt đã trở thành huyền thoại. Tnú được thế hệ sau ngưỡng mộ và yêu thương coi như một tấm gương sáng để noi theo.
Cuộc đời đầy bi tráng của Tnú mang nhiều ý nghĩa. Tnú là đại diện cho những người anh hùng một thời dám đứng lên đấu tranh giải phòng dân tộc.
Trên đây là bài làm phân tích nhân vật Tnú và hướng dẫn lập dàn ý chi tiết. Hy vọng với bài viết này các em đã có thêm những kiến thức bổ ích phục vụ cho việc học môn Ngữ Văn.
Thu Thủy
|
Tnú is a heroic character who came from an orphaned background but grew up in the love of the villagers and soon became enlightened about the revolution. Tnú contains many good qualities and is an example for future generations to follow. To understand this character clearly, you need to go deeper into analyzing Tnú's character.
To be able to do a good job analyzing the character of Tnú, you first need to know how to make an outline. The more detailed the outline, the deeper and stronger the analysis will be. Below are instructions on how to create an outline as well as suggested assignments for this topic.
I. Create an outline to analyze Tnú's character
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Trung Thanh and his work The Snake Forest.
– Introducing the character Tnú, a heroic man of the Central Highlands.
2. The body of the essay analyzes the character Tnú
Character appearance
– Through the words of Mr. Met on a rainy night whispering like a gentle breeze.
From childhood to becoming a soldier
– Tnú's parents died early, Tnú grew up being cared for and supported by the people of Xo man village.
– Tnú is a person with many good qualities such as honesty, purity, integrity, and being as proud as a snake tree.
– Tnú has a strangely bright head.
Tnú and family tragedy
– After 3 years in prison, Tnú escaped from prison to return to lead the Soviet villagers to fight the enemy.
– Tnú was captured and tied up and his wife and children were killed by the enemy in front of him. Pain welled up in his body, but Tnú suppressed the pain to stand up and fight the enemy.
Overcome personal tragedy and become a warrior
– Tnú led the entire Xoman villagers to stand up and fight the enemy.
The image of Tnú is associated with a unique image: the hand
– The writing style is full of epic colors. See more: Write a paragraph describing your mother watching TV
– The image of Tnú's burned finger is a denunciation of the enemy's crimes, and is the spiritual fire of Tnú.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Tnú.
Related articles
>> Analysis of the character Mi in A Phu Couple (With detailed outline)
>> Analysis of the work The Da River Boatman by Nguyen Tuan (With detailed outline)
>> Analysis of the work The Boat in the Distance by Nguyen Minh Chau (With detailed outline)
II. Tnú character analysis essay
Writer Nguyen Trung Thanh is a son of Quang Nam, but he has a lot of love for the land and people of the Central Highlands. That's why in his works, he also wrote a lot about this land. Prominent among them is the work The Snake Forest. In this work, Nguyen Trung Thanh skillfully built the character of the hero Tnú with many good qualities. Tnú became a typical character for the youth of the generation during the resistance war against the US, becoming a typical person for the rich tradition of the Central Highlands.
Tnú appeared not through the author's introduction but through the words of Mr. Met, a village elder with a muscular body and bright eyes. Mr. Met was the one who witnessed so many changes in the Xo man village and witnessed the growth of Tnú. That's why Mr. Met's words are the truest and most profound words. Through his narration, it appears more objectively and makes the reader feel more impressed.
Analysis of Tnú character
Tnú is quite pitiful as he lost both parents at a young age. But fortunately, Tnú was raised in the love and care of the Xo man villagers. Tnú, like many other people of the Central Highlands, has a heart that loves the mountains and the country. Since he was a boy, Tnú has known how to love the people and the village. As Tnú grew older, love for the village also developed into love for the Revolution and love for the country. Partly because from a young age, Tnú was soon enlightened about the Revolution through Mr. Met's words. Mr. Met is like the person who preserves and carries forward the flame of the Revolution from generation to generation. Tnú's image makes us think of young heroes like Vu A Dinh, like Kim Dong,... Tnú has an extremely brave spirit even though he knows that following the revolution will face many dangers. Like Mr. Xut, Mrs. Nhan also had her head hung by the enemy at the head of the village. But Tnú did not tremble because of that. Tnú still volunteered to go into the forest with Mai to protect Mr. Quyet. This job is extremely dangerous, but Tnú did it and did it very well, making the Xo man villagers extremely proud. See more: Let's analyze the humanitarian value of the work A Phu and His Wife
Like the snake plant, Tnú is honest, straightforward, upright and pure. Because he wanted to become a good officer like Mr. Quyet, Tnú was determined to learn the words of Uncle Ho. In his job as a postman, Tnú had a strangely bright head when he found a path in the forest that the enemy could not detect. However, in learning to read, Tnú is very forgetful. Tnú used a rock to hit himself on the head to punish himself for losing to Mai. Although this action shows a bit of Tnú's hot temper, it also shows that Tnú is a person with iron will and determination. With that will, when captured by the enemy, Tnú courageously did not reveal his Communist address no matter how the enemy tortured him. Tnú has shown the bravery of a national hero.
After spending 3 years in prison, Tnú escaped and returned to directly lead the Soviet villagers to fight the enemy. Tnú's childhood friend, Mai, has now become Tnú's wife. They have an extremely handsome son together. It is the crystallization of love. Family happiness seems to be as beautiful as the full moon forever, but who knows, unexpected events will strike and make everything fall apart. Tnú was captured and tied up, having to stand and watch as his wife and children were killed by the enemy. This is a great pain that nothing can compensate for. The enemy thought that doing so would make Tnú tremble and surrender, but they did not expect that it would make Tnú's will even stronger. Even though 10 fingertips were burned by the enemy, Tnú still rose up and turned them into a fire of hatred. Tnú turned pain into action, he and the villagers rose up against the invading enemy. See more: Teachers advise on skills to do well on the Literature test of the National High School Exam
After days of suffering and tragedy in life, Tnú became a true soldier. Tnú has a sense of responsibility and always follows discipline, so he was allowed to return to his hometown even though he missed his village very much. The story of Tnú and his 10 burned fingers has become legendary. Tnú is admired and loved by the next generation as a shining example to follow.
Tnú's tragic life has many meanings. Tnú represents the heroes who once dared to stand up and fight to defend the nation.
Above is an assignment to analyze Tnú's character and instructions for creating a detailed outline. Hopefully with this article, you will have more useful knowledge to help you learn Literature.
Thu Thuy
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Nguyễn Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông có những thành công nổi bật ngay từ sáng tác đầu tay (Đất nước đứng lên, giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng của đội văn nghệ Việt Nam trao tặng 1954 – 1955). Trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Nhà văn sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi, bất khuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công của truyện ngắn Rừng xà nu được ông sáng tác vòa mùa hè 1954, khi đế quốc Mĩ tấn công quyết liệt miền Nam nước ta. Tác phẩm này đã đạt giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện.
Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
Trước hết, ta thấy Tnú là một con người rất gắn bó với cm, gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực. Ngay từ thuở nhỏ, Tnú đã dám một mình vào rừng tiếp tế cho anh Quyết, cán bộ cm mà không sợ bị bắt treo cổ lên cây vả đầu làng hay bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng như anh Xút, bà Nhan. Còn khi học chữ thua Mai thì “nổi nóng, đập bể cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày”, “cầm hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng”. Khi bị giặc vây các ngả đường, Tnú “leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi”. Qua sông, “không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên một nước, cưỡi lên thác bang bang như một con cá kình” vì nghĩ rằng: “qua chỗ nước êm, thằng Mĩ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Một lần, ngậm vào miệng cái thư định vượt thác thì bị giặc bắt phục kích, Tnú linh hoạt, nhanh trí nuốt luôn cái thư. Khi bị giặc bắt, quấn giẻ lên mười đầu ngón tay, lấy lửa đốt, Tnú không kêu lên một tiếng nào mà còn trợn mắt nhìn kẻ thù trừng trừng: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chat đầu lưỡi. Răng anh cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên (…) Tnú không thèm, không thể kêu van”. Mặc dù mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt và phải chứng kiến tận mắt kẻ thù giết hại vợ con nhưng Tnú vẫn vượt lên mọi đau đớn, bi kịch cá nhân hang hái gia nhập bộ đội Giải phóng để trả thù cho quê hương và những người thân.
Mặt khác, Tnú là một con người có tính kỉ luật cao. Mặc dù ba năm đi lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phải xa quê hương, xa mái ấm gia đình, xa người thâ, xa bạn bè, nỗi nhớ choán đầy cả cõi lòng nhưng anh không tự ý về thăm làng. Anh xin giấy phép của cấp trên, có chữ kí của người chỉ huy, trung thực trình cho chị Dít và dân làng kiểm tra trong chuyến về phép. Sau một đêm nghỉ phép, anh trở lại đơn vị đúng qui định, gửi lại sau lưng một khoảng trời nhung nhớ, luyến lưu.
Xem thêm: Dàn ý nghị luận xã hội về tính tự lậpHơn nữa, Tnú là một con người giàu tình yêu thương. Anh yêu bản làng tha thiết. Anh xúc động khi trở về thăm làng. Anh vừa đi theo sự hướng dẫn tận tình của bé Heng, vừa bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm ngày trước. Gặp lại môt cây lớn ngã ngang đường, anh nhớ lại lúc cây này chưa ngã, anh đã gặp Mai lần đầu. Chính Mai đã bày tỏ tình yêu chân thành, thắm thiết đối với anh. Mai cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, “ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa yêu thương. Kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao cứa. Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây”. Anh thổn thức nỗi lòng khi nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh – “tiếng chày chuyên cần, rỗn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dít”. Tiếng chày ấy chính là trung tâm nỗi nhớ day dứt, nhớ mênh mang khiến ngực đập liên hồi dù cố giữ bình tĩnh và “ chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ quẹo vào làng”. Còn khi cụ Mết dẫn anh ra mái nước đầu làng, đu đã rửa ở suối rồi, nhưng anh vẫn xúc động để cho vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước. Thêm vào đó, anh là người yêu thương vợ con da diết. Không đi Kon Tum mua vải được, anh tự tay xé đôi tấm đồ (mảnh vải đắp) duy nhất của mình ra để làm tấm choàng cho Mai địu con. Trong cơn bi kịch, nấp ở gốc cây cạnh máng nước đầu làng, nhìn thấy cảnh kẻ thù hành hạ vợ con một cách man rợ, thú tính, lòng anh quặn thắt, tái tê. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Rồi anh bỏ gốc cây, “chồm dậy”, “hét dữ dội”, “nhảy xổ vào bọn lính”. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Anh nguyền rủa: “Đồ ăn thịt người, tau đây! Tnú đây!…” nhưng anh đã không cứu được vợ con thoát khỏi bàn tay hung bạo, đẫm máu của bọn giặc dữ. Đó là nỗi xót xa, đau đớn, cay đắng nhất của một người chồng, một người cha. Hơn nữa, yêu thương mọi người bằng tất cả tấm lòng mình: vì lẽ đó nên Tnú vừa về đến làng, dân làng từ trẻ đến già như lũ trẻ, bé Heng, các cô gái, anh Pre, chị Blom, bà cụ Leng, bà già Prôi, ông già Tâng, cụ Mết đều ré lên, reo lên, vồn vã, vây chặt quang Tnú mừng rỡ không xiết.
Đặc biệt, Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ tàn nhẫn, ngọn lửa căm thù trong lòng Tnú bốc cháy ngùn ngụt. Hai con mắt của anh như hai cục lửa lớn. Khi bị giặc dùng nhục hình, anh thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn! Sau này, anh dứt khoát, lạnh lùng trừng trị đích đáng kẻ đã gây tàn tật cho mình. “Anh bóp chết kẻ thù bằng chính hai bàn tay cụt của mình”.
Nhìn chung, cuộc đời và vẻ đẹp riêng của nhân vật Tnú được kết tụ lại trong hai bàn tay ấn tượng: bàn tay hận thù và bàn tay rửa thù.
Có thể nói, Tnú là hình tượng nhân vật mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man. Bi kịch của cuộc đời Tnú không phải là bi kịch riêng của một cá nhân. Cả làng Xô Man có không ít người có số phận cay đắng, đau đớn, chua xót, ngậm ngùi, bất hạnh như nhân vật Tnú. Vậy nên, bi kịch cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình. Vả lại, Tnú là một anh hùng. Cụ Mết, anh Quyết, Mai, Dít, bé Heng cũng là những anh hùng. Cả làng Xô Man anh hùng. Do đó, Tnú là biểu tượng cao đẹp cho những phẩm chất anh hùng, hiên ngang, bất khuất, kiên cường, dũng cảm của núi rừng Tây Nguyên. Hơn thế nữa, con đường cách mạng của nhân vật Tnú gắn liền với con đường cách mạng do anh Quyết làm đại diện, gắn liền với con đường cách mạng của dân làng Xô Man, gắn liền với con đường đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt vời của Đảng ta. Vì vậy, hành động cách mạng của Tnú có sức thôi thúc, ảnh hưởng đến toàn bộ dân làng: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa trên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”.
Tóm lại, nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một hình tượng mang vẻ mĩ học sâu sắc và dạt dào chất sử thi. Tnú chính là nhân vật điển hình đại diện cho cả cộng đồng, sống chết với cộng đồng, gắn bó mật thiết, chặt chẽ với số phận lich sử của cộng đồng. Tnú xứng đáng là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nghị luận xã hội về sự chia sẻ
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Nguyễn Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông có những thành công nổi bật ngay từ sáng tác đầu tay (Đất nước đứng lên, giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng của đội văn nghệ Việt Nam trao tặng 1954 – 1955). Trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Nhà văn sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi, bất khuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công của truyện ngắn Rừng xà nu được ông sáng tác vòa mùa hè 1954, khi đế quốc Mĩ tấn công quyết liệt miền Nam nước ta. Tác phẩm này đã đạt giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện.
Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu
Trước hết, ta thấy Tnú là một con người rất gắn bó với cm, gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực. Ngay từ thuở nhỏ, Tnú đã dám một mình vào rừng tiếp tế cho anh Quyết, cán bộ cm mà không sợ bị bắt treo cổ lên cây vả đầu làng hay bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng như anh Xút, bà Nhan. Còn khi học chữ thua Mai thì “nổi nóng, đập bể cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày”, “cầm hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng”. Khi bị giặc vây các ngả đường, Tnú “leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi”. Qua sông, “không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên một nước, cưỡi lên thác bang bang như một con cá kình” vì nghĩ rằng: “qua chỗ nước êm, thằng Mĩ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Một lần, ngậm vào miệng cái thư định vượt thác thì bị giặc bắt phục kích, Tnú linh hoạt, nhanh trí nuốt luôn cái thư. Khi bị giặc bắt, quấn giẻ lên mười đầu ngón tay, lấy lửa đốt, Tnú không kêu lên một tiếng nào mà còn trợn mắt nhìn kẻ thù trừng trừng: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chat đầu lưỡi. Răng anh cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên (…) Tnú không thèm, không thể kêu van”. Mặc dù mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt và phải chứng kiến tận mắt kẻ thù giết hại vợ con nhưng Tnú vẫn vượt lên mọi đau đớn, bi kịch cá nhân hang hái gia nhập bộ đội Giải phóng để trả thù cho quê hương và những người thân.
Mặt khác, Tnú là một con người có tính kỉ luật cao. Mặc dù ba năm đi lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phải xa quê hương, xa mái ấm gia đình, xa người thâ, xa bạn bè, nỗi nhớ choán đầy cả cõi lòng nhưng anh không tự ý về thăm làng. Anh xin giấy phép của cấp trên, có chữ kí của người chỉ huy, trung thực trình cho chị Dít và dân làng kiểm tra trong chuyến về phép. Sau một đêm nghỉ phép, anh trở lại đơn vị đúng qui định, gửi lại sau lưng một khoảng trời nhung nhớ, luyến lưu.
Xem thêm: Dàn ý nghị luận xã hội về tính tự lậpHơn nữa, Tnú là một con người giàu tình yêu thương. Anh yêu bản làng tha thiết. Anh xúc động khi trở về thăm làng. Anh vừa đi theo sự hướng dẫn tận tình của bé Heng, vừa bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm ngày trước. Gặp lại môt cây lớn ngã ngang đường, anh nhớ lại lúc cây này chưa ngã, anh đã gặp Mai lần đầu. Chính Mai đã bày tỏ tình yêu chân thành, thắm thiết đối với anh. Mai cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, “ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa yêu thương. Kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao cứa. Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây”. Anh thổn thức nỗi lòng khi nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh – “tiếng chày chuyên cần, rỗn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dít”. Tiếng chày ấy chính là trung tâm nỗi nhớ day dứt, nhớ mênh mang khiến ngực đập liên hồi dù cố giữ bình tĩnh và “ chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ quẹo vào làng”. Còn khi cụ Mết dẫn anh ra mái nước đầu làng, đu đã rửa ở suối rồi, nhưng anh vẫn xúc động để cho vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước. Thêm vào đó, anh là người yêu thương vợ con da diết. Không đi Kon Tum mua vải được, anh tự tay xé đôi tấm đồ (mảnh vải đắp) duy nhất của mình ra để làm tấm choàng cho Mai địu con. Trong cơn bi kịch, nấp ở gốc cây cạnh máng nước đầu làng, nhìn thấy cảnh kẻ thù hành hạ vợ con một cách man rợ, thú tính, lòng anh quặn thắt, tái tê. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Rồi anh bỏ gốc cây, “chồm dậy”, “hét dữ dội”, “nhảy xổ vào bọn lính”. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Anh nguyền rủa: “Đồ ăn thịt người, tau đây! Tnú đây!…” nhưng anh đã không cứu được vợ con thoát khỏi bàn tay hung bạo, đẫm máu của bọn giặc dữ. Đó là nỗi xót xa, đau đớn, cay đắng nhất của một người chồng, một người cha. Hơn nữa, yêu thương mọi người bằng tất cả tấm lòng mình: vì lẽ đó nên Tnú vừa về đến làng, dân làng từ trẻ đến già như lũ trẻ, bé Heng, các cô gái, anh Pre, chị Blom, bà cụ Leng, bà già Prôi, ông già Tâng, cụ Mết đều ré lên, reo lên, vồn vã, vây chặt quang Tnú mừng rỡ không xiết.
Đặc biệt, Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ tàn nhẫn, ngọn lửa căm thù trong lòng Tnú bốc cháy ngùn ngụt. Hai con mắt của anh như hai cục lửa lớn. Khi bị giặc dùng nhục hình, anh thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn! Sau này, anh dứt khoát, lạnh lùng trừng trị đích đáng kẻ đã gây tàn tật cho mình. “Anh bóp chết kẻ thù bằng chính hai bàn tay cụt của mình”.
Nhìn chung, cuộc đời và vẻ đẹp riêng của nhân vật Tnú được kết tụ lại trong hai bàn tay ấn tượng: bàn tay hận thù và bàn tay rửa thù.
Có thể nói, Tnú là hình tượng nhân vật mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man. Bi kịch của cuộc đời Tnú không phải là bi kịch riêng của một cá nhân. Cả làng Xô Man có không ít người có số phận cay đắng, đau đớn, chua xót, ngậm ngùi, bất hạnh như nhân vật Tnú. Vậy nên, bi kịch cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình. Vả lại, Tnú là một anh hùng. Cụ Mết, anh Quyết, Mai, Dít, bé Heng cũng là những anh hùng. Cả làng Xô Man anh hùng. Do đó, Tnú là biểu tượng cao đẹp cho những phẩm chất anh hùng, hiên ngang, bất khuất, kiên cường, dũng cảm của núi rừng Tây Nguyên. Hơn thế nữa, con đường cách mạng của nhân vật Tnú gắn liền với con đường cách mạng do anh Quyết làm đại diện, gắn liền với con đường cách mạng của dân làng Xô Man, gắn liền với con đường đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt vời của Đảng ta. Vì vậy, hành động cách mạng của Tnú có sức thôi thúc, ảnh hưởng đến toàn bộ dân làng: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa trên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”.
Tóm lại, nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một hình tượng mang vẻ mĩ học sâu sắc và dạt dào chất sử thi. Tnú chính là nhân vật điển hình đại diện cho cả cộng đồng, sống chết với cộng đồng, gắn bó mật thiết, chặt chẽ với số phận lich sử của cộng đồng. Tnú xứng đáng là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nghị luận xã hội về sự chia sẻ
|
Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Gợi ý
A DÀN BÀI
1.Mở bài
Nguyền Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi bất khuất của đống bào các dân tộc ít người. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dần đến thành công của truyện ngắn Rừng xà nu. Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện.
2. Thân bài
Cần tập trung phân tích những ý sau:
– Tnú là một con người gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực.
– Tnú là một con người có tính kỉ luật cao.
– Tnú là một con người giàu tình yêu thương.
– Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc.
3. Kết bài
Hình tượng nhân vật Tnú mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man.
B. BÀI LÀM
Nguyễn Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông có những thành công nổi bật ngay từ sáng tác đầu tay ( Đất nước đứng lên giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam trao tặng 1954 – 1955). Trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc, ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Nhà văn sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi bất khuất của đồng bào các dân tộc. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công của truyện ngắn Rừng xa nu được ông viết vào mùa hè 1965, khi đế quốc Mĩ tấn công quyết liệt miền Nam nước ta. Tác phẩm này đã đạt Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện.
Trước hết, ta thấy Tnú là một con người rất gắn bó với cách mạng, gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực. Ngay từ thuở nhỏ, Tnú dám một mình vào rừng tiếp tế cho anh Quyết, cán bộ cách mạng mà không sợ bị bắt treo cổ lên cây vả đầu làng hay bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng như anh Xút, bà Nhan. Còn khi học chữ thua Mai thì “nổi nóng”, đập bể cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày, “cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng”. Khi bị giặc vây các ngả đường, Tnú “leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi”. Qua sông, “không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình” vì nghĩ rằng “qua chỗ nước êm, thằng Mĩ – Diệm hay mai phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Một lần, ngậm vào miệng cái thư định vượt thác thì bị giặc phục kích, Tnú linh hoạt, nhanh trí nuốt luôn cái thư. Khi bị giặc bắt, quấn giẻ lên mười đầu ngón tay, lấy lửa đốt. Tnú không kêu lên một tiếng nào mà còn trợn mắt nhìn kẻ thù trừng trừng: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lười. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên (…) Tnú không thèm, không thèm kêu van”. Mặc dù mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt và phải chứng kiến tận mắt kẻ thù giết hại vợ con nhưng Tnú vẫn vượt lên mọi đau đớn, bi kịch cá nhân, hăng hái gia nhập bộ đội giải phóng để trả thù cho quê hương và những người thân.Xem thêm: Tả một người thân trong gia đình em. Mặt khác, Tnú là một con người có tính kỉ luật cao. Mặt dù ba năm đi lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phải xa quê hương, xa mái ấm gia đình, xa người thân, xa bạn bè,…, nỗi nhớ choán đầy cả cõi lòng nhưng anh không tự ý về thăm làng. Anh xin giấy phép của cấp trên, có chữ kí của người chỉ huy, trung thực trình cho chị Dit và dân làng kiểm tra trong chuyến về phép. Sau một đêm nghỉ phép, anh trở lại đơn vị đúng quy định, gửi lại sau lưng một khoảng trời nhung nhớ, luyến lưu.
Hơn nữa, Tnú là một người giàu tình yêu thương. Anh yêu bản làng tha thiết. Anh xúc động khi trở về thăm làng. Anh vừa đi theo sự hướng dẫn tận tình của bé Heng, vừa bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm ngày trước. Gặp lại một cây lớn ngã ngang đường, anh nhớ lại lúc cây này chưa ngã, anh đã gặp Mai lần đầu. Chính Mai đã bày tỏ tình yêu chân thành, thắm thiết đối với anh. Mai cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, “ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa yêu thương. Kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao cứa. Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây”. Anh thổn thức nỗi lòng khi nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh – “tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dit”. Tiếng chày ấy chính là trung tâm của nỗi nhớ day dứt, nhớ mênh mang, khiến ngực đập liên hồi dù cố giữ bình tĩnh và “chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ ngã quẹo vào làng”. Còn khi cụ Mết dẫn anh ra mái nước đầu làng, dù dã rửa ở suối rồi, nhưng anh vẫn xúc động để cho vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước. Thêm vào đó, anh là người yêu thương vợ con da diết. Không đi Kon Turn mua vải được, anh tự tay xé đôi tâm dồ (mảnh vải đắp) duy nhất của mình ra đế làm tấm choàng cho Mai dịu con. Trong cơn bi kịch, nấp ở gốc cây cạnh máng nước đầu làng, nhìn thấy cảnh kẻ thù hành hạ vợ con một cách man rợ, thú tính, lòng anh quặn thắt, tê tái. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Rồi anh bỏ gốc cây, “chồm dậy”, “hét dữ dội”, “nhảy xổ vào bọn lính”. “Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Anh nguyền rủa: “Đồ ăn thịt người, tau đây! Tnú đây!…” nhưng anh đã không cứu được vợ con thoát khỏi bàn tay hung bạo, đẫm máu của bọn giặc dữ. Đó là nỗi xót xa, đau đớn, cay đắng nhất của một người chồng, một người cha. Hơn nữa, yêu thương mọi người băng tất cả tấm lòng mình: vì lẽ đó nên Tnú vừa về đến làng, dân làng từ trẻ đến già như lũ trẻ, bé Heng, các cô gái, anh Pre, chị Blom, bà cụ Leng, bà già Prôi, ông già Tâng, cụ Mết đều ré lên, reo lên, vồn vã, vây chặt quanh Tnú mừng rỡ khôn xiết.Xem thêm: Soạn bài Chàng gác rừng dũng cảm Đặc biệt, Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ tàn nhẫn, ngọn lửa căm thù trong lòng Tnú bốc cháy ngùn ngụt. Hai con mắt của anh như hai cục lửa lớn. Khi bị giặc dùng nhục hình, anh thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn!”. Sau này, anh dứt khoát, lạnh lùng trừng trị đích đáng kẻ đã gây tàn tật cho mình. Anh bóp chết kẻ thù bằng chính hai bàn tay cụt của mình.
Nhìn chung, cuộc đời và vẻ đẹp riêng của nhân vật Tnú được kết tụ lại trong hai bàn tay ấn tượng: bàn tay hận thù và bàn tay rửa thù.
Có thể nói Tnú là hình tượng nhân vật mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man. Bi kịch của cuộc đời Tnú không phải là bi kịch riêng của một cá nhân. Cả làng Xô Man có không ít người có số phận cay đắng, đau đớn, chua xót, ngậm ngùi, bất hạnh như nhân vật Tnú. Vậy nên, bi kịch cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình. Vả lại, Tnú là một anh hùng. Cụ Mết, anh Quyết, Mai, Dit, bé Heng đều là anh hùng. Cả làng Xô Man anh hùng. Do đó, Tnú là biểu tượng cao đẹp cho những phẩm chất anh hùng, hiên ngang, bất khuất, kiên cường, dũng cảm của núi rừng Tây Nguyên. Hơn thế nữa, con đường cách mạng của nhân vát Tnú gắn liền với con đường cách mạng do anh Quyết làm đại diện, gắn liền với con đường cách mạng của dân làng Xô Man, gắn liền với con đường đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Vì vậy, hành động cách mạng của Tnú có sức thôi thúc, ảnh hưởng lớn đến toàn bộ dân làng: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”.Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Tóm lại, nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu cùa Nguyễn Trung Thành là một hình tượng mang vẻ đẹp mỹ học sâu sắc và dạt dào chất sử thi. Tnú chính là nhân vật điển hình đại diện cho cả cộng đồng, sống chết với cộng đồng, gắn bó mật thiết, chặt chẽ với số phận lịch sử của cộng đồng. Tnú xứng đáng là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành
Gợi ý
A DÀN BÀI
1.Mở bài
Nguyền Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi bất khuất của đống bào các dân tộc ít người. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dần đến thành công của truyện ngắn Rừng xà nu. Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện.
2. Thân bài
Cần tập trung phân tích những ý sau:
– Tnú là một con người gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực.
– Tnú là một con người có tính kỉ luật cao.
– Tnú là một con người giàu tình yêu thương.
– Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc.
3. Kết bài
Hình tượng nhân vật Tnú mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man.
B. BÀI LÀM
Nguyễn Trung Thành là một nhà văn giàu tài năng. Ông có những thành công nổi bật ngay từ sáng tác đầu tay ( Đất nước đứng lên giải nhất về tiểu thuyết, giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam trao tặng 1954 – 1955). Trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc, ông gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên. Nhà văn sống hòa đồng, hiểu biết nhiều về lòng khát khao độc lập, tự do, tinh thần cách mạng quật khởi bất khuất của đồng bào các dân tộc. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công của truyện ngắn Rừng xa nu được ông viết vào mùa hè 1965, khi đế quốc Mĩ tấn công quyết liệt miền Nam nước ta. Tác phẩm này đã đạt Giải thưởng Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965 và được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc. Tnú là hình tượng nhân vật được Nguyễn Trung Thành xây dựng rất thành công trong thiên truyện.
Trước hết, ta thấy Tnú là một con người rất gắn bó với cách mạng, gan góc, dũng cảm, linh hoạt, táo bạo và trung thực. Ngay từ thuở nhỏ, Tnú dám một mình vào rừng tiếp tế cho anh Quyết, cán bộ cách mạng mà không sợ bị bắt treo cổ lên cây vả đầu làng hay bị chặt đầu cột tóc treo đầu súng như anh Xút, bà Nhan. Còn khi học chữ thua Mai thì “nổi nóng”, đập bể cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày, “cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng”. Khi bị giặc vây các ngả đường, Tnú “leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi”. Qua sông, “không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình” vì nghĩ rằng “qua chỗ nước êm, thằng Mĩ – Diệm hay mai phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Một lần, ngậm vào miệng cái thư định vượt thác thì bị giặc phục kích, Tnú linh hoạt, nhanh trí nuốt luôn cái thư. Khi bị giặc bắt, quấn giẻ lên mười đầu ngón tay, lấy lửa đốt. Tnú không kêu lên một tiếng nào mà còn trợn mắt nhìn kẻ thù trừng trừng: “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lười. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên (…) Tnú không thèm, không thèm kêu van”. Mặc dù mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt và phải chứng kiến tận mắt kẻ thù giết hại vợ con nhưng Tnú vẫn vượt lên mọi đau đớn, bi kịch cá nhân, hăng hái gia nhập bộ đội giải phóng để trả thù cho quê hương và những người thân.Xem thêm: Tả một người thân trong gia đình em. Mặt khác, Tnú là một con người có tính kỉ luật cao. Mặt dù ba năm đi lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phải xa quê hương, xa mái ấm gia đình, xa người thân, xa bạn bè,…, nỗi nhớ choán đầy cả cõi lòng nhưng anh không tự ý về thăm làng. Anh xin giấy phép của cấp trên, có chữ kí của người chỉ huy, trung thực trình cho chị Dit và dân làng kiểm tra trong chuyến về phép. Sau một đêm nghỉ phép, anh trở lại đơn vị đúng quy định, gửi lại sau lưng một khoảng trời nhung nhớ, luyến lưu.
Hơn nữa, Tnú là một người giàu tình yêu thương. Anh yêu bản làng tha thiết. Anh xúc động khi trở về thăm làng. Anh vừa đi theo sự hướng dẫn tận tình của bé Heng, vừa bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm ngày trước. Gặp lại một cây lớn ngã ngang đường, anh nhớ lại lúc cây này chưa ngã, anh đã gặp Mai lần đầu. Chính Mai đã bày tỏ tình yêu chân thành, thắm thiết đối với anh. Mai cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, “ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa yêu thương. Kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao cứa. Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây”. Anh thổn thức nỗi lòng khi nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh – “tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xưa, của Mai, của Dit”. Tiếng chày ấy chính là trung tâm của nỗi nhớ day dứt, nhớ mênh mang, khiến ngực đập liên hồi dù cố giữ bình tĩnh và “chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ ngã quẹo vào làng”. Còn khi cụ Mết dẫn anh ra mái nước đầu làng, dù dã rửa ở suối rồi, nhưng anh vẫn xúc động để cho vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước. Thêm vào đó, anh là người yêu thương vợ con da diết. Không đi Kon Turn mua vải được, anh tự tay xé đôi tâm dồ (mảnh vải đắp) duy nhất của mình ra đế làm tấm choàng cho Mai dịu con. Trong cơn bi kịch, nấp ở gốc cây cạnh máng nước đầu làng, nhìn thấy cảnh kẻ thù hành hạ vợ con một cách man rợ, thú tính, lòng anh quặn thắt, tê tái. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Rồi anh bỏ gốc cây, “chồm dậy”, “hét dữ dội”, “nhảy xổ vào bọn lính”. “Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Anh nguyền rủa: “Đồ ăn thịt người, tau đây! Tnú đây!…” nhưng anh đã không cứu được vợ con thoát khỏi bàn tay hung bạo, đẫm máu của bọn giặc dữ. Đó là nỗi xót xa, đau đớn, cay đắng nhất của một người chồng, một người cha. Hơn nữa, yêu thương mọi người băng tất cả tấm lòng mình: vì lẽ đó nên Tnú vừa về đến làng, dân làng từ trẻ đến già như lũ trẻ, bé Heng, các cô gái, anh Pre, chị Blom, bà cụ Leng, bà già Prôi, ông già Tâng, cụ Mết đều ré lên, reo lên, vồn vã, vây chặt quanh Tnú mừng rỡ khôn xiết.Xem thêm: Soạn bài Chàng gác rừng dũng cảm Đặc biệt, Tnú là một con người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ tàn nhẫn, ngọn lửa căm thù trong lòng Tnú bốc cháy ngùn ngụt. Hai con mắt của anh như hai cục lửa lớn. Khi bị giặc dùng nhục hình, anh thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn!”. Sau này, anh dứt khoát, lạnh lùng trừng trị đích đáng kẻ đã gây tàn tật cho mình. Anh bóp chết kẻ thù bằng chính hai bàn tay cụt của mình.
Nhìn chung, cuộc đời và vẻ đẹp riêng của nhân vật Tnú được kết tụ lại trong hai bàn tay ấn tượng: bàn tay hận thù và bàn tay rửa thù.
Có thể nói Tnú là hình tượng nhân vật mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng của dân làng Xô Man. Bi kịch của cuộc đời Tnú không phải là bi kịch riêng của một cá nhân. Cả làng Xô Man có không ít người có số phận cay đắng, đau đớn, chua xót, ngậm ngùi, bất hạnh như nhân vật Tnú. Vậy nên, bi kịch cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình. Vả lại, Tnú là một anh hùng. Cụ Mết, anh Quyết, Mai, Dit, bé Heng đều là anh hùng. Cả làng Xô Man anh hùng. Do đó, Tnú là biểu tượng cao đẹp cho những phẩm chất anh hùng, hiên ngang, bất khuất, kiên cường, dũng cảm của núi rừng Tây Nguyên. Hơn thế nữa, con đường cách mạng của nhân vát Tnú gắn liền với con đường cách mạng do anh Quyết làm đại diện, gắn liền với con đường cách mạng của dân làng Xô Man, gắn liền với con đường đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Vì vậy, hành động cách mạng của Tnú có sức thôi thúc, ảnh hưởng lớn đến toàn bộ dân làng: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông. Đốt lửa lên!”.Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Tóm lại, nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu cùa Nguyễn Trung Thành là một hình tượng mang vẻ đẹp mỹ học sâu sắc và dạt dào chất sử thi. Tnú chính là nhân vật điển hình đại diện cho cả cộng đồng, sống chết với cộng đồng, gắn bó mật thiết, chặt chẽ với số phận lịch sử của cộng đồng. Tnú xứng đáng là một trong những nhân vật tiêu biểu nhất của chủ nghĩa anh hùng Cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành
Tây Nguyên được biết đến là một miền đất đỏ ba dan với những văn hóa phi vật thể nổi tiếng, có bản anh hùng sử Đăm Săn. Nơi đây dường như đã chịu bao mất mát bởi sự tàn phá dã man của kẻ thù. Nhưng với những phẩm chất gan dạ bất khuất họ đã đứng lên từ đau thương, khó khăn để rồi chiến đấu. Có thể nói trong kháng chiến chống Pháp ta biết đến Núp với những đứa tính kiên cường, không sợ nguy hiểm của kẻ thù để chiến đấu. Đến cuộc kháng chiến chống Mĩ thì Nguyễn Trung Thành cũng như đã cho ta thấy vẻ đẹp của người dân Tây Nguyên thông qua hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm “Rừng xà nu” năm 1965. Và thông qua nhân vật này tác giả đã cho ta thấy phẩm chất anh hùng của con người Tây Nguyên nói riêng cũng như cho thấy phẩm chất anh hùng Việt Nam nói chung, không chỉ vậy mà còn là nhân vật gửi gắm những lời phát ngôn mang tính tư tưởng sâu sắc.
Đọc tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy nhân vật Tnú là trung tâm như cũng chính là linh hồn của truyện ngắn này. Có thể thấy rằng nhân vật dường như đã được nhà văn khắc họa bằng ngòi bút sắc sảo giàu tính sử thi. Cũng có nghĩa là nhân vật có một đời tư nhưng không được tác giả quan sát miêu tả từ góc nhìn đa chiều của đời từ mà xuất phát từ vấn đè cộng đồng để phản ánh đời tư của Tnú. Có lẽ chính vì vậy vẻ đẹp của nhân vật là vẻ đẹp của cộng đồng, vẻ đẹp người dân bất khuất cũng như kiên cường anh hùng trong chiến đấu. Còn nỗi đau của đời anh chính là một nỗi đau khôn tả của người dân Tây Nguyên trong trận chiến đẫm máu của kẻ thù hung bạo. Có thể nói dường như tất cả đề được thể hiện qua hai chặng đời của Tnú lúc còn nhỏ và lúc trưởng thành. Qua nhân vật người anh hùng Tnú thì nhà văn muốn thể hiện tư tưởng:” nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”. Chính vì vậy nhân vật Tnú còn gánh vai trò là nhân vật tư tưởng của tác giả.Xem thêm: Sáu khổ thơ tiếp theo trong bài thơ Bác ơi tập trung thể hiện hình tượng Bác Hồ như thế nào?
Mặc dù được phác họa là nhân vật mồ côi cả cha lẫn mẹ nhưng Tnú được sống trong sự đùm bọc chở che của dân làng. Và từ đây anh được giác ngộ lí tưởng cách mạng và từ đây anh ý thức được cách mạng, sống với một tuổi thơ phi thường đầy ắp những chiến công và kì tích. Tuổi thơ của một tiểu anh hùng nhỏ dũng cảm, gan góc và tuyệt đối trung thành với cách mạng như Tnú.
Thật vậy, những phẩm chất anh hùng Tây Nguyên như ngấm vào máu của Tnú. Ngay từ khi còn nhỏ Tnú và Mai đã tham gia nuôi dấu cách mạng:” như cây xà nu vươn lên”. Đấy còn được coi là con đường đầy máu lửa và hy sinh, địch khủng bố dã man những người nuôi dấu cán bộ. Anh Sút bị treo cổ ở cây vả đầu làng, trong lớp thanh niên bị lộ già làng đi thay bà Nhan cũng đã bị chặt đầu. Đó chính là hành động man dợ của kẻ thù mang đến để hòng khuất phục tinh thần ý chí của dân làng xô man. Nhưng với tinh thần dũng cảm cũng như ý chí đấu ranh thì Tnú cũng không sợ mà bước tiếp con đường mà dân làng đã đi. Khi anh Quyết đã hỏi Tnú:” em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Sút bà Nhan đó” Tnú đã khẳng khái trả lời:” cụ Mết đã bảo cán bộ là Đảng, Đảng còn núi nước này còn”. Và cho dù Tnú chỉ nhắc lại câu nói của cụ Mết nhưng thông qua việc đó ta lại như đã thấy được sự lựa chọn của anh; giữa sinh mệnh của cá nhân và vận mệnh của dân tộc Tnú luôn sẵn sàng quên mình để bảo vệ cho cái chung đó. Như vậy, người anh hùng Tnú không phải chỉ là một cậu bé gan góc, dũng cảm mà còn sớm có tinh thần yêu nước, yêu cách mạng. Có thể nói rằng người anh hùng nhỏ tuổi Tnú không chỉ sống một cuộc đời bình thường mà sống một cuộc sống phi thường. Ngay từ cách học của Tnú, Tnú cũng chọn cách học phi thường. Ngay từ việc học chữ hay quên không tài nào nhớ được mà để trừng trị cái tính ấy của mình và thể hiện ý chí quyết tâm Tnú tự lấy đá đập vào đầu mình khiến cho máu chảy dòng dòng. Và khi lúc giận mình tưởng như phải bỏ cuộc anh Quyết đã khuyên:” không học chữ thì làm sao làm cách mạng được”. Vậy, ta như đã đoán biết là tinh thần cách mạng đã thôi thúc quyết tâm học chữ của Tnú. Vẻ đẹp của Tnú đặc biệt được thể hiện ở việc làm tiếp tế cho cách mạng. Khác hẳn với những đứa trẻ khác, Tnú dường như đã luôn xe rừng vượt thác mà đi. Bằng chính sự thông minh và tài chí đã sớm dạy cho Tnú hiểu và làm thế nào để đi những chỗ đi dễ dàng rất dễ gặp phục kích. Và thế là Tnú:” không đi chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên như thác băng băng như một con cá kình”. Có thể nhận thấy những câu văn rất giàu hình ảnh so sánh ấy dường như đã cho ta thấy cá tính mạnh mẽ của chàng trai lớn lên từ núi rừng Tây Nguyên đại ngàn. Và trong một lần không may bị giặc bắt thì “Tnú nuốt vội lá thư” và khắc sâu lời cụ Mết dạy:” Đảng còn núi nước này còn”. Chúng bắt và đã tra hỏi anh cộng sản ở đâu? Anh đã đặt tay lên bụng đầy kiêu hãnh “cộng sản ở đây”. Và ngay lập tức người anh đầy những vằn ngang vằn dọc vết chém của kẻ thù. Dù vậy chúng không thể khuất phục được anh, đói chính là tính cách của người anh hùng “ uy vũ bất đăng khuất”.Xem thêm: Nghị luận xã hội về tình thương- Văn 12
Cuộc đời của Tnú như đã điển hình cho con đường đấu tranh của nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mĩ. Qua cuộc đời nhân vậy ở trong giai đoạn này để làm sáng tỏ chân lí:” chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”. Và cho đến khi trưởng thành là lúc Tnú vượt ngục trở về với dân làng và lãnh đạo dân làng tiếp tục chiến đấu. Và khi trở lại làng anh trở thành một chàng trai hoàn hảo. Anh cường tráng như một cây xà nu lớn nồng căng sự sống với chi tiể hai cánh tay khỏe khoắn, chắc như lim, chứa đầy trong bọ ngực rộng rãi của anh là sứ mạnh mênh mông man dại của đại ngàn. Có thể thấy chảy trong huyết quản của anh là dòng máu anh hùng của xứ sở Tây Nguyên truyền lại từ thời Đăm Săn. Tính cách của anh bướng bỉnh kiêu hãnh là tính cách của Tây Nguyên dữ dội, quyết liệt. Anh đã cũng đã trở thành đội trưởng đội du kích làm cho bọn giặc phải khiếp sợ kinh hoàng:” con cọp đó mà không giết sớm nó làm loạn núi rừng này rồi”.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Topic: Analyze the character Tnú in the short story "The Snake Forest" by Nguyen Trung Thanh
The Central Highlands is known as a red land with famous intangible cultures, including the heroic history of Dam San. This place seems to have suffered many losses due to the brutal destruction of the enemy. But with their indomitable qualities, they stood up from pain and difficulties and fought. It can be said that during the resistance war against the French, we knew of Nup for those who were resilient and did not fear the danger of the enemy to fight. During the resistance war against America, Nguyen Trung Thanh also showed us the beauty of the Central Highlands people through the image of the character Tnú in the work "The Snake Forest" in 1965. And through this character, the author has shows us the heroic qualities of the people of the Central Highlands in particular as well as the heroic qualities of Vietnam in general. Not only that, but he is also a character who conveys profound ideological statements.
Reading Nguyen Trung Thanh's "Forest of Snakes", readers will easily see that the character Tnú is the center and soul of this short story. It can be seen that the character seems to have been portrayed by the writer with a sharp, epic pen. It also means that the character has a private life but is not observed and described by the author from a multi-dimensional perspective of life, but comes from community issues to reflect Tnú's private life. Perhaps that is why the beauty of the character is the beauty of the community, the beauty of the indomitable people as well as heroic resilience in battle. The pain of his life is the indescribable pain of the people of the Central Highlands in the bloody battle of the brutal enemy. It can be said that everything seems to be expressed through Tnú's two life stages as a child and as an adult. Through the character of the hero Tnú, the writer wants to express the idea: "If he holds a gun, I must hold a spear." That's why the character Tnú also plays the role of the author's ideological character. See more: How do the next six stanzas in the poem Uncle Ho focus on expressing the image of Uncle Ho?
Although portrayed as an orphan character, Tnú lives in the care and protection of the villagers. And from here he was enlightened to the revolutionary ideal and from here he became aware of the revolution, living with an extraordinary childhood full of victories and miracles. The childhood of a brave, courageous and absolutely loyal little hero like Tnú.
Indeed, the heroic qualities of the Central Highlands seemed to seep into Tnú's blood. From a young age, Tnú and Mai participated in cultivating the revolutionary symbol: "like a snake plant rising". It is also considered a path full of blood, fire and sacrifice, the enemy brutally terrorized those who kept the mark as cadres. Mr. Sut was hanged from a fig tree in the village, and in the class of young people who were exposed, the village elder who replaced Mrs. Nhan was also beheaded. That was the barbaric action of the enemy to subdue the spirit and will of the barbarian villagers. But with a courageous spirit as well as the will to fight, Tnú was not afraid to continue on the path that the villagers had taken. When Mr. Quyet asked Tnú: "Aren't you afraid of being captured by the enemy?" He killed like Mr. Sut and Mrs. Nhan." Tnú answered firmly: "Mr. Met said that the cadres are the Party, the Party still has the mountains and the country." And even though Tnú only repeats Mr. Met's words, through that we can see his choice; between the life of the individual and the destiny of the people, Tnú is always ready to sacrifice himself to protect that common thing. Thus, the hero Tnú is not only a brave and courageous boy but also has a spirit of patriotism and love of revolution. It can be said that the young hero Tnú not only lived an ordinary life but lived an extraordinary life. Right from Tnú's learning style, Tnú also chose an extraordinary way of learning. Right from learning to read, he was forgetful and couldn't remember anything, but to punish his trait and show his determination, Tnú took a rock and hit himself on the head, causing blood to flow. And when I was angry and thought I had to give up, Mr. Quyet advised: "If you don't learn how to read, how can you make a revolution?" So, as we guessed, the revolutionary spirit inspired Tnú's determination to learn to read. The beauty of Tnú is especially shown in its work providing supplies for the revolution. Different from other children, Tnú always seemed to go over the waterfall on a forest cart. With his intelligence and talent, he soon taught Tnú to understand and how to go to easy places where he could easily encounter ambushes. And so Tnú: "don't go where the water is calm, just choose where the waterfall is strong and swim across, rise above the water, ride up like an ice waterfall like an orca". It can be seen that these sentences, rich in comparative images, seem to show us the strong personality of the boy who grew up in the mountains and forests of the Central Highlands. And on one unfortunate occasion when he was captured by the enemy, "Tnú quickly swallowed the letter" and deeply engraved what Uncle Met taught: "The Party still has mountains and water." Where did they arrest and interrogate the communist? He placed his hand on his stomach proudly, "communists are here". And immediately his body was covered with horizontal stripes along the enemy's slash marks. Even so, they cannot subdue him, hunger is the hero's characteristic, "mighty and unyielding". See more: Social discussion on love - Literature 12
Tnú's life is typical of the struggle path of the Central Highlands people in the resistance war against the United States. Through human life in this period to clarify the truth: "If they hold guns, we must hold spears". And until adulthood, Tnú escaped from prison and returned to the villagers and led the villagers to continue fighting. And when he returned to the village he became a perfect guy. He is as strong as a large snakehead, full of life, with two strong arms, as strong as iron, and filled in his spacious chest is the immense, wild power of the great world. It can be seen that flowing in his veins is the heroic blood of the Central Highlands passed down from the Dam San period. His stubborn and proud personality is the fierce and fierce character of the Central Highlands. He also became the leader of the guerrilla team, terrifying the enemy: "If you don't kill that tiger soon, it will cause chaos in these mountains and forests."
Source: Good sample writing
|
Phân tích nhân vật Tnú – một dũng sĩ phi thường của làng Xô Man thời kháng chiến chống Mĩ (Truyện ” Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành)
Gợi ý
"Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành là một kiệt tác văn chương thời chống Mĩ in đậm khuynh hướng sử thi hào hùng.
Trong thế trận chiến tranh nhân dân thần kì của làng Xô Man, nhân vật Tnú mang tầm vóc một dũng sĩ phi thường đã để lại trong lòng ta nhiều rung cảm và ngưỡng mộ.
Có thể nói, nhân vật trung tâm của truyện là Tnú. Trong nhà ưng, xung quanh bếp lửa hồng, một đêm mưa có mặt đông đủ lũ làng, cụ Mết đặt bàn tay chắc nịch lên vai Tnú giới thiệu:"…nó đi giải phóng quân đánh giặc, nay nó về thăm làng một đêm…Nó là ngời Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ nhưng “bụng nó sạch như nước suối làng ta”. Tnú vốn là một chú bé giàu cá tính. Ở trong rừng học chữ với anh Quyết, nó học không bằng Mai…, nó nổi nóng "đập bể cái bảng nứa…", bỏ ra ngồi ngoài suối suốt ngày, rồi nó cầm một hòn đá "tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng". Chữ thì Tnú hay quên, nhưng đi rừng, đi đường núi thì "đầu nó sáng lạ lùng". Giặc vây ráp, phục kích, Tnú trèo lên cây cao nhìn khắp mọi phía, "xé rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây”. Vượt sông vượt suối, Tnú lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, nó "cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình”, và Tnú biết, "qua chỗ nước êm thằng Mĩ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ”. Khi chẳng may sa vào tay giặc, họng súng của thằng giặc phục kích “chĩa vào tai lạnh ngắt", Tnú đã nhanh trí "nuốt luôn cái thư" của anh Quyết gửi về huyện trong một ngọn lá dong. Lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của bọn giặc, nhưng Tnú vẫn bất khuất hiên ngang. Ba năm bị tù trong ngục Kông Tum, Tnú đã vượt ngục trở về. Tnú đã đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết gửi dân làng Xô Man trước lúc anh tử thương. Anh Quyết đã dặn? “Tnú phải học chữ giỏi, thay tui làm cán bộ”. Lần thứ hai, Tnú lại lên núi Ngọc Linh, không phải đi lấy đá trắng về làm phấn như ba năm trước, mà là đi lấy một gùi đá mài. Làng Xô Man đã chuẩn bị khởi nghĩa: phát rẫy trồng pom-chu xanh cả núi rừng, đêm đêm cả làng thức, mài giáo mác. Tnú đã trở thành chỉ huy đội du kích, làm cho thằng Dục ác ồn lồng lên, gầm lên. "Con cọp đó mà không giết sớm, nó làm loạn rừng núi này rồi!”. Vợ con anh đã bị giặc bắt, tra tấn dã man cho đến chết. Tnú cùng đội đu kích rút vào trong rừng, anh đã nghiến răng “bứt rứt hang chục trái vả mà không hay". Đôi mắt của anh trờ thành “hai hàng cục máu". Thương xót và căm thù tột độ, Tnú không kìm nổi lòng mình nữa, với hai bàn tay không, anh đã nhảy xổ vào lũ giặc mong cứu được vợ con. Tnú là một con người gang thép. Lũ giặc đã trói anh bằng dây rừng, dùng giẻ tẩm nhựa xà nu đốt cháy mười đầu ngốn tay Tnú. Ngọn lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu mặn chát ở đầu lưỡi “cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi? Cháy, không, Tnú sẽ không kêu? Không?”. Ngọn lửa xà nu và độ nóng của nó đã soi sáng lòng trung thành vô hạn, đã tôi luyện khí phách lẫm liệt của Tnú lên tầm vóc phi thường vĩ đại? Khi Tnú thét lên một tiếng dữ dội cũng là lúc tiếng chân "rầm rập" quanh nhà ưng, nhiều tiếng thét dữ dội hơn… Nhà ưng ào ào chuyển động. Tiếng hô của cụ Mết vang lên: "Chém! Chém hét”. Và lửa đã cháy khắp rừng…Xem thêm: Bình luận ý thơ sau đây của Tố Hữu: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn
Mẹ con Mai đã bị giặc giết. Lưng Tnú đầy vết dao của giặc chém. Mười ngón tay của anh, ngón nào cũng bị thằng Dục đốt cháy mất một đốt. Bà Nhan, anh Xút, anh Quyết,… những người thân yêu của anh đã bị giặc giết. Vết thương lành, Tnú đi tìm cách mạng, đi Giải phóng quân để tìm diệt những thằng Dục ác ôn, đứa thì ở trong đốn, đứa thì ngoan cố chui xuống hầm ngầm…
Tnú còn có một tâm hồn đẹp, chất phác, trong sáng. Tâm hồn anh vẫn ôm ấp hình bóng quê hương. Sau ba năm đi Giải phóng quân đánh giặc về thăm làng một dêm, cái gốc cây bên đường gợi lên trong lòng anh một kỉ niệm về Mai, "kỉ niệm đó cắt vào lòng anh một nhát dao nứa". Tnú yêu làng, yêu những hố chông, những giàn thò sắc lạnh của làng anh, yêu con nước mát lạnh,… Anh nhớ nhất làng, nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm chính là "tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi…”.
Tnú mang tầm vóc như một dũng sĩ trong sử thi. Lòng trung thành, khí phách anh hùng, tinh thần lẫm liệt bất khuất của Tnú làm chúng ta ngưỡng mộ; tâm hồn chất phác, trong sáng, thủy chung của anh đã làm cho chúng ta xúc động, yêu thương. Nguyễn Trung Thành xây dựng nhân vật Tnú bằng tất cả sự chắt lọc tâm hồn, tưởng như ông không viết, ông không tả… mà hình như, ông là một nghệ sĩ đúc tượng Tnú, một anh hùng thời đại bằng một chất liệu siêu kim loại!Xem thêm: Bàn về ước mơ và lòng tham thông qua câu chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng"Ràng xà nu" là một truyện ngắn thấm đẫm màu sắc sử thi, huyền thoại. Hình thức kể chuyện qua nhân vật cụ Mết già làng gợi lên không khí thiêng liêng cổ truyền. Mái nhà ưng là nơi tụ hội của dân làng Xô Man, cũng là nơi để họ trừng trị lũ ác ôn khát máu, lũ tay sai Mĩ-Diệm. Rừng động, lửa cháy, tiếng cồng âm vang, đại bác giặc, cây xà nu đổ ào ào như một trận bão, tiếng mài giáo mác.. Tất cả thật hào hùng, bi tráng. "Rừng xà nu" đã nêu cao một chân lí cách mạng: "Nghe chưa, các con, rõ chưa, nhớ lấy. Sau này tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!". Qua chủ đề ấy, cây xà nu, Tnú và những người dân làng Xô Man hiện lên mang tầm vóc dũng sĩ, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh.
Vanmau.edu.vn
|
Analysis of the character Tnú - an extraordinary warrior of the Soviet Man village during the resistance war against the US (Story "The Snake Forest" by Nguyen Trung Thanh)
Suggest
"Forest of Serpents" by Nguyen Trung Thanh is a literary masterpiece of the anti-American period imbued with heroic epic tendencies.
In the miraculous people's war of Xo Man village, the character Tnú, an extraordinary warrior, has left us with many emotions and admiration.
It can be said that the central character of the story is Tnú. In the house, around the red fire, on a rainy night with a large crowd of villagers present, Mr. Met placed a firm hand on Tnú's shoulder and introduced: "...he went to liberate the army to fight the enemy, now he's coming back to visit the village for one night." ...He is a poor man. His parents died early, this Xo Man village raised him. His life is miserable but "his stomach is as clean as the spring water of our village". With Mr. Quyet, he didn't study as well as Mai..., he got angry and "broke the bamboo board...", sat outside in the stream all day, then picked up a stone and "hit himself on the head, bleeding profusely". Tnú often forgets, but when going in the forest or on mountain roads, "his head shines strangely". The enemy surrounded and ambushed him. Tnú climbed up a tall tree and looked in all directions, "tearing through the forest and walking, escaping all the sieges." ”. Crossing the river and stream, Tnú chose a strong waterfall to swim across, he "rided the ice waterfall like an orca", and Tnú knew, "through the calm water, My - Diem often admired, but in the strong water he did not expect ”. When he unfortunately fell into the hands of the enemy, the muzzle of the ambushing enemy's gun "pointed into his cold ear", Tnú quickly "swallowed the letter" Quyet sent to the district in a dong leaf. Tnú's back had horizontal and vertical scars. The enemy was slashed by knives, but Tnú remained indomitable. After three years in prison in Kong Tum, Tnú escaped and read Quyet's suicide note to the villagers of Xo Man before he died. What did Mr. Quyet say? "Tnú must learn to read well and replace me as an officer." The second time, Tnú went up to Ngoc Linh mountain, not to get white stones to make chalk like three years ago, but to get a basket. Grinding stone. Xo Man village was preparing for an uprising: clearing fields to plant green pom-chu throughout the mountains and forests. The whole village stayed awake at night, sharpening spears and spears, making Duc noisy shouted, "If that tiger is not killed soon, it will cause chaos in this mountain!". His wife and children were captured by the enemy and brutally tortured to death. Tnú and the swing team retreated into the forest. He gritted his teeth and "took a dozen figs without even realizing it". His eyes became "two rows of blood clots". With extreme pity and hatred, Tnú could no longer hold back his heart. With his empty hands, he jumped into the enemy hoping to save his wife and children. Tnú is a man of iron and steel. The enemy tied him up with jungle rope and used a rag soaked in soap sap to burn the ten ends of Tnú's hands. The fire burns in the chest, burns in the belly. The salty blood on the tip of the tongue "burns, burns my intestines!" Mr. Quyet? Fire, no, Tnú won't cry? Are not?". The snake fire and its heat have illuminated Tnú's infinite loyalty and tempered Tnú's fierce spirit to extraordinary greatness. When Tnú let out a fierce scream, there were also "rumbling" footsteps around the eagle's house, more intense screams... The eagle's house moved loudly. Mr. Met's shout rang out: "Shoot! Shout!" And the fire burned throughout the forest... See more: Comment on the following poem by To Huu: Oh! What is it like to live beautifully, my friend?
Mai and her mother were killed by the enemy. Tnú's back was full of enemy knife wounds. Of all ten of his fingers, one of them was burned by Duc. Mrs. Nhan, Mr. Xut, Mr. Quyet,... his loved ones were killed by the enemy. His wound healed, Tnú went to find a revolution, went to the Liberation Army to find and destroy the evil Duc guys, some were in the woods, some stubbornly went underground...
Tnú also has a beautiful, simple, and pure soul. His soul still embraces the image of his homeland. After three years of going to the Liberation Army to fight the enemy and returning to visit the village one night, the tree stump on the side of the road evoked in his heart a memory of Mai, "that memory cut into my heart with a bamboo knife". Tnú loves the village, loves the pits, the cold trellises of his village, loves the cool water... What he misses most about the village, the memory that torments his heart for three years is "the diligent, bustling sound of the pestles of the villagers". The women and girls of Stra, of my mother in the past, of Mai of Dit, from the day I was born I have heard that pestle sound...".
Tnú has the stature of a brave warrior in an epic. Tnú's loyalty, heroic spirit, and indomitable spirit make us admire; His simple, pure, and faithful soul touched and loved us. Nguyen Trung Thanh built the character of Tnú with all the refinement of his soul. It seemed that he did not write, he did not describe... but it seemed that he was an artist casting a statue of Tnú, a hero of the era using a supernatural material. metal! See more: Discussing dreams and greed through the story The old fisherman and the goldfish "Rain snake nu" is a short story imbued with epic and legendary colors. The storytelling through the character of village elder Mr. Met evokes a traditional sacred atmosphere. The roof of the house is a gathering place for Xo Man villagers, and also a place for them to punish bloodthirsty villains and My-Diem henchmen. The forest is moving, fire is burning, the sound of gongs is echoing, the enemy's cannons are falling, the bamboo tree is falling like a storm, the sound of spears being sharpened... It's all so heroic and tragic. "Forest of Serpents" has raised a revolutionary truth: "Listen, children, understand, remember. Later, when I die, you must tell me again if you are still alive: They have guns, we must Take the spear!". Through that theme, the snakehead tree, Tnú and the people of Xo Man village appear with heroic stature, representing heroism in the Ho Chi Minh era.
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
Nhắc đến nhà văn Kim Lân thì người ta nghĩ ngay “Vợ nhặt” – và có thể nói đây là một tác phẩm nổi tiếng của ông. Bạn đọc dường như biết đến “Vợ nhặt” như là một minh chúng chân thực nhất cho cuộc đời cũng như số phận của con người trong nạn đói 1945 lịch sử. Dường như trong tác phẩm này, nhà văn Kim Lân đã khắc họa nổi bật nhân vật Tràng – đã được hiện lên là một người đàn ông nghèo khổ tiêu biểu cho những người nghèo khổ và qua đó để làm nổi bật lên được tinh thần nhân đạo nhân văn về tình yêu thương con người.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” đã thật thành công khi mà đã lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945, và cụ thể là ở một xóm ngụ cư tiêu điều xác xơ. Trong truyện ngắn thì tình huống truyện ở đây là việc anh cu Tràng có vợ. Chuyện có vợ ở đây không phải được cưới hỏi đàng hoàng mà anh Tràng lại là vô tình “nhặt” từ ngoài đường về. Qua chính những sự kiện mang tính độc đáo và đầy những bất ngờ này mà đã giúp nhà văn đã đi sâu vào tâm lý từng nhân vật. Và thông qua đó, đường như tác giả đã làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp bên trong những con người thấp cổ bé họng nghèo đói và đã bị bần cùng.
Và để làm nổi bật tư tưởng ấy, tác giả Kim Lân thật tinh tế khi đã lựa chọn mà khắc họa nhân vật Tràng xuyên suốt trong tác phẩm. Nhân vật Tràng được biết đếnlà một anh con trai nghèo khổ ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò thuê để mưu sinh. Anh Tràng sống với mẹ già ở một cái “nhà” đứng rúm ró trên mảnh vườn lổn nhổn những búi cỏ dại cuối xóm ngụ cư. Chính vì là dân ngụ cư cho nên Tràng bị coi khinh lắm và cũng chẳng ai buồn nói chuyện, trừ lũ trẻ hay trêu chọc mỗi khi anh đi làm về.
Chỉ với nét miêu tả ngắn gọn của nhà văn Kim Lân, người đọc dường như đã thấy được hình ảnh một người đàn ông xấu xí, thô kệch hiện lên. Chính cái điệu “vừa đi vừa tủm tỉm cười” đã khiến cho hình tượng nhân vật trở nên cô độc, lẻ loi biết nhường nào giữa không gian xóm ngụ cư tiêu điều, xơ xác.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo
Thế nhưng, ở nhân vật Tràng dường như chẳng hề thấy buồn, thấy cô độc. Vì mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm “ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên”. Miêu tả thật chân thật hình ảnh trêu đùa “Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Và khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch”. Quả thật, người đọc như có thể thấy đượctính tình Tràng vô tư chẳng khác đám trẻ con là mấy.
Không những thế, nhân vật Tràng lại như cũng chẳng biết tính toán, suy nghĩ cũng giản đơn. Và ngay cả chuyện được xem là trọng đại của đời người như lấy vợ cũng được anh quyết định rất nhanh chóng. Có lẽ rằng từ trước cho đến nay chưa có ai lấy vợ nhanh như Tràng. Anh Tràng chỉ cần một câu hò và bốn bát bánh đúc, Tràng đã có một cô ả theo về làm vợ chồng. Một người xấu xí làm công việc kéo xe bò nghèo đói và thô kệch như Tràng mà cũng có được vợ, và lại nhất là trong lúc “chết đói” thì quả đúng là đám cưới có một không hai trong lịch sử.
Thực ra ban đầu, nhân vật đã như Tràng chẳng chủ tâm đưa tình đẩy ý với cô nào trong đám con gái bên đường hôm ấy. Chẳng ngờ được chỉ vì một câu hò vui, tếu táo cho đỡ nhọc mà thị lon ton đến đẩy xe bò cho anh và đòi trả công bát bánh đúc. Thấy người đàn bà đói, Tràng như cũng hào phóng mời thị ăn rồi ngỏ ý mời về cùng. Và chỉ có sau bốn bát bành đúc và lời mời của Tràng, thị dường như đã trở thành vợ của anh ta một cách dễ dàng. Tràng có được vợ, có thể thấy Tràng lấy được vợ trước hết là vì lòng thương nhân hậu đối với một con người cùng cảnh ngộ với mình, thậm chí đói khát hơn mình.
Họ lấy nhau đường như không phải vì tình yêu, mà là vì bốn bát bánh đúc và hai câu nói bông đùa nhưng không bởi vì thế mà Tràng coi thường người vợ mình. “Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê”. Anh Tràng lại như còn mua 2 hào dầu thắp để “vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí”. Tràng dường như cũng cảm thấy hạnh phúc, và anh ta cũng thấy có điều gì đó kì lạ và mới mẻ chưa bao giờ anh thấy được và “Tràng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”.Xem thêm: Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết (Cô-phi An-nan). Quan niệm của anh (chị) về vấn đề này.
Và dường như kể từ lúc anh biết mình đã có vợ, anh như thể trở thành một con người khác. Tràng đon đả, ngoan ngoãn với mẹ hơn hẳn, với vợ anh trìu mến yêu thương nữa. Sáng hôm sau khi trở dậy, Tràng như đã cảm thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra”. Và việc có vợ, đối với Tràng cho đến sáng hôm sau vẫn hệt như là một giấc mơ đẹp vậy. Nhưng việc Tràng đã nhìn thấy cửa nhà sạch sẽ tinh tươm, nhìn thấy mẹ và vợ mình, Tràng thấy mình cần có trách nhiệm hơn nữa bởi “Hắn đã có một gia đình”. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hăn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Hắn như đã muốn sửa lại căn nhà để sau này “hắn cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy”.
Có thể thấy rằng, từ một anh phu xe cục mịch đến ngay dại, chỉ biết sống vô tư, chơi đùa cùng lũ trẻ. Thì giờ đây Tràng đã trở thành người biết quan tâm đến người khác, đến những chuyện khác ngoài xã hội. Khi tiếng trống thúc thuế vang lên dồn dập, “Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi”. Dường như những hình ảnh về đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới xuất hiện trong tâm trí anh như thể một tia sáng về những điều tốt đẹp đang chờ sẽ đến.
Trong nạn đói 1945 kinh khủng đó, Tràng không phải là một cá biệt mà có rất nhiều những “anh cu Tràng” khốn khổ như vậy. Cuộc đời Tràng là một minh chứng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Cũng chính vì cảnh nghèo đói nên bị người ta coi thường, kinh rẻ, nghèo đến nỗi không lấy được vợ mà khi lấy vợ thì hẳn là “nhặt vợ” chứ không phải là “cưới vợ”. Lấy vợ giữa cái đói quay đói quắt, cả anh cu Tràng cho đến vợ và bà cụ Tứ đều cảm thấy hạnh phúc đan xen lẫn chua xót. Bởi “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không?”.Xem thêm: Theo em, làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp
Cũng như Tràng hay bất cứ người nghèo nào khác, nếu không có một sự thay đổi mang tính cách mạng thì có lẽ sẽ phải sống mãi trong sự tăm tối, đói rách. Có thể nhận ra ở nhân vật Tràng tuy chưa có sự thay đổi lớn láo đó, nhưng trong ý nghĩ của anh đã xuất hiện những tia sáng cho hướng đi mới của cuộc đời. Hình ảnh đoàn người vùng lên phá kho thóc Nhật dưới lá cờ đỏ sao vàng chính là con đường Tràng sẽ đi, và trong thực tế lịch sự người nông dân Việt Nam đã đi theo con đường cách mạng đó.
Bằng một ngòi bút sắc sảo của mình, tác giả Kim Lân dường như đã để lại ấn tượng trong lòng người đọc về một anh cu Tràng nghèo đói đó nhưng thật thà nhân hậu với đầy đủ những hành động cũng như những diễn biến tâm trạng phức tạp, đan xen. Anh chợn nghĩ, đôi chút lo lắng lẫn hành diện khi nhặt được vợ. Có lúc lại đon đả có lúc lại lúng túng đi theo người đàn bà. Có khi anh lại vì hạnh phúc mơ màng quên hết những cảnh tăm tối trước kia. Anh Tràng như vô tư nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng ngiụ, chín chắn, biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau.
Có thể nói rằng, “Vợ nhặt” chính là một bức tranh sống động về đời sống người nông dân trong nạn đói 1945. Tuy rằng ở đó, thì những tình cảnh con người hãy còn chìm trong bóng tối, đói nghèo và chết chóc nhưng với con mắt tinh tường, nhà văn Kim Lân vẫn phát hiện được ra chiều sâu tâm hồn tốt đẹp ẩn chứa bên trong họ. Đó còn chính là tình yêu thương con người, và cũng là ý thức trách trách nhiệm của mình đối với gia đình và và xã hội. Trên cái nền đen tối ấy, tình yê uđã giúp con người đã vượt lên và tỏa sáng những vẻ đẹp rực rỡ nhất. Đó cũng chính là giá trị nhân bản, nhân văn sau sắc mà nhà văn Kim Lân dường như muốn gửi gắm đến bạn đọc.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Đề bài: Em hãy phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
Nhắc đến nhà văn Kim Lân thì người ta nghĩ ngay “Vợ nhặt” – và có thể nói đây là một tác phẩm nổi tiếng của ông. Bạn đọc dường như biết đến “Vợ nhặt” như là một minh chúng chân thực nhất cho cuộc đời cũng như số phận của con người trong nạn đói 1945 lịch sử. Dường như trong tác phẩm này, nhà văn Kim Lân đã khắc họa nổi bật nhân vật Tràng – đã được hiện lên là một người đàn ông nghèo khổ tiêu biểu cho những người nghèo khổ và qua đó để làm nổi bật lên được tinh thần nhân đạo nhân văn về tình yêu thương con người.
Truyện ngắn “Vợ nhặt” đã thật thành công khi mà đã lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945, và cụ thể là ở một xóm ngụ cư tiêu điều xác xơ. Trong truyện ngắn thì tình huống truyện ở đây là việc anh cu Tràng có vợ. Chuyện có vợ ở đây không phải được cưới hỏi đàng hoàng mà anh Tràng lại là vô tình “nhặt” từ ngoài đường về. Qua chính những sự kiện mang tính độc đáo và đầy những bất ngờ này mà đã giúp nhà văn đã đi sâu vào tâm lý từng nhân vật. Và thông qua đó, đường như tác giả đã làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp bên trong những con người thấp cổ bé họng nghèo đói và đã bị bần cùng.
Và để làm nổi bật tư tưởng ấy, tác giả Kim Lân thật tinh tế khi đã lựa chọn mà khắc họa nhân vật Tràng xuyên suốt trong tác phẩm. Nhân vật Tràng được biết đếnlà một anh con trai nghèo khổ ở xóm ngụ cư, làm nghề kéo xe bò thuê để mưu sinh. Anh Tràng sống với mẹ già ở một cái “nhà” đứng rúm ró trên mảnh vườn lổn nhổn những búi cỏ dại cuối xóm ngụ cư. Chính vì là dân ngụ cư cho nên Tràng bị coi khinh lắm và cũng chẳng ai buồn nói chuyện, trừ lũ trẻ hay trêu chọc mỗi khi anh đi làm về.
Chỉ với nét miêu tả ngắn gọn của nhà văn Kim Lân, người đọc dường như đã thấy được hình ảnh một người đàn ông xấu xí, thô kệch hiện lên. Chính cái điệu “vừa đi vừa tủm tỉm cười” đã khiến cho hình tượng nhân vật trở nên cô độc, lẻ loi biết nhường nào giữa không gian xóm ngụ cư tiêu điều, xơ xác.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo
Thế nhưng, ở nhân vật Tràng dường như chẳng hề thấy buồn, thấy cô độc. Vì mỗi lần Tràng đi làm về, trẻ con trong xóm “ùa ra vây lấy hắn, reo cười váng lên”. Miêu tả thật chân thật hình ảnh trêu đùa “Đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi. Và khi ấy, Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch”. Quả thật, người đọc như có thể thấy đượctính tình Tràng vô tư chẳng khác đám trẻ con là mấy.
Không những thế, nhân vật Tràng lại như cũng chẳng biết tính toán, suy nghĩ cũng giản đơn. Và ngay cả chuyện được xem là trọng đại của đời người như lấy vợ cũng được anh quyết định rất nhanh chóng. Có lẽ rằng từ trước cho đến nay chưa có ai lấy vợ nhanh như Tràng. Anh Tràng chỉ cần một câu hò và bốn bát bánh đúc, Tràng đã có một cô ả theo về làm vợ chồng. Một người xấu xí làm công việc kéo xe bò nghèo đói và thô kệch như Tràng mà cũng có được vợ, và lại nhất là trong lúc “chết đói” thì quả đúng là đám cưới có một không hai trong lịch sử.
Thực ra ban đầu, nhân vật đã như Tràng chẳng chủ tâm đưa tình đẩy ý với cô nào trong đám con gái bên đường hôm ấy. Chẳng ngờ được chỉ vì một câu hò vui, tếu táo cho đỡ nhọc mà thị lon ton đến đẩy xe bò cho anh và đòi trả công bát bánh đúc. Thấy người đàn bà đói, Tràng như cũng hào phóng mời thị ăn rồi ngỏ ý mời về cùng. Và chỉ có sau bốn bát bành đúc và lời mời của Tràng, thị dường như đã trở thành vợ của anh ta một cách dễ dàng. Tràng có được vợ, có thể thấy Tràng lấy được vợ trước hết là vì lòng thương nhân hậu đối với một con người cùng cảnh ngộ với mình, thậm chí đói khát hơn mình.
Họ lấy nhau đường như không phải vì tình yêu, mà là vì bốn bát bánh đúc và hai câu nói bông đùa nhưng không bởi vì thế mà Tràng coi thường người vợ mình. “Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê”. Anh Tràng lại như còn mua 2 hào dầu thắp để “vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tí”. Tràng dường như cũng cảm thấy hạnh phúc, và anh ta cũng thấy có điều gì đó kì lạ và mới mẻ chưa bao giờ anh thấy được và “Tràng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát ghê gớm đang đe doạ, quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”.Xem thêm: Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết (Cô-phi An-nan). Quan niệm của anh (chị) về vấn đề này.
Và dường như kể từ lúc anh biết mình đã có vợ, anh như thể trở thành một con người khác. Tràng đon đả, ngoan ngoãn với mẹ hơn hẳn, với vợ anh trìu mến yêu thương nữa. Sáng hôm sau khi trở dậy, Tràng như đã cảm thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong mơ đi ra”. Và việc có vợ, đối với Tràng cho đến sáng hôm sau vẫn hệt như là một giấc mơ đẹp vậy. Nhưng việc Tràng đã nhìn thấy cửa nhà sạch sẽ tinh tươm, nhìn thấy mẹ và vợ mình, Tràng thấy mình cần có trách nhiệm hơn nữa bởi “Hắn đã có một gia đình”. “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hăn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Hắn như đã muốn sửa lại căn nhà để sau này “hắn cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy”.
Có thể thấy rằng, từ một anh phu xe cục mịch đến ngay dại, chỉ biết sống vô tư, chơi đùa cùng lũ trẻ. Thì giờ đây Tràng đã trở thành người biết quan tâm đến người khác, đến những chuyện khác ngoài xã hội. Khi tiếng trống thúc thuế vang lên dồn dập, “Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi”. Dường như những hình ảnh về đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới xuất hiện trong tâm trí anh như thể một tia sáng về những điều tốt đẹp đang chờ sẽ đến.
Trong nạn đói 1945 kinh khủng đó, Tràng không phải là một cá biệt mà có rất nhiều những “anh cu Tràng” khốn khổ như vậy. Cuộc đời Tràng là một minh chứng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám. Cũng chính vì cảnh nghèo đói nên bị người ta coi thường, kinh rẻ, nghèo đến nỗi không lấy được vợ mà khi lấy vợ thì hẳn là “nhặt vợ” chứ không phải là “cưới vợ”. Lấy vợ giữa cái đói quay đói quắt, cả anh cu Tràng cho đến vợ và bà cụ Tứ đều cảm thấy hạnh phúc đan xen lẫn chua xót. Bởi “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không?”.Xem thêm: Theo em, làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp
Cũng như Tràng hay bất cứ người nghèo nào khác, nếu không có một sự thay đổi mang tính cách mạng thì có lẽ sẽ phải sống mãi trong sự tăm tối, đói rách. Có thể nhận ra ở nhân vật Tràng tuy chưa có sự thay đổi lớn láo đó, nhưng trong ý nghĩ của anh đã xuất hiện những tia sáng cho hướng đi mới của cuộc đời. Hình ảnh đoàn người vùng lên phá kho thóc Nhật dưới lá cờ đỏ sao vàng chính là con đường Tràng sẽ đi, và trong thực tế lịch sự người nông dân Việt Nam đã đi theo con đường cách mạng đó.
Bằng một ngòi bút sắc sảo của mình, tác giả Kim Lân dường như đã để lại ấn tượng trong lòng người đọc về một anh cu Tràng nghèo đói đó nhưng thật thà nhân hậu với đầy đủ những hành động cũng như những diễn biến tâm trạng phức tạp, đan xen. Anh chợn nghĩ, đôi chút lo lắng lẫn hành diện khi nhặt được vợ. Có lúc lại đon đả có lúc lại lúng túng đi theo người đàn bà. Có khi anh lại vì hạnh phúc mơ màng quên hết những cảnh tăm tối trước kia. Anh Tràng như vô tư nhưng không sỗ sàng, trái lại biết ngượng ngiụ, chín chắn, biết lo nghĩ cho cuộc sống về sau.
Có thể nói rằng, “Vợ nhặt” chính là một bức tranh sống động về đời sống người nông dân trong nạn đói 1945. Tuy rằng ở đó, thì những tình cảnh con người hãy còn chìm trong bóng tối, đói nghèo và chết chóc nhưng với con mắt tinh tường, nhà văn Kim Lân vẫn phát hiện được ra chiều sâu tâm hồn tốt đẹp ẩn chứa bên trong họ. Đó còn chính là tình yêu thương con người, và cũng là ý thức trách trách nhiệm của mình đối với gia đình và và xã hội. Trên cái nền đen tối ấy, tình yê uđã giúp con người đã vượt lên và tỏa sáng những vẻ đẹp rực rỡ nhất. Đó cũng chính là giá trị nhân bản, nhân văn sau sắc mà nhà văn Kim Lân dường như muốn gửi gắm đến bạn đọc.
Nguồn: Văn mẫu hay
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.
Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.
Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.
Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Đọc lướt qua câu chuyện ta ngỡ như việc “nhặt vợ” của Tràng là tình cờ nhưng nghĩ cho kĩ ta sẽ thấy rằng việc làm ấy xuất phát từ tình yêu thương của con người chân chính. Tình thương người đã cho anh quyết định dứt khoát là đưa người đàn bà xa lạ về chung sống. Hành động ấy của Tràng còn tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình mà trước đây anh không dám ao ước.
Chính khát vọng và tình thương đã làm cho Tràng biến đổi từ dáng vẻ bên ngoài đến bên trong tâm hồn. “ Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Với cách miêu tả ấy dương như trước mắt người đọc là một anh Tràng khác hẳn. Từ một con người mang mặc cảm về thân phận, một trái tim cằn cỗi nay lại hồi sinh.
Về đến nhà, lúc đầu Tràng thấy " ngượng nghịu" rồi cứ thế " đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ". Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt, không dám tin đó là sự thật: "hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?". Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng.
Khi đã có vợ rồi niềm vui sướng trong anh tràng ngập. Dường như anh đã quên đi cuộc sống tối tăm thường nhật và cảm nhận một sự thay đổi. Tràng ý thức được trách nhiệm, bổn phận của người chồng, người chủ gia đình “ Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng…Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.
Từ một con người cục mịch, sống vô tư, chỉ biết việc trước mắt, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới…
Tràng được khắc hoạ nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945. Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo, dở khóc, dở cười giữa Tràng và Thị, một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói.
Xem thêm: Bình luận về tình trạng ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của người dânKim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo: Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế: nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ.Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa.
Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật, đặc biệt là Tràng.
Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi.. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.
Mặc dù người vợ được hắn nhặt về, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy thi là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói “ đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi “ kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình. Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ.
Buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng. Hắn thấy hắn nên người. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ.
Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc.
Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phớichứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn.
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo ; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.
Nguồn Kenhgiaoduc
Xem thêm: “Thơ... thơ” (Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ). Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy phân tích trong thế đối sánh “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến và “Thơ duyên” của Xuân Diệu để làm sáng tỏ nhận định trên
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê, lam lũ hồn hậu, chất phác mà giàu tình yêu thương. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị, biết hướng tới tương lai tươi đẹp.
Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.
Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng.
Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân
Đọc lướt qua câu chuyện ta ngỡ như việc “nhặt vợ” của Tràng là tình cờ nhưng nghĩ cho kĩ ta sẽ thấy rằng việc làm ấy xuất phát từ tình yêu thương của con người chân chính. Tình thương người đã cho anh quyết định dứt khoát là đưa người đàn bà xa lạ về chung sống. Hành động ấy của Tràng còn tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình mà trước đây anh không dám ao ước.
Chính khát vọng và tình thương đã làm cho Tràng biến đổi từ dáng vẻ bên ngoài đến bên trong tâm hồn. “ Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”. Với cách miêu tả ấy dương như trước mắt người đọc là một anh Tràng khác hẳn. Từ một con người mang mặc cảm về thân phận, một trái tim cằn cỗi nay lại hồi sinh.
Về đến nhà, lúc đầu Tràng thấy " ngượng nghịu" rồi cứ thế " đứng tây ngây ra giữa nhà, chợt hắn thấy sờ sợ". Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt, không dám tin đó là sự thật: "hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?". Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng.
Khi đã có vợ rồi niềm vui sướng trong anh tràng ngập. Dường như anh đã quên đi cuộc sống tối tăm thường nhật và cảm nhận một sự thay đổi. Tràng ý thức được trách nhiệm, bổn phận của người chồng, người chủ gia đình “ Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng…Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”.
Từ một con người cục mịch, sống vô tư, chỉ biết việc trước mắt, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi, đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận, tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới…
Tràng được khắc hoạ nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945. Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo, dở khóc, dở cười giữa Tràng và Thị, một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói.
Xem thêm: Bình luận về tình trạng ô nhiễm môi trường và trách nhiệm của người dânKim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo: Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc, tình yêu thương, cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế: nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết, giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ.Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa.
Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật, đặc biệt là Tràng.
Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi.. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng.
Mặc dù người vợ được hắn nhặt về, nhưng Tràng không hề rẻ rúng, khinh miệt thị. Trái lại, Tràng vô cùng trân trọng, coi chuyện lấy thi là một điều nghiêm túc. Khát vọng mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua lo lắng về cái đói “ đến thân còn chẳng lo nổi, lại còn đèo bòng”. Tràng chậc lưỡi “ kệ” cái đói, mua cho thị cái thúng con, vài xu dầu và dẫn thị về căn nhà lụp xụp rách nát của mẹ con mình. Tràng hồi hộp chờ câu đồng ý chấp thuận của bà cụ Tứ.
Buổi sáng hôm sau, Tràng thấy khoan khoái như người từ trong giấc mơ đi ra. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Đó là một điều thật bình dị nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao trong cuộc đời Tràng. Hắn thấy hắn nên người. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng”. Một niềm vui thật cảm động, lẫn cả hiện thực lẫn giấc mơ.
Chi tiết: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức. Tràng đã có một ý thức bổn phận sâu sắc: “hắn thấy hắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này”. Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc.
Câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phớichứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người. Đây là điều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được. Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn.
Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trị hiện thực, nhân đạo ; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người. Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tình thương, niềm hi vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.
Nguồn Kenhgiaoduc
Xem thêm: “Thơ... thơ” (Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ). Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy phân tích trong thế đối sánh “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến và “Thơ duyên” của Xuân Diệu để làm sáng tỏ nhận định trên
|
Nhân vật Tràng là một chàng trai nhà nghèo, có vẻ ngoài xấu xí nhưng ẩn sâu bên trong lại là con người sống có tình cảm và có trách nhiệm với gia đình. Tràng được đặt vào một tình huống éo le và qua đây làm nổi bật lên vẻ đẹp tính cách của Tràng.
Để có thể làm bài văn phân tích nhân vật Tràng được tốt nhất thì các em cần lập dàn ý cho đề văn này. Dàn ý và bài tham khảo dưới đây hy vọng sẽ giúp ích nhiều cho các em.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Tràng
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt.
– Giới thiệu về nhân vật Tràng và hoàn cảnh của Tràng.
2. Thân bài phân tích nhân vật Tràng
Số phận và cảnh ngộ
– Tràng có một ngoại hình xấu xí và thô kệch, dáng người mập mạp, hai con mắt nhỏ tí, đầu trọc, quai hàm bạnh.
– Tràng có tính cách thô mộc: gần gũi và thân thiết với mọi người, đặc biệt là với trẻ nhỏ.
+ Nói năng thường cộc lốc, không có cảm xúc.
+ Là người không biết an ủi khi người khác buồn.
– Cảnh ngộ bất hạnh của Tràng:
+ Mẹ già yếu, sống trong những năm đói kém phải đi đánh xe bò kiếm sống.
+ Là nạn nhân của nạn đói.
Vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Tràng qua diễn biến tâm trạng
– Lúc gặp Thị và dẫn Thị về nhà:
+ Những lời ban đầu của Tràng chỉ là bông đùa nhưng Thị lại tin đó là thật.
+ Tràng ngạc nhiên khi Thị đến tìm Tràng.
+ Tràng có chút phân vân, do dự nhưng vẫn quyết định lấy vợ trong sự lạc quan.Xem thêm: Tự ti và tự phụ là hai thái độ trái ngược nhau nhưng đều ánh hưởng không tốt đến kết quả học tập và công tác. Em hãy phân tích hai căn bệnh trên
+ Tràng trở thành người chồng chu đáo và lo lắng cho người vợ mới.
– Buổi sáng đầu tiên khi Tràng có vợ:
+ Tràng giống như một con người khác, Tràng hạnh phúc và vui sướng lạ lùng.
+ Tràng có một chút lo sợ và bối rối khi dẫn vợ về nhà nhưng sau cùng vẫn là cảm giác hạnh phúc khi được làm chồng.
+ Mặc dù gia cảnh khó khăn nhưng Tràng vẫn hào phóng thắp sáng căn nhà tối tăm bằng ngọn đèn dầu vàng đục.
+ Tràng cảm thấy cuộc đời mình từ nay đã thay đổi.
3. Kết bài
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Tràng.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Tràng
Nhà văn Kim Lân là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường giàu lòng thương người và giàu tình yêu với đất nước. Tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân đã khắc họa được một góc cuộc sống của người dân những năm 1945, đúng vào giai đoạn đất nước đang trong cảnh đói nghèo. Tuy nhiên trong cái nghèo ấy, tình người nổi bật lên và trở thành điểm sáng cho tác phẩm. Nhân vật Tràng cũng chính là nhân vật thể hiện được tình thương mà tác giả muốn gửi gắm.
Tràng là nhân vật đại diện cho tầng lớp thanh niên nghèo khổ thời bấy giờ. Anh sống trong xóm ngụ cư cùng với một người mẹ già. Hàng ngày Tràng phải đi đẩy xe bò thuê để kiếm sống cho qua ngày. Anh được nhà văn Kim Lân miêu tả là một người chất phác, hiền lành nhưng có vẻ ngoài xấu xí và thô kệch. Tràng có đôi mắt nhỏ tí gà gà, cái lưng to bè như lưng gấu, cái đầu thì trọc lóc. Chưa hết, tính tình của Tràng lại có chút dở hơi. Mặc dù vậy, Tràng là người vô cùng tốt bụng, lúc nào Tràng cũng vui vẻ với mọi người, đặc biệt là hay vui đùa với trẻ con.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn ghi ta trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo
Phân tích nhân vật Tràng
Nếu sống trong hoàn cảnh ấy, với ngoại hình và tính cách ấy thì có lẽ Tràng sẽ chẳng bao giờ có thể lấy được vợ. Và có lẽ, Tràng cũng không màng đến chuyện lấy vợ khi mà thân mình còn lo chưa xong. Nhưng trớ trêu thay, Kim Lân đã đặt Tràng vào một hoàn cảnh éo le đó là bỗng dưng phải làm chú rể. Sau 2 lần gặp gỡ và vài lời bông đùa, bỗng nhiên Tràng lại có vợ. Một người vợ không cưới hỏi, cứ thế theo Tràng về nhà và trở thành vợ Tràng thôi. Chuyện thật mà như đùa. Lúc đầu, khi người phụ nữ kia đồng ý theo Tràng về làm vợ, Tràng cũng có chút chột dạ. Tràng lo lắng vì không biết từ nay lấy gì mà nuôi vợ. Nhưng rồi Tràng lại đánh lưỡi chậc một cái và nghĩ đến đâu hay đến đó. Tràng đã nhẹ nhàng chấp nhận số phận của mình. Lo sợ có đấy nhưng Tràng vẫn cần có một người vợ để cảm nhận được cái hạnh phúc gia đình. Còn Thị, Thị cần một chỗ dựa. Hai người cần có nhau đã tìm đến nhau và nương vào nhau để sống.
Việc có vợ đã khiến cho tâm trạng của Tràng trở nên vui vẻ và hạnh phúc hơn. Phút chốc, Tràng quên đi cái cuộc sống cơ cực mà mình đang phải trải qua. Tràng chỉ nghĩ đến những điều vui vẻ. Nhà văn Kim Lân đã nhắc về nụ cười của Tràng tới hơn 20 lần để nhấn mạnh niềm vui trong lòng Tràng. Tràng trở nên hào phóng khi thắp ngọn đèn dầu trong đêm tân hôn. Rồi Tràng suy nghĩ là mình phải làm một việc gì đó để còn lo được cho vợ con sau này.Xem thêm: Phân tích đoạn trích Đất Nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm
Những suy nghĩ chân thành và thực tế của Tràng đã khiến người đọc vô cùng cảm động. Người vợ nhặt không khiến Tràng cảm thấy nặng gánh mà ngược lại đó lại là động lực để cho Tràng thêm cố gắng. Tác giả đã khéo léo hồng vào hình ảnh phá kho thóc Nhật cuối truyện để cho thấy một tương lai tươi sáng sẽ đến với gia đình Tràng. Sự sống sẽ được hồi sinh và con người sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn.
Nhân vật Tràng qua miêu tả của Kim Lân mang một tâm hồn trong sáng đẹp đẽ giống như bao nhiêu người nông dân khác thời ấy. Càng đọc kĩ tác phẩm, chúng ta lại càng thêm yêu quý nhân vật này hơn.
Trên đây là bài văn phân tích nhân vật Tràng và dàn ý chi tiết cho đề văn này. Trong bài viết của mình, các em nên cho thêm nhiều dẫn chứng để bài viết được sinh động và hấp dẫn hơn.
Thu Thủy
|
The character Trang is a poor guy with an ugly appearance but deep inside he is a person with feelings and responsibility for his family. Trang is placed in a difficult situation and through this, the beauty of Trang's personality is highlighted.
To be able to write the best essay analyzing Trang's character, you need to create an outline for this topic. The outline and references below hope to be of great help to you.
I. Create an outline to analyze Trang's character
1. Open the lesson
– Introducing writer Kim Lan and his work Picked Up Wife.
– Introducing the character Trang and Trang's circumstances.
2. The body of the essay analyzes Trang's character
Fate and plight
– Trang has an ugly and rough appearance, a chubby figure, two tiny eyes, a bald head, and a strong jaw.
– Trang has a rustic personality: close and friendly with everyone, especially children.
+ Speaks often bluntly and without emotion.
+ Is someone who doesn't know how to comfort others when they're sad.
– Trang's unfortunate plight:
+ My mother was old and weak, living in years of famine and had to drive ox carts to make a living.
+ Being a victim of famine.
The beauty of Trang's character's soul through mood changes
– When meeting Thi and taking her home:
+ Trang's initial words were just a joke, but Thi believed it was true.
+ Trang was surprised when Thi came to find Trang.
+ Trang was a bit confused and hesitant but still decided to get married with optimism. See more: Inferiority and conceit are two opposite attitudes but both negatively affect study and work results. Let's analyze the two diseases above
+ Trang became a thoughtful and worried husband for his new wife.
– The first morning when Trang had a wife:
+ Trang is like another person, Trang is strangely happy and joyful.
+ Trang was a little scared and confused when he brought his wife home, but in the end, he still felt happy to be a husband.
+ Even though her family was in a difficult situation, Trang still generously lit up the dark house with a dull yellow oil lamp.
+ Trang feels that her life has changed from now on.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Trang.
Related articles:
>> Analysis of Kim Lan's The Picked-Up Wife (With detailed outline)
>> Analysis of the character Mi in A Phu Couple (With detailed outline)
>> Analysis of the character Mi in the spring love night (With detailed outline)
II. The article analyzes the character Trang
Writer Kim Lan is a big name in Vietnamese literature. His works are often rich in compassion for people and love for the country. Kim Lan's work Picked Wife portrays a corner of people's lives in 1945, right at the time when the country was in poverty. However, in that poverty, human love stands out and becomes the highlight of the work. The character Trang is also the character that shows the love that the author wants to convey.
Trang is a character representing the poor youth of that time. He lives in the neighborhood with an elderly mother. Every day, Trang has to push a rented cart to make ends meet. He was described by writer Kim Lan as a simple and gentle person but with an ugly and rough appearance. Trang has small, chicken-like eyes, a back as big as a bear's, and a bald head. Furthermore, Trang's personality is a bit crazy. Even so, Trang is an extremely kind person. Trang is always happy with everyone, especially often playing with children. See more: Analyze the metaphorical meaning of the image of the guitar sound in the song Lor's guitar poem - Thanh Thao's song
Analysis of Trang's character
If she lived in that situation, with that appearance and personality, Trang would probably never be able to get married. And perhaps, Trang also doesn't care about getting married while he's still not ready to take care of himself. But ironically, Kim Lan put Trang in a difficult situation of suddenly having to become a groom. After two meetings and a few jokes, Trang suddenly had a wife. A wife who doesn't get married just follows Trang home and becomes Trang's wife. It's true but it's a joke. At first, when the other woman agreed to follow Trang to become his wife, Trang was a bit hesitant. Trang is worried because she doesn't know how to support her wife from now on. But then Trang clicked her tongue and thought about it. Trang gently accepted his fate. Fear is there, but Trang still needs a wife to feel family happiness. As for Thi, Thi needs a supporter. Two people who needed each other found each other and relied on each other to survive.
Having a wife has made Trang's mood happier and happier. For a moment, Trang forgot the miserable life she was going through. Trang only thinks about happy things. Writer Kim Lan mentioned Trang's smile more than 20 times to emphasize the joy in Trang's heart. Trang became generous when lighting the oil lamp on the wedding night. Then Trang thought that she had to do something to take care of her wife and children in the future. See more: Analysis of the excerpt "Country" (Excerpt from the poem The Road of Desire) by Nguyen Khoa Diem
Trang's sincere and realistic thoughts deeply touched readers. The wife did not make Trang feel burdened, but on the contrary, it was a motivation for Trang to try harder. The author cleverly included the image of destroying the Japanese granary at the end of the story to show that a bright future will come to the Trang family. Life will be revived and people will enjoy complete happiness.
The character Trang, as described by Kim Lan, has a pure and beautiful soul like many other farmers at that time. The more carefully we read the work, the more we love this character.
Above is an essay analyzing Trang's character and a detailed outline for this topic. In your writing, you should add more evidence to make it more lively and attractive.
Thu Thuy
|
Nhân vật Tràng xuất hiện từ đầu cho tới cuối tác phẩm Vợ nhặt. Đây là người nông dân cần cù, chịu khó nhưng cuộc sống nghèo đói, cơ cực. Nhưng Tràng bị đặt vào trong một tình huống éo le và qua đó cũng giúp Tràng bộc lộ được những phẩm chất tốt đẹp của mình.
Để giúp các em có thể hiểu thêm về nhân vật này cũng như biết cách làm bài, hôm nay Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt và gợi ý bài văn mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà văn Kim Lân.
– Giới thiệu về tác phẩm Vợ nhặt.
– Giới thiệu về nhân vật Tràng, nhân vật trung tâm của truyện.
2. Thân bài phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt
Xuất thân của nhân vật Tràng
– Tràng là dân ngụ cư, sống bằng nghề đẩy xe bò và phải nuôi một mẹ già.
– Cuộc sống nghèo khó và bị khinh miệt.
Ngoại hình
– Ngoại hình của Tràng được miêu tả là xấu xí và thô kệch.
Diễn biến tâm lí nhân vật Tràng
– Sự tình cờ nhặt được vợ khiến cho Tràng cảm thấy hạnh phúc. Thật ra ban đầu Tràng có chút lo lắng nhưng rồi cũng thây kệ.
– Niềm vui, niềm hạnh phúc lộ rõ trên nắt mặt của Tràng.
– Tràng bắt đầu lo lắng cho tương lai, lo sửa lại nhà, lo làm ăn còn nuôi vợ, nuôi con.Xem thêm: Dòng sông Đà mang vẻ đẹp hung bạo dữ dội.
– Có lúc Tràng vẫn ngỡ ngàng không tin điều này là thật.
– Dáng đi của Tràng từ lúc có vợ cũng thay đổi, trở nên đàng hoàng và tỉnh táo chứ không còn ngật ngưỡng, mệt mỏi như trước nữa.
3. Kết luận
– Nhân vật Tràng đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm.
– Góp phần tạo nên thành công cho tác phẩm.
Bài viết liên quan
>> Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt
Trong số những sáng tác lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945 thì Vợ nhặt của Kim Lân là một tác phẩm tiêu biểu. Tác phẩm không viết về những con người chết vì đói mà viết về tình người trong cảnh đói. Đó chính là điều làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm này. Cũng trong tác phẩm, nhân vật Tràng xuất hiện từ ngoại hình đến tính cách đều không có gì ấn tượng. Nhưng điểm thu hút là ở chỗ Tràng được đặt trong một tình huống éo le đó chính là nhặt được vợ.
Tràng xuất thân là người nghèo khó, sống ở xóm ngụ cư, là một xóm nghèo nhất ở bìa làng và bị mọi người khinh miệt. Năm ấy đúng là cái năm đói kém nhất, cha và chị gái của Tràng cũng qua đời vì nạn đói. Tràng không chỉ nghèo mà còn có ngoại hình xấu xí và thô kệch. Cái dáng đi của Tràng lộ rõ sự mệt mỏi của một người lao động vất vả. Tràng không chỉ lo cho bản thân mình mà còn phải lo cho mẹ già nữa. Nói tóm lại, ở vào hoàn cảnh của Tràng khi ấy thì không thể nào lấy vợ được. Tràng cũng chưa nghĩ đến chuyện ấy khi thân mình lo chưa xong. Nhưng nhà văn Kim Lân đã đặt Tràng vào tình huống buộc phải lấy vợ. Hay nói đúng hơn là Tràng buộc phải có vợ. Chỉ sau có 2 lần gặp gỡ, người đàn bà ấy đã đi theo Tràng, tin vào những lời bông đùa của Tràng mà về làm vợ Tràng.Xem thêm: Tùy viên thi thoại của Tuyết Mai
Phân tích nhân vật Tràng
Không nói thì mọi người chắc cũng hiểu được tâm trạng của Tràng khi ấy đó là sự lo lắng. Tràng lo bởi vì từ đây biết lấy gì mà nuôi vợ. Nhưng không xua đuổi Thị, không thanh minh rằng đó chỉ là những lời nói bông đùa, Tràng chậc kệ và vẫn cứ dẫn vợ theo về. Thậm chí, Tràng còn lâng lâng hạnh phúc và cảm nhận được một niềm vui khác lạ khi mình đã có vợ. Thanh niên đến tuổi dựng vợ gả chồng thì có ai mà không mong ước có được một gia đình hạnh phúc. Tràng cũng vậy, Tràng cũng mong có vợ, chỉ có điều vì nghèo quá nên Tràng không dám nghĩ đến mà thôi. Nay bỗng dưng có được vợ, Tràng tặc lưỡi buông xuôi để mặc cho số phận đến đâu thì đến.
Dường như đây là lần đầu tiên Tràng có được niềm vui như vậy. Tràng dẫn vợ về, đôi lúc còn ngờ ngợ không dám tin đây là sự thật. Mẹ của Tràng là bà cụ Tứ mới đầu cũng vô cùng ngạc nhiên và không tin chuyện con mình đã có vợ. Nhưng rồi mọi người đều vui vẻ, bỏ qua những lo lắng của tương lai, bởi vì họ tin vào một tương lai tươi sáng sẽ đến với cả gia đình họ, đến với những người nông dân khác. Từ lúc có vợ, cái dáng đi của Tràng khác hẳn, nó trở nên đàng hoàng và tỉnh táo hơn. Rồi Tràng có những suy nghĩ tích cực về tương lai. Tràng nghĩ xem làm việc gì đó để tích lũy và sửa lại cái mái nhà, làm một việc gì đó để có thể lo cho vợ con sau này. Thông qua những suy nghĩ và hành động của Tràng, ta thấy được Tràng là một người đàn ông biết lo toan cho cuộc sống gia đình, có trách nhiệm với gia đình.Xem thêm: Đã lâu rồi em không về thăm trường cũ, trường đã thay đổi nhưng vẫn giữ được những hình ảnh gắn bó với tuổi thơ của em. Em hãy tả lại ngôi trường thân thương ấy
Nhân vật Tràng đóng một vai trò quan trọng trong tác phẩm và góp phần vào thành công của tác phẩm Vợ nhặt. Từ nhân vật Tràng, chúng ta cũng có thể thấy được rằng, cuộc đời con người có ý nghĩa hơn nếu như chúng ta biết dành tình yêu thương cho nhau.
Trên đây là phần lập dàn ý và bài văn mẫu cho đề phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt. Nếu các bạn, các em có đóng góp để bài viết được tốt hơn thì hãy để lại bình luận bên dưới bài viết này nhé.
Thu Thủy
|
The character Trang appears from the beginning to the end of the work The Wife Picked Up. This is a diligent and hard-working farmer, but his life is poor and miserable. But Trang was put in a difficult situation and through that also helped Trang reveal her good qualities.
To help you understand more about this character as well as know how to do the test, today the Sample Literature Treasury will guide you to create an outline to analyze the character Trang in The Picked Wife and suggest model essays for you. reference.
I. Create an outline to analyze the character Trang in The Picked Wife
1. Open the lesson
– Introducing writer Kim Lan.
– Introduction to the work The Wife Picked Up.
– Introducing the character Trang, the central character of the story.
2. The body of the essay analyzes the character Trang in The Picked Wife
Origin of the character Trang
– Trang is a resident, living by pushing carts and having to take care of an elderly mother.
– Life is poor and despised.
Appearance
– Trang's appearance is described as ugly and rough.
Psychological developments of Trang's character
– The accidental discovery of his wife made Trang feel happy. Actually, Trang was a little worried at first, but then she let it go.
– Joy and happiness were clearly visible on Trang's face.
– Trang began to worry about the future, worrying about repairing the house, worrying about doing business and raising his wife and children. See more: The Da River has a fierce and violent beauty.
– Sometimes Trang is still surprised and doesn't believe this is true.
– Trang's gait has also changed since he got married, becoming dignified and alert, no longer dazed and tired like before.
3. Conclusion
– The character Trang plays an important role in the work.
– Contribute to the success of the work.
Related articles
>> Analysis of the character of Mrs. Tu in The Picked Wife (With detailed outline)
>> Analysis of Trang's character in The Picked Wife (With detailed outline)
>> Analysis of Kim Lan's The Picked-Up Wife (With detailed outline)
II. Essay analyzing the character Trang in The Picked Wife
Among the compositions set in the famine of 1945, Kim Lan's Picked Wife is a typical work. The work is not about people dying of hunger, but about human love in hunger. That is what makes this work attractive. Also in the work, the character Trang's appearance and personality are not impressive. But the attraction is that Trang is placed in a difficult situation: finding a wife.
Trang came from a poor background, lived in a residential neighborhood, the poorest neighborhood at the edge of the village and was despised by everyone. That year was truly the famine year, Trang's father and sister also died from famine. Trang is not only poor but also has an ugly and rough appearance. Trang's gait clearly shows the fatigue of a hard worker. Trang not only has to take care of herself, but she also has to take care of her elderly mother. In short, in Trang's situation at that time, it was impossible to get married. Trang also did not think about that when she was not done worrying about her body. But writer Kim Lan put Trang in a situation where he was forced to get married. Or more accurately, Trang is forced to have a wife. After only two meetings, that woman followed Trang, believed Trang's jokes and became Trang's wife. See more: Tuyet Mai's voice poetry attaché
Analysis of Trang's character
Without saying anything, everyone probably understood Trang's mood at that time, which was worry. I'm worried because from now on I don't know how I can support my wife. But without chasing Thi away, without explaining that it was just a joke, Trang ignored it and still took his wife home. Trang was even happier and felt a strange joy when she had a wife. When young people reach the age of getting married, who does not wish to have a happy family? Trang is the same. Trang also wants to have a wife, but because she is so poor, Trang does not dare to think about it. Now suddenly having a wife, Trang clicked his tongue and let his fate take its course.
It seemed like this was the first time Trang had such joy. Trang brought his wife home, sometimes doubting and not daring to believe this was true. Trang's mother, Mrs. Tu, was extremely surprised at first and did not believe that her son was married. But then everyone was happy, ignoring worries about the future, because they believed in a bright future that would come to their whole family and to other farmers. Since getting married, Trang's gait is completely different, she has become more dignified and alert. Then Trang had positive thoughts about the future. Trang thought about doing something to save money and repair the roof, doing something to be able to take care of his wife and children in the future. Through Trang's thoughts and actions, we see that Trang is a man who knows how to take care of family life and is responsible for the family. See more: It's been a long time since I've visited my old school. has changed but still retains the images associated with my childhood. Please describe that lovely school
The character Trang plays an important role in the work and contributes to the success of the work The Picked Wife. From the character Trang, we can also see that human life is more meaningful if we know how to love each other.
Above is the outline and sample essay for the topic of analyzing the character Trang in The Picked Wife. If you have any contributions to make this article better, please leave a comment below this article.
Thu Thuy
|
Tấm tuy chỉ là một nhân vật cổ tích nhưng lại được nhiều người yêu quý bởi sự hiền lành, chăm chỉ lại xinh đẹp của mình. Tấm dù phải chịu nhiều khổ cực do mẹ cha qua đời sớm lại phải sống với người dì ghẻ độc ác.
Trước khi làm bài phân tích nhân vật Tấm, các bạn và các em hãy cùng Kho tàng văn mẫu lập dàn ý cho đề văn này nhé.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Tấm
1. Mở bài
– Giới thiệu về truyện cổ tích Việt Nam với quan niệm đạo đức ở hiền gặp lành.
– Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám.
– Giới thiệu về nhân vật Tấm.
2. Thân bài phân tích nhân vật Tấm
Hoàn cảnh xuất thân của Tấm
– Mồ côi mẹ rồi lại mồ côi cha, phải sống cùng dì ghẻ.
– Bị dì ghẻ ghét bỏ thường xuyên tìm cách hãm hại.
Tấm bị mẹ con dì ghẻ hãm hại nhiều lần
– Dì ghẻ sai Tấm trèo lên cây cau rồi chặt cau khiến Tấm biến thành chim vàng anh.
– Cám làm thịt chim vàng anh, từ lông chim mọc lên cây xoan đào.
– Cám chặt cây xoan đào để đóng thành khung cửi.
– Cám đốt khung cửi, từ đống tro mọc lên một cây thị.
– Tấm bước ra từ trong quả thị.
=> Qua những lần biến đổi của Tấm cho thấy cái ác không thể nào thắng được cái thiện.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Tấm.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”
>> Phân tích nhân vật Chiến trong Những đứa con trong gia đình (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Tấm
Văn học Việt Nam được chia ra làm nhiều thể loại vô cùng đặc sắc, trong đó truyện cổ tích đã trở thành thể loại được nhiều người yêu thích nhất. Những đứa trẻ từ khi sinh ra đã được bà, mẹ kể cho nghe những câu chuyện cổ tích diệu kì. Chính những câu chuyện ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Một trong những truyện cổ tích mà có lẽ bất cứ người Việt Nam nào cũng thuộc đó chính là Tấm Cám. Hình ảnh cô Tấm ở hiền gặp lành đã trở thành khuôn mẫu để cho chúng ta học tập và noi theo.
Tấm được biết đến là cô gái mồ côi mẹ từ nhỏ, cha lấy vợ hai nên Tấm phải sống cùng với dì ghẻ. Mấy đời bánh đúc có xương, dì ghẻ có con riêng nên lại càng ghét Tấm hơn. Đến khi cha Tấm qua đời, Tấm thiếu đi sự yêu thương của cha mẹ. Không những vậy, Tấm bị dì ghẻ ghét bỏ, đối xử như con ở trong nhà. Tấm phải làm việc quần quật mà vẫn bị mắng mỏ trong khi Cám suốt ngày mải chơi, lêu lổng. Nhưng Tấm chưa bao giờ cãi lại dì ghẻ. Có thể thấy, Tấm là một cô gái chăm chỉ, hiền lành lại luôn lễ phép. Khi dì ghẻ bảo Tấm và Cám đi xúc tép, Tấm cũng mải miết xúc cả buổi cho đầy rổ tép trong khi Cám chỉ mải chơi. Khi Cám nói dối là đầu Tấm bị lấm bẩn, Tấm sợ dì mắng nên đi gội đầu.Xem thêm: Phân tích đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Phân tích nhân vật Tấm
Chính một phần nhờ tính cách hiền lành của mình nên Tấm lúc nào cũng được giúp đỡ. Đôi lúc người đọc sẽ thấy Tấm hơi yếu đuối một chút khi gặp chuyện gì cũng chỉ biết ngồi khóc. Nhưng đó là cách để tác giả dân gian thêm vào yếu tố kì diệu đó chính là sự xuất hiện của ông Bụt. Nếu như Tấm mạnh mẽ quá thì sẽ chẳng còn gì để nói. Ở đây, tác giả dân gian muốn làm nổi bật lên sự thật thà của Tấm, ai nói gì cũng tin, ai bảo gì cũng nghe.
Cũng chính vì tính cách như vậy nên Tấm mới bị mẹ con dì ghẻ hãm hại hết lần này đến lần khác. Đầu tiên, dì ghẻ sai Tấm đi chăn trâu đồng xa để ở nhà làm thịt cá bống. Dì ghẻ sai Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo rồi mới được đi dự Hội, Tấm cũng ngoan ngoãn nghe theo. Rồi đến ngày giỗ cha, Tấm lúc này đã là hoàng hậu quyền cao chỉ dưới vua nhưng vẫn trèo lên cây cau để hái cáu thắp hương cho cha. Hành động này cho thấy Tấm là người vô cùng hiếu thảo. Tấm bị dì ghẻ chặt cây cau và ngã xuống giếng nhưng không chết mà biến thành chim vàng anh. Con chim bay vào cung vua, ngày ngày quấn quýt bên vua. Cám được vào cung chăm sóc vua thay chị Tấm nhưng khi thấy vua quấn quýt với chim vàng anh thì đem chim đi thịt. Từ đống lông chim mọc lên hai cây gỗ xoan. Nhà vua lại mắc võng dưới cây xoan đào để nằm hóng mát. Tức giận, Cám chặt hai cây xoan đào rồi cho đóng thành khung cửi. Mỗi ngày Cám ngồi đó dệt vải, khung cửi lại kêu kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị rạch mặt ra. Cám nghe thấy hoảng sợ đem đốt khung cửi. Từ đống tro tàn mọc lên một cây thị, bà cụ đi ngang qua đã đem quả thị về nhà để ngửi. Quả thị ấy chính là cô Tấm. Tấm nhiều lần hóa kiếp, sau mỗi lần ấy lại càng xinh đẹp hơn. Nhà vua một lần tình cờ ghé quán nước của bà lão nên đã đưa Tấm trở lại cung điện.Xem thêm: Phân tích nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
Vậy là cuối cùng, cô Tấm hiền thảo cũng trở về đúng vị trí của mình. Tấm đã làm tròn bổn phận của một nhân vật đại diện cho cái thiện, đã chứng minh được rằng chỉ cần mình ở hiền thì rồi sẽ gặp lành. Còn mẹ con nhà Cám, đến cuối truyện đều phải nhận kết cục đắng cay đó là cái chết.
Người xưa thông qua nhân vật Tấm đã nhắn nhủ tới con cháu của mình rằng cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác thì ở thời nào cũng có. Vậy nhưng chỉ cần con người ta hướng tới cái thiện thì đến cuối cùng cũng sẽ giành được chiến thắng.
Qua dàn ý và bài văn phân tích nhân vật Tấm trên đây, chúng ta thấy rằng nhân vật Tấm vừa đẹp người lại vừa đẹp nết. Các em hãy học tập những đức tính tốt đẹp của cô Tấm nhé.
Thu Thủy
|
Although Tam is just a fairy tale character, she is loved by many people because of her gentleness, hard work, and beauty. Although she had to endure many hardships due to the early death of her parents, she had to live with her cruel stepmother.
Before doing the character analysis essay on Tam, you and your students should work with the Sample Literature Treasury to create an outline for this topic.
I. Create an outline to analyze Tam's character
1. Open the lesson
– Introduction to Vietnamese fairy tales with the moral concept of good and good.
– Introducing the fairy tale Tam Cam.
– Introducing the character Tam.
2. Body analysis of Tam's character
Tam's background
– Orphaned mother then fatherless, had to live with stepmother.
– Hated by his stepmother who often tried to harm him.
Tam was harmed many times by her mother and stepmother
– Stepmother ordered Tam to climb the areca tree and cut the areca tree, causing Tam to turn into an oriole.
– The bran makes the meat of the oriole bird, from the bird's feathers a peach tree grows.
– Chop the peach tree to make a loom.
- Cam burned the loom, and from the ashes a tree grew.
– Tam stepped out from the fruit.
=> Through Tam's transformations, it shows that evil cannot overcome good.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Tam.
Related articles:
>> Analysis of Phung's character in The Boat Far Away (With detailed outline)
See more: Explanation of the proverb: "A tiger dies to leave its skin, a person dies to leave its reputation"
>> Analysis of Chien's character in The Children of the Family (With detailed outline)
>> Analysis of Trang's character in The Picked Wife (With detailed outline)
II. Tam character analysis essay
Vietnamese literature is divided into many extremely unique genres, of which fairy tales have become the most popular genre. Children have been told magical fairy tales by their grandmothers and mothers since birth. It is these stories that nourish our souls. One of the fairy tales that perhaps any Vietnamese person knows is Tam Cam. The image of Ms. Tam in good health has become a model for us to learn and follow.
Tam is known as a girl who lost her mother at a young age. Her father took a second wife, so she had to live with her stepmother. Several generations of Banh Duc have bones, and the stepmother has her own children, so she hates Tam even more. When Tam's father passed away, Tam lacked the love of his parents. Not only that, Tam was hated by her stepmother and treated like a child in the house. Tam had to work hard but was still scolded while Cam was busy playing and loitering all day. But Tam never argued with his stepmother. It can be seen that Tam is a hard-working, gentle and always polite girl. When stepmother told Tam and Cam to scoop shrimp, Tam was busy shoveling all day to fill the shrimp basket while Cam was just busy playing. When Cam lied that Tam's hair was dirty, Tam was afraid that his aunt would scold him, so he went to wash his hair. See more: Analysis of the passage "Hero's Spirit" (Excerpt from the Tale of Kieu - Nguyen Du)
Analyze Tam's character
Thanks in part to his gentle personality, Tam always gets help. Sometimes readers will see that Tam is a bit weak and can only sit and cry when encountering something. But that is a way for folk authors to add the magical element that is the appearance of Mr. Buddha. If Tam is too strong, there will be nothing left to say. Here, the folk author wants to highlight Tam's honesty, he believes everything he says, and listens to everyone he says.
Because of that personality, Tam was harmed again and again by his mother and stepmother. First, his stepmother sent Tam to herd buffalo in the fields far away so he could cook goby meat at home. Stepmother ordered Tam to pick rice from rice, rice from rice before going to the Festival, Tam also obediently obeyed. Then on the anniversary of her father's death, Tam was now a high-powered queen, just below the king, but still climbed the areca tree to pick leaves to burn incense for her father. This action shows that Tam is an extremely filial person. Tam had his stepmother cut down an areca tree and fell into a well, but he did not die but turned into an oriole. The bird flew into the king's palace and hung around him every day. Cam was allowed to go to the palace to take care of the king in place of Tam, but when he saw the king hanging out with the oriole, he took the bird to be slaughtered. From the pile of bird feathers grew two oval trees. The king set up a hammock under the peach tree to lie in the cool air. Angry, Cam cut down two peach trees and made them into looms. Every day Cam sat there weaving, the loom creaked, and when she took her husband's painting, she slashed his face. When Cam heard this, he panicked and burned the loom. From the ashes grew an apricot tree. An old lady passed by and took the apricot fruit home to smell. Indeed, that person is Ms. Tam. She reincarnated many times, and after each time she became even more beautiful. The king once happened to visit the old woman's restaurant, so he took Tam back to the palace. See more: Analysis of the unique artistic style in Nguyen Tuan's work The River Boatman
So finally, the gentle Miss Tam also returned to her rightful position. Tam has fulfilled his duty as a character representing goodness, proving that as long as he is kind, good things will come to him. As for the Cam family, at the end of the story they both had to accept the bitter end of death.
The ancients, through the character Tam, reminded their descendants that the battle between good and evil exists at all times. However, as long as people aim for goodness, they will win in the end.
Through the outline and essay analyzing Tam's character above, we see that the character Tam is both beautiful and handsome. Please learn the good qualities of Ms. Tam.
Thu Thuy
|
Phân tích nhân vật Uy-lít-xơ trong trích đoạn: Uy-lít-xơ đấu trí, đấu lực với Pô-li-phem
Hướng dẫn
Cuộc đấu trí giữa Uy-lít-xơ với tên khổng lồ Pô-li-phem là một trong những thử thách vô cùng nguy hiểm mà đứa con yêu quý của La-éc-tơ phải trải qua trong suốt 10 năm trời lênh đênh trên biển cả để trở về với gia đình và cố hương.
Từ những vị khách quý đến thăm đảo, Uy-lít-xơ đã trở thành những tử tù nhữngmiếng mồi ngon cho Pô-li-phem.
Pô-li-phem là một tên khổng lồ ghê gớm. Hắn chỉ có một mắt, có sức khoẻ siêu phàm. Cái tảng đá lấp kín cửa hang – cái cửa ấy, Uy-lít-xơ và các bạn đồng hành không thể nào di chuyển được. Hành động Pô-li-phem bứt ngang một chỏm núi ném theo đoàn thuyền của Uy-lít-xơ đã xa bờ, hỏi rằngcó người trần nào có thể làm được?
Uy-lít-xơ và các bạn đồng hành đã bị Pô-li-phem cầm tù. Chỉ mới hai ngày mà đã có 6 người bạn của Uy-lít-xơ bị tên khổng lồ Pô-li-phem ăn thịt một cách ngon lành. Ngày thứ ba lại có thêm 4 người nữa trở thành thực đơn của tên quỷ tàn ác. Cái bụng của hắn thật kinh khủng: mỗi bữa sáng, bữa chiều, hắn uống hết sữa của cả một đàn cừu béo mập đông đúc và còn ăn tráng miệng thêm hai người trần nữa.
Vì thế hơn bất cứ người trần nào khác, Uy-lít-xơ tự biết không thể nào đấu lực với tên khổng lồ, và chí có đấu trí, may ra mới thoát chết, mới giành được tự do.
Ngồi trong hang, từng chứng kiến tên không lồ ăn thịt chiến hữu của mình, Uy-lít-xơ đã "nghiền ngẫm tai họa của mình, tìm cách báo thù và cầu mongA-tê-na ban cho vinh dự ấy". Chàng dũng sĩ xứ I-ta-cơ, một con người mà “tài trí sánh ngang cácthần”đã nghĩ ra mưu kế tuyệt diệu là phải làm sao chọc mù mắt tên khổng lồ chỉcó một mắt này!
Uy-lít-xơ đã chọn cành cảm lãm to bằng cột buồm của chiếc thuyền hai mươi mái chèo mà tên khổng lồ đã bẻ đem về vứt cạnh bên chuồng cừu làm chùy. Chàng chặt lấy một đoạn dài bằng sải tay, bóc vó, đẽo nhọn một đầu, nung vào lửa hồng cho cứng rồi đem giấu vào lớp phân cừu dày vương vãi khắp hang. Uy-lít-xơ đã cẩn trọng cất giấu vũ khí để tạo nên yếu tố bí mật, bất ngờ lúc hành động.
Uy-lít-xơ đã tổ chức "rút thăm ” chọn người mạo hiểm sẽ cùng mình “nângcái cọc đó lên và xoáy vào mắt ” tên khổng lồ khi hắn nằm ngủ.
Mưu trí của Uy-lít-xơ vô cùng sâu xa tuyệt diệu. Chàng đã dùng thứ rượu “làm toàn bằng cam lộ và mật hoa”, "màu đỏ lửa” chuốc cho tên khổng lồ ba bát đầy, “và cả ba lần thằng khờ ấy đều nốc cạn!”. Xi-clốp muốn biết tên và “muốn biếu một tặng vật để tỏ tính hiếu khách ” với Uy-lít-xơ, nhưng chờ khi hắn đã "say mèm rồi’’, chàng mới dùng “những lời đườngmật” nói cho "thằngkhờ” biết rõ tên mình là “Chẳng có ai”. Cha tôi, mẹ tôi, tất cả bạn bè tôi đều gọi tôi là “Chẳngcó ai”.
Thật là lạnh lùng và ghê sợ khi ta nghe tên khổng lồ một mắt nói với Uy-lít- xơ để "tỏ tính hiếu khách”
– Này, “Chẳng có ai”, ta sẽ ăn thịt các bạn ngươi trước, còn ngươi! ta để lại sau cùng. Tặng phẩm để tỏ tính hiếu khách của ta là thế đấy.
Có thể nói, Uy-lít-xơ đã “giăngbẫy ” một cách tài tình và đã làm cho “đồ tàn bạo ” trúng kế, mắc bẫy!
Xem thêm: Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường THPT hay nhấtPô-li-phem “ngãvật xuống, ngửa bụng lên trời… cái cổ to lớn ngoẹo sangmột bên, vùi mình tronggiấc ngủ khôngthể nào cưỡngnổi”. Cũng là say rượu và nôn mửa, nhưng tên khổng lồ cũng rất khác lạ: “Hắn say quá, nôn mửa cả rượu lẫn thịt người ”.
Cái cọc nhọn gỗ cảm lãm đã được vùi dưới lớp tro dày nóng bỏng lên “bốc cháy ”, toả ra một luồng ánh sáng ghê rợn, Uy-lít-xơ lựa lời khuyến khích các bạn cùng mình hành động. Thần linh đã run rủi cho họ trở nên vô cùng gan dạ. Họ nắm lấy cái cọc cảm lãm, gí đầu nhọn vào mắt tên khổng lồ tàn bạo; Uy-lít-xơ “dùng hết sức bình sinh ”, xoáy vào mắt kẻ tử thù. Một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp phơi bày ra: tròng mắt Pô-li-phem “cháy xèo xèo”, “nổ lép bép”, “máu vọt lên xung quanh cái cọc nóngbỏng”. Thằng khờ “hét lên một tiếng ghê người, tiếng hét dội vào núi đá, và vọng ra khắp cảxung quanh”
Khi Uy-lít-xơ và các bạn “sợ quá, chạy trốn”.Kẻ khốn nạn "rút cái cọc đẫm máu ra khỏi mắt và, như điên như dại quang nó ra xa”.
Bọn khổng lồ Xi-clốp vội chạy đến giữa đêm khuya tưởng có kẻ nào “dùng mưuhoặc bạo lực ” giết bạn mình. Nhưng cả bọn đã ra về khi được nghe Pô-li-phem đáp:
– Các bạn ơi, ai giết tôi ư? “Chẳng có ai” dùng mưu giết tôi không dùng bạo lực.
Cả bọn khổng lồ một mắt đều đã mắc mưu Uy-lít-xơ về cái tên “Chẳng cóai ”, nên chúng đinh ninh Pô-li-phem “bị một bệnh gì đấy, do Dớt chí cao gây nền ” và đó là một điều “khôngsao tránh khỏi". Và chỉ còn một cách là cầu Pô-dê-i- đông oai hùng, thân phụ của chúng ta “mà thôi”
Chọc mù mắt tên khổng lồ rồi, nhưng làm sao thoát được hang khi hắn đã ngồi chắn cửa hang, dang rộng hai tay để tóm bắt những kẻ đã hãm hại hắn? Uy- lít-xơ đã dùng dây miên liễu buộc ba con cừu đực với nhau làm một, con đi giữa mang theo một người, còn hai con bên cạnh bảo vệ người đó. Uy-lít-xơ ôm ngang bụng con cừu to nhất đàn, “bám chắc’’ vào bộ lông kì diệu của nó, và nằm lì như thế không chút sờn lòng”. Mặc dù thằng khổng lồ mù sờ nắn từng con cừu, kiểm soát rất chặt chẽ nhưng Uy-lít-xơ và các bạn mình đã thoát ra được cửa hang ngay trước mũi hắn.
Có thể nói, chuẩn bị vũ khí bằng gỗ cảm lãm, chuốc rượu say tên khổng lồ, chọc mù mắt hắn, bịa ra cái tên “chẳng có ai ”, ôm lấy bụng cừu thoát cửa hang là những cái mưu tuyệt diệu của Uy-lít-xơ.
Xi-clốp là đồ tàn bạo, đã ăn thịt khách tại nhà mình thì “phải chịu báo oán thật gớm ghê!”. Hắn có bao giờ quên được lời chế giễu, căm giận của kẻ đã làm nhục hắn:
– Bớ Xi- chốp, nếu có người hỏi ai đã làm nhục mi, đâm thủng mắt mi, thì mi hãy trả lời: đó là Uy-lít-xơ, người triệt hạ thành trì, con của La-éc-tơ, nhà ở I-ta-cơ nhé!
Bằng mưu trí, Uy-lít-xơ đã thoát hiểm và giành được tự do. Đâm mù mắt tên khổng lồ Pô-li-phem, một lần nữa khẳng định tài năng một con người mà mưu trí sánh ngang cả thần linh!
Qua nhân vật Uy-lít-xơ, tác giả sử thi Ô-đi-xê đã ca ngợi sức mạnh trí tuệ và tinh thần dũng cảm của người Hi Lạp. Uy-lít-xơ là một biểu tượng tuyệt đẹp về mẫu anh hùng văn hóa của dân tộc Hi Lạp làm cho ta vô cùng ngưỡng mộ.
Nguồn: thêm: Hãy tóm tắt vở chèo Kim Nhan
|
Analysis of the character of Uy-Litz in the excerpt: Uy-Litz's battle of wits and force with Poliphem
Instruct
The battle of wits between Ulytz and the giant Poliphem was one of the extremely dangerous challenges that Laertte's beloved son had to go through during his 10 years floating on the ocean. sea to return to family and homeland.
From being distinguished guests to the island, Uy-Litz became death row prisoners and delicious prey for Poliphem.
Polyphem was a formidable giant. He only has one eye and has super strength. The rock covered the cave entrance - that door, Uy-Litz and his companions could not move. Poliphem's action broke through a mountain ridge and threw him behind Uylis's fleet of boats that were already far from shore, asking which mortal could do it?
Uylis and his companions were imprisoned by Poliphem. In just two days, 6 of Uylis's friends were deliciously eaten by the giant Polyphem. On the third day, four more people became the cruel devil's menu. His stomach is terrible: every breakfast and dinner, he drinks all the milk of a large flock of fat sheep and also eats two mortals for dessert.
Therefore, more than any other mortal, Uy-Litz knew that he could not compete with the giant, and only by fighting with his wits could he escape death and gain freedom.
Sitting in the cave, having witnessed the giant eating his comrades, Uy-Litz "contemplated his disaster, sought revenge and prayed to Athens for that honor". The brave warrior of Itachus, a man whose "wisdom is comparable to that of the gods" came up with a wonderful plan to blind this one-eyed giant!
Uylis chose a branch as big as the mast of a twenty-oar boat that the giant had broken and brought back to throw next to the sheep pen as a club. He cut off a piece as long as his arm's length, peeled it off, sharpened one end, heated it in a hot fire to harden it, then hid it in a thick layer of sheep dung scattered throughout the cave. Uy-Litz carefully hid his weapons to create an element of secrecy and surprise during action.
Uy-Litz held a "draw" to choose an adventurer who would join him in "lifting that stake and looking into the eyes" of the giant as he slept.
Uy-Litz's plans are extremely profound and wonderful. He used the "fire-red" wine "made entirely of nectar and nectar" to feed the giant three bowls full, "and the fool drank it all three times!". Cyclov wanted to know his name. and "wanted to give a gift to show hospitality" to Uy-Litz, but waited until he was "drunk" before he used "sweet words" to tell the "fool" his name. “Nobody”. My father, my mother, all my friends call me “Nobody”.
It was cold and terrifying when we heard the one-eyed giant speak to Uy-lit-fi to "show hospitality."
– Hey, “No one”, I will eat your friends first, but you! We leave it for last. Giving gifts to show our hospitality is like that.
It can be said that Uy-Litz has skillfully "laid a trap" and made the "brutal" fall into his trap!
See more: Best thoughts on the first day of entering high school. Polyphem "fell down, belly up to the sky... his huge neck twisted to one side, burying himself in an irresistible sleep". Also drunk and vomiting, but the giant was also very different: "He was so drunk, he vomited both wine and human flesh."
The pointed wooden stake was buried under a thick layer of hot ash and "burned", radiating a terrifying light. Uy-Litz chose the words to encourage his friends to take action. The gods gave them a chance to become extremely brave. They grabbed the feeler stake and pressed the tip into the brutal giant's eyes; Uy-Litz "used all his strength" to look into the eyes of his mortal enemy. An extremely horrifying scene was revealed: Polyphem's eyeballs "sizzled", "popped", "blood rushed up around the hot stake". The idiot "screamed a terrible scream, the scream echoed off the rocky mountain, and echoed all around"
When Uy-Litz and his friends were "so scared, they ran away". The wretched man "pulled the bloody stake out of his eye and, like crazy, pushed it away".
The giants Cyclop quickly ran in the middle of the night thinking someone was "using cunning or violence" to kill their friend. But they all left when they heard Polyphem's reply:
– Guys, who killed me? “No one” tried to kill me without using violence.
All the one-eyed giants had fallen for Uylitz's trick about the name "No one", so they believed that Polyphem "suffered from some disease, caused by Zeus the Most High" and that was a miracle. "It's unavoidable". And there's only one way, which is to pray to the mighty Po-de-i-dong, our father.
He blinded the giant, but how could he escape the cave when he was sitting blocking the cave entrance, spreading his arms wide to capture those who harmed him? Uy-litz used willow rope to tie three rams together into one, the middle one carried a person, and the two next to it protected that person. Uy-Litz hugged the largest sheep in the herd around his waist, "cling firmly" to its magical fur, and lay there like that without feeling a bit discouraged. Although the blind giant touched each sheep and controlled it very closely, Uy-Litz and his friends were able to escape the cave entrance right under his nose.
It can be said that preparing wooden weapons, getting the giant drunk, blinding him, inventing the name "no one", and embracing the belly of a sheep to escape the cave are Uy's wonderful tricks. -liter-fibre.
Cyclov is a cruel person, having eaten guests in his own house, "he must suffer terrible revenge!". Will he ever forget the ridicule and anger of the person who humiliated him:
- Sichov, if anyone asks who humiliated you and pierced your eye, you should answer: it was Uy-litz, the destroyer of strongholds, son of Laerte, the in Italy!
Through cunning, Uy-Litz escaped danger and gained freedom. Blinding the giant Polyphem, once again affirming the talent of a man whose cunning is comparable to that of a god!
Through the character of Uyghur, the author of the Odyssey praised the intellectual strength and courageous spirit of the Greeks. Uylis is a beautiful symbol of the cultural hero of the Greek people, making us extremely admire.
Source: more: Let's summarize the opera Kim Nhan
|
Trong Chữ người tử tù, song hành cùng với nhân vật Huấn Cao là nhân vật viên quản ngục. Nhân vật này ở vào vị trí đối nghịch với Huấn Cao nhưng lại khác với tất cả những người cùng phe với mình. Viên quản ngục biết yêu cái đẹp và biết trọng người có tài.
Trước khi bước vào phân tích nhân vật viên quản ngục, chúng ta hãy cùng nhau lập dàn ý cho đề văn này để việc làm bài được hiệu quả nhất.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật viên quản ngục
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù.
– Giới thiệu về nhân vật viên quản ngục.
2. Thân bài phân tích nhân vật viên quản ngục
Ngoại hình của viên quản ngục
– Viên quản ngục đã bước vào độ tuổi trung niên.
– Nguyễn Tuân miêu tả mặt viên quản ngục như mặt ao.
Tính cách của viên quản ngục
– Viên quản ngục là một người có tính tình điềm đạm và phúc hậu.
– Viên quản ngục là một người có tâm hồn thuần khiết, yêu cái đẹp.
– Viên quản ngục có tâm hồn nghệ sĩ, say mê nghệ thuật.
– Viên quản ngục là một người biết trọng những người tài hoa.
– Viên quản ngục là một người có tâm hồn trong sáng.
Nhận xét chung về viên quản ngục
– Nguyễn Tuân đã xây dựng hình tượng viên quản ngục vô cùng độc đáo.
– Cách dẫn dắt câu chuyện khiến nhân vật hiện lên rất nổi bật.
– Cách xây dựng tình huống truyện của Nguyễn Tuân rất độc đáo và tinh tế.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật viên quản ngục.
Bài viết liên quan:
Xem thêm: Suy nghĩ về đức tính tự tin
>> Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật viên quản ngục
Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân không chỉ xây dựng nhân vật Huấn Cao mà còn xây dựng một nhân vật ở vị trí đối nghịch đó chính là viên quản ngục. Viên quản ngục đóng một vai trò quan trọng trong tác phẩm này vì làm nổi bật lên vẻ đẹp của nhân vật chính Huấn Cao. Nhân vật viên quản ngục hiện lên có sức hút một cách kì lạ. Thông qua nhân vật này, Nguyễn Tuân đã thể hiện được ngòi bút tài hoa của mình.
Nếu như tính cách của nhân vật Huấn Cao ít có những biến đổi bất ngờ thì nhân vật viên quản ngục lại có sự vận động về tính cách. Viên quản ngục trước đây cũng là một người biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền. Chính vì vậy mà viên quản ngục được bồi đắp cho thiên lương nảy nở tốt đẹp. Viên quản ngục say mê cái đẹp. Mong ước của viên quản ngục chỉ là có được đôi câu đối do Huấn Cao viết mà treo trong nhà. Nguyễn Tuân đã đặt viên quản ngục vào trong một môi trường tối tăm và hoe ố tuy nhiên tính cách của viên quản ngục không vì thế mà thay đổi. Thế cho nên khi gặp Huấn Cao, viên quản ngục đã dành nhiều tình cảm và biệt đãi Huấn Cao mặc dù Huấn Cao lúc này là một tên tử tù. Viên quản ngục đã bỏ qua vị trí của mình, bỏ qua những hiểm nguy gặp phải nếu bị phát hiện mà biệt đãi Huấn Cao.Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: "Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Phân tích nhân vật viên quản ngục
Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật viên quản ngục vào trong một thử thách khá là gay go. Đó là khi Huấn Cao không chấp nhận tấm lòng của viên quản ngục. Quản ngục lúc nào cũng lo lắng và hồi hộp kể từ khi Huấn Cao vào trong ngục tù. Mặc dù biệt đãi Huấn Cao nhưng viên quản ngục cũng không biết liệu Huấn Cao có cho chữ mình hay không bởi ngục quan biết tính Huấn Cao, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ ai. Mặc dù vậy, viên quản ngục vẫn âm thầm cho Huấn Cao cơm rượu, chăm sóc một cách tận tình. Cái đau khổ của viên quản ngục đó chính là Huấn Cao đang ở trong tay mình mà lại không biết làm thế nào để xin được chữ. Ép Huấn Cao thì không phải tính cách của viên quản ngục và bởi ngục quan cũng biết rằng với người như Huấn Cao thì có ép cũng không thể nào được. Bên cạnh đó, viên quản ngục cũng phải đề phòng những kẻ dưới chướng mình và phải dò ý tứ thuộc hạ xem sao rồi mới có thể liệu được.
Trong văn học không có nhiều tác phẩm mà những người làm quản ngục được miêu tả kĩ lưỡng. Nhưng trong tác phẩm Chữ người tử tù Nguyễn Tuân đã miêu tả nhân vật viên quản ngục vô cùng chân thực. Từ dáng đi, điệu đứng cho đến lời ăn tiếng nói của viên quản ngục đều được miêu tả một cách chi tiết. Trong công việc, viên quản ngục là một người oai phong, trầm tĩnh và cần mẫn. Tuy nhiên, viên quản ngục không phải là người chỉ biết thực thi mệnh lệnh mà là người có cảm xúc. Chính vì vậy viên quản ngục mới có thái độ đăm chiêu khi tiếp nhận tên tử tù Huấn Cao.Xem thêm: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về nhà thơ Hoàng cầm và bài thơ “Bên kia sông Đuống"
Khác với cách nghĩ của chúng ta về viên quản ngục, nhân vật quản ngục trong tác phẩm này có tính cách dịu dàng và lòng biết giá người. Mặc dù ở trong vai trò quản ngục nhưng ngục quan cũng chẳng khác nào một tù nhân chung thân ở nhà tù này. Đôi lúc ông cũng than thở một mình vì đã chọn nhầm nghề. Đây chính là bi kịch và ngục quan phải gánh chịu. Khi gặp được người tài như Huấn Cao, viên quản ngục đã tự hạ mình xuống. Đó là sự ngưỡng mộ của một người biết trân trọng cái tài, trân trọng cái đẹp.
Đến cuối cùng, tấm chân tình của viên quản ngục đã được đền đáp bằng việc Huấn Cao đồng ý cho chữ. Mặc dù câu chuyện dừng lại ở hình ảnh cho chữ nhưng qua những lời cuối của Huấn Cao chúng ta có thể đoán được tương lai viên quản ngục sẽ bỏ nghề, trở về với quê hương để giữ cho được cái thiên lương trong sạch của mình.
Nhân vật viên quản ngục đã thể hiện được tài năng của Nguyễn Tuân trong việc miêu tả nhân vật. Bằng cách xây dựng nhân vật viên quản ngục, Nguyễn Tuân cũng tô đậm hơn vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao.
Trên đây là dàn ý cũng như bài làm phân tích nhân vật viên quản ngục. Bài viết này do Kho tàng văn mẫu biên soạn giúp các em có thêm tư liệu tham khảo cho việc học của mình.
Thu Thủy
|
In The Death Row Prisoner, along with the character Huan Cao is the character of the prison guard. This character is in the opposite position to Huan Cao but is different from everyone on his side. The prison warden knows how to love beauty and respect talented people.
Before analyzing the character of the prison warden, let's create an outline for this essay so that the assignment can be most effective.
I. Create an outline to analyze the prison warden's character
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Tuan and his work Letters from death row prisoners.
– Introducing the prison warden character.
2. The body of the essay analyzes the character of the prison warden
Appearance of the prison warden
– The prison warden has entered middle age.
– Nguyen Tuan described the prison warden's face as the surface of a pond.
Personality of the prison warden
– The prison warden is a person with a calm and kind personality.
– The prison warden is a person with a pure soul who loves beauty.
– The prison warden has an artistic soul and is passionate about art.
– The prison warden is a person who appreciates talented people.
– The prison warden is a person with a pure soul.
General comments about the prison warden
– Nguyen Tuan has built a very unique image of a prison guard.
– The way the story is told makes the characters stand out.
– Nguyen Tuan's way of building story situations is very unique and sophisticated.
3. Conclusion
– Describe your feelings about the prison warden character.
Related articles:
See more: Thinking about the virtue of confidence
>> Analysis of the character Chi Pheo in the short story of the same name (With detailed outline)
>> Analysis of Huan Cao's character in Death Row Prisoner (With detailed outline)
>> Analysis of Nguyen Tuan's The Word of a Death Row Prisoner (With detailed outline)
II. The article analyzes the character of the prison warden
In The Word of a Death Row Prisoner, Nguyen Tuan not only builds the character Huan Cao but also builds a character in the opposite position, the prison warden. The prison warden plays an important role in this work because it highlights the beauty of the main character Huan Cao. The character of the prison warden appears to be strangely attractive. Through this character, Nguyen Tuan demonstrated his talented writing.
While the character of Huan Cao has few unexpected changes, the character of the prison guard has personality fluctuations. The former prison warden was also a person who knew how to read the meaning of holy books. That's why the prison warden was nourished so that heaven would flourish well. The prison warden was fascinated by beauty. The prison warden's wish was to have a couple of couplets written by Huan Cao to hang in his house. Nguyen Tuan placed the prison warden in a dark and dirty environment, but the prison warden's personality did not change because of that. So when he met Huan Cao, the prison warden gave him a lot of love and gave him special treatment even though Huan Cao was now a death row prisoner. The prison warden ignored his position, ignored the dangers he would face if discovered, and gave Huan Cao special treatment. See more: Comments on the folk song: "A father's merit is like Thai Son mountain. A mother's kindness is like water." flows from the source. A heart to honor one's mother and respect one's father. Fulfilling filial piety is the way of children."
Analyze the character of the prison warden
Nguyen Tuan has put the prison warden character through quite a tough challenge. That was when Huan Cao did not accept the prison warden's heart. The prison guards have always been worried and nervous since Huan Cao entered the prison. Even though he gave special treatment to Huan Cao, the prison warden did not know whether Huan Cao would give words to him or not because the prison officer knew Huan Cao's character. Except for his confidants, he rarely gave words to anyone. Even so, the prison guard still silently gave Huan Cao food and wine and took good care of him. The prison warden's suffering was that Huan Cao was in his hands but did not know how to ask for help. Forcing Huan Cao is not the prison warden's character, and because the prison guard also knows that with someone like Huan Cao, forcing him is impossible. Besides, the prison warden must also be wary of those under his command and must probe the thoughts of his subordinates before he can take care of them.
In literature, there are not many works where prison guards are described thoroughly. But in the work The Words of Death Row Prisoner, Nguyen Tuan described the character of the prison guard extremely realistically. From the prison warden's gait, posture, and speech, everything is described in detail. At work, the prison warden is an imposing, calm and diligent person. However, the prison warden is not someone who only knows how to execute orders but is someone who has emotions. That's why the prison warden had a pensive attitude when receiving death row prisoner Huan Cao. See more: Present your knowledge about the poet Hoang Cam and the poem "Across the Duong River"
Different from our way of thinking about a prison warden, the prison warden character in this work has a gentle personality and appreciation for people. Even though he is in the role of prison guard, the prison officer is no different from a life-long prisoner in this prison. Sometimes he lamented to himself that he had chosen the wrong profession. This is the tragedy and the prison guards have to endure it. When he met a talented person like Huan Cao, the prison warden humbled himself. That is the admiration of a person who knows how to appreciate talent and appreciate beauty.
In the end, the prison warden's sincerity was rewarded when Huan Cao agreed to accept the letter. Although the story stops at images and words, through Huan Cao's last words we can guess that in the future the prison guard will quit his job and return to his homeland to maintain his pure conscience. .
The character of the prison guard demonstrated Nguyen Tuan's talent in portraying characters. By building the character of the prison guard, Nguyen Tuan also highlighted the beauty of the character Huan Cao.
Above is an outline as well as an assignment to analyze the prison warden's character. This article was compiled by the Sample Literature Treasury to help students have more reference materials for their studies.
Thu Thuy
|
Việt là nhân vật chính trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình. Việt có nhiều đức tính tốt đẹp như yêu chị, dũng cảm và vẫn còn chút tính cách của trẻ con. Để hiểu rõ hơn về nhân vật Việt, các em hãy phân tích nhân vật Việt.
Trước khi bước vào phân tích, các em hãy lập dàn ý phân tích nhân vật Việt. Dàn ý chi tiết sẽ giúp các em vạch ra được những ý chính cho bài phân tích của mình, giúp bài làm chặt chẽ và sâu sắc hơn.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Việt
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Thi và tác phẩm Những đứa con trong gia đình.
– Giới thiệu về nhân vật Việt
2. Thân bài phân tích nhân vật Việt
Tính tình hồn nhiên, thú vị
– Việt là một chiến sĩ trẻ có tính cách hồn nhiên.
– Mặc dù hàng ngày mang trên mình khẩu súng tự động nhưng Việt vẫn luôn giữ trong mình cái ná thun bắn chim hồi nhỏ.
– Ở trong đêm tối và trong hoàn cảnh bị thương, Việt không sợ chết mà lại sợ ma.
– Dù yêu chị nhưng Việt lại hay tranh giành với chị.
– Việt không kể về chị với đồng đội vì muốn giấu chị cho riêng mình.
Tình thương yêu gia đình sâu đậm
– Việt mồ côi cha mẹ từ sớm. Sống với chị nên dành tình yêu sâu đậm cho chị. Hai chị em cùng xung phong đi bộ đội. Càng ngày Việt càng thương chị nhiều hơn.
– Việt thương chú Năm từ những ngày còn nhỏ vì chú Năm hay bênh Việt.Xem thêm: Bạn Thu Thủy kể về gia đình
– Việt thương cha mẹ, Việt nhớ đến cha mẹ trong lúc mê man khi bị chấn thương.
Tính cách anh hùng, tinh thần chiến đấu dũng cảm
– Việt mang trong mình mối thù với quân giặc nên chiến đấu bằng tất cả sức mạnh của mình.
– Trong lúc bị thương Việt vẫn cam đảm chịu đựng, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
3. Kết bài
– Nêu cảm nhận của em về nhân vật Việt.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật A Phủ trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong Vợ nhặt (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Việt
Tác giả Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi xuất sắc của nền văn nghệ giải phóng miền Nam. Những tác phẩm của ông phần nhiều viết về những con người Nam Bộ dũng cảm trong chiến đấu và giàu tình yêu thương. Tác phẩm Những đứa con trong gia đình cũng mang nội dung như vậy nhưng được viết theo giọng văn riêng gây hứng thú cho người đọc. Trong tác phẩm này, nổi bật lên vẫn là nhân vật Việt, một thanh niên trẻ dũng cảm và hồn nhiên.
Việt được sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Lúc còn nhỏ, Việt đã biết giúp đỡ mẹ trong việc đồng áng. Lòng căm thù giặc càng sâu sắc hơn khi những người thân yêu của Việt lần lượt bị bom đạn của giặc lấy đi tính mạng. Đó là ông nội, là bà nội, là thím năm rồi chính cha mẹ của Việt cũng chết vì đạn pháo giặc thù. Những mất mát ấy, chú Năm đã ghi lại cụ thể, chi tiết trong cuốn sổ gia đình. Chính lòng căm thù giặc đã khiến cho Việt có được những phẩm chất anh hùng kiên cường.Xem thêm: Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa
Phân tích nhân vật Việt
Người đọc sẽ nhớ nhiều đến Việt vì cái tính hồn nhiên, vô tư, hóm hỉnh. Dù đã bước qua tuổi 18, Việt vẫn giữ được những nét tình cách ấy. Việt lúc nào cũng tranh phần hơn với chị Chiến. Khi hai chị em đi bắt ếch đến khi đi bộ đội, Việt luôn tranh phần hơn, tranh đi bộ đội trước. Chị Chiến vì làm chị nên có phần chín chắn hơn, Việt thì cứ lăn kềnh ra ván mà cười rồi còn bắt đom đóm để chơi và ngủ quên lúc nào không hay. Có lúc, Việt có vẻ như hơi vô tâm khi phó mặc mọi công việc cho chị Chiến. Rồi khi đi lính, Việt vẫn mang theo cái ná thun dùng để bắn chim hồi nhỏ. Ở đơn vị, Việt yêu quý đồng đội nhưng lại chẳng bao giờ kể về chị cho mọi người nghe. Việt muốn giấu chị Chiến cho riêng mình bởi vì Việt rất yêu chị. Khi bị thương và phải ở một mình trong đêm tối, điều khiến Việt sợ hãi không phải là cái chết mà lại là ma.
Nổi bật lên ở nhân vật Việt tính cách gai góc, kiên cường của một chiến sĩ cộng sản. Lúc còn nhỏ, Việt đã sớm nuôi chí lớn. Có lần Việt cùng chị Chiến đi theo du kích đánh tàu Mĩ, hai chị em đã bắn trúng một tên lính. Chiến công hiển hách ấy cũng đã được chú Năm ghi lại. Ghi chưa đủ tuổi đi lính, Việt đã khai man, nhất quyết đòi đi lính trước chị. Việt mong muốn được tham gia chiến đấu để trả thù cho bố mẹ. Hành động này cho thấy Việt đã có ý thức giác ngộ lí tưởng cách mạng. Lúc ở trong chiến trường, Việt không sợ hãi bất cứ một điều gì. Trong lúc bị thương nặng, Việt vẫn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Khi nghe thấy tiếng súng, Việt bò lê về phía đó.Xem thêm: Bình giảng những câu thơ sau trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Súng nổ rung trời giận dữ. Người lên như nước vờ bờ. Nước Việt Nam từ máu lửa. Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
Trên tất cả vẫn là tình yêu của Việt dành cho gia đình. Việt yêu chị Chiến, người chị đã thay bố mẹ chăm sóc cho Việt. Việt yêu chú Năm, người chú mà từ lúc Việt còn nhỏ lúc nào cũng bênh vực cho Việt. Việt yêu bố mẹ của mình, những người đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong lúc mê man, Việt đã nhớ đến bố mẹ của mình.
Qua nhân vật Việt, chúng ta có thể thấy được một con người đậm chất Nam Bộ. Việt là nhân vật đại diện cho thế hệ thanh niên yêu nước thời kì chống Mĩ. Việt là tấm gương cho chúng ta học tập và noi theo.
Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích nhân vật Việt cũng như cùng nhau làm bài văn mẫu. Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Các em nên bổ sung thêm các dẫn chứng vào trong bài làm của mình để bài viết được sâu sắc hơn.
Thu Thủy
|
Viet is the main character in the work Children in the Family. Viet has many good qualities such as loving his sister, being brave and still having a bit of a childish personality. To better understand Vietnamese characters, let's analyze Vietnamese characters.
Before entering the analysis, you should create an outline to analyze Vietnamese characters. A detailed outline will help you outline the main ideas for your analysis, making your work more rigorous and profound.
I. Create an outline to analyze Vietnamese characters
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Thi and the work Children in the Family.
– Introduction to Vietnamese characters
2. The body of the essay analyzes Vietnamese characters
Innocent and interesting personality
– Viet is a young soldier with an innocent personality.
– Even though he carries an automatic gun every day, Viet always keeps his bird shooting slingshot from when he was young.
– In the dark and in an injured situation, Viet is not afraid of death but of ghosts.
– Even though he loves her, Viet often fights with her.
– Viet did not talk about her to his teammates because he wanted to keep her to himself.
Deep love for family
– Viet lost his parents at a young age. Living with your sister, you should give her deep love. The two sisters volunteered to join the army. Every day Viet loves her more and more.
– Viet has loved Uncle Nam since he was young because Uncle Nam often defended Viet. See more: Thu Thuy talks about her family
– Viet loves his parents, Viet remembers his parents while unconscious when injured.
Heroic personality, courageous fighting spirit
– Viet had a grudge against the enemy so he fought with all his strength.
– While injured, Viet still endured courageously, always in a fighting stance.
3. Conclusion
– State your feelings about Vietnamese characters.
Related articles:
>> Analysis of the character A Phu in A Phu and his wife (With detailed outline)
>> Analysis of the character of the fisherman in The Boat Far Away (With detailed outline)
>> Analysis of the character of Mrs. Tu in The Picked Wife (With detailed outline)
II. Vietnamese character analysis essay
Author Nguyen Thi is one of the outstanding prose writers of the Southern liberation literature. His works are mostly written about Southern people who are brave in battle and rich in love. The work Children in the Family also has the same content but is written in a unique voice that interests the reader. In this work, the character Viet stands out, a brave and innocent young man.
Viet was born into a family with a revolutionary tradition, patriotism and deep hatred of the enemy. When he was young, Viet knew how to help his mother in the fields. The hatred for the enemy became even deeper when Viet's loved ones were killed by enemy bombs one after another. It was Viet's grandfather, grandmother, and aunt. Last year, Viet's own parents also died from enemy artillery. Uncle Nam recorded those losses specifically and in detail in the family book. It is the hatred of the enemy that gives Vietnam heroic and resilient qualities. See more: Feelings about the fate of Vietnamese women in ancient times
Analysis of Vietnamese characters
Readers will remember Viet a lot because of his innocence, carefree, and humorous personality. Even though he has turned 18, Viet still retains those personality traits. Viet always competes for more with Chien. When the two sisters went from catching frogs to joining the army, Viet always competed for the better part, competing to join the army first. Chien, because she's an older sister, is a bit more mature, while Viet keeps rolling on the board and laughing, catching fireflies to play with and falling asleep without realizing it. At times, Viet seemed a bit heartless as he left all the work to Ms. Chien. When he joined the army, Viet still carried with him the slingshot he used to shoot birds when he was a child. At the unit, Viet loved her teammates but never told everyone about her. Viet wanted to hide Chien for himself because Viet loved her very much. When Viet was injured and had to be alone in the dark, what scared Viet was not death but ghosts.
The Vietnamese character stands out with the thorny and resilient personality of a communist soldier. When he was young, Viet already had the ambition to grow. One time Viet and Chien went with guerrillas to attack an American ship. The two sisters shot and hit a soldier. That glorious victory was also recorded by Uncle Nam. Remembering that he was not old enough to join the army, Viet lied and insisted on joining the army before her sister. Viet wants to join the fight to avenge his parents. This action shows that Viet has consciously awakened to revolutionary ideals. While on the battlefield, Viet was not afraid of anything. While seriously injured, Viet was still in a fighting position. When he heard the gunshots, Viet crawled towards it. See more: Commentary on the following verses in the poem Country by Nguyen Dinh Thi: The gunfire shook the sky with anger. People rise like water pretending to be a shore. Vietnam from blood and fire. Shake off the mud and stand up brightly
Above all is still Viet's love for family. Viet loves Chien, the sister who took care of Viet on behalf of her parents. Viet loves Uncle Nam, the uncle who, since Viet was young, has always defended Viet. Viet loves his parents, who sacrificed for the Fatherland. While unconscious, Viet remembered his parents.
Through the Vietnamese character, we can see a person with Southern characteristics. Viet is a character representing the generation of patriotic youth during the anti-American period. Vietnamese is an example for us to study and follow.
Above, we have together created an outline to analyze Vietnamese characters as well as worked on a sample essay together. The article is for reference only. You should add evidence to your work to make it more profound.
Thu Thuy
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong truyện Những đứa con trong gia đình
Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Thi là một trong những cây bút tiêu biểu cho văn học Việt Nam. Tuy quê ở Nam Định nhưng ông lại được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Trong sáng tác của ông có những tác phẩm tiêu biểu: Trăng sáng, Đôi bạn, Những đứa con trong gia đình…Nhưng tiêu biểu hơn cả là tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt –“Những đứa con trong gia đình”. Qua tác phẩm, nhà văn cho ta thấy được vẻ đẹp, phẩm chất của nhân vật Việt và Chiến: giàu lòng yêu nước, căm thù giặc. Họ như đi lên từ tuổi thơ đau thương, mất mát mà đến với cuộc chiến.
Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong truyện Những đứa con trong gia đình
Không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại đặt cho tác phẩm của mình là “Những đứa con trong gia đình”. Nhan đề ấy gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ: phải chăng những đứa con trong gia đình là những người con được sinh ra, lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, đấu tranh kiên cường. Những đứa con ấy đã sống, chiến đấu để xứng đáng với truyền thống ấy? “Những đứa con trong gia đình” là sự khẳng định, ngợi ca mối liên hệ bền chặt, thiêng liêng giữa các thế hệ trong gia đình.
Tác phẩm trước hết thành công ở nghệ thuật xây dựng tình huống truyện: Việt bị thương và nằm lại chiến trường. Qua dòng hồi tưởng đứt nối của Việt, nhà văn đã mở dần đối tượng miêu tả, đi sâu hơn vào thế giới nội tâm của nhân vật. Cách diễn đạt này mang lại cho tác phẩm tính trữ tình đậm đà, tự nhiên, sống động.
Theo dòng hồi tưởng của Việt, chị Chiến- người chị mà Việt hết sức thương yêu quí trọng- đã xuất hiện trước mắt người đọc với nét trẻ con và cả tính người lớn. Chiến dẫu sao cũng chỉ là một cô gái mới lớn, vẫn thích được khen, tranh công bắt ếch với em. Rồi đến cái ngày hai chị em đăng kí đi bộ đội, Chiến đã tranh đi với em-một lẽ vì thương em còn nhỏ nhưng một lẽ Chiến vẫn còn trẻ con: “Tao lớn tao mới đi, mày còn nhỏ, ở nhà phụ làm với chú Năm, qua năm hãy đi”, “Đề nghị mấy anh xét lại cho. Nó là em tôi mà cái gì nó cũng giành”.
Nhưng ở phương diện khác Chiến lại tỏ ra là một cô gái rất gan góc, đảm đang, tháo vát. Và trong cảm nhận của em, Chiến giống mẹ đến lạ lùng. Chiến lo lắng cho em từng chút, đi đâu Chiến cũng xem chừng em, yêu thương em. Đặc biệt Chiến là một cô gái tháo vát, đảm đang: trước khi lên đường chiến đấu, Chiến đã thu xếp việc nhà chu đáo: “thằng Út sang ở với chú Năm, chú nuôi. Còn cái nhà này ba má làm ra thì cho các anh ở xã mượn mở trường học”. Cả cái giường ván, Chiến cũng cho xã mượn làm ghế để ngồi học. Cái nồi, cái lu, chén, dĩa…Chiến đều gửi cho chú Năm. Nhà có năm công ruộng, Chiến giao lại cho chú Năm và bà con trong xóm làm. Hai công mía thì nhờ chú Năm thu hoạch để giỗ má. Bàn thờ ba má thì hai chị em cũng đem sang chú cho thằng Út trông coi.
Xem thêm: Em hãy viết một bức thư cho bạn ở tỉnh khác để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốtMột câu nói giản dị nhưng tâm hồn chiến dường như cũng sáng bừng với câu nói ấy: “Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất…”.Với câu nói ấy, ta có thể hiểu vì sau Chiến đã tham gia cuộc chiến và chiến đấu dũng cảm đến như vậy.
Từ hình ảnh Chiến-một cô gái dễ thương với một tính cách đa dạng đã cho ta thấy vẻ đẹp của người dân Nam bộ: giàu ý chí, lòng căm thù giặc mà lại sâu sắc nghĩa tình.
Cùng với nhân vật Chiến, nhà văn đã khắc họa thành công nhân vật Việt. Việt đúng là một chàng trai mới lớn, hết sức hiếu động: thích bắt ếch, bắn chim, câu cá…và rất vô tư. Trong cái đêm trước ngày lên đường nhập ngũ khi nghe chị bàn việc nhà, Viêt “lăn ra ván cười khì khì”, chụp một con đom đóm trong lòng tay rồi ngủ quên lúc nào không biết. Đến lúc đã thành một người lính, Việt vẫn mang theo cái ná thun bên mình. Khi bị thương giữa chiến trường, thất lạc đồng đội Việt không hề nao núng sợ hãi mà anh lại sợ ma. Việt thương chị mình theo một cách cũng rất trẻ con là giấu chị như giấu của riêng vì sợ mất chị.
Tuy chỉ mới mười tám tuổi nhưng Việt lại chiến đấu rất gan dạ và dũng cảm, kiên cường bởi lẽ dòng máu trong người Việt là dòng máu anh hùng, dòng máu của “những người con trong gia đình” có truyền thống cách mạng. Ngay từ khi còn rất nhỏ, Việt đã dám xông vào thằng giặc đã giết cha mình. Khi chiến đấu Việt lập chiến công là đã hạ được một xe bọc thép của giặc. Dù cận kề cái chết Việt vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu: “đạn đã lên nòng, ngón tay còn lại sẵn sàng chiến đấu”.
Hình ảnh Việt mang vẻ đẹp của người thanh niên mới lớn. Tuy còn đó những nét trẻ con nhưng lại dạt dào tình cảm yêu nước.
Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Nguyễn Thi đã thành công trong việc khắc họa tính cách nhân vật một cách tinh tế sâu sắc, ngôn ngữ mang đậm sắc thái Nam bộ giàu chất tạo hình, góc cạnh.
Tóm lại, “Những đứa con trong gia đình” đã thành công trong việc khắc họa hình tượng nhân vật Chiến và Việt- những thanh niên một thời hào hùng của dân tộc. Thông qua hai nhân vật này nhà văn đã cho thấy chính sự gan góc, kiên cường đã tạo nên sức mạnh dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ: "Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội...Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy."
|
Topic: Analyze the characters Viet and Chien in the story Children in the Family
During the resistance war against America to save the country, Nguyen Thi was one of the typical writers of Vietnamese literature. Although he is from Nam Dinh, he is known as a writer of Southern farmers. In his works, there are typical works: Bright Moon, Couples, Children in the Family... But the most typical is the work written right in the days of fierce fighting - "Children in the Family". family". Through his work, the writer shows us the beauty and qualities of the characters Viet and Chien: rich in patriotism and hatred of the enemy. They seem to have come from a painful and lost childhood to war.
Analyze the characters Viet and Chien in the story Children in the Family
It is no coincidence that the author named his work "Children in the family". That title makes readers think a lot: Are the children in the family born and raised in a family with a tradition of revolution and steadfast struggle? Did those children live and fight to be worthy of that tradition? "Children in the family" is an affirmation and praise of the strong, sacred relationship between generations in the family.
The work first succeeds in the art of building a story situation: Viet is injured and stays on the battlefield. Through Viet's disconnected flashbacks, the writer gradually opened up the subject of description, going deeper into the character's inner world. This expression gives the work a rich, natural, and lively lyricism.
According to Viet's recollections, Ms. Chien - the sister that Viet loved and cherished very much - appeared before the reader's eyes with both childish and adult features. Chien is still just a teenage girl, after all, she still likes to be praised and compete with her brother for catching frogs. Then the day the two sisters signed up to join the army, Chien fought to go with him - one reason was because he loved his younger brother, but the other reason was that Chien was still a child: "I'm old enough to go, you're still young, stay at home to help." work with Uncle Nam, let's go next year", "I suggest you guys reconsider. He is my younger brother and he will win everything."
But on the other hand, Chien proves to be a very brave, capable, and resourceful girl. And in my opinion, Chien is surprisingly similar to her mother. Chien worries about me every little bit. Wherever he goes, Chien always watches over me and loves me. In particular, Chien is a resourceful and capable girl: before going to war, Chien arranged the housework carefully: "Ut went to live with Uncle Nam, his adopted uncle. As for this house, my parents built it and let the brothers in the commune borrow it to open a school." Even the plank bed, Chien also lent the commune to use as a chair to study. The pot, the jar, the bowl, the plate... Chien all sent it to Uncle Nam. The family had five fields, Chien handed it over to Uncle Nam and the people in the neighborhood to work on it. Uncle Nam asked Uncle Nam to harvest the two sugarcane crops to commemorate his mother's death. The two sisters also brought their parents' altar to their uncle for Ut to take care of.
See more: Please write a letter to a friend in another province to get to know each other and make an appointment with them to compete in studying well. A simple saying, but the spirit of war seems to shine with that sentence: "I have become a girl." If I leave, I only have one sentence: If the enemy remains, I will die..." With that statement, we can understand because after Chien, he participated in the war and fought so bravely.
From the image of Chien - a cute girl with a diverse personality - we see the beauty of the Southern people: rich in will, hatred for the enemy but deep love.
Along with the character Chien, the writer successfully portrayed the character Viet. Viet is truly a teenage boy, very active: likes to catch frogs, shoot birds, fish... and is very carefree. On the night before he left to join the army, when he heard his sister discuss housework, Viet "rolled down on the floor laughing", held a firefly in his hand and fell asleep without realizing it. When he became a soldier, Viet still carried his slingshot with him. When he was injured on the battlefield and lost his comrades, Viet did not flinch in fear, but he was afraid of ghosts. Viet loves his sister in a very childish way, hiding her as if he were his own for fear of losing her.
Although only eighteen years old, Viet fought very bravely, courageously, and resiliently because the blood in the Vietnamese people is the blood of heroes, the blood of "children of the family" with a revolutionary tradition. From a very young age, Viet dared to attack the enemy who killed his father. When fighting, Vietnam achieved a victory by defeating an enemy armored vehicle. Even though he was close to death, Viet was always ready to fight: "the bullet is loaded, the remaining finger is ready to fight".
Vietnamese images have the beauty of a young adult. Although he still has childish features, he is full of patriotic feelings.
With her sharp pen, Nguyen Thi has succeeded in portraying the character's personality in a profound and delicate way, with the language imbued with Southern nuances, rich in visual qualities and angles.
In short, "Children in the Family" has succeeded in portraying the characters of Chien and Viet - once heroic young men of the nation. Through these two characters, the writer showed that it was the courage and resilience that created the strength of the Vietnamese nation in the fight against invaders.
Source Edufly
See more: Commentary on the following poem in the poem The Country by Nguyen Dinh Thi, from: "The morning is cold in the heart of Hanoi... Behind the sunny terrace, leaves are falling."
|
Vũ Nương là một người con gái thủy chung, son sắc nhưng cuộc đời của nàng lại phải gánh chịu quá nhiều bi kịch. Để đến cuối cùng nàng phải tự vẫn và chết trong oan ức. Phân tích nhân vật Vũ Nương sẽ giúp các em có cái nhìn tổng quan nhất về nhân vật này.
Để giúp các em có thể làm tốt đề văn phân tích nhân vật Vũ Nương, Kho tàng văn mẫu trước tiên sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý và sau đó sẽ gợi ý cho các em bài văn mẫu.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Vũ Nương
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương.
– Giới thiệu về nhân vật Vũ Nương.
2. Thân bài
Vũ Nương là người vợ thủy chung
– Chồng đi ra trận, Vũ Nương một mình ở nhà chăm sóc con cái, mẹ già đợi ngày chồng trở về.
– Biết tính chồng hay ghen nên Vũ Nương luôn giữ khuôn phép để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng.
– Trước khi Trương Sinh đi lính, Vũ Nương đã rót 1 chén rượu đầy và dặn dò chồng những lời tình nghĩa.
– Chồng đi xa, Vũ Nương luôn ngóng đợi tin tức nơi chiến trường báo về.
Vũ Nương là người con dâu hiếu thảo
– Nàng thay chồng chăm lo cho người mẹ chồng già yếu.
– Nàng chăm nom, thuốc thang trong những ngày mẹ chồng đau yếu và giúp và vơi đi nỗi nhớ con.
– Mẹ chồng mất, nàng khóc thương và một mình chăm lo ma chay.
Vũ Nương là một người mẹ mẫu mực
– Một mình nàng chăm lo cho con, gánh vác gia đình thay cho chồng.
– Nàng chỉ lên tường bảo cái bóng của mình là cha Đản xuất phát từ tấm lòng của người làm mẹ.Xem thêm: Nghị luận xã hội về lòng kiên nhẫn
3. Kết luận
– Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Vũ Nương.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Vũ Nương
Đề tài về người phụ nữ được rất nhiều nhà văn, nhà thơ khai thác. Dường như có viết bao nhiêu điều về họ cũng là không đủ. Họ là những con người có nhiều phẩm chất tốt đẹp và đáng được ngợi ca. Nhà văn Nguyễn Dữ, một nhà văn trung đại cũng đã có một sáng tác vô cùng hay về đề tài này đó chính là Chuyện người con gái Nam Xương. Người phụ nữ trong tác phẩm này chính là Vũ Thị Thiết, thường gọi là Vũ Nương.
Mở đầu tác phẩm của mình Nguyễn Dữ đã giới thiệu về nhân vật Vũ Nương là một người con gái vừa đẹp người vừa đẹp nết. Không chỉ có tư dung đẹp, nàng còn có tính tình nết na, dịu hiền. Kể từ ngày về làm vợ của Trương Sinh, vì biết tính chồng đa nghi, hay ghen nên lúc nào Vũ Nương cũng giữ khuôn phép, không bao giờ làm điều gì để chồng phải nghi ngờ. Hạnh phúc gia đình diễn ra chưa được bao lâu thì Trương Sinh lại phải đi lính. Chẳng nói thì ai cũng biết tâm trạng của người vợ khi có chồng đi lính buồn bã như thế nào. Vũ Nương mang một tâm trạng đau khổ khi phải tiễn chồng đi lính. Cái tình của Vũ Nương khiến người đọc cảm động đến rơi lệ, nàng không mong chồng đeo ấn phong hầu, chỉ mong sao chồng trở về bình yêu vô sự là hạnh phúc lắm rồi.Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả dòng sông vào mùa nước lũ
Phân tích nhân vật Vũ Nương
Trong suốt những năm tháng chồng đi đánh trận xa nhà, Vũ Nương ở nhà lo thu vén gia đình, thay chồng gánh vác tất vả việc lớn nhỏ. Nhà còn có mẹ chồng già yếu và đứa con nhỏ cần chăm sóc. Một mình Vũ Nương chăm lo chu toàn. Vũ Nương là người con dâu vô cùng hiếu thảo. Khi mẹ chồng bị ốm, nàng chăm sóc mẹ chồng, lo thuốc thang cho bà. Lúc mẹ chồng qua đời, một mình Vũ Nương lại vất vả lo ma chay. Trong nhà xảy ra biết bao nhiêu biến cố, vậy mà không có người đàn ông nào làm chỗ dựa. Đặc biệt với con trai, Vũ Nương vừa là mẹ lại vừa là cha. Trong những ngày không có chồng ở nhà, Vũ Nương thường chỉ vào cái bóng của mình ở trên tường và nói với con rằng đó là cha của bé. Đứa trẻ ngây thơ vẫn luôn tin lời mẹ nói là thật. Nó giúp cho bé Đản cảm nhận được tình yêu của cha, khiến cho bé không bị thiếu thốn tình cảm. Những việc làm của Vũ Nương xuất phát từ tấm lòng của một người mẹ thương con. Tấm chân tình của nàng, bà con làng xóm ai cũng biết. Ai cũng thương cho người con gái này.
Ngày Trương Sinh đi lính trở về những tưởng là ngày gia đình được đoàn tụ, hạnh phúc mỉm cười với Vũ Nương thì bi kịch mới lại ập đến khiến người phụ nữ bé nhỏ không thể nào chống cự được. Chỉ vì nghe những lời của đứa trẻ ngây thơ, Trường Sinh đã nảy sinh ngờ vực với vợ của mình, nghi ngờ nàng ở nhà không chung thủy nên đã trách phạt và mắng nhiếc nàng. Mặc cho Vũ Nương khóc lóc kêu oan, Trương Sinh vẫn đánh mắng và đuổi nàng ra khỏi nhà. Hàng xóm nói gì, Trương Sinh cũng bỏ ngoài tai. Vũ Nương vì không thể tự minh oan cho mình nên đã quyết định gieo mình xuống lòng sông để chứng tỏ sự trong sạch của bản thân.Xem thêm: Miêu tả con vật ta yêu và thế giới loài vật quanh ta - Cảm nghĩ về con chó
Đến khi Trương Sinh nhận ra sai lầm của mình thì cũng đã quá muộn. Vũ Nương được giải oan, âu cũng là một niềm an ủi đối với nàng. Dù không thể trở về dương gian được nữa nhưng nàng cũng có thể ngậm cười.
Qua nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã lên án tố cáo chiến tranh khiến người phụ nữ phải chịu nhiều khổ đau. Chính hoàn cảnh chiến tranh đã đẩy vợ chồng Vũ Nương xa nhau và vì xa nhau nên mới xảy ra câu chuyện thương tâm như vậy. Mặc dù truyện có thêm vào một vài yếu tố hoang đường nhưng ta cũng thấy được một phần của hiện thực ở đó. Thương Vũ Nương, ta lại càng thương cho thân phận phụ nữ xưa kia.
Cuộc đời của Vũ Nương đã phải chịu nhiều khổ đau như vậy đấy. Qua việc phân tích nhân vật Vũ Nương, chắc các em cũng thấy được nỗi khổ mà nàng đã phải gánh chịu. Nếu dàn ý và bài làm phân tích nhân vật Vũ Nương trên đây còn gì thiếu sót, các bạn, các em hãy để lại bình luận bên dưới để chúng ta cùng nhau tiến bộ hơn.
Thu Thủy
|
Vu Nuong is a faithful and beautiful girl, but her life has suffered too many tragedies. In the end, she had to commit suicide and die in injustice. Analyzing the character Vu Nuong will help you have the most general overview of this character.
To help you do well in your essay analyzing the character of Vu Nuong, Sample Essay Treasury will first guide you in making an outline and then suggest sample essays for you.
I. Create an outline to analyze the character Vu Nuong
1. Open the lesson
– Introducing author Nguyen Du and his work The Story of a Nam Xuong Girl.
– Introducing the character Vu Nuong.
2. Body of the article
Vu Nuong is a faithful wife
– Her husband went to war, Vu Nuong stayed home alone to take care of the children, and her elderly mother waited for her husband to return.
– Knowing that her husband is jealous, Vu Nuong always maintains discipline so as not to affect the couple's life.
– Before Truong Sinh went to the army, Vu Nuong poured a full cup of wine and gave her husband some words of gratitude.
– Her husband was away, Vu Nuong was always waiting for news from the battlefield.
Vu Nuong is a filial daughter-in-law
– She takes care of her elderly mother-in-law on her husband's behalf.
– She took care of her and gave her medicine during the days when her mother-in-law was sick and helped ease her longing for her child.
– Her mother-in-law passed away, she cried and took care of the funeral alone.
Vu Nuong is an exemplary mother
– She alone takes care of her children and takes care of the family on her husband's behalf.
– She pointed to the wall and said her shadow was Dan's father, coming from the heart of a mother. See more: Social commentary on patience
3. Conclusion
– Describe your feelings about the character Vu Nuong.
Related articles:
>> Analysis of Mr. Hai's character in the short story Village (With detailed outline)
>> Analysis of Phuong Dinh's character in Distant Stars (With detailed outline)
>> Analysis of the poem Thuy Kieu Sisters from The Tale of Kieu (With detailed outline)
II. The article analyzes the character Vu Nuong
The topic of women is exploited by many writers and poets. It seems like no matter how much I write about them, it's not enough. They are people with many good qualities and worthy of praise. Writer Nguyen Du, a medieval writer, also had an extremely good composition on this topic, which is The Story of a Nam Xuong Girl. The woman in this work is Vu Thi Thiet, often called Vu Nuong.
At the beginning of his work, Nguyen Du introduced the character Vu Nuong as a girl who is both beautiful and beautiful. Not only does she have a beautiful figure, she also has a gentle and gentle personality. Since becoming Truong Sinh's wife, because she knew her husband was suspicious and jealous, Vu Nuong always maintained discipline and never did anything to make her husband suspicious. Family happiness did not last long when Truong Sinh had to join the army. Without saying anything, everyone knows how sad a wife's mood is when her husband is in the army. Vu Nuong was in a miserable mood when she had to see her husband off to the army. Vu Nuong's love moved the reader to tears. She did not expect her husband to wear the seal of the seal, she only hoped that he would return safely and unharmed. See more: Write a paragraph describing the river in flood season
Analyze the character Vu Nuong
During the years her husband was away fighting in the war, Vu Nuong stayed home to take care of the family, taking care of all the big and small matters for her husband. The family also has an elderly mother-in-law and a small child to take care of. Vu Nuong alone takes care of everything. Vu Nuong is an extremely filial daughter-in-law. When her mother-in-law was sick, she took care of her and took care of her medicine. When her mother-in-law passed away, Vu Nuong struggled to take care of the funeral alone. So many incidents happened in the house, but there was no man to support. Especially for boys, Vu Nuong is both mother and father. During the days when her husband was not at home, Vu Nuong often pointed to her shadow on the wall and told her child that it was her father. The innocent child still believes that what his mother says is true. It helps baby Dan feel his father's love, preventing him from lacking affection. Vu Nuong's actions come from the heart of a mother who loves her children. Everyone in the village knows her sincerity. Everyone loves this girl.
The day Truong Sinh returned from the army, he thought it would be the day his family was reunited and happily smiled at Vu Nuong, but a new tragedy struck, leaving the little woman unable to resist. Just because he heard the innocent child's words, Truong Sinh became suspicious of his wife, suspecting that she was unfaithful at home, so he punished and scolded her. Even though Vu Nuong cried and complained, Truong Sinh still beat and scolded her and kicked her out of the house. Whatever the neighbors said, Truong Sinh ignored it. Because Vu Nuong could not exonerate herself, she decided to throw herself into the river bed to prove her innocence. See more: Describe the animal we love and the animal world around us - Feelings about the animal dog
By the time Truong Sinh realized his mistake, it was too late. Vu Nuong's innocence was cleared, which was also a comfort to her. Even though she can't return to earth anymore, she can still smile.
Through the character Vu Nuong, Nguyen Du denounced the war that caused women to suffer a lot. It was the war situation that pushed Vu Nuong and his wife apart, and because they were apart, such a tragic story happened. Although the story adds some mythical elements, we also see a part of reality there. Loving Vu Nuong, I feel even more sorry for the old fate of women.
Vu Nuong's life had to endure so much suffering. Through analyzing the character of Vu Nuong, you can probably see the suffering that she had to endure. If there are any shortcomings in the outline and character analysis assignment of Vu Nuong above, please leave a comment below so we can improve together.
Thu Thuy
|
Đề bài: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Người con gái Nam Xương
Truyện Người con gái Nam Sương là câu chuyện về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dưới chế độ phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của con trẻ mà bị nghi ngờ, bị xỉ nhục,bị đẩy đến bước đường cùng, phải kết liễu cuộc đời mình để giãi tỏ tấm lòng trong sạch. Đó là số phậm, hình ảnh của Vũ Nương một nhân vật chịu nhiều oan nghiệt.
Nguyễn Dữ đã thật tài tình khi xây dựng hình ảnh người phụ nữ mà cụ thể ở đây là Vũ Nương,ông đã đặt nhân vật vào tình huống khác nhau để thể hiện rõ được phẩm chất của người phụ nữ thương chồng, yêu con, hiếu thỏa với cha mẹ chồng đồng thời cũng hết mực thủy chung son sắc.
Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng đã giữ gìn khuân phép, không khi nào vợ chồng phải để đến thất hòa mặc dù Trương Sinh là người chồng tình hay ghen tuông đối với vợ thì vòng ngừa quá mức.
Thật là một cảnh làm cho mọi người phải xúc động, khi Vũ Nương tiễn chồng đi lính. Thông thường thì khi chồng đi lính nhiều người mong chồng có được công danh gì mang về để vinh hiển trở về, còn đối với Vũ Nương thi lại không chông mong vinh hiển mà chỉ cầu chồng được binh yên trở về; nàng òn cảm thông với những vất vả, gian lao mà chồng mình sẽ phải chịu đựng; nàng nói đến nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình, bằng những lời rất ân cần; đằm thắm tình cảm.
Khi xa chồng. Vũ Nương lại là một người vợ thủy chung, yêu chồng tha thiết, nỗi buồn nhớ cứ
Dài theo măm tháng “ bướm lượn đầy vườn”, “mây che kín núi” tác giả đã dùng hình ảnh ước lệ tựng trưng, mượm cảnh vật thiên nhiên để diễn tả sự trôi chảy của thời gian. Nàng còn là người con dâu hiếu thảo, người mẹ hiền, một mình vừa nuôi con nhỏ, vừa tận tụy chăm sóc mẹ chồng đau ôm, nàng lo thuốc thang, cầu khấn phật trời, và lúc nào cũng ân cần, dịu dàng, lấy lừi ngon ý ngọt khéo léo khuyên mẹ gắng dưỡng sức để chờ Trương Sinh quay trở về, vì thế cho nên trước khi mẹ chồng nhắm mắt bà đã nói với Vũ Nương rằng Vũ Nương là người con dâu tốt khi Trương Sinh về sẽ không phụ lòng tốt của nàng. Rồi nàng cũng hết sức thương sót mẹ và lo ma chay tế lễ như lo cho cha mẹ ruột của mình.
Tưởng rằng khi Trương sinh về thì Vũ nương được sống ngập tràn trong niềm vui và hạnh phúc và nàng cũng chia sẻ bớt gánh nặng cuộc sống cho chồng ai ngờ nàng bị một nỗi oan không tài nào thanh minh nổi, mặc dù nàng đã hết lời phân trần tấm long son sắc thủy chung của mình cho chồng hiểu như: nàng nói đến thân phận mình nghèo được nương nhờ nơi giầu có..,tình nghĩa vợ chồng bao năm và khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan. Như vậy đã chứng tỏ nàng đã hết sức cưu vãn, mong hàn gắn cái hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.
Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của chị em Thúy KiềuSau nữa nàng nói lên nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu vì sao bị đối sử bất công, không có quyền được tự bảo vệ, ngay cả khi có họ hàng, anh em đến nói giúp. Hạnh phúc gia đình niềm khát khao của cả cuộc đời nàng đã tan vỡ như bong bong. Tất cả những nỗi đau khổ chờ chồng trước đây không còn có thể làm lại được nữa.
Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã đến độ không thể nào cứu vãn được, Vũ Nương dành phải mượn dòng nước quê hương để giải nỗi oan cho mình. Những lời than trước khi vĩnh viễn cuộc đời đầy đau khổ của mình nhưng cũng đầy luyến tiếc, như một lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiết sạch giá trong của nàng. Ở đoạn truyện này, tình tiết được sắp xếp đầy kịch tính, Vũ Nương bị đẩy đến bước đường cùng, nàng đã mất tất cả, đành phải chấp nhận số phận sau mọi cố gắng không thành. Hành động tự trẫm mình của nàng là một hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự, có nỗi tuyệt vọng đắng cay, nhưng cũng có sự chỉ đạo của li trí. Đây không phải là hành động bột phát trong cơn nóng giận.
Vũ nương đúng là một người phụ nữ xinh đẹp nết na thùy mị, hiền thục,lại đảm đang tháo phát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một lòng một dạ chung thủy với chồng, hết long vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Một con người như thế đáng ra phải được hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết một cách oan uổng, đau đớn. vậy nguyên nhân nào dẫn tới kết quả đáng buồn ấy.
Có phải chăng vì cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương không bình đẳng chính sự cách bức về thân phận nghèo khó của Vũ Nương đã cộng thêm cái thế cho Trương Sinh bên cạnh cái thế của một người chồng, người đàn ông gia trưởng trong chế độ phong kiến. Hay đó là những lời nói ngây thơ của đứa trẻ, chứa đầy những dữ kiện nghi ngờ làm cho Trương Sinh một người chồng hay có tinh đa nghi ghen tuông, hồ đồ và độc đoán kia trử thành kẻ thô bạo, vũ phu là kẻ bức tử vợ mình trong sự mù quáng, kẻ giết người lại hoàn toàn vô can trong vụ án.
Bi kịch của Vũ Nương là lời tố cáo cái xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm của tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ. người phụ nữ bất hạnh ở đây không những không được bênh vực, che trở mà còn bị đối sử một cách bất công, vô lí, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ miệng còn hơi sữa và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng ghen tuông mà phải kết liễu đời mình..
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ Con Cò
|
Topic: Analyzing the character Vu Nuong in The Girl of Nam Xuong
The story of Nam Suong's Daughter is a story about the cruel fate of a beautiful and virtuous woman under the feudal regime, who was suspected and humiliated just because of a child's innocent words. , pushed to the end, had to end his life to express his pure heart. That is the fate, the image of Vu Nuong, a character who suffered many injustices.
Nguyen Du was very skillful in building the image of a woman, specifically Vu Nuong. He placed the character in different situations to clearly show the qualities of a woman who loves her husband, loves her children, Be filial to your husband's parents and at the same time be extremely faithful.
In her normal married life, she maintained politeness and never let the couple fall out even though Truong Sinh was a jealous husband who was overly protective of his wife.
It was a scene that made everyone emotional, when Vu Nuong saw her husband off to the army. Normally, when a husband goes to the army, many people hope for him to have some kind of honor to return home with glory, but for Vu Nuong, she does not hope for glory but only prays for her husband to return in peace; She sympathizes with the hardships and hardships that her husband will have to endure; She spoke of her longing and longing in very kind words; affectionately.
When away from husband. Vu Nuong is a faithful wife, loves her husband dearly, and is sad
Over the course of several months, "butterflies filled the garden", "clouds covered the mountains", the author used symbolic conventional images, borrowing from natural scenery to describe the flow of time. She is also a filial daughter-in-law, a gentle mother, raising her children alone, devotedly taking care of her sick mother-in-law, taking care of medicine, praying to God, and always being considerate and gentle. Using a sweet and tactful trick, she advised her mother to try to regain her strength to wait for Truong Sinh to return, so before her mother-in-law closed her eyes, she told Vu Nuong that Vu Nuong was a good daughter-in-law and would not be able to return when Truong Sinh returned. betray her kindness. Then she deeply felt sorry for her mother and took care of her funeral and offerings as if she were taking care of her biological parents.
Thinking that when Truong was born, Nuong Vu lived a life full of joy and happiness and she also shared some of the burden of life with her husband, but who would have thought that she suffered an injustice that could not be cleared up, even though she was dead. The words explaining her faithfulness to her husband were as follows: she mentioned her poor condition, relying on the rich..., the love between husband and wife for many years and affirmed her faithful and pure heart, praying. Husband, don't be suspicious. This proves that she has tried her best to save and hope to mend the family happiness that is in danger of falling apart.
See more: Analysis of the beauty of Thuy Kieu's sisters After that, she also expressed her pain and disappointment when she did not understand why she was treated unfairly and did not have the right to protect herself, even when she had relatives and brothers. come and help. Family happiness, the desire of her whole life, was shattered like a bubble. All the suffering that awaited her husband before could no longer be undone.
Extremely disappointed, the marriage had reached a point where it could not be saved, Vu Nuong had to borrow the water of her homeland to relieve her injustice. Her lamentations before ending her life were full of suffering but also full of regret, like a curse asking the river god to witness her injustice and reveal her innocence. In this part of the story, the plot is arranged in a dramatic way, Vu Nuong is pushed to the end, she has lost everything, and has to accept her fate after all unsuccessful efforts. Her act of self-abasement was a final, drastic act to preserve her honor. There was bitter despair, but also the direction of reason. This is not a spontaneous action in anger.
Vu Nuong is truly a beautiful, modest, gentle, and courageous woman who respects her mother-in-law and is very filial. family. Such a person should have been completely happy, yet he had to die unjustly and painfully. So what causes that sad result?
Is it because the marriage between Truong Sinh and Vu Nuong is not equal? The oppression of Vu Nuong's poor status has added to Truong Sinh's status in addition to that of a husband and patriarch. in feudalism. Or were they the innocent words of a child, filled with doubtful facts that made Truong Sinh, a husband who was often suspicious, jealous, confused and domineering, turn into a cruel, abusive man? blindly killed his wife, the murderer was completely innocent in the case.
The tragedy of Vu Nuong is a denunciation of the feudal society that values the authority of the rich and of men in the family, and at the same time expresses the author's sympathy for the cruel fate of women. The unfortunate woman here is not only not protected or protected, but is also treated unfairly and unjustly, just because of the innocent words of a child with a milky mouth and because of her confusion and brute force. of a jealous husband who had to end his life..
Source Edufly
See more: Analysis of the poem Con Co
|
Phân tích nhân vật vợ Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Gợi ý
Trong tác phẩm văn học, sự xuất hiện của bất cứ nhân vật nào, dù là nhân vật phụ cũng nằm trong ý đồ sáng tạo của nhà văn. ít nhiều, sự xuất hiện đó sẽ mang đến văn bản văn học những giá trị nhất định. Khi người vợ nhặt xuất hiện với bộ dạng thiểu não trong truyện ngắn cùng tên thì không phải Kim Lân đang gia công bêu xấu con người mà nhà văn muốn thể hiện những điều cao cả hơn thế nữa.
Từ trước đến nay, đọc Vợ nhặt, chúng ta vẫn thường bàn nhiều hơn về hai mẹ con anh cu Tràng mà gần như không chú ý lắm đến người vợ nhặt. Thực ra, từ nhân vật này, chúng ta có thể nhận diện được khá nhiều điều về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Vai trò của nhân vật người vợ nhặt trước hết có thể được xác định từ những đóng góp trong việc biểu đạt nội dung truyện ngắn.
Nhà lí luận văn học Phan Huy Dũng từng khẳng định: Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là hiện thực cuộc sống không còn tồn tại như một khái niệm khô khan, trừu tượng nữa mà trở nên có hình khối rõ ràng, có đủ ba chiều để mời gọi người đọc tưởng tượng, khám phá và suy ngẫm. Hiện thực cuộc sống trong Vợ nhặt là gì? Với truyện ngắn này, Kim Lân đã trình bày hai mảng hiện thực, một về xã hội, một về con người. Trong văn bản truyện, không chứng kiến những cảnh chết no, chết đói như trên trang truyện Nam Cao nhưng người đọc vẫn rất thấm thía về cái đói của mọt thời đại qua vài nét phác hoạ của nhà văn. Truyện được mở đầu bằng bầu không khí u ám, nặng tử khí: Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người, tiếng quạ ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết. Giữa cảnh tượng người chết như ngả rạ, người sống đi lại dật dờ, xanh xám như những bóng ma: người đàn bà tới đây sẽ trở thành chị vợ anh cu Tràng cũng có hình hài không mấy tươi tắn. Người vợ nhặt không được miêu tả với dáng vóc đậm đà, chắc nịch của những người phụ nữ lao động, càng không thể có vẻ đẹp thuần phác như chị Dậu của Ngô Tất Tố. Ngoại hình thị được phác qua bằng một vài đường nét thiếu nữ tính: cái ngực lép nhô lên, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt, hai con mắt trũng hoáy. Những chi tiết đó không thể khiến ta thôi nghĩ đến một cơ thể thiếu sức sống, thậm chí một bóng ma vật vờ. Tại sao một thanh niên lao động lại có hình dạng như vậy?Xem thêm: Bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) giúp em cảm nhận gì về tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc của cha ông ta? Nhưng những chi tiết cho thấy sự biến dạng về nhân hình của thị chỉ là sự chuẩn bị để người đọc không ngỡ ngàng trước sự biến dạng về nhân cách. Khồng ai có thể ngờ người đàn bà đó lại có thể hạ thấp mình vì miếng ăn đến thế. Chi tiết thị sưng sỉa khi Tràng thất hứa và thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì đã phá huỷ hoàn toàn sự kiêu hãnh vốn có trong mỗi người con gái. Bất ngờ hơn, khi Tràng nói đùa có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về, thị theo về thật. Tại sao người đàn bà ấy có thể dễ dàng theo không Tràng? Thị không nghĩ gì đến danh giá của người con gái chưa chồng? Trăm năm tính cuộc vuông tròn…, lẽ nào thị liều lĩnh đến vậy?
Mấu chốt của mọi vấn đề là ở cái đói. Thị không giữ được hình hài con người bởi cái đói. Thị không giữ được cái e lệ, không còn ý tứ bởi cái đói. Thị liều lĩnh trao thân giá phận cho người đàn ông không quen biết cũng bởi cái đói. Sự biến dạng thảm khốc về nhân hình và nhân cách người đàn bà này có nguyên nhân từ miếng ăn, từ bản năng sinh tồn. Thân phận thị vừa là nạn nhân thê thảm nhất, vừa là bản cáo trạng đanh thép nhất của một thời đại xã hội. Chỉ nhìn những nỗi khổ nhục mà thị trải qua, chúng ta có thể thấu hiểu hết bao cơ cực, nông nỗi của người lao động Việt Nam thời điểm đến trước cuộc Cách mạng. Kim Lân không một lời chỉ trích bọn đế quốc Pháp, Nhật, nhưng sức tố cáo từ hình tượng này lại có sức mạnh hơn mọi lời buộc tội cộng lại. Giá trị hiện thực của văn bản truyện nhờ đó được biểu hiện sinh động, hấp dẫn.Xem thêm: Nêu cảm nhận của em về hình tượng Lor-ca trong bài thơ “Tiếng đàn ghi ta của Lor-ca" của Thanh Thảo
Viết về thân phận rẻ rúng của con người nhưng Kim Lân không mang vào trang viết của mình giọng văn khinh ghét, coi thường. Nhà văn thấu hiểu nỗi khổ nhân vật nên ngay khi có cơ hội, ngòi bút tác giả lập tức cất tiếng ngợi ca. Kim Lân khéo léo để anh cu Tràng nhận ra vẻ đẹp thực ở người vợ tội nghiệp của mình: Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh. Với bàn tay người vợ ấy, cuộc sống gia đình Tràng đã khác hẳn. Thị không nói đến những chuyện vui, chuyện sung sướng như bà cụ Tứ nhưng chính thị là người đã góp sức để nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Và chính thị chứ không phải ai khác là người đầu tiên trong cái gia đình nhỏ bé manh nha về tinh thần cách mạng của dân tộc: Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy. Không ai ngờ được ở người vợ nhặt lại có tiềm tàng những điều mới mẻ tốt đẹp như thế. Ta bắt gặp niềm tin mãnh liệt của Kim Lân vào con người, vào cuộc đời. Không nâng niu, không tin yêu, Kim Lân không thể kiên nhẫn để phát hiện những vẻ đẹp bị khuất lấp ở người đàn bà và miêu tả chúng bằng một thái độ trân trọng không chút ngạc nhiên. Tinh thần nhân đạo của nhà văn là ở đó. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn cũng nằm ở đó.
Vai trò của nhân vật người vợ nhặt không chỉ được biểu hiện trên phương diện nội dung tư tưởng mà còn ở phương diện nghệ thuật của văn bản truyện. Kim Lân đã dụng công xây dựng tình huống nghệ thuật độc đáo. Bất cứ ai đọc truyện ngắn đều cám cảnh trước sự tình éo le trong truyện. Anh cu Tràng vừa xấu xí, nghèo túng lại là dân ngụ cư, không có khả năng lấy vợ thế mà nhặt được vợ một cách dễ dàng, chỉ bốn bát bánh đúc, người đàn bà nghèo khổ chấp nhận theo không người đàn ông không từng quen biết. Nhà phê bình văn học Nguyền Đăng Mạnh đã từng viết: Tình huống giống như thứ nước rửa ảnh, nó sẽ làm nổi hình nổi sắc các nhân vật, bộc lộ các số phận, các tính cách, các tâm trạng…. Thông qua hình tượng vợ nhặt, thân phận rẻ rúng của con người sẽ được biểu hiện một cách sinh động, cụ thể. Nói như vậy cũng có nghĩa là, phần nào đó từ nhân vật người vợ nhặt, tình huống truyện sẽ được khai triển. Đó là lẽ tất nhiên bởi không có nhân vật này, diễn biến tình huống sẽ bị ách tắc, quan trọng hơn là tính chất éo le của nó không được biểu hiện. Như vậy, trước tiên, vai trò của nhân vật được biểu hiện trong tình huống nghệ thuật của thiên truyện.Xem thêm: Phân tích giá trị của câu hỏi tu từ trong đoạn thơ sau: “Mơ khách đương xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?” (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mạc Tử) Nhân vật vợ nhặt bước vào tác phẩm còn trở thành nhân tố tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong đó. Sự xuất hiện của thị đưa câu chuyện đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ. Thiếu vắng hình tượng này, çâu chuyện của Kim Lân sẽ kém đậm đà và chắc chắn những thông điệp của tác giả sẽ không thể tới người đọc.
Đọc Vợ nhặt, độc giả chỉ có thể gọi người đàn bà đã theo Tràng về làm vợ là chị vợ anh cu Tràng hoặc vợ nhặt như chính tác giả đã gọi. Chị ta bần cùng đến mức cái tên cũng không có? Hay Kim Lân cố tình để chị Tràng không có tên? Và nếu đó là sắp đặt nghệ thuật thì phải chăng vì nhà văn không thể lấy một cái tên để gọi cho một cơ số người như chị? Cùng với chị Dậu (Tắt đèn), Mị (Vợ chồng A Phủ) và sau này còn là những chị Đào (Mùa lạc), người vợ nhặt đã góp phần xây dựng nên bức tượng đài về người phụ nữ lao động Việt Nam. Từ hình tượng nhân vật này, chúng ta còn được chứng kiến một tấm lòng nhân đạo cao cả, một tâm hồn nghệ sĩ gắn bó sâu nặng với cuộc đời, với con người.
Vanmau.edu.vn
|
Phân tích nhân vật vợ Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
Gợi ý
Trong tác phẩm văn học, sự xuất hiện của bất cứ nhân vật nào, dù là nhân vật phụ cũng nằm trong ý đồ sáng tạo của nhà văn. ít nhiều, sự xuất hiện đó sẽ mang đến văn bản văn học những giá trị nhất định. Khi người vợ nhặt xuất hiện với bộ dạng thiểu não trong truyện ngắn cùng tên thì không phải Kim Lân đang gia công bêu xấu con người mà nhà văn muốn thể hiện những điều cao cả hơn thế nữa.
Từ trước đến nay, đọc Vợ nhặt, chúng ta vẫn thường bàn nhiều hơn về hai mẹ con anh cu Tràng mà gần như không chú ý lắm đến người vợ nhặt. Thực ra, từ nhân vật này, chúng ta có thể nhận diện được khá nhiều điều về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Vai trò của nhân vật người vợ nhặt trước hết có thể được xác định từ những đóng góp trong việc biểu đạt nội dung truyện ngắn.
Nhà lí luận văn học Phan Huy Dũng từng khẳng định: Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là hiện thực cuộc sống không còn tồn tại như một khái niệm khô khan, trừu tượng nữa mà trở nên có hình khối rõ ràng, có đủ ba chiều để mời gọi người đọc tưởng tượng, khám phá và suy ngẫm. Hiện thực cuộc sống trong Vợ nhặt là gì? Với truyện ngắn này, Kim Lân đã trình bày hai mảng hiện thực, một về xã hội, một về con người. Trong văn bản truyện, không chứng kiến những cảnh chết no, chết đói như trên trang truyện Nam Cao nhưng người đọc vẫn rất thấm thía về cái đói của mọt thời đại qua vài nét phác hoạ của nhà văn. Truyện được mở đầu bằng bầu không khí u ám, nặng tử khí: Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người, tiếng quạ ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết. Giữa cảnh tượng người chết như ngả rạ, người sống đi lại dật dờ, xanh xám như những bóng ma: người đàn bà tới đây sẽ trở thành chị vợ anh cu Tràng cũng có hình hài không mấy tươi tắn. Người vợ nhặt không được miêu tả với dáng vóc đậm đà, chắc nịch của những người phụ nữ lao động, càng không thể có vẻ đẹp thuần phác như chị Dậu của Ngô Tất Tố. Ngoại hình thị được phác qua bằng một vài đường nét thiếu nữ tính: cái ngực lép nhô lên, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt, hai con mắt trũng hoáy. Những chi tiết đó không thể khiến ta thôi nghĩ đến một cơ thể thiếu sức sống, thậm chí một bóng ma vật vờ. Tại sao một thanh niên lao động lại có hình dạng như vậy?Xem thêm: Bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) giúp em cảm nhận gì về tình yêu nước và lòng tự hào dân tộc của cha ông ta? Nhưng những chi tiết cho thấy sự biến dạng về nhân hình của thị chỉ là sự chuẩn bị để người đọc không ngỡ ngàng trước sự biến dạng về nhân cách. Khồng ai có thể ngờ người đàn bà đó lại có thể hạ thấp mình vì miếng ăn đến thế. Chi tiết thị sưng sỉa khi Tràng thất hứa và thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì đã phá huỷ hoàn toàn sự kiêu hãnh vốn có trong mỗi người con gái. Bất ngờ hơn, khi Tràng nói đùa có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về, thị theo về thật. Tại sao người đàn bà ấy có thể dễ dàng theo không Tràng? Thị không nghĩ gì đến danh giá của người con gái chưa chồng? Trăm năm tính cuộc vuông tròn…, lẽ nào thị liều lĩnh đến vậy?
Mấu chốt của mọi vấn đề là ở cái đói. Thị không giữ được hình hài con người bởi cái đói. Thị không giữ được cái e lệ, không còn ý tứ bởi cái đói. Thị liều lĩnh trao thân giá phận cho người đàn ông không quen biết cũng bởi cái đói. Sự biến dạng thảm khốc về nhân hình và nhân cách người đàn bà này có nguyên nhân từ miếng ăn, từ bản năng sinh tồn. Thân phận thị vừa là nạn nhân thê thảm nhất, vừa là bản cáo trạng đanh thép nhất của một thời đại xã hội. Chỉ nhìn những nỗi khổ nhục mà thị trải qua, chúng ta có thể thấu hiểu hết bao cơ cực, nông nỗi của người lao động Việt Nam thời điểm đến trước cuộc Cách mạng. Kim Lân không một lời chỉ trích bọn đế quốc Pháp, Nhật, nhưng sức tố cáo từ hình tượng này lại có sức mạnh hơn mọi lời buộc tội cộng lại. Giá trị hiện thực của văn bản truyện nhờ đó được biểu hiện sinh động, hấp dẫn.Xem thêm: Nêu cảm nhận của em về hình tượng Lor-ca trong bài thơ “Tiếng đàn ghi ta của Lor-ca" của Thanh Thảo
Viết về thân phận rẻ rúng của con người nhưng Kim Lân không mang vào trang viết của mình giọng văn khinh ghét, coi thường. Nhà văn thấu hiểu nỗi khổ nhân vật nên ngay khi có cơ hội, ngòi bút tác giả lập tức cất tiếng ngợi ca. Kim Lân khéo léo để anh cu Tràng nhận ra vẻ đẹp thực ở người vợ tội nghiệp của mình: Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ngoài tỉnh. Với bàn tay người vợ ấy, cuộc sống gia đình Tràng đã khác hẳn. Thị không nói đến những chuyện vui, chuyện sung sướng như bà cụ Tứ nhưng chính thị là người đã góp sức để nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Và chính thị chứ không phải ai khác là người đầu tiên trong cái gia đình nhỏ bé manh nha về tinh thần cách mạng của dân tộc: Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy. Không ai ngờ được ở người vợ nhặt lại có tiềm tàng những điều mới mẻ tốt đẹp như thế. Ta bắt gặp niềm tin mãnh liệt của Kim Lân vào con người, vào cuộc đời. Không nâng niu, không tin yêu, Kim Lân không thể kiên nhẫn để phát hiện những vẻ đẹp bị khuất lấp ở người đàn bà và miêu tả chúng bằng một thái độ trân trọng không chút ngạc nhiên. Tinh thần nhân đạo của nhà văn là ở đó. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn cũng nằm ở đó.
Vai trò của nhân vật người vợ nhặt không chỉ được biểu hiện trên phương diện nội dung tư tưởng mà còn ở phương diện nghệ thuật của văn bản truyện. Kim Lân đã dụng công xây dựng tình huống nghệ thuật độc đáo. Bất cứ ai đọc truyện ngắn đều cám cảnh trước sự tình éo le trong truyện. Anh cu Tràng vừa xấu xí, nghèo túng lại là dân ngụ cư, không có khả năng lấy vợ thế mà nhặt được vợ một cách dễ dàng, chỉ bốn bát bánh đúc, người đàn bà nghèo khổ chấp nhận theo không người đàn ông không từng quen biết. Nhà phê bình văn học Nguyền Đăng Mạnh đã từng viết: Tình huống giống như thứ nước rửa ảnh, nó sẽ làm nổi hình nổi sắc các nhân vật, bộc lộ các số phận, các tính cách, các tâm trạng…. Thông qua hình tượng vợ nhặt, thân phận rẻ rúng của con người sẽ được biểu hiện một cách sinh động, cụ thể. Nói như vậy cũng có nghĩa là, phần nào đó từ nhân vật người vợ nhặt, tình huống truyện sẽ được khai triển. Đó là lẽ tất nhiên bởi không có nhân vật này, diễn biến tình huống sẽ bị ách tắc, quan trọng hơn là tính chất éo le của nó không được biểu hiện. Như vậy, trước tiên, vai trò của nhân vật được biểu hiện trong tình huống nghệ thuật của thiên truyện.Xem thêm: Phân tích giá trị của câu hỏi tu từ trong đoạn thơ sau: “Mơ khách đương xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?” (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mạc Tử) Nhân vật vợ nhặt bước vào tác phẩm còn trở thành nhân tố tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong đó. Sự xuất hiện của thị đưa câu chuyện đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ. Thiếu vắng hình tượng này, çâu chuyện của Kim Lân sẽ kém đậm đà và chắc chắn những thông điệp của tác giả sẽ không thể tới người đọc.
Đọc Vợ nhặt, độc giả chỉ có thể gọi người đàn bà đã theo Tràng về làm vợ là chị vợ anh cu Tràng hoặc vợ nhặt như chính tác giả đã gọi. Chị ta bần cùng đến mức cái tên cũng không có? Hay Kim Lân cố tình để chị Tràng không có tên? Và nếu đó là sắp đặt nghệ thuật thì phải chăng vì nhà văn không thể lấy một cái tên để gọi cho một cơ số người như chị? Cùng với chị Dậu (Tắt đèn), Mị (Vợ chồng A Phủ) và sau này còn là những chị Đào (Mùa lạc), người vợ nhặt đã góp phần xây dựng nên bức tượng đài về người phụ nữ lao động Việt Nam. Từ hình tượng nhân vật này, chúng ta còn được chứng kiến một tấm lòng nhân đạo cao cả, một tâm hồn nghệ sĩ gắn bó sâu nặng với cuộc đời, với con người.
Vanmau.edu.vn
|
Đề bài: Nghị luận uống nước nhớ nguồn
Bài làm
Trước hết ta phải hiểu nội dung câu tục ngữ là như thế nào.“Uống nước ”chính là sự hưởng thụ những thành quả vật chất và tinh thần ;“Nhớ nguồn ”là sự tri ân,giữ gìn phát huy những thành quả của người làm ra chúng.Như vậy cả câu tục ngữ là lời khuyên,lời dạy bảo chúng ta phải biết ơn thế hệ cha anh và phát huy những thành quả của họ.
Thật vậy,thành quả không tự nhiên mà có.Đất nước hoà bình mà chúng ta sống hôm nay được đổi bằng sinh mạng của biết bao người ngã xuống.Bởi vậy ta không được phép quên tổ tiên,nòi giống và những người đã chiến đấu, hy sinh bảo vệ quê hương. Cha mẹ,ông bà người thân đã sinh ra ta,nuôi dưỡng ta khôn lớn, thầy cô dạy dỗ ta học hành trở nên người có ích cho xã hội…Tất cả đều là “nguồn”để ta phải nhớ,phải tri ân.
Lòng biết ơn là cở sở của đạo làm người.Một xã hội chỉ thực sự tốt đẹp khi được xây dựng vững vàng trên nền tảng đạo lý.Trên khắp đất nước Việt Nam lòng biết ơn thể hiện ở việc xây dựng các đền,miếu,chùa chiền phụng thờ, tôn vinh các bậc anh hùng có công với nước.Trong mỗi gia đình,bàn thờ tổ tiên được đặt ở nơi trang trọng.Nhiều năm nay, cả nước dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với những thương binh,liệt sĩ,bà mẹ Việt Nam anh hùng và những gia đình có công với cách mạng…Đến bất kỳ nơi nào cũng có thể tìm thấy những biểu hiện sinh động phong phú của đạo lý “uống nước nhớ nguồn ”trên đất nước ta.
Nhớ nguồn không chỉ là biết ơn, giữ gìn,bảo vệ thành quả đã có mà bản thân mỗi người cần cố gắng cống hiến, bổ sung thêm những thành quả mới cho “nguồn nước” dân tộc luôn tràn đầy và bất diệt.Có như vậy mới phát huy được tinh hoa truyền thống tốt đẹp của tổ tiên, làm cho xã hội ngày một phát triển.Đó mới là nhớ nguồn một cách thiết thực.Ở lứa tuổi học sinh, chúng ta chưa làm ra của cải vất chất, tinh thần cho xã hội, do đó hãy bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cha mẹ, thầy cô bằng lời nói, việc làm cụ thể của mình:phấn đấu học tập,rèn luyện và tu dưỡng thành con ngoan,trò giỏi để trở thành những công dân có ích cho xã hội sau này.
Câu tục ngữ không chỉ là lời khuyên dạy,nó còn là lời nhắc nhở sâu sắc, thấm thía đối với những kẻ vô ơn,“khỏi vòng cong đuôi”,“qua cầu rút ván”,“khỏi rên quên thầy”…Mạch nguồn trong trẻo của truyền thồng ân nghĩa thuỷ chung sẽ có một ngày làm cho những trái tim lầm đường thức tỉnh!
Lòng biết ơn thực sự là một nét truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc song nó không tự nhiên mà có.Nó là kết quả của quá trình rèn luyện, tu dưỡng lâu dài của con người.Có lẽ bởi vậy mà tự thủơ ấu thơ, lời ru thấm đượm ân tình của bà của mẹ đã gieo mầm ân nghĩa:
“Công cha nghĩa mẹ ơn thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao…”
|
Topic: Essay on drinking water, remember the source
Assignment
First of all, we must understand the content of the proverb. "Drinking water" is the enjoyment of material and spiritual achievements; "Remembering the source" is gratitude, preserving and promoting the achievements of life. The people who made them. Thus, the whole proverb is advice and teachings that we must be grateful to our ancestors' generation and promote their achievements.
Indeed, the results do not come naturally. The peaceful country we live in today was exchanged for the lives of so many fallen people. Therefore, we are not allowed to forget our ancestors, our race and those who fought. fight and sacrifice to protect the homeland. Our parents, grandparents, and relatives gave birth to us, raised us, and teachers taught us to become useful people for society... All are "sources" for us to remember and be grateful for.
Gratitude is the basis of human morality. A society is only truly good when it is built firmly on a moral foundation. Throughout Vietnam, gratitude is expressed in the construction of temples and shrines. , pagodas and temples worship and honor heroes who have contributed to the country. In each family, the ancestral altar is placed in a solemn place. For many years, the whole country has raised a movement to repay gratitude to the heroes. Wounded soldiers, martyrs, heroic Vietnamese mothers and families with meritorious services to the revolution... Wherever you go, you can find rich and vivid expressions of the ethic "when you drink water, remember its source" on earth. our country.
Remembering the source is not only about being grateful, preserving, and protecting existing achievements, but each person needs to try to contribute and add new achievements to the nation's "water source" that is always full and eternal. Yes. Only then can we promote the quintessence of good traditions of our ancestors, making society develop more and more. That is remembering the source in a practical way. At the age of students, we have not yet created material wealth. , spirit for society, so express your sincere gratitude to your parents and teachers with your specific words and actions: strive to study, train and cultivate to become good children and good students. to become useful citizens for society in the future.
The proverb is not only an advice, it is also a profound and penetrating reminder to ungrateful people, "don't bend your tail", "don't cross the bridge", "don't moan and forget your teacher"... The pure source of the tradition of faithful kindness will one day awaken the lost hearts!
Gratitude is truly a good moral tradition of the nation, but it does not come naturally. It is the result of a long process of human training and cultivation. Perhaps that is why we are self-centered. In my childhood, my mother's grandmother's loving lullaby sowed the seeds of gratitude:
“The merits of father and mother are grateful to teacher
Think about how to make it worth the days of wishing..."
|
Nghị luận vô cảm và biểu hiện của bệnh vô cảm trong xã hội ngày nay
Hướng dẫn
Vô cảm – Căn bệnh trầm kha của thời đại công nghệ
Mở bài:
Vô cảm là một hiện tượng vốn rất phổ biến ở các quốc gia trên thế giới. Không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,… cũng đang đối diện với những thách thức do hiện tượng xã hội này gây ra. Không chỉ là một thái độ sống, căn bệnh vô cảm đã trở thành một hội chứng trong xã hôi.
Thân bài:
Vô cảm là gì?
Vô cảm hiểu đơn giản là không có (vô) tình cảm, cảm xúc (cảm). Vô cảm là không có tình cảm, cảm xúc, dửng dưng trước những sự việc, hiện tương xảy ra xung quanh mình. Bệnh vô cảm được hiểu là một trạng thái tinh thần mà ở đó, con người không nảy sinh những cảm xúc đối với những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh mình, những nỗi buồn, nỗi đau, sự mất mát, thiệt thòi của con người. Có thể gọi vô cảm là một hội chứng thần kinh có tính lây lan mạnh.
Người sống vô cảm là người có lối sống lạnh lùng, ích kỉ, thiếu cởi mở và không quan tâm đến mọi vấn đề của xã hội, đất nước. Người sống vô cảm thường vô tâm trước nỗi đau thương mất mát của người khác, thậm chí họ còn không quan tâm đến bản thân và gia đình.
Biểu hiện và của căn bệnh và lối sống vô cảm:
Xét về tính lịch sử, vô cảm vốn xuất hiện cùng với các đặc điểm tâm lí con người ngay từ thuở mới xuất hiện. Lúc bạn đầu, chỉ là những hiện tượng đơn lẻ, không mang tính quy luật. Ngày nay, vô cảm đã trở thành một hội chứng phổ biến trong đời sống xã hội. Từ tính vô cảm của một vài cá nhân làm xuất hiện lối sông vô cảm trong xã hội như một sự biện minh thiển cận cho trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội của một lớp người.
Bởi thế, việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với gia đình, xã hội và đất nước cũng có nhiều hạn chế. Một số người không xem trọng việc xây dựng và duy trì hạnh phúc gia đình bền lâu. Nhiều người không muốn lập gia đình, họ chọn lối sống độc thân. Cuộc sống gia đình đối với họ chỉ là một trải nghiệm trong cuộc đời người mà thôi.
Người sống vô cảm thường thờ ơ, bàng quan trước cái xấu, cái ác, không phân biệt lẽ đúng, sai; không chống lại hoặc tố cáo những hành vi sai trái, tàn bạo. Ta vẫn thường thấy trong xã hội có một vài người dù chứng kiến những những hành vi phạm pháp của người khác nhưng thay vì tố cáo hay hỗ trợ cơ quan chức năng xử lí, đem lại công bằng cho xã hội thì họ tìm cách lẫn tránh hoặc chối bỏ.
Có rất nhiều người không chịu ra làm chứng khi có mặt trong hiện trường các vụ án. Họ sợ phải khai báo, sợ bị đối tượng thù ghét mà bất chấp cả lương tâm. Thậm chí nhiều người còn bị mua chuộc, đứng về phía cái xấu, cái ác hãm hại người vô tôi. Đó là những hành vi vô cảm, vô đạo đức, cần phải lên án, trừng trị trong xã hội.
Sống vô cảm là dửng dưng, lạnh lùng trước nỗi đau thương, mất mát của người khác, không dám đấu tranh chống kẻ mạnh, bảo vệ kẻ yếu. Nhiều vụ cướp đoạt tài sản xảy trắng trợn ra trên đường phố. Nhiều người đi đường đã không hề can thiệp dù đang ở rất gần. Họ sợ bị liên lụy, chọn cách an toàn là thượng sách dù nạn nhân mất tài sản, bị thương, hoặc thiệt mạng.
Cho nên, kẻ xấu càng trở nên ngang ngược hơn, ra tay tàn bạo hơn dẫn đến biết bao vụ việc thương tâm cũng chỉ bởi sự vô cảm của con người. Hay khi xảy ra một vụ tai nạn giao thông trên đường phố, người bị nạn bị thương nặng, có rất nhiều người dửng dưng đi qua, rất nhiều người vì tò mò mà dừng lại, ít ai nhiệt tình tham gia hỗ trợ cứu người nhanh chống giải quyết ùn tắt.
Kẻ vô cảm là kẻ chọn lối sống thực dụng, lấy lợi ích của bản thân làm mục tiêu mà chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm đạo đức; bất chấp tình nghĩa và luật pháp. Họ vì lợi ích của bản thân mà có thể dùng mọi thủ đoạn đê hèn để đoạt lấy lợi ích, bất chấp tất cả, thậm chí là thách thức luật pháp.
Trong thời gian vừa qua, báo chí liên tục đưa tin về những vụ việc người dân nhân cơ hội xe tải bị nạn mà trộm cắp hàng hoá trên xe, mặc kên tài xế thảm thiết van xin. Ta vẫn thường thấy trên báo chí những vụ án mạng thương tâm, khủng khiếp, kẻ sát nhân sát hại cả những người thân của mình với những lí do vô cớ. Hành vi phạm tội giết người thời đại nào cũng có nhưng hiện nay những vụ thảm sát trở nên phổ biến hơn. Hiện tượng con người suy thoái đạo đức, nhân cách, trở nên độc ác, tàn bạo đang ở mức báo động khẩn cấp hơn bao giờ hết.
Đám tiệc, hội họp chỉ là cớ để được ăn nhậu, chè chén chứ không phải là để gặp gỡ thân thương, thấm tình đậm nghĩa nữa. Thậm chí, nhiều vụ xung đột gây ra thương vong trong hội tiệc cũng bởi do sự thiếu vắng tình người.
Lối sống vô cảm của con người đã khiến cho nền đạo đức xã hội bị suy thoái nghiêm trọng. Những giá trị chuẩn mực vốn có từ ngàn đời nay không còn được tôn trọng. Con người vì lợi ích mà bất chấp luật pháp, bất chấp lương tâm. Cái ác, cái xấu, cái tàn nhẫn thường xuyên xuất hiện trong đời sống và nhanh chóng trở thành một hiện tượng hiển nhiên, được nhìn nhận như một quy luật trước sự thơ ơ, vô cảm của con người.
Kết bài:
Trước tất cả những biểu hiện nghiêm trọng ấy, xã hội Việt Nam đang đứng trước những thử thách to lớn là làm thế nào để phục dựng và duy trì những giá trị đạo đức tốt đẹp vốn có của dân tộc ta, đồng thời giải quyết các vấn đề tâm lí do thời đại đặt ra để duy trì và phát triển xã hội tốt đẹp? Làm thế nào để lấy lại tôn nghiêm của hệ thống pháp luật và nền tảng đạo đức xã hội, xây dựng cuộc sống lành mạnh và tiến bộ hơn?
|
Essay on insensitivity and manifestations of insensitivity in today's society
Instruct
Emotionlessness – A serious disease of the technological age
Opening:
Indifference is a phenomenon that is very common in countries around the world. Not only in Vietnam but also in developed countries such as the US, Japan, Korea,... are also facing challenges caused by this social phenomenon. Not just an attitude to life, the disease of insensitivity has become a syndrome in society.
Body of the article:
What is insensitivity?
Emotionlessness simply means having no feelings or emotions. Emotionlessness is having no feelings, emotions, and being indifferent to the events and phenomena happening around you. The disease of insensitivity is understood as a mental state in which people do not have emotions towards things and events happening around them, sadness, pain, loss and disadvantage. of human. Anesthesia can be called a highly contagious neurological syndrome.
People who live indifferently are people who have a cold, selfish lifestyle, lack openness and do not care about all problems of society and the country. People who live indifferently are often indifferent to the pain and loss of others, and they don't even care about themselves and their families.
Symptoms of the disease and indifferent lifestyle:
In terms of history, indifference has appeared with human psychological characteristics since the beginning of its existence. At first, it was just a single phenomenon with no rules. Nowadays, insensitivity has become a common syndrome in social life. From the insensitivity of a few individuals, a lifestyle of insensitivity appears in society as a short-sighted justification for the responsibilities and obligations towards society of a class of people.
Therefore, fulfilling their responsibilities and obligations to family, society and country also has many limitations. Some people do not attach importance to building and maintaining lasting family happiness. Many people do not want to get married, they choose to live alone. Family life for them is just an experience in human life.
People who live indifferently are often indifferent and indifferent to the bad and evil, not distinguishing between right and wrong; do not oppose or denounce wrongdoing or brutality. We often see in society that there are a few people who witness illegal acts of others, but instead of denouncing or assisting the authorities in handling and bringing justice to society, they try to confuse them. avoid or deny.
There are many people who refuse to testify when present at crime scenes. They are afraid of having to report, afraid of being hated by the target, regardless of their conscience. Many people are even bribed, siding with evil and evil that harms innocent people. These are insensitive and immoral acts that need to be condemned and punished in society.
Living indifferently means being indifferent and cold towards the pain and loss of others, not daring to fight against the strong or protect the weak. Many cases of property robbery take place blatantly on the streets. Many passersby did not intervene even though they were very close. They are afraid of being implicated, choosing safety is the best policy even if the victim loses property, is injured, or dies.
Therefore, the bad guys become more arrogant and more brutal, leading to many tragic incidents simply because of human insensitivity. Or when there is a traffic accident on the street, the victim is seriously injured, there are many people passing by indifferently, many people stop out of curiosity, few people enthusiastically participate in helping save lives. quickly resolve congestion.
An indifferent person is someone who chooses a pragmatic lifestyle, taking their own interests as the goal and trampling on personality and moral dignity; regardless of friendship and law. For their own benefit, they can use all despicable tricks to gain benefits, regardless of everything, even challenging the law.
In recent times, the press has continuously reported on cases of people taking the opportunity of a truck being in an accident to steal goods on the truck, despite the driver's pitiful pleas. We often see in the press tragic and terrible murder cases, where murderers kill their own relatives for no reason. Murder crimes exist in every era, but nowadays massacres are becoming more common. The phenomenon of people degenerating their morality and personality, becoming cruel and cruel, is at an alarming level more urgent than ever.
Parties and meetings are just an excuse to eat, drink, and drink, not to meet lovingly and deeply feel love. Even many conflicts that cause casualties at parties are due to the lack of human love.
People's indifferent lifestyle has caused serious deterioration of social morality. Standard values that have existed for thousands of years are no longer respected. People ignore the law and conscience for profit. Evil, ugliness, and cruelty often appear in life and quickly become an obvious phenomenon, recognized as a law in the face of human indifference and insensitivity.
End:
Faced with all these serious manifestations, Vietnamese society is facing great challenges of how to restore and maintain the inherent good moral values of our nation, and at the same time solve the problem. What are the psychological issues posed by the times to maintain and develop a good society? How to regain the dignity of the legal system and the moral foundation of society, building a healthier and more progressive life?
|
Nghị luận văn học bàn về ý kiến ” Người lái đò Sông Đà ” của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Đề bài: Về nhân vật ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa”. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: “Ông lái đò là một người lao động bình thường”.
Từ cảm nhận về nhân vật ông lái đò, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên?
GỢI Ý
MỞ BÀI
Nêu vấn đề nghị luận
THÂN BÀI
=========Vài nét về tác giả, tác phẩm:
“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa” (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưa lối chơi “độc tấu”.
+ “Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong “Tùy bút Sông Đà”. Với khao khát truy tìm “chất vàng mười của tâm hồn vùng Tây Bắc” – “thứ vàng mười đã được thử lửa” (Đi mở đường), Nguyễn Tuân đã viết lên bài ca cuộc sống của con người và thiên nhiên Tây Bắc với nhiều nét độc sáng mới lạ.
+ Nhận xét về người lái đò sông Đà có hai ý kến như sau: ( trích dẫn hai ý kiến)
=====Giải thích ý kiến:
Ý kiến “Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa” và “Ông lái đò là một người lao động bình thường”.
+ Người nghệ sĩ tài hoa là những người có rung động tâm hồn mãnh liệt trước mọi vui buồn của đời sống và có khả năng thể hiện những rung động ấy bằng những phương tiện nghệ thuật đặc thù. Ở ý kiến trên, người nghệ sĩ tài hoa được hiểu là người đạt tới trình độ điêu luyện trong nghề nghiệp và có đời sống tâm hồn đậm chất nghệ sĩ.
+ Người lao động bình thường là người lao động thầm lặng, vô danh, không tên tuổi giống như bao người lao động khác trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Khẳng định 2 ý kiến trên bổ sung cho nhau, làm hoàn thiện chân dung, tính cách người lái đò sông Đà.
======Chứng minh – bình luận ý kiến:
+++++++++Ông lái đò – một nghệ sĩ tài hoa:
– Ông lái đò có tính cách phóng khoáng, thích đối mặt với thử thách, mạo hiểm, gian nguy.
– Ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.
– Cuộc băng ghềnh, vượt thác ngoạn mục đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một “tay lái ra hoa”:
+ Vòng vây thứ nhất, sông Đà bày ra nhiều cạm bẫy. Ông lái đò bị sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm. Nhưng bằng tinh thần dũng cảm, ông đã tỉnh táo chỉ huy sáu mái chèo, chiến thắng trùng vi thạch trận đầy nguy hiểm.
+ Vòng vây thứ hai, sông Đà đã thay đổi chiến thuật. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, xác định đúng cửa sinh và chiến thắng thằng đá tướng đứng chiến ở cửa giữa.
+ Vòng vây thứ ba, sông Đà tiếp tục thay đổi chiến thuật, bên phải bên trái đều là cửa tử. Ông lái đò phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hoi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được.Thế là hết thác.
+++++++++++Ông cũng là một người lao động bình thường:
– Ông lái đò sinh ra bên bờ sông Đà và gắn bó với nghề sông nước như bao người lái đò khác nơi thượng nguồn sông Đà khuất nẻo.
– Đời sống tâm hồn giản dị: không nói nhiều về chiến công; dù đi đâu cũng luôn nhớ về nương ruộng, bản mường.
=======Nghệ thuật thể hiện:
Ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, hài hoa, kết hợp kể với tả nhuần nhuyễn và đặc sắc, nghệ thuật khắc họa nhân vật độc đáo, sáng tạo.
Bút pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo, thú vị; vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật góp phần miêu tả cuộc chiến hào hùng và khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật.
======== Đánh giá:
Qua cảm nhận hình tượng ông lái đò, có thể thấy, ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa trên sông nước, đồng thời, cũng là một người lao động giản dị bình thường. Vẻ đẹp của ông lái đò tiêu biểu cho vẻ đẹp của người dân lao động vùng Tây Bắc tổ quốc.
Hai ý kiến trên không đối lập mà bổ sung cho nhau đem đến một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về nhân vật.
KẾT BÀI
Kết thúc vấn đề.
|
Literary essay discussing the opinion of "Song Da boatman" by Nguyen Tuan
Instruct
Topic: Regarding the character of the boatman in the essay "The boatman of Da River" by Nguyen Tuan, there is an opinion that: "The boatman is a talented artist." Another opinion emphasized: "The ferry driver is a normal worker."
From your feelings about the character of the boatman, can you comment on the above opinions?
SUGGEST
OPENING
State the issue for discussion
BODY OF ARTICLE
=========Some details about the author and works:
“Nguyen Tuan is the definition of a talented artist” (Nguyen Minh Chau). His entire life as well as nearly 5,000 pages of writing have created a "mythical history" - the legendary history of a person who likes to play "solo".
+ "The boatman on Da River" is considered one of the most successful works in "Song Da Essay". With the desire to search for "the golden quality of the soul of the Northwest region" - "the tenth gold that has been tested by fire" (Going to pave the way), Nguyen Tuan wrote a song about the life of people and nature in the Northwest with Many new and unique features.
+ Commenting on the Da River boatman, there are two opinions as follows: (quote two opinions)
=====Explanation of opinion:
Opinions "The boatman is a talented artist" and "The boatman is an ordinary worker".
+ Talented artists are people whose souls are deeply moved by all the joys and sorrows of life and are able to express those vibrations through specific artistic means. In the above opinion, a talented artist is understood as someone who has achieved a level of virtuosity in his profession and has a spiritual life full of artistic qualities.
+ Ordinary workers are silent, anonymous, nameless workers like many other workers in the process of building and developing the country. Affirming that the above two opinions complement each other, perfecting the portrait and personality of the Da River ferryman.
======Proof – comment on opinions:
+++++++++The boatman - a talented artist:
– The boatman has a liberal personality, likes to face challenges, risks, and dangers.
– He firmly grasped the strategy of the river god and rock god like a skilled and powerful artist.
- Spectacular rapids and waterfall crossings have affirmed the beauty and artistic talent of a "flowering driver":
+ The first siege, Da River presents many traps. The boatman was dealt a vicious blow by the waterfall. But with a courageous spirit, he calmly commanded six oars, winning the dangerous battle of microscopic insects.
+ The second siege, Da River changed its tactics. The ferryman firmly grasped the strategy of the river god and rock god, determined the correct birth gate and defeated the stone general standing at the middle gate.
+ The third siege, Da River continued to change tactics, both right and left were death's door. The ferryman launched the boat straight, piercing the middle door. The boat is like a bamboo arrow that quickly penetrates through the water, while penetrating and automatically steering and gliding. That's the end of the waterfall.
+++++++++++ He is also a normal worker:
– The boatman was born on the banks of the Da River and is attached to the river profession like many other boatmen in the hidden upstream of the Da River.
– Simple spiritual life: not talking much about victories; No matter where you go, always remember the fields and villages.
=======Artistic expression:
The language is rich, creative, humorous, combining storytelling with smooth and unique description, and the art of portraying unique and creative characters.
Unique and interesting artistic style of comparison, personification, and association; Applying knowledge from many fields of culture and art contributes to depicting the heroic war and affirming the spiritual beauty of the character.
======== Rating:
Through feeling the image of the boatman, it can be seen that the boatman is a talented artist on the river, and at the same time, is also a simple and ordinary worker. The boatman's beauty represents the beauty of the working people in the Northwest region of the country.
The above two opinions are not opposed but complement each other, providing a complete and comprehensive view of the character.
END
End of problem.
|
Nghị luận văn học là nhân học – M.Gorki
Hướng dẫn
Cốt lõi của văn học vì con người mà lên tiếng bênh vực
Mở bài:
Mối quan giữa văn học và nhân học không phải bỗng nhiên mà thành. Trong quá trình tạo dựng sự nối kết hai lĩnh vực cũng đã có không ít những bất đồng về quan điểm. Ngay trong khái niệm nhân học, theo nghĩa hẹp nhất, là khoa học về con người. Quan niệm ấy đã kéo theo một lịch sử lâu dài nhiều hoạt động và lĩnh vực liên quan. Ngay từ buổi sơ khai, văn học đã không thể tách rời khỏi nhân học. Nó hình thành nên bản chất cốt lõi của văn học ngày nay.
Thân bài:
Văn học là gì?
Văn học là khoa học về cái đẹp (văn) trong cuộc sống, được biểu đạt bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu hình tượng. Cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua bình diện ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng, được sắp xếp theo một tổ chức nhất định để ngôn từ phát huy giá trị của nó. Đồng thời nó có tính chuẩn mực cao (hàm súc và cô đọng, đa nghĩa, biểu cảm).
Văn học biểu đạt nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ của con người trước cuộc sống. Những vấn đề nhân sinh cũng được đặt ra ở trong đó.
Nhân học là gì?
Nhân học là một lĩnh vực nhận thức khoa học, trong đó nghiên cứu các vấn đề nền tảng của tồn tại con người trong môi trường tự nhiên và nghệ thuật. Theo nghĩa chung nhất “Nhân học” là khoa học về con người.
“Văn học là nhân học”nghĩa là gì?
Thông qua các tác phẩm, văn học phản ánh toàn diện đời sống tinh thần, vật chất và các quy luật vận động của xã hội loài người. Theo câu nói của M.Gorki thì “nhân học” ở đây trọng tâm tập trung phản ánh tính xã hội của con người, tức lòng nhân ái của con người.
Như vậy, “Văn học là nhân học” có thể hiểu văn học đã phản ánh, đề cao tình yêu thương con người trong mỗi tác phẩm văn chương. Văn học lấy con người làm đối tượng phản ánh và hướng đến phục vụ đời sống con người.
Tại sao “Văn học” có thể là “nhân học”?
Lúc ban đầu, văn học chỉ là một hình thức nghệ thuật ghi lại những suy nghĩ, cảm nhận và rung động của con người về hiệu thực cuộc sống. Trải qua thời gian, văn học trở thành phương tiện giúp con người phản ánh sâu sắc đời sống hiện thực, đời sống tinh thần và là công cụ dùng để đấu tranh cho lẽ phải, sự công bình. Thế nhưng, chức năng này không phải nhà văn nào cũng tôn trọng và vận dụng.
Đó là phát hiện mới mà lại không mới, được tinh kết trong một câu nói ngắn gọn mà không ngắn gọn. Đối với những người chỉ coi văn chương là một thứ phù phiếm thì câu nói ấy gần như vô nghĩa lí. Triết lí ấy cũng không có gì đáng phải suy nghĩ. Nhưng ở đây, M.Gorki thực sự đã đặt ra một mệnh đề đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm.
Cũng như hội họa, ca nhạc, điêu khắc… trước hết văn học là một bộ môn nghệ thuật. Văn học tuân thủ các nguyên tắc của một bộ môn nghệ thuật ngôn ngữ với kết cấu phức tạp và chặt chẽ của nó. Nó mang đậm đặc trung của bộ môn nghệ thuật. Bởi thế, nó hướng đến chức năng giải trí, làm thỏa mãn nhu cầu cảm nghiệm của con người.
Nhưng đối với văn học đích thực, nó vượt lên trên điều đó khi tồn tại và phát triển. Đối tượng chủ đạo của văn học là con người và hiện thực cuộc sống. Hai đối tượng ấy được soi chiếu qua mọi góc độ trong sự tương quan phức tạp, đa chiều.
Nói văn học là nhân học là một nhận định hoàn toàn đúng đắn và giàu tính nhân văn. Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người và đời sống con người. Văn học nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú.
Đọc những bài ca dao bình dị trong kho tàng văn học dân tộc ta hiểu rõ đời sống tâm tư, tình cảm của những người lao động nghèo khó mà nghĩa tình, khát khao cuộc sống yên bình, tươi đẹp. Những bài ca dao ngắn ngủi, mềm mại đâu chỉ là một hình thức nghệ thuật đơn thuần mà chứa trong nó là cả một thế giới được lưu giữ cẩn thận và bền lâu.
Qua hình ảnh chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố ta hiểu người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám luôn khao khát có một cuộc sống yên bình trong cuộc sống vốn đầy rẫy sự bất công. Đối với họ, nghèo khổ không thực sự đáng sợ. Cái đáng sợ hơn đó là tai họa có thể giáng xuống đầu họ bất cứ lúc nào mà họ thì hoàn toàn không có khả năng phòng bị hay phản kháng. Ta cũng hiểu ra ý nghĩa của cái nhan đề Tắt đèn, vừa tinh tế vừa đầy cảm thương của nhà văn đối với số phận con người.
Chỉ đến lúc nào đó văn học mới là văn học đích thực khi văn học. Nó thể hiện được sự khám phá và sáng tạo. Nó hình thành những kiến giải hay và đẹp về con người và đời sống con người. Với văn học, chất liệu đầu tiên để cấu thành tác phẩm là ngôn từ. Nhưng yếu tố cuối cùng quyết định sự sống còn của tác phẩm lại không phải là ngôn từ. Đó chính là hình tượng nhân vật. Nhân vật văn học không ai khác chính là những con người trong cuộc sống. Trở thành đối tượng phản ánh của văn học, con người hiện ra sinh động, chân thực trong mỗi tác phẩm. Tất cả chứa đựng tính nhân học của văn học.
Đọc tác phẩm ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngóc ngách nội tâm, từng biểu hiện tình cảm, hiểu đúng hơn và nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn vốn bị cái bề ngoài bao phủ. Và chính cái “thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn” ấy thể hiện rõ nhất cái “nhân học” của văn chương.
Qua nhân vật Thúy Kiều cho ta thấy được sự vận động tinh thần của nàng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Lúc vui tười, hạnh phúc. Lúc lại khổ đau, tủi nhục đến vô hạn. Lúc bế tắc, tuyệt vọng cùng cực. Chính điều đó khiến ta biết cảm thông, chia sẻ và đồng cảm với thân phận và cuộc đời khổ nhục của nàng. Và từ đó càng căm ghét hơn cái xã hội bất nhân tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách nhân phẩm con người; tước đoạt quyền sống, quyền làm người của những con người nhỏ bé trong xã hôi.
Chính văn học đã phát hiện và tôn vinh những phẩm chất quý báu ở con người vốn bị cuộc đời trần trụi che phủ. Sự thấu nhận từ thực tế đôi khi bị sai lệch nhưng trong tác phẩm, người đọc có thể bình tĩnh thấu suốt điều đó một cách rõ ràng.
Nhờ tác phẩm Chí Phèo mà ta biết rằng trong chính những kẻ xấu xí nhất trần gian, trái tim cũng biết rung động vì yêu. Qua nhân vật AQ ta mới biết rằng trong cuộc đời cũng có lắm kẻ có phép thắng lợi tinh thần một cách đáng thương. Văn học đã cho ta cái nhìn thấu suốt vào đời sống con người mà không một nghệ thuật nào làm được. Văn học tìm kiếm, phát hiện và ngợi ca những điểm sáng ở họ, vốn từ lâu đã bị cuộc đời che phủ.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sản phẩm tạo ra trong quá trình tương tác đó chính là “nhân học” – tình yêu thương con người và cuộc sống. Kể cả kết quả sau cùng của nó cũng vì con người mà tồn tai.
Văn học còn là sự thể hiện tinh tế tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng, quan điểm và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn đối với con người và cuộc sống. Mỗi trang văn, mỗi bài thơ (đích thực) dù nói về gì, đề tài gì rộng lớn hay bé nhỏ đều thể hiện lòng yêu, sự ghét của tác giả. Tác phẩm thể hiện một quan điểm nhân sinh hoặc lên án cái ác, hoặc ca ngợi tình yêu, đưa tới sự hướng thiện, cái cao cả, cái đẹp của thiên nhiên và con người.
“Văn học là nhân học” là một ẩn ý súc tích như bản chất của văn học. Văn học là khoa học về con người. Không phải là cái con người sinh học với đầy đủ chân, tay, mắt, mũi, tim, gan…mà đó là những con người với cuộc sống tinh thần phong phú và đa dạng của họ. Tư tưởng ấy không chỉ là lí thuyết suông mà nó biến thành hành động, trở thành động lực thúc đẩy hành động.
Học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn con người. Đồng thời cũng là để học cách làm người. Phải chăng đó chính là điều Gorki muốn nói với chúng ta – những người đã phần nào đặt chân vào ngưỡng cửa văn học?
Kết bài:
Đến với văn chương là bước vào thế giới của tình người. Tác phẩm chính là điểm gặp gỡ đầu tiên giữa nhà văn và đọc giả thông qua thế giới nhân vật sinh đông, phong phú. Để văn học là nhân học thì cả nhà văn và người đọc đều phải “kết dính” trong tình yêu thương con người vô hạn và vĩnh hằng.
|
Nghị luận văn học là nhân học – M.Gorki
Hướng dẫn
Cốt lõi của văn học vì con người mà lên tiếng bênh vực
Mở bài:
Mối quan giữa văn học và nhân học không phải bỗng nhiên mà thành. Trong quá trình tạo dựng sự nối kết hai lĩnh vực cũng đã có không ít những bất đồng về quan điểm. Ngay trong khái niệm nhân học, theo nghĩa hẹp nhất, là khoa học về con người. Quan niệm ấy đã kéo theo một lịch sử lâu dài nhiều hoạt động và lĩnh vực liên quan. Ngay từ buổi sơ khai, văn học đã không thể tách rời khỏi nhân học. Nó hình thành nên bản chất cốt lõi của văn học ngày nay.
Thân bài:
Văn học là gì?
Văn học là khoa học về cái đẹp (văn) trong cuộc sống, được biểu đạt bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu hình tượng. Cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua bình diện ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng, được sắp xếp theo một tổ chức nhất định để ngôn từ phát huy giá trị của nó. Đồng thời nó có tính chuẩn mực cao (hàm súc và cô đọng, đa nghĩa, biểu cảm).
Văn học biểu đạt nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ của con người trước cuộc sống. Những vấn đề nhân sinh cũng được đặt ra ở trong đó.
Nhân học là gì?
Nhân học là một lĩnh vực nhận thức khoa học, trong đó nghiên cứu các vấn đề nền tảng của tồn tại con người trong môi trường tự nhiên và nghệ thuật. Theo nghĩa chung nhất “Nhân học” là khoa học về con người.
“Văn học là nhân học”nghĩa là gì?
Thông qua các tác phẩm, văn học phản ánh toàn diện đời sống tinh thần, vật chất và các quy luật vận động của xã hội loài người. Theo câu nói của M.Gorki thì “nhân học” ở đây trọng tâm tập trung phản ánh tính xã hội của con người, tức lòng nhân ái của con người.
Như vậy, “Văn học là nhân học” có thể hiểu văn học đã phản ánh, đề cao tình yêu thương con người trong mỗi tác phẩm văn chương. Văn học lấy con người làm đối tượng phản ánh và hướng đến phục vụ đời sống con người.
Tại sao “Văn học” có thể là “nhân học”?
Lúc ban đầu, văn học chỉ là một hình thức nghệ thuật ghi lại những suy nghĩ, cảm nhận và rung động của con người về hiệu thực cuộc sống. Trải qua thời gian, văn học trở thành phương tiện giúp con người phản ánh sâu sắc đời sống hiện thực, đời sống tinh thần và là công cụ dùng để đấu tranh cho lẽ phải, sự công bình. Thế nhưng, chức năng này không phải nhà văn nào cũng tôn trọng và vận dụng.
Đó là phát hiện mới mà lại không mới, được tinh kết trong một câu nói ngắn gọn mà không ngắn gọn. Đối với những người chỉ coi văn chương là một thứ phù phiếm thì câu nói ấy gần như vô nghĩa lí. Triết lí ấy cũng không có gì đáng phải suy nghĩ. Nhưng ở đây, M.Gorki thực sự đã đặt ra một mệnh đề đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm.
Cũng như hội họa, ca nhạc, điêu khắc… trước hết văn học là một bộ môn nghệ thuật. Văn học tuân thủ các nguyên tắc của một bộ môn nghệ thuật ngôn ngữ với kết cấu phức tạp và chặt chẽ của nó. Nó mang đậm đặc trung của bộ môn nghệ thuật. Bởi thế, nó hướng đến chức năng giải trí, làm thỏa mãn nhu cầu cảm nghiệm của con người.
Nhưng đối với văn học đích thực, nó vượt lên trên điều đó khi tồn tại và phát triển. Đối tượng chủ đạo của văn học là con người và hiện thực cuộc sống. Hai đối tượng ấy được soi chiếu qua mọi góc độ trong sự tương quan phức tạp, đa chiều.
Nói văn học là nhân học là một nhận định hoàn toàn đúng đắn và giàu tính nhân văn. Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người và đời sống con người. Văn học nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú.
Đọc những bài ca dao bình dị trong kho tàng văn học dân tộc ta hiểu rõ đời sống tâm tư, tình cảm của những người lao động nghèo khó mà nghĩa tình, khát khao cuộc sống yên bình, tươi đẹp. Những bài ca dao ngắn ngủi, mềm mại đâu chỉ là một hình thức nghệ thuật đơn thuần mà chứa trong nó là cả một thế giới được lưu giữ cẩn thận và bền lâu.
Qua hình ảnh chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố ta hiểu người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám luôn khao khát có một cuộc sống yên bình trong cuộc sống vốn đầy rẫy sự bất công. Đối với họ, nghèo khổ không thực sự đáng sợ. Cái đáng sợ hơn đó là tai họa có thể giáng xuống đầu họ bất cứ lúc nào mà họ thì hoàn toàn không có khả năng phòng bị hay phản kháng. Ta cũng hiểu ra ý nghĩa của cái nhan đề Tắt đèn, vừa tinh tế vừa đầy cảm thương của nhà văn đối với số phận con người.
Chỉ đến lúc nào đó văn học mới là văn học đích thực khi văn học. Nó thể hiện được sự khám phá và sáng tạo. Nó hình thành những kiến giải hay và đẹp về con người và đời sống con người. Với văn học, chất liệu đầu tiên để cấu thành tác phẩm là ngôn từ. Nhưng yếu tố cuối cùng quyết định sự sống còn của tác phẩm lại không phải là ngôn từ. Đó chính là hình tượng nhân vật. Nhân vật văn học không ai khác chính là những con người trong cuộc sống. Trở thành đối tượng phản ánh của văn học, con người hiện ra sinh động, chân thực trong mỗi tác phẩm. Tất cả chứa đựng tính nhân học của văn học.
Đọc tác phẩm ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngóc ngách nội tâm, từng biểu hiện tình cảm, hiểu đúng hơn và nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn vốn bị cái bề ngoài bao phủ. Và chính cái “thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn” ấy thể hiện rõ nhất cái “nhân học” của văn chương.
Qua nhân vật Thúy Kiều cho ta thấy được sự vận động tinh thần của nàng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Lúc vui tười, hạnh phúc. Lúc lại khổ đau, tủi nhục đến vô hạn. Lúc bế tắc, tuyệt vọng cùng cực. Chính điều đó khiến ta biết cảm thông, chia sẻ và đồng cảm với thân phận và cuộc đời khổ nhục của nàng. Và từ đó càng căm ghét hơn cái xã hội bất nhân tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách nhân phẩm con người; tước đoạt quyền sống, quyền làm người của những con người nhỏ bé trong xã hôi.
Chính văn học đã phát hiện và tôn vinh những phẩm chất quý báu ở con người vốn bị cuộc đời trần trụi che phủ. Sự thấu nhận từ thực tế đôi khi bị sai lệch nhưng trong tác phẩm, người đọc có thể bình tĩnh thấu suốt điều đó một cách rõ ràng.
Nhờ tác phẩm Chí Phèo mà ta biết rằng trong chính những kẻ xấu xí nhất trần gian, trái tim cũng biết rung động vì yêu. Qua nhân vật AQ ta mới biết rằng trong cuộc đời cũng có lắm kẻ có phép thắng lợi tinh thần một cách đáng thương. Văn học đã cho ta cái nhìn thấu suốt vào đời sống con người mà không một nghệ thuật nào làm được. Văn học tìm kiếm, phát hiện và ngợi ca những điểm sáng ở họ, vốn từ lâu đã bị cuộc đời che phủ.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sản phẩm tạo ra trong quá trình tương tác đó chính là “nhân học” – tình yêu thương con người và cuộc sống. Kể cả kết quả sau cùng của nó cũng vì con người mà tồn tai.
Văn học còn là sự thể hiện tinh tế tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng, quan điểm và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn đối với con người và cuộc sống. Mỗi trang văn, mỗi bài thơ (đích thực) dù nói về gì, đề tài gì rộng lớn hay bé nhỏ đều thể hiện lòng yêu, sự ghét của tác giả. Tác phẩm thể hiện một quan điểm nhân sinh hoặc lên án cái ác, hoặc ca ngợi tình yêu, đưa tới sự hướng thiện, cái cao cả, cái đẹp của thiên nhiên và con người.
“Văn học là nhân học” là một ẩn ý súc tích như bản chất của văn học. Văn học là khoa học về con người. Không phải là cái con người sinh học với đầy đủ chân, tay, mắt, mũi, tim, gan…mà đó là những con người với cuộc sống tinh thần phong phú và đa dạng của họ. Tư tưởng ấy không chỉ là lí thuyết suông mà nó biến thành hành động, trở thành động lực thúc đẩy hành động.
Học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn con người. Đồng thời cũng là để học cách làm người. Phải chăng đó chính là điều Gorki muốn nói với chúng ta – những người đã phần nào đặt chân vào ngưỡng cửa văn học?
Kết bài:
Đến với văn chương là bước vào thế giới của tình người. Tác phẩm chính là điểm gặp gỡ đầu tiên giữa nhà văn và đọc giả thông qua thế giới nhân vật sinh đông, phong phú. Để văn học là nhân học thì cả nhà văn và người đọc đều phải “kết dính” trong tình yêu thương con người vô hạn và vĩnh hằng.
|
Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12
Hướng dẫn
Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12
Bài làm
Tấm Cám là câu truyện cổ tích dân gian quen thuộc đối với mọi thế hệ người Việt Nam. Ngay từ khi còn nhỏ, mọi đứa trẻ đều từng được bà và mẹ kể cho nghe câu truyện về cuộc đời nàng Tấm xinh đẹp, dịu hiền và đầy đáng thương. Tuy có nhiều dị bản nhưng nội dung cơ bản của cốt truyện không khác biệt nhiều giữa các dị bản, trừ phần kết truyện. Câu truyện kết thúc bằng sự trả thù khá tàn nhẫn của Tấm được lưu truyền với nội dung khác nhau song dù là hình thức trả thù nào cũng không tránh khỏi sự ghê rợn và gây tranh cãi cho người đọc.
Nhân vật chính của câu truyện là Tấm – một cô gái hiền lành, đảm đang nhưng số phận không yên ả. Bố mất sớm, Tấm ở với mẹ kế và Cám. Dù khoong một lần phản kháng hay cãi lại yêu cầu quá quắt của hai mẹ con Cám nhưng chuỗi ngày tháng sống cùng một ngôi nhà với hai mẹ con dì ghẻ là sự cơ cực, đau khổ và bị chửi bới thậm tệ mà Tấm phải trải qua. Không còn bất cứ quyền lời nào của con người, Tấm trở thành nô lệ cho hai mẹ con. Dưới sự bóc lột và đối xử thậm tệ mà hai người dành cho Tấm, ta chỉ thấy một sự im lặng và cam chịu đến đáng sợ. Tấm không dám phản đối hay đấu tranh cho quyền lợi của mình. Những người xung quanh cũng không lên tiếng để bảo vệ cô. Điều này cho thấy sự bất công và đầy nghịch lí đang tồn tại trong xã hội ấy. Đó là xã hội “thắng làm vua, thua làm giặc”, là xã hội của kẻ mạnh, có quyền, có tiền.
“Kẽo cà kẽo kẹt
Lấy chung chồng chị
Chị khoét mắt ra”.
Chính thời điểm này, Tấm đã thể hiện sự vùng dậy của mình. Dù mới chỉ dừng lại ở lời nói, câu đe dọa nhưng có thể thấy, đến đây, ở Tấm có sự chuyển biến rõ rệt. Không một ai biết liệu Tấm sẽ khiến hai mẹ con Cám trả giá ra sao nhưng ít nhất, nó cũng là một điều dự đoán tương lai – khi Tấm trở về trừng phạt tội ác mà hai người kia gây ra cho Tấm. Hơn nữa, lần hóa kiếp thành quả thị cũng hoàn toàn khác so với những lẫn trước. Tấm không còn xuất hiện ở gần hoàng cung hay nơi ở của Cám và mẹ kế nữa để đảm bảo cho sự an toàn của chính mình. Tấm đã biết bảo vệ bản thân trước sự ác độc không còn tính người của bà mẹ kế cùng con gái.
Sau nhiều lần bị hãm hại cùng sự lặng câm hứng chịu mọi thứ, Tấm trở về và đòi lại tất cả. Tấm đã từng rộng lượng, đã từng rất vị tha nhưng sự đuổi cùng giết tận của hai mẹ con dì ghẻ đã đi quá xa sức chịu đựng của một con người. Và Tấm đã dùng hình thức dã man để trừng phạt hai kẻ bất nhân bất nghĩa: lừa Cám tắm nước sôi, dùng xác Cám làm mắm cho dì để bà bị sốc mà chết. Nhiều người cho rằng hành động này đã xóa bỏ hoàn toàn hình ảnh một cô gái hiền dịu, nhẹ nhàng, trở thành một người độc ác nhưng để xét về hoàn cảnh thực tế, ta sẽ thấy một góc nhìn nhận khác. Có áp bứ thì có đấu tranh, Tấm giết hai mẹ con Cám nhưng ngược lại, hai người họ đâu chỉ giết Tấm chỉ một lần? Gieo nhân nào thì gặt quả đấy, hai người đó đã gieo nên nghiệt ác quá lớn nên hậu quả họ gánh lấy cũng cần tương đương với tội ác họ gây nên. Hơn nữa, với tư tưởng làm người cần biết đấu tranh cho hạnh phúc chính đáng của mình, đồng thời luôn đấu tranh diệt trừ cái xấu cho xã hội thêm tốt đến, nhân dân để cho tự bản thân Tấm trừng trị thích đáng những kẻ đáng bị trừng phạt. Bởi nếu để chúng sống, Tấm sẽ lại bị giết hại một lần nữa. Không phải trởi đất trừng trị, ở đây là những người bị áp bức đích trừng trị kẻ hãm hại mình để bảo vệ quyền sống chính đáng của bản thân. Điều này là hoàn toàn hợp lí.
|
Literary essay on Tam's act of revenge - grade 12 literature
Instruct
Literary essay on Tam's act of revenge - grade 12 literature
Assignment
Tam Cam is a folk fairy tale familiar to all generations of Vietnamese people. From an early age, every child has been told by their grandmother and mother the story of the life of beautiful, gentle and pitiful Miss Tam. Although there are many versions, the basic content of the plot does not differ much between versions, except for the ending. The story ends with Tam's rather cruel revenge, which is circulated with different content, but no matter what form of revenge it is, it cannot avoid being horrifying and causing controversy for readers.
The main character of the story is Tam - a gentle and responsible girl but her fate is not peaceful. Her father passed away early, so Tam lived with her stepmother and Cam. Even though Cam and her mother never once protested or argued against the unreasonable demands of Cam and her daughter, the days and months of living in the same house with the mother and stepmother were the hardships, suffering, and severe scolding that Tam had to go through. via. No longer having any human rights, Tam became a slave to mother and child. Under the exploitation and terrible treatment that the two people gave Tam, we only see a terrifying silence and resignation. Tam did not dare to protest or fight for his rights. The people around her also did not speak up to protect her. This shows the injustice and paradox that exists in that society. It is a society where "winners become kings, losers become enemies", a society of the strong, powerful, and wealthy.
“Creak, creak
Married to my sister's husband
She gouged out her eyes."
It was at this moment that Tam showed his rise. Although it only stopped at words and threats, it can be seen that at this point, there has been a clear change in Tam. No one knows what Tam will make Cam and her mother pay, but at least, it is a prediction of the future - when Tam returns to punish the crimes that the other two committed against Tam. Moreover, the transformation into the fruit market is completely different from the previous ones. Tam no longer appeared near the royal palace or the residence of Cam and his stepmother to ensure his own safety. Tam knew how to protect herself from the inhuman cruelty of her stepmother and daughter.
After being harmed many times and silently suffering everything, Tam returned and reclaimed everything. Tam was once generous and altruistic, but the extermination and extermination of mother and stepmother and her stepmother had gone too far for a human being to endure. And Tam used barbaric methods to punish the two unjust people: tricking Cam into bathing in boiling water, using Cam's body to make fish sauce for her aunt so that she would be shocked to death. Many people believe that this action has completely erased the image of a gentle and gentle girl, becoming a cruel person, but considering the actual situation, we will see a different perspective. Where there is oppression, there is struggle. Tam killed Cam and his mother, but on the contrary, didn't the two of them kill Tam just once? Whatever you sow, you will reap. Those two people sowed so much evil that the consequences they suffered should be equivalent to the crimes they committed. Furthermore, with the idea that humans need to know how to fight for their own legitimate happiness, and at the same time always fight to eliminate bad things for a better society, the people let Tam himself properly punish those who commit suicide. deserve to be punished. Because if they let them live, Tam will be killed again. It is not the earth that punishes them, here it is the oppressed who punish those who harm them to protect their legitimate right to life. This is completely reasonable.
|
Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm
Hướng dẫn
Đề bài: Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12.
Bài làm
Cái kết của câu chuyện Tấm Cám luôn gây nhiều tranh cãi đối với dư luận xã hội. Bởi từ một con người mẫu mực như Tấm lại có cách trả thù tàn bạo, độc ác như vậy. Hành động trả thù của Tấm là đúng hay sai, có chứng tỏ rằng sau bao nhiêu sóng gió cô đã trên nên ích kỉ, độc ác hay không? Hành động này có khiến cho bạn có suy nghĩ khác về nhân vật Tấm hiền lành không?
Nhân vật Tấm được khắc họa là cô gái hiền lành, xinh đẹp, chăm chỉ, giỏi giang ở với dì ghẻ và Cám. Cuộc sống của Tấm là chuỗi ngày cay đắng, bị ghẻ lạnh, bóc lột, chửi bới thậm tệ. Nhiều bất công đến với Tấm nhưng cô vẫn câm lặng, nín nhịn, chịu đựng vì gì ghẻ là người cay nghiệt, luôn muốn hành hạ Tấm cho hả giận. Trong gia đình này, Tấm như một người thừa, nói đúng hơn là nô lệ cho hai mẹ con Cám. Cuộc sống ấy hỏi rằng có xứng đáng với cô gái hiền lành, chăm chỉ như Tấm không? Xã hội có lên án hành động và thái độ cư xử của hai mẹ con Cám không. Bởi rằng xã hội phong kiến lúc đó nhiều bất công và nước mắt, kẻ mạnh thì thắng, kẻ yếu thì chỉ mãi không ngóc đầu lên được.
Tấm sau nhiều lần hóa kiếp thành chim vàng anh, cây xoan, khung cửi, quả thị đều bị mẹ con Cám tìm mọi cách để “giết” đến cùng. Khi còn sống và khi đã chết, hộ đều không tha cho Tấm. Hỏi rằng có hành động nào tàn bạo hơn thế nữa không.
Bởi vậy, chúng ta có thể khẳng định được răng hành động trả thù của Tấm là nhân quả cho những gì mà mẹ con Cám đã gieo rắc, đã làm với Tấm trước đây. Cái ác là bản chất, nếu nó tồn tài thì còn khủng khiếp hơn gấp trăm vạn lần. Sự phẫn nỗ của Tấm đã dồn nén ở cách trả thù. Họ đã ép Tấm phải ra tay như vậy. Không hề quá đáng chút nào.
Tấm trải qua bao nhiêu biến cố đã thực sự gan dạ, dũng cảm, thực sự nhận ra được rằng không nên nhẹ dạ cả tin. Cái ác nếu không tiêu diệt thì sẽ vẫn luôn tồn tại ở đó, không hề biến mất. Bởi thế hành động trả thù bằng cách dội nước sôi vào Cám, chặt đầu, làm thành mắm gửi cho gì ghẻ hoàn toàn không có gì sai. Mọi thứ khi đã đi quá giới hạn thì không còn con đường nào khác là tiêt diệt, là trừ khử. Khát vọng muôn đời của mỗi con người chính là vươn lên những gia trị tốt đẹp nhất, và Tấm cũng vậy, cô muốn chính tay mình trừ khử cái ác, không để lại một mầm mống để nảy nở.
Thực ra trong hành động của Tấm đã có chút nhân đạo. Tấm chỉ giết mỗi Cám, còn mụ gì ghẻ thì Tấm không giết. Có thể nói đây là sự trừng phạt cực lỳ lớn dành cho gì ghẻ. Nhớ lại cách trả thù của ông trời trong truyện Thạch Sanh, mẹ con Lý Thông bị ông trời trừng trị. Nhưng ở đây, không phải ông trời trừng trị mà do chính những người đã từng bị áp bức trừng trị. Đây là sự chuyển biến mới và ý thức mới của con người. Chính tay người bị hãm hãi trừng trị người hãm hại là một điều hợp lý. Bởi vậy Tấm không có gì là sai.
Như vậy, có thể nói hành động trả thù của Tấm là hành động đáng làm và đáng khen, không hề đáng trách. Con người luôn cần phải biết mạnh mẽ hơn sau nhiều biến cố.
|
Literary essay on Tam's act of revenge
Instruct
Topic: Literary essay on Tam's act of revenge - grade 12 literature.
Assignment
The ending of the Tam Cam story has always caused a lot of controversy among public opinion. Because from an exemplary person like Tam comes such a brutal and cruel way of revenge. Is Tam's revenge action right or wrong? Does it prove that after so many ups and downs, she has become selfish and cruel? Does this action make you think differently about the gentle character Tam?
The character Tam is portrayed as a gentle, beautiful, hard-working, talented girl living with her stepmother and Cam. Tam's life was a series of bitter days, being estranged, exploited, and cursed badly. Many injustices came to Tam, but she remained silent, held back, and endured it because scabies was a bitter person, always wanting to torture Tam to relieve her anger. In this family, Tam is like an extra person, or more accurately, a slave to Cam and her mother. That life asks is it worthy of a gentle, hard-working girl like Tam? Does society condemn the actions and attitudes of Cam and her mother? Because feudal society at that time had many injustices and tears, the strong won, but the weak could never raise their heads.
After many incarnations, Cam's mother and son transformed into an oriole, a bamboo tree, a loom, and a fruit, all of which Cam and her mother tried to "kill" to the end. When he was alive and when he died, they did not forgive Tam. Ask if there is any more brutal act than that.
Therefore, we can confirm that Tam's act of revenge is the cause and effect for what Cam and her mother sowed and did to Tam before. Evil is nature, if it existed it would be a hundred thousand times more terrible. Tam's anger was focused on revenge. They forced Tam to act like that. Not excessive at all.
Having gone through so many incidents, he was truly brave and courageous, and truly realized that one should not be gullible. If evil is not destroyed, it will always exist there and will never disappear. Therefore, the act of revenge by pouring boiling water on Cam, cutting off his head, and making fish sauce to send to the scabies is absolutely nothing wrong. Once everything has gone beyond its limit, there is no other way but to destroy it. The eternal desire of every human being is to rise to the best values, and so is Tam, she wants to eliminate evil with her own hands, not leaving a single seed to grow.
In fact, Tam's actions were a bit humane. Tam only killed Cam, and Tam did not kill any scabies. It can be said that this is an extremely harsh punishment for scabies. Recalling God's revenge in the story Thach Sanh, Ly Thong and her mother were punished by God. But here, it is not God who punishes, but the people who have been oppressed. This is a new transformation and new human consciousness. It is reasonable for the person who is being framed to punish the person who harmed them. Therefore, there is nothing wrong with Tam.
Thus, it can be said that Tam's act of revenge is a worthy and praiseworthy action, not blameworthy. People always need to become stronger after many events.
|
Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc
Hướng dẫn
Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc
Bài làm
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bộc lộ rõ được tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người vợ nhớ chồng ra trận trinh chiến và thể hiện rõ được nghệ thuật miêu tả tâm trạng của hai tác giả Đặng – Đoàn, trong đó không thể không nhắc đến nghệ thuật diễn Nôm đặc sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Bức tâm tình người chinh phụ trong đoạn trích này thể hiện rõ nỗi nhớ mong chồng, khao khát một cuộc sống gia đình bình dị, yên ấm và ước mong một ngày vợ chồng đoàn tụ.
Trong toàn bộ tác phẩm chinh phụ ngâm tâm tình người phụ nữ được tác giả diễn tả đặc sắc tinh tế đó là tâm tình người chinh phụ nhớ mong chồng khao khát cuộc sống gia đình bình dị, ước mong về ngày đoàn tụ vợ chồng. Đó là khát vọng của biết bao người phụ nữ trong xã hội đang phải sống trong cảnh loạn lạc, chiến tranh liên miên. Đoạn trích ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” cho ta thấy rõ tâm trạng người phụ nữ thông qua nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của tác giả Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm.
Tình cảnh nổi bật của người phụ nữ nói chung, chinh phụ nói riêng đó là: Cô đơn, chống vắng, lẻ loi. Người chinh phụ xuất hiện như có như không, như tỉnh, như thức trong từng bước đi từng động tác trong mối quan hệ không gian và thời gian.
” Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
Trong những câu thơ đầu hình ảnh quan trọng được tô đậm nhấm mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn, người chinh phụ ngồi rèm thưa mà trông ra ngoài đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu, cuộc sống nơi trong rèm, ngoài rèm hiên vắng chính là cuộc sống nơi phòng khêu. Là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng mà người chinh phụ phải chịu đựng đó cũng là sự trói buộc của xã hội của tất cả người phụ nữ trong xã hội Nam quyền xưa.
Dưới hình thức câu hỏi tu từ nhưng lại nhấn mạnh khoảng thời gian đêm khuya đèn sáng làm tôn thêm vẻ vắng lặng cô đơn người chinh phụ. Hình ảnh đèn và bóng người trong câu thơ gợi ta nhớ hình ảnh Vũ Nương trong chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ. Nhưng nếu như bóng nàng Vũ Nương trên tường mỗi khi đêm về là đối tượng để nàng trò truyện với con để gắn kết tình cha con của bé Đân thì hình ảnh bóng người khá thương trong câu thơ càng tô đậm tình cảm đau khổ người chinh phụ một mình đối diện với chính mình. Hai cuộc đời hai số phận nhưng họ đều chung cảnh ngộ trông ngóng người chồng đi đánh trận từ đó thấy rằng thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia hiện lên đáng thương, đáng sẻ chia họ như mất hết sức sống, đã bị vật hóa tựa như tàn đèn cháy để kết lại đầu, bấc. Bây giờ họ chỉ là bóng người là hiện thân kiếp hoa đèn tàn lụi.
Ngay cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tai thương chập chờn bất định không dễ nắm bắt với ” Tiếng gà eo óc gáy xương năm trống” rồi ” hè phất phơ rả bóng bốn bên thời gian trôi đi người chinh phụ không chỉ chờ đợi ngóng chông ban ngày, ngay cả đêm khuya nàng vẫn nhớ nung sâu muội.
” Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trong sự chờ đợi người chinh phụ thấy một khoảng thời gian nhắn một khắc, một giờ mà dài như một năm mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang những từ láy đằng đắng rải rác tạo âm điệu buồn thương, ngàn xa như tiếng thở dài người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng nếu người thiếu phụ TQ. Trong ” Nỗi oán người phòng khuê” bước lên lầu để ngóng chồng, trang điểm, nhìn màu dương liễu hối hận để chồng đi, thì người chinh phụ trong chinh phụ ngâm đã tìm đến những việc làm để vơi đi nỗi nhớ chồng, hương gượng đốt, gương nguội soi…nàng còn rơi vào cảnh bi thảm hơn người thiếu phụ TQ. Khi mà nàng mang tìm được sự thanh thản nhưng kết quả Hồn đà mê man, lệ chứa chan, gượng gảy đàn những lo sợ… rõ ràng vì nhớ thương mong ngóng chồng mà khiến người chinh phụ thêm sót xa lo lắng, tâm trạng ấy cứ đan xen đeo bám nàng. Khiến nàng càng đau khổ, vô vọng.
” Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Câu hỏi tu từ kết hợp cử chỉ trân trọng đã thể hiện tình cảm thiêng liêng trong lòng người chinh phụ, hình ảnh ước lệ: Non yên địa danh Trung Quốc. Kết hợp từ ngữ: Cò tiến, nghìn vàng, xin. Khiến cách biểu đạt trang trọng cổ kính và thể hiện sự nhún mình, năn nỉ người chinh phụ nhưng câu thơ sau đó lại như phủ nhận ước vọng của nàng.
” Non Yên dù chẳng tới miền” để rồi nàng lại trở về với nỗi nhớ và nỗi nhớ ấy tràn ra cả không gian rộng lớn nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời trong hình ảnh khoa trương có cả thời gian thường nhớ đằng đẵng có cả không gian chia li rộng lớn mà chỉ kích thước vũ trụ đường lên bằng trời mới sánh kịp nhưng thời gian đằng đẵng, không gian xa cách vô tận chính là đã khắc họa sâu hơn nỗi cô đơn trong lòng người chinh phụ.
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”.
Mỗi từ ngữ trong câu thơ đều thấm đẫm tâm trạng người chinh phụ thăm thẳm gợi độ sâu, cao nỗi nhớ và nó còn ngầm ý oán trách từ đau đáu như thể hiện sự dõi nhìn tập chung cao độ cùng nỗi đau, thèm khát trong trái tim yêu thương của người chinh phụ. Những từ láy thuần việt được vận dụng linh hoạt tài tình đã thể hiện tài năng tác giả trong việc hiện thực hóa cung bậc trạng thái cảm xúc người chinh phụ.
” Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”.
Câu thơ gợi chúng ta nhớ đến một câu ” Người buồn cảnh đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tác giả chinh phụ ngâm đã nói lên hiện tượng cụ thể nỗi lòng hoàn toàn phơi bày ra ngoài cảnh vật. Cành cây sương đượm đã buốt giá, tiếng trùng đã ảo não lại còn mưa phun càng thêm giá buốt. Âm thanh một cõi lòng hòa âm thanh cảnh vật tâm trạng và tình cảnh người chinh phụ đã lẩn khuất trong hình ảnh âm điệu thiên nhiên, sao động lòng người.
Trên phương diện nghệ thuật thể thơ song thất lục bát với kiểu kết hợp hai câu bảy chữ kiểu đường thi cảm xúc đăng đối và câu thơ lục bát truyền thốn giàu âm điệu gợi cảm, gợi hình đã tạo nhịp điệu buồn thương man mát nỗi dài không riết trong tâm trạng người chinh phụ sự kết hợp hình ảnh từ ngữ mang tính biểu tượng đường thi với từ ngữ thuần việt giàu sắc thái biểu cảm tạo nét độc đáo cho thơ chung, chinh phụ ngâm riêng.
Đoạn trích là tiếng kêu thương người phụ nữ chờ chồng nhớ thương người chồng trinh chiến phương xa, tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong cảnh chờ đợi thời gian đằng đẵng, không gian trống vắng bủa vây bốn bề cuộc sống vô vị mất sinh khí ở đó người phụ nữ sống trong cô đơn mất niềm tin, vui sống và không có trên hệ gắn bó cuộc đời rộng lớn đó chính là tình cảm người phụ nữ một thời qua đó tác giả tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và bao nhiêu người chinh phụ tựa cửa đợi chồng. Mặt khác tác phẩm còn lên tiếng nói đòi quyền sống hạnh phúc lứa đôi người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế. Đó chính là giá trị hiện thực nhân đạo mà tác phẩm thể hiện thành công.
|
Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc
Hướng dẫn
Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc
Bài làm
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bộc lộ rõ được tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người vợ nhớ chồng ra trận trinh chiến và thể hiện rõ được nghệ thuật miêu tả tâm trạng của hai tác giả Đặng – Đoàn, trong đó không thể không nhắc đến nghệ thuật diễn Nôm đặc sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Bức tâm tình người chinh phụ trong đoạn trích này thể hiện rõ nỗi nhớ mong chồng, khao khát một cuộc sống gia đình bình dị, yên ấm và ước mong một ngày vợ chồng đoàn tụ.
Trong toàn bộ tác phẩm chinh phụ ngâm tâm tình người phụ nữ được tác giả diễn tả đặc sắc tinh tế đó là tâm tình người chinh phụ nhớ mong chồng khao khát cuộc sống gia đình bình dị, ước mong về ngày đoàn tụ vợ chồng. Đó là khát vọng của biết bao người phụ nữ trong xã hội đang phải sống trong cảnh loạn lạc, chiến tranh liên miên. Đoạn trích ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” cho ta thấy rõ tâm trạng người phụ nữ thông qua nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của tác giả Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm.
Tình cảnh nổi bật của người phụ nữ nói chung, chinh phụ nói riêng đó là: Cô đơn, chống vắng, lẻ loi. Người chinh phụ xuất hiện như có như không, như tỉnh, như thức trong từng bước đi từng động tác trong mối quan hệ không gian và thời gian.
” Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
Trong những câu thơ đầu hình ảnh quan trọng được tô đậm nhấm mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn, người chinh phụ ngồi rèm thưa mà trông ra ngoài đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu, cuộc sống nơi trong rèm, ngoài rèm hiên vắng chính là cuộc sống nơi phòng khêu. Là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng mà người chinh phụ phải chịu đựng đó cũng là sự trói buộc của xã hội của tất cả người phụ nữ trong xã hội Nam quyền xưa.
Dưới hình thức câu hỏi tu từ nhưng lại nhấn mạnh khoảng thời gian đêm khuya đèn sáng làm tôn thêm vẻ vắng lặng cô đơn người chinh phụ. Hình ảnh đèn và bóng người trong câu thơ gợi ta nhớ hình ảnh Vũ Nương trong chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ. Nhưng nếu như bóng nàng Vũ Nương trên tường mỗi khi đêm về là đối tượng để nàng trò truyện với con để gắn kết tình cha con của bé Đân thì hình ảnh bóng người khá thương trong câu thơ càng tô đậm tình cảm đau khổ người chinh phụ một mình đối diện với chính mình. Hai cuộc đời hai số phận nhưng họ đều chung cảnh ngộ trông ngóng người chồng đi đánh trận từ đó thấy rằng thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia hiện lên đáng thương, đáng sẻ chia họ như mất hết sức sống, đã bị vật hóa tựa như tàn đèn cháy để kết lại đầu, bấc. Bây giờ họ chỉ là bóng người là hiện thân kiếp hoa đèn tàn lụi.
Ngay cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tai thương chập chờn bất định không dễ nắm bắt với ” Tiếng gà eo óc gáy xương năm trống” rồi ” hè phất phơ rả bóng bốn bên thời gian trôi đi người chinh phụ không chỉ chờ đợi ngóng chông ban ngày, ngay cả đêm khuya nàng vẫn nhớ nung sâu muội.
” Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trong sự chờ đợi người chinh phụ thấy một khoảng thời gian nhắn một khắc, một giờ mà dài như một năm mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang những từ láy đằng đắng rải rác tạo âm điệu buồn thương, ngàn xa như tiếng thở dài người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng nếu người thiếu phụ TQ. Trong ” Nỗi oán người phòng khuê” bước lên lầu để ngóng chồng, trang điểm, nhìn màu dương liễu hối hận để chồng đi, thì người chinh phụ trong chinh phụ ngâm đã tìm đến những việc làm để vơi đi nỗi nhớ chồng, hương gượng đốt, gương nguội soi…nàng còn rơi vào cảnh bi thảm hơn người thiếu phụ TQ. Khi mà nàng mang tìm được sự thanh thản nhưng kết quả Hồn đà mê man, lệ chứa chan, gượng gảy đàn những lo sợ… rõ ràng vì nhớ thương mong ngóng chồng mà khiến người chinh phụ thêm sót xa lo lắng, tâm trạng ấy cứ đan xen đeo bám nàng. Khiến nàng càng đau khổ, vô vọng.
” Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Câu hỏi tu từ kết hợp cử chỉ trân trọng đã thể hiện tình cảm thiêng liêng trong lòng người chinh phụ, hình ảnh ước lệ: Non yên địa danh Trung Quốc. Kết hợp từ ngữ: Cò tiến, nghìn vàng, xin. Khiến cách biểu đạt trang trọng cổ kính và thể hiện sự nhún mình, năn nỉ người chinh phụ nhưng câu thơ sau đó lại như phủ nhận ước vọng của nàng.
” Non Yên dù chẳng tới miền” để rồi nàng lại trở về với nỗi nhớ và nỗi nhớ ấy tràn ra cả không gian rộng lớn nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời trong hình ảnh khoa trương có cả thời gian thường nhớ đằng đẵng có cả không gian chia li rộng lớn mà chỉ kích thước vũ trụ đường lên bằng trời mới sánh kịp nhưng thời gian đằng đẵng, không gian xa cách vô tận chính là đã khắc họa sâu hơn nỗi cô đơn trong lòng người chinh phụ.
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”.
Mỗi từ ngữ trong câu thơ đều thấm đẫm tâm trạng người chinh phụ thăm thẳm gợi độ sâu, cao nỗi nhớ và nó còn ngầm ý oán trách từ đau đáu như thể hiện sự dõi nhìn tập chung cao độ cùng nỗi đau, thèm khát trong trái tim yêu thương của người chinh phụ. Những từ láy thuần việt được vận dụng linh hoạt tài tình đã thể hiện tài năng tác giả trong việc hiện thực hóa cung bậc trạng thái cảm xúc người chinh phụ.
” Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”.
Câu thơ gợi chúng ta nhớ đến một câu ” Người buồn cảnh đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tác giả chinh phụ ngâm đã nói lên hiện tượng cụ thể nỗi lòng hoàn toàn phơi bày ra ngoài cảnh vật. Cành cây sương đượm đã buốt giá, tiếng trùng đã ảo não lại còn mưa phun càng thêm giá buốt. Âm thanh một cõi lòng hòa âm thanh cảnh vật tâm trạng và tình cảnh người chinh phụ đã lẩn khuất trong hình ảnh âm điệu thiên nhiên, sao động lòng người.
Trên phương diện nghệ thuật thể thơ song thất lục bát với kiểu kết hợp hai câu bảy chữ kiểu đường thi cảm xúc đăng đối và câu thơ lục bát truyền thốn giàu âm điệu gợi cảm, gợi hình đã tạo nhịp điệu buồn thương man mát nỗi dài không riết trong tâm trạng người chinh phụ sự kết hợp hình ảnh từ ngữ mang tính biểu tượng đường thi với từ ngữ thuần việt giàu sắc thái biểu cảm tạo nét độc đáo cho thơ chung, chinh phụ ngâm riêng.
Đoạn trích là tiếng kêu thương người phụ nữ chờ chồng nhớ thương người chồng trinh chiến phương xa, tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong cảnh chờ đợi thời gian đằng đẵng, không gian trống vắng bủa vây bốn bề cuộc sống vô vị mất sinh khí ở đó người phụ nữ sống trong cô đơn mất niềm tin, vui sống và không có trên hệ gắn bó cuộc đời rộng lớn đó chính là tình cảm người phụ nữ một thời qua đó tác giả tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và bao nhiêu người chinh phụ tựa cửa đợi chồng. Mặt khác tác phẩm còn lên tiếng nói đòi quyền sống hạnh phúc lứa đôi người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế. Đó chính là giá trị hiện thực nhân đạo mà tác phẩm thể hiện thành công.
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.