vi
stringlengths
846
10.5k
en
stringlengths
799
10.5k
Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích Hướng dẫn Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích Hiện nay qua thực tế ta nhận thấy có nhiều bạn còn mải chơi, bỏ học ở lớp để đánh điện tử, về nhà không chịu ôn bài. Hơn thế các bạn còn có thái độ học tập chưa nghiêm túc và tự giác, nhiều bạn coi việc học là nghĩa vụ nặng nề mà bố mẹ đã giao cho, cho nên học theo kiểu đối phó, học cho xong. Có thể nói đây là một vấn đề cần được xem xét bởi việc chểnh mảng học hành của các bạn sẽ ảnh hưởng, rất lơn đến tương lai sau này. Bởi như chúng ta đã biết, ai sinh ra và lớn lên cũng mong muốn sau này mình sẽ làm được điều gì đó có ích cho bản thân cho gia đình cho xã hội. Tuy nhiên để làm được điều đó con người cần có tri thức, mà tri thức lại là một lĩnh vực đòi mỗi người phải cố gắng, chăm chỉ học hỏi. Và học tập là một quá trình tích luỹ lâu dài từng bước, và theo một hệ thống từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, để làm tốt điều đó người học sinh phải học tập chăm chỉ từ khi bắt đầu ngồi trên ghế nhà trường, từ những năm học đầu tiên bởi các lớp dưới bao giờ cũng là gốc rễ, là tri thức nền tảng cơ bản. Nếu không nắm bắt được kiến thức cơ bản thì học càng cao càng không hiểu bài, người ta thường ví việc học đó như cây không có rễ. Và đối với mỗi con người, thời gian dành cho học tập có thể là suốt đời nhưng học ở trường lớp để tiếp thu những kiến thức cơ bản thì chỉ có một khoảng thời gian nhất định nó phù hợp với lứa tuổi. Chẳng thế mới có chuyện có rất nhiều người sau này lớn lên không nghề nghiệp bởi ngày xưa đi học thì mải chơi không chịu học nên giờ tiếc nuối, nhưng lúc đó đã quá lớn làm sao dám đi học lại cấp 2, cấp 3. Vậy nên nếu không nhận thức vấn đề học tập một cách nghiêm túc chắc chắn sau này có hối tiếc cũng không kịp nữa. Vậy nên khi còn học phổ thông phải chú ý học tập ngay từ đầu để tránh tình trạng rỗng kiến thức, bởi khi kiến thức đã rỗng rồi sẽ không nắm được các bài học tiếp theo, từ đó nảy sinh tâm lí chán học bởi thấy càng học càng không hiểu và dễ bỏ học lúc nào thuận lợi. Thường ngày chúng ta bắt gặp rất nhiều người phải làm việc vất vả, quần quật cả ngày: lẫn đêm bằng tay chân thế nhưng cuộc sống vẫn khó khăn, mà nếu xét nguyên nhân sâu xa đó là do họ chưa có đủ tri thức khoa học. Còn nếu muốn học tốt thì việc làm đầu tiên là phải chăm chỉ nghe cô giáo giảng ở trên lớp, về nhà học lại bài cũ, làm bài tập, chuẩn bị bài cho buổi học tiêp theo và đặc biệt phải luôn cố gắng tập trung suy nghĩ theo ý tưởng của mình thì việc học mới đem lại kết quả cao, bởi cách học theo ý sáng tạo của mình sẽ giúp ta nhớ lâu và phát huy được trí thông minh vốn có trong mỗi con người. Và tích lũy tri thức là một quá trình cần mẫn lâu dài bởi thế chỉ cần chăm chỉ chịu khó suy nghĩ tìm tòi thì Có công mài sắt có ngày nên kim, chắc chắn sau một thời gian chăm chỉ ta sẽ có một lượng kiến thức vững chắc. Người ta thường nói thiên tài là do 99 % sự chăm chỉ còn chỉ có 1% là do thông minh bẩm sinh. Do vậy ai cũng có thể trở thành thiên tài nếu bạn thật sự cố gắng chuyên tâm vào việc học tập, tất nhiên sự chăm chỉ đó đòi hỏi phải có tính khoa học và sáng tạo. Còn nếu chỉ chăm chỉ học thuộc những lời cô giáo một cách máy móc thì việc học đó sẽ chỉ như con vẹt học nói. Từ đó ta nhận thấy đối với mỗi học sinh chúng ta, những người chủ trong tương lai cần có một khối lượng tri thức để tào dựng cho mình một tương lai vững chắc và để có thể làm tốt được điều đó con đương duy nhất của chúng là phái học tập sao cho thật tốt. Điều đó vô cùng quan trọng để trước tiên thể hiện lòng hiếu thảo với cha mẹ tiếp đến là tạo hành trang vững chắc vào đời. Do đó việc học tập đối với chúng ta, những học sinh đang cắp sách đến là vô cùng quan trọng.
If we don't study hard when we're young, we won't be able to do anything useful when we grow up Instruct If we don't study hard when we're young, we won't be able to do anything useful when we grow up Nowadays, in practice, we realize that many people are still busy playing, skipping class to play games, and when they come home they don't study. Moreover, they still have a less serious and self-aware attitude towards learning. Many of them consider studying to be a heavy duty that their parents have assigned to them, so they learn in a coping style and finish their studies. It can be said that this is an issue that needs to be considered because neglecting your studies will greatly affect your future. Because as we know, everyone who is born and raised wants to be able to do something useful for themselves, their family, and society in the future. However, to do that, people need knowledge, and knowledge is a field that requires each person to try and study hard. And learning is a long-term cumulative process step by step, and follows a system from low to high, from easy to difficult. To do well, students must study hard from the moment they start sitting at home. school, from the first years of school because the lower grades are always the root, the basic foundation knowledge. If you don't grasp the basic knowledge, the higher you study, the more you won't understand the lesson. People often compare learning to a tree without roots. And for each person, the time spent studying can be lifelong, but studying in school to acquire basic knowledge is only a certain period of time that is appropriate for the age group. That's why there are so many people who later grow up without a job because in the past when they went to school, they were too busy playing and didn't study, so now they regret it, but at that time they were too old to dare to go back to middle school or high school. So if you don't take learning seriously, you will definitely regret it later. So when you are in high school, you must pay attention to studying from the beginning to avoid the situation of empty knowledge, because when the knowledge is empty, you will not be able to grasp the next lessons, thereby creating a psychology of boredom in studying because you feel bored. The more you study, the more you don't understand and it's easy to drop out of school when it's convenient. Every day we come across many people who have to work hard all day and night with their hands and feet, but life is still difficult, and if we look at the root cause, it is because they do not have enough scientific knowledge. learn. If you want to study well, the first thing to do is to listen carefully to the teacher in class, go home and re-study old lessons, do homework, prepare lessons for the next lesson and especially always try to concentrate. Only by thinking according to our ideas will learning bring high results, because learning according to our own creativity will help us remember for a long time and promote the intelligence inherent in each person. And accumulating knowledge is a long-term, diligent process, so as long as you work hard and think hard, you will get success with hard work. Surely after a period of hard work, you will have a certain amount of knowledge. steady. People often say that genius is 99% hard work and only 1% is innate intelligence. Therefore, anyone can become a genius if you really try to focus on studying. Of course, that hard work requires science and creativity. If you just diligently memorize the teacher's words mechanically, that learning will be just like a parrot learning to speak. From there, we realize that for each of us students, future employers, we need a certain amount of knowledge to build a solid future for ourselves, and to be able to do that well is our only path. They are the sect to study well. It is extremely important to first show filial piety to your parents and then create a solid foundation for life. Therefore, studying for us, incoming students, is extremely important.
Nếu là ông lão đánh cá trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thê’ nào? Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG A. MỞ BÀI Tự giới thiệu nhân vật ở ngôi thứ nhất – ngôi “tôi”. Nói rõ vài nét vẻ quê hương, gia cảnh như trong truyện kể. B. THÂN BÀI Kể lại câu chuyện đánh cá của ông lão ở ngôi thứ nhất, giữ đúng cốt truyện và tình tiết, xen kẽ miêu tả và phát biểu suy nghĩ một cách hợp lí. C. KẾT BÀI Rút ra bài học, viết tiếp ngắn gọn diễn biến sau khi truyện kể đã kết thúc. Nếu là ông lão đảnh cả trong truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thế nào? BÀI LÀM Vợ chồng tôi sinh sống ngay trên bờ biển. Suốt ngày tôi đi đánh cá còn bà lão ở nhà kéo sợi. Cuộc sống của chúng tôi tuy nghèo nhưng hạnh phúc. Tôi chẳng ước ao gì hơn khi gần cuối đời được sống thanh thản. Song sự đời đâu chiều theo ý muốn của con người dù con người đã cam chịu. Có một chuyện xảy ra khiến cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi. Hôm đó tôi ra biển đánh cá, vợ tôi ở nhà kéo sợi như thường lệ. Tôi thả lưới lần đầu tiên chỉ thấy rong biển, lần thứ hai trong lưới chỉ có một con cá vàng. Tôi định bắt con cá thì… lạ chưa, cá cất tiếng kêu vang: Tôi rất ngạc nhiên, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay tôi chưa bao giờ thấy một con cá nào biết nói như vậy, song tôi vẫn thả nó xuống sông và nói: – Trời phù hộ cho ngươi, ngươi trở về biển khơi mà vùng vẫy. Ta không đòi gì cả, ta cũng chẳng cần gì! Về nhà tôi đem chuyện đó kể cho vợ tôi nghe, không ngờ bà lão mắng: – Đồ ngốc, sao không bắt con cá vàng đền cái gì? Đòi một cái máng cho lợn ăn không được à? Cái máng nhà ta gần vỡ rồi! Tôi nghĩ cũng phải, liền đi ra biển, biển gợn sóng êm ả. Tôi cất tiếng gọi, cá vàng bơi lên hỏi: – Ông lão ơi, ông cần gì thế? Tôi chào và nói: – Vợ tôi muốn một cái máng mới, cái máng nhà tôi đã sứt mẻ cả rồi. Cá trả lời: “Ông lão cứ về đi, đừng băn khoăn gì cả. Tôi sẽ giúp ông, ông sẽ có một cái máng mới”. Tôi về đến nhà, vợ tôi đã có cái máng mới thật, nhưng vừa trông thấy mặt tôi mụ đã quát to: Đồ ngu, đòi một cái máng thật à? Một cái máng thì thấm vào đâu, đi tìm con cá đòi một cái nhà. Thế rồi mụ càu nhàu, té tát mãi, không chịu được tôi đành đi ra biển. Biển xanh đã nổi sóng. Tôi cất tiếng gọi cá, cá bơi lên hỏi: – Cá ơi, giúp tôi với! Mụ vợ mắng tôi nhiều hơn, chẳng để tôi yên chút nào. Mụ đòi một tòa nhà đẹp. Cá vàng đáp ngay: – Ông lão đừng bàn khoăn quá! Cứ về đi! ông sẽ có một cái nhà to và đẹp. Trở về nhà, tôi đã thấy mụ vợ ngồi chễm chệ trong căn nhà mới như lời hứa của cá vàng. Nhưng cũng ngay lập tức, mụ nổi giận lôi đình bắt tôi quay trở lại đòi cho mụ được làm nhất phẩm phu nhân. “Mụ thì làm sao có thể thành nhất phẩm phu nhân được kia chứ” Tôi thầm nghĩ. Nhưng vốn đã quen chịu đựng, tôi vẫn đi ra biển. Không ngờ theo yêu cầu của tôi, cá vàng đã làm cho mụ được như ý. Khổ nỗi tôi bị đuổi ra khỏi tòa dinh thự trở thành người quét chuồng ngựa cho vợ từ ngày mụ chán làm nhất phẩm phu nhân mà đòi tôi xin cá bằng được cho mụ làm Nừ hoàng. Được ít tuần làm Nữ hoàng thấy chán, mụ lại gọi tôi đến và bảo: – Mày đi tìm con cá vàng và bảo nó là tao không muốn làm Nữ hoàng nữa, tao muôn làm Long Vương ngự trên biển, để bắt con cá vàng hầu hạ theo ý muốn của tao! Lúc này tôi đã ở vào thế không dám trái ý. Tôi đành lủi thủi đi ra bờ biển. Một cơn giông tố kinh khủng kéo đến, mặt biển nổi sóng ầm ầm. Tôi run run gọi con cá vàng. Con cá bơi lên hỏi: Tôi cúi đầu chào con cá và nói: – Cá ơi giúp tôi với! Thương tôi với. Tôi sống làm sao được với mụ vợ quái ác này! Bây giờ mụ ấy không muốn là Nữ hoàng nữa, mụ ấy muốn làm Long Vương để bắt cá vàng phải hầu hạ làm theo ý muốn của mụ. Vừa nghe nói cá vàng lặng lẽ lặn mất tăm. Tôi chờ mãi vẫn chẳng thấy cá vàng trở lại. Đợi mãi, đợi mãi, tôi đành phải quay về trong lòng vồ cùng lo lắng khi nghĩ đến sự giận dữ còn đáng sợ hơn bão biển của vợ. Nhưng lạ chưa, về đến nơi, tất cả lâu đài nguy nga tôi đã cầu đều biến mất. Trước mắt tôi là túp lều tranh nát khi xưa và mụ vợ đang ngồi quay sợi bên cái máng lợn ăn sứt mẻ. Tội chợt bừng tỉnh. Chỉ tại mụ vợ tham lam vô độ còn tôi thì từ ông chồng nhu nhược thành kẻ nô lệ mới nên cơ sự này. Nhìn thấy tôi, mụ vợ tôi chẳng nói gì, cứ cúi đầu kéo sợi. Tôi cầu trời cho mụ trở lại hiền lành như cũ, để tôi trở lại làm chồng và vợ chồng tôi lại được sống thanh thản như xưa.
If you were the old fisherman in the story "The Old Man and the Goldfish", how would you tell what happened to you? Suggest OUTLINE OF IDEAS A. OPEN LESSON Introduce yourself in the first person - the "I" person. Clearly state some features of the homeland and family background as in the story. B. BODY OF THE ARTICLE Retell the old man's fishing story in the first person, keeping the plot and details correct, alternating descriptions and expressing thoughts appropriately. C. CONCLUSION Draw the lesson, briefly continue writing what happened after the story ended. If you were the old man in the story "The Old Fisherman and the Goldfish", how would you tell what happened to you? ASSIGNMENT My husband and I live right on the beach. I went fishing all day while the old woman stayed at home spinning yarn. Our life is poor but happy. I wish for nothing more than to live peacefully at the end of my life. But life does not conform to human wishes even though people have resigned themselves to it. Something happened that I still remember to this day. That day I went to sea to fish, my wife stayed at home spinning yarn as usual. The first time I cast the net, I only saw seaweed. The second time, there was only one goldfish in the net. I was about to catch the fish when... strangely enough, the fish let out a loud cry: I was very surprised, since the time I was born until now, I have never seen a fish that could talk like that, but I still dropped it into the river and said: – God bless you, you return to the sea and struggle. I don't ask for anything, I don't need anything! When I got home, I told the story to my wife. Unexpectedly, the old woman scolded me: – You idiot, why don't you catch the goldfish to pay for something? Can't you ask for a trough to feed the pigs? Our trough is almost broken! I thought it was right, so I went to the beach, the sea rippled smoothly. I called out, the goldfish swam up and asked: – Old man, what do you need? I greeted and said: – My wife wants a new trough, my trough is completely chipped. Fish replied: "Old man, just go home, don't worry about anything." I will help you, you will have a new trough." When I got home, my wife had a new trough, but as soon as she saw my face she shouted loudly: You idiot, do you really want a trough? A trough won't absorb anything, go find a fish that wants a house. Then she grumbled and slapped her until she couldn't stand it so I went to the beach. The blue sea was churning. I called out to the fish, and the fish swam up and asked: – Fish, help me! The wife scolded me more, not leaving me alone at all. She asked for a beautiful building. The goldfish replied immediately: - Don't worry too much, old man! Just go home! You will have a big and beautiful house. Returning home, I saw my wife sitting in her new house like a goldfish promised. But immediately, she got angry and forced me to come back and demand that she be made a first-class lady. “How can she become a first-class lady?” I thought to myself. But I was used to enduring it, so I still went to the beach. Unexpectedly, at my request, the goldfish did what she wanted. Unfortunately, I was kicked out of the mansion and became the one who cleaned the stables for my wife since the day she got tired of being a first-class lady and asked me to bet on her to be the Queen. After a few weeks of being Queen, she felt bored, so she called me again and said: – Go find the goldfish and tell it I don't want to be Queen anymore, I want to be the Dragon King on the sea, to catch the goldfish to serve my wishes! At this point, I was in a position where I did not dare to disobey. I had to wander to the beach. A terrible storm came, the sea surface roared with waves. I trembled and called the goldfish. The fish swam up and asked: I bowed to the fish and said: – Fish, help me! Love me. How can I live with this evil wife! Now she doesn't want to be the Queen anymore, she wants to be the Dragon King to make the goldfish serve her wishes. Just heard that the goldfish quietly disappeared. I waited forever and still didn't see the goldfish return. Waiting forever, waiting forever, I had to return to my heart filled with anxiety when thinking about my wife's anger that was scarier than a storm at sea. But strangely enough, when I got there, all the magnificent castles I had prayed for had disappeared. Before my eyes is the old ruined thatched hut and the wife is sitting spinning next to the chipped pig trough. Sin suddenly woke up. It's only because the wife was so greedy and I turned from a weak husband into a slave that this happened. Seeing me, my wife said nothing, just bowed her head and spun. I prayed to God that she would return to being as gentle as before, so that I could become a husband again and my husband and I could live peacefully like before.
Nếu một ngày, có người đến gõ cửa nhà em… Hãy tưởng tượng và viết tiếp – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Nếu một ngày Bài làm Cuộc sống, một khái niệm rất trừu tượng. Đó có thể là một vở diễn nghệ thuật mà trong ấy, mỗi chúng ta là một người nghệ sĩ. Và vai trò của diễn viên là đem hết khả năng, công sức, tâm huyết vào tròn vai, để đến khi hạ màn, mỗi khán giả đều đứng bật dậy trầm trồ khen ngợi và cả khán đài tràn ngập tiếng vỗ tay. Cuộc sống cũng có thể là một bản giao hưởng. Dù là một bản hoà tấu nhiều chương hay một bài độc tấu ngắn thì mỗi nốt nhạc, mỗi giai điệu đều ngập tràn cảm xúc. Đó có thể là những nốt xướng cao hoặc xướng thấp, gam trầm hay gam bổng; đó có thể là đoạn điệp khúc hay dạo đầu, thậm chí là những khoảng nhạc lặng. Mỗi một nốt nhạc, một giai điệu đều như một phần của cuộc sống mà trong những phần nhỏ ấy, ta cảm nhận được những âm thanh du dương, tinh tế. Cuộc sống muôn màu như một bức tranh rực rỡ. Đôi khi, ta cảm thấy dường như giữa ta và cuộc sống là một cánh cửa. Cánh cửa ấy dẫn ta tới nhiều những vai diễn, những nốt nhạc, những bức vẽ khác nhau và quan trọng là ta đối mặt thế nào trước những tiếng gõ cửa mời gọi đầy khiêu khích và thử thách. Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Đó là một buổi sáng ngày nghỉ, sau một tuần dài căng thẳng và mệt mỏi trong nhịp sống hối hả, bạn quý giá từng phút giây được thư giãn. Tiếng gõ cửa làm phiền những giờ phút yên tĩnh mà bạn hằng mong mỏi suốt tuần qua. Và nếu đó là một người mà bạn muốn gặp, thì có thể coi đó là niềm an ủi. Thế nhưng cánh cửa bật mở và hiện ra, dưới ánh nắng rực lửa của một ngày hè nóng nực, là hình ảnh một người đàn ông ăn vận rách rưới, toàn thân toả ra một mùi hương khó chịu. Ông ấy đi chân trần trên nền đường được nung như nóng chảy mà ngay cả bản thân bạn cũng đang phải tự bảo vệ đôi chân của mình bằng một đôi dép nhựa cách nhiệt. Toàn bộ thân hình còi cọc của ông tan đi trong cái nắng như thiêu như đốt của mùa hè khắc nghiệt. Ông ta run rẩy, môi mấp máy: “Thưa cô,…tôi xin lỗi vì đã làm phiền cô như thế này… nhưng liệu cô có thể cho tôi một chút gì để ăn hay không?”. Tiếng nói của ông thều thào, nhưng đủ để bạn nghe được trong tiếng còi rít inh ỏi ngoài đường. Bạn tức giận, tất cả sức lực dường như chỉ muốn dồn vào cánh cửa kia. Khao khát được đóng sập cánh cửa ấy của bạn cháy bỏng như những tia nắng đang thiêu đốt ngoài kia. Thế nhưng hãy bình tĩnh, nếu bạn đã từng gặp trường hợp ấy, thì John Evans cũng vậy. Đó cũng là một ngày nóng nực, khó chịu. Càng đau đớn hơn, hôm ấy là đúng ba ngày sau cái chết của vợ anh, sau 17 năm chung sống. Nhìn tổ ấm của mình tan hoang như một bãi chiến trường, hẳn John Evans cũng rất muốn được yên tĩnh, giống như bạn. Thế nhưng một người ăn xin đã nở một nụ cười tươi rói và nhẹ nhàng hỏi xin sự giúp đỡ của anh. John, sau một hồi tranh cãi và vô cùng mệt mỏi bởi ông lão ấy, đã quyết định mở tủ lạnh để kiếm một chút gì đó cho ông. Kinh hoàng thay, khi mà cánh cửa tủ bật mở, hình ảnh cô con gái ba tuổi nằm co ro trong tủ lạnh chỉ vì muốn chiến thắng trong trò chơi trốn tìm khiến cho ai nấy đều lạnh sống lưng. Và chính ông lão hôm ấy, cũng có lẽ là chính lòng tốt của John đã cứu sống con gái anh. Câu chuyện của John Evans không chỉ là một câu chuyện tầm thường. Nó đem đến cho bạn và tôi thật nhiều suy nghĩ, về cuộc sống của ta, về cách mà ta đối xử với đồng loại trong cơn hoạn nạn. Vậy nếu bạn nghe thấy tiếng gõ cửa và người ở bên ngoài cánh cửa là một người ăn xin, đừng vội tức giận và hãy nhớ tới câu nói của triết gia người Mĩ Ralph Waldo Emerson: “Một trong những phần thưởng cao đẹp nhất của cuộc sống là không có một người nào chân thành giúp đỡ người khác mà lại không nhận được một điểu gì đó cho chính bản thân mình”. Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Lúc ấy, bạn đang say giấc nồng trong chiếc chăn ấm áp. Bên ngoài kia, gió rét giật từng cơn, rít lên nghe lạnh thấu xương. Bạn chỉ mong muốn được vùi mình trong lớp mền ấm áp, và mơ về những giấc mơ thật ngọt ngào sau một ngày dài chống chọi lại với cái lạnh. Thế nhưng cuộc sống không có gì là hoàn hảo cả. Và giấc ngủ ngon cùng những giấc mơ tuyệt vời bị phá vỡ bởi tiếng gõ cửa. Cửa sắt cót két rung lên từng hồi hoà vào tiếng gió rít nghe thật khó chịu. Bạn bỏ mặc những âm thanh ấy và cố vùi đầu vào gối để được yên lặng. Âm thanh cót két vang lên từng hồi ngày càng yếu ớt nhưng vô cùng dai dẳng. Sự tức giận tràn ngập trong cảm giác mệt mỏi vô tận. Bạn kéo lê từng bước chân xuống cầu thang lạnh lẽo để tới bên cánh cửa sắt lạnh như băng đá. Chỉ riêng việc cầm vào nắm cửa cũng đủ làm bạn cảm thấy uể oải. cảm giác lạnh lẽo như thấu tận tim gan. Thế nhưng để đánh đổi cho sự yên tĩnh, bạn mở cánh cửa và thấy một người đàn bà già đang yếu ớt đập vào khung cửa. Ngay khi cánh cửa bật mở, bà lão ấy thả lỏng đôi tay và thều thào: “Xin hãy cứu tôi…”. Toàn thân người ấy run lên từng hồi theo nhịp tiếng gió gào. Đôi môi thâm tím, bàn tay cứng ngắc như đá, trông bà lão dường như mất hết sức sống. Có lẽ nếu là một con rôbốt, nó sẽ quay bước đi bởi bà lão ấy không phải là đồng loại của nó. Một con rôbốt khác chúng ta ở chỗ: chúng vận hành nhờ những bộ động cơ, còn chúng ta có một trái tim. Trái tim ấy hằng ngày, hằng giờ vẫn đập trong lồng ngực mỗi con người, nó điều khiển lương tâm ta và không cho phép ta bỏ mặc những số phận yếu ớt ấy ngoài xã hội. Ta sẽ bao bọc, che chở. Cho dù là đôi tay ta nhỏ bé, thân hình ta nhỏ bé, nhưng nếu ta biết yêu thương, chia sẻ lẫn nhau, thì ai dám nói rằng ta có một trái tim nhỏ bé? Ai dám nói rằng ta không phải là một con người vĩ đại? “Hãy làm những điều mà bạn có thể làm với tất cả những gì bạn đang có. Hãy cho đi khi bạn vẫn còn khả năng bởi chẳng có gì là thuộc về bạn mãi mãi”. Đó là điều mà một trong những người vĩ đại của thế giới, cố Tổng thống Mĩ Theodore Roosevelt đã từng nói. Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Đã bao giờ bạn cảm thấy mệt mỏi chưa? Đã bao giờ bạn cảm thấy cuộc sống thật khó khăn? Hoặc quá hối hả? Sự cạnh tranh không ngừng đã lấy đi quỹ thời gian ít ỏi mà bạn dùng để nhìn lại những gì bạn đã làm được, những gì bạn muốn làm được, và những gì mà bạn đã vô tình đánh mất để đạt được những ước muốn ấy. Cuộc sống luôn cần những khoảng lặng để lắng nghe lòng mình, hiểu mình và hiểu những cung bậc của cuộc sống. Và nếu bạn quá bận rộn để có thể tự mình chiêm nghiệm thì sẽ có những thiên thần giúp bạn cảm nhận. Vậy nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa, có lẽ là một thiên thần đang tìm gặp bạn đấy! Thiên thần ấy sẽ ghé sát vào đôi tai của bạn thì thào những lời ngọt ngào, để bạn có thể cảm nhận được tình yêu thương mà những người khác dành cho bạn. Bạn có biết không, “tình yêu tạo ra sức mạnh diệu kì có thể xoa dịu cả những trái tim chai cứng và giúp vững vàng các cuộc đời yếu đuối”. Nếu cuộc sống gây ra cho bạn những tổn thương về mặt tinh thần, nếu cuộc sống khiến trái tim của bạn tan vỡ và dần dần theo thời gian, chúng chai sạn, thì những thiên thần sẽ giúp bạn có một tâm hồn hoàn hảo. Nếu bạn quá mệt mỏi vì ganh đua, bạn trở nên yếu đuối sau những lần thất bại và đang buông xuôi mọi thứ, thiên thần sẽ nắm lấy cánh tay bạn và dẫn bạn bước những bước đầu tiên trên một con đường mới của cuộc đời. Con đường ấy tuy dài hơn, gồ ghề hơn con đường mà bạn đã từ bỏ, nhưng nó được bồi đắp bởi tình yêu thương và sự nỗ lực. Vậy bạn đã có một trái tim không mảnh vỡ hoặc tự nỗ lực bước đi trên con đường đời chưa? Đừng lo, chỉ cần bạn mở cánh cửa tâm hồn, dang rộng cánh tay đón nhận cuộc sống, thiên thần sẽ ở ngay bên bạn thôi. Nào, bạn đã nghe thấy tiếng gõ cửa chưa? Thiên thần đến rồi đấy! Vậy sẽ ra sao nếu một ngày ác quỷ gõ cửa nhà bạn nhỉ? Bạn sẽ sợ hãi hay can đảm đương đầu? Bạn sẽ đối mặt ra sao với tiếng gõ cửa đầy khiêu khích, và có một chút rùng rợn? Nếu là tôi, dù rất sợ hãi, tôi cũng sẽ mở cửa. Bởi lẽ mở cửa là chấp nhận đối mặt với thử thách. Đừng nên quá ấp đặt những cái gì ghê gớm nhất, nguy hiểm nhất sẽ gặp khi mở. Tôi mở cửa, biết đâu tôi sẽ gặp một người bạn thay vì một kẻ thù, một niềm vui thay vì một sự lo sợ, một điều may mắn thay vì sự né tránh, chán nản. Đừng bao giờ tin rằng số mệnh đã sắp đặt cuộc sống của bạn. Nhà soạn kịch người Anh, ông George Bernard Shaw từng nói:”Mỗi người cần biết lựa chọn và tìm kiếm vận mệnh cho mình và nếu không tìm thấy, họ phải tạo ra nó”. Mở cửa không chỉ là dám đương đầu, mà còn là dám tạo ra số mệnh cho mình Nếu không can đảm đối đầu, bạn sẽ có thể bỏ lỡ một thiên thần đấy. Vậy, nếu ác quỷ hay thiên thần gõ cửa, bạn hãy vui vẻ nói: “Xin chào” nhé! Trịnh Minh Hoàng (Trường THCS Trưng Vương) >> Xem thêm “Trên con đường đi tới thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Nếu một ngày
Nếu một ngày, có người đến gõ cửa nhà em… Hãy tưởng tượng và viết tiếp – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Nếu một ngày Bài làm Cuộc sống, một khái niệm rất trừu tượng. Đó có thể là một vở diễn nghệ thuật mà trong ấy, mỗi chúng ta là một người nghệ sĩ. Và vai trò của diễn viên là đem hết khả năng, công sức, tâm huyết vào tròn vai, để đến khi hạ màn, mỗi khán giả đều đứng bật dậy trầm trồ khen ngợi và cả khán đài tràn ngập tiếng vỗ tay. Cuộc sống cũng có thể là một bản giao hưởng. Dù là một bản hoà tấu nhiều chương hay một bài độc tấu ngắn thì mỗi nốt nhạc, mỗi giai điệu đều ngập tràn cảm xúc. Đó có thể là những nốt xướng cao hoặc xướng thấp, gam trầm hay gam bổng; đó có thể là đoạn điệp khúc hay dạo đầu, thậm chí là những khoảng nhạc lặng. Mỗi một nốt nhạc, một giai điệu đều như một phần của cuộc sống mà trong những phần nhỏ ấy, ta cảm nhận được những âm thanh du dương, tinh tế. Cuộc sống muôn màu như một bức tranh rực rỡ. Đôi khi, ta cảm thấy dường như giữa ta và cuộc sống là một cánh cửa. Cánh cửa ấy dẫn ta tới nhiều những vai diễn, những nốt nhạc, những bức vẽ khác nhau và quan trọng là ta đối mặt thế nào trước những tiếng gõ cửa mời gọi đầy khiêu khích và thử thách. Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Đó là một buổi sáng ngày nghỉ, sau một tuần dài căng thẳng và mệt mỏi trong nhịp sống hối hả, bạn quý giá từng phút giây được thư giãn. Tiếng gõ cửa làm phiền những giờ phút yên tĩnh mà bạn hằng mong mỏi suốt tuần qua. Và nếu đó là một người mà bạn muốn gặp, thì có thể coi đó là niềm an ủi. Thế nhưng cánh cửa bật mở và hiện ra, dưới ánh nắng rực lửa của một ngày hè nóng nực, là hình ảnh một người đàn ông ăn vận rách rưới, toàn thân toả ra một mùi hương khó chịu. Ông ấy đi chân trần trên nền đường được nung như nóng chảy mà ngay cả bản thân bạn cũng đang phải tự bảo vệ đôi chân của mình bằng một đôi dép nhựa cách nhiệt. Toàn bộ thân hình còi cọc của ông tan đi trong cái nắng như thiêu như đốt của mùa hè khắc nghiệt. Ông ta run rẩy, môi mấp máy: “Thưa cô,…tôi xin lỗi vì đã làm phiền cô như thế này… nhưng liệu cô có thể cho tôi một chút gì để ăn hay không?”. Tiếng nói của ông thều thào, nhưng đủ để bạn nghe được trong tiếng còi rít inh ỏi ngoài đường. Bạn tức giận, tất cả sức lực dường như chỉ muốn dồn vào cánh cửa kia. Khao khát được đóng sập cánh cửa ấy của bạn cháy bỏng như những tia nắng đang thiêu đốt ngoài kia. Thế nhưng hãy bình tĩnh, nếu bạn đã từng gặp trường hợp ấy, thì John Evans cũng vậy. Đó cũng là một ngày nóng nực, khó chịu. Càng đau đớn hơn, hôm ấy là đúng ba ngày sau cái chết của vợ anh, sau 17 năm chung sống. Nhìn tổ ấm của mình tan hoang như một bãi chiến trường, hẳn John Evans cũng rất muốn được yên tĩnh, giống như bạn. Thế nhưng một người ăn xin đã nở một nụ cười tươi rói và nhẹ nhàng hỏi xin sự giúp đỡ của anh. John, sau một hồi tranh cãi và vô cùng mệt mỏi bởi ông lão ấy, đã quyết định mở tủ lạnh để kiếm một chút gì đó cho ông. Kinh hoàng thay, khi mà cánh cửa tủ bật mở, hình ảnh cô con gái ba tuổi nằm co ro trong tủ lạnh chỉ vì muốn chiến thắng trong trò chơi trốn tìm khiến cho ai nấy đều lạnh sống lưng. Và chính ông lão hôm ấy, cũng có lẽ là chính lòng tốt của John đã cứu sống con gái anh. Câu chuyện của John Evans không chỉ là một câu chuyện tầm thường. Nó đem đến cho bạn và tôi thật nhiều suy nghĩ, về cuộc sống của ta, về cách mà ta đối xử với đồng loại trong cơn hoạn nạn. Vậy nếu bạn nghe thấy tiếng gõ cửa và người ở bên ngoài cánh cửa là một người ăn xin, đừng vội tức giận và hãy nhớ tới câu nói của triết gia người Mĩ Ralph Waldo Emerson: “Một trong những phần thưởng cao đẹp nhất của cuộc sống là không có một người nào chân thành giúp đỡ người khác mà lại không nhận được một điểu gì đó cho chính bản thân mình”. Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Lúc ấy, bạn đang say giấc nồng trong chiếc chăn ấm áp. Bên ngoài kia, gió rét giật từng cơn, rít lên nghe lạnh thấu xương. Bạn chỉ mong muốn được vùi mình trong lớp mền ấm áp, và mơ về những giấc mơ thật ngọt ngào sau một ngày dài chống chọi lại với cái lạnh. Thế nhưng cuộc sống không có gì là hoàn hảo cả. Và giấc ngủ ngon cùng những giấc mơ tuyệt vời bị phá vỡ bởi tiếng gõ cửa. Cửa sắt cót két rung lên từng hồi hoà vào tiếng gió rít nghe thật khó chịu. Bạn bỏ mặc những âm thanh ấy và cố vùi đầu vào gối để được yên lặng. Âm thanh cót két vang lên từng hồi ngày càng yếu ớt nhưng vô cùng dai dẳng. Sự tức giận tràn ngập trong cảm giác mệt mỏi vô tận. Bạn kéo lê từng bước chân xuống cầu thang lạnh lẽo để tới bên cánh cửa sắt lạnh như băng đá. Chỉ riêng việc cầm vào nắm cửa cũng đủ làm bạn cảm thấy uể oải. cảm giác lạnh lẽo như thấu tận tim gan. Thế nhưng để đánh đổi cho sự yên tĩnh, bạn mở cánh cửa và thấy một người đàn bà già đang yếu ớt đập vào khung cửa. Ngay khi cánh cửa bật mở, bà lão ấy thả lỏng đôi tay và thều thào: “Xin hãy cứu tôi…”. Toàn thân người ấy run lên từng hồi theo nhịp tiếng gió gào. Đôi môi thâm tím, bàn tay cứng ngắc như đá, trông bà lão dường như mất hết sức sống. Có lẽ nếu là một con rôbốt, nó sẽ quay bước đi bởi bà lão ấy không phải là đồng loại của nó. Một con rôbốt khác chúng ta ở chỗ: chúng vận hành nhờ những bộ động cơ, còn chúng ta có một trái tim. Trái tim ấy hằng ngày, hằng giờ vẫn đập trong lồng ngực mỗi con người, nó điều khiển lương tâm ta và không cho phép ta bỏ mặc những số phận yếu ớt ấy ngoài xã hội. Ta sẽ bao bọc, che chở. Cho dù là đôi tay ta nhỏ bé, thân hình ta nhỏ bé, nhưng nếu ta biết yêu thương, chia sẻ lẫn nhau, thì ai dám nói rằng ta có một trái tim nhỏ bé? Ai dám nói rằng ta không phải là một con người vĩ đại? “Hãy làm những điều mà bạn có thể làm với tất cả những gì bạn đang có. Hãy cho đi khi bạn vẫn còn khả năng bởi chẳng có gì là thuộc về bạn mãi mãi”. Đó là điều mà một trong những người vĩ đại của thế giới, cố Tổng thống Mĩ Theodore Roosevelt đã từng nói. Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Đã bao giờ bạn cảm thấy mệt mỏi chưa? Đã bao giờ bạn cảm thấy cuộc sống thật khó khăn? Hoặc quá hối hả? Sự cạnh tranh không ngừng đã lấy đi quỹ thời gian ít ỏi mà bạn dùng để nhìn lại những gì bạn đã làm được, những gì bạn muốn làm được, và những gì mà bạn đã vô tình đánh mất để đạt được những ước muốn ấy. Cuộc sống luôn cần những khoảng lặng để lắng nghe lòng mình, hiểu mình và hiểu những cung bậc của cuộc sống. Và nếu bạn quá bận rộn để có thể tự mình chiêm nghiệm thì sẽ có những thiên thần giúp bạn cảm nhận. Vậy nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa, có lẽ là một thiên thần đang tìm gặp bạn đấy! Thiên thần ấy sẽ ghé sát vào đôi tai của bạn thì thào những lời ngọt ngào, để bạn có thể cảm nhận được tình yêu thương mà những người khác dành cho bạn. Bạn có biết không, “tình yêu tạo ra sức mạnh diệu kì có thể xoa dịu cả những trái tim chai cứng và giúp vững vàng các cuộc đời yếu đuối”. Nếu cuộc sống gây ra cho bạn những tổn thương về mặt tinh thần, nếu cuộc sống khiến trái tim của bạn tan vỡ và dần dần theo thời gian, chúng chai sạn, thì những thiên thần sẽ giúp bạn có một tâm hồn hoàn hảo. Nếu bạn quá mệt mỏi vì ganh đua, bạn trở nên yếu đuối sau những lần thất bại và đang buông xuôi mọi thứ, thiên thần sẽ nắm lấy cánh tay bạn và dẫn bạn bước những bước đầu tiên trên một con đường mới của cuộc đời. Con đường ấy tuy dài hơn, gồ ghề hơn con đường mà bạn đã từ bỏ, nhưng nó được bồi đắp bởi tình yêu thương và sự nỗ lực. Vậy bạn đã có một trái tim không mảnh vỡ hoặc tự nỗ lực bước đi trên con đường đời chưa? Đừng lo, chỉ cần bạn mở cánh cửa tâm hồn, dang rộng cánh tay đón nhận cuộc sống, thiên thần sẽ ở ngay bên bạn thôi. Nào, bạn đã nghe thấy tiếng gõ cửa chưa? Thiên thần đến rồi đấy! Vậy sẽ ra sao nếu một ngày ác quỷ gõ cửa nhà bạn nhỉ? Bạn sẽ sợ hãi hay can đảm đương đầu? Bạn sẽ đối mặt ra sao với tiếng gõ cửa đầy khiêu khích, và có một chút rùng rợn? Nếu là tôi, dù rất sợ hãi, tôi cũng sẽ mở cửa. Bởi lẽ mở cửa là chấp nhận đối mặt với thử thách. Đừng nên quá ấp đặt những cái gì ghê gớm nhất, nguy hiểm nhất sẽ gặp khi mở. Tôi mở cửa, biết đâu tôi sẽ gặp một người bạn thay vì một kẻ thù, một niềm vui thay vì một sự lo sợ, một điều may mắn thay vì sự né tránh, chán nản. Đừng bao giờ tin rằng số mệnh đã sắp đặt cuộc sống của bạn. Nhà soạn kịch người Anh, ông George Bernard Shaw từng nói:”Mỗi người cần biết lựa chọn và tìm kiếm vận mệnh cho mình và nếu không tìm thấy, họ phải tạo ra nó”. Mở cửa không chỉ là dám đương đầu, mà còn là dám tạo ra số mệnh cho mình Nếu không can đảm đối đầu, bạn sẽ có thể bỏ lỡ một thiên thần đấy. Vậy, nếu ác quỷ hay thiên thần gõ cửa, bạn hãy vui vẻ nói: “Xin chào” nhé! Trịnh Minh Hoàng (Trường THCS Trưng Vương) >> Xem thêm “Trên con đường đi tới thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Nếu một ngày
Nếu được chứng kiến cái chết của cô bé bán diêm trong truyện cùng tên của An-đéc-xen, em sẽ ghi lại cảnh đó như thế nào? Bài làm Vào một buổi tối mùa thu, tại một khu phố thuộc thành phố Cô-pen-ha-gen- Đan Mạch. – Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm! Một tiếng nói khàn khàn, mệt mỏi chợt vọng đến tai An-đéc-xen. Đằng kia, trước mặt chàng hơn mười bước là một người đang ngồi co ro trên thềm của một ngôi nhà cao ráo. Ánh sáng đèn từ trong nhà chiếu ra cho chàng thấy đó chỉ là một đứa bé con. Hẳn nó đã phát ra những lời vừa rồi. – Tối lắm rồi sao cháu còn chưa về nhà ngủ? An-đéc-xen bước đến, ái ngại. Đấy là một cô bé khoảng hơn 10 tuổi, run rẩy trong bộ quần áo vá víu bẩn thỉu. Vai áo rách để lộ đôi vai gầy còm. Nhìn gương mặt hô’c hác của nó, có thể đoán nó đang chịu cảnh thiếu ăn, thiếu uống từ lâu. Nếu được chứng kiến cái chết của cô bé bán diêm trong truyện cùng tên của An-đéc-xen, em sẽ ghi lại cảnh đó như thế nào? – Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm! — Tay cầm bao diêm, cô bé chỉ vào chiếc túi con căng phồng bên cạnh, khẩn nài – Cả ngày cháu chẳng bán được gì, cũng chẳng ai bô’ thí cho cháu đồng nào. Cô bé rơm rớm nước mắt. Thân hình tiều tụy ôm yếu của em run lên khi gió lạnh thổi qua. – Thế sao? — An-đéc-xen động lòng. Chàng khẽ vuốt mái tóc dài xoăn thành từng búp trên lưng cô bé. – Gia đình cháu đâu cả rồi? Không ai lo cho cháu sao? – Không có tiền cháu đâu dám về nhà vì bố sẽ đánh chết thôi! – Cô bé nlủn An-đéc-xen, đôi mắt cầu khẩn. Thực vậy, em có một người cha ác nghiệt. Hơn nữa về nhà cũng chẳng hơn gì. Hai cha con sống với nhau trên một gác xép tồi tàn, gió rét vẫn lùa vào được dù đã bít kín những lỗ thủng trên vách. Lúc này, đôi chân cô bé đã lạnh cóng, em mang đôi giày vải mòn cũ do mẹ em để lại. – Cháu đừng lo! – An-đéc-xen cho tay vào túi lấy ra một số tiền đặt vào bàn tay bé bỏng của em. — Còn bấy nhiêu chú cho cháu cả. Cháu về nhà mau kẻo chết cóng mất. – Ôi, lạy chúa! — vẻ đầy mừng rỡ, cô bé hôn tíu tít lên tay chàng – Từ ngày bà cháu mất đi, chú là người thương cháu nhất trên đời này. Với món tiền này, bố con cháu sẽ được nhiều bữa no. Nhưng… – Cô bé bỗng đăm chiêu.. – Nếu chú cho cháu hết thì tiền đâu chú sống, hở chú? – Sao cháu khéo lo thế? – Chàng mỉm cười, nụ cười đầy hiền dịu – Chú sẽ còn cho cháu nhiều thứ nữa. Chú sắp đi xa, đầu năm tới mới trở lại nơi này, khi ấy chú sẽ tặng cháu một món quà đặc biệt. – Ồ, thích quá! Còn cháu, cháu cũng sẽ tặng chú một món quà. Mà chú tên gì nhỉ? – Chú là An-đéc-xen – Chàng âu yếm nắm đôi vai gầy của cô bé – Có bao giờ cháu nghe đến tên ấy chưa? – Tên chú nghe quen lắm – Cô bé nhìn đăm đăm gương mặt trầm tư có chiếc mũi khoằm của chàng. – Chú có phải là thợ mộc không? – Không phải! — An-đéc-xen mỉm cười lắc đầu. – Thợ may? – Cũng không. – Hay chú là bác sĩ? – Ô, không phải đâu. Thế này này… Chàng đưa ngón tay trỏ viết viết vào không khí, vẻ hơi đùa cợt. – A! Cô bé reo lên — Cháu hiểu rồi, chú làm nghề bán bút. An-đéc-xen chỉ tủm tĩm cười. Chàng thấy yêu cô bé quá. Em khiến chàng, một nhà văn thề suốt đời gắn bó với tuổi thơ, nhớ đến thời thơ ấu của mình và thành phố Ô-đen-sơ cổ kính, nơi tuổi thơ của chàng êm ả trôi qua. Là con một trong một gia đình nên dù cha chỉ là một bác thợ giày nghèo, cậu bé An-đéc-xen hầu như chẳng phải mó tay đến bất cứ một việc gì ngoài mỗi việc là mơ mộng liên miên. Cậu bé lắm khi chỉ thích bầu bạn với chiếc cối xay già nua đứng run rẩy trên bờ sông hiền lành của thành phố quê hương… Sau đó An-đéc-xen đi du lịch đâu đó… và chàng đã quên luôn lời hứa với cô bé bán diêm. Khi về thăm lại khu phố năm nào, chàng tự trách mình đã quá mải mê với chuyên viễn du đến nỗi quên khuấy đi lời hứa với cô bé bất hạnh mà giờ này hẳn đang lang thang đâu đó với chiếc túi đựng đầy diêm. Phải mua ngay cho em một chiếc áo len, một chiếc áo lông cừu dày và thật ấm để em qua được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông… – Con bé chết rồi còn đâu. Ngày đầu năm ngoái người ta nhìn thấy em bé chết cóng tự lúc nào ở một góc đường giữa hai ngôi nhà. Cái chết cứng đờ của nó ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Có lẽ nó muốn sưởi cho ấm. Có điều lạ là hai má nó vẫn hồng và miệng nó như đang mỉm cười. À này, — ông ta tiếp tục trước khuôn mặt chết lặng của An-đéc-xen – khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi nó rơi ra vật gì giống như một chiếc quản bút làm bằng những bao diêm. Hẳn nó để dành tặng ai, vì trên chiếc quản bút có ghi dòng chữ: tặng chú An-đéc-xen. An-đéc-xen quên khuấy món quà ông định tặng cho cô bé bán diêm. Nhưng cô bé, cô bé vẫn nhớ tới lời hứa của mình với vị khách tốt bụng của buổi tối mùa thu. Hơn nửa thế kỉ qua, hàng triệu con người trên Trái Đất đã nghe tim mình thổn thức mỗi khi đọc câu chuyện về cô bé đáng thương của văn hào Đan Mạch. Phải chăng An-đéc-xen đã viết câu chuyện ấy như một món quà dể tặng hương hồn cô bé bán diêm?
If you could witness the death of the little match girl in Andersen's story of the same name, how would you record that scene? Assignment On an autumn evening, in a neighborhood in Copenhagen, Denmark. – Uncle, buy me a box of matches! A hoarse, tired voice suddenly reached An-dec-sen's ears. Over there, more than ten steps in front of him, was a person sitting huddled on the steps of a tall house. The light from inside the house showed him that it was just a baby. It must have said those words just now. – It's already late, why haven't you gone home to sleep yet? An-dec-sen stepped forward, hesitant. It was a little girl about 10 years old, shivering in dirty, patched clothes. The shoulder of the shirt is torn, revealing skinny shoulders. Looking at its haggard face, one can guess that it has been suffering from lack of food and water for a long time. If you could witness the death of the little match girl in Andersen's story of the same name, how would you record that scene? – Uncle, buy me a box of matches! — Holding a matchbox in her hand, she pointed to the bulging bag next to her, pleading - I haven't sold anything all day, and no one has given me any money. The girl had tears in her eyes. Her weak, emaciated body trembled as the cold wind blew. – So what? — Andersen was moved. He gently stroked her long curly hair into buds on her back. – Where is your family? Doesn't anyone care about you? – If I don't have money, I don't dare go home because dad will beat me to death! – The little girl looked like An-Dec-Xen, her eyes were pleading. Indeed, I have a cruel father. Besides, going home is no better. The father and son lived together in a shabby attic, where the cold wind still penetrated even though the holes in the wall were sealed. At this time, her feet were cold, she was wearing old worn canvas shoes left by her mother. – Don't worry! – Andersen put his hand in his pocket, took out some money and placed it in his little hand. — That's all I gave you. Go home quickly or you'll freeze to death. - Oh my God! — filled with joy, the little girl kissed his hand – Since the day my grandmother passed away, you are the person who loves me the most in this world. With this money, father and children will have many full meals. But... - The little girl suddenly pondered... - If you give me everything, where will the money be for you to live, uncle? – Why are you so worried? – He smiled, a gentle smile – I will give you many more things. I'm going away, I'll be back here early next year, then I'll give you a special gift. – Oh, I like it! As for me, I will also give you a gift. But what's your name? – I'm Andersen – He lovingly held the girl's thin shoulders – Have you ever heard of that name? - Your name sounds very familiar - The girl stared at his thoughtful face with a hooked nose. – Are you a carpenter? - Not! — Andersen smiled and shook his head. - Tailor? - Neither. – Or are you a doctor? – Oh, that's not true. Like this… He pointed his index finger and wrote in the air, somewhat jokingly. – Ah! The little girl shouted — I understand, you sell pens. An-dec-sen just smiled. He loved her so much. You made him, a writer who swore to be forever attached to childhood, remember his childhood and the ancient city of Odensa, where his childhood passed peacefully. Being the only child in a family, even though his father was just a poor shoemaker, the boy Andecsen hardly had to do anything other than daydreaming constantly. The boy sometimes just liked the company of the old mill standing trembling on the gentle riverbank of his hometown... After that, An-Dec-sen went on a trip somewhere... and he forgot the promise he made with the match girl. When he returned to visit the neighborhood that year, he blamed himself for being so engrossed in his adventure that he forgot his promise to the unfortunate girl who was probably wandering somewhere with a bag full of matches. I must immediately buy you a sweater, a thick and warm fleece shirt to help you get through the harsh cold of winter... – The baby is dead, where is she? On the first day of last year, people found a baby frozen to death on a corner between two houses. Its stiff death sitting among the matchboxes, one of which was completely burned. Maybe it wants to warm up. The strange thing is that his cheeks are still pink and his mouth seems to be smiling. By the way, - he continued in front of An-Dec-sen's dumbfounded face - when carrying his body away, they saw something fall out of his pocket that looked like a pen holder made of matchboxes. It must have been intended for someone, because on the pen holder were written the words: for Uncle An-dec-sen. Andersen forgot about the gift he intended to give to the little match seller. But little girl, she still remembered her promise to the kind guest of that autumn evening. Over the past half century, millions of people on The Earth heard its heart sobbing every time it read the story about the poor girl by the Danish writer. Did Andersen write that story as a gift to the soul of the little match seller?
Nếu được chứng kiến cảnh lão Hạc bán chó kể với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại chuyện đó như thế nào? Bài làm Ngay từ sáng sớm tôi, người đàn bà với cái chân đau, cứ thế cặm cụi nơi xó bếp để chuẩn bị cơm bữa cho gia đình. Hôm nay là một ngày thu trong xanh gió mát, thời tiết rất dễ chịu và thoải mái. Cứ thế như thường ngày, tôi thì quẩn quanh nơi xó bếp còn chồng tôi – ông giáo (người đời vẫn gọi cái tên đầy kính trọng ấy với người chồng làm thầy giáo của tôi) thì đang ngồi trên chiếc chõng tre đọc sách ngoài hiên nhà. Mọi chuyện sẽ thật yên bình nếu cái Lão Hạc hàng xóm sang nhà tôi. Lão Hạc tất tưởi chạy sáng với vẻ mặt thất kinh, tôi nhìn thấy cũng tò mò nên có đứng chỗ đầu bếp để cố gắng nghe ngóng xem sự tình ra sao. Lão thấy chồng tôi ngồi trên hiên nhà, với vẻ mặt hốc hác mà nói hấp tấp: – Cậu Vàng đi rồi ông Giáo ạ! Thì ra là lão sang đây để kể với chồng tôi về con chó Vàng yêu quý của lão, lão thương con chó ấy như vàng ấy. Dường như không tránh khỏi sự ngạc nhiên nên ông nhà tôi hỏi: – Cụ bán rồi à? – Vâng, tôi bán rồi Giọng lão bùi ngùi, xúc động, gương mặt lão cố tỏ ra vui vẻ nhưng tôi nhìn ra ở trên đó thực ra là lòng đay đớn đến tột cùng. Lão cười nhưng thật quái dị, cười mà như một đứa trẻ mếu máo vậy. Trên đôi mắt đầy ắp những khổ cực bắt đầu ngân ngấn nước, đỏ hoe. Có vẻ ông nhà tôi xót xa lắm, rót ly nước chè mời lão uống rồi hỏi tiếp: Dường như chạm đến tận đáy nỗi đau đớn xót xa mà lão đang cố chôn vùi. Lão bắt đầu khóc, điều đó cũng khiến tôi giật mình. Lão khóc hu hu như một đứa trẻ, khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc như cố bùng nổ cảm giác đau khổ mà lão kìm nén bây lâu nay. Nước mắt chan hòa cùng nỗi đau khiến lòng lão quặn lại tim đau nhói. Những giọt nước mắt ấy tưởng sẽ chẳng có ở cái độ tuổi gần đất xa trời kia mà giờ lại bật ra thành tiếng vì trót lừa một con chó. Lão nghẹn ngào: – Khốn nạn… ông Giáo ơi! Nó có biết gì đâu. Nghe gọi về ăn cơm thì vẫy đuôi chạy về. Đang ăn thì thằng Mụ và thằng Xiên trốn từ phía sau túm lấy cu cậu, loay hoay một lát là trói chặt cả bốn chân. Cái giống nó cũng khôn, biết mình bị bắt nên im lặng chỉ kêu ư ử như muốn oán trách toi vì sao đối xử tệ với nó như vậy. Ông à! Ngay cả tôi cũng chẳng hiểu nổi vì sao bản thân từng nay tuổi mà còn nhẫn tâm đi lừa một con chó, phản bội người bạn thân duy nhất còn lại của mình. Tôi thấy ân hận quá! Lão vừa nói vừa đấm thình thịch vào ngực của mình, nước mắt cứ rơi lã chã trên gương mặt gầy gò xanh xao đầy khắc khổ kia. Nhìn lão dằn vặt đau khổ thế ông nhà tôi cũng đau lòng lắm, ông ôm lão đông viên mà thấy chua xót cùng lão biết bao. Nòi nước kêu xùng xục tràn cả ra ngoài bếp khiên tôi giật mình quay lại với gian bếp mà bỏ dở câu chuyện. Nhưng những dòng tâm sự của lão Hạc vẫn còn in đậm trong tâm trí khiên tôi không thể tập trung ngay cả khi ngồi trước nồi nước.
If you witnessed the story of old Hac selling dogs to the teacher in Nam Cao's short story, how would you record that story? Assignment From early morning, I, a woman with a sore leg, kept toiling in the kitchen to prepare meals for my family. Today is a clear, cool windy autumn day, the weather is very pleasant and comfortable. Just like usual, I was hanging around the corner of the kitchen while my husband - the teacher (people still call that respectful name for my teacher husband) was sitting on a bamboo bed reading a book on the porch. home. Everything would be so peaceful if the neighbor Mr. Hac came to my house. Old Hac hurriedly ran away with a panicked look on his face. I was also curious when I saw him so I stood by the chef to try to listen to what was going on. He saw my husband sitting on the porch, with a haggard face, and said hastily: – Mr. Vang is gone, Mr. Teacher! It turns out he came here to tell my husband about his beloved Golden Dog, he loves that dog like gold. It seemed inevitable that my husband would be surprised, so he asked: – Have you sold it? – Yes, I sold it His voice was sad and emotional, his face tried to look happy, but I could see that in reality, his heart was in extreme pain. He smiled but it was strange, he smiled like a crying child. His eyes, filled with hardships, began to water and turn red. It seemed my husband was very sad, he poured a glass of tea for him to drink and continued asking: It seemed to reach the bottom of the painful pain that he was trying to bury. He started crying, which also startled me. He cried like a child, cried like he had never cried before, cried as if trying to explode the painful feeling he had been suppressing for a long time. Tears mixed with pain made his heart ache. Those tears were thought to be absent at that age, but now they burst out loudly because they tricked a dog. The old man choked up: - Damn it... Mr. Teacher! It doesn't know anything. When I heard the call to come home for dinner, I wagged my tail and ran home. While eating, Mu and Xien hid from behind and grabbed him. After struggling for a while, they tied all four legs tightly. The thing like him was also smart, knowing he was being caught, he kept quiet and just whined as if he wanted to blame me for treating him so badly. Sir! Even I don't understand why even at this age I still had the heart to trick a dog and betray my only remaining best friend. I feel so regretful! As he spoke, he pounded his chest, tears kept falling down his thin, pale, austere face. Seeing him suffer so much made my husband very sad. He hugged the old man and felt how bitter he was with him. The water gurgled and spilled out into the kitchen, making me startled and turned back to the kitchen, leaving the conversation unfinished. But Mr. Hac's confessions were still imprinted in my mind, making me unable to concentrate even when sitting in front of the pot of water.
Nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy Hướng dẫn Nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy Bài Làm: Truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy là câu chuyện đi vào lịch sử dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước và giữ nước. Câu chuyện chứa đựng những nụ cười và nước mắc xây dựng hình tượng nhân vật gắn với bài học dựng nước giữ nước tình yêu chiến tranh và hòa bình. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn về nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy. Nụ cười trọng truyện không chỉ được hiểu theo nghĩ đen đơn thuần mà chúng ta cần hiểu theo nghĩa đó là niềm vui, là hạnh phúc sự may mắn vinh quang và chiến thắng trong truyện. Nụ cười của nhân vật An Dương Vương gắn niền với phần đầu của câu chuyện với việc xây dựng và giữ nước thắng lợi, gắn liên với quyền lợi, hạnh phúc của nhân dân. Tinh thần yêu nước bảo về đất nước ý thức của vua An Dương Vương là niềm vui tự hào của dân tộc. An Dương vương đã nỗ lực khắc phục khó khăn đồng thời được sự giúp đỡ của thần ninh và nhân dân đã giúp vua xây thành, chế nỏ đuổi đánh thành công giặc ngoại xâm thể hiện tinh thần đoàn kêt của dân tộc. Nước mắt trong truyện được hiểu là sự tủi nhực, nỗi buồn, sai lầm của các nhân vật trong truyện. Nước mắt của Vua An Dương Vương gắn liền với bi kịch mất nước là giết người con gái yêu quý. Nguyên nhân dẫn tới nước mắt, sự bi kịch của câu chuyện là ý chủ quan mất cảnh giác, không phát hiện ra bản chất xấu xa của kẻ thù dẫn tới mất nước, mất con khiến dân chúng rơi vào cảnh lầm than đó là những giọt nước mắt sai lầm, là lỗi buồn của vua. Nước mắc của Mị châu là bi kịch tình yêu, là sự phụ bạc lợi dụng của Trọng Thủy với nàng, khi phát hiện ra việc bị Trọng Thủy lợi dụng thì đã quá muộn nàng đã phải chấp nhận cái chết. Với tình yêu mù quáng, nhẹ dạ cả tin. Nàng đã làm mất nước những giọt nước mắt sót xa, hối hận đã quá muộn màng với những việc Nàng đã làm. Nước mắt của 2 cha con An Dương Vương là nước mắt đại diện cho dân tộc khi chịu cảnh mất nước, mất nhà, là sự khổ cực của nhân dân. Thông qua truyền thuyết qua nụ cười và nước mắt của các nhân vật trong truyện giúp ta hiểu được những triết lí đối với hiếu tình, chiến tranh hòa bình, hạnh phúc, khổ đau, nghĩa vụ và trách nhiệm. Thông qua đây tác giả dân gian muốn gửi tới chúng ta chân lí hạnh phúc bất hạnh mỗi cá nhân luôn gắn liền với bất hạnh toàn dân tộc và được tạo lên bởi mỗi người. Tác phẩm đã thể hiện đặc trưng nghệ thuật của thể loại truyền thuyết, các nhân vật, yếu tố tỏng tác phẩm được xây dựng vừa dựa trên cảm cảnh lịch sử, vừa dựa trên cảm cảnh vnaw học giúp người đọc vừa thấy thực vừa thấy mộng nhăm tạo dấu ấn lịch sử bài học cho người đọc về nước mắc và nụ cười trong cuộc sống.
Smiles and tears in the story An Duong Vuong and Mi Chau Trong Thuy Instruct Smiles and tears in the story An Duong Vuong and Mi Chau Trong Thuy Assignment: The story of An Duong Vuong My Chau Trong Thuy is a story that goes into the history of our nation in the early days of building and defending the country. The story contains smiles and tears that build character images associated with the lessons of building and defending the country, love, war and peace. We will learn more about smiles and tears in the story An Duong Vuong My Chau Trong Thuy. The smile in the story cannot only be understood literally, but we need to understand it as joy, happiness, luck, glory and victory in the story. The smile of the character An Duong Vuong is associated with the first part of the story with the successful construction and defense of the country, associated with the rights and happiness of the people. The patriotic spirit of protecting the country and the consciousness of King An Duong Vuong is the joy and pride of the nation. King An Duong tried his best to overcome difficulties and, with the help of security officials and the people, helped the king build a citadel and make crossbows to successfully chase away foreign invaders, demonstrating the solidarity of the nation. Tears in the story are understood as the frustration, sadness, and mistakes of the characters in the story. King An Duong Vuong's tears are associated with the tragedy of losing his country and killing his beloved daughter. The cause of tears and the tragedy of the story is the subjective intention of being caught off guard, not discovering the evil nature of the enemy, leading to loss of country, loss of children, causing people to fall into misery. Wrong tears are the king's sad mistake. Mi Chau's fate is a love tragedy, Trong Thuy's betrayal and exploitation of her. When she discovered that Trong Thuy was taking advantage of her, it was too late and she had to accept death. With blind, gullible love. She lost the remaining tears, regretting too late for what she had done. The tears of father and son An Duong Vuong represent the tears of the nation when they suffer from loss of country, loss of home, and the suffering of the people. Through the legend, the smiles and tears of the characters in the story help us understand the philosophies of love, war, peace, happiness, suffering, duty and responsibility. Through this, the folk author wants to convey to us the truth that the happiness and unhappiness of each individual is always associated with the unhappiness of the entire nation and is created by each person. The work demonstrates the artistic characteristics of the legendary genre. The characters and elements in the work are built based on both historical and literary perspectives, helping readers see both reality and reality. The dream aims to create a historical mark and teach readers about hardships and smiles in life.
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Hướng dẫn Ngôn ngữ nghệ thuật 1. Khái niệm: Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn bản nghệ thuật Xét ngữ liệu sau: – “Sen là cây mọc dưới nước, lá to tròn, hoa màu hồng hoặc trắng, nhị vàng, hương thơm nhẹ, hạt dùng để ăn” (Theo Nguyễn Như Ý, Từ điển TV) -Văn bản 2: Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn -Đều cung cấp thông tin về sen -Khác: (1)Sử dụng ngôn ngữ cô đọng, chính xác, sắc thái trung hòa, không bóng bẩy (2) Ngôn ngữ giàu sức gợi tả, sinh động, giàu sức biểu cảm – Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm. 2. Phạm vi sử dụng: – Chủ yếu được sử dụng trong văn bản nghệ thuật (các tác phẩm văn chương) 3. Phân loại ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật: Chia thành ba loại: – Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, kí sự, phóng sự … (lời văn xuôi …) – Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ …( có vần điệu …) – Ngôn ngữ sân khấu trong kịck, tuồng, chèo … (lời thoại …) cho các ví dụ: (1) “Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ dạ xoa mắt xanh, tóc đỏ, hình dáng nanh ác…”-> NN tự sự (2) “Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”-> NN thơ (3) Này thầy tiểu ơi! Thầy như táo rụng sân đình, Em như gái dở đi rình của chua”-> NN sân khấu 4. Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật – Thực hiện chức năng thông tin ( trao đổi ý nghĩ, tình cảm …) – Thực hiện chức năng thẩm mĩ (biểu hiện cái đẹp và khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc ) – Ngôn ngữ nghệ thuật được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ * Ghi nhớ: (sgk tr 98) Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật II. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 1. Tính hình tượng – Xét ngữ liệu: (2) Dân tộc ta được trưởng thành trong chiến tranh. Kẻ thù không còn hi vọng để ngăn cản sự phát triển mạnh mẽ, to lớn của một dân tộc từng bị áp bức ở hầm mỏ và nông thôn. Đoạn thơ và đoạn văn trên đều nói về sức mạnh của dân tộc Việt Nam, cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước. + Thơ Tố Hữu:sử dụng hoán dụ “bàn chân” chỉ dân tộc Việt Nam, những người công nhân và nông dân. + Đoạn văn: diễn đạt trực tiếp. → Thơ Tố Hữu cụ thể hơn, sinh động, hàm súc và biểu cảm hơn ->có tính hình tượng. (1) diễn đạt cụ thể hơn, sinh động, hàm súc, biểu cảm hơn (2)-> có tính hình tượng. =>Tính hình tượng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ ra cách diễn đạt cụ thể hơn, hàm súc hơn và gợi cảm hơn trong 1 ngữ cảnh nhất định. – Các phép tu từ sử dụng để tạo ra tính hình tượng: (SGK/ T99). + So sánh: (1)“Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” (2)Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. + Ẩn dụ: Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông nhường nào/ Chỉ có biển mới biết/ Thuyền đi đâu, về đâu. VD: Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ->Thuyền, bến không còn là phương tiện trên sông nước hay nơi neo đậu nữa mà chỉ nam nữ (thuyền:nam, bến: nữ), chỉ tình yêu đôi lứa. -Tác dụng: làm cho ngôn ngữ nghệ thuật đa nghĩa. 2. Tính truyền cảm Biểu hiện: SGK/ T100 VD: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều. →Cảnh quê hương bị chiến tranh tan phá và nỗi đau xót của tác giả. Người đọc thấu hiểu và cảm xúc nảy sinh như chính tác giả VD: “Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. →Tác giả thông cảm, đồng cảm, xót xa cho số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.→ ta phải trăn trở, suy nghĩ về thân phận của người phụ nữ, thương cảm, đồng cảm với họ. Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều (Nguyễn Đình Thi) →Cảnh quê hương bị chiến tranh tan phá và nỗi đau xót của tác giả. Người đọc thấu hiểu và cảm xúc nảy sinh như chính tác giả. + Tính cảm xúc(đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt): biểu hiện sắc thái cảm xúc, tình cảm của người nói qua các yếu tố ngôn ngữ. + Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ người nói (viết) làm cho người nghe ( đọc) cùng buồn, vui, yêu, thích… như người nói (viết). 3. Tính cá thể hóa Thể hiện ở: + Phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật. VD: Ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương cá tính, góc cạnh. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến thâm trầm, kín đáo, sâu sắc. + Vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật: ngôn ngữ của Chí Phèo thì du côn, Bá kiến thì khôn ngoan, cáo già… + Nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm. + Tính cá thể hóa thể hiện ở khả năng vận dụng các phương tiện diễn đạt chung vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của mỗi nhà văn, nhà thơ, tạo nên phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật VD: Ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương cá tính, góc cạnh. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến thâm trầm, kín đáo, sâu sắc. Thơ Xuân Diệu có vốn từ giàu hình ảnh, nhạc điệu, phập phồng hơi thở cuộc sống; thơ Chế Lan Viên sử dụng ngôn từ chỉ sự héo úa, tàn lụi, cõi chết. + Thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật: Ví dụ ngôn ngữ của Chí Phèo thì du côn, ngôn ngữ Bá kiến thì khôn ngoan, cáo già trong Chí Phèo(Nam Cao),.. + Thể hiện ở nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm. VD: Ánh trăng trong truyện Kiều được miêu tả cụ thể những vẻ đẹp không giống nhau, không lặp lại: (1) Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song. (2)Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao Mặt ngơ ngẩn mặt, lòng ngao ngán lòng. (3)Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường. Phân biệt tính cá thể hóa trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: + Tính cá thể hóa của ngôn ngữ sinh hoạt mang tính chất tự nhiên, biểu hiện ở đặc điểm riêng về giọng điệu, ngôn ngữ diễn đạt riêng của từng người, giúp chúng ta nhận biết được người này khác với người khác. + Tính cá thể hóa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật góp phần thể hiện phong cách riêng của mỗi nhà thơ, nhà văn. Chẳng hạn cùng viết về trăng nhưng mỗi tác giả lại có cách nhìn, cách diễn đạt khác nhau: Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ (Xuân Diệu); Trăng nằm sõng soài trên cành liễu/ Đợi giớ đông về để lả lơi (Hàn Mặc Tử); Trăng vào của sổ đòi thơ/ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau (Hồ Chí Minh III. Luyện tập (5 phút) Bài tập 1. Các biện pháp tu từ tạo tính hình tượng: so sánh, nhân hóa, tượng trưng…dặc biệt là cách nói hàm ẩn trong những ngữ cảnh tu từ. VD: + So sánh: Áo chàng đỏ tựa ráng pha/ Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in + Ẩn dụ: Con cò ăn bãi rau răm/ Đắng cay chịu vậy đãi đằng cùng ai. + Hoán dụ: Áo nâu liền với áo xanh/ Nông thôn liền với thị thành đứng lên. Bài tập 2. Tính tượng hình là đặc trưng quan trọng nhất vì: -Nó là phương tiện tái hiện, tái tạo cuộc sống thông qua chủ thể của nhà văn. – Là mục đích của sáng tạo nghệ thuật, đưa người đọc vào thế giới của cái đẹp thông qua những xúc động hướng thiện trước thiên nhiên và cuộc sống→hình thành những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp cho người đọc. + Có khả năng gây cảm xúc cho người đọc. + Mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Bài tập 3 – Canh cánh – Rắc, giết.
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Hướng dẫn Ngôn ngữ nghệ thuật 1. Khái niệm: Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn bản nghệ thuật Xét ngữ liệu sau: – “Sen là cây mọc dưới nước, lá to tròn, hoa màu hồng hoặc trắng, nhị vàng, hương thơm nhẹ, hạt dùng để ăn” (Theo Nguyễn Như Ý, Từ điển TV) -Văn bản 2: Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn -Đều cung cấp thông tin về sen -Khác: (1)Sử dụng ngôn ngữ cô đọng, chính xác, sắc thái trung hòa, không bóng bẩy (2) Ngôn ngữ giàu sức gợi tả, sinh động, giàu sức biểu cảm – Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm. 2. Phạm vi sử dụng: – Chủ yếu được sử dụng trong văn bản nghệ thuật (các tác phẩm văn chương) 3. Phân loại ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật: Chia thành ba loại: – Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, kí sự, phóng sự … (lời văn xuôi …) – Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ …( có vần điệu …) – Ngôn ngữ sân khấu trong kịck, tuồng, chèo … (lời thoại …) cho các ví dụ: (1) “Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ dạ xoa mắt xanh, tóc đỏ, hình dáng nanh ác…”-> NN tự sự (2) “Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”-> NN thơ (3) Này thầy tiểu ơi! Thầy như táo rụng sân đình, Em như gái dở đi rình của chua”-> NN sân khấu 4. Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật – Thực hiện chức năng thông tin ( trao đổi ý nghĩ, tình cảm …) – Thực hiện chức năng thẩm mĩ (biểu hiện cái đẹp và khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc ) – Ngôn ngữ nghệ thuật được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ * Ghi nhớ: (sgk tr 98) Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật II. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 1. Tính hình tượng – Xét ngữ liệu: (2) Dân tộc ta được trưởng thành trong chiến tranh. Kẻ thù không còn hi vọng để ngăn cản sự phát triển mạnh mẽ, to lớn của một dân tộc từng bị áp bức ở hầm mỏ và nông thôn. Đoạn thơ và đoạn văn trên đều nói về sức mạnh của dân tộc Việt Nam, cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước. + Thơ Tố Hữu:sử dụng hoán dụ “bàn chân” chỉ dân tộc Việt Nam, những người công nhân và nông dân. + Đoạn văn: diễn đạt trực tiếp. → Thơ Tố Hữu cụ thể hơn, sinh động, hàm súc và biểu cảm hơn ->có tính hình tượng. (1) diễn đạt cụ thể hơn, sinh động, hàm súc, biểu cảm hơn (2)-> có tính hình tượng. =>Tính hình tượng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ ra cách diễn đạt cụ thể hơn, hàm súc hơn và gợi cảm hơn trong 1 ngữ cảnh nhất định. – Các phép tu từ sử dụng để tạo ra tính hình tượng: (SGK/ T99). + So sánh: (1)“Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” (2)Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. + Ẩn dụ: Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông nhường nào/ Chỉ có biển mới biết/ Thuyền đi đâu, về đâu. VD: Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ->Thuyền, bến không còn là phương tiện trên sông nước hay nơi neo đậu nữa mà chỉ nam nữ (thuyền:nam, bến: nữ), chỉ tình yêu đôi lứa. -Tác dụng: làm cho ngôn ngữ nghệ thuật đa nghĩa. 2. Tính truyền cảm Biểu hiện: SGK/ T100 VD: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều. →Cảnh quê hương bị chiến tranh tan phá và nỗi đau xót của tác giả. Người đọc thấu hiểu và cảm xúc nảy sinh như chính tác giả VD: “Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. →Tác giả thông cảm, đồng cảm, xót xa cho số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.→ ta phải trăn trở, suy nghĩ về thân phận của người phụ nữ, thương cảm, đồng cảm với họ. Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều (Nguyễn Đình Thi) →Cảnh quê hương bị chiến tranh tan phá và nỗi đau xót của tác giả. Người đọc thấu hiểu và cảm xúc nảy sinh như chính tác giả. + Tính cảm xúc(đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt): biểu hiện sắc thái cảm xúc, tình cảm của người nói qua các yếu tố ngôn ngữ. + Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ người nói (viết) làm cho người nghe ( đọc) cùng buồn, vui, yêu, thích… như người nói (viết). 3. Tính cá thể hóa Thể hiện ở: + Phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật. VD: Ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương cá tính, góc cạnh. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến thâm trầm, kín đáo, sâu sắc. + Vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật: ngôn ngữ của Chí Phèo thì du côn, Bá kiến thì khôn ngoan, cáo già… + Nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm. + Tính cá thể hóa thể hiện ở khả năng vận dụng các phương tiện diễn đạt chung vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của mỗi nhà văn, nhà thơ, tạo nên phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật VD: Ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương cá tính, góc cạnh. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến thâm trầm, kín đáo, sâu sắc. Thơ Xuân Diệu có vốn từ giàu hình ảnh, nhạc điệu, phập phồng hơi thở cuộc sống; thơ Chế Lan Viên sử dụng ngôn từ chỉ sự héo úa, tàn lụi, cõi chết. + Thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật: Ví dụ ngôn ngữ của Chí Phèo thì du côn, ngôn ngữ Bá kiến thì khôn ngoan, cáo già trong Chí Phèo(Nam Cao),.. + Thể hiện ở nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm. VD: Ánh trăng trong truyện Kiều được miêu tả cụ thể những vẻ đẹp không giống nhau, không lặp lại: (1) Vầng trăng vằng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song. (2)Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao Mặt ngơ ngẩn mặt, lòng ngao ngán lòng. (3)Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường. Phân biệt tính cá thể hóa trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: + Tính cá thể hóa của ngôn ngữ sinh hoạt mang tính chất tự nhiên, biểu hiện ở đặc điểm riêng về giọng điệu, ngôn ngữ diễn đạt riêng của từng người, giúp chúng ta nhận biết được người này khác với người khác. + Tính cá thể hóa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật góp phần thể hiện phong cách riêng của mỗi nhà thơ, nhà văn. Chẳng hạn cùng viết về trăng nhưng mỗi tác giả lại có cách nhìn, cách diễn đạt khác nhau: Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ (Xuân Diệu); Trăng nằm sõng soài trên cành liễu/ Đợi giớ đông về để lả lơi (Hàn Mặc Tử); Trăng vào của sổ đòi thơ/ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau (Hồ Chí Minh III. Luyện tập (5 phút) Bài tập 1. Các biện pháp tu từ tạo tính hình tượng: so sánh, nhân hóa, tượng trưng…dặc biệt là cách nói hàm ẩn trong những ngữ cảnh tu từ. VD: + So sánh: Áo chàng đỏ tựa ráng pha/ Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in + Ẩn dụ: Con cò ăn bãi rau răm/ Đắng cay chịu vậy đãi đằng cùng ai. + Hoán dụ: Áo nâu liền với áo xanh/ Nông thôn liền với thị thành đứng lên. Bài tập 2. Tính tượng hình là đặc trưng quan trọng nhất vì: -Nó là phương tiện tái hiện, tái tạo cuộc sống thông qua chủ thể của nhà văn. – Là mục đích của sáng tạo nghệ thuật, đưa người đọc vào thế giới của cái đẹp thông qua những xúc động hướng thiện trước thiên nhiên và cuộc sống→hình thành những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp cho người đọc. + Có khả năng gây cảm xúc cho người đọc. + Mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Bài tập 3 – Canh cánh – Rắc, giết.
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Hướng dẫn Ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 1. Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt a. Xét ngữ liệu: -Văn bản ghi lại cuộc hội thoại diễn ra trong: +Không gian: tại khu tập thể X +Thời gian: Buổi trưa -Các nhân vật tham gia giao tiếp và mối quan hệ giữa họ: +Các nhân vật chính: Lan, Hùng, Hương -> quan hệ bạn bè (bình đẳng về vai trò giao tiếp) +Các nhân vật phụ: Một người đàn ông, mẹ Hương -> quan hệ ruột thịt hoặc xã hội (vai bề trên, lớn tuổi hơn) -Nội dung và mục đích của cuộc hội thoại: +Nội dung: Báo đến giờ đi học +Mục đích: Để đến lớp đúng giờ quy định. -Đặc điểm ngôn ngữ của cuộc hội thoại: +Từ ngữ: Hô gọi, tình thái (ơi, đi, à, chứ, với, gớm, ấy, chết thôi), khẩu ngữ (chúng mày, ngủ ngáy, lạch bà lạch bạch) ->Từ ngữ quen thuộc, gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày. +Câu văn: ngắn, tỉnh lược chủ ngữ, câu đặc biệt, câu cầu khiến, cảm thán,…(Hương ơi!. Hôm nào cũng chậm,…) b.Kết luận Ngôn ngữ sinh hoạt (còn được gọi là khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại…) là lời ăn tiếng nói hàng ngày, dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm,…đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống. 2. Các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt -Chủ yếu ở dạng nói (độc thoại, đối thoại) -Có khi ở dạng viết (nhật kí, hồi kí, thư từ) -Còn có dạng tái hiện (lời thoại của nhân vật trong TPVH mô phỏng, bắt chước lời nói tự nhiên) VD: Lời nói của các nhân vật trong kịch, tuồng, chèo, truyện, tiểu thuyết,… ->Dù ở dạng nào, ngôn ngữ sinh hoạt có dấu hiệu đặc trưng của phong cách ngôn ngữ. II. Luyện tập a. Phát biểu ý kiến của mình về nội dung của những câu ca dao (SGK) + “Lời nói ……lòng nhau” – “ Lời nói chẳng mất tiền mua”: ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc, ai cũng có quyền sử dụng – “Lựa lời”: lựa chọn lời nói một cách có suy nghĩ, có ý thức và chịu trách nhiệm về lời nói của mình – “Vừa lòng nhau”: tôn trọng người nghe để tìm ra tiếng nói chung =>nói năng phải thận trọng và có văn hoá + “Vàng thì……. thử lời” – “vàng”: vật chất→kiểm tra bằng phương tiện vật chất→ kết luận tường minh – “chuông”: vật chất nên kiểm tra = phương tiện vật chất→ kết luận tường minh – “người ngoan”:nhấn mạnh đến phẩm chất và năng lực→ trừu tượng, muốn đo phải có nhiều cách trong đó có thử lời→ biết được trình độ, nhân cách của người là “ngoan” hay “không ngoan” b. Tác giả mô phỏng ngôn ngữ sinh hoạt vùng Nam Bộ (lời ăn, tiếng nói của người chuyên bắt cá sấu) → sinh động và mang đậm dấu ấn văn hoá địa phương – Dùng từ địa phương: quới, ngặt, ghe, rượt… Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt I. Đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: 1.Tính cụ thể: Biểu hiện qua những dấu hiệu sau: – Có địa điểm và thời gian xác định – Có nhân vật giao tiếp xác định (những ai?) – Có vai giao tiếp xác định (ai nói với ai?) – Có mục đích (để làm gì?) – Có cách diễn đạt (thân mật, suồng sã,sang trọng, nghiêm túc..) bằng ngôn ngữ xác định => Ngôn ngữ giao tiếp rõ ràng, cụ thể thì người nghe dễ dàng lĩnh hội; ngôn ngữ trừu tượng, sách vở thì người nghe khó nắm bắt, tiếp thu. 2.Tính cảm xúc: – Là tình cảm, thái độ, cảm xúc được biểu hiện: + Giọng nói (ngữ điệu, cường điệu, tốc độ,…) + Từ ngữ (khẩu ngữ, từ cảm thán,..) + Câu giàu sắc thái cảm xúc (câu cảm thán, cầu khiến, gọi – đáp,…) =>Tính cảm xúc giúp cho hiệu quả giao tiếp cao hơn. Nó gắn với ngữ điệu và các hành vi đi kèm như vẻ mặt, cử chỉ, điệu bộ. Lưu ý: Không có một lời nói nào nói ra lại không mang tính cảm xúc 3.Tính cá thể: – Là nét riêng biệt của người tham gia giao tiếp, được biểu hiện: + Cách phát âm rất riêng (ngữ điệu, cường độ,…) + Màu sắc âm thanh trong giọng nói. + Sở trường ưa dùng vốn từ ngữ riêng. + Cách lựa chọn các kiểu câu riêng. =>Tính cá thể có vai trò quan trọng đối với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: người nói và người nghe hiểu nhau, hiểu nhanh hơn trong giao tiếp. Lưu ý: mỗi nhân vật giao tiếp khi nói đều “vô tình” bộc lộ khá đầy đủ các nét riêng (không ai giống ai) – Lời nói là vẻ mặt thứ 2, diện mạo thứ 2 của con người để phân biệt người này với người khác, người quen hay kẻ lạ, tốt hoặc xấu Kết luận: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (PCNNSH) là phong cách mang những dấu hiệu đặc trưng của ngôn ngữ dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày. *Ghi nhớ: SGK II. Luyện tập 1.Bài tập 1: SGK/127 a. Nhận diện: + Thời gian: đêm khuya + Không gian: rừng núi + Nhân vật: Đặng Thuỳ Trâm tự phân thaân để đối thoại (Thực ra là độc thoại nội tâm) + Nội dung: tư vấn lương tâm -Tính cảm xúc: giọng điệu thân mật ở câu nghi vấn, câu cảm thán “Nghĩ gì đấy Th. ơi?”, “Đáng trách quá Th. Ơi, những từ ngữ “viễn cảnh”, “cận cảnh”, “cảnh chia li”, “cảnh đau buồn” được viết theo dòng tâm sự. -Tính cá thể: Bộc lộ chân dung tâm hồn của một con người có trình độ, có vốn sống, có trách nhiệm, có niềm tin và rất giàu tình cảm. b.Ích lợi của việc ghi nhật kí: phát triển ngôn ngữ, năng lực diễn đạt. 2.Bài tập 2: SGK/127 Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: -Từ xưng hô: mình – ta, cô – anh. -Ngôn ngữ đối thoại: “…có nhớ ta chăng”, “Hỡi cô yếm trắng…” -Lời nói hàng ngày: “Mình về…”, “Ta về…”, “Lại đây…với anh”. – Giọng điệu tình tứ. 3.Bài tập 3: SGK/127 Giống: Đoạn đối thoại giữa ĐS với dân làng mô phỏng hình thức đối thoại của ngôn ngữ nói: có người hô, kẻ đáp, có luân phiên lượt lời. Khác: Lời nói nhưng xếp đặt theo kiểu: – Có đối chọi: “Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục” – Có điệp từ, điệp ngữ: “Ai chăn ngựa hãy đi…”, “Ai giữ voi hãy đi…” “Ai giữ trâu…”
Living language style Instruct Living language and Living language style 1. Concept of daily language a. Consider the material: -Text records conversations that take place in: +Space: at X dormitory + Time: Noon -Characters participating in communication and relationships between them: +Main characters: Lan, Hung, Huong -> friendship relationship (equal communication roles) +Supporting characters: A man, Huong's mother -> biological or social relationship (role of superior, older) -Content and purpose of the conversation: +Content: Report that it's time to go to school +Purpose: To get to class on time. -Linguistic features of the conversation: +Words: Calling, mood (oh, go, ah, yes, with, disgusting, that's it, let's die), speech (you guys, snore, waddle) ->Familiar and close words in daily activities. + Sentences: short, simplifying the subject, special sentences, command sentences, exclamations,... (Huong! Every day is slow,...) b. Conclusion Daily language (also known as oral language, spoken language, conversational language...) is daily speech, used to communicate, exchange thoughts, feelings,... to meet the needs of life. life. 2. Forms of expression of daily language -Mainly in spoken form (monologue, dialogue) -Sometimes in written form (diary, memoir, letter) -There is also a form of reproduction (the dialogue of the character in the TPVH simulates, imitating natural speech) For example: The words of characters in plays, operas, cheo, stories, novels,... ->No matter what form it takes, everyday language has characteristic signs of linguistic style. II. Practice a. Express your opinion about the content of folk songs (textbooks) + “Words…to each other” - "Words do not cost money to buy": language is the common property of the nation, everyone has the right to use it – “Choose your words”: choose your words thoughtfully, consciously and take responsibility for your words – “Please each other”: respect the listener to find a common voice =>Speak must be careful and cultured + “Gold is……. test" – “gold”: material → tested by physical means → clear conclusion – “bell”: material that should be tested = material means → explicit conclusion – “good person”: emphasizes qualities and abilities → abstract, to measure, there must be many ways including testing words → knowing the level and personality of a person is “good” or “not good” b. The author simulates the living language of the Southern region (the words and voices of crocodile catchers) → lively and imbued with local cultural imprints – Use local words: quoi, strict, ghe, chase… Living language style I. Basic characteristics of living language style: 1. Specificity: Manifested by the following signs: – Have a definite location and time – There are identified communication characters (who?) – Has a defined communication role (who speaks to whom?) – Purposeful (for what?) – Have a way of expressing (intimate, informal, luxurious, serious...) in a specific language => Clear and specific communication language is easy for listeners to understand; Abstract language and books are difficult for listeners to grasp and absorb. 2.Emotional: – Are feelings, attitudes, and emotions expressed: + Voice (intonation, exaggeration, speed,...) + Words (speech, exclamatory words, etc.) + Sentences rich in emotional nuances (exclamations, requests, calls and responses,...) => Emotion helps make communication more effective. It is associated with intonation and accompanying behaviors such as facial expressions, gestures, and gestures. Note: There is no word that is not emotional 3. Individuality: – Is a unique feature of the communication participant, expressed: + Very unique pronunciation (intonation, intensity,...) + Sound color in voice. + A knack for using own vocabulary. + How to choose specific sentence types. => Individuality plays an important role in living language style: speakers and listeners understand each other and understand faster in communication. Note: when each character communicates, they "accidentally" reveal their unique characteristics (no one is the same). – Speech is the second facial expression, the second appearance of a person to distinguish one person from another, acquaintance or stranger, good or bad. Conclusion: Daily language style (PCNNSH) is a style that carries characteristic signs of language used in daily communication. *Remember: Textbook II. Practice 1. Exercise 1: Textbook/127 a. Identified: + Time: late night + Space: mountains and forests + Character: Dang Thuy Tram separates himself to have a dialogue (Actually an internal monologue) + Content: conscience counseling -Emotional: intimate tone in interrogative sentences, exclamatory sentences "What are you thinking, Th. oh?", "It's so pitiful, Th. Oh, the words "perspective", "close-up", "separation scene", "sad scene" are written in a confessional line. -Individuality: Reveals the portrait of the soul of a person who is qualified, has life, is responsible, has faith and is very emotional. b. Benefits of keeping a diary: developing language and expression ability. 2. Exercise 2: Textbook/127 Signs of living language style: -Address words: I - I, she - you. -Dialogue language: “…do you remember me”, “Hey white bib girl…” -Daily words: "I'm home...", "I'm home...", "Come here...with me". – Romantic tone. 3. Exercise 3: Textbook/127 Similar: The dialogue between the Ambassador and the villagers simulates the dialogue form of spoken language: someone shouts, someone responds, and takes turns speaking. Other: Words but arranged in the following style: - There is a confrontation: "Your chief is dead, your rice is rotten" - There are alliterations and repetitions: "Whoever herds horses should go...", "Whoever herds elephants should go..." "Whoever herds buffaloes..."
Phát biểu cam nghĩ về chú mèo nhà em nuôi lớp 7 Hướng dẫn Phát biểu cam nghĩ về chú mèo nhà em nuôi lớp 7 Nhà tôi có một con vật. Đó là chú mèo con xinh xắn mà bác tôi mới cho. Nó là một con mèo có bộ lông trắng như tuyết. Nó có đôi mắt tròn như bi. Nó là một chú mèo đáng yêu với những cái ria mép ngắn nhìn rất là ngộ nghĩnh. Bộ lông của nó mới tuyệt làm sao! Nó luôn giúp tôi thích mắt vì cái màu lông trắng đó. Nó là một con mèo mới được đẻ mà đã phải rời xa người cha, người mẹ của nó để đến với tôi. Tôi nghĩ loài mèo cũng giống như loài người mà thôi. Khi phải rời xa cha mẹ thì luôn mang một nỗi nhớ thương. Tôi nghĩ rằng tôi phải giúp con mèo quên đi nỗi nhớ đó bằng những hành động cụ thể. Từ ngày có nó, gia đình tôi có thêm một thành viên mới. Bố mẹ tôi coi nó như đứa con thứ ba. Anh em tôi coi nó như đứa em út. Chúng tôi quyết định đặt tên cho nó là Bi. Tôi và em tôi dạy nó cách bắt chuột – tập tính của loài mèo. Ban đầu tôi làm hình nộm để mèo tập và về sau nó cũng bắt được chuột thật. Nó tập đủ mọi thứ kể cả trèo cây. Một con mèo con như thế là quá tinh nghịch. Vào mùa đông mẹ tôi làm cho nó một cái áo len thật ấm. Tôi và em tôi luôn luôn tranh nhau ôm chú em út này. Đáp lại tình cảm của cả nhà, chú mèo đáng yêu chơi đùa và nghe lời. Tôi rất thích người em út của gia đình tôi vì nó không những có lợi mà còn đẹp nữa chứ.
Speaking thoughtfully about the cat I raised in 7th grade Instruct Speaking thoughtfully about the cat I raised in 7th grade My house has an animal. That's a lovely kitten that my uncle just gave me. It is a cat with fur as white as snow. It has round eyes like marbles. It is a lovely cat with short mustaches that look very funny. How wonderful its fur is! It always helps my eyes because of that white fur color. It is a newly born cat that had to leave its father and mother to come to me. I think cats are just like humans. When I have to leave my parents, I always feel a sense of nostalgia. I think I have to help the cat forget that nostalgia with specific actions. Since getting it, my family has had a new member. My parents treat him like a third child. My brothers and I consider him like our youngest brother. We decided to name it Bi. My brother and I taught him how to catch mice - a cat's behavior. At first I made a dummy for the cat to practice and later it caught a real mouse. He practices everything including climbing trees. A kitten like that is too mischievous. In the winter my mother makes him a very warm sweater. My brother and I always compete to hug this youngest brother. Responding to the family's love, the adorable cat plays and obeys. I really like the youngest brother of my family because it is not only beneficial but also beautiful.
Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…”- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…”- Văn lớp 10 Bài làm Ca dao tục ngữ là một phần trong bức tranh phản anh sinh hoạt đời sống của người nông dân nước ta. Nó thể hiện những tâm tư tình cảm của người nông dân, thông qua đó ta hiểu được suy nghĩ, tình cảm của người xưa như thế nào? “Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” Bài ca dao thể hiện bức tranh lao động vất vả của người nông dân trong công việc đồng áng của mình. Thể hiện nỗi vất vả một nắng hai sương trên đồng ruộng của người dân. Những con người quanh năm lam lũ, để làm ra hạt gạo, hạt lúa. Họ phải đổ nhiều mồ hôi công sức thì mới có thể làm ra những thành phẩm cho con người hưởng thụ. Đồng thời bài ca dao cũng là lời khuyên của người xưa muốn gửi gắm tới những con người hôm nay phải biết trân trọng công sức thành quả mà người khác làm ra cho mình thừa hưởng. Khi chúng ta bưng bát cơm thơm dẻo phải biết quý trọng những giọt mồ hôi của người nông dân đã đổ xuống cho chúng ta hưởng thành quả đó. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Trong công việc lao động cực nhọc của người nông dân. Công việc “cày đồng” là một trong những bước quan trọng để làm cho mảnh đất trở nên tơi xốp mềm mại, có như vậy cây lúa khi được gieo xuống mới sinh sôi phát triển được. Hình ảnh người nông dân chăm chỉ làm việc, cày đồng giữa buổi trưa, thể hiện sự mệt nhọc giữa trời nắng gắt, những giọt mồ hôi của người nông dân rơi xuống trên đồng ruộng thể hiện sự vất vả của người nông dân trong công việc mà mình đang làm Tiếng mồ hôi được ví “thánh thót” như tiếng hát, tiếng hót của một chú chim, đây là một sự so sánh vô cùng độc đáo. Những tiếng mồ hôi rơi “thánh thót” càng làm tăng thêm sự vất vả của người nông dân. Trong một không gian bao la tĩnh mịch những giọt mồ hôi rơi xuống tạo ra những âm thanh nghe như tiếng nhạc tiếng đàn, tiếng chim kêu. Nhưng mồ hôi càng rơi nhiều bao nhiêu thì càng thể hiện sự vất vả của người nông dân bấy nhiêu. Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Trong hai câu ca dao tiếp theo ý thơ đổi biến đột ngột. Nếu như ở hai câu trên, người xưa muốn thể hiện nỗi vất vả nặng nhọc của mình trong công việc ruộng nương làm ra hạt lúa hạt gạo vô cùng vất vả. Giống như việc chúng ta ăn một bát cơm trắng dẻo thì phải nhớ ơn người làm ra hạt lúa hạt gạo. Họ đã đổ rất nhiều mồ hôi công sức mới có thể tạo dựng nên những thành quả hôm nay cho chúng ta thừa hưởng. Một bát cơm trắng nhưng phải đổi rất nhiều công sức lao động, nhiều mồ hôi nước mắt của người dân lao động trong những nỗ lực của mình, mới có thể gặt hái được những kết quả tốt đẹp. Bài ca dao cũng nhằm gửi gắm tới thế hệ trẻ chúng ta bảo biết sống thủy chung son sắc, trước sau như một biết trân trọng công lao mà cha ông ta đã làm ra cho chúng ta thừa hưởng từ việc dựng nước, giữ nước tới những thành quả lao động như hạt gạo, củ khoai của sắn. Bài ca dao này nằm trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn. Ăn quả nhớ người trồng cây” Ông bà ta muốn mượn những sự việc cụ thể để gửi tới con cháu những triết lý sống sâu sắc hơn. Chính vì vậy chúng a phải biết ơn công lao của những lớp cha anh đã đổ nhiều mồ hôi, xương máu hy sinh thân minh cho tổ quốc tươi đẹp giàu mạnh hơn.
Express your feelings when reading the folk song "Plowing the fields at noon..." - Grade 10 literature Instruct Express your feelings when reading the folk song "Plowing the fields at noon..." - Grade 10 literature Assignment Folk songs and proverbs are part of the picture that reflects the daily life of farmers in our country. It represents the thoughts and feelings of farmers, through which we can understand the thoughts and feelings of the ancients. “Plowing the fields at noon Sweat is like rain from plowing fields Someone please bring a bowl full of rice A flexible aromatic bitter seeds want to share" The folk song shows the picture of the farmer's hard work in his field work. Expressing the hardships of the people in the fields. People work hard all year round to produce rice grains. They have to put in a lot of sweat and effort to be able to create finished products for people to enjoy. At the same time, the folk song is also advice from the ancients that they want to convey to people today to appreciate the efforts and achievements that others have made for themselves to inherit. When we hold a bowl of fragrant rice, we must appreciate the tears of the farmer's sweat that has poured down for us to enjoy those fruits. Sweat is like rain from plowing fields. In the hard labor of farmers. The work of "plowing the field" is one of the important steps to make the land soft and loose, so that the rice plants can grow and develop when sown. The image of a farmer working hard, plowing the field in the middle of the afternoon, shows fatigue in the hot sun, the farmer's sweat drops falling on the field shows the hardship of the farmer in his work. what I'm doing The sound of sweat is compared to the sound of a bird singing, this is an extremely unique comparison. The "thrilling" sounds of sweat falling add to the farmers' hardship. In a vast, quiet space, drops of sweat fall, creating sounds that sound like guitar music or birds chirping. But the more sweat falls, the more it shows the farmer's hardship. Hey, bring a bowl full of rice, A flexible aromatic bitter seeds want to share. In the next two folk songs, the meaning of the poem changes suddenly. If in the above two sentences, the ancients wanted to express their hardships in the extremely hard work of working in the fields to produce rice seeds. Just like when we eat a bowl of sticky white rice, we must be grateful to the person who made the rice grain. They have put in a lot of sweat and effort to create today's achievements for us to inherit. A bowl of white rice requires a lot of hard work, a lot of sweat and tears from working people in their efforts, to be able to reap good results. The folk song also aims to convey to the younger generation that we know how to live a faithful and prosperous life, consistently appreciating the work our ancestors have done for us to inherit from building and defending the country. fruits of labor such as rice grains, potatoes and cassava. This folk song is in the treasury of Vietnamese folk literature with the theme "Drinking water, remember its source. When eating fruit, remember the person who planted the tree." Our grandparents want to borrow specific events to send their children deeper philosophies of life. That is why we must be grateful for the efforts of our ancestors who have sweated and sacrificed their lives to make our country more beautiful, richer, and stronger.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh trích trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ Bài làm Nhắc tới Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), người đời nhớ tới tác phẩm Vũ trung tùy bút của ông. Một bút pháp nghệ thuật tinh tế, tài hoa, một phong thái thư nhàn cao nhã, ông tiêu biểu cho cốt cách kẻ sĩ Bắc Hà cuối thời Lê Trịnh và thời kì đầu nhà Nguyễn. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trang tùy bút đặc sắc, rút trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ. Tùy hứng mà viết, tùy bút mà viết, cảm hứng dào dạt, dâng trào, cảnh ăn chơi xa hoa của chúa Trịnh Sâm, cảnh bán hàng của bọn nội thần nội thị, cảnh tấu nhạc của bọn nhạc công cung đình tại chùa Trịnh Quốc nơi Hồ Tây giữa thế kỉ XVIII, sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan khắp chốn dân gian… đã được tác giả Vũ trung tùy bút chấm phá qua một vài nét, thế mà ta chỉ đọc qua một lần là có thể nhớ mãi. "Chuyện cũ…" đã xảy ra vào 2 năm Giáp Ngọ – Ất Mùi (1774 – 1775), đó là lúc Đàng Ngoài “vô sự", là những năm tháng hoàng kim của Trịnh Vương (Trịnh Sâm); khi mà người ngọc Đặng Thị Huệ được Chúa sủng ái trở thành nguyên phi. Trịnh Sâm sống trong xa hoa: thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Chúa ra chơi cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ mỗi tháng ba bốn lần. Cảnh đón tiếp với các thứ nghi lễ thật tưng bừng độc đáo. Có "binh lính đến hầu vòng quanh bốn mặt hồ”. Có tổ chức hội chợ, do quan nội thần cải trang "bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán”. Thuyền ngự đi tới đầu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ… Gác chuông chùa Trấn Quốc trở thành nơi hòa nhạc của bọn nhạc công cung đình. Đình đài, cung điện được xây dựng "liên tục" nhằm thỏa mãn cuộc sống ăn chơi của vua chúa và bọn quan lại thời Lê Trịnh. Bao nhiêu tiền của, vàng bạc, châu báu, nước mắt mồ hôi của nhân dân bị bòn vét đến kiệt cùng. Phạm Đình Hổ đã được mắt thấy tai nghe những chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh nên cách kể, cách tả của ông rất sống. Để được sống trong xa hoa, hưởng lạc đế vương, từchúa đến quan đều trở thành bọn cướp ngày ra sức hoành hành, trấn lột khắp chốn cùng quê. Chúa thì "sức thu lấy" trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cầy cảnh ở chốn dân gian "không thiếu một thứ gì". Có những cây cảnh "cành lá rườm rà… như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng" phải dùng đến một cơ binh mới khiêng nổi, từ bên bắc chở qua sông đem về. Trong phủ chúa "điểm xuyết" bao núi non bộ trông lạ mắt như "bến bể đầu non". Vườn ngự uyển, trong những đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm "ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn''. Nếu như trong Thượng kinh kí sự Lê Hữu Trác ngạc nhiên viết: Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới, Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen. Quê mùa cung cấm chưa quen, Khúc gì ngư phủ đào nguyên thuở nào, thì ở đây, Phạm Đình Hổ ái ngại nghĩ: "kẻ thức giả biết đó kì triệu bất thường”. Cuộc sống cực kì xa hoa ấy là nguyên nhân cho sự sụp đổ ngai vàng ngày một ngày hai sẽ nổ ra. Đó là năm 1782, Trịnh Sâm qua đời, loạn kiêu binh nổ ra, kinh thành Thăng Long bị đốt phá tan hoang; năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ nhất, cơ nghiệp họ Trịnh tan tành trong nháy mắt! Cái “triệu bất tường" mà Phạm Đình Hổ nghĩ tới thật linh nghiệm. Quy luật cuộc đời vồ cùng sòng phẳng, cay nghiệt: Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm, Trăm loài ma mồ nấm chung quanh. Nghìn vàng khôn đổi được mình Lầu ca viện hát, tan tành còn đâu ( Văn chiêu hồn – Nguyễn Du) Bọn hoạn quan trong phủ chúa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt, như dân gian đã khinh bỉ chửi vào mặt: "Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan". Chúng dùng thủ đoạn "nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm". Chỉ bằng hai chữ “ phụng thủ" biên ngay vào chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu hay của bất cứ nhà nào là chúng cướp. Chúng còn lập mưu "đêm đến" cho tay chân sai lính lẻn vào "lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền". Chúng ngang ngược "phá nhà hủy tường" của dân để khiêng hòn đá hoặc cây cối gì mà chúng cướp được! Đối với nhà giàu thì chúng lập mưu vu cho là "giấu vật cung phụng" để hành hạ, để làm tiền, nhiều người phải "bỏ của ra kêu van chí chết", có gia đình "phải đập bể núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ". Gia đình tác giả thuộc hàng quan lại, quý tộc thời Lê Trịnh. Trước sự nhũng nhiễu hoành hành, mẹ Phạm Đình Hổ là bà cung nhân phải sai người nhà chặt cây lê "cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng", hai cây lựu trắng, lựu đỏ “lúc ra quả trông rất đẹp". Chi tiết này, tình tiết này rất sống, rất thực. Tác giả đã kể lại một chuyện có thật của gia đình mình ở phường Hà Khẩu để vừa tạo nên niềm tin cho người đọc mai hậu, vừa phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê Trịnh, vạch trần sự thối tha trong phủ chúa. Trang tùy bút Chuyện cũ trong phu chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ có giá trị lịch sử sâu sắc, nó đã làm hiện lên cảnh vật và con người, cuộc sống xa hoa ăn chơi của vua chúa, hành động ăn cướp, làm tiền trắng trợn của bọn quan lại trong phủ chúa. Ngòi bút của Phạm Đình Hổ rất trầm tĩnh và sâu sắc. Mọi cảm xúc, ý nghĩ của ông về nhân tình thế sự được gửi gắm qua những chi tiết, tình tiết, mẩu chuyện rất sống, rất chọn lọc, đậm đà, nhã thú.
Topic: Express your feelings when reading Old stories in Lord Trinh's palace quoted in Vu Trung's essay by Pham Dinh Ho Assignment When mentioning Pham Dinh Ho (1768 - 1839), people remember his work Vu Trung Essay. With a delicate artistic style, talent, and a leisurely and elegant style, he represents the character of Bac Ha scholars at the end of the Le Trinh dynasty and the beginning of the Nguyen dynasty. The old story in Lord Trinh's palace is a unique essay page, taken from Vu Trung essay by Pham Dinh Ho. Write as you please, write as you please, inspiration overflows, overflowing, scenes of Lord Trinh Sam's lavish entertainment, scenes of sales by the inner court servants, scenes of music played by court musicians at Trinh Pagoda The kingdom of West Lake in the middle of the 18th century, the harassment of eunuchs throughout the folk world... have been outlined in a few strokes by the author Vu Trung's essay, but we only read it once and can remember it forever. "The old story..." happened in the two years of Giap Ngo - At Mui (1774 - 1775), that was when Dang Ngoai was "unscathed", the golden years of Trinh Vuong (Trinh Sam); when the pearl Dang Thi Hue was favored by God and became a royal concubine. Trinh Sam lived in luxury: she loved going out to see beautiful scenery, often staying in palaces on Tay Ho, Tu Tram Mountain, and Dung Thuy Mountain to visit Thuy Lien Palace On the banks of Tay Ho three or four times a month, the reception scene is filled with unique and jubilant ceremonies. There are "soldiers coming around the four sides of the lake". There was a fair held, with the mandarins disguised as "covering a turban, wearing women's clothes, and displaying groceries around the lake shore for sale". The royal boat arrived at the top and the mandarins supporting the great mandarins stopped at the shore to buy at will. Selling things... The bell tower of Tran Quoc Pagoda became a concert venue for royal musicians. The palace was built "continuously" to satisfy the leisure life of kings and mandarins during the Le Trinh period. How much money, gold, jewels, tears and sweat of the people were siphoned to the end. Pham Dinh Ho had seen and heard the old stories in Lord Trinh's palace, so his way of telling and describing them very alive. In order to live in luxury and enjoy the pleasures of the king, everyone from the lords to the mandarins became robbers, raging and robbing every corner of the countryside. God has the "strength to collect" strange beasts, ancient wood, monster stones and civet flower pots from folk areas "not lacking anything". There are ornamental trees with "cumbersome branches and leaves... like an old tree growing on top of a rock hole, with roots several meters long" that require a soldier to be able to carry them from the north across the river. The lord's palace is "dotted" with many mountainous landscapes that look strangely like "a broken wharf at the top of a mountain". In the imperial garden, on quiet nights, the sounds of birds chirping and gibbons sing all around, or at midnight "noisy like a storm of rain and wind, breaking nests and scattering flocks". If in the Thuong Kinh memoirs of Le Huu Trac surprisingly wrote: The flowers from the palace come from time to time with their sweet scent, The garden hears parrots talking loudly. Unaccustomed to the forbidden countryside, What song did the fishermen dig up in the past? Then here, Pham Dinh Ho sadly thought: "The wise know that this is unusual". That extremely luxurious life is the cause of the fall of the throne that will happen one day or two. That is the year In 1782, Trinh Sam died, rebellion broke out, Thang Long capital was burned and destroyed; in 1786, Nguyen Hue led his army to Bac Ha for the first time, the Trinh family's fortune was destroyed in the blink of an eye! "unlikely" that Pham Dinh Ho thought of was very effective. The rules of life are fair and cruel: There's so much prosperity, there's so much hatred, Hundreds of species of ghosts and graves around. Thousands of gold cannot change you The opera house's singing hall is all but shattered (Necromancer Literature – Nguyen Du) The eunuchs in the lord's palace were both brazen and cunning, as the people scornfully cursed in his face: "Robbing at night is an enemy, robbing during the day is an official." They used the trick of "using the wind to break bamboo shoots and going out to threaten". With just the two words "servant" written right into flower pots, ornamental plants, or ornamental birds of any house, they will rob them. They also plan to "come at night" for their minions to send soldiers to sneak in "to take it away, then take it away." charged with hiding offerings to threaten to get money." They arrogantly "destroyed people's houses and destroyed walls" to carry away stones or trees that they had stolen! They plotted slander against rich people, claiming that " hiding offerings" to torture, to make money, many people have to "spend money and cry until death", some families "have to smash rockeries, or destroy ornamental plants to avoid disaster". The author's family belonged to mandarins and nobles during the Le Trinh dynasty. Faced with widespread harassment, Pham Dinh Ho's mother, a palace lady, had to order her family members to cut down a pear tree "several meters high, when in bloom, white and fragrant", two white pomegranate trees, red pomegranate "when they bear fruit, they look very beautiful." This detail, this episode is very real, very real. The author has told a true story of his family in Ha Khau ward to both create trust for future readers and criticize the series. The greedy and disgusting faces of the mandarins of Le Trinh's time exposed the corruption in the royal palace. Essay page The old story of Lord Trinh's wife by Pham Dinh Ho has profound historical value, it has revealed the landscape and people, the lavish life of kings, the acts of robbery, and making white money. brazenness of mandarins in the royal palace. Pham Dinh Ho's pen is very calm and profound. All his emotions and thoughts about human affairs are conveyed through details, details, and stories that are very vivid, very selective, rich, and interesting.
Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sự tích Hồ Gươm Hướng dẫn Sự tích Hồ Gươm lí giải về nguồn gốc tên gọi của một địa danh nổi tiếng, gắn với đó là cả một câu chuyện lịch sử sống động. Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện sự tích Hồ Gươm. Bài làm Hồ Gươm – trái tim của Hà Nội, đó là một địa danh lịch sử đặc biệt còn có tên gọi khác là Hồ Hoàn Kiếm. Hồ Gươm gắn liền với sự tích vua Lê Lợi trả gươm, và gắn với truyền thuyết Rùa vàng. “Sự tích Hồ Gươm”là một truyện đặc sắc, tiêu biểu trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Truyện có sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo, được hư cấu lịch sử. Truyện xoay quanh việc Lê Lợi mượn gươm và sau khi đất nước sạch bóng quân thù với việc Lê Lợi trả gươm. Truyện gắn liền với hình tượng Rùa Vàng, truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tinh thần dân tộc và chiến thắng hào hùng của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bố cục của truyện gồm hai nội dung chính đó là Long Quân cho nghĩa quân mượn gươm đánh giặc và khi giặc tan Long Quân đòi lại gươm. Truyện xảy ra vào thế kỉ XV khi giặc Minh tràn sang nước ta lấy nghĩa “Phù Trần diệt Hồ”. Tuy nhiên âm mưu của chúng là muốn thôn tính đất nước ta. Chúng đã thực hiện nhiều chính sách tàn bạo, vơ vét của cải của nhân dân ta. Chúng còn thẳng tay đàn áp, giết hại nhân dân ta “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Trước những việc làm độc ác của quân giặc, nhân dân ta vô cùng căm phẫn và nhiều cuộc khởi nghĩa đã diễn ra nhằm đánh đuổi giặc Minh, tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Bấy giờ ở vùng Thanh Hóa có một nghĩa quân đã dấy binh khởi nghĩa do Lê Lợi đứng đầu. Do thế lực còn yếu nên nghĩa quân liên tiếp bị thu trận, thấy vậy Long Quân đã cho nghĩa quân mượn gươm. Như vậy, nghĩa đã được sự giúp đỡ của thần linh, gắn liền với tư tưởng tâm linh của dân tộc Việt Nam. Lê Lợi và Lê Thận nhận được gươm trên chính quê hương của họ chứ không phải ở một nơi xa lạ nào khác. Lê Thận đi kéo lưới ở dưới sông, nhưng lạ kì thay cả ba lần kéo đều không có cá mà chỉ thấy có một thanh sắt. Lần thứ ba ông nhìn kĩ thì đó là một lưỡi gươm. Con số 3 theo quan niệm dân gian tượng trưng cho số nhiều, có ý nghĩa khẳng định và ý nghĩa tạo tình huống, tăng sức hấp dẫn cho truyện. Lê Thận đem lưỡi gươm ấy về cất ở xó nhà rồi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và sau này trở thành người tâm phúc của Lê Lợi. Nhân một hôm đến nhà Lê Thận, chủ tướng Lê Lợi nhìn thấy lười gươm rực lên hai chữ Thuận Thiên (thuận theo ý trời) bèn cầm lên xem nhưng chMột lần bị giặc truy đuổi, Lê Lợi cùng một số tướng sĩ phải chạy vào rừng. Bất ngờ, ông nhìn thấy trên ngọn cây có ánh sáng khác lạ. Ông trèo lên xem thử, nhận ra đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi gỡ lấy chuôi gươm mang về. Đem lưỡi gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm bắt được trên rừng thì vừa như in. Không phải tình cờ người xưa để cho Lê Thận bắt được lưỡi gươm từ dưới đáy sông và Lê Lợi bắt được chuôi gươm từ trong rừng thẳm. Hai chi tiết đó có dụng ý nhấn mạnh gươm thiêng là do linh khí của sông núi hun đúc mà thành. Lưỡi gươm dưới nước tượng trưng cho hình ảnh miền xuôi, chuôi gươm trên rừng tượng trưng cho hình ảnh miền núi. Hai hình ảnh ấy kết hợp lại, ý nói ở khắp nơi trên đất Việt, các dân tộc đều có khả năng đánh giặc, cứu nước. Từ đồng bằng sông nước tới vùng núi non hiểm trở, mọi người đều một lòng yêu nước và sẵn sàng đứng lên cứu nước, giết giặc ngoại xâm. Tuy lưỡi gươm ở nơi này, chuôi gươm ở nơi khác nhưng khi đem lắp vào nhau thì vừa như in. Điều đó thể hiện nghĩa quân trên dưới một lòng và các dân tộc đồng tâm nhất trí cao độ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm. Gươm thiêng phải được trao vào tay người hiền tài, có lòng yêu nước nhiệt thành, có ý chí cứu nước. Cho nên mới có chi tiết thú vị: ba lần Thận kéo lưới lên đều chi được một thanh sắt (lưỡi gươm); trong đám người chạy giặc vào rừng sâu, chỉ một mình Lê Lợi nhìn thấy ánh sáng lạ phát ra từ ngọn cây cao, nơi có treo chuôi gươm báu. Và một hôm, khi chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Ánh sáng của thanh gươm và hai chữ Thuận Thiên khắc trên gươm như một lời khuyến khích, động viên của thần linh, của tổ tiên đối với Lê Lợi. Thuận Thiên là hợp ý trời. Hãy hành động cứu nước vì hành động đó hợp với lẽ trời. Mà đã hợp lẽ trời thì tất yếu sẽ hợp với lòng người và tin chắc sẽ thành công. Đằng sau hình ảnh có vẻ hoang đường ấy chính là ý chí của muôn dân. Ý dân là ý trời. Trời trao mệnh lớn cho Lê Lợi cũng có nghĩa là nhân dân tin tưởng, trao ngọn cờ khởi nghĩa vào tay người anh hùng áo vải đất Lam Sơn. Gươm chọn người và người đã nhận thanh gươm, tức là nhận trách nhiệm trước đất nước, dân tộc. Lời nói của Lê Thận khi dâng gươm báu cho Lê Lợi đã phản ánh rất rỗ điều đó. Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để bảo đền tổ quốc. Như vậy là gươm báu đã trao đúng vào tay người hiền tài, cho nên đã phát huy hết sức mạnh lợi hại của nó. Từ khi có gươm thiêng, nhuệ khi của nghĩa quân Lam Sơn ngày một tăng, đánh đâu thắng đấy, bao phen làm cho quân giặc bạt vía kinh hồn. Sức mạnh đoàn kết của con người kết hợp với sức mạnh của vũ khí thần kì đã làm nên chiến thắng vẻ vang. Chuyện Long Quân cho mượn gươm được tác giả dân gian miêu tả rất khéo. Nếu để Lê Lợi trực tiếp nhận chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc thì sẽ không thể hiện được tính chất toàn dân, trên dưới một lòng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến Thanh gươm Lê Lợi nhận được là thanh gươm thống nhất, hội tụ tư tưởng, tình cảm, sức mạnh của toàn dân trên mọi miền đất nước. Lúc ở nhà Lê Thận, lưỡi gươm tỏa sáng trong gốc nhà tối giống như cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đã được nhen nhóm từ trong nhân dân. Ánh sáng thanh gươm thúc giục mọi người lên đường. Ánh sáng phát ra lấp lánh từ gươm thiêng phải chăng là ánh sáng của chính nghĩa, của khát vọng tự do, độc lập muôn đời. Thanh gươm tỏa sáng có sức tập hợp mọi người. Gươm thần tung hoành ngang dọc, mở đường cho nghĩa quân đánh tràn ra mãi cho đến lúc không còn bóng dáng một tên giặc Minh nào trên đất nước ta. Đánh tan quân xâm lược, non sông trở lại thanh bình. Lê Lợi lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long. Một ngày nọ, vua Lê cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp này, Long Quân sai Rùa Vàng đòi lại gươm thần và Lê Lợi hiểu ý thần linh, đã trao gươm cho Rùa Vàng. Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần để đánh giặc, nay đất nước đã yên bình thì đồi gươm lại. Rùa Vàng há miệng đón lấy gươm thần và lặn xuống nước. Gươm và Rùa đã chìm đáy nước, người ta vẩn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Đấy là ánh sáng của hào quang chiến thắng vẻ vang, ánh sáng của quyết tâm giết giặc bảo vệ tổ quốc. Những hình ảnh thần kì trên đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bao người. Chi tiết này có ý nghĩa lớn lao: Khi vận nước ngàn cân treo sợi tóc, thần linh, tổ tiên trao gươm báu cho con cháu giữ gìn giang sơn, bờ cõi. Nay đất nước độc lập, bắt đầu giai đoạn xây dựng trong hòa bình thì gươm báu – hùng khí của tổ tiên lại trở về cõi thiêng liêng. Hình ảnh Lê Lợi trả gươm đã nói lên khát vọng hòa bình của dân tộc ta. Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình, không thích chiến tranh nhưng kẻ nào xâm phạm đến chủ quyền độc lập, tự do của đất nước này đều sẽ được một bài học nhớ đời. Việc cho mượn gươm và đòi lại gươm của Long Quân như một lời răn dạy chí tình của ông cha ta đối với vị vua mới Lê Lợi: trừng trị kẻ thù thì phải dùng bạo lực, còn cai trị nhân dân thì nên dùng ân đức. Lê Lợi nhận gươm trên đất Thanh Hóa nhưng lại trả gươm tại hồ Tả Vọng ở Thăng Long, Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết này bị giới hạn bởi vì lúc này, Lê Lợi đã là vua và kinh thành Thăng Long là thủ đô, tượng trưng cho cả nước. Việc trả gươm diễn ra ở đây mới thể hiện hốt được tư tưởng yêu hòa bình và tỉnh thần cảnh giác của toàn dân tộc. Sau việc Lê Lợi trả gươm cho Long Quân, hồ Tả Vọng được đổi tên là Hồ Gươm (hay hồ Hoàn Kiếm). Tên hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) có ý nghĩa là gươm thần vẫn còn đó và nhắc nhở tinh thần cảnh giác đối với mọi người, răn đe những kẻ có tham vọng dòm ngó đất nước ta. Tên hồ đánh dấu và khẳng định chiến thắng hoàn toàn của khởi nghĩa Lam Sơn đối với giặc Minh, phản ánh tư tưởng yêu hòa bình đã thành truyền thống của dân tộc ta. Cái tên Hồ Gươm gắn liền với huyền thoại lịch sử ấy sẽ mãi mãi tồn tại với thời gian, với sự ngưỡng mộ của bao thế hệ Việt Nam yêu hước.
Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sự tích Hồ Gươm Hướng dẫn Sự tích Hồ Gươm lí giải về nguồn gốc tên gọi của một địa danh nổi tiếng, gắn với đó là cả một câu chuyện lịch sử sống động. Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện sự tích Hồ Gươm. Bài làm Hồ Gươm – trái tim của Hà Nội, đó là một địa danh lịch sử đặc biệt còn có tên gọi khác là Hồ Hoàn Kiếm. Hồ Gươm gắn liền với sự tích vua Lê Lợi trả gươm, và gắn với truyền thuyết Rùa vàng. “Sự tích Hồ Gươm”là một truyện đặc sắc, tiêu biểu trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Truyện có sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo, được hư cấu lịch sử. Truyện xoay quanh việc Lê Lợi mượn gươm và sau khi đất nước sạch bóng quân thù với việc Lê Lợi trả gươm. Truyện gắn liền với hình tượng Rùa Vàng, truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tinh thần dân tộc và chiến thắng hào hùng của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bố cục của truyện gồm hai nội dung chính đó là Long Quân cho nghĩa quân mượn gươm đánh giặc và khi giặc tan Long Quân đòi lại gươm. Truyện xảy ra vào thế kỉ XV khi giặc Minh tràn sang nước ta lấy nghĩa “Phù Trần diệt Hồ”. Tuy nhiên âm mưu của chúng là muốn thôn tính đất nước ta. Chúng đã thực hiện nhiều chính sách tàn bạo, vơ vét của cải của nhân dân ta. Chúng còn thẳng tay đàn áp, giết hại nhân dân ta “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Trước những việc làm độc ác của quân giặc, nhân dân ta vô cùng căm phẫn và nhiều cuộc khởi nghĩa đã diễn ra nhằm đánh đuổi giặc Minh, tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Bấy giờ ở vùng Thanh Hóa có một nghĩa quân đã dấy binh khởi nghĩa do Lê Lợi đứng đầu. Do thế lực còn yếu nên nghĩa quân liên tiếp bị thu trận, thấy vậy Long Quân đã cho nghĩa quân mượn gươm. Như vậy, nghĩa đã được sự giúp đỡ của thần linh, gắn liền với tư tưởng tâm linh của dân tộc Việt Nam. Lê Lợi và Lê Thận nhận được gươm trên chính quê hương của họ chứ không phải ở một nơi xa lạ nào khác. Lê Thận đi kéo lưới ở dưới sông, nhưng lạ kì thay cả ba lần kéo đều không có cá mà chỉ thấy có một thanh sắt. Lần thứ ba ông nhìn kĩ thì đó là một lưỡi gươm. Con số 3 theo quan niệm dân gian tượng trưng cho số nhiều, có ý nghĩa khẳng định và ý nghĩa tạo tình huống, tăng sức hấp dẫn cho truyện. Lê Thận đem lưỡi gươm ấy về cất ở xó nhà rồi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và sau này trở thành người tâm phúc của Lê Lợi. Nhân một hôm đến nhà Lê Thận, chủ tướng Lê Lợi nhìn thấy lười gươm rực lên hai chữ Thuận Thiên (thuận theo ý trời) bèn cầm lên xem nhưng chMột lần bị giặc truy đuổi, Lê Lợi cùng một số tướng sĩ phải chạy vào rừng. Bất ngờ, ông nhìn thấy trên ngọn cây có ánh sáng khác lạ. Ông trèo lên xem thử, nhận ra đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi gỡ lấy chuôi gươm mang về. Đem lưỡi gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm bắt được trên rừng thì vừa như in. Không phải tình cờ người xưa để cho Lê Thận bắt được lưỡi gươm từ dưới đáy sông và Lê Lợi bắt được chuôi gươm từ trong rừng thẳm. Hai chi tiết đó có dụng ý nhấn mạnh gươm thiêng là do linh khí của sông núi hun đúc mà thành. Lưỡi gươm dưới nước tượng trưng cho hình ảnh miền xuôi, chuôi gươm trên rừng tượng trưng cho hình ảnh miền núi. Hai hình ảnh ấy kết hợp lại, ý nói ở khắp nơi trên đất Việt, các dân tộc đều có khả năng đánh giặc, cứu nước. Từ đồng bằng sông nước tới vùng núi non hiểm trở, mọi người đều một lòng yêu nước và sẵn sàng đứng lên cứu nước, giết giặc ngoại xâm. Tuy lưỡi gươm ở nơi này, chuôi gươm ở nơi khác nhưng khi đem lắp vào nhau thì vừa như in. Điều đó thể hiện nghĩa quân trên dưới một lòng và các dân tộc đồng tâm nhất trí cao độ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm. Gươm thiêng phải được trao vào tay người hiền tài, có lòng yêu nước nhiệt thành, có ý chí cứu nước. Cho nên mới có chi tiết thú vị: ba lần Thận kéo lưới lên đều chi được một thanh sắt (lưỡi gươm); trong đám người chạy giặc vào rừng sâu, chỉ một mình Lê Lợi nhìn thấy ánh sáng lạ phát ra từ ngọn cây cao, nơi có treo chuôi gươm báu. Và một hôm, khi chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Ánh sáng của thanh gươm và hai chữ Thuận Thiên khắc trên gươm như một lời khuyến khích, động viên của thần linh, của tổ tiên đối với Lê Lợi. Thuận Thiên là hợp ý trời. Hãy hành động cứu nước vì hành động đó hợp với lẽ trời. Mà đã hợp lẽ trời thì tất yếu sẽ hợp với lòng người và tin chắc sẽ thành công. Đằng sau hình ảnh có vẻ hoang đường ấy chính là ý chí của muôn dân. Ý dân là ý trời. Trời trao mệnh lớn cho Lê Lợi cũng có nghĩa là nhân dân tin tưởng, trao ngọn cờ khởi nghĩa vào tay người anh hùng áo vải đất Lam Sơn. Gươm chọn người và người đã nhận thanh gươm, tức là nhận trách nhiệm trước đất nước, dân tộc. Lời nói của Lê Thận khi dâng gươm báu cho Lê Lợi đã phản ánh rất rỗ điều đó. Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để bảo đền tổ quốc. Như vậy là gươm báu đã trao đúng vào tay người hiền tài, cho nên đã phát huy hết sức mạnh lợi hại của nó. Từ khi có gươm thiêng, nhuệ khi của nghĩa quân Lam Sơn ngày một tăng, đánh đâu thắng đấy, bao phen làm cho quân giặc bạt vía kinh hồn. Sức mạnh đoàn kết của con người kết hợp với sức mạnh của vũ khí thần kì đã làm nên chiến thắng vẻ vang. Chuyện Long Quân cho mượn gươm được tác giả dân gian miêu tả rất khéo. Nếu để Lê Lợi trực tiếp nhận chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc thì sẽ không thể hiện được tính chất toàn dân, trên dưới một lòng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến Thanh gươm Lê Lợi nhận được là thanh gươm thống nhất, hội tụ tư tưởng, tình cảm, sức mạnh của toàn dân trên mọi miền đất nước. Lúc ở nhà Lê Thận, lưỡi gươm tỏa sáng trong gốc nhà tối giống như cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đã được nhen nhóm từ trong nhân dân. Ánh sáng thanh gươm thúc giục mọi người lên đường. Ánh sáng phát ra lấp lánh từ gươm thiêng phải chăng là ánh sáng của chính nghĩa, của khát vọng tự do, độc lập muôn đời. Thanh gươm tỏa sáng có sức tập hợp mọi người. Gươm thần tung hoành ngang dọc, mở đường cho nghĩa quân đánh tràn ra mãi cho đến lúc không còn bóng dáng một tên giặc Minh nào trên đất nước ta. Đánh tan quân xâm lược, non sông trở lại thanh bình. Lê Lợi lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long. Một ngày nọ, vua Lê cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp này, Long Quân sai Rùa Vàng đòi lại gươm thần và Lê Lợi hiểu ý thần linh, đã trao gươm cho Rùa Vàng. Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần để đánh giặc, nay đất nước đã yên bình thì đồi gươm lại. Rùa Vàng há miệng đón lấy gươm thần và lặn xuống nước. Gươm và Rùa đã chìm đáy nước, người ta vẩn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Đấy là ánh sáng của hào quang chiến thắng vẻ vang, ánh sáng của quyết tâm giết giặc bảo vệ tổ quốc. Những hình ảnh thần kì trên đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bao người. Chi tiết này có ý nghĩa lớn lao: Khi vận nước ngàn cân treo sợi tóc, thần linh, tổ tiên trao gươm báu cho con cháu giữ gìn giang sơn, bờ cõi. Nay đất nước độc lập, bắt đầu giai đoạn xây dựng trong hòa bình thì gươm báu – hùng khí của tổ tiên lại trở về cõi thiêng liêng. Hình ảnh Lê Lợi trả gươm đã nói lên khát vọng hòa bình của dân tộc ta. Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình, không thích chiến tranh nhưng kẻ nào xâm phạm đến chủ quyền độc lập, tự do của đất nước này đều sẽ được một bài học nhớ đời. Việc cho mượn gươm và đòi lại gươm của Long Quân như một lời răn dạy chí tình của ông cha ta đối với vị vua mới Lê Lợi: trừng trị kẻ thù thì phải dùng bạo lực, còn cai trị nhân dân thì nên dùng ân đức. Lê Lợi nhận gươm trên đất Thanh Hóa nhưng lại trả gươm tại hồ Tả Vọng ở Thăng Long, Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết này bị giới hạn bởi vì lúc này, Lê Lợi đã là vua và kinh thành Thăng Long là thủ đô, tượng trưng cho cả nước. Việc trả gươm diễn ra ở đây mới thể hiện hốt được tư tưởng yêu hòa bình và tỉnh thần cảnh giác của toàn dân tộc. Sau việc Lê Lợi trả gươm cho Long Quân, hồ Tả Vọng được đổi tên là Hồ Gươm (hay hồ Hoàn Kiếm). Tên hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) có ý nghĩa là gươm thần vẫn còn đó và nhắc nhở tinh thần cảnh giác đối với mọi người, răn đe những kẻ có tham vọng dòm ngó đất nước ta. Tên hồ đánh dấu và khẳng định chiến thắng hoàn toàn của khởi nghĩa Lam Sơn đối với giặc Minh, phản ánh tư tưởng yêu hòa bình đã thành truyền thống của dân tộc ta. Cái tên Hồ Gươm gắn liền với huyền thoại lịch sử ấy sẽ mãi mãi tồn tại với thời gian, với sự ngưỡng mộ của bao thế hệ Việt Nam yêu hước.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”. Bài làm Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Người Việt Nam ta rất coi trọng đời sống tình cảm, nhất là tình cảm gia đình. Có lẽ không ai không biết đến bài ca dao đã trở thành lời ru quen thuộc tự bao đời: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Nói về công lao của cha mẹ đối với con cái, câu ca dao trên đã đưa ra những hình ảnh giàu sức biểu cảm để so sánh và chỉ có những hình ảnh vĩ đại như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn mới diễn tả hết công lao to lớn ây. Thái Sơn là một ngọn núi cao nổi tiếng ở Trung Quốc, tượng trưng cho những gì lớn lao, vĩ đại. Khi so sánh Công cha như núi Thái Sơn, nhân dân ta muốn nhấn mạnh công lao của người cha trong việc nuôi dạy con cái trưởng thành. Còn hình ảnh nước trong nguồn thể hiện tình yêu thương vô hạn của người mẹ đối với các con. Người xưa đã ví công cha với ngọn núi cao nhất, còn nghĩa mẹ lại so sánh với nước trong nguồn bất tận. Đọc kĩ bài ca dao, ta sẽ ngạc nhiên trước sự tinh tế này. Người xưa đã phản ánh rất đúng đặc điểm tâm lí và cách, biểu hiện tình cảm của cha mẹ đối với con cái để từ đó chọn chữ và dùng hình ảnh so sánh cho hợp lí Vì thế chữ công để nói về cha, chữ nghĩa để nói về mẹ. Hai hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn tuy khác xa nhau nhưng đều phù hợp với vai trò và vị trí của mỗi người. Cha mẹ cũng là người nuôi dưỡng các con từ khi mới chào đời cho đến lúc trưởng thành. Mẹ nuôi con bằng dòng sữa ngọt lành. Cha mẹ thay nhau chăm sóc đàn con mỗi khi trái gió trở trời. Cha mẹ ra sức làm lụng để nuôi các con khôn lớn. Từ một hình hài nhỏ xíu cho đến khi biết đi, rồi biết đọc, biết viết, biết nấu cơm, quét nhà, biết làm lụng để tự nuôi thân đâu phải là chuyện ngày một, ngày hai. Các con lớn dần lên cũng là lúc cha mẹ già yếu đi. Cha mẹ đã dành cho đàn con tất cả tâm huyết và sức lực của mình. Không chỉ nuôi con lớn, cha mẹ còn dạy dỗ cho các con nên người. Cha mẹ dạy con bằng chính những việc làm, những hiểu biết về đời sống, về đạo làm người của mình. Sau này, dù được thầy cô dạy dỗ, được người đời khuyên răn, nhưng cha mẹ vẫn là người thầy đầu tiên, người thầy gần gũi nhất của các con. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Đạo con là đạo đức, trách nhiệm làm con. Bổn phận của con cái là phải bày tỏ lòng biết ơn và thái độ kính mến, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Tình cảm đối với cha mẹ phải chân thành và được thể hiện qua những thái độ, hành động xứng với đạo làm con. Trong dân gian xưa nay đã lưu truyền những câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ qua Nhị thập tứ hiếu (Gương sáng của hai mươi bốn người con hiếu thảo). Nàng Cúc Hoa dắt mẹ đi ăn mày, gặp cảnh ngặt nghèo đã cắt thịt ở cánh tay mình để dâng mẹ ăn cho đỡ đói. Có lẽ đó cũng là mội nách nói cường điệu để ca ngợi đức hiếu thảo. Còn trong đời thường, lòng biết ơn cha mẹ được thể hiện qua những lời nói và việc làm cụ thể hằng ngày như cốc nước mát ân cần trao tận tay cha mẹ, khi đi làm về nắng nôi, mệt nhọc; là bát cháo nóng lúc cha mẹ ốm mệt; là sự cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của cha mẹ mà không đua đòi ăn diện quần nọ, áo kia… Điều quan trọng nhất đối với lứa tuổi học sinh là chúng ta phải phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành con ngoan, trò giỏi, thành niềm vui, niềm tự hào cửa cha mẹ. Câu ca dạo Công cha như núi Thái Sơn… luôn nhắc nhở em giữ trọn đạo làm con.
Topic: Express your feelings about the folk song "Father's work is like Thai Son mountain". Assignment The father as a mountain, Motherhood is like water flowing from a source. One Heart Worship Mother Glass Father, Fulfilling filial piety is the way of children Vietnamese people attach great importance to love life, especially family love. Perhaps there is no one who does not know the folk song that has become a familiar lullaby for many generations: The father as a mountain, Motherhood is like water flowing from a source. One Heart Worship Mother Glass Father, Fulfilling filial piety is the way of children. Talking about the merits of parents towards their children, the folk song above provides rich and expressive images for comparison, and only great images like Thai Son mountain or water in the source can fully describe them. This is a great merit. Thai Son is a famous high mountain in China, symbolizing great things. When comparing father's work to Thai Son mountain, our people want to emphasize the father's contribution in raising his children to adulthood. The image of water in the source represents a mother's infinite love for her children. The ancients compared a father's merit to the highest mountain, while a mother's merit was compared to water in an endless source. Reading the folk song carefully, we will be surprised at this sophistication. The ancients very accurately reflected the psychological characteristics and ways of expressing parents' feelings towards their children so that they could choose words and use images to compare appropriately. Therefore, the word merit is used to talk about fathers, the word meaning is to talk about mother. The two images of Thai Son mountain and water in the source, although different, are both suitable for each person's role and position. Parents are also the ones who nurture their children from birth until adulthood. Mother nourishes her child with sweet milk. Parents take turns taking care of their cubs whenever the weather changes. Parents work hard to raise their children. From a tiny body to knowing how to walk, then knowing how to read, write, know how to cook, sweep the house, know how to work to support yourself is not a matter of one or two days. When children grow up, their parents become old and weak. Parents have devoted all their heart and energy to their children. Not only do they raise their children, they also teach them to be good people. Parents teach their children through their own actions and understanding of life and human morality. Later, even though they are taught by teachers and advised by people, parents are still their children's first and closest teachers. One Heart Worship Mother Glass Father, Fulfilling filial piety is the way of children. Childhood is morality and responsibility as children. It is the duty of children to express gratitude, respect and care for their parents in their old age. Love towards parents must be sincere and expressed through attitudes and actions worthy of filial piety. In ancient times, touching stories about the filial piety of children towards their parents have been passed down in folklore through Twenty-four filial piety (The shining example of twenty-four filial children). Miss Cuc Hoa took her mother to beg for food. When faced with a difficult situation, she cut the meat from her arm to give her mother something to eat to ease her hunger. Perhaps that is also an exaggerated way to praise filial piety. In everyday life, gratitude to parents is expressed through specific words and actions every day, such as a glass of cool water thoughtfully given to parents, when coming home from work in the sun and tired; is a bowl of hot porridge when parents are sick; is sympathy for parents' difficult circumstances without trying to wear certain clothes or that shirt... The most important thing for students is that we must strive to study and practice to become good children. , a good student, becomes the joy and pride of parents. The song "Father's work is like the Thai Son mountain... always reminds me to keep all my filial piety."
Đề bài: Em rút ra điều gì sâu sắc nhất khi đọc bài ca dao: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hãy phân tích bài ca dao trên để làm sáng tỏ ý kiến của em. I. DÀN Ý 1. Mở bài: – Đây là bài ca dao hay và đẹp, thể hiện triết lí, quan điểm sống trong sạch, thanh cao của nhân dân lao động. 2. Thân bài: * Nội dung và nghệ thuật của bài ca dao: + Câu 1: Trong đầm gì đẹp bằng sen là câu hỏi tu từ, khẳng định họa sen đẹp nhất trong các loài hoa mọc trên đầm lầy. + Câu 2: Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng là hình ảnh đẹp đẽ của cây sen được miêu tả tỉ mỉ, chi tiết… + Câu 3: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh có vai trò đặc biệt làm nhiệm vụ chuyển từ nghĩa hiển ngôn sang nghĩa hàm ẩn. Đảo thứ tự miêu tả của câu 2 để nhấn mạnh Sự hài hòa tuyệt đối về màu sắc và vẻ đẹp toàn bích của hoa sen. – Người xưa ca ngợi vẻ dẹp của hoa sen, mượn hoa sen để phản ánh lẽ sống cao quý và niềm tự hào, tự tin vào bản chất, phẩm giá trong sạch của mình, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. – Bút pháp tả thực kết hợp hài hòa với bút pháp ước lệ, tượng trưng làm nổi bật vẻ đẹp khác thường của hoa sen. – Nhịp thơ chậm rãi 2/2/2… khiến câu thơ như một sự chiêm nghiệm, suy ngẫm để đi đến khẳng định chắc chắn, không gì thay đổi được. – Nghệ thuật miêu tả tưởng chừng tự nhiên, giản dị nhưng thực chất đã đạt tới độ tinh tế, điêu luyện. 3. Kết bài: – Bài ca dao tôn vinh vẻ đẹp toàn bích của hoa sen, xứng đáng tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính. – Sức sống của bài ca dao lâu bền cùng sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. II. BÀI LÀM Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh, Không hiểu bài ca dao này xuất hiện từ đâu, từ bao giờ nhưng có nhiều ý kiến cho rằng đây là bài ca dao mà nghệ thuật tuyệt vời và ý nghĩa triết lí nhân sinh gắn liền với nhau tạo nên giá trị muôn đời. Hình ảnh cây sen được miêu tả vừa cụ thể, chân thực vừa mang tính tượng trưng và khái quát rất cao. Ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen, các nhà thơ bình dân xưa đã phản ánh lẽ sống cao quý của con người Việt Nam từ ngàn đời nay: tự hào, tự tin về bản thân mình luôn giữ được tâm hồn trong sáng, phẩm chất thanh cao, dù hoàn cảnh sống có nghiệt ngã, xấu xa đến mức nào. Câu 1 khẳng định vẻ đẹp không gì sánh nổi của hoa sen. Câu 2 và câu 3 tả thực cây sen. Câu 4 nói đến hương thơm của hoa sen. Bốn câu trong bài đều rất hay, nhưng mỗi câu hay một cách. Câu mở đầu: Trong đầm gì đẹp bằng sen. Tác giả đã khẳng định hoa sen đẹp nhất so với tất cả các loài hoa nở trong đầm bằng một câu hỏi tu từ khéo léo lôi cuốn người nghe, đặt họ vào vị trí và tâm thế thưởng thức cùng với mình, để rồi sau khi so sánh, cân nhắc, họ sẽ rút ra kết luận không thể khác. Câu thứ 2: Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng. Để chứng minh cho lời khẳng định ở trên là đúng, tác giả tuần tự miêu tả vẻ đẹp của cây sen, từ lá xanh qua bông trắng đến nhị vàng. Trên nền xanh của lá, nổi bật là màu trắng thanh khiết của hoa; giữa màu trắng của hoa lại chen chút sắc vàng của nhị. Từ lại được dùng rất tài tình, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng về màu sắc của hoa sen. Từ chen nói lên sự kết hợp hài hòa giữa hoa và nhị. Tất cả như cùng đua đẹp, đua tươi. Cảnh đầm sen giống như một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ với những nét chấm phá diệu kì. Câu thứ 3: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Từ câu thứ hai sang câu thứ ba có sự khác thường trong cách gieo vần (ang, anh) nhưng nhiều người không để ý. Sở dĩ như vậy là do sự chuyển vần và thay đổi trật tự các từ ngữ, hình ảnh đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí về cả nội dung và hình thức. Hai chữ nhị vàng ở cuối câu thứ hai được lặp lại ở đầu câu thứ ba tạo nên tính liên tục trong tư duy, cảm xúc và sự liến kết chặt chẽ giữa nội dung với hình thức trong toàn bài. Câu đầu và câu cuối là lời nhận định, đánh giá về vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của cây sen. Hai câu giữa tả thực đến từng chi tiết: lá xanh, bông trắng, nhị vàng (tả đi); rồi tả lại: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Tả từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, thật đầy đủ, tỉ mỉ. Dường như người tả đang cố chứng minh bằng được vẻ đẹp của sen: đẹp từ sắc lá đến màu hoa, màu nhị. Sau đó lại nhấn mạnh thêm bằng cách đảo ngược: đẹp từ màu nhị đến màu hoa, sắc lá. Nghệ thuật miêu tả ở đây mới đọc qua tưởng chừng đơn giản, song thực sự đã đạt tới trình độ điêu luyện, tinh vi. Nghệ thuật ấy đã tôn vinh hoa sen lên hàng hoa quý {cúc, mai, liên…) xứng đáng tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính. Đọc những câu ca dao trên, chúng ta liên tưởng tới hình dáng thanh tao, kiêu hãnh của hoa sen và trong tâm tưởng cũng nở bừng một đoá hoa sen thật đẹp! Câu thứ 4: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Dù mang tính chất ẩn dụ tượng trưng nhưng trước hết vẫn là sự tả thực về cây sen trong môi trường sống của nó. Sen thường sống ở trong ao hoặc trong đầm; ấy vậy mà hoa sen lại tỏa ra một mùi thơm thanh khiết lạ lùng. Có thể coi đây là đỉnh điểm của nội dung bài ca dao. Thiếu câu này, hình tượng hoa sen vẫn tồn tại nhưng không có linh hồn và ý nghĩa nhân sinh. Đọc đến câu này, hầu như không ai dừng lâu để suy nghĩ tới nghĩa đen, nghĩa trực tiếp của nó mà chuyển sang hiểu theo nghĩa bóng (hàm ngôn) với triết lí sâu xa ẩn chứa trong đó. Chính vì vậy mà tính chất ẩn dụ tượng trưng của hình tượng thơ nổi lên lấn át hình ảnh thực. Nó tựa hồ như một cánh cửa đặc biệt kì diệu, khép lại nghĩa đen và mở ra nghĩa bóng một cách thần tình. Thế là trong phút chốc, sen đã hóa thành người, bùn trong đầm (nghĩa đen) biến thành bùn trong cuộc đời (nghĩa bóng). Rồi cả hình ảnh cái đầm cùng mùi hôi tanh của bùn cũng là ẩn dụ tượng trưng vì nó được hiểu theo nghĩa bóng với những mức độ rộng hẹp, xa gần khác nhau tùy theo trình độ mỗi người. Bài ca dao gợi lên một cái gì đó rất gần gũi, thân quen giữa hoa sen với bản chất tốt đẹp của người lao động. Mùi bùn gợi liên tưởng đến những cái xấu xa, thấp hèn của mặt trái xã hội phong kiến thời suy tàn cùng với lũ tham quan ô lại vô liêm sỉ của nó. Nhân dân lao động, đặc biệt là nông dân sống gần sen, hiểu sen và yêu quý sen nhất. Họ đã đưa hoa sen vào ca dao, mượn vẻ đẹp thanh khiết của hoa sen để bầy tỏ, gửi gắm tâm sự của mình. Với bức tranh tuyệt mỹ được vẽ bằng ngôn ngữ, hoa sen sẽ lưu lại mãi mãi vẻ đẹp và hương thơm cao quý trong văn chương và trong lòng người dân đất Việt.
Topic: What did you learn most deeply when reading the folk song: In what beautiful dress with lotus, Green leaves, white flowers surrounded by yellow stamens. Yellow stamens, white flowers, green leaves, Nearly mud that does not stink of mud. Let's analyze the folk song above to clarify your opinion. I. OUTLINE 1. Introduction: – This is a beautiful and beautiful folk song, expressing the philosophy and viewpoint of pure and noble living of the working people. 2. Body of the article: * Content and art of folk songs: + Question 1: What is more beautiful in the swamp than the lotus is a rhetorical question, affirming that the lotus is the most beautiful among the flowers that grow in the swamp. + Question 2: Green leaves, white flowers and yellow stamens are a beautiful image of a lotus plant described meticulously and in detail... + Question 3: Yellow stamens, white flowers, and green leaves have a special role in transferring from explicit meaning to implicit meaning. Reverse the description order of sentence 2 to emphasize the absolute harmony of color and perfect beauty of the lotus. - The ancients praised the beauty of the lotus, borrowing the lotus to reflect a noble way of life and pride and confidence in one's pure nature and dignity, no matter what the circumstances. – Realistic writing style combines harmoniously with conventional and symbolic writing style to highlight the unusual beauty of the lotus flower. – The slow rhythm of the poem is 2/2/2... making the poem seem like a contemplation and contemplation to come to a certain assertion, nothing can change it. – The art of depiction seems natural and simple, but in fact has reached a level of sophistication and skill. 3. Conclusion: – The folk song honors the perfect beauty of the lotus flower, worthy of symbolizing the beauty of a true human being. – The vitality of folk songs is as long lasting as the longevity of the Vietnamese people. II. ASSIGNMENT In what beautiful dress with lotus, Green leaves, white flowers surrounded by yellow stamens. Yellow stamens, white flowers, green leaves, I don't understand where and when this folk song came from, but there are many opinions that this is a folk song with great art and the philosophical meaning of life linked together to create eternal value. The image of the lotus tree depicted is both specific and realistic, but also highly symbolic and general. Praising the beauty of the lotus flower, ancient popular poets have reflected the noble way of life of Vietnamese people for thousands of years: to be proud and confident about themselves, always maintaining a pure soul and good qualities. noble, no matter how cruel and evil life circumstances are. Sentence 1 affirms the incomparable beauty of the lotus. Sentences 2 and 3 describe the lotus tree. Verse 4 refers to the fragrance of lotus flowers. The four sentences in the article are all very good, but each sentence is good in its own way. Opening sentence: What is more beautiful in the lagoon than the lotus? The author affirmed that the lotus is the most beautiful of all the flowers blooming in the lagoon with a rhetorical question that skillfully attracts the listener, puts them in a position and mood to enjoy with him, and then after Comparing and weighing, they will come to the inevitable conclusion. Question 2: Green leaves, white flowers, and yellow stamens. To prove that the above statement is correct, the author sequentially describes the beauty of the lotus plant, from green leaves to white flowers to yellow stamens. On the green background of the leaves, the pure white color of the flowers stands out; In the middle of the white color of the flower, there is a little yellow color of the stamens. The word is used very cleverly, emphasizing the variety of colors of the lotus flower. The word chen represents the harmonious combination between flower and stamen. Everyone seems to be racing beautifully and racing fresh. The lotus pond scene is like a beautiful natural painting with magical touches. Question 3: Yellow stamens, white flowers, green leaves. From the second verse to the third verse there is an unusual rhyme scheme (ang, anh) but many people don't notice. This is because the rhyme and change of order of words and images have been done skillfully, naturally, and reasonably in both content and form. The two golden words at the end of the second sentence are repeated at the beginning of the third sentence, creating continuity in thinking, emotions and a close connection between content and form throughout the article. The first and last sentences are comments and assessments about the beauty and noble qualities of the lotus plant. The two sentences in the middle describe every detail: green leaves, white flowers, yellow stamens (describe); Then describe: Yellow stamens, white flowers, green leaves. Describe from bottom to top, from top to bottom, completely and meticulously. It seems that the narrator is trying to prove the beauty of the lotus: from the color of the leaves to the color of the flowers and stamens. Then further emphasize by reversing: beautiful from stamen color to flower color to leaf color. The art described here seems simple at first glance, but has actually reached a level of skill and sophistication. That art has honored the lotus as a precious flower (chrysanthemum, apricot, marigold...) worthy of symbolizing the beauty of true people. Reading the above folk songs, we think of the elegant and proud shape of the lotus and in our minds a beautiful lotus blooms! Question 4: Near mud but does not smell of mud. Although it is a symbolic metaphor, it is first and foremost a realistic description of the lotus plant in its living environment. Lotuses usually live in ponds or lagoons; Yet the lotus flower emits a strangely pure fragrance. This can be considered the peak of the folk song's content. Without this sentence, the lotus image still exists but has no soul or human meaning. Reading this sentence, almost no one stops long to think about its literal or direct meaning, but instead switches to understanding it figuratively (implicitly) with the profound philosophy contained within it. That is why the symbolic and metaphorical nature of poetic images emerges and overwhelms the real images. It seems like a special, magical door, closing literally and opening figuratively in a magical way. So in an instant, the lotus turned into a human, the mud in the lagoon (literally) turned into the mud in life (figuratively). Then the image of the lagoon and the fishy smell of mud are also symbolic metaphors because they are understood figuratively with different degrees of width and narrowness, far and near, depending on each person's level. The folk song evokes something very close and familiar between the lotus flower and the good nature of the worker. The smell of mud evokes thoughts of the evil and vile aspects of the decadent feudal society along with its shameless corrupt officials. Working people, especially farmers living near lotus, understand and love lotus the most. They included the lotus flower in folk songs, borrowing the pure beauty of the lotus flower to express and convey their feelings. With a beautiful picture painted in language, the lotus will forever leave its noble beauty and fragrance in literature and in the hearts of the Vietnamese people.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh. Bài làm Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ nữ được nhiều người yêu thích. Thơ chị trẻ trung, sôi nổi, giàu chất trữ tình, vốn xuất thân từ nông thôn nên Xuân Quỳnh hay viết về những đề tài bình dị, gần gũi của cuộc sống đời thường như tình mẹ con, bà cháu, tình yêu, tình quê hương, đất nước. Ngay từ tập thơ đầu tay Tơ tầm – Chồi biếc (in chung – 1963), Xuân Quỳnh gây được sự chú ý bởi phong cách thơ mới mẻ. Hơn hai mươi năm cầm bút, chị đã sáng tác nhiều tập thơ có giá trị, tạo ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Bài thơ Tiếng gà trưa được viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ trên phạm vi cả nước. Bị thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại bằng máy bay, bom đạn… ra miền Bắc, hòng tàn phá hậu phương lớn của tiền tuyến lớn. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Nhân vật. trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đồng đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu. Tiếng gà trưa đã gợi nhớ về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ và tình bà cháu. Tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu đất nước. Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà cũ nhảy ổ Cục… cục tác cục ta Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đờ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ Quê nhà hiện lên rõ nét trong tâm tưởng và những kỉ niệm tuổi thơ lần lượt sống dậy qua những hình ảnh thân thương. Tiếng gà trưa nhắc nhớ đến ổ rơm hồng những trứng của mấy chị mái mơ, mái vàng xinh xắn, mắn đẻ. Tiếng gà trưa khiến người cháu xa nhà nhớ đến người bà kính yêu một đời tần tảo. Thương biết mấy là cảnh đứa cháu tò mò xem gà đẻ, bị bà mắng: Gà đẻ mà mày nhìn, Rồi sau này lang mặt. Chẳng hiểu hư thực ra sao nhưng cháu tin là thật: Cháu về lấy gương soi, Lòng dại thơ lo lắng. Giờ đây, đứa cháu đã trưởng thành ao ước trở về thời bé bỏng để lại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được thấy bóng dáng quen thuộc của bà khum tay soi trứng, chắt chiu từng mầm hi vọng sẽ có được một đàn gà con đông đúc. Tiếng gà trưa Mang bao nhiều hạnh phúc, Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. Thông qua nỗi nhớ được khơi dậy từ tiếng gà trưa, nhà thơ Xuân Quỳnh đã miêu tả tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và tình cảm yêu mến, kính trọng bà của một em bé nông thôn. Tình bà cháu thắm thiết đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ hôm nay đang trên đường hành quân chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước: Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu chiến sĩ trên đường ra tiền tuyến gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Từ tình cảm cụ thể là tình bà cháu đến tình cảm lớn lao như lòng yêu Tổ quốc, yêu xóm làng thân thuộc đều được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày; ấy vậy mà nó lại gây xúc động sâu xa bởi nhà thơ đã nói giúp chúng ta những điều thiêng liêng nhất của tâm hồn.
Topic: Please write an essay expressing your feelings about the poem Chicken Noon by Xuan Quynh. Assignment Xuan Quynh (1942 - 1988) is a female poet loved by many people. Her poetry is youthful, vibrant, and rich in lyricism. Coming from the countryside, Xuan Quynh often writes about simple, close topics of everyday life such as mother-child love, grandmother-grandchild love, love, and friendship. homeland. Right from her first poetry collection To Tam - Choi Biec (published in 1963), Xuan Quynh attracted attention with her new poetic style. For more than twenty years as a writer, she has composed many valuable poetry collections, creating unforgettable impressions in the hearts of readers. The poem Chicken Noon was written in the early years of the resistance war against American imperialism nationwide. Having suffered a painful defeat in the Southern battlefield, the American enemy frantically expanded their destructive war with planes, bombs, etc. to the North, aiming to destroy the large rear of the large front line. In that situation of boiling water and fire, millions of young people set out with the spirit of cutting across Truong Son to fight against America, with their hearts excited about the future. Figure. Lyrically in the poem is the young soldier who is marching with his comrades to the South to fight. The sound of the chicken at noon reminded us of beautiful memories of childhood and the love between grandparents and grandchildren. The love for family and homeland has deepened the love for the country. On a long march Stop by the small hamlet The sound of an old chicken jumping into the nest Cluck… cluck cluck cluck me Listen to the stirrings of the noon sun My feet feel tired Calling back to childhood Hometown appears clearly in my mind and childhood memories come to life through loving images. The sound of the chickens at noon reminds me of the pink straw nest of eggs of the lovely, fertile yellow and apricot hens. The sound of the chicken at noon reminds the grandchild far from home of his beloved grandmother who lived a hard life. How much I love the scene of my grandchild curiously watching the laying hens, and being scolded by her grandmother: You look at the laying hens, and then you lose your face. I don't understand how real it is, but I believe it's true: I went home to look in the mirror, My naive heart was worried. Now, the grown-up grandchild wishes to return to his childhood, to hear his grandmother's loving scolding, to see her familiar figure, cupping her hands to look at the eggs, scavenging each seed in the hope of having a flock of chickens. crowded children. Noon chicken sound Bring so much happiness, That night I dreamed Pink egg sleep. Through the nostalgia aroused by the sound of chickens at noon, poet Xuan Quynh described the pure, innocent soul and love and respect for her grandmother of a rural child. The passionate love between grandparents and grandchildren has become an important part in the spiritual life of today's soldiers who are marching and fighting to protect their homeland and country: I fight today For love of Fatherland Because the village is familiar Grandma, it's also because of you Because of the clucking sound of chickens The pink nest of childhood The last stanza is a sincere confession from a soldier's grandchild on his way to the front line to his beloved grandmother in the rear. From specific feelings like the love between grandparents and grandchildren to great feelings like love for the Fatherland and love for familiar villages, all are expressed in simple and rustic art forms like everyday speech; Yet it touches deeply because the poet has told us the most sacred things of the soul.
Phát biểu cảm nghĩ của em về chiếc cặp sách Hướng dẫn Ai cũng biết chiếc cặp sách là người bạn thân thiết của học sinh. Bao nhiêu năm cắp sạch đến trường là bấy nhiêu thời gian chúng ta gắn bó với bảng đen, phấn trắng và gắn bó với chiếc cặp bên mình. Với riêng tôi, chiếc cặp không đơn thuần là vật để đựng sách vở mà còn là nơi chứa cả một miền kí ức. Tuổi thơ tôi với những cay, đắng, ngọt, bùi ẩn vào bên trong chiếc cặp ấy. Năm đó tôi lên lớp 5, cũng là khoảng thời gian gia đình tôi khó khăn. Ba mẹ tôi làm ăn xa, tôi được gửi về quê sống cùng bà ngoại để bà tiện chăm sóc. Mẹ tôi sắm sửa cho tôi đầy đủ dụng cụ học tập, trong đó chiếc cặp là món quà tôi thích nhất. Tôi nhớ mãi cái màu cặp hồng hồng xin xinh vuông vắn rất vừa người. Tôi nhớ như in từng ngăn kéo của chiếc cặp, cặp có 3 ngăn, ngăn nào cũng rộng rãi và được may chắc chắn. Chiếc cặp được may bằng một loại vải cứng và khá dày bao quanh chiếc khung nhựa. Tôi say mê ngắm từng chi tiết trong bức ảnh nàng công chúa được thêu trước cặp rồi tưởng tượng mình chính là cô công chúa xinh đẹp ấy. Không chỉ đẹp chiếc của tôi còn rất hiện đại. Tôi có thể thích thú mang cặp trên lưng như chiếc ba lô cũng có thể kéo cặp bằng bốn bánh xe phía dưới nếu tập sách quá nhiều. Những lúc rảnh rỗi tôi biến chiếc cặp của mình thành giỏ xe chở hàng trong siêu thị. Tôi bày rất nhiều đồ chơi và bỏ chúng vào cặp kéo khắp nhà. Mọi chuyện sẽ tươi đẹp biết mấy nếu không có vụ cháy lần ấy. Do bất cẩn tôi làm rơi hòn than cháy ra ngoài nhà bếp. Hôm ấy tôi và bà đi chợ, căn bếp bằng gỗ của bà tôi bốc cháy và lan ra cả phòng ngủ của tôi. Khi mọi người phát hiện gọi bà tôi về gấp thì lửa đã rất lớn. Hàng xóm giúp bà dập lửa, tôi thấy gương mặt bà bơ phờ, mệt mỏi. Tôi chợt nhớ ra cặp sách của mình vẫn còn bên trong, ôi chiếc cặp thân yêu của tôi, chẳng lẽ tôi phải mất đi nó sao. Tôi hét lên “cặp của con” kèm theo tiếng nấc. Bà chạy vào bên trong bất chấp lửa đang cháy lớn. Tôi hoảng sợ gọi bà, mọi người ai cũng lo lắng cho đến khi bà chạy ra mang theo chiếc cặp cùng mớ quần áo của tôi. Tôi nhìn bà lấm lem tro bụi tôi thấy thương bà vô hạn và ân hận vì mình mà suýt nữa bà gặp nguy hiểm. Tôi khóc và ôm chiếc cặp vào lòng, bà ôm tôi vỗ về. Sau trận cháy đó, bà cháu tôi sang bên dì tôi ở tạm. Cha mẹ và cậu dì gom góp tiền xây cho bà cháu tôi ngôi nhà mới. Mọi của cải trong nhà đều theo ngọn lửa đi mất chỉ còn lại chiếc cặp cháy xém một góc của tôi và tình bà cháu đong đầy. Tôi thương cái dáng cặm cụi của bà khâu sửa lại cho tôi chiếc cặp. Bà tìm một mảnh vải khác vá vào chỗ cháy, bà thêu thêm ít hoa và bướm lên chỗ khâu cho đẹp. Nếu như không có trận cháy kia thì chiếc cặp của tôi vẫn chỉ là một chiếc cặp bình thường. Chiếc cặp của tôi không phải chỉ để đựng sách vở mà còn mang cả sự hi sinh, tấm lòng của người bà dành cho cháu. Đã 2 năm trôi qua,mẹ tôi đã mua cho tôi thêm nhiều cặp mới nhưng chiếc cặp kỉ niệm ấy tôi vẫn giữ bên mình. Đối với tôi, nếu có một chiếc cặp nào đẹp nhất trên đời thì đó là chiếc cặp ngày nào, chiếc cặp bà đã gửi vào đấy bao nhiêu tình thương cháu trong từng đường kim, mũi chỉ. Chiếc cặp đã đi theo tôi qua những nụ cười và nước mắt. Tôi thầm hứa sẽ giữ gìn nó, trân trọng nó như trân trọng tình cảm người bà.
Express your feelings about the school bag Instruct Everyone knows that a schoolbag is a student's best friend. As many years as we spend going to school, we spend so much time stuck with the blackboard, white chalk, and with our briefcase. For me, a briefcase is not simply an object to hold books, but also a place to store a whole region of memories. My childhood with its spicy, bitter, sweet, and tangy moments was hidden inside that briefcase. That year I entered 5th grade, which was also a difficult time for my family. My parents worked far away, so I was sent back to my hometown to live with my grandmother so she could take care of me. My mother bought me all the school supplies, of which the briefcase was my favorite gift. I always remember the pretty, square pink color of the pair, which fit very well. I vividly remember each drawer of the briefcase. The briefcase had 3 compartments, each compartment was spacious and firmly sewn. The briefcase is sewn from a hard and quite thick fabric surrounding a plastic frame. I passionately looked at every detail in the picture of the princess embroidered in front of the bag and imagined that I was that beautiful princess. Not only is mine beautiful, it's also very modern. I can enjoy carrying the bag on my back like a backpack and also being able to pull the bag with the four wheels on the bottom if the booklets are too large. In my free time, I turn my briefcase into a shopping cart in the supermarket. I laid out a lot of toys and put them in bags and dragged them around the house. How beautiful things would have been if there hadn't been that fire. Due to carelessness, I dropped the burning coal outside the kitchen. That day, my grandmother and I went to the market, my grandmother's wooden kitchen caught fire and spread to my bedroom. When people found out and called my grandmother home immediately, the fire was already very big. Neighbors helped her put out the fire. I saw her face was listless and tired. I suddenly remembered my schoolbag was still inside, oh my dear schoolbag, should I lose it. I shouted "my bag" with sobs. She ran inside despite the huge fire. I called her in panic, everyone was worried until she ran out carrying my briefcase and clothes. I looked at her covered in ash, I felt infinite pity for her and regretted that because of me, she was almost in danger. I cried and hugged my bag, she hugged me and comforted me. After that fire, my grandmother and niece went to my aunt's side to stay temporarily. My parents and aunts and uncles gathered money to build a new house for my niece and nephew. All the possessions in the house were lost in the fire, leaving only my briefcase with a corner burned and the love between grandmother and grandchild. I love the way she diligently sewed and repaired my briefcase. She found another piece of fabric to patch the burned area. She embroidered some flowers and butterflies on the stitched area to make it beautiful. If it weren't for that fire, my briefcase would still be just a normal briefcase. My bag is not just to carry books, but also carries the sacrifice and heart of a grandmother for her grandchildren. It's been 2 years, my mother has bought me many new pairs, but I still keep that souvenir pair with me. For me, if there is the most beautiful briefcase in the world, it is the briefcase from back in the day, the briefcase that my grandmother put so much love into it in every needle and thread. The briefcase has followed me through smiles and tears. I silently promised to preserve it and cherish it like a grandmother's love.
Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre Việt Nam Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre Việt Nam Bài làm Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các neỏ đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả_ được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…” “Tre xanh, xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…” Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”. Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống. Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí. Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre. Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.
Express your feelings about Vietnamese bamboo Instruct Express your feelings about Vietnamese bamboo Assignment For many generations, bamboo has been present in almost every corner of the country and has been faithfully attached to the Vietnamese ethnic community. Especially in the minds of Vietnamese people, bamboo holds a deeper and more lasting position_ it is considered a symbol of Vietnamese people in Vietnam,... Since I was little, I still remember the song "Vietnamese bamboo: Green Vietnam". There are countless trees with different leaves, every tree is beautiful, every tree is precious, but the most familiar is still apricot bamboo of dozens of different types, but the same green growth..." “Green bamboo, ever green Once upon a time, there was a green bamboo bank..." Bamboo, bamboo, bamboo,... and many other types of bamboo are plants of the Rice family. Bamboo has long-lived, soaked roots that grow shoots called bamboo shoots. The woody straw trunk can be up to 10 - 18m tall, with few branches. Each tree has about 30 nodes,... The bamboo tree only flowers once in its entire life and its life cycle will close when the bamboo "flowers". Along with the banyan tree, water wharf, and communal house yard - a familiar and beloved image of traditional Vietnamese villages, the bamboo bushes of the village have for thousands of years had a symbiotic relationship with the Vietnamese people. Bamboo offers shade for life and is ready to sacrifice everything. From the sweet bamboo shoots to the bamboo sheaths used to make hats, from the bamboo stems and leaves to the roots, all contribute to building life. Being close and dear to the nation, bamboo has been an endless source of inspiration in literature and art. From fairy tales (Bamboo Ut, hundred-knot bamboo tree,...) to folk songs and proverbs, bamboo is all present. There have been many famous works written about bamboo: "Vietnamese bamboo" by Thep Moi and the poem of the same name by poet Nguyen Duy, etc. Bamboo also appears in popular folk songs and bamboo dances. all the country. And it is one of the important materials in creating national musical instruments such as: silk lute, flute, trumpet, etc. Bamboo enters every person's life, deep into the Vietnamese soul. Whenever far from home, it is difficult for travelers to forget the image of their beloved village bamboo clumps, peaceful bamboo bridges... The image of bamboo always reminds of a rustic Vietnamese village, noble Vietnamese people, Simple but spirited. In the process of international integration and modernization, bamboo today has become a cultural product with high aesthetic value that is favored by many foreign visitors, as decorative items in luxurious places. : bamboo lamp shade, bamboo woven plate. It can be seen that the identity of Vietnamese people and Vietnamese culture have similarities with the vitality and beauty of Vietnamese bamboo. Bamboo does not grow alone but lives in bamboo clumps and groves. This cohesive feature symbolizes the community of the Vietnamese people. Bamboo has roots that penetrate deep into the ground, live long and live in all lands. That's why bamboo is compared to Vietnamese people who are industrious and diligent, clinging to the land and clinging to the village: "The roots are not afraid of poor soil. The more roots a bamboo has, the more industrious it is." Bamboo and the Vietnamese people have gone through many ups and downs of history, through many wars to defend the country. Bamboo deserves to be a symbol of the resilience and indomitability of the Vietnamese people, and the beauty of Vietnam.
Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học Hướng dẫn Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học. Tham khảo cách làm của bạn Đỗ Thị Lan Anh lớp 8A trường THCS Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội Bằng cách kể chuyện kết hợp với miêu tả, bài văn đã nêu dòng cảm xúc của mình, tức là cái tôi trữ tình, rất trong trẻo, sinh động về ngày đầu tiên đi học. -Nhân vật “Tôi” thuở ấy đã tự miêu tả buổi đi học đầu tiên rất ấn tượng: + “Tôi” mặc bộ quần áo mới trang trọng và đứng đắn. Dọc đường gặp mấy bạn nhỏ trạc tuổi tôi, ăn mặc tươm tất, nhí nhảnh gọi nhau và trao sách vở cho nhau. + Chỉ có hai quyển vợ trên tay mà tôi bắt đầu thấy nặng. Tôi nắm chặt lấy chúng, bắt chước mấy cậu đi trước muốn xin mẹ đưa cả bút thước cho mình cầm nữa. + Sân trường đông đúc người đưa con đi học. Vẻ mặt người nào cũng tươi tắn và ăn mặc tươm tất. + Sau một lúc hồi hộp, tôi nhìn lại ngôi trường oai nghiêm, to lớn như đình làng. Sân rộng, tường cao, trưa hè vắng lặng, tôi hơi lo sợ. + Đứng bên cạnh, mấy cậu học trò như tôi cũng bỡ ngỡ đứng nép và bên người thân hay đi lại nhẹ nhàng. + Thế rồi, sau một hồi trống vang lên, mấy người học trò cũ đến xếp hàng dưới hiên đi vào lớp. Tác giả tả cảnh mọi người vào trong lớp, cái gì cũng thấy lạ, thấy hay, những sự cảm mếm và quyến luyến lớp học, bàn ghế và bạn bè xung quanh đến một cách tự nhiên. Tác giả kết thúc bằng sự miêu tả một hình ảnh rất đẹp: “Một con chim non liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao”. Đó là một cái ngày không ai quyên, thậm chí còn khắc ghi vào tâm khảm một ký ức tươi đẹp suốt cuộc đời.
Express your feelings about the emotions of the character "I" in the short story I go to school Instruct Topic: Express your feelings about the emotions of the character "I" in the short story I go to school. Refer to the method of Do Thi Lan Anh, class 8A, Phu Dong Secondary School - Gia Lam - Hanoi By combining storytelling with description, the essay states its emotional flow, that is, its very clear, vivid lyrical self about the first day of school. -The character "I" at that time described his first school day very impressively: + “I” wear new formal and proper clothes. Along the way, I met a few kids my age, dressed neatly, cheerfully calling each other and exchanging books. + With only two wife books in my hand, I started to feel heavy. I grabbed them tightly, imitating the boys in front of me who wanted to ask their mother to give me a ruler and pen too. + The school yard is crowded with people taking their children to school. Everyone's face was bright and dressed neatly. + After a moment of suspense, I looked back at the majestic school, as big as a village communal house. The yard is large, the walls are high, the summer afternoon is quiet, I'm a bit scared. + Standing next to me, the students like me were also confused, standing next to their relatives or walking lightly. + Then, after a drum beat, a few old students lined up on the porch to go to class. The author describes the scene where everyone enters the classroom, everything seems strange or interesting, feelings and attachments to the classroom, the tables, chairs and friends around come naturally. The author ends by describing a very beautiful image: "A young bird flew to stand on the edge of the window, sang a few timid sounds, then flapped its wings and flew high." It is a day that no one forgets, and is even engraved in the heart as a beautiful memory for a lifetime.
Phát biểu cảm nghĩ của em về hỉnh ảnh cây tre trong văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới. Hướng dẫn làm bài – Đề bài yêu cầu phát biểu cảm nghĩ về hình ảnh cây tre trong văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới. – Lấy đẫn chứng từ văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và những hiểu biết thực tế về cây tre Việt Nam. – Bài văn cần đủ những ý chính sau: Mở bài: + Giới thiệu văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới. + Giới thiệu hình ảnh cây tre, khái quát những cảm xúc, tình cảm của bản thân. Thân bài: + Tre gắn bó thân thiết và lâu đời với con người Việt Nam: . Trong đbi sống lao động sản xuất: tre làm rổ, sàng, đòn gánh, làm nhà… . Trong chiến đâu bảo vệ Tổ quốc: tre làm gậy, làm chông, làm lũy… + Cây tre có những đức tính quý báu như con người Việt Nam: nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. + Tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào, ngợi ca về cây tre… (Trích dẫn thơ Nguyễn Duy, bài “Tre Việt Nam”: “Tre xanh, xanh tự bao giờ…”). Kết bài: Khẳng định cây tre, sẽ đồng hành với người Việt Nam đi tới tương lai. Bài văn mẫu Tre xanh Xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh Chẳng ai biết cây tre đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ bao giờ, chỉ biết rằng cây tre đã gắn bó với dân tộc Việt Nam từ bao đời: nay và’ nó đã trở thành người bạn thân thiết lâu đời của nhân dân Việt Nam. Cây tre có mặt ở khắp, nơi trên đất nước: “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi… đâu đâu cũng có nứa tre làm bạn”. Từ thuở sơ khai, dưới bóng tre xanh, những người dân cày Việt Nam vỡ đất khai hoang, dựng nhà, cày cấy dưới bóng tre xanh, nhân dân ta xây dựng và giữ gìn nền văn hoá lâu đời… “giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê thuở, ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa”. Cứ thế, tre trở thành một người bạn thân thiết không thể thiếu của nông dân Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày và trong lao động. Những em bé với những que chuyền đánh chắt bằng tre”, những cụ già bên chiếc chiếu tre… tất cả các hình ảnh đó đã trở nên quen thuộc, “tre với người, sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ” vô cùng. Đến khi người phải đánh giặc bảo vệ quê hương, tre lại trở thành người bạn chiến đấu của con người. Buổi đầu kháng chiến, tre là tất cả, tre là vũ khí. Người lính chỉ cần một chiếc gậy tầm vông trong tay cũng dám xông pha vào giữa đám quân thù. Tre như tiếp thêm lòng dũng cảm cho người, giúp người dựng nên “thành đồng Tổ Quốc…”.
Express your feelings about the image of bamboo in the text "Vietnamese bamboo" by Thep Moi. Instructions for homework – The topic requires expressing thoughts about the image of bamboo in the text "Vietnamese bamboo" by Thep Moi. – Get evidence from the text "Vietnamese bamboo" by Thep Moi and practical knowledge about Vietnamese bamboo. – The essay should have the following main ideas: Opening: + Introducing the text "Vietnamese bamboo" by Thep Moi. + Introduce the image of a bamboo tree, summarize your emotions and feelings. Body of the article: + Bamboo has a long and close association with Vietnamese people: . In the life of productive labor: bamboo makes baskets, sieves, poles, houses... . During the war, to protect the Fatherland: bamboo was used to make sticks, poles, ramparts... + Bamboo has valuable qualities like Vietnamese people: modesty, integrity, loyalty, courage. + Feelings of love, attachment, pride, and praise for bamboo... (Quoting from Nguyen Duy's poem, "Vietnamese Bamboo": "Green bamboo, ever since..."). End: Affirming that bamboo will accompany Vietnamese people into the future. Sample essay Green Bamboo When did Green Bamboo start? The story of the old days... there was a green bamboo bank No one knows how long bamboo has been present in Vietnam, only that bamboo has been attached to the Vietnamese people for many generations: now and then it has become a long-standing close friend of the people. Vietnam. Bamboo trees are present everywhere, all over the country: "Dong Nai bamboo, Viet Bac bamboo, immense bamboo in Dien Bien Phu, intimate bamboo in my village... everywhere there is bamboo as a friend." Since the beginning, under the shade of green bamboo, Vietnamese people plowed reclaimed land, built houses, cultivated under the shade of green bamboo, our people built and preserved a long-standing culture... tied softly and tightly like childhood love affairs, at first they were often felt under the shade of bamboo." Just like that, bamboo becomes an indispensable close friend of Vietnamese farmers in daily life and labor. Children with bamboo sticks, old men on bamboo mats... all of those images have become familiar, "bamboo and people, live together, die together, faithful". together. When people have to fight the enemy to protect their homeland, bamboo becomes their fighting friend. In the beginning of the resistance war, bamboo was everything, bamboo was a weapon. A soldier only needs a walking stick in his hand to dare to rush into the middle of the enemy. Bamboo seems to give people courage, helping them build "the citadel of the Fatherland...".
Phát biểu cảm nghĩ của em về một món quà (kỉ vật) mà em được tặng Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về một món quà (kỉ vật) mà em được tặng Trong suốt mấy năm ngồi trên ghế của trường tiểu học, em đã quen với sự có mặt của Huyền Trang. Hai đứa không chỉ thân thiết mà hơn thế còn gắn bó với nhau như hình với bóng. Vậy mà đến giữa lớp 5, Huyền Trang buộc phải chuyển đi trường khác. Thế là từ đấy, em chỉ có thể tưởng tượng đến cô bạn có đôi bím tóc đuôi sam qua cây bút mà thôi. Bố Huyền Trang chuyển đến cơ quan mới, thế là bạn cùng cả gia đình cùng phải chuyển đi. Ngày chia tay hai đứa nước mắt nhạt nhòa. Mãi một lúc sau, Huyền Trang mới nói; “Bọn mình thân thiết với nhau, hôm nay chia tay mình tặng Linh chiếc bút kim tinh. Vật này đã gắn bó với nhau sâu sắc nhất. Cậu hãy giữ lấy và hãy luôn nhớ về tình bạn của chúng mình”. Em nức nở nhận vật kỷ niệm và chỉ kịp dúi chú búp bê nhỏ, vật mà em đã chuẩn bị từ mấy ngày qua, vào tay của Huyền Trang rồi chạy mất. Huyền Trang đã đi, em đem chiếc bút kia rửa sạch rồi đặt trang trọng ngay trước bàn học của mình. Lúc nào nhớ bạn, em lại đem chiếc bút ra ngắm say sưa đến hàng giờ. Ngày nào em cũng làm như thế. Và cứ như vậy, những kỷ niệm ngày xưa mà em và Huyền Trang đã có dường như vẫn còn nóng hổi. Chúng em vẫn giữ liên lạc với nhau, ở trong kia Huyền Trang vẫn là một học sinh giỏi và thành tích của bạn vẫn khiến em cảm phục và an tâm. Thế nhưng nhiều lúc em vẫn giận chính mình bởi mình còn chưa thực sự cố gắng để xứng với lòng tin của Huyền Trang. Vậy là bước sang lớp 6, em quyết định đem chiếc bút kỷ niệm cửa Huyền Trang ra để viết. Em muốn từng nét chữ của mình phải được uốn nắn và nhắc nhở. Không ngờ những suy nghĩ và hành động táo bạo của em đã giúp em thực sự. Những con chữ của em trông ngay ngắn và sức học của em đã khá hơn. Tất cả bắt đầu từ việc nâng niu chiếc bút. Mỗi khi bơm mực và đặt bút viết điều gì, bao giờ em cũng ngẫm nghĩ để làm cho tốt. Và cuối cùng, sự cố gắng của em đã được trả công xứng đáng. Bước sang lớp 7, em đã có mặt trong danh sách những học sinh học tốt nhất của lớp mình. Thế mới biết nếu bạn giữ một kỷ vật trong tay, thay vì chỉ nâng niu nó, bạn hãy biến nó thành một vật đụng thì nó sẽ càng ngày càng có ý nghĩa hơn. Chiếc bút kim tinh mà Huyền Trang để lại như là một chất keo gắn kết thần tình tình bạn của chúng em. Em càng học tốt thì lại càng quý trọng chiếc bút và càng hiểu sâu sắc hom tình bạn của mình đối với cô bé nhà bên thời tiểu học. Xin cảm ơn Huyền Trang về kỷ vật mà cậu tặng cho mình. Không ngờ vật kỷ niệm nhỏ mà ý nghĩa của nó lại lớn lao đến thế. Huyền Trang ơi! Cậu hãy càng ngày càng học hành chăm ngoan nhé! Còn mình, mình hứa sẽ làm cho kỷ vật của chúng mình ngày một có ý nghĩa nhiều hơn.
Express your feelings about a gift (memento) you received Instruct Express your feelings about a gift (memento) you received During several years of sitting in elementary school, I got used to Huyen Trang's presence. The two of them are not only close, but moreover, they are attached to each other like a shadow. Yet in the middle of 5th grade, Huyen Trang was forced to transfer to another school. So from then on, I could only imagine the girl with the pigtails through the pen. Huyen Trang's father moved to a new office, so you and your whole family had to move. The day we broke up, the two of us shed tears. After a while, Huyen Trang said; “We are close to each other, today when we broke up I gave Linh a crystal pen. This thing has the deepest bond with each other. Please keep it and always remember our friendship." She sobbed as she received the souvenir and just had time to put the small doll, which she had prepared for the past few days, into Huyen Trang's hands and run away. After Huyen Trang left, she washed the other pen and placed it solemnly in front of her desk. Whenever I miss my friends, I take out my pen and stare at it passionately for hours. I do that every day. And just like that, the old memories that you and Huyen Trang had seem to still be hot. We still keep in touch with each other, inside Huyen Trang is still a good student and her achievements still make me admire and feel secure. But sometimes I'm still angry with myself because I haven't really tried to be worthy of Huyen Trang's trust. So, entering 6th grade, I decided to bring out Huyen Trang's commemorative pen to write. I want every stroke of my handwriting to be corrected and reminded. Unexpectedly, my bold thoughts and actions really helped me. My letters look neat and my learning ability has improved. It all starts with cherishing the pen. Every time I fill ink and write something, I always think about doing it well. And in the end, my efforts were well rewarded. Entering 7th grade, I was on the list of the best students in my class. So you know, if you keep a souvenir in your hand, instead of just cherishing it, you turn it into a tangible object, then it will become more and more meaningful. The golden pen that Huyen Trang left behind is like a glue that binds our friendship. The better I study, the more I appreciate the pen and the more deeply I understand my friendship with the girl next door from elementary school. Thank you Huyen Trang for the souvenir you gave me. I didn't expect that such a small souvenir would have such great meaning. Hey Huyen Trang! Please study more and more diligently! As for me, I promise to make our souvenirs more and more meaningful.
Phát biểu cảm nghĩ của em về một người thân trong gia đình Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về một người thân trong gia đình Với tôi, mẹ là một điều gì đó rất thiêng liêng cao cả mà tôi không thể nói ra được. Trong nhà, ai cũng quý mẹ. Mẹ là người rất tốt bụng và cũng rất biết ăn nói. Mẹ tôi có làn da hơi sạm nắng và khuôn mặt có nhiều nét khắc khổ. Nhưng mẹ tôi luôn làm điều tốt và dành hết tinh cảm cho con cái. Điều đó thì tôi biết rất rõ. Mặc dù tôi có làm điều sai trái không nghe lời mẹ nhưng mẹ chưa bao giờ phải dùng đến roi để dạy chúng tôi. Lời nói của mẹ tuy nhẹ nhàng nhưng lại có sức tác động rất lớn đến tôi. Nhiều lúc tôi lại tự hỏi “Mẹ là gì? Tạo sao lại có mẹ ở trên đời”. Câu hỏi vu vơ ấy giờ thì đã có câu hỏi. Mẹ chính là người đã sinh ra chúng tôi. Mẹ có ở trên đời là để có thể dành hết tình cảm cho chúng tôi, để nuôi dạy chúng tôi, đổ làm cho chúng tôi có thể vui vẻ và để an ủi chúng tôi mỗi khi buồn. Hiểu như vậy cũng chưa hoàn toàn đầy đủ về khái niệm “mẹ”. Với tôi, mẹ rất thiêng liêng, cao cả mà không ai có thể so sánh được. Mẹ là một người phụ nữ tuyệt vời mà tôi đã từng biết.
Express your feelings about a family member Instruct Express your feelings about a family member To me, my mother is something very sacred and noble that I cannot express. In the house, everyone loves mother. Mom is a very kind person and also very eloquent. My mother has slightly tanned skin and a face with many austere features. But my mother always does good things and devotes all her affection to her children. I know that very well. Even though I did something wrong and disobeyed my mother, she never had to use the whip to teach us. Although my mother's words were gentle, they had a great impact on me. Many times I wonder, "What is a mother?" Why is there a mother in this world? That idle question now has a question. Mother is the one who gave birth to us. Mothers are in this world so that they can give us all their love, to raise us, to make us happy and to comfort us when we are sad. Such an understanding is not completely complete about the concept of "mother". To me, my mother is so sacred and noble that no one can compare. Mom is a wonderful woman I have ever known.
Phát biểu cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên Tích tắc! Tích tắc! Không gian thật vắng lặng! Ngày mai là ngày khai trường của tôi và cũng là ngày khai trường của tất cả lũ trẻ sắp bước vào lớp một. Lòng tôi lại xao xuyến bâng khuâng, một cảm giác khó tả khi nhớ lại ngày khai trường trong đời. Hồi ấy, đối với tôi, ngày khai trường không có gì khác lạ như hồi học mẫu giáo. Tâm trạng vẫn thế, không có gì thay đổi, vì dù sao mẹ tôi cũng chuẩn bị chu đáo cho tôi từ cái bút, cái thước kẻ… hay cả đến quần áo, trang phục đi học. Lúc đó, tôi chỉ biết một điều rằng: ngày mai là ngày khai trường. Chắc hẳn không chỉ riêng tôi mà nhiều người khác cùng lứa tuổi cũng có tâm trạng như vậy. Một đứa trẻ mẫu giáo như tôi thuở ấy cũng không thể hiểu hết được thế nào là ngày khai trường. Và đến bây giờ tôi hiểu ra rằng: ngày khai trường là một ngày trọng đại đối với học sinh và nó như một động lực thúc đẩy học sinh cố gắng trong năm học mới. Năm học cũ dù mình có kém đến đâu, có dốt đến thế nào chăng nữa thì nhờ không khí của ngày khai trường mình vẫn hồ Hởi bắt đầu một năm học mới. Làm sao có thể quên cảnh mẹ tôi dẫn tôi đi trên con đường đầy quen thuộc. Quen lắm, thân lắm, nhưng tôi vẫn cảm thấy nao nao trong lòng và có một điều gì thật khác lạ hơn ngày thường. Chợt tôi hiểu ra một điều: hôm nay là ngày khai trường đầu tiên của tôi. Ôi! Thế là phải xa rời mái trường mầm non, xa rời những chú thỏ trắng và những chú gấu mi-sa tinh nghịch vẫn theo tôi hàng ngày. Nhưng tôi không buồn vì tôi biết, con người là phải học và nếu học giỏi có thể dễ dàng đạt được ước mơ của mình sau này. Có thể đối với một đứa trẻ như tôi nghĩ như vây là quá nhiều, nhưng tôi vẫn vui vì mình đã bắt đầu lớn và mình sẽ luôn luôn có bạn cùng chia sẻ, vui chơi với mình như hồi mẫu giáo. Thật lạ thoắt đi thoắt lại tôi đã đến trường. Mẹ đưa tôi đến tận cửa lớp, đưa tay tôi cho cô giáo, hôn tôi vào má rồi từ từ ra về. Tôi chạy theo, mắt rơm rớm, ôm lấy mẹ. Mẹ tôi xoa đầu ân cần nói: “Con ngoan lắm! Con đi vào lớp học đi, chiều về mẹ sẽ đón con! Học ngoan mẹ sẽ thưởng kẹo”. Những lời của mẹ tôi có vẻ làm tôi thấy vui hơn, nhưng tôi hơi buồn vì không có mẹ ở bên. Mẹ chăm sóc tôi từ nhỏ, tôi được ở trong vòng tay yêu thương của mẹ, nay dần dần mất cảm giác đó, tôi cảm thấy hẫng hụt như quên mất một cái gì đó. Xung quanh tôi toàn người xa lạ, vậy mà sau đó, tôi lại cảm thấy một hơi ấm kỳ diệu như hơi ấm của mẹ. Phải chăng chính cô giáo đã đem lại luồng hơi ấm đó, mà tôi cảm nhận nó sâu sắc đến lạ.
Express your feelings about the first day of school Instruct Express your feelings about the first day of school Tick! Tick! The space is so quiet! Tomorrow is my first day of school and also the first day of school for all the children about to enter first grade. My heart fluttered again, an indescribable feeling when recalling the first day of school in my life. Back then, for me, the first day of school was no different than when I was in kindergarten. The mood is still the same, nothing has changed, because after all, my mother has carefully prepared things for me, from pens, rulers... or even clothes and school uniforms. At that time, I only knew one thing: tomorrow was the first day of school. Surely not only me but many other people of the same age also have the same feeling. Even a kindergartener like me at that time could not fully understand what the first day of school was. And now I understand that: the first day of school is an important day for students and it serves as a motivation for students to try harder in the new school year. No matter how bad or stupid I was in the old school year, thanks to the atmosphere of the first day of school, I was still excited to start a new school year. How can I forget the sight of my mother leading me on a familiar path? Very familiar, very close, but I still feel uneasy inside and there is something different than usual. Suddenly I realized something: today is my first day of school. Oh! So I had to leave the kindergarten, away from the white rabbits and mischievous bears that followed me every day. But I'm not sad because I know that humans must study and if they study well, they can easily achieve their dreams later. Maybe for a child like me, I think that's too much, but I'm still happy because I'm starting to grow up and I will always have friends to share and play with me like in kindergarten. It was so strange that I went to school. My mother took me to the classroom door, gave my hand to the teacher, kissed me on the cheek and then slowly left. I ran after her, eyes filled with tears, hugging my mother. My mother caressed her head and said: "You're a good child!" Go to class, I'll pick you up this afternoon! If you study well, your mother will reward you with candy." My mother's words seemed to make me feel happier, but I was a bit sad because she wasn't around. My mother took care of me since I was a child, I was in her loving arms, but now I have gradually lost that feeling, I feel disappointed as if I forgot something. I was surrounded by strangers, but afterward, I felt a magical warmth like my mother's. Perhaps it was the teacher who brought that warmth, which I felt so deeply and strangely.
Đề bài: Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu. Bài làm Trong đời sống tinh thần đa dạng và phong phú của con người thì tình cha con là tình cảm máu thịt thiêng liêng, sâu đậm nhất. Công lao to lớn của người cha được nhắc đến rất nhiều trong ca dao, dân ca: Công cha như núi Thái Sơn,.., Con có cha như nhà có nóc, Phụ tử tình thâm… Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái… thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ! Em thấy ở bác có những nét rất giống cha em, một người thợ cơ khí bình thường, quanh năm làm việc với máy móc, dầu mỡ. Đôi bàn tay cha chai sần, thô ráp, mạnh mẽ nhưng ấm áp lạ thường. Có thể nói rằng trong gia đình em, cha làm nhiều nhất và hưởng thụ ít nhất; Cha giống mẹ ở chỗ nhường nhịn hết cho đàn con những miếng ngon miếng lành, còn mình chỉ cơm dưa cơm mắm qua ngày. Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ. Chúng em yêu kính cha, cố gắng chăm học, chăm làm để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách đáp đền chữ hiếu cụ thể và thiết thực nhất. Cảm ơn nhạc sĩ Phạm Trọng cầu đã nói giúp tuổi thơ chúng em những suy nghĩ tốt đẹp về cha mẹ: Cha sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực. Cha mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con… Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương!
Topic: My feelings about my beloved father. Assignment In the diverse and rich spiritual life of people, father-child love is the most sacred and profound bond of blood and flesh. The father's great merits are mentioned many times in folk songs and folk songs: A father's merit is like Thai Son mountain, etc., A child's father is like a house with a roof, Father and son's love is deep... The father plays the role of breadwinner in the family and is a reliable support for his wife and children. All big things like building a house, buying fields, buying buffaloes, getting married to children... are usually decided by the father. The responsibility of a father is very heavy. Whether children are good or bad depends mainly on their father's teachings and instructions. Next to the gentle mother is a strict father. Although the ways of expressing love are different, every parent wants to raise their children to maturity in all aspects, just as the folk saying goes: If a child is better than his father, the family is blessed. While the mother works tirelessly every day, worrying about her children's food and clothes, the father, in addition to those things, also has to think about teaching and passing on life experiences that he has traded for. sweat and tears, so that children can learn practical lessons when entering life. How happy it is for children to live in the loving arms of their parents! I see that you have very similar features to my father, an ordinary mechanic who works with machinery and grease all year round. Father's hands were calloused, rough, strong but unusually warm. It can be said that in my family, father works the most and enjoys the least; My father is like my mother in that he gives up all the good things for his children, while I just eat, eat, eat, and eat fish sauce to get through the day. The harder it is, the more you have to do it. What I admire most about my father is his attitude of respecting everyone, respecting his wife and children. If there is something unsatisfactory, my father calmly analyzes it without yelling or cursing. That's why even though his father was strict, he was still approachable, everyone respected him from his wife, children, and neighbors. Just listening to what my father said and watching what he did, I learned a lot of good things. Father often tells his children to use their parents as an example, so he is very careful. We love and respect our father, try to study hard and work hard to please our parents. That is also the most specific and practical way to repay filial piety. Thank you musician Pham Trong Cau for giving us good thoughts about our parents in our childhood: Father will be the bird's wing, taking the child far away. I will be a flower branch for you to wear on your chest. Parents are the shield, protecting me throughout my life... Tomorrow I grow up and fly to all over the world. Don't forget me, my parents are my homeland!
Phát biểu cảm nghĩ của em về những kỉ niệm tuổi thơ Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về những kỉ niệm tuổi thơ Tuổi thơ đó là quãng kí ức đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người. Dù là kỉ niệm vui hay buồn, mỗi khi kể về kí ức tuổi thơ, trong lòng lại rộn lên niềm vui man mác, nụ cười mãn nguyện nở trên môi. Đối với tôi, niềm vui lớn nhất của tuổi thơ là ngày khai trường đầu tiên. Với bất cứ ai đã là học sinh, chắc hẳn không thể quên được ngày trọng đại này – Ngày khai trường đầu tiên. Nó đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của con người, hé mở ra cánh cửa tri thức rộng lớn bao la. Nhớ lẩm buổi sáng mùa thu năm đó, trời cao và trong xanh đến lạ. Nắng vàng ươm rót mật xuống vạn vật. Trên cành cây, chim ca ríu rít. Tối hôm trước, tôi soạn lại sách vở đồ dùng lần cuối, rồi lên giường đi ngủ thật sớm, không xem băng hoạt hình nữa. Nhưng vào giường, mẹ dỗ mãi tôi không chịu ngủ. Trong lòng tôi cảm thấy bồn chồn, háo hức khó tả. Tôi dậy sớm, ăn sáng, tự tay mẹ mặc đồng phục mới, chải đầu cho tôi. Mẹ vui miệng đọc: Hôm nay bé đi thi Bé dậy từ gà gáy Ngồi trên xe bố lai Bé tung tăng tới trường. Tôi cười toét miệng: “Con đi học chứ”. Bố lai tôi đến trường, trên đường đi, bố mua một quả bóng bay buộc vào cổ tay tôi. Ngồi trên xe, tay tôi cứ vung vẩy, làm quả bóng bay giật giật, đến là thích thú. Bố dắt tôi vào trường. Tôi nhảy chân sáo đi bên bố, trong lòng vui sướng, rạo rực. Tôi nhìn ai cũng thấy yêu, ngắm cái gì cũng thấy thân thiết. Trường tiểu học trang hoàng thật đẹp. Cờ hoa, treo khắp các cành cây, khẩu hiệu to và đẹp treo chính giữa lễ đài. Bố dắt tôi vào xếp hàng cùng các bạn. Bố chỉnh lại quần áo, kiểm tra lại sách vở xoa đầu tôi rồi mới ra về. Bao giờ bố cũng chu đáo với tôi như thế. Tôi xếp hàng, có một chị học sinh tới dắt tôi. Tôi thấy hồi hộp quá, lo lắng, sợ nữa. Tôi toát mồ hôi, mắt nóng bừng, ngứa chân ghê gớm. Tôi cố gắng bình tĩnh lại. Tôi tự trấn an mình: “Mình không sợ, không khóc nhè, mình học lớp một rồi”. Tôi diễu hành qua lễ đài. Bao cánh tay đang vẫy chào tôi. Tiếng cô tổng phụ trách hồn hậu: “Chào mừng các em, từ nay các em đã là học sinh học dưới mái trường tiểu học, hãy cố gắng phấn đấu học tập, chăm ngoan, các em nhé”. Tôi thấy vui biết bao, hạnh phúc biết bao, bước chân như sải rộng hơn, mình như cao hơn, bộ quần áo như chật đi, sách vở trên vai yêu mến biết chừng nào. Tôi còn vui đến nỗi muốn hét to lên: “Em đi học rồi, đi học cùng các anh các chị”. Tôi yêu cái cây, yêu dãy cờ đò bay phấp phới theo gió. Tôi yêu mái trường này biết mấy. Tôi cảm thấy tự hào, mình lớn rồi, chí ít là so với hồi học mẫu giáo. Đã qua rồi cái thời chơi đồ chơi và ăn bột trong nhà trẻ. Bây giờ, chỉ có sách vở bút thước sẽ luôn tiến bước cùng tôi. Bố mẹ ơi, con sẽ nhớ lời bố mẹ dặn, phải cố gắng học tập, con là niềm tin của bố mẹ. Ngày khai trường, ngày khai trường đầu tiên của tôi! Ôi! Tôi trải qua bao lần vui sướng, bao lần hạnh phúc và tất cả đều khiến tôi toát mồ hôi, mặt nóng bừng, ngứa chân ghê gớm. Cảm giác lạ kì ấy phải chăng đã theo tôi từ ngày khai trường đầu tiên – ngày khai trường tôi không bao giờ quên.
Express your feelings about your childhood memories Instruct Express your feelings about your childhood memories Childhood is the most beautiful memory in every person's life. Whether it's a happy or sad memory, every time I talk about childhood memories, my heart is filled with joy and a satisfied smile appears on my lips. For me, the greatest joy of childhood is the first day of school. For anyone who is a student, it is impossible to forget this important day - the first day of school. It marks an important step in human maturity, opening up a vast door of knowledge. Remember that autumn morning, the sky was high and strangely blue. The golden sunlight pours honey onto everything. On the tree branches, birds chirped. The night before, I put together my books and supplies for the last time, then went to bed very early and stopped watching cartoons. But when I went to bed, my mother kept coaxing me and refused to sleep. In my heart, I felt restless and indescribably excited. I woke up early, had breakfast, my mother put on my new uniform, and combed my hair. Mom happily read: Today the child took the exam The baby wakes up from the cock crowing Sitting in a hybrid car The child bounces to school. I grinned: "You go to school?" Dad took me to school. On the way, he bought a balloon and tied it to my wrist. Sitting in the car, my hands kept waving, making the balloon twitch, and it was fun. Dad took me to school. I skipped along and walked beside my father, my heart filled with joy and excitement. I feel love for everyone I see, everything I look at makes me feel friendly. The elementary school is beautifully decorated. Flags, flowers, and flowers hung all over the tree branches, and large and beautiful slogans hung in the middle of the ceremony platform. Dad took me in line with my friends. Dad adjusted his clothes, checked his books and patted my head before leaving. Dad is always so thoughtful with me. I lined up and a female student came to lead me. I feel so nervous, worried, and afraid. I was sweating, my eyes were burning, and my feet were terribly itchy. I tried to calm down. I reassured myself: "I'm not scared, I'm not crying, I'm in first grade." I marched across the platform. Many arms are waving to me. The voice of the teacher in charge was kind: "Welcome, from now on you are students studying at the elementary school, please try your best to study and be good children." I feel so happy, so happy, my steps seem to be wider, I feel taller, my clothes feel tighter, I love the books on my shoulders so much. I was so happy that I wanted to shout out loud: "I'm going to school, going to school with my brothers and sisters." I love the tree, love the row of boat flags fluttering in the wind. I love this school so much. I feel proud, I have grown up, at least compared to when I was in kindergarten. Gone are the days of playing with toys and eating dough in daycare. Now, only books, pens and rulers will always move forward with me. Mom and Dad, I will remember what you told me, I must try to study, I am your belief. First day of school, my first day of school! Oh! I experienced many times of joy, many times of happiness and all of them made me sweat, my face was hot, and my feet itched terribly. That strange feeling has been with me since the first day of school - a day I will never forget.
Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè văn 7 Khi những con đường trong thành phố bắt đầu có tiếng ve râm ran, khi hai tiếng đã bắt đầu nở rộ những khóm hoa phượng vĩ đỏ thắm thì khi ấy là lúc một mùa hè mới, một kỳ nghỉ thú vị sắp bắt đầu. Nghỉ hè – đó là hai tiếng quen thuộc đối với mỗi người học sinh. Đó là khoảng thời gian rảnh rỗi, nghỉ ngơi. Sau suốt một năm học bận rộn. Đó cũng là khoảng thời gian mà họ dành cho gia đình nhiều nhất. Một buổi sáng thức dậy với ánh nắng sớm tinh khiết rọi vào gian phòng nhỏ bé của mình, tôi bỗng thấy có một cảm giác kỳ lạ trong lòng. Cái ánh nắng dịu nhẹ của buổi sớm, tiếng chim ca líu lo đầu hè, tiếng tấp nập của xe cộ ngoài phố như giải thích cho cái cảm giác kỳ lạ ấy. Tôi bắt đầu một kỳ nghỉ hè bằng những chuyến đi chơi với gia đình mình, về thăm quê nội, quê ngoại tôi thấy mình biết thêm được thật nhiều điều. Quê tôi đẹp lắm! Rồi những lần đi biển tôi vui đùa thỏa thích với sóng biển dưới bầu trời trong xanh không gợn chút mây. Những khoảnh khắc yêu thương, những tình cảm chan chứa và niềm vui ấy chỉ có vào ngày nghỉ hè mà thôi. Nghỉ hè như đã trở thành một khoảng không gian mà ai cũng mong ước nó đến thật nhanh, thật gần để được sum họp gia đình, để được vui đùa thỏa thích bên nhau. Nghỉ hè là lúc mà những dấu ấn, những kỷ niệm đẹp nhất của mỗi người được tạo dựng nên, được vun đắp bằng tình yêu thương của mỗi người. Phải cảm ơn mùa hè, cảm ơn những kỳ nghỉ đã cho chúng ta những giây phút thư giãn. Nhưng không phải mùa hè lúc nào cũng cười, lúc nào cũng vui. Có những lúc, người ta ngồi thu mình lại một góc, nghĩ về những kỷ niệm của năm học cũ, nghĩ về những gì đã thả mình vào sự vui sướng với gia đình mà quên mất bạn bè, những người đã gắn bó với ta trong suốt chặng đường học tập, quên mất những ký ức của tuổi học trò suốt năm học vừa qua. Mùa hè cũng làm cho ta phải xa bạn bè một thời gian, xa thầy cô mà mình quý mến. Cũng thật buồn! Có thể vì những lý do đó mà có người yêu kỳ nghỉ hè hoặc có người lại không thích kỳ nghỉ hè. Mỗi người có một ý nghĩ khác nhau vể mùa hè cũng như mùa hè mang lại cho mỗi người một cảm giác khác nhau. Tôi yêu mùa hè vì mùa hè.
Express your feelings about the summer days of Literature 7 Instruct Express your feelings about the summer days of Literature 7 When the streets in the city begin to buzz with the sound of cicadas, when after two hours the crimson poinciana flowers begin to bloom, then a new summer, an exciting vacation is about to begin. Summer break - those are two familiar hours for every student. It is free time and rest. After a busy school year. That is also the time they spend with their family the most. One morning, waking up to the pure morning sunlight shining into my small room, I suddenly felt a strange feeling in my heart. The gentle sunlight of the early morning, the chirping of birds in early summer, and the bustling sound of traffic on the street seemed to explain that strange feeling. I started my summer vacation by going out with my family, visiting my paternal and maternal hometowns, and found myself learning a lot of things. My hometown is very beautiful! Then, when I went to the beach, I had fun playing with the ocean waves under the clear blue sky without any clouds. Those moments of love, overflowing emotions and joy are only found on summer holidays. Summer vacation seems to have become a space where everyone wishes it would come quickly, as close as possible to reunite with family, to have fun together. Summer vacation is the time when each person's best impressions and memories are created and nurtured with each other's love. We must thank summer, thank vacations for giving us moments of relaxation. But summer is not always smiling, always happy. There are times when we sit in a corner, thinking about the memories of the old school year, thinking about what made us indulge in the joy of family and forget about our friends and the people who have been with us. During the journey of studying, I forgot the memories of my student years during the past school year. Summer also makes us spend some time away from friends and teachers we love. It's also sad! Maybe for those reasons, some people love summer vacation or some people don't like summer vacation. Each person has a different opinion about summer and summer gives each person a different feeling. I love summer because of summer.
Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè Khi những bông hoa phượng nhoẻn miệng cười tinh nghịch và kiêu hãnh khoe màu đỏ rực rỡ của mình thì cũng là lúc mùa hè tưng bừng và náo nhiệt trở về. Mùa hè cũng là lúc tôi chia tay bạn bè, chia tay thầy cô và bước vào những ngày nghỉ tuyệt vời. Cứ mỗi khi mùa hè đến là tôi lại đan xen bao cảm xúc, vừa bâng khuâng, nhớ thương mái trường, lại vừa hồi hộp, náo nức chờ đón những ngày hè sôi động. Có lẽ cành phượng cũng hiểu lòng tôi nên rung rinh cành lá như đang vẫy chào. Nơi đầu tiên mà tôi nhớ tới chính là miền quê yêu dấu và thanh bình của tôi. Hè năm nay, tôi sẽ đến đó. Quê tôi đẹp biết bao! Đang vào gặt lúa, đâu đâu cũng thơm phức mùi thóc, vàng suộm một màu lúa chín, ánh nắng lại trải lên làng quê tạo nên một bức tranh thật sinh động. Tôi đi dọc đường làng, ngắm nhìn những bông lúa nặng trĩu, những vườn cây ăn quả trái xum xuê, những ao cá rộng lớn Lòng tôi tự nhiên cũng tràn ngập một niềm vui khó tả, vui vì biết những công sức của các bác nông dân giờ đã có thành quả, vui vì thấy sự thay da đổi thịt của nơi đây nơi từng in dấu của bom đạn chiến tranh. Đi một quãng nữa là tới nhà ông bà nội tôi. Đó là một ngôi nhà đẹp và khang trang. Tôi thích nhất được đón những làn gió hay ngắm nhìn những con mưa rào của mùa hè ở đây. Khu vườn bà tôi trồng biết bao nhiêu là cây. Nơi đây, lúc nào công rộn vang tiếng chim hót và bản hòa tấu bất tận của những chàng ve sầu. Bạn hãy tưởng tượng mà xem, nếu bạn là tôi, được sống giữa bầu không khí trong lành, mát mẻ và êm dịu của thiên nhiên như thế này thì chắc chắn cõng sẽ có cảm giác như tôi bây giờ, thư thái và dễ chịu. Cây gắn bó với tôi nhất chính là cây hồng xiêm. Nhớ những năm tháng xưa, tôi thường giúp bà chăm sóc cây và câu cá trong ao dưới bóng mát của nó. Những ngày tháng ôm đềm ấy tưởng như mới hôm qua mà giờ đã xa. Lại một mùa hè nữa đi qua. Mỗi mùa hè mang một ấn tượng riêng nhưng với tôi mùa hè này là sâu đậm nhất.
Express your feelings about summer days Instruct Express your feelings about summer days When the poinciana flowers smile mischievously and proudly show off their brilliant red color, it is also the time when the jubilant and bustling summer returns. Summer is also the time when I say goodbye to friends, say goodbye to teachers and enter wonderful holidays. Every time summer comes, I feel a mixture of emotions, both wistful and missing school, but also nervous and excited to wait for the exciting summer days. Perhaps the phoenix branch also understood my feelings, so it shook its branches and leaves as if waving hello. The first place I remember is my beloved and peaceful countryside. This summer, I will go there. How beautiful my hometown is! While harvesting rice, everywhere is fragrant with the smell of rice, the golden color of ripe rice, the sunlight spreads over the countryside creating a vivid picture. I walked along the village road, admiring the heavy rice fields, lush fruit gardens, and large fish ponds. My heart is naturally filled with an indescribable joy, happy to know that the efforts of the farmers have now come to fruition, happy to see the change in the skin of this place that was once marked by bombs and bullets of war. . Going a little further will reach my grandparents' house. It is a beautiful and spacious house. I most enjoy catching the breeze or watching the summer showers here. My grandmother's garden planted so many trees. Here, the peacocks are always bustling with birdsong and the endless concert of cicadas. Just imagine, if you were me, living in the fresh, cool and soothing atmosphere of nature like this, you would definitely feel like I do now, relaxed and comfortable. . The tree that is most attached to me is the sapodilla tree. Remembering the old years, I often helped my grandmother take care of the plants and fish in the pond under its shade. Those lovely days seem like just yesterday but are now long gone. Another summer has passed. Every summer has its own impression, but for me this summer is the deepest.
Phát biểu cảm nghĩ của em về năm khổ thơ đầu trong bài Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ. Hướng dẫn Minh Huệ là nhà thơ quê ở Nghệ An. Có lẽ vì thế, ông viết rất hay về Bác Hồ “Người Cha mái tóc bạc” của đất nước quê hương. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ được ông viết vào năm 1951, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt. Bài thơ đểlại những ấn tượng đẹp đẽ, sâu sắc về Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Bài thơ mang cảm hứng trữ tình ghi lại cảnh Bác Hồ cùng chiến sĩ đi chiến dịch, một đêm đông giữa núi rừng Việt Bắc, mưa gió lạnh lùng. Năm khổ thơ đầu diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của anh đội viên về lãnh tụ. Anh còn trẻ lắm như muôn ngàn chiến sĩ khác “quyết tử cho Tổquốc quyết sinh”. Trong gian khổ, anh vẫn ngủ rất say, chợt anh thức dậy giữa đêm khuya. Những câu thơ đầu gợi lên một không khí thiêng liêng như cổtích: Anh đội viên thức dậy Thấy trời khuya lắm rồi Xúc động và ngạc nhiên nhìn Bác qua ánh lửa, anh tự hỏi mình: “Mà sao Bác vẫn ngồi, Đêm nay Bác không ngủ?”. Anh băn khoăn và quan sát Bác giữa đêm khuya, dưới “mái lều tranh xơ xác”, trong cảnh “trời mưa lâm thâm”, hình ảnh Bác được nhà thơ khắc hoạ với bao khám phá diệu kì: Vẻ mặt Bác trầm ngâm Đọc câu thơ, em thấv thương Bác vô cùng. Tuổi cao sức yếu, Bác vẫn cùng các chiến sĩ ra trận, cùng “nếm mật nằm gai”. Con người luôn luôn đem đến cho đồng bào chiến sĩ nụ cười rạng rỡ, vậy mà giờ đây, nụ cười ấy biến đi đâu, nhường chỗ cho sự trầm ngâm, đăm chiêu, lặng lẽ… Bác đang thao thức và băn khoăn với bao ý tưởng nung nấu trong lòng, những lo toan gánh vác việc nước, việc quân… Cái hay của bài thơ là nói đến mối quan hệ chan hòa yêu thương giữa lãnh tụ và chiến sĩ trong khói lửa. Đó là tình cha con, tình bác cháu vô cùng thắm thiết. Anh đội viên xúc động bồi hồi. Tình cảm chân thành của người lính trẻ cũng là của mỗi chúng ta, của em, của chị… Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương “Càng nhìn” vì ngạc nhiên xúc động. “Càng thương” vì đã khuya mà Bác vẫn không ngủ. “Càng thương” vì tấm lòng nhân ái bao la của Bác. Trong đêm đông lạnh lẽo, người đội viên khám phá bao điều kì diệu: bên cạnh phẩm chất lãnh tụ vi đại. ỞBác còn rực sáng lên nhân phẩm cao quý của một con người giàu tình thương: Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm. Rồi Bác đi dém chăn Từng người tàng người một Sợ cháu mình giật thật Bác nhón chân nhẹ nhàng. Vần thơ như đoạn phim cận cảnh. Ánh lửa rừng chờn vờn “mái tóc bạc’’ cửa người Cha vừa gần gũi, vừa thiêng liêng. Cử chỉ của Bác: “đốt lửa”, “dém chăn”, “nhón chân nhẹ nhàng”… đều chứa đựng bao tình yêu thương mênh mông. Tình cha con ruột thịt, tình bác cháu ruột rà được nhà thơ ghi lại một cách chân thực làm rung dộng lòng người. Bácđốt lửa, dém chăn cho chiến sĩ ngủ ngon đểngày mai ra trận hay chính Bác đang đốt ngọn lửa yêu thương nơi đáy lòng mình? Bác “dém chăn”cho từng chiến sĩ hay Bác đang truyền hơi ấm tình thương cho con cháu? Điệp ngữ “từng người từng người một” diễn tả rất sâu sắc tình thương yêu bao la của Bác. Người lính nào cũng được Bác săn sóc, cũng được Bác chia cho phần yêu thương bởi lẽ “Người là Cha, là Bác, là Anh” (Tố Hữu). Bác gần gũi với mọi con người Việt Nam, bởi một lẽ rất lớn đơn giản “Bác là Hồ Chí Minh” như Minh Huệ đã ca ngợi. Anh đội viên đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên nọ, từ suy nghĩ này đến cảm xúc: khác mà lòng bâng khuâng tự hào. Anh mơ màng chập chờn “như nằm trong mộng”. Tầm vóc lớn lao của lãnh tụ vượt ra ngoài trí tưởng tương của anh. Cảm xức dâng lên dạt dào trong lòng. Niềm kính yêu gắn liền với sự khâm phục và biết ơn Bác. Nhà thơ đã sử dụng những ngôn từ đẹp nhất, kết hợp với hình ảnh so sánh diệu kì nhất để ngợi ca tâm hồn và tình thương của lãnh tụ đối với dân tộc. Câu thơ như một nét vẽ mang màu sắc thần thoại làm chấn động hồn em: Ấm hơnngọn lửa hồng. Sống bên Bác, ai cũng cảm thấy tự hào, ai cũng thấy mình được truyền thêm niềm tin và sức mạnh để đi tới ngày mai. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta Ta bỗng lớn ở bên Người một chút… (Sáng tháng Năm) Bài thơ hay chẳng khác nào một đoá hoa thơm và đẹp tô thắm cuộc dời. Đọc thơ của Minh Huệ, em có cảm nhận như vậy. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ đậm đà âm điệu dân ca Nghệ Tĩnh. Tác giả đã sử dụng thể thơ năm tiếng bình dị, mộc mạc, giàu sức truyền cảm để nói về Bác Hồ kính yêu. Giọng thơ hồn nhiên như tiếng nói tâm tình của anh đội viên nên có sức lan tỏa rộng và sâu lắng trong tâm hồn người đọc. Đọc bài thơ, em thấy Bác gần gũi mà thiêng liêng. Kính yêu Bác, em xin hứa học giỏi, mãi mãi xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ, đi tiếp con đường cách mạng mà Bác đã vạch ra.
Express your feelings about the first five stanzas in the poem Uncle Won't Sleep Tonight by Minh Hue. Instruct Minh Hue is a poet from Nghe An. Maybe that's why he wrote so well about Uncle Ho, "the Father with silver hair" of his homeland. The poem "Uncle Can't Sleep Tonight" was written in 1951, while the resistance war against the French colonialists by our army and people was taking place extremely fiercely. The poem leaves beautiful and profound impressions of the beloved Uncle Ho. The lyrically inspired poem captures the scene of Uncle Ho and his soldiers going on campaign, a winter night in the mountains and forests of Viet Bac, cold wind and rain. The first five stanzas describe the team member's mood and thoughts about the leader. He is still very young like thousands of other soldiers "decided to die for the Fatherland". During the hardship, he still slept very soundly, then suddenly he woke up in the middle of the night. The first verses evoke a sacred, fairy-like atmosphere: The team member wake up I see it's very late Touched and surprised, looking at Uncle Ho through the firelight, he asked himself: "Why are you still sitting? Don't you sleep tonight?". He wondered and observed Uncle Ho in the middle of the night, under the "shabby thatch roof", in the scene of "the pouring rain", the image of Uncle Ho was portrayed by the poet with many magical discoveries: Uncle Ho's face was pensive Reading the poem, I felt extremely sorry for Uncle Ho. At old age and weak health, Uncle Ho still went to battle with his soldiers, "tasting honey from thorns". People always bring radiant smiles to fellow soldiers, but now, where has that smile gone, giving way to contemplation, contemplation, silence... Uncle is restless and wondering how many The thoughts burning in my heart, the worries of taking care of the country and the military... The beauty of the poem is that it talks about the loving relationship between leaders and soldiers in smoke and fire. That is the love between father and son, the love between uncle and nephew is extremely dear. The team member was overcome with emotion. The sincere feelings of the young soldier also belong to each of us, mine, my sister... The team member looked at Uncle Ho The more I look at it, the more I love it “The more I look” because of emotional surprise. "I feel even more sorry" because it's late and Uncle still can't sleep. "I love you even more" because of Uncle Ho's immense compassion. In the cold winter night, the team members discovered many wonderful things: besides great leadership qualities. In Uncle Ho, the noble dignity of a person rich in love still shines: Father with silver hair Light a fire for him to lie down on. Then Uncle went to bed Each person disappears one by one I'm afraid my grandchild will shock me Uncle tiptoed gently. Poems are like close-up movies. The light of the forest fire flickers around the "silver hair" of the Father's door, both close and sacred. Uncle Ho's gestures: "lighting the fire", "covering the blanket", "gently tiptoeing"... all contained immense love. The love between father and son, the love between uncle and nephew, is captured by the poet in an honest way that touches people's hearts. Do you light a fire and cover the soldiers with blankets so they can sleep well so they can go to battle tomorrow, or is it you who is lighting the fire of love deep in your heart? Are you "giving blankets" to each soldier or are you passing on the warmth of love to your children and grandchildren? The saying "one by one" deeply describes Uncle Ho's immense love. Every soldier is cared for by Uncle Ho and given his share of love because "He is Father, Uncle, and Brother" (To Huu). He is close to every Vietnamese person, for one very simple reason: "He is Ho Chi Minh" as Minh Hue praised. The team member went from one surprise to another, from one thought to another feeling: different but still filled with pride. He drifted in and out of sleep "as if in a dream". The leader's great stature was beyond his imagination. Feelings welled up in my heart. Love is associated with admiration and gratitude to Uncle Ho. The poet used the most beautiful words, combined with the most magical comparative images to praise the leader's soul and love for the nation. The poem is like a drawing with mythical colors that shakes my soul: Warmer than the pink fire. Living with Uncle Ho, everyone feels proud, everyone feels they have been given more faith and strength to go forward to tomorrow. Just as poet To Huu wrote: We are with Him, He shines in us I suddenly grew up a little with Him... (May morning) A good poem is like a fragrant and beautiful flower that beautifies life. Reading Minh Hue's poetry, I feel the same way. The poem Uncle Won't Sleep Tonight is rich in Nghe Tinh folk music. The author used a simple, rustic, and inspirational five-word poem to talk about his beloved Uncle Ho. The poetic voice is as innocent as the emotional voice of a team member, so it has the power to spread widely and deeply in the reader's soul. Reading the poem, I see that Uncle Ho is close and sacred. Dear Uncle, I promise to study well and forever be worthy of being Uncle Ho's good grandson, continuing the revolutionary path that Uncle Ho has outlined.
Phát biểu cảm nghĩ của em về sách vở hàng ngày Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về sách vở hàng ngày Trong con đường học tập, một thứ không thể thiếu đối với mỗi con người đó chính là sách vở. Nếu con đường học tập là chiến trường thì sách vở chính là vũ khí. Vì vậy, sách vở rất quan trọng. Bạn hãy thử nghĩ mà xem, bạn ra chiến trường trên tay không một thứ vũ khi nào thử hỏi bạn có thể chiến đấu không? Sách vở không chỉ rất quan trọng mà nhu cầu về sách vở của mỗi con người càng ngày càng cao. Nhất là sách. Sách mang đến cho chúng ta những kiến thức cơ bản, những kiến thức mở rộng để chúng ta có thể đến gần được với tri thức hơn. Sách có rất nhiều loại: Sách giáo khoa, sách tham khảo, tiểu thuyết, truyện đọc,.. Sách giáo khoa là loại sách cơ bản nhất mà ai cũng được học. Kiến thức trong sách là kiến thức bắt buộc ai cũng phải hiểu và phải nhớ để vận dụng cho đời sống bên ngoài. Nếu các bạn muốn tìm hiểu về kiến thức bạn có thể đọc sách tham khảo. Sách tham khảo lại có rất nhiều loại: Sách về tự nhiên, sách về khoa học… để bạn có thể tìm được quyển sách đáp ứng nhu cầu học hỏi của bạn. Sách còn giúp con người giải trí. Những câu chuyện cười, những bộ tiểu thuyết,… sẽ giúp đầu óc bạn thanh thản hơn, giúp bạn qua đi mệt mỏi của mình. Sách rất đa dạng. Sách giúp con người ta hướng thiện. Sách luôn luôn đáp ứng mọi nhu cầu của bạn ở mọi lúc, mọi nơi. Sách giúp con người có thể đên với thành công, đến với đỉnh cao của tri thức. Vở cũng quan trọng không kém. Vở cũng là hành trang không thể thiếu trên hành trình học tập của học sinh. Vở giúp bạn ghi chép, tóm tắt lại những ý có trong sách. Người ta thường có câu: “Học đi đôi với hành”. Bạn không thể học mà không thực hành được. Và vở sẽ giúp bạn thực hiện được điều đó. Ôi, bạn hãy thử tưởng tượng mà xem, nếu trên đời này không có sách vở thì sẽ ra sao? Thế giới này sẽ chỉ toàn những người vô học, sẽ chỉ toàn là màu đen, màu đen của sự mù chữ. Các bạn ơi, chúng ta hãy dang rộng vòng tay đón chào sách vở nhé!
Express your feelings about everyday books Instruct Express your feelings about everyday books In the path of learning, an indispensable thing for every person is books. If the path of learning is a battlefield, then books are the weapons. Therefore, books are very important. Think about it, if you go to the battlefield without a weapon, when will you ask if you can fight? Books are not only very important, but each person's need for books is increasing day by day. Especially books. Books give us basic knowledge and expanded knowledge so we can get closer to knowledge. There are many types of books: textbooks, reference books, novels, reading stories, etc. Textbooks are the most basic books that everyone can learn. The knowledge in books is knowledge that everyone must understand and remember to apply to outside life. If you want to learn about knowledge, you can read reference books. There are many types of reference books: books about nature, books about science... so you can find a book that meets your learning needs. Books also help people entertain. Jokes, novels, etc. will help your mind relax and help you overcome your fatigue. Books are very diverse. Books help people towards goodness. Books always meet all your needs anytime, anywhere. Books help people reach success and reach the pinnacle of knowledge. Play is equally important. Notebooks are also indispensable items on a student's learning journey. Notebooks help you take notes and summarize ideas in the book. People often say: "Learning goes hand in hand with practice". You cannot learn without practicing. And notebooks will help you do that. Oh, just imagine, if there were no books in this world, what would it be like? This world will only be full of uneducated people, will only be black, the black of illiteracy. Dear friends, let's welcome books with open arms!
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về tinh thần chiến đấu hy sinh của nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu Bài làm Viết về những gương thiếu nhi Việt Nam anh hùng, bài thơ Lượm của Tố Hữu là một tác phẩm đặc sắc nhất của nền thi ca kháng chiến. Sau khi miêu tả vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn trong sáng đáng yêu của Lượm, nhà thơ đã viết nên những vần thơ tuyệt đẹp ca ngợi tinh thần chiến đấu hy sinh và phầm chất anh hùng của chú đội viên liên lạc. Hình ảnh Lượm bỗng "cao lớn" phi thường: Vụt qua mặt trận Đạn bay vèo vèo Thư đề: "Thượng khẩn" Sợ chi hiểm nghèo?. Giữa mặt trận đạn bay vèo vèo, chú liên lạc đã xông lên vượt qua, vụt qua. Hai chữ vụt qua thể hiện động tác chiến đấu nhanh nhẹn, quả cảm vô cùng. Không thể do dự và chậm trễ khi đang mang trên mình bức thư thượng khẩn. Vì nó là mệnh lệnh chiến đấu. Câu thơ sợ chi hiểm nghèo? vang lên như một lời thách thức, như một lời thề chiến đấu coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến sĩ nhỏ khác nào "một tiên đồng" đang dạo chơi trên đồng lúa trỗ đòng đòng. Từ láy "nhấp nhô" gợi tả một tư thế hồn nhiên, bình tĩnh của chú liên lạc trên đường băng qua mặt trận đầy khói lửa: Đường quê vắng vẻ Lúa trỗ đòng đòng Ca lô chú bé Nhấp nhô trên đồng…. Nhà thơ như đang "nín thở" dõi theo. Và Lượm đã ngã xuống. Câu thơ có lửa và máu, có lời than và nỗi đau. Hai câu cảm thán liên tiếp như tiếng nấc đau đớn cất lên: Bỗng lòe chớp đỏ Thôi rồi, Lượm ơi! Chú đồng chí nhỏ Một dòng máu tươi!. Lượm đã chiến đấu vì quê hương. Lượm đã hy sinh vì quê hương. Lượm đã tử thương nhưng tay chú còn nắm chặt bông lúa. Lượm đã ngã xuống nhưng hồn chú vẫn bay giữa đồng lúa thơm ngạt ngào mùi sữa: Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng. Đây là những câu thơ hay nhất nói về sự hy sinh của người chiến sĩ trên chiến trường. Tố Hữu đã sáng tạo nên một không gian nghệ thuật có hương lúa quyện hồn chiến sĩ vừa thân thuộc vừa bình dị, vừa bát ngát thiêng liêng. Chú đội viên liên lạc đã ngã xuống trong tư thế người anh hùng tuổi thiếu niên!. Phần cuối bài thơ, Tố Hữu nhắc lại tám câu thơ ở đoạn đầu. Cấu trúc ấy được thi pháp gọi là "đầu – cuối tương ứng" hoặc kết cấu vòng tròn. Trong bài thơ này, cấu trúc ấy có một giá trị thẩm mĩ đặc sắc. Chú đội viên liên lạc đã anh dũng hy sinh ngoài mặt trận, nhưng tinh thần yêu nước, chí khí dũng cảm và tên tuổi người anh hùng tuổi thiếu niên vẫn bất tử, sống mãi trong lòng nhân dân ta. Có cái chết hoá thành bất tử, đó là sự hy sinh oanh liệt của Lượm. Tấm gương anh hùng của Lượm sáng mãi ngàn thu.
Topic: Express your feelings about the fighting and sacrificial spirit of the character Luom in the poem of the same name by To Huu Assignment Writing about heroic examples of Vietnamese children, To Huu's poem Luom is one of the most unique works of resistance poetry. After describing Luom's physical beauty and pure and lovely soul, the poet wrote beautiful poems praising the liaison officer's fighting spirit and heroic qualities. The image of Luom suddenly becoming "extraordinarily tall": Rushing past the front Bullets fly Letter subject: "Your Majesty" Why are you afraid of danger? In the middle of the battlefield, bullets were flying, the liaison officer rushed over and passed by. The two words flashed by, demonstrating extremely agile and courageous fighting movements. There can be no hesitation or delay while carrying an urgent letter. Because it is a combat order. The poem is afraid of danger? rang out like a challenge, like an oath to fight to consider death as light as a feather. The little soldier is like "a fairy" walking around in the rice fields. The word "undulating" describes the innocent, calm posture of the liaison on the road across the smoke-filled front: Deserted country road Rice is in full bloom Little boy's backpack Undulating on the field…. The poet seemed to be "holding his breath" watching. And Luom fell. The verse has fire and blood, lament and pain. Two consecutive exclamations sounded like painful sobs: Suddenly red flashed Okay, Luom! Little comrade A stream of fresh blood!. Luom fought for his homeland. Luom sacrificed his life for his homeland. Luom was mortally wounded, but his hand still held the rice flower tightly. Luom has fallen but his soul still flies in the fragrant rice fields filled with the smell of milk: I lie on the rice Hands holding cotton tightly Rice smells like milk The soul flies in the middle of the field. These are the best verses about the sacrifice of soldiers on the battlefield. To Huu has created an art space with the scent of rice mixed with the souls of soldiers, both familiar, simple, and sacred. The communications team member fell down in the pose of a teenage hero!. At the end of the poem, To Huu repeats the eight verses in the first paragraph. That structure is called "corresponding beginning - ending" or circular structure. In this poem, that structure has a unique aesthetic value. The liaison officer heroically sacrificed his life on the front line, but the spirit of patriotism, courage and the name of the teenage hero are still immortal and live forever in the hearts of our people. There is a death that turns into immortality, which is Luom's heroic sacrifice. Luom's heroic example shines forever.
Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Con Rồng cháu Tiên lớp 6 hay nhất Hướng dẫn Đoàn kết là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta đã được gây dựng từ bao đời nay. Lí giải về cội nguồn của con người Việt Nam, đồng thời qua đó cho thấy cơ sở của tình đoàn kết của những thành viên trong cộng đồng, truyền thuyết Con rồng cháu Tiên cho đã đưa ra lí giải cho toàn bộ vấn đề này. Bằng những hiểu biết của mình sau khi học xong truyền thuyết Con rồng cháu tiên, em hãy phát biểu cảm nghĩa về truyện Con rồng cháu tiên. I. Dàn ý cho đề bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên 1. Mở bài cho đề phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên – Nêu cảm nhận chung về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”. 2. Thân bài cho đề phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên – Nêu những cảm nhận cụ thể về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên. – “Con Rồng, cháu Tiên” giải thích cội nguồn dân tộc gắn với những điều cao quý, thiêng liêng. – Nguồn gốc xuất thân và hình dáng kì lạ, thiêng liêng của Lạc Long Quân và Âu Cơ. – Mối tình giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ thể hiện sự hòa hợp giữa núi non và sông biển, biểu trưng cho sự hòa hợp huyết thống của các bộ tộc, bộ lạc khác nhau. -Sự phân chia con cái giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ cho thấy tinh thần đoàn kết dân tộc. – Sự phân chia này thể hiện: + Quan niệm của người xưa về sự lưỡng phân, lưỡng hợp + Sự giải thích về sự phân chia lãnh thổ đầu tiên, mở mang địa bàn cư trú và sản xuất của nước ta. -Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” chủ yếu sử dụng những chi tiết tưởng tượng kì ảo – Tưởng tượng kì ảo là những yếu tố kì lạ, không có thật được tác giả dân gian sáng tạo nhằm những mục đích cụ thể. – Trí tưởng tượng của dân gian về nguồn gốc của hai vị thần góp phần thể hiện niềm tự hào dân tộc và quá trình nhận thức về nguồn gốc cao quý của con người. – Ngoài ra chi tiết “cái bọc trăm trứng” đã cho thấy tinh thần đoàn kết dân tộc. 3. Kết bài cho đề phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên Khát quát lại cảm nhận về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”.
Express your thoughts about the best story The Dragon and the Fairy for grade 6 Instruct Solidarity is a good tradition of our people that has been built for many generations. Explaining the origin of the Vietnamese people, and thereby showing the basis of solidarity among members of the community, the legend of the Dragon and the Fairy's Son provides an explanation for this entire issue. Using your knowledge after studying the legend of The Dragon and the Fairy, please express your feelings about the story of The Dragon and the Fairy. I. Outline for a speech expressing thoughts about the story The Dragon and the Fairy 1. Open the lesson to express your thoughts about the story The Dragon and the Fairy - State the general feeling about the legend "The Dragon and the Fairy". 2. In the body of the essay, ask the topic to express your thoughts about the story The Dragon and the Fairy – State specific feelings about the legend "The Dragon and the Fairy's Descendants. - "Dragon's Son, Fairy's Son" explains the national origin associated with noble and sacred things. – The origin and strange, sacred appearance of Lac Long Quan and Au Co. – The love between Lac Long Quan and Au Co represents the harmony between mountains and rivers and sea, symbolizing the harmony of blood of different tribes and clans. -The division of children between Lac Long Quan and Au Co shows the spirit of national solidarity. – This division shows: + The ancients' concept of dichotomy and duality + The explanation of the first territorial division, expansion of our country's residence and production areas. -The legend "The Dragon and the Fairy's Descendants" mainly uses fantasy and fantasy details – Fantasy fantasies are strange, unreal elements created by folk authors for specific purposes. – Folk imagination about the origin of the two gods contributes to expressing national pride and the process of awareness of humanity's noble origin. - In addition, the detail "a bag of a hundred eggs" shows the spirit of national solidarity. 3. At the end of the lesson, ask the question to express your thoughts about the story The Dragon and the Fairy Thirst summarizes the feeling about the legend "The Dragon and the Fairy's Son".
Phát biểu cảm nghĩ của em về tình bạn văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ của em về tình bạn văn 7 Trong cuộc đời mỗi người ngoài tình cảm gia đình còn có tình cảm bạn bè. Đó là một thứ tình cảm vô cùng quý giá, nó có thể giúp người ta vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống, hơn nữa đó còn là chỗ dựa tinh thần giúp ta quên đi những nỗi buồn, những vất vả khó khăn trong cuộc sống. Trong văn chương, chúng ta cũng bắt gặp những tác phẩm ca ngợi tình bạn như Lưu Bình – Dương Lễ. Một người sẵn sàng đưa vợ mình đến giúp đỡ bạn trong lúc bạn gặp khó khăn, bế tắc. Hay như tích Trung Quốc có Bá Nha Tử Kì: Một người bạn ra đi, người ở lại không muốn đánh đàn nữa vì nghĩ rằng chẳng còn ai có thể hiểu được tiếng đàn của mình như người bạn đã mất. Hay như Tú Xương cũng có bài thơ Khóc Dương Khuê để nói lên tình cảm của mình với bạn. Đó có được những mối thâm tình ấy chắc chắn họ đã có những kỉ niệm sâu sắc bên nhau và hơn thế đó là sự đồng cảm, đồng điệu về tâm hồn. Và trong cuộc sống đời thường chúng ta cũng bắt gặp những tình bạn chân thành và đáng quý. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường em cũng chứng kiến những tình bạn như thế. Đó là những đôi bạn cùng giúp nhau học tập. Em đã từng chứng kiến hai người bạn chơi rất thân với nhau, song giữa họ lại co điểm khác là người thì học giỏi Văn, người thì học giỏi Toán. Tuy nhiên, trong những lần kiểm tra, họ không hề cho nhau chép bài dẫu hai người ngồi cùng bàn và sát nhau. Sau một thời gian, em thấy cả hai đều học tốt cả hai môn. Lúc đầu ai cũng tưởng họ cho nhau chép bài, nhưng sự thực thì họ đã giúp nhau khắc phục nhược điểm của từng người. Bạn học giỏi Toán thì giúp người giỏi Văn học Toán tốt hơn và ngược lại. Hai bạn đã giúp cho nhau có được kiến thức một cách chắc chắn. Như vậy trong học tập cũng như trong công việc, giúp nhau không có nghĩa là cho nhau một sự vật cụ thể mà có thể giúp nhau con đường, phương pháp để đạt được hiệu quả. Đó mới chính là một tình bạn chân chính, chân thành. Ngoài ra tình bạn tốt còn giúp cho nhau vượt qua những nỗi buồn về tinh thần. Đó là khi người bạn của mình gặp chuyện không vui mình có thể đến để chia sẻ, động viên, an ủi họ. Điều đó cũng được minh chứng qua tình bạn của em với Ngọc. Em với Ngọc học cùng lớp, ngồi cùng một chỗ và cùng chung khu tập thể. Hàng ngày em và Ngọc cùng nhau đi học, khi về cả hai cùng về và ăn cơm trưa xong em sang nhà Ngọc ôn bài, cùng nhau làm bài tập, và cùng bàn bạc, suy tính trước những bài khó. Trước đây, trong các môn học em ngại nhất là môn tiếng Anh, thế nhưng có Ngọc động viên, giúp đỡ nên chỉ trong một thời gian ngắn em đã tiến bộ hơn nhiều. Em còn nhớ có hôm Ngọc bỏ cả bữa trưa để giảng giải cho em hiểu và thuộc bằng được một số cấu trúc ngữ pháp. Nhờ sự tận tình chỉ giúp của Ngọc đến giờ em đã thích học môn tiếng Anh. Ngoài việc giúp đỡ nhau trong học tập em và Ngọc còn thường xuyên chia sẻ với em những chuyện vui buồn trong gia đình, trong lớp học. Mỗi khi buồn mà được chia sẻ với Ngọc em cảm thấy nỗi buồn của em như vơi đi một nửa. Tình bạn của em và Ngọc dường như mỗi ngày lại gắn bó hơn. Và em tin rằng đó là tình bạn chân thành nhất.
Express your feelings about literary friendship 7 Instruct Express your feelings about literary friendship 7 In every person's life, in addition to family affection, there is also friendship affection. It is an extremely valuable sentiment, it can help people overcome difficulties and challenges in life, moreover it is also a spiritual support that helps us forget sadness and hardships. in life. In literature, we also come across works praising friendship like Luu Binh - Duong Le. A person is willing to bring his wife to help you when you encounter difficulties and deadlocks. Or like the Chinese story Ba Nha Tu Ky: A friend leaves, the one who stays behind doesn't want to play the piano anymore because he thinks no one can understand his guitar sound like his lost friend. Or like Tu Xuong also has a poem Crying Duong Khue to express his feelings for his friend. Having those deep relationships, they certainly have deep memories together and more than that, they have sympathy and sameness of soul. And in everyday life we ​​also encounter sincere and precious friendships. When I was in school, I also witnessed such friendships. These are couples who help each other study. I have seen two friends who are very close to each other, but there is a difference between them: one is good at Literature, the other is good at Math. However, during the tests, they did not let each other copy the papers even though they were sitting at the same table and close to each other. After a while, I saw that we both studied well in both subjects. At first everyone thought they were giving each other copies, but in reality, they helped each other overcome each other's weaknesses. If you are good at Math, you will help people who are good at Math Literature better and vice versa. The two of you have definitely helped each other gain knowledge. So in study as well as in work, helping each other does not mean giving each other a specific thing but can help each other with paths and methods to achieve effectiveness. That is a true, sincere friendship. In addition, good friendship also helps each other overcome mental sadness. That's when my friend encounters something unpleasant, I can come to share, encourage, and comfort them. That is also proven through my friendship with Ngoc. Ngoc and I study in the same class, sit in the same seat and share the same dormitory. Every day, Ngoc and I go to school together. When we both come home and have lunch, we go to Ngoc's house to review lessons, do homework together, and discuss and think through difficult lessons. Previously, among the subjects I was most afraid of was English, but with Ngoc's encouragement and help, in just a short time I have improved much. I still remember one day Ngoc spent the whole lunch explaining to me so I could understand and memorize some grammatical structures. Thanks to Ngoc's dedicated help, I now enjoy studying English. In addition to helping each other in studying, Ngoc and I also often share with her the happy and sad stories in the family and in the classroom. Every time I'm sad and shared with Ngoc, I feel like my sadness is reduced by half. My friendship with Ngoc seems to grow closer every day. And I believe that is the most sincere friendship.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ sau khi đọc bài: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em Bài làm “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em" là văn bản trích trong Tuyên bố của Hội ngị cấp cao thế giới về trẻ em" họp tại Liên hợp quốc ngày 30.9 1990. Văn bản được trích lược ở đây gồm có 17 điều: Điều 1 và 2 là lời kêu gọi. 5 điều tiếp theo (3 – 7): sự thách thức. 2 điều (8-9): cơ hội. 8 điều còn lại (10 – 17): nhiệm vụ. Cấu trúc của văn bản rất chặt chẽ và hợp lí. Lời kêu gọi mở đầu hướng về những ai, và vì đối tượng nào mà ra lời tuyên bố. Sự thách thức nói lên thực trạng, tình trạng sống còn, đau khổ… của trẻ em thế giới. Hai điều cơ hội chỉ ra hoàn cảnh xã hội và lịch sử thuận lợi. Phần nhiệm vụ là nội dung chính của bản tuyên bố. Tính pháp lí, tính cộng đồng, tính nhân đạo bao trùm văn bản này. Mở đầu Bản tuyên bố là lời kêu gọi "khẩn thiết" hướng tới "toàn thể nhân loại" vì mục đích "hãy bảo đảm cho tất cả trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn" (điều 1). Điều 2 nói rõ vì ai, vì đối tượng nào, đối tượng ấy ra sao mà ra lời kêu gọi. Đó là tất cả trẻ em trên thế giới, một lớp người "đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc". Lớp người nhỏ tuổi ấy cần "phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển". Hòa bình, ấm no, hạnh phúc là điều kiện, là nhu cầu sống của trẻ em. Tính cộng đồng (rộng lớn), tính nhân đạo được thể hiện rất rõ và vô cùng sâu sắc. Năm điều tiếp theo nói về sự thách thức, phản ánh thực trạng, điều kiện sống của tuổi thơ trên thế giới. Vô số trẻ em phải chịu bao nhiêu "nỗi bất hạnh". Là "nạn nhân" của chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc, chế độ a-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài. Có những cháu chịu cảnh tị nạn, tàn tật… bị "đối xử tàn nhẫn và bóc lột" (điều 4). Có hàng triệu trẻ em ở các nước đang phát triển, chậm phát triển sống trong đói nghèo, vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp. Nguyên nhân chính là do "tác động nặng nề của nợ nước ngoài", hoặc tình hình kinh tế "không có khả năng tăng trưởng" (điều 5). Điều 6 nêu lên những số liệu đáng sợ: mỗi ngày trên thế giới có 40.000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng, bệnh tật, hội chứng AIDS, hoặc do điều kiện sống: thiếu nước sạch, thiếu vệ sinh, và do tác động của vấn đề ma túy (điều 6). Văn bản không chỉ nêu lên thực trạng của trẻ em thế giới, mà còn nói lên nguyên nhân. Nhưng không hề đụng chạm tới quốc gia nào. Đó là tính pháp lí thể hiện một cách viết sâu sắc, tế nhị. Phần cơ hội chỉ có 2 điều. Sự liên kết của các nước và "công ước về quyền của trẻ em " đã tạo ra cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em "được sự tôn trọng" ở khắp nơi trên thế giới, (điều 8). Bầu không khí chính trị quốc tế được "cải thiện" (cuộc chiến tranh lạnh được phá bỏ), sự hợp tác và đoàn kết quốc tế (khôi phục và phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường…), giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em (điều 9). Những cơ hội ấy đã được tận dụng trong 15 năm qua, làm cho sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em trên nhiều khu vực, nhiều quốc gia thu được nhiều thành tựu tốt dẹp. Phân nhiệm vụ có 8 điều (10-17). Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em; cứu vãn sinh mệnh trẻ em, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh (điều 10). Chăm sóc nhiều hơn đối với trẻ em bị tàn tật và có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn. (Liên hệ: hàng chục vạn trẻ em ở nước ta bị chất độc màu da cam trong chiến tranh,..), (điều 11). Tăng cường vai trò của phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ vì lợi ích của trẻ em toàn cầu; các em gái cần được đối xử bình đẳng (điều 12). Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở ( điều 13). Bảo đảm an toàn cho phụ nữ khi mang thai và sinh đẻ, kế hoạch hóa gia đình để trẻ em lớn khôn và phát triển (điều 14). Cần tạo cho trẻ em một môi trường sống, một xã hội tự do để trẻ em có nơi nương tựa an toàn, được khuyến khích tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội (điều 15). Khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở tất cả các nước; tìm ra giải pháp "nhanh chóng, rộng lớn và lâu bền cho vấn đề nợ nước ngoài (điều 16). Điều 17 chỉ ra điều kiện được thực hiện những nhiệm vụ đã nêu ra cần "những nỗ lực liên tục", "sự phối hợp trong hành động" của từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế. Đọc văn bản "Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em” chúng ta mới cảm thấy ý nghĩa sâu xa của vấn đề nuôi dưỡng, dạy dỗ., chăm sóc trẻ em là một sự nghiệp vô cùng to lớn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và toàn thế giới. Trẻ em là tương lai của Tô quốc" "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai", những câu khẩu hiệu ấy trở nên thân thiết với mọi người. Trong điều kiện được xã hội quan tâm săn sóc, mỗi thiếu niên nhi đồng trên mọi miền đất nước ta phải phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi.
Topic: Express your feelings after reading the article: World declaration on the survival, protection and development of children Assignment "World Declaration on the Survival, Protection and Development of Children" is a document excerpted from the Declaration of the World Summit on Children" meeting at the United Nations on September 30, 1990. The text excerpted here includes 17 articles: Articles 1 and 2 are calls. Next 5 things (3 – 7): challenge. 2 things (8-9): opportunity. The remaining 8 things (10 – 17): mission. The structure of the text is very tight and reasonable. The opening appeal is directed towards whom, and for what object, the declaration is made. The challenge speaks to the reality, the state of survival, the suffering... of the world's children. Two things of opportunity indicate favorable social and historical circumstances. The mission section is the main content of the statement. Legality, community, and humanity cover this document. The Declaration's opening is an "urgent" call to "all humanity" for the purpose of "ensuring all children a better future" (article 1). Article 2 clearly states for whom, for what object, and what kind of object the appeal is made. That is all the children in the world, a class of people "who are all innocent, vulnerable and dependent". That class of young people needs to "live in joy, peace, play, learn and develop". Peace, prosperity, happiness are the conditions and living needs of children. The (large) sense of community and humanity are shown very clearly and extremely deeply. The next five articles talk about challenges, reflecting the current situation and living conditions of childhood in the world. Countless children have to endure so many "misfortunes". As a "victim" of war and violence, of racism, the apartheid regime, of foreign invasion, occupation and annexation. There are children who are refugees, disabled... and are "treated cruelly and exploited" (article 4). There are millions of children in developing and underdeveloped countries living in poverty, homelessness, disease, illiteracy, and degraded environment. The main reason is due to the "severe impact of foreign debt", or the economic situation "inability to grow" (article 5). Article 6 raises scary figures: every day in the world, 40,000 children die from malnutrition, disease, AIDS syndrome, or from living conditions: lack of clean water, lack of sanitation, and the impact of the drug problem (article 6). The text not only states the current situation of the world's children, but also states the cause. But it did not touch any country. That is the legality that shows a profound and delicate way of writing. The opportunity part only has 2 things. The association of countries and the "convention on the rights of the child" have created new opportunities for the rights and welfare of children to be "respected" around the world, (article 8). The international political atmosphere is "improved" (the cold war is broken), international cooperation and solidarity (economic recovery and development, environmental protection...), disarmament , promoting child welfare (article 9). These opportunities have been taken advantage of over the past 15 years, making the survival, protection and development of children in many regions and countries with many good achievements. Task division has 8 items (10-17). Improve children's health and nutrition; Save children's lives and reduce infant mortality rates (Article 10). Take more care for children who are disabled and have particularly difficult living situations. (Contact: tens of thousands of children in our country were exposed to Agent Orange during the war, etc.), (Article 11). Strengthen the role of women, ensuring equal rights between men and women for the benefit of children globally; Girls should be treated equally (article 12). Ensure that children can complete basic education (Article 13). Ensure safety for women during pregnancy and childbirth, and family planning so that children can grow and develop (article 14). It is necessary to create a living environment and a free society for children so that children have a safe place to rely and are encouraged to participate in social and cultural activities (Article 15). Restore economic growth and development in all countries; find a "quick, extensive and lasting solution to the foreign debt problem (article 16). Article 17 points out that the conditions for implementing the stated tasks require "continuous efforts", "coordination in action" of each country as well as international cooperation. Reading the text "World Declaration on the Survival, Protection and Development of Children", we can feel the profound meaning of the issue of nurturing, educating, and caring for children as a invaluable cause. "Children today, the world tomorrow", those slogans have become familiar to everyone. . Under conditions of care and concern from society, every teenager in every region of our country must strive to become good children and good students.
Phát biểu cảm nghĩ sau khi đọc truyện Con hổ có nghĩa. Hướng dẫn Hổ là loài rất hung dữ và nguy hiểm, nó có thể ăn thịt con người bất kì lúc nào nó muốn. Nhưng trog câu chuyện Con hổ có nghĩa, tác giả đã xây dựng lên một hình ảnh con hổ có tư cách giống như một con người. Đoạn thứ nhất là câu chuyện giữa hổ và bà đỡ Trần ở huyện Đông Triều. Hổ đực đền ơn mười lạng bạc vì bà đỡ Trần đã cứu vợ con nó. Số bạc ấy đã giúp bà sống qua năm mất mùa đói kém. Biện pháp nghệ thuật nhân hóa thường thấy trong truyện ngụ ngôn khiến cho hình ảnh hổ đực mang bóng dáng hình ảnh con người. Nó không những biết đền ơn đáp nghĩa với ân nhân mà còn có nhiều biểu hiện đáng quý: hết lòng với hổ cái trong lúc sinh đẻ, vui mừng khi có con, lễ phép, lưu luyến trong phút chia tay ân nhân…Thật không thể tin được một loài vật hung dữ mà dưới ngòi bút miêu tả của tác giả con hổ hiện lên thật đáng trân trọng. Đoạn thứ hai kể về chuyện đã xảy ra giữa hổ trán trắng và người kiếm củi ở huyện Lạng Giang. Hổ bị hóc xương, không thể nào lấy ra được. Nó đau đớn giãy giụa làm cỏ cây nghiêng ngả. Bác tiều phu đã giúp hổ lấy khúc xương ra khỏi họng. Hổ đền ơn đáp nghĩa bác tiều. Hơn mười năm sau, bác tiều qua đời, hổ đến bên quan tài tỏ lòng thương tiếc. Sau đó, mỗi năm đến ngày giỗ bác, hổ lại đem dê hoặc lợn rừng đến để trước cửa nhà. Hai con hổ đã làm cho người đọc thấy cảm phục ở tấm lòng của nó, đó chính là lòng biết ơn – điều cốt lõi trong đạo làm người.Khi bà đỡ Trần giúp cho hổ cái được mẹ tròn con vuông, sau những phút mừng rỡ đùa giỡn với con, hổ đực quỳ xuống bên một gốc cây, lấy chân đào lên một cục bạc đưa biếu bà Trần. Hành động đền ơn đáp nghĩa của nó diễn ra ngay tức thì, không một chút đắn đo, suy nghĩ. Mà hổ đền ơn đâu phải ít, những hơn mười lạng bạc. Hổ tuy là một con vật nhưng lại biết cư xử có nghĩa có tình với người đã giúp gia đình nó vượt qua cơn hoạn nạn. Khi tiễn ân nhân về, hổ cúi đầu vẫy đuôi. Đến khi bà đỡ Trần đi khá xa, nó gầm lên một tiếng rồi bỏ đi. Đây là tiếng chào tiễn biệt, là lời cảm ơn chân thành của hổ đực đối với ân nhân. Cũng đáp đền ân nghĩa nhưng cách trả ơn của hổ trán trắng có khác. Sau khi được cứu sống, nó đã tha một con nai đến đặt trước của nhà bác tiều phu để tạ ơn. Cảm động nhất là mười năm sau, khi bác tiều phu qua đời, nó vẫn nhớ đến bác và về chịu tang ân nhân của mình. Từ xa, mọi người nhìn thấy hổ trán trắng dụi đầu vào quan tài, gầm lên tỏ vẻ xót thương, chạy quanh quan tài vài vòng rồi đi. Từ đó về sau, hằng năm cứ tới ngày giỗ bác tiều là hổ lại đưa dê hoặc lợn đến để ở ngoài cửa… Hai câu chuyện được tác giả kể lại bằng giọng kể tự nhiên, mộc mạc, không khoa trương, không bình phẩm, nhưng chính điều này lại làm cho ý nghĩa của câu chuyện thêm thú vị và sâu sắc. Tác giả đã mượn hình ảnh của hai con vật dữ tợn nhất nhưng lại sống rất nghĩa tình. Tác giả đã tinh tế khi chọn nhân vật trong truyện là con hổ. Con hổ hung dữ như vậy nhưng nó vẫn biết đền ơn đối với những người đã giúp đỡ nó vượt qua khó khăn, vậy con người với con người thì đã đối xử với nhau thế nào. Câu chuyện muốn nhắc nhở chúng ta rằng, Làm người thì phải sống có tình, có nghĩa. Tình nghĩa không chỉ cảm hóa được con người mà đối với loài vật chúng ta cũng có thể thu phục được.
Express your feelings after reading the story The Meaningful Tiger. Instruct Tigers are very ferocious and dangerous species, they can eat humans any time they want. But in the story The Meaningful Tiger, the author has built an image of a tiger with a personality similar to a human. The first part is the story between the tiger and midwife Tran in Dong Trieu district. The male tiger returned ten taels of silver to midwife Tran for saving his wife and child. That money helped her survive the year of poor harvest and famine. The artistic device of personification is often found in fables, making the image of a male tiger take on the appearance of a human image. Not only does it know how to repay gratitude to its benefactors, but it also has many precious expressions: being devoted to the tigress during childbirth, being happy when having a child, being polite, and being nostalgic in the moment of saying goodbye to the benefactor... Really? I can't believe that for a ferocious animal, under the author's description, the tiger appears so worthy of respect. The second paragraph tells about what happened between a white-fronted tiger and a firewood collector in Lang Giang district. The tiger had a bone stuck in it and couldn't get it out. It struggled painfully, causing the grass and trees to sway. The woodcutter helped the tiger remove the bone from its throat. The tiger repays the kindness of the uncle. More than ten years later, Uncle Thieu passed away, and the tiger came to the coffin to express his condolences. After that, every year on the anniversary of his death, the tiger would bring goats or wild boars to leave in front of the house. The two tigers made the reader feel admiration in their hearts, which is gratitude - the core of human morality. When midwife Tran helped the tigress give birth to a healthy baby, after minutes of celebration Playing happily with his cub, the male tiger knelt down next to a tree, used his paw to dig up a piece of silver and gave it to Mrs. Tran. Its act of gratitude takes place immediately, without any hesitation or thought. But the tiger's gratitude is not small, more than ten ounces of silver. Although the tiger is an animal, it knows how to behave in a meaningful way towards the person who helped its family overcome the tribulation. When sending his benefactor home, the tiger bowed his head and wagged his tail. When she helped Tran go quite a distance, he roared and left. This is the male tiger's farewell and sincere thanks to his benefactor. They also repay favors, but the white-browed tiger's way of repaying favors is different. After being saved, he brought a deer to the woodcutter's house to give thanks. The most touching thing was that ten years later, when the woodcutter passed away, he still remembered him and came home to mourn his benefactor. From afar, people saw the white-browed tiger rubbing its head against the coffin, roaring in pity, running around the coffin a few times and then leaving. From then on, every year on the anniversary of Uncle Tieu's death, the tiger would bring a goat or pig to leave outside the door... The two stories are told by the author in a natural, rustic voice, without exaggeration or criticism, but this makes the meaning of the story more interesting and profound. The author borrowed the image of the two most ferocious animals but live very meaningful lives. The author was subtle when choosing the character in the story as a tiger. Even though the tiger is ferocious, it still knows how to show gratitude to those who have helped it overcome difficulties, so how do humans treat each other? The story wants to remind us that, to be human, we must live with love and meaning. Gratitude not only touches humans, but we can also conquer animals.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu phát biểu cảm nghĩ về Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi. Bài làm Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là ức Trai, con của Nguyễn Phi Khanh, quê gốc xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Gia đình đến lập nghiệp ở làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và Nguyễn Trãi được sinh ra tại đây. Năm 1400, ông đậu thái học sinh và ra làm quan trong triều nhà Hồ. Sau đó tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, với vai trò quân sư bên cạnh chủ tướng Lê Lợi. Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng, nhà quân sự thiên tài, nhà ngoại giao xuất chúng, nhà văn hóa, nhà thơ lỗi lạc. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú, trong đó có Bình Ngô đại cáo, ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quận trung từ mệnh tập… Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng tác trong thời gian hòa bình, ông cáo quan về sống ở Côn Sơn. Côn Sơn không chỉ là quê hương mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn Nguyễn Trãi. Côn Sơn ca vừa là bài ca thiên nhiên vừa là bài ca tâm trạng. Hai ý này hòa quyện thông nhất trong cảm xúc của thi nhân. Đoạn trích miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên nhưng vẫn thấm nhuần ý vị trữ tình của tâm trạng. Trong nguyên văn chữ Hán, Bài ca Côn Sơn được viết theo thể thơ khác nhưng bản dịch đã chuyển thành thể lục bát: Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong rừng thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn… Sự giao hòa tuyệt đối giữa con người với cảnh vật được thể hiện khá rõ trong đoạn thơ, qua đó phản ánh nhân cách thanh cao và tâm hồn phóng khoáng của Nguyễn Trãi. Trước hết, ta hãy thưởng thức giọng thơ sảng khoái, hứng khởi, bộc lộ qua các câu thơ tự do trong nguyên văn chữ Hán: Kì thanh linh linh nhiên, Ngô dĩ vi cầm huyền, Côn Sơn hữu thạch, Vũ tẩy đài phô bích, Ngô dĩ vi đạm tịch. Nham trung hữu tùng, Vạn lí Thúy đồng đồng. Ngô ư thị hồ, Yến tức kỳ trung. Lâm trung hữu trúc, Thiên mẫu ấn hàn lục Ngô ư ngâm tiếu kì khắc. Nhịp thơ rộn rã như nhịp đàn, nhịp phách. Chính chất hào sảng trong tâm hồn thi sĩ đã tạo nên chất hào sảng của lời thơ. Gần trọn cuộc đời lo cho dân, cho nước, nhưng những năm cuối đời, Nguyễn Trãi lại phải sống trong sự đố kị, ghen ghét của đám nịnh thần. Vì vậy, khi trở về Côn Sơn, Nguyễn Trãi như con chim bằng sổ lồng tung cánh, cảm thấy mình thật sự tự do giữa trời cao đất rộng. Lúc này, ông mới được sống thật với chính mình, mới được là mình. Thi sĩ lúc dạo chơi, khi nằm nghỉ, khi chuyện trò tâm sự với những người nông dân áo vải, lúc cao hứng ngâm nga, vui say giữa rừng núi quê nhà. Phong thái nhà thơ thật giản dị, ung dung mà cũng thật cởi mở, chan hòa. Trong Bài ca Côn Sơn, cảnh vật thiên nhiên hiện lên với dòng suối trong chảy róc rách, rì rầm như tiếng đàn lúc khoan, lúc nhặt. Phiến đá phẳng phủ rêu xanh mướt, mịn như chiếu êm. Thông, tùng mọc như nêm, rừng trúc bạt ngàn màu xanh tươi mát. Qua nét vẽ tài hoa của ngòi bút Nguyễn Trãi, khung cảnh Côn Sơn hiện lên với những đặc điểm riêng biệt, không lẫn với bất cứ bức tranh sơn Thủy nào. Trong bài thơ, đại từ ta xuất hiện năm lần. Ta ở đây chính là Nguyễn Trãi. Ta nghe tiếng suối mà như nghe tiếng đàn. Ta ngồi trên đá lại tưởng ngồi chiếu êm. Ta nằm hóng mát, ta ngâm thơ nhàn… Giữa khung cảnh mơ mộng, hình ảnh của thi sĩ giống như một nhà hiền triết hoặc một Tiên ông đang đắm mình vào thiên nhiên tuyệt mĩ. Thiên nhiên Côn Sơn khoáng đạt và thanh tĩnh. Bao trùm lên tất cả là sắc lá xanh ngời. Ở đây có suối chảy rì rầm, có bàn đá rêu phơi, có rừng tùng, rừng trúc che ánh nắng mặt trời, tạo ra khung cảnh tao nhã cho thi nhân ngồi ngâm thơ nhàn một cách thú vị… Hình ảnh cây trúc, cây tùng trong văn chương, tượng trưng cho khí phách cứng cỏi của người quân tử: Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Nhà thơ hòa mình vào thiên nhiên hoang sơ đầy quyến rũ. Từ tiếng suối chảy róc rách, những tấm thảm rêu biếc, những tán thông kiêu hãnh, rừng trúc xanh tươi đều toát lên vẻ yên ả, đem lại sự thanh thản, bình yên cho tâm hồn. Bao lo lắng, phiền muộn của cuộc đời dường như được trút sạch, con người và thiên nhiên hòa làm một. Bức tranh Côn Sơn được Nguyễn Trãi cảm nhận không chỉ bằng thị giác, thính giác mà còn được cảm nhận bằng cả trái tim. Người đọc nhận ra cái “tâm” trong sáng và cái tài độc đáo của thi nhân qua bài thơ này. Bóng dáng nhà thơ hiện lên mờ ảo, thấp thoáng. Dường như ông hòa lẫn vào suối, vào rêu, vào đá, vào thông, vào trúc. Cái bóng dáng ẩn hiện và tiếng ngâm thơ trầm bổng, ngân nga trong không gian ấy gần như đã thể hiện đúng hoàn cảnh và tâm trạng của Nguyễn Trãi lúc bấy giờ. Nếu như ở bốn câu đầu, cảnh thiên nhiên Côn Sơn được miêu tả khách quan thì ở các câu thơ sau, tác giả lại kín đáo lồng vào trong đó lời khuyên xuất thế. Khi Nguyễn Trãi cáo quan về quê, mọi người đều tưởng ông bất mãn, chán đời, lui vào ẩn dật để quên mình, quên đời… nhưng không phải vậy. Lê Thánh Tông hiểu lòng ông, mời ông ra làm việc, ông lại hăng hái về triều, gánh vác việc dân, việc nước. Trong biểu tạ ơn vua, Nguyền Trãi đã tự ví: Thần như con ngựa già còn ham rong ruổi… Hai người cùng chung đề tài chung biện pháp nghệ thuật so sánh nhưng khác nhau ở vị thế lúc làm thơ. Bài ca Côn Sơn được sáng tác khi Nguyễn Trãi bất đắc dĩ phải sống ẩn dật tại Chí Linh. Còn Cảnh khuya được nhà cách mạng Hồ Chí Minh viết trong lúc giữ cương vị tổng chỉ huy của cuộc kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc. Hai cảnh ngộ, hai tâm trạng khác nhau, tuy đều lấy tiếng suối làm mạch nguồn cảm xúc nhưng sự cảm nhận và liên tưởng của mỗi người lại thể hiện nét riêng mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại! Hai nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, hai thi nhân tầm vóc thời đại tuy sống cách nhau năm thế kỉ nhưng giống nhau ở cảm hứng mãnh liệt trước thiên nhiên tươi đẹp. Chỉ khác là nghe tiếng suối, Nguyễn Trãi liên tưởng đến tiếng đàn huyền diệu, còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nghĩ tới âm hưởng hùng tráng của bài ca chiến thắng trong tương lai. Đọc những bài thơ của Nguyễn Trãi viết về cảnh vật thôn quê, chúng ta hiểu thêm về tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của ông. Bài ca Côn Sơn khiến lòng ta xao xuyến, bồi hồi và càng thêm gắn bó với từng mảnh vườn, góc phố quê hương.
Topic: Please write an essay expressing your feelings about Song Con Son by Nguyen Trai. Assignment Nguyen Trai (1380 - 1442), nicknamed Uc Trai, son of Nguyen Phi Khanh, originally from Chi Ngai commune, Chi Linh district, Hai Duong province. The family settled in Nhi Khe village, Thuong Tin district, Ha Tay province and Nguyen Trai was born here. In 1400, he passed the exam and became a mandarin in the Ho Dynasty. Then participated in the Lam Son uprising, as a military advisor next to General Le Loi. Nguyen Trai is a thinker, a military genius, an outstanding diplomat, a cultural writer, and a brilliant poet. He left behind a huge and rich literary career, including Binh Ngo Dai Cao, Duoc Trai Thi Tap, Quoc Am Thi Tap, Trung Tu Menh Tap Tap... The song Con Son (Con Son ca) was most likely composed during a time of peace when he retired to Con Son. Con Son is not only his homeland but also the land that nurtures Nguyen Trai's soul. Con Son Ca is both a nature song and a mood song. These two ideas blend together in the poet's feelings. The excerpt describes natural beauty but is still imbued with the lyrical meaning of the mood. In the original Chinese text, Song of Con Son is written in a different poetic form, but the translation has been converted into hexagram form: Con Son stream murmurs, I hear the sound of a harp in my ears. Con Son has moss-dried rocks, I sit on the rock like sitting on a soft mat. In the pine forest grows like a wedge, Find a shady place to go up and lie down. In the forest there is shade of bamboo, Under the cool green we recite leisurely poetry... The absolute harmony between people and the landscape is shown quite clearly in the poem, thereby reflecting Nguyen Trai's noble personality and liberal soul. First of all, let's enjoy the refreshing, exciting poetic voice, revealed through free verses in the original Chinese text: Strangely pure and natural, Ngo Di Vi Cam Huyen, Con Son Huu Thach, Dance at the stage of pho bich, Ngo is very quiet. Lava in the middle and right parts, Van Ly Thuy agreed. Ngo U Thi Ho, Yen means middle period. Lam Trung Huu Truc, Heavenly mother presses cold green Ngo smiled strangely. The rhythm of the poem is as bustling as the rhythm of a guitar or a beat. It is the generosity in the poet's soul that creates the generosity of the poetry. Most of his life he cared for the people and the country, but in the last years of his life, Nguyen Trai had to live in the envy and jealousy of courtiers. Therefore, when returning to Con Son, Nguyen Trai was like a caged bird spreading its wings, feeling truly free in the wide sky and earth. At this time, he could live true to himself, be himself. The poet sometimes walks, sometimes lies down, confides with the cotton-clothed farmers, sometimes hums in high spirits, happily drunk in the mountains and forests of his hometown. The poet's style is simple and leisurely, but also very open and harmonious. In Con Son Song, the natural scenery appears with a clear stream flowing and murmuring like the sound of a guitar, sometimes drilling and picking. The flat stone slab is covered with green moss, as smooth as a soft mat. Pine and pine trees grow like wedges, and the bamboo forest is vast and fresh green. Through the talented drawing of Nguyen Trai's pen, the landscape of Con Son appears with unique characteristics, not to be confused with any other Thuy painting. In the poem, the pronoun ta appears five times. I am Nguyen Trai here. We hear the sound of a stream but it's like hearing the sound of a guitar. I sat on the rock and thought I was sitting on a soft mat. We lie in the cool air, we recite leisurely poetry... In the midst of a dreamy scene, the image of the poet is like a sage or a fairy immersing himself in the beauty of nature. Con Son's nature is spacious and peaceful. Covering everything is the bright green leaves. Here there are murmuring streams, stone tables with drying moss, pine forests and bamboo forests that shade the sunlight, creating an elegant setting for poets to sit and recite poetry in an enjoyable way... Images of bamboo trees, trees in literature, symbolizes the tough spirit of a gentleman: the humble cannot be moved, the powerful cannot be subdued. The poet immerses himself in the wild and charming nature. From the sound of the gurgling stream, the mossy carpets, the proud pine trees, and the green bamboo forest, all exude tranquility, bringing serenity and peace to the soul. All the worries and troubles of life seem to be washed away, people and nature become one. The Con Son painting was felt by Nguyen Trai not only with sight and hearing but also with the whole heart. Readers recognize the poet's pure "mind" and unique talent through this poem. The poet's silhouette appears dimly and faintly. He seemed to blend into the stream, into the moss, into the rocks, into the pine trees, into the bamboo. The hidden figure and the deep, humming sound of poetry reciting in that space almost accurately expressed Nguyen Trai's situation and mood at that time. If in the first four verses, the natural scene of Con Son is described objectively, in the following verses, the author discreetly inserts advice from the world. When Nguyen Trai returned to his hometown, everyone thought he was dissatisfied, bored with life, and retreated into seclusion to forget himself and life... but that was not the case. Le Thanh Tong understood his heart and invited him to work. He enthusiastically returned to the court and took charge of people's and country's affairs. In his expression of gratitude to the king, Nguyen Trai compared himself: I am like an old horse that still wants to roam... The two of them share the same topic and the same artistic methods of comparison but are different in their positions when writing poetry. The song Con Son was composed when Nguyen Trai reluctantly had to live in seclusion in Chi Linh. Late Night Scene was written by revolutionary Ho Chi Minh while holding the position of general commander of the resistance war in the Viet Bac war zone. Two different situations, two different moods, although both use the sound of the stream as the source of emotions, the feelings and associations of each person express their own unique features imbued with personal impressions and the spirit of the times! Although two prominent politicians and military leaders, two poets of their era, lived five centuries apart, they were similar in their strong inspiration for beautiful nature. The only difference is that when listening to the sound of a stream, Nguyen Trai thinks of the magical sound of a guitar, while President Ho Chi Minh thinks of the majestic sound of a victory song in the future. Reading Nguyen Trai's poems about rural landscapes, we understand more about his deep love for his homeland and country. The song Con Son makes our hearts flutter, make us feel more attached to each garden and street corner of our hometown.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này! I. Dàn ý 1. Mở bài: – Đây là bài ca dao giới thiệu về cảnh đẹp Hồ Gươm của Hà Nội. – Người Hà Nội rất tự hào khi nói đến những danh lam thắng cánh trên đất Thăng Long ngàn năm văn hiếu. 2. Thân bài: * Nội dung và nghệ thuật của bài ca dao: Kiểu mở đầu thường thấy trong ca đao: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, gợi không khí, hình ảnh khách thập phương nô nức đến thăm. – Điệp từ xem lặp lại ba lần: xem cảnh Kiếm Hồ, xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn nhấn mạnh ý hồ Hoàn Kiếm có rất nhiều cảnh đẹp tạo nên thắng cảnh này. – Hình ảnh Đài Nghiên, Tháp Bút xây trước lối vào chùa vừa như nét nhấn của toàn cảnh bức tranh hồ Hoàn Kiếm, vừa thể hiện ý chùa Ngọc Sơn là nơi thờ Văn Xương đế quân, vị thần trông coi về văn chương và thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, vị anh hùng dân tộc. * Lòng tự hào, kiêu hãnh của người Hà Nội; – Ẩn chứa trong từng câu, từng chữ, từng hình ảnh của bài ca dao là niềm tự hào về đất Thăng Long thiêng liêng, tự hào về hồ Hoàn Kiếm gắn liền với truyền thuyết đòi gươm thần mà Long Quân cho Lê Lợi mượn để đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà, lập nên sự nghiệp hiển hách muôn đời: Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này? 3. Kết bài – Thắng cảnh Hồ Gươm đẹp và giàu ý nghĩa lịch sử, văn hóa nên rất hấp dẫn đối với du khách. – Vẻ đẹp Hà Nội tiêu biểu cho vẻ đẹp văn hiến của đất nước và dân tộc Việt Nam. II. Bài làm Đây là bài ca dao nói về cảnh đẹp của Hà Nội. Tục truyền, vua nhà Lý đi tìm đất đóng đô, ngang qua đây thấy có rồng bay vút lên trời, cho là điềm lành, bèn quyết định dừng lại, cho xây dựng kinh thành và đặt tên là Thăng Long. Lịch sử của Thăng Long Đông Đô – Hà Nội đã ngót ngàn năm. Hàng trăm thế hệ nối tiếp nhau đổ mồ hôi, xương máu để xây dựng mảnh đất này thành gương mặt tiêu biểu cho nước Việt ngàn năm văn hiến. Hà Nội được coi là một vùng đất thiêng, là nơi kết tụ tinh hoa của quốc gia, dân tộc. Thủ đô đã đứng vững qua bao phen khói lửa, bao cuộc chiến tranh đau thương và oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Bởi vậy cho nên người Hà Nội rất đỗi tự hào khi giới thiệu về Hà Nội: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này? Hồ Gươm nằm giữa lòng thành phố là một thắng cảnh xinh tươi của Thủ đô. Giữa hồ có đền Ngọc Sơn nép mình dưới bóng râm cổ thụ, có Tháp Rùa xinh xắn xây trên gò cỏ quanh năm xanh mướt. Lối vào đền là một cây cầu nhỏ cong cong sơn màu đỏ có tên Thê Húc (tức là nơi ánh sáng ban mai đậu lại). Hai bên là Đài Nghiên, Tháp Bút do nhà thơ Nguyễn Siêu xây dựng vào giữa thế kỉ XIX. Đền Ngọc Sơn thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo – vị anh hùng dân tộc nổi tiếng đời nhà Trần và thờ Văn Xương đế quân – một vị thần trông coi về văn học – vì Hà Nội được coi là xứ sở của văn chương thi phú. Cũng bởi hồ Hoàn Kiếm đẹp và giàu ý nghĩa như vậy nên du khách đến thăm. Hà Nội không thể bỏ qua. Thắng cảnh này tiêu biểu cho truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam cho nên bài ca dao trên vừa là lời giới thiệu, vừa là lời mời mọc chân tình: Du khách muôn phương hãy đến đây để cùng thưởng thức cảnh đẹp, cùng chia sẻ niềm vui, niềm kiêu hãnh với chúng tôi, những người dân Thủ đô khéo léo, cần cù, thanh lịch và hiếu khách!
Topic: Express your thoughts about the folk song: Get together to watch the Sword Lake scene, See The Huc bridge, see Ngoc Son pagoda. Dai Nghien and Pen Tower have not yet worn out, Ask who built this country! I. Outline 1. Introduction: – This is a folk song introducing the beautiful scenery of Hoan Kiem Lake in Hanoi. – Hanoi people are very proud when talking about famous landscapes in Thang Long with thousands of years of filial piety. 2. Body of the article: * Content and art of folk songs: The opening style is often seen in folk songs: Inviting each other to watch the scene of Sword Lake, evoking the atmosphere and images of visitors from all over eagerly coming to visit. - The words are repeated three times: see Kiem Lake scene, see The Huc bridge, see Ngoc Son pagoda, emphasizing the meaning of Hoan Kiem Lake, which has many beautiful scenes that create this landscape. – The image of Dai Nghien and Pen Tower built in front of the pagoda entrance is both a highlight of the panorama of Hoan Kiem Lake and also shows the idea that Ngoc Son pagoda is a place to worship Van Xuong De Quan, the god who oversees literature and worship. Saint Tran Hung Dao, national hero. * Pride and arrogance of Hanoi people; – Hidden in every sentence, every word, every image of the folk song is pride in the sacred land of Thang Long, pride in Hoan Kiem Lake associated with the legend of demanding the magic sword that Long Quan lent to Le Loi to Expelling the Ming invaders from the country's borders, establishing a glorious career that will last forever: Dai Nghien and Pen Tower have not yet worn out. Who built this country? 3. Conclusion – The Hoan Kiem Lake landscape is beautiful and rich in historical and cultural significance, so it is very attractive to tourists. – The beauty of Hanoi represents the cultural beauty of the country and people of Vietnam. II. Assignment This is a folk song about the beautiful scenery of Hanoi. Legend has it that the King of the Ly Dynasty was looking for land to build a capital. Passing by here, he saw a dragon soaring into the sky. He thought it was a good omen, so he decided to stop, build the capital and name it Thang Long. The history of Thang Long Dong Do - Hanoi is nearly a thousand years old. Hundreds of successive generations have poured their sweat and blood to build this land into the representative face of Vietnam with thousands of years of civilization. Hanoi is considered a sacred land, a place where the quintessence of the nation and people gathers. The capital has stood firm through many times of fire and smoke, many painful and glorious wars against foreign invaders. That's why Hanoians are very proud when introducing Hanoi: Get together to watch the Sword Lake scene, See The Huc bridge, see Ngoc Son pagoda. Dai Nghien and Pen Tower have not yet worn out, Ask who built this country? Sword Lake located in the heart of the city is a beautiful landscape of the Capital. In the middle of the lake, there is Ngoc Son Temple nestled in the shade of an ancient tree, and a lovely Turtle Tower built on a mound of green grass all year round. The entrance to the temple is a small curved bridge painted red called The Huc (where the morning light stops). On both sides are Dai Nghien and Pen Tower built by poet Nguyen Sieu in the mid-nineteenth century. Ngoc Son Temple worships Saint Tran Hung Dao - a famous national hero of the Tran Dynasty and worships Van Xuong De Quan - a god who oversees literature - because Hanoi is considered the land of literature and poetry. Because Hoan Kiem Lake is so beautiful and meaningful, tourists come to visit. Hanoi cannot be missed. This landscape represents the historical and cultural traditions of the Vietnamese people, so the above folk song is both an introduction and a sincere invitation: Tourists from all over come here to enjoy it. Enjoy the beautiful scenery, share joy and pride with us, the people of the Capital who are skillful, industrious, elegant and hospitable!
Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Đi Cấy Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Đi Cấy Ca dao dân gian Việt Nam, có bài phản ánh đời sống tinh thần phong phú lạicó những bài trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ của người nông dân trước công việc quen thuộc hằng ngày. Đi cấy là một trong những bài ca điển hình cho điều ấy. “Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng đá mềm, Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng.” Giản dị, mộc mạc và tự nhiên chính những cái đó lại tạo nên sự rung động sâu sắc trong lòng người đọc, người nghe. Nỗi băn khoăn lo lắng trong công việc của người nông dân quá lớn, như đúc lại thành khối nặng nề đè lên đôi vai gầy của họ, khiến chúng ta không khỏi xót xa, thương cảm. Nội dung bài ca dao thật đơn giản. Đó là người phụ nữ nông dân đi cấy lúa, chân ngập dưới bùn sâu mà lòng ngổn ngang trăm môi lo toan và thầm mong mưa thuận gió hòa để có được một mùa lúa tốt. Tục ngữ xưa đã có câu: Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn. Kể từ khi cắm cây mạ xuống ruộng cho đến khi gánh lúa về nhà, người nông dân phải làm bao công việc vất vả, cực nhọc; phải tính toán, trăn trở mọi bề. Nhiều khi lúa chín vàng đồng, chỉ một trận lũ lụt tràn qua là tay trắng lại hoàn tay trắng. Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề. Đi cấy lấy công tức là đi cấy thuê. Cấy ít tiền ít, cấy nhiều tiền nhiều. Xong việc là phủi tay, chẳng ràng buộc trách nhiệm gì với chủ ruộng. Có vất vả cũng chỉ là vất vả tấm thân: Bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, Đổi bát mồ hôi lấy bát cơm… (Tục ngữ). Còn mình thì đi cấy trên ruộng nhà. Đó là cơ sở để phân biệt giữa người làm thuê với người làm chủ. Vì thế mà sự trông mong, lo lắng nhiều bề cũng xuất phát từ đây. Tôi khác với người ta ở cách tính toán trăn trở, năm liệu bảy lo về công việc với một ý thức trách nhiệm cao và một vốn hiểu biết khá phong phú, toàn diện. Hai từ trông và bề ở câu thứ 2 thật hàm súc, đa nghĩa và được sử dụng rất chính xác. Từ trông vừa có nghĩa là quan sát, nhìn ngó, nhận xét, phân tích, vừa có nghĩa là lo lắng, mong đợi, hi vọng. Từ bề cũng vậy, vừa chỉ cái hữu hình tồn tại trong không gian (trời, đất, mây), vừa chỉ cái vô hình như nỗi mong đợi, ao ước hoặc chiêm nghiệm bằng tâm tưởng (nỗi lo thiên tai, niềm vui được mùa)… Ở câu thứ hai: Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề, nghĩa của từ trông gắn liền với nghĩa của từ nhiều bề, gợi lên hình ảnh một phụ nữ nông dân có tầm suy nghĩ, nhìn nhận công việc rất thấu đáo. Hình ảnh ấy sẽ được tiếp tục khắc họa rõ nét ở những câu sau. Đặc biệt là hai câu giữa bài với 7 từ trông gắn liền với 7 đối tượng cụ thể khác nhau (trời, đất, mây, mưa, gió, ngày, đêm) trong bối cảnh rộng lớn của không gian và thời gian: Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm. Các từ trông trên đây đều có thể hiểu theo hai hoặc ba lớp nghĩa và mỗi từ mang một sắc thái biểu cảm khác nhau. Nếu như ở câu: Trông trời, trông đất, trông mây, từ trông có nghĩa là quan sát và theo dõi liên tục sự thay đổi của thời tiết với thái độ băn khoăn, lo lắng, thì ở câu: Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đềm, từ trông lại có nghĩa là cầu mong. Mong sao mưa thuận gió hòa cho cây lúa tốt tươi, để người vơi bớt nỗi nhọc nhằn và chứa chan hi vọng. Đến hai câu cuối bài thì từ trông rõ ràng mang ý nghĩa là niềm hi vọng, là ước mong tha thiết: Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng. Chân cứng đá mềm là thành ngữ chỉ sức mạnh và ý chí của con người, nhất là những người phải xông pha những công việc gian nan vất vả, thậm chí hiểm nguy. Trông cho chân cứng đá mềm nghĩa,là mong sao cho bản thân có đủ sức khỏe và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có được niềm vui, niềm tin trong cuộc sống. Trời êm, biển lặng cũng là thành ngữ biểu hiện sự thuận hòa của thiên nhiên (thời tiết, khí hậu); cao hơn nữa là sự yên bình trong cuộc sống (xã hội trật tự, an ninh, không có chiến tranh, trộm cướp)… Càng hiểu rõ nội dung ý nghĩa của từ trông trong bài ca dao này, ta càng đồng cảm với nỗi lo toan vất vả của người nông dân. Từ đó, càng thêm thương thêm quý những giọt mồ hôi ngày ngày họ đổ xuống đồng để làm ra hạt lúa nuôi đời: Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Bài ca giao vừa giản dị, tự nhiên lại vừa hàm súc và thật sự rất ý nghĩa.
Express your thoughts about the folk song Go Cay Instruct Express your thoughts about the folk song Go Cay Vietnamese folk songs have songs that reflect a rich spiritual life and others that directly reveal the feelings of farmers facing familiar daily work. Going to transplant is one of the typical songs for that. "People get transplanted, Now that I'm transplanting, I still have to look at many things. Look at the sky, look at the land, look at the clouds, Look at the rain, look at the wind, look at the day, look at the night. Make your feet hard and your rocks soft, The weather is calm and the sea is calm to calm the heart." Simplicity, rusticity and nature create a deep vibration in the hearts of readers and listeners. The anxiety and worry about the work of farmers is so great that it seems to form a heavy mass on their thin shoulders, making us feel sad and sympathetic. The content of the folk song is simple. That's a woman farmer planting rice, her feet submerged in deep mud, her heart full of worries and secretly hoping for good weather and good weather to have a good rice season. There is an old proverb that says: The effort to plant is the effort to waste, the effort to weed is the effort to eat. From the time the seedlings are planted in the field until the time they carry the rice home, the farmer has to do a lot of hard work; You have to calculate and worry about everything. Many times, when the rice is ripe and golden, just a flood hits and everything is empty again. People get transplanted Now that I'm transplanting, I still have to look at many things. Planting for work means cultivating for hire. Plant less, earn less, plant more, earn more. When the job is done, you wash your hands of it, not binding any responsibility to the field owner. Even if it's hard, it's just the hard work of the body: Sell your face to the land, sell your back to the world, Exchange a bowl of sweat for a bowl of rice... (Proverb). As for me, I went to work planting in my home field. That is the basis for distinguishing between employees and owners. That's why many expectations and worries also come from here. I'm different from other people in my way of calculating and worrying about work, with a high sense of responsibility and a fairly rich and comprehensive understanding. The two words look and appearance in the second sentence are very concise, multi-meaning and used very precisely. The word look means both to observe, to look, to comment, to analyze, and also to worry, to expect, to hope. The word surface is the same, referring to both the tangible things that exist in space (sky, earth, clouds), and also to the invisible things such as expectations, desires or mental contemplations (worries about natural disasters, joy of season)… In the second sentence: Now that I'm farming, I still see many aspects. The meaning of the word look is closely linked to the meaning of the word many aspects, evoking the image of a farmer woman who has the ability to think and look at work very thoroughly. That image will continue to be clearly portrayed in the following sentences. Especially the two sentences in the middle of the article with 7 words that look associated with 7 different specific objects (sky, earth, clouds, rain, wind, day, night) in the vast context of space and time: Look at the sky, look at the land, look at the clouds, Look at the rain, look at the wind, look at the day, look at the night. The words above can all be understood in two or three layers of meaning and each word carries a different expressive nuance. If in the sentence: Look at the sky, look at the ground, look at the clouds, the word look means to observe and continuously monitor changes in the weather with a worried, worried attitude, then in the sentence: Look at the rain, look at the wind , look forward, look forward, the word look again means to pray. I hope that the rain will be favorable and the rice will be lush, so that people will be relieved of their hardships and filled with hope. In the last two sentences of the article, the word clearly means hope and earnest wish: The weather is calm and the sea is calm to calm the heart. Hard legs, soft rocks is an idiom that refers to the strength and will of people, especially those who have to engage in arduous, even dangerous work. Keeping your legs strong and kicking soft means hoping that you have enough health and strength to overcome all difficulties and challenges, and have joy and faith in life. Calm weather and calm sea are also idioms expressing the harmony of nature (weather, climate); even higher is peace in life (social order, security, no war, no theft)... The more we understand the meaning of the word "chan" in this folk song, the more we sympathize with the farmers' worries and hardships. From then on, I love and appreciate even more the drops of sweat they pour into the fields every day to produce rice grains to feed the world: Oh my God, hold a bowl full of rice, One grain of rice is fragrant, bitter and bitter. The song is both simple, natural, concise, and truly meaningful.
Phát biểu cảm nghĩ về bài Ca dao, dân ca Những câu hát về tình cảm gia đình Bài làm Ca dao – dân ca là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”, là thơ ca trữ tình dân gian. Ca dao – dân ca Việt Nam là cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân, nhất là những người lao động Việt Nam. Rất tự nhiên, tâm hồn, tình cảm con người bao giờ cũng bắt đầu từ tình cảm, ân nhhĩa đối với những người ruột thịt trong gia đình. Truyền thống văn hoá Việt Nam rất đề cao gia đình và tình nghĩa gia đình. Bài ca tình nghĩa gia đình trong kho tàng ca dao – dân ca Việt Nam vô cùng phong phú. Trong đó, bốn bài ca của văn bản Những câu hát về tình cảm gia đình là tiêu biểu, vừa sâu sắc về nội dung, vừa sinh động, tinh tế về ngôn ngữ nghệ thuật: Công cha như núi ngất trời… Chiều chiều ra đứng ngố sau… Ngó lên nuộc lạt mái nhà… Anh em nào phải người xa… Lời của những bài ca dao trên là lời của ai, nói với ai thế? Qua âm điệu, ý nghĩa các từ ngữ và hình ảnh những nhân vật trữ tình của chùm ca dao, chúng ta hiểu rằng: đây là lời ru con của mẹ, nói với con ; là lời người con gái lấy chồng xa quê hướng về quê mẹ, nói với mẹ ; là lời của cháu nói với ông và cuối cùng, ở bài thứ tư thì lời nói nghĩa tình ngân lên một khúc hát nhiều bè, có thể là lời của ông bà, hoặc cô bác nói với cháu, của cha mẹ răn bảo con, hoặc của anh em ruột thịt tâm sự, bảo ban nhau. Những câu hát về tình cảm gia đình trong ca dao – dân ca Việt Nam chúng ta đẹp như một bản hợp ca vừa chân thành, thân mật, ấm cúng, vừa thiêng liêng, trang trọng, xuyên thấm từ đời này sang đời khác. Trong bốn bài ca dao trên, có lẽ lay động sâu sắc tâm hồn, trí tuệ chúng ta nhất là bài 1 và bài 4. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài hiển Đông. Núi cao hiển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Sáu tiếng mở đầu ngân theo ba nhịp như khúc dạo nhạc nhẹ nhàng, thủ thí của một bài hát ru. Đây là lời ru của mẹ, ru cho đứa con thơ bé ngủ ngon, đồng thời nhắc nhở công lao trời biển của cha mẹ đối với con và bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ. Mẹ sinh ra con, dành tất cả những dòng sữa thơm ngọt nuôi phần xác của con và hằng đêm cất tiếng ru êm dịu rót thêm những dòng sữa âm thanh nuôi lớn phần hồn của con. Là những người con, mỗi chúng ta ai mà chẳng đã từng dược nghe lời ru của mẹ để rồi cùng với sữa mẹ, những bài hát ru ấy đã nuôi lớn chúng ta, hoàn thiện cho ta những bước trưởng thành cả tâm hồn và thể xác. Ở bài hát ru này, người mẹ đã ví công lao sinh thành, nuôi dạy của cha mẹ đối với con cái cao như “núi ngất trời”, rộng như “nước biển Đồng”. Đây là cách nói ví quen thuộc của ca dao Việt Nam dể ca ngợi công ơn cha mẹ đối với con cái. “Công cha”, “nghĩa mẹ” là những ý niệm trừu tượng dược so sánh bời hình ảnh tạo vật cụ thể “núi cao”, “biển rộng”, biểu tượng cho sự vĩnh hằng bất diệt của thiên nhiên. Những hình ảnh ấy được miêu tá bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời: núi rất cao, ngọn núi lẫn trong mây trời ; biển rộng mênh mông: biển rộng không sao đo được). Một hình ảnh vẽ chiều đứng, hài hoà với hình ảnh vẽ chiều ngang dựng một không gian bát ngát, mênh mang, rất gợi cảm. Thêm nữa, hai từ “núi” và “biển” được nhắc lại hai lần (điệp từ) bổ sung thêm nét điệp trùng, nối tiếp của núi, của biển khiến cho chiều cao của núi càng thêm cao, chiều rộng của biển càng thêm rộng… Chỉ những hình ảnh to lớn, cao rộng không cùng và vĩnh hằng ấy mới diễn tả nổi công ơn sinh thành, nuôi dạy con cái của cha mẹ. “Núi ngất trời”, “biển rộng mênh mông” không thể nào đo được, cũng như công ơn cha mẹ đối với con cái không thể nào tính được. Qua nghệ thuật so sánh, dùng từ đặc tả, từ láy và điệp từ, kết hợp giọng thơ lục bát ngọt ngào của điệu hát ru, ba câu đẩu của bài ca dao đã khẳng định và ngợi ca công ơn to lớn của cha mẹ đối với con cái. Đây không phải là lời giáo huấn khó khăn về chữ hiếu mà là những tiếng nói tâm tình truyền cảm, lay động trái tim chúng ta. Do đó, đến câu cuối “Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”, tuy lời ru chỉ rõ công ơn cha mẹ bằng một thành ngữ “chín chữ cù lao” hơi khó hiểu, nhưng chúng ta vần thấm thía những tình nghĩa cha mẹ đối với con cái. Có thể nói, công ơn cha mẹ đối với con cái không chỉ gói lại ở con số chín (sinh: đẻ, cúc: nâng đỡ, phủ: vuốt ve, súc: cho bú, trưởng: nuôi lớn, dục: dạy dỗ, cố: trông nom, phục: theo dõi, phúc: che chở) mà mở rộng đến vô cùng. Câu thơ tám tiếng chia đều hai nhịp: bốn tiếng đầu “cù lao chín chữ” nhấn mạnh công ơn cha mẹ, bốn tiếng sau “ghi lòng con ơi” nhắc nhở thái độ và hành động của con cái đền đáp công ơn ấy. Về mật bố cục và mạch lạc văn bản, bài hát ru này khá chặt chẽ. Nhiều bài ca dao khác của dân tộc ta cũng thường bố cục tương tự: miêu tả sự vật, kể sự việc, rồi nhắc nhở, răn dạy ; nội dung hiện thực, hài hoà mang tính giáo huấn ; lay động người nghe bằng tình cảm, sau đó mới nhắc nhở bằng lí trí, ý thức. Ngoài bài ca dao mà sách giáo khoa giới thiệu, nhiều người Việt Nam còn nhớ một số bài khác có nội dung tương tự như: Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang. Hoặc: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Cùng với bài hát ru về công cha, nghĩa mẹ, cha ông ta cũng thường hát ru con cháu về tình cảm anh em thân thương ruột thịt. Bài ca dao thứ tư là lời răn dạy về tình cảm ấy và cũng có bố cục gần giống bài thứ nhất. Phần thứ nhất: Người ru, người hát vừa kể vừa tả quan hộ anh em trong một nhà: Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Quan hệ anh em khác biệt rõ ràng với quan hệ láng giềng, xã hội. Lời ca dùng phép đối chiếu, dùng hai tiếng “người xa” mớ đầu mang âm diệu bình thản như vô cảm, rồi đối lai bằng một dòng tám tiếng liền mạch “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” nghe vừa như thân mật, tha thiết vừa thiêng liêng, trang trọng. Những hình ảnh “bác” (cha), “mẹ”, “một nhà” kết hợp các từ “cùng” đã nhấn mạnh quan hệ anh em, thân thương, ruột thịt. Lời ca nhẹ nhàng, tự nhiên, ý nghĩa, nội dung sâu sắc mà khơi gợi biết bao tình cảm mặn nồng, tha thiết. Phần tiếp sau là lời răn bảo cụ thể: Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy. Lời răn bảo dùng cách so sánh khéo léo. Tình anh em, yêu thương, hoà thuận, trên kính dưới nhường như tay gắn bó với chân, sự gắn bó bằng đường gân, mạch máu. Đây cũng là cách dùng một ý niệm trừu tượng “tình thương yêu” đối chiếu, so sánh với hình ảnh cụ thể “tay, chân”, mở ra trong suy nghĩ của người nghe nhiều liên tưởng, tưởng tượng rộng và sâu. Nói khác đi, ông bà, cha mẹ luôn mong muôn con cái trong một nhà thương yêu, giúp dỡ lẫn nhau, gắn bó với nhau như tay với chân trong một cơ thể. Cái cơ thể ấy chính là gia đình. Người tiêu biểu cho gia đình chính là cha mẹ. Tình cảm anh em nằm trong tình thương yêu của cha mẹ. Vì thế, anh em hoà thuận sẽ đem lại niểm vui, hạnh phúc cho cha mẹ “Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy”. Lời ca kết lại, nhưng cảm xúc và ước vọng vẫn tiếp tục mở ra. Những từ ghép “yêu nhau”, “hoà thuận”, “vui vầy” thuộc nhóm từ biểu cảm cứ ngân lên, lan toả mãi trong lòng người…
Phát biểu cảm nghĩ về bài Ca dao, dân ca Những câu hát về tình cảm gia đình Bài làm Ca dao – dân ca là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”, là thơ ca trữ tình dân gian. Ca dao – dân ca Việt Nam là cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân, nhất là những người lao động Việt Nam. Rất tự nhiên, tâm hồn, tình cảm con người bao giờ cũng bắt đầu từ tình cảm, ân nhhĩa đối với những người ruột thịt trong gia đình. Truyền thống văn hoá Việt Nam rất đề cao gia đình và tình nghĩa gia đình. Bài ca tình nghĩa gia đình trong kho tàng ca dao – dân ca Việt Nam vô cùng phong phú. Trong đó, bốn bài ca của văn bản Những câu hát về tình cảm gia đình là tiêu biểu, vừa sâu sắc về nội dung, vừa sinh động, tinh tế về ngôn ngữ nghệ thuật: Công cha như núi ngất trời… Chiều chiều ra đứng ngố sau… Ngó lên nuộc lạt mái nhà… Anh em nào phải người xa… Lời của những bài ca dao trên là lời của ai, nói với ai thế? Qua âm điệu, ý nghĩa các từ ngữ và hình ảnh những nhân vật trữ tình của chùm ca dao, chúng ta hiểu rằng: đây là lời ru con của mẹ, nói với con ; là lời người con gái lấy chồng xa quê hướng về quê mẹ, nói với mẹ ; là lời của cháu nói với ông và cuối cùng, ở bài thứ tư thì lời nói nghĩa tình ngân lên một khúc hát nhiều bè, có thể là lời của ông bà, hoặc cô bác nói với cháu, của cha mẹ răn bảo con, hoặc của anh em ruột thịt tâm sự, bảo ban nhau. Những câu hát về tình cảm gia đình trong ca dao – dân ca Việt Nam chúng ta đẹp như một bản hợp ca vừa chân thành, thân mật, ấm cúng, vừa thiêng liêng, trang trọng, xuyên thấm từ đời này sang đời khác. Trong bốn bài ca dao trên, có lẽ lay động sâu sắc tâm hồn, trí tuệ chúng ta nhất là bài 1 và bài 4. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài hiển Đông. Núi cao hiển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Sáu tiếng mở đầu ngân theo ba nhịp như khúc dạo nhạc nhẹ nhàng, thủ thí của một bài hát ru. Đây là lời ru của mẹ, ru cho đứa con thơ bé ngủ ngon, đồng thời nhắc nhở công lao trời biển của cha mẹ đối với con và bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ. Mẹ sinh ra con, dành tất cả những dòng sữa thơm ngọt nuôi phần xác của con và hằng đêm cất tiếng ru êm dịu rót thêm những dòng sữa âm thanh nuôi lớn phần hồn của con. Là những người con, mỗi chúng ta ai mà chẳng đã từng dược nghe lời ru của mẹ để rồi cùng với sữa mẹ, những bài hát ru ấy đã nuôi lớn chúng ta, hoàn thiện cho ta những bước trưởng thành cả tâm hồn và thể xác. Ở bài hát ru này, người mẹ đã ví công lao sinh thành, nuôi dạy của cha mẹ đối với con cái cao như “núi ngất trời”, rộng như “nước biển Đồng”. Đây là cách nói ví quen thuộc của ca dao Việt Nam dể ca ngợi công ơn cha mẹ đối với con cái. “Công cha”, “nghĩa mẹ” là những ý niệm trừu tượng dược so sánh bời hình ảnh tạo vật cụ thể “núi cao”, “biển rộng”, biểu tượng cho sự vĩnh hằng bất diệt của thiên nhiên. Những hình ảnh ấy được miêu tá bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời: núi rất cao, ngọn núi lẫn trong mây trời ; biển rộng mênh mông: biển rộng không sao đo được). Một hình ảnh vẽ chiều đứng, hài hoà với hình ảnh vẽ chiều ngang dựng một không gian bát ngát, mênh mang, rất gợi cảm. Thêm nữa, hai từ “núi” và “biển” được nhắc lại hai lần (điệp từ) bổ sung thêm nét điệp trùng, nối tiếp của núi, của biển khiến cho chiều cao của núi càng thêm cao, chiều rộng của biển càng thêm rộng… Chỉ những hình ảnh to lớn, cao rộng không cùng và vĩnh hằng ấy mới diễn tả nổi công ơn sinh thành, nuôi dạy con cái của cha mẹ. “Núi ngất trời”, “biển rộng mênh mông” không thể nào đo được, cũng như công ơn cha mẹ đối với con cái không thể nào tính được. Qua nghệ thuật so sánh, dùng từ đặc tả, từ láy và điệp từ, kết hợp giọng thơ lục bát ngọt ngào của điệu hát ru, ba câu đẩu của bài ca dao đã khẳng định và ngợi ca công ơn to lớn của cha mẹ đối với con cái. Đây không phải là lời giáo huấn khó khăn về chữ hiếu mà là những tiếng nói tâm tình truyền cảm, lay động trái tim chúng ta. Do đó, đến câu cuối “Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”, tuy lời ru chỉ rõ công ơn cha mẹ bằng một thành ngữ “chín chữ cù lao” hơi khó hiểu, nhưng chúng ta vần thấm thía những tình nghĩa cha mẹ đối với con cái. Có thể nói, công ơn cha mẹ đối với con cái không chỉ gói lại ở con số chín (sinh: đẻ, cúc: nâng đỡ, phủ: vuốt ve, súc: cho bú, trưởng: nuôi lớn, dục: dạy dỗ, cố: trông nom, phục: theo dõi, phúc: che chở) mà mở rộng đến vô cùng. Câu thơ tám tiếng chia đều hai nhịp: bốn tiếng đầu “cù lao chín chữ” nhấn mạnh công ơn cha mẹ, bốn tiếng sau “ghi lòng con ơi” nhắc nhở thái độ và hành động của con cái đền đáp công ơn ấy. Về mật bố cục và mạch lạc văn bản, bài hát ru này khá chặt chẽ. Nhiều bài ca dao khác của dân tộc ta cũng thường bố cục tương tự: miêu tả sự vật, kể sự việc, rồi nhắc nhở, răn dạy ; nội dung hiện thực, hài hoà mang tính giáo huấn ; lay động người nghe bằng tình cảm, sau đó mới nhắc nhở bằng lí trí, ý thức. Ngoài bài ca dao mà sách giáo khoa giới thiệu, nhiều người Việt Nam còn nhớ một số bài khác có nội dung tương tự như: Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang. Hoặc: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Cùng với bài hát ru về công cha, nghĩa mẹ, cha ông ta cũng thường hát ru con cháu về tình cảm anh em thân thương ruột thịt. Bài ca dao thứ tư là lời răn dạy về tình cảm ấy và cũng có bố cục gần giống bài thứ nhất. Phần thứ nhất: Người ru, người hát vừa kể vừa tả quan hộ anh em trong một nhà: Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Quan hệ anh em khác biệt rõ ràng với quan hệ láng giềng, xã hội. Lời ca dùng phép đối chiếu, dùng hai tiếng “người xa” mớ đầu mang âm diệu bình thản như vô cảm, rồi đối lai bằng một dòng tám tiếng liền mạch “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” nghe vừa như thân mật, tha thiết vừa thiêng liêng, trang trọng. Những hình ảnh “bác” (cha), “mẹ”, “một nhà” kết hợp các từ “cùng” đã nhấn mạnh quan hệ anh em, thân thương, ruột thịt. Lời ca nhẹ nhàng, tự nhiên, ý nghĩa, nội dung sâu sắc mà khơi gợi biết bao tình cảm mặn nồng, tha thiết. Phần tiếp sau là lời răn bảo cụ thể: Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy. Lời răn bảo dùng cách so sánh khéo léo. Tình anh em, yêu thương, hoà thuận, trên kính dưới nhường như tay gắn bó với chân, sự gắn bó bằng đường gân, mạch máu. Đây cũng là cách dùng một ý niệm trừu tượng “tình thương yêu” đối chiếu, so sánh với hình ảnh cụ thể “tay, chân”, mở ra trong suy nghĩ của người nghe nhiều liên tưởng, tưởng tượng rộng và sâu. Nói khác đi, ông bà, cha mẹ luôn mong muôn con cái trong một nhà thương yêu, giúp dỡ lẫn nhau, gắn bó với nhau như tay với chân trong một cơ thể. Cái cơ thể ấy chính là gia đình. Người tiêu biểu cho gia đình chính là cha mẹ. Tình cảm anh em nằm trong tình thương yêu của cha mẹ. Vì thế, anh em hoà thuận sẽ đem lại niểm vui, hạnh phúc cho cha mẹ “Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy”. Lời ca kết lại, nhưng cảm xúc và ước vọng vẫn tiếp tục mở ra. Những từ ghép “yêu nhau”, “hoà thuận”, “vui vầy” thuộc nhóm từ biểu cảm cứ ngân lên, lan toả mãi trong lòng người…
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh. Bài làm Ca Huế trên sông Hương là bài bút kí của Hà Ánh Minh, nội dung ghi chép lại một trong những nét đẹp của văn hoá truyền thống ở cố đô Huế là ca Huế. Bài văn vừa giới thiệu về nguồn gốc những làn điệu dân ca Huế, vừa tả cảnh nghe ca Huế trong một đêm trăng. Thông qua sự phong phú, đa dạng của các làn điệu dân ca, tác giả ca ngợi vẻ đẹp tinh thần đằm thắm thiết tha của con người xứ Huế. Mở đầu bài viết, tác giả khẳng định Huế nổi tiếng với các điệu hò. Sau đó giới thiệu những nét đặc sắc của ca Huế được thể hiện qua dàn nhạc cụ, qua ngón đàn tuyệt kĩ của các ca công và giọng hát ngọt ngào của ca nhi. Xứ Huế nổi tiếng với những cung điện nguy nga cổ kính, những lăng tẩm đồ sộ của các triều vua… Xứ Huế còn nổi tiếng với nhiều sản phẩm văn hóa độc đáo mà ca Huế là một thể loại tiêu biểu. Qua bài viết, tác giả đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về ca Huế và bày tỏ tình cảm yêu mến, trân trọng dành cho ca Huế: Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò, hò khi đánh cá trên sông ngòi, biển cả, hò lúc cấy cày, gặt hái, trồng cây, chăn tằm. Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều sược gửi gắm ra một ý tình trọn vẹn. Từ ngữ địa phương được dùng nhuần nhuyễn và phổ biến, nhất là trong các câu hò đối đáp tri thức, ngôn ngữ được thể hiện thật tài ba phong phú. Cách giới thiệu kết hợp thật tự nhiên giữa nghệ thuật miêu tả và biểu cảm. Những hình ảnh chân thực, những nét chấm phá giàu khả năng gợi tả đã góp phần làm nổi bật bức tranh sinh hoạt văn hóa đặc sắc của con người xứ Huế. Ca Huế là sự giao hòa giữa dòng nhạc cung đình sang trọng, thanh nhã và dòng nhạc dân gian hồn nhiên, duyên dáng. Sự giao hòa đó thể hiện ở nội dung và hình thức, trong cách biểu diễn của ca nhi, nhạc công và trang phục.. Dàn nhạc cụ, cách thức và trang phục khi biểu diễn dân ca Huế được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ: Trong khoang thuyền, dàn nhạc gồm đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị, đàn tam. Ngoài ra còn có đàn bầu, sáo và cặp sanh để gõ nhịp. Các ca công còn rất trẻ, nam mặc áo dài the, quần thụng, đầu đội khăn xếp, nữ mặc áo dài, khăn đóng duyên dáng. Ta có thể thấy nét đặc trưng của ca Huế là trang nhã, tinh tế và đậm đà tính dân tộc. Cách thưởng thức ca Huế cũng mang những tính chất tương tự. Nơi tổ chức nghe ca Huế là trên chiếc thuyền rồng, khoan thai lướt nhẹ giữa dòng sông Hương trong đêm trăng thanh gió mát. Người hát thì hát rất hay, người thưởng thức thì say mê. Khung cảnh biểu diễn ca Huế vừa sang trọng, vừa dân dã, giữa một thiên nhiên thuần khiết và lòng người trong sạch: Trăng lên. Gió mơn man dìu dịu. Dòng sông trăng gợn sóng. Con thuyền bồng bềnh: Đêm nằm trên dòng sông Hương thơ mộng để nghe ca Huế, với tâm trạng chờ đợi rộn lòng. Không gian yên tĩnh bỗng bừng lên những âm thanh của dàn hòa tấu, bởi bốn nhạc khúc lưu thủy, kim tiền, xuân phong, long hổ du dương, trầm bổng, réo rắt mở đầu đêm ca Huế. Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vảy ngón bấm, day, chớp, búng, ngón phi, ngón rãi. Tiêng đàn lúc khoan lúc nhặt làm nên tiết tấu xao động tận đáy hồn người. Xen vào giữa những câu văn miêu tả là những câu văn thể hiện cảm xúc của tác giả khi nghe các làn điệu dân ca Huế. Những ngón đàn điêu luyện, những giọng ca ngọt ngào, da diết mang đậm chất Huế quả đã làm rung động lồng người. Dân ca Huế hay và đẹp như vậy bởi vì: Ca Huế hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, nhã nhạc trang trọng uy nghi nên có thần thái của ca nhạc thính phòng, thể hiện theo hai dòng lớn điệu Bắc và điệu Nam, với trên sáu mươi tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc. Đặc điểm nổi bật của ca nhạc dân gian là các làn điệu dân ca, những điệu hò, điệu lí thường phản ánh sinh động các cung bậc tình cảm vui buồn của con người. Còn nhạc cung đình là nhạc dùng trong những buổi lễ tôn nghiêm của vua chúa hoặc nơi tông miếu thiêng liêng nên thường có sắc thái trang trọng, uy nghi. Đêm đã về khuya. Xa xa bờ bên kia Thiên Mụ hiện ra mờ ảo, ngọn tháp Phước Duyên dát ánh trăng vàng Sóng vỗ ru mạn thuyền rồi gợn vô hồi xa mãi cùng những tiếng đàn réo rắt du dương. Đấy là lúc ca nhi cất lên những điệu Nam nghe buồn man mác, thương cảm, bi ai, vương vấn như nam ai, nam bình, quả phụ, nam xuân, tương tư khúc, hành vân, Cũng có bản mang âm hưởng điệu Bắc pha phách điệu Nam không vui, không buồn như tứ đại cảnh. Thể điệu ca Huế có sôi nổi, tươi vui, có buồn cảm, bâng khuâng, có tiếc thương ai oán… Lời ca thong thảy trang trọng, trong sáng gợi lên tình người, tình đất nước, trai hiền, gái lịch. Nghe tiếng gà gảy bên làng Thọ Cương, cùng tiếng chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh, mà trong khoang thuyền vẫn đầy ắp lời ca tiếng nhạc. Không gian như lắng đọng. Thời gian như ngừng lại. Con gái Huế nội tâm thật phong phú và âm thầm, kín đáo, sâu thẳm. Ca Huế thanh cao, lịch sự, nhã nhặn, sang trọng và duyên dáng. Chính vì thế nên nghe ca Huế trên sông Hương quả là một thú chơi tao nhã. Ca Huế là một hình thức sinh hoạt âm nhạc mang nét đặc trưng của xứ sở này nên nó rất đáng được trân trọng bảo tồn và phát triển.
Topic: Expressing thoughts about the song Hue on the Perfume River by Ha Anh Minh. Assignment Ca Hue on the Perfume River is a memoir by Ha Anh Minh, recording one of the beauties of traditional culture in the ancient capital of Hue: Ca Hue. The essay both introduces the origin of Hue folk songs and describes the scene of listening to Hue folk songs on a moonlit night. Through the richness and diversity of folk songs, the author praises the passionate spiritual beauty of the people of Hue. At the beginning of the article, the author affirms that Hue is famous for its dances. Then introduce the unique features of Hue singing expressed through the musical instruments, the superb playing skills of the singers and the sweet voices of the children's singers. Hue is famous for its magnificent ancient palaces, massive mausoleums of kings... Hue is also famous for many unique cultural products of which Hue songs are a typical genre. Through the article, the author demonstrated his deep understanding of Ca Hue and expressed his love and respect for Ca Hue: Hue is famous for its chants, chants when fishing on rivers and seas, chants when plowing, harvesting, planting trees, and raising silkworms. Every Hue song, whether short or long, conveys a complete sentiment. Local words are used fluently and commonly, especially in intellectual chants and responses, and the language is shown to be very talented. The introduction naturally combines descriptive and expressive art. The realistic images and richly descriptive touches have contributed to highlighting the picture of unique cultural activities of the people of Hue. Ca Hue is a harmony between luxurious and elegant royal music and innocent, graceful folk music. That harmony is reflected in the content and form, in the performance of children's singers, musicians and costumes. The musical instruments, methods and costumes when performing Hue folk songs are described quite meticulously by the author: In the boat compartment, the orchestra includes the zither, the moon, the pipa, the zither, and the tam. There are also monochords, flutes and pairs of flutes to play the rhythm. The singers are very young, men wear long dresses, loose pants, and turbans, while women wear graceful ao dai and turbans. We can see that the characteristics of Hue songs are elegant, sophisticated and rich in national character. The way to enjoy Ca Hue also has similar characteristics. The place to listen to Hue songs is on a dragon boat, leisurely gliding along the Perfume River on a cool, moonlit night. Those who sing sing very well, those who enjoy it are passionate. The scene of Hue folk music performance is both luxurious and rustic, amidst pure nature and pure human hearts: The moon rises. The wind caresses gently. The moonlit river ripples. The floating boat: Lying on the romantic Perfume River at night to listen to Hue songs, with a heart-warming mood of anticipation. The quiet space suddenly burst into life with the sounds of the orchestra, as the four melodious, melodious, melodious songs Luu Thuy, Kim Tien, Xuan Phong, and Long Tiger opened the night of Hue singing. Musicians use elaborate fingerings such as pressing, pecking, clapping, fingering, flicking, flashing, flicking, darting, and spreading fingers. The sound of the instrument, sometimes drilling and picking, creates a rhythm that stirs the soul. Interspersed among the descriptive sentences are sentences expressing the author's feelings when listening to Hue folk songs. The skillful playing of the instruments and the sweet, melancholy voices of Hue truly made people's hearts tremble. Hue folk songs are so good and beautiful because: Hue songs are formed from folk music and royal music, court music is solemn and majestic so it has the charisma of chamber music, expressed in two major lines. Northern and Southern tunes, with over sixty vocal and instrumental works. Outstanding features of folk music are folk songs, chants, and melodies that often vividly reflect the emotional levels of joy and sadness of people. Court music is music used in solemn ceremonies of kings or sacred temples, so it often has a solemn and majestic tone. It was late at night. Far away on the other side, Thien Mu appeared dimly, the Phuoc Duyen tower covered in golden moonlight. The waves lashed the side of the boat and then rippled endlessly into the distance with the melodious sounds of the guitar. That's when singers sing Southern melodies that sound sad, pitiful, tragic, and lingering like Nam Ai, Nam Binh, Widow, Nam Xuan, Tuong Tu Khuc, Hanh Van. There are also versions with melodious sounds. The North mixed with the South's rhythm is not happy, not sad like the four great scenes. Hue songs have vibrant, cheerful, sad, wistful, and mournful lyrics... The lyrics are slow, solemn, and clear, evoking love for people, love for country, gentle men, and elegant women. Listening to the sound of chickens playing in Tho Cuong village, along with the bell of Thien Mu Pagoda calling for the new year, the boat's cabin was still filled with songs and music. Space seemed to settle. Time seems to stop. Hue girls are rich and silent, secretive, and deep inside. Ca Hue is noble, polite, courteous, luxurious and graceful. That's why listening to Hue songs on the Perfume River is such an elegant hobby. Ca Hue is a form of musical activity that is unique to this country, so it deserves to be respectfully preserved and developed.
Phát biểu cảm nghĩ về bài “Cổng trường mở ra”. Bài làm Có lẽ trong tuổi thơ cắp sách đến trường, ai cũng háo hức mong chờ trước ngày khai giảng. Kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học sẽ là ấn tượng khó phai nhất trong quãng đường học sinh. Bạn vui mừng? Hồi hộp? Mong đợi? Nhưng có khi nào bạn từng nghĩ đến cảm nhận của mẹ khi nhìn thấy bạn tung tăng trong ngày tự trường sẽ như thế nào? Lý Lan đã rất thành công khi diễn tả cảm xúc đặc biệt ấy của một người mẹ trong tác phẩm “Cổng trường mở ra”. Là một bài văn nhẹ nhàng, trữ tình, không có tình huống gay cấn hay cốt truyện nhưng lại đưa độc giả xuyên suốt theo dòng cảm xúc bồi hồi, xao xuyến của người mẹ trước ngày trọng đại của đứa con yêu. Cùng là đêm ấy, người mẹ đã lo lắng đến không cả ngủ được, tưởng tượng một số tình huống xảy ra và chuẩn bị trước nhiều tâm trạng. Trong khi đó, đứa con đã say giấc nồng, “giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một ly sữa, ăn một cái kẹo”. Quả thực, thời điểm hiện tại đối với cậu còn rất ngây thơ, hồn nhiên, cậu không thể biết được điều gì mình cần lo lắng. Trước buổi tự trường, cậu cũng lo lắng háo hức nhưng chỉ một câu nói của mẹ giống như những lần đi chơi xa: “Ngủ đi, thôi không sáng mai dậy trễ không kịp xe” là cậu đã nhắm mắt, buông mình tựa nghiêng trên gối mềm. Theo dòng suy nghĩ, người mẹ lại nhớ đến buổi đầu tiên đi học của mình. “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, hồi hộp khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Đoạn văn được miêu tả rất tinh tế, xúc động vì nó gợi lên bao nhiêu kí ức về thời thơ ấu của mỗi người. Ngày mai thôi, người mẹ cũng vậy, lo sợ con sẽ bơ vơ lạc lõng khi lại thấy mẹ đang đứng bên ngoài thế giới của con. Nhưng, mẹ cung tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên còn đường học tậ trước mắt và con đường đời đầy chông gai của chính con sau này. Những ngày trước con còn bé bỏng, mẹ chọn trường học cho con cũng chọn trường gần chỗ mẹ làm, để có thể ngó con từng chút một. Nhưng giờ đây, con của mẹ đã lớn, nên mẹ yên tâm phần nào, “con hướng ngoại, dễ hoà đồng, thích nghi môi trường tốt, năng động và độc lập”… Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, Lý Lan đã đưa ta về một thế giới tuổi thơ đầy bồi hồi háo hức với kỉ niệm của ngày đầu tiên đi học. Qua đó cũng thể hiện tình cảm thiêng liêng mà người mẹ dành cho con, lo lắng chăm lo cho con từng chút một, từ những điều nhỏ nhặt nhất. “Đêm nay mẹ không ngủ được. Ngày mai là ngày khai trường lớp Một của con. Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.
Express your thoughts on the song "The school gate opens". Assignment Perhaps when going to school as a child, everyone eagerly looked forward to the first day of school. Memories of the first day of school will be the most unforgettable impression in a student's life. Are you excited? Nervous? Expectation? But have you ever thought about how your mother would feel when she saw you running around on your first day of school? Ly Lan was very successful in expressing that special feeling of a mother in the work "The school gate opens". It is a gentle, lyrical essay, without dramatic situations or plot, but takes readers along the emotional flow of a mother before her beloved child's big day. That same night, the mother was so worried that she couldn't sleep, imagining a number of situations that would happen and preparing many moods in advance. Meanwhile, the child was sleeping soundly, "sleep came to me as easily as drinking a glass of milk or eating a piece of candy." Indeed, at the present time he is still very naive and innocent, he cannot know what he needs to worry about. Before the self-school session, he was also nervous and excited, but just one sentence from his mother, like when going on a long trip: "Go to sleep, otherwise you'll wake up late and not be able to catch the bus in time" and he closed his eyes and leaned forward. on soft pillows. Following her thoughts, the mother remembered her first day of school. “I still remember the excitement and nervousness when walking with my grandmother near the school and the panic when the school gate closed, my grandmother standing outside the gate as if standing outside the world that I had just entered. ”. The passage is described very delicately and emotionally because it evokes so many memories of each person's childhood. Tomorrow, the mother will be the same, afraid that her child will feel lonely and lost when she sees her standing outside the child's world. But, I also believe and hope that you will walk strongly on the learning path ahead and your own thorny life path in the future. When I was a baby, my mother chose a school for me and chose a school close to where she worked, so she could see me little by little. But now, my child has grown up, so I feel somewhat reassured, "he is extroverted, easy to get along with, adapts to the environment well, active and independent"... With the unique art of depicting character psychology, Ly Lan has brought us back to a childhood world full of excitement and excitement with memories of the first day of school. This also shows the sacred affection that a mother has for her child, worrying and taking care of her child little by little, from the smallest things. “Mom can't sleep tonight. Tomorrow is the first day of school for my child. Mom will take you to school, hold your hand and lead you through the gate, then let go and say: "Go, be brave, this world is yours, step through the school gate and a magical world will appear." open".
Phát biểu cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng Bài làm Chúng ta từng biết và cảm thông với tấm lòng của những người phải sống xa quê hương, trĩu nặng tình quê trong thơ Đường của Lí Bạch, Đỗ Phủ, Hạ Tri Chương,… Ở Việt Nam, cách đây không lâu cũng có một nghệ sĩ do hoàn cảnh riêng và yêu cầu công tác cách mạng phải xa rời quê hương miền Bắc vào sống ở miền Nam mấy chục năm trời, nhà văn Vũ Bằng – một nhà văn từng nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tấm lòng của Vũ Bằng đối với quê hương đã được gửi gắm trong tác phẩm tuỳ bút – bút kí đặc sắc Thương nhớ mười hai mà đoạn trích Mùa xuân của tôi là tiêu biểu. Đoạn trích Mùa xuân cùa tôi là một phần trong thiên tuỳ bút dài có tên Tháng giêng mơ về trăng non, rét ngọt, mở đẩu cho nỗi “thương nhớ mười hai” của nhà văn Vũ Bằng. Đoạn trích đã tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc qua nỗi nhớ thương da diết của một người xa quê. Vì là đoạn trích từ một thiên tuỳ bút nên không có bố cục hoàn chỉnh của một tác phẩm. Tuy vậy, đọc bài văn Mùa xuân của tôi, chúng ta vẫn hiểu và suy ngẫm về ý nghĩ và tình cảm của tác giả theo ba đoạn nhỏ: Đoạn mờ đầu: từ đầu đến “… mê luyến mùa xuân”: Con người say mê lưu luyến mùa xuân là một điều tất yếu, tự nhiên. Đoạn thứ hai: từ “Tôi yêu sông xanh…” đến “… mớ hội liên hoan”: Cảnh sắc và không khí mùa xuân ở Hà Nội, miền Bắc. Đoạn ba: từ “Đẹp quá đi…” đến hết bài: Cảnh sắc, đất trời mùa xuân miền Bắc từ sau rằm tháng giêng. Phát biểu cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng “Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội…”.Ở phần đầu đoạn hai, nhà văn Vũ Bằng đã nhớ về quê hương bằng một câu văn ngân nga như những tiếng reo vui như thế. Sau đó, qua hồi tưởng của ông, cảnh sắc và không khí ngày tết – mùa xuân Hà Nội – hiện ra đẹp quá, vui quá, đáng yêu, đáng nhớ làm sao. Tín hiệu báo xuân về là: “Mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình…”. Mưa riêu riêu là mưa thế nào? Tiếng hát huê tình là gì? Mưa riêu riêu là mưa phùn, hạt nhỏ, kéo dài, mưa xuân âm ẩm, mát lành. Tiếng hát huê tình là tiếng hát tỏ tình, tiếng hát của trai gái yêu nhau… Trước cảnh sắc mùa xuân như thế, nhà văn Vũ Bằng – người đang sống li hương – đã nhớ kỉ niệm xưa của mình và sống lại, kể lại bằng những câu văn trữ tình đàm thắm. Nào là “Người yêu cảnh… khoác một cái áo lông, ngậm một ống điếu mở cửa đi ra ngoài… không cần uống rượu mạnh cũng như lòng mình say sưa… sự sống!”. Nào là “Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ớ trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai…”. Nào là “Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn… Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống lại” và thèm khát yêu thương. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa…”. Có thể nói, đối với mùa xuân quê hương, nhà văn Vũ Bằng mang một tình yêu nồng nàn, đằm thắm. Ông đã tự vẽ lại hình ảnh của chính mình khi còn sống ở Hà Nội với biết bao lời văn, bao cách so sánh đẹp đẽ. Ngỡ như, trước mùa xuân, ông đã hoá thân thành muôn loài cỏ cây, muông thú để được tắm trong mùa xuân, hưởng thụ tất cả sức sống tràn trề của mùa xuân để lớn lên, trẻ lại cùng mùa xuân. Đoạn văn xuôi tuỳ bút, ngẫu hứng y như đoạn thơ trữ tình mà ở đó, cái tôi nhà văn trở thành một thi sĩ đa tình, say đắm, đáng cảm thông. Đọng lại của cảnh sắc mùa xuân Hà Nội và nỗi nhớ quê hương của Vũ Bàng là hình ảnh gia đình người Hà Nội bày cỗ đón xuân, bái vọng tổ tiên trở vể vui xuân cùng con cháu: “Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ Thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho lòng anh ấm lạ ấm lùng…”. Cảnh sắc mùa xuân không chỉ hiện lên bằng vẻ đẹp thiên nhiên mà còn hiện lên bằng nhũng nét đẹp trong cuộc sống nghĩa tình của con người. Đó là nét văn hoá truyền thống của thủ đô Hà Nội, của đất Bắc, của Việt Nam quê hương chúng ta. Cảm nhận và ngợi ca quê hương miền Bắc mùa xuân bằng đoạn vãn phóng túng vừa miêu tả vừa tự sự, miêu tả để biểu cảm, ngòi bút Vũ Bằng như không muốn dừng lại. Do đó, xuống đoạn ba, ông tiếp tục khẳng định: “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thươne mến”. Sau đó, cảm xúc và bút lực như lắng lại, trầm tĩnh hơn. Nhà văn tâm sự: “Tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng…”. Đến đây, nhà văn phát hiện một vẻ đẹp khác nữa của mùa xuân đất Bắc. Đó là vẻ đẹp của sự hồi sinh, của đất trời, cây cỏ trổ lộc, đơm hoa, kết trái. “Đào hơi phai, nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh, nhưng… lại nức một mùi hương man mác… mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn… Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa… người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị… các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật…”. Những hình ảnh thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng không sôi động, rực rỡ bằng những ngày Tết mà như đang bình tĩnh trở lại, đang tích tụ, chưng cất sức sống của mùa xuân để nối tiếp cuộc tuần hoàn kì diệu trong đời sống con người và đất trời, cây cỏ. Ở đoạn này, cái tôi nhà văn không trực tiếp hiện ra như ở đoạn trên mà đang nằm dài nhìn ra cửa sổ… để chiêm ngưỡng, để nhớ thương, và khao khát ngày mai trở lại quê hương, về gặp lại mùa xuân đất Bắc. Từ tình yêu mùa xuân thiên nhiên, tấm lòng thương nhớ quê hương, lòng yêu Tổ quốc của nhà văn Vũ Bằng mỗi lúc một đắm sâu, thấm thìa. Từ ngữ, câu văn, các biện pháp tu từ mỏi lúc một chắt lọc, vừa chính xác vừa in đậm phong cách văn chương của tác giả, rất tài hoa, phóng túng.
Expressing thoughts about the song My Spring by Vu Bang Assignment We have known and sympathized with the hearts of people who had to live far from their homeland, heavy with love for their homeland, in the Tang poems of Ly Bach, Do Phu, Ha Tri Chuong, etc. In Vietnam, not long ago there was also an artist. Due to personal circumstances and the requirements of revolutionary work, he had to leave his homeland in the North and live in the South for decades, writer Vu Bang - a famous writer before the August Revolution in 1945. Plate Vu Bang's love for his homeland was conveyed in his essay - a unique memoir "Love Me Twelve" of which the excerpt "My Spring" is typical. The excerpt My Spring is part of a long essay titled January dreams of a new moon, sweet cold, opening the beginning of writer Vu Bang's "longing for twelve". The excerpt recreates the natural scenery and spring atmosphere in Hanoi and the North through the deep nostalgia of a person far from home. Because it is an excerpt from an essay, there is no complete layout of the work. However, reading the essay My Spring, we still understand and reflect on the author's thoughts and feelings in three small paragraphs: The first blurry paragraph: from the beginning to "... falling in love with spring": People's love for spring is an inevitable and natural thing. Second paragraph: from "I love the green river..." to "... festivals": Scenery and spring atmosphere in Hanoi, the North. Paragraph three: from "So beautiful..." to the end of the song: Scenery, earth and sky in spring in the North from after the full moon of January. Expressing thoughts about the song My Spring by Vu Bang "My spring - the spring of North Vietnam, the spring of Hanoi...". At the beginning of the second paragraph, writer Vu Bang remembered his homeland with a sentence that resonated like happy cries. After that, through his recollections, the scenery and atmosphere of Tet holiday - spring in Hanoi - appeared so beautiful, so happy, so lovely, so memorable. The signal announcing the arrival of spring is: "Raining rain, cold wind, the sound of swallows calling in the blue night, the sound of rowing drums echoing from far away villages, there are love songs...". What kind of rain is rain? What is love song? Raining rain is drizzle, small drops, prolonged, damp, cool spring rain. The song of love is the song of confession, the song of a boy and girl in love... Faced with such spring scenery, writer Vu Bang - who is living abroad - remembered his old memories and relived them, recounting them. with lyrical and conversational sentences. Which is "The person who loves the scenery... wears a fur coat, holds a pipe, opens the door and goes out... without drinking strong alcohol as his heart is drunk... with life!". Which is “I can't stand sitting still. The life sap in the body swells like the blood swells in the buds of a deer...". Which is "With the return of spring, people's hearts also seem to get younger, and beat harder... Just like animals lying in a place to hide from the cold, when they see the warm sunshine returning, they crawl out to jump and look for it." eating, he also "resurrects" and craves love. When I go out, I see everyone wanting to love me, and when I come home, I feel loved too..." It can be said that for the spring of his homeland, writer Vu Bang has a passionate and loving love. He painted his own image when he was still living in Hanoi with so many beautiful words and comparisons. It was as if, before spring, he had transformed into all kinds of plants and animals to bathe in the spring, enjoying all the vitality of spring to grow up and rejuvenate with the spring. The essay and improvisational prose is just like the lyrical poem in which the writer's ego becomes an amorous, passionate, sympathetic poet. Remaining in the spring scenery of Hanoi and Vu Bang's nostalgia for his homeland is the image of a Hanoian family presenting a feast to welcome spring, praying for their ancestors to return to enjoy spring with their children: "Incense, candles, and especially the peaceful atmosphere of family reunion, on the glass and on the ground, in front of the Buddha altars, Saint altars, and ancestral altars, makes my heart strangely warm...". The spring scenery not only shows up with natural beauty but also shows up with the beauty in people's meaningful lives. That is the traditional culture of the capital Hanoi, of the North, of our homeland Vietnam. Feeling and praising the spring of the Northern homeland in a bohemian poem that is both descriptive and narrative, describing for expression, Vu Bang's pen seems to not want to stop. Therefore, in paragraph three, he continued to affirm: "It's so beautiful, spring - the spring of our beloved Hanoi, of our beloved North Vietnam." After that, emotions and writing seemed to calm down and become calmer. The writer confided: "I love spring especially after the full moon day of the first month...". Coming here, the writer discovered another beauty of spring in the North. That is the beauty of resurrection, of heaven and earth, of plants blossoming, blooming, and bearing fruit. "The peaches are a bit faded, but the pistils are still strong, the grass is not green, but... it exudes a subtle scent... spring rain has begun to replace the drizzle... On the lychee trellis, a few industrious bees have flown in search of stamens... people began to return to simple meals... Tet fun also temporarily ended to make room for peaceful daily life...". The images of nature after the full moon day of the first lunar month are not as vibrant and brilliant as those during Tet, but seem to be calming down, accumulating and distilling the vitality of spring to continue the magical cycle in life. human life, earth, sky, and plants. In this paragraph, the writer's ego does not appear directly as in the above paragraph, but is lying down looking out the window... to admire, to miss, and longing to return to his homeland tomorrow, to see the spring of the land again. North. From the love of natural spring, the longing for the homeland, the love for the Fatherland of writer Vu Bang becomes deeper and deeper each time. Words, sentences, and rhetorical devices are gradually refined, both precise and bold in the author's literary style, very talented and liberal.
Đề bài: Anh chị hãy phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương. Bài làm Sài Gòn tôi yêu là tùy bút đậm chất thơ được tác giả Minh Hương viết vào cuối tháng 12 – 1990 và in trong tập Nhớ… Sài Gòn (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1994). Nội dung bài văn thể hiện tình cảm yêu mến chân thành, nồng nhiệt và sự gắn bó sâu đậm của tác giả đối với vùng đất trù phú này cùng với những chủ nhân của nó. Mặc dù là tùy bút nhưng câu trúc bài văn có thể chia làm ba đoạn. Đoạn 1 nêu những ấn tượng chung và tình yêu của tác giả đối với Sài Gòn. Đoạn 2 là những nhận xét về đặc điểm thiên nhiên và phong cách riêng của người Sài Gòn. Đoạn 3 khẳng định tình yêu tha thiết của tác giả đối với thành phố mang tên Bác. Những người đã từng sống ở Sài Gòn dù ít hay nhiều đều có chung tâm trạng đi thì nhớ ở thì thương và những ai chưa từng đến thì luôn khao khát được ngắm nhìn tận mắt thành phố được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, trung tâm công nghiệp, kinh tế lớn nhất của Việt Nam trong thời ki đổi mới. Với độ tuổi ba trăm năm, Sài Gòn là một thành phố trẻ. Nơi đây hội đủ ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người Sài Gòn rất yêu mảnh đất của mình, nhưng tình yêu của tác giả mới nồng nàn say đắm làm sao. Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây to đương độ nõn nà trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu chăm bón trân trọng giữ cái đô thị ngọc ngà này. Cách so sánh trong hai câu mở đầu hơi lạ: Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. So sánh độ tuổi của một vùng đất với độ tuổi của một con người mới nghe qua tưởng chừng khập khiễng nhưng nó lại gợi cho người đọc sự liên tưởng cụ thể và sinh động. Vùng đất Sài Gòn là kết quả công cuộc khai phá, mở mang bờ cõi của ông cha. Tuổi của Sài Gòn là ba trăm năm so với bốn ngàn năm tuổi của đất nước thì quả là thành phố này rất trẻ. Sức sống tràn đầy của một đô thị trẻ, đẹp được nhà vàn so sánh với hình ảnh của một cây tơ đương độ nõn nà phơi phới sức xuân. Với đôi mắt trìu mến, nhà văn nhìn đâu cũng thấy yêu thương: Tôi yêu trong nắng sớm một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chửng với trời đang ui ui buồn bã bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh… Điệp từ Tôi yêu đặt ở đầu mỗi câu thể hiện tình cảm chân thành, da diết của nhà văn trước sự đa dạng của thiên nhiên, khí hậu Sài Gòn. Sài Gòn có hai mùa nắng mưa rõ rệt. Bầu trời mùa nào cũng xanh ngăn ngắt, đầy nắng, đầy gió. Tác giả yêu thích những nét rất riêng của mưa nắng Sài Gòn. Sài Gòn không có mưa phùn, mưa ngâu hay mưa dầm kéo dài hết ngày này sang ngày khác như ở miền Bắc. Mưa Sài Gòn thường vào buổi chiều. Có khi đang đi trên đường Đồng Khởi quận Một, cơn mưa ập tới bất ngờ không tránh kịp nhưng về đến đường Bàn Cờ quận Ba thì trời lại trong veo. Vào mùa này, hễ ra khỏi nhà là người Sài Gòn nhắc nhau phải mang áo mưa phòng thân. Sự thay đổi nhanh chóng, đột ngột của thời tiết được tác giả miêu tả bằng hình ảnh thật chính xác và gợi cảm: trời đang ui ui buồn bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh. Trong phần đầu bài tùy bút, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng nhiệt, thiết tha của mình đối với Sài Gòn. Vẻ đẹp của Sài Gòn được nhân lên gấp bội trước con mắt chan chứa yêu thương. Tác giả không chỉ yêu màu nắng ngọt ngào mà còn yêu cả những điều tưởng chừng không mấy dễ chịu như sự trái chứng của thời tiết thoắt nắng, thoắt mưa. Cả sự náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm cũng trở thành những cái đáng yêu, đáng nhớ. Tự biết lòng mình yêu Sài Gòn đến mức thiên vị nên tác giả đã biện minh bằng câu ca dao nói về quy luật tâm lí thông thường của con người: Yêu nhau yêu cả đường đi… Một chi tiết nhỏ đáng lưu ý là bài kí này được viết từ năm 1990 mà thời điểm hiện tại chúng ta đang sống đã là năm 2014, tất nhiên bộ mặt Sài Gòn đã có nhiều thay đổi. Đô thị được mở rộng ra nhiều hướng với những con đường trải nhựa phẳng lì thẳng tắp, hai bên san sát nhà cao tầng, cửa kính cửa chớp sáng choang. Những chiếc cầu bê tông sừng sững nối đôi bờ sông, giúp cho tàu xe thuận tiện ngược xuôi trăm nẻo. Sài Gòn đã mang dáng dấp của một thành phố công nghiệp hiện đại thời mở cửa, có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với khu vực châu Á và toàn thế giới. Sài Gòn không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở con người. Con người đã làm cho cảnh sắc Sài Gòn rực rỡ hơn, lung linh hơn. Ở phần đầu bài viết, tác giả miêu tả thiên nhiên Sài Gòn, đến phần sau, tác giả giới thiệu tính cách của người Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn rộng mở và hào phóng là nơi rất thuận lợi cho người tứ xứ đến đây sinh sống. Ngày nay đã leo lên hơn năm triệu. (Đây là con số của những năm 90, còn đến nay, số dân của thành phố đã lên tới gần tám triệu người). Phong cách nổi bật của người Sài Gòn cũng được tác giả nhận xét chân thực và đầy thiện cảm: Cách ngày nay gần năm mươi năm, vào đây được gần gũi với người Sài Gòn, tôi đã thấy phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng. Họ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi. Phần đông ít dàn dựng, tính toán. Người Sài Gòn cũng như phần lớn người Lục tỉnh rất chân thành, bộc trực… Con gái Sài Gòn có vẻ đẹp rất tự nhiên, dễ thương. Đây là hình ảnh các cô gái Sài Gòn hồi thế kỉ XX: … tóc buông thõng trên vai, trên lưng, có khi tết bím… Đội nón vải trắng, vành rộng, như nón Hướng đạo. Áo bà ba trắng, đính một túi nhỏ xíu duy nhất bên thân mặt áo. Quần đen rộng. Mang giày bố trắng (giày vải, giày ba-ta) hay xăng đan da. Có người đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da, dạng chiếc xuồng hay hình hộp cá mòi. Dáng đi khỏe khoắn, mạnh dạn. Cái đẹp thật đơn sơ, đôn hậu. Cũng yểu điệu, thướt tha, nhưng theo cung cách Bến Nghé. Cũng e thẹn, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây. Trong khi giao tiếp, các cô thể hiện nét đẹp kín đáo của người Á Đông: Bây giờ, khi chào người lớn, các cô ấy (trước 1945) cúi đầu, chắp hai bàn tay lại và xá. Gặp trang lứa bạn bè thì hơi cúi đầu và cười. Cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mủm mỉm, cười he hé, chỉ để lộ vài cái răng hay lộ cả hàm tùy theo mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh. Vẻ đẹp của các cô gái được nói tới trên đây vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa mang bản sắc riêng của người Sài Gòn. Ngày nay, những cô gái Sài Gòn đẹp như một vườn hoa muôn màu sắc và ngát hương thơm. Nét đẹp của người Sài Gòn còn thể hiện ở tinh thần kiên cường, anh dũng, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc: Tuy nhiên, đến những hồi nghiêm trọng và sôi sục nhất của đất nước thì các cô gái ấy cũng như các chàng trai và các giói đồng bào của Sài Gòn bất khuất, không chút do dự, dấn thân vào khó khăn, nguy hiểm và có khi hi sinh cả tánh mạng, xuyên suốt ba chục năm từ 1945 đến 1975… Một thoáng ngậm ngùi, bất bình khi nhà văn nghĩ đến những kẻ vô tình hay cố ý tàn phá thiên nhiên: Sài Gòn ngày nay cũng rất ít chim. Đến mùa, một ít nhạn, én bay về trú đông, dưới các mái nhà cao tầng, mái đình, mái chùa. Thỉnh thoảng mới thấy vài chị quạ, chị sáo, vài chị vành khuyên sắc ô, áo già… Nhiều nhứt là họ hàng se sẻ mà bây giờ cũng thấy thưa thớt dần. Trước kia, rất nhiều, cả cò, cả vạc xổng lồng trong Sở thú bay ra làm tổ trên mấy ngọn cây dầu, cây sao cao ngất với các chị cu gáy, chị quạ, chị sáo… Những nòng súng hơi ác độc của những người vô trách nhiệm với môi trường sống và chẳng thèm đếm xỉa đến pháp luật đương bảo vệ thiên nhiên, đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố. Đây là đoạn văn hồi ức thể hiện tình cảm nhớ nhung và luyến tiếc của tác giả về một thiên nhiên an lành, phong phú của Sài Gòn trong quá khứ chưa xa. Kết thúc bài tùy bút, tác giả khẳng định tình yêu sâu đậm của mình đôi với Sài Gòn và khơi dậy trong lòng mọi người tình yêu ấy: Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây. Một mối tình dai dẳng, bền chặt. Thương mến bao nhiêu cũng không uổng công, hoài của. Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi. Sau 17 năm bài tùy bút này ra đời, Sài Gòn có nhiều thay đổi lớn lao. Thành phố Sài Gòn rộng lớn hơn, cao vút lên, đẹp như một bức tranh lộng lẫy. Dù sao, qua bài tùy bút này, tác giả Minh Hương đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó phai về Sài Gòn – mảnh đất thân thương của đất nước Việt Nam yêu dấu, xứng đáng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đề bài: Anh chị hãy phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương. Bài làm Sài Gòn tôi yêu là tùy bút đậm chất thơ được tác giả Minh Hương viết vào cuối tháng 12 – 1990 và in trong tập Nhớ… Sài Gòn (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1994). Nội dung bài văn thể hiện tình cảm yêu mến chân thành, nồng nhiệt và sự gắn bó sâu đậm của tác giả đối với vùng đất trù phú này cùng với những chủ nhân của nó. Mặc dù là tùy bút nhưng câu trúc bài văn có thể chia làm ba đoạn. Đoạn 1 nêu những ấn tượng chung và tình yêu của tác giả đối với Sài Gòn. Đoạn 2 là những nhận xét về đặc điểm thiên nhiên và phong cách riêng của người Sài Gòn. Đoạn 3 khẳng định tình yêu tha thiết của tác giả đối với thành phố mang tên Bác. Những người đã từng sống ở Sài Gòn dù ít hay nhiều đều có chung tâm trạng đi thì nhớ ở thì thương và những ai chưa từng đến thì luôn khao khát được ngắm nhìn tận mắt thành phố được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, trung tâm công nghiệp, kinh tế lớn nhất của Việt Nam trong thời ki đổi mới. Với độ tuổi ba trăm năm, Sài Gòn là một thành phố trẻ. Nơi đây hội đủ ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người Sài Gòn rất yêu mảnh đất của mình, nhưng tình yêu của tác giả mới nồng nàn say đắm làm sao. Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây to đương độ nõn nà trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu chăm bón trân trọng giữ cái đô thị ngọc ngà này. Cách so sánh trong hai câu mở đầu hơi lạ: Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. So sánh độ tuổi của một vùng đất với độ tuổi của một con người mới nghe qua tưởng chừng khập khiễng nhưng nó lại gợi cho người đọc sự liên tưởng cụ thể và sinh động. Vùng đất Sài Gòn là kết quả công cuộc khai phá, mở mang bờ cõi của ông cha. Tuổi của Sài Gòn là ba trăm năm so với bốn ngàn năm tuổi của đất nước thì quả là thành phố này rất trẻ. Sức sống tràn đầy của một đô thị trẻ, đẹp được nhà vàn so sánh với hình ảnh của một cây tơ đương độ nõn nà phơi phới sức xuân. Với đôi mắt trìu mến, nhà văn nhìn đâu cũng thấy yêu thương: Tôi yêu trong nắng sớm một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chửng với trời đang ui ui buồn bã bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh… Điệp từ Tôi yêu đặt ở đầu mỗi câu thể hiện tình cảm chân thành, da diết của nhà văn trước sự đa dạng của thiên nhiên, khí hậu Sài Gòn. Sài Gòn có hai mùa nắng mưa rõ rệt. Bầu trời mùa nào cũng xanh ngăn ngắt, đầy nắng, đầy gió. Tác giả yêu thích những nét rất riêng của mưa nắng Sài Gòn. Sài Gòn không có mưa phùn, mưa ngâu hay mưa dầm kéo dài hết ngày này sang ngày khác như ở miền Bắc. Mưa Sài Gòn thường vào buổi chiều. Có khi đang đi trên đường Đồng Khởi quận Một, cơn mưa ập tới bất ngờ không tránh kịp nhưng về đến đường Bàn Cờ quận Ba thì trời lại trong veo. Vào mùa này, hễ ra khỏi nhà là người Sài Gòn nhắc nhau phải mang áo mưa phòng thân. Sự thay đổi nhanh chóng, đột ngột của thời tiết được tác giả miêu tả bằng hình ảnh thật chính xác và gợi cảm: trời đang ui ui buồn bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh. Trong phần đầu bài tùy bút, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng nhiệt, thiết tha của mình đối với Sài Gòn. Vẻ đẹp của Sài Gòn được nhân lên gấp bội trước con mắt chan chứa yêu thương. Tác giả không chỉ yêu màu nắng ngọt ngào mà còn yêu cả những điều tưởng chừng không mấy dễ chịu như sự trái chứng của thời tiết thoắt nắng, thoắt mưa. Cả sự náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm cũng trở thành những cái đáng yêu, đáng nhớ. Tự biết lòng mình yêu Sài Gòn đến mức thiên vị nên tác giả đã biện minh bằng câu ca dao nói về quy luật tâm lí thông thường của con người: Yêu nhau yêu cả đường đi… Một chi tiết nhỏ đáng lưu ý là bài kí này được viết từ năm 1990 mà thời điểm hiện tại chúng ta đang sống đã là năm 2014, tất nhiên bộ mặt Sài Gòn đã có nhiều thay đổi. Đô thị được mở rộng ra nhiều hướng với những con đường trải nhựa phẳng lì thẳng tắp, hai bên san sát nhà cao tầng, cửa kính cửa chớp sáng choang. Những chiếc cầu bê tông sừng sững nối đôi bờ sông, giúp cho tàu xe thuận tiện ngược xuôi trăm nẻo. Sài Gòn đã mang dáng dấp của một thành phố công nghiệp hiện đại thời mở cửa, có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với khu vực châu Á và toàn thế giới. Sài Gòn không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở con người. Con người đã làm cho cảnh sắc Sài Gòn rực rỡ hơn, lung linh hơn. Ở phần đầu bài viết, tác giả miêu tả thiên nhiên Sài Gòn, đến phần sau, tác giả giới thiệu tính cách của người Sài Gòn. Thành phố Sài Gòn rộng mở và hào phóng là nơi rất thuận lợi cho người tứ xứ đến đây sinh sống. Ngày nay đã leo lên hơn năm triệu. (Đây là con số của những năm 90, còn đến nay, số dân của thành phố đã lên tới gần tám triệu người). Phong cách nổi bật của người Sài Gòn cũng được tác giả nhận xét chân thực và đầy thiện cảm: Cách ngày nay gần năm mươi năm, vào đây được gần gũi với người Sài Gòn, tôi đã thấy phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng. Họ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi. Phần đông ít dàn dựng, tính toán. Người Sài Gòn cũng như phần lớn người Lục tỉnh rất chân thành, bộc trực… Con gái Sài Gòn có vẻ đẹp rất tự nhiên, dễ thương. Đây là hình ảnh các cô gái Sài Gòn hồi thế kỉ XX: … tóc buông thõng trên vai, trên lưng, có khi tết bím… Đội nón vải trắng, vành rộng, như nón Hướng đạo. Áo bà ba trắng, đính một túi nhỏ xíu duy nhất bên thân mặt áo. Quần đen rộng. Mang giày bố trắng (giày vải, giày ba-ta) hay xăng đan da. Có người đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da, dạng chiếc xuồng hay hình hộp cá mòi. Dáng đi khỏe khoắn, mạnh dạn. Cái đẹp thật đơn sơ, đôn hậu. Cũng yểu điệu, thướt tha, nhưng theo cung cách Bến Nghé. Cũng e thẹn, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây. Trong khi giao tiếp, các cô thể hiện nét đẹp kín đáo của người Á Đông: Bây giờ, khi chào người lớn, các cô ấy (trước 1945) cúi đầu, chắp hai bàn tay lại và xá. Gặp trang lứa bạn bè thì hơi cúi đầu và cười. Cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mủm mỉm, cười he hé, chỉ để lộ vài cái răng hay lộ cả hàm tùy theo mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh. Vẻ đẹp của các cô gái được nói tới trên đây vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa mang bản sắc riêng của người Sài Gòn. Ngày nay, những cô gái Sài Gòn đẹp như một vườn hoa muôn màu sắc và ngát hương thơm. Nét đẹp của người Sài Gòn còn thể hiện ở tinh thần kiên cường, anh dũng, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc: Tuy nhiên, đến những hồi nghiêm trọng và sôi sục nhất của đất nước thì các cô gái ấy cũng như các chàng trai và các giói đồng bào của Sài Gòn bất khuất, không chút do dự, dấn thân vào khó khăn, nguy hiểm và có khi hi sinh cả tánh mạng, xuyên suốt ba chục năm từ 1945 đến 1975… Một thoáng ngậm ngùi, bất bình khi nhà văn nghĩ đến những kẻ vô tình hay cố ý tàn phá thiên nhiên: Sài Gòn ngày nay cũng rất ít chim. Đến mùa, một ít nhạn, én bay về trú đông, dưới các mái nhà cao tầng, mái đình, mái chùa. Thỉnh thoảng mới thấy vài chị quạ, chị sáo, vài chị vành khuyên sắc ô, áo già… Nhiều nhứt là họ hàng se sẻ mà bây giờ cũng thấy thưa thớt dần. Trước kia, rất nhiều, cả cò, cả vạc xổng lồng trong Sở thú bay ra làm tổ trên mấy ngọn cây dầu, cây sao cao ngất với các chị cu gáy, chị quạ, chị sáo… Những nòng súng hơi ác độc của những người vô trách nhiệm với môi trường sống và chẳng thèm đếm xỉa đến pháp luật đương bảo vệ thiên nhiên, đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố. Đây là đoạn văn hồi ức thể hiện tình cảm nhớ nhung và luyến tiếc của tác giả về một thiên nhiên an lành, phong phú của Sài Gòn trong quá khứ chưa xa. Kết thúc bài tùy bút, tác giả khẳng định tình yêu sâu đậm của mình đôi với Sài Gòn và khơi dậy trong lòng mọi người tình yêu ấy: Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây. Một mối tình dai dẳng, bền chặt. Thương mến bao nhiêu cũng không uổng công, hoài của. Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi. Sau 17 năm bài tùy bút này ra đời, Sài Gòn có nhiều thay đổi lớn lao. Thành phố Sài Gòn rộng lớn hơn, cao vút lên, đẹp như một bức tranh lộng lẫy. Dù sao, qua bài tùy bút này, tác giả Minh Hương đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó phai về Sài Gòn – mảnh đất thân thương của đất nước Việt Nam yêu dấu, xứng đáng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam (Ngữ văn 7) Bài làm Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với cuộc chiến đấu chống quân thù xâm lược giữ vững bỡ cõi và nền độc lập dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống Lý Thường Kiệt đã viết bài thơ thần Nam quốc sơn hà. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Bài thơ khẳng định chủ quyền của đất nước đồng thời quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077. Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương. Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột. Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam): Vằng vặc sách trời chìa xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây! Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được. Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận. Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt. Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Người xưa quan niệm rằng các vùng đất đai dưới mặt đất ứng với các vùng sao trên trời. Nước nào có vua nước đó. Điều đó là do trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu thơ nhuốm màu sắc thần linh khiến cho chân lí nêu ở câu trên càng tăng thêm giá trị. Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng. Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập.Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời. Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta.Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút. Câu thơ nguyên văn bằng chữ Hán: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư có nghĩa là: Rồi xem, chúng bay sẽ tự chuốc lấy phần thất bại thảm hại. Thất bại ghê gớm của giặc là điều không thể tránh khỏi bởi chúng là kẻ dám xâm phạm tới điều thiêng liêng nhất của đạo trời và lòng người. Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam (Ngữ văn 7) Bài làm Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với cuộc chiến đấu chống quân thù xâm lược giữ vững bỡ cõi và nền độc lập dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống Lý Thường Kiệt đã viết bài thơ thần Nam quốc sơn hà. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Bài thơ khẳng định chủ quyền của đất nước đồng thời quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077. Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương. Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột. Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam): Vằng vặc sách trời chìa xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây! Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được. Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận. Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt. Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Người xưa quan niệm rằng các vùng đất đai dưới mặt đất ứng với các vùng sao trên trời. Nước nào có vua nước đó. Điều đó là do trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu thơ nhuốm màu sắc thần linh khiến cho chân lí nêu ở câu trên càng tăng thêm giá trị. Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng. Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập.Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời. Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta.Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút. Câu thơ nguyên văn bằng chữ Hán: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư có nghĩa là: Rồi xem, chúng bay sẽ tự chuốc lấy phần thất bại thảm hại. Thất bại ghê gớm của giặc là điều không thể tránh khỏi bởi chúng là kẻ dám xâm phạm tới điều thiêng liêng nhất của đạo trời và lòng người. Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời.
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên Trường vãn vọng) của Trần Nhân Tông. Bài làm Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên thật là Trần Khâm, con đầu của vua Trần Thánh Tông. Sau khi lên ngôi, ông tỏ ra là một vị vua nổi tiếng khoan hòa, nhân ái và yêu nước. Ông đã cùng vua cha lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông thắng lợi vẻ vang (1285, 1288). Vốn theo đạo Phật và là người sáng lập dòng thiền Trúc Lâm theo hướng Việt Nam hóa đạo Phật, cuối đời, vào năm 1298, ông đi tu và trụ trì ở chùa Yên Tử (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Vua Trần Nhân Tông còn là một nhà văn hóa, một nhà thơ tiêu biểu của đời Trần. Bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ta được ông sáng tác trong một dịp về thăm quê. Các vua đời Trần cho xây ở quê một hành cung gọi là cung Thiên Trường để thỉnh thoảng về nghỉ ngơi. Mỗi dịp về đó, các vua thường có thơ lưu lại, nay còn giữ được vài bài, trong đó có bài này. Ngày tháng sáng tác không thấy ghi cụ thể nhưng chắc chắn bài thơ ra đời sau chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ ba không lâu, vào giai đoạn cuộc sống yên lành của nhân dân đang được khôi phục lại (nghĩa là vào khoảng những năm 90 của thế kỉ XIII). Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên. Mục đồng địch lí ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền. Dịch nghĩa: Buổi chiều ở phủ Thiên Trường trông ra Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ, Cảnh vật bóng chiều chập chờn nửa như có nửa như không. Mục đồng lùa trâu về nhà tiếng sáo véo von Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng. Dịch thơ: Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. (Ngô Tất Tố dịch) Bài thơ tả cảnh buổi chiều ở phủ Thiên Trường. Đây là khung cảnh một vùng quê tĩnh lặng như muôn vàn cảnh quê khác lúc chiều buông. Chỉ đếm được vài đường nét: mấy mái nhà tranh thấp thoáng trong làn sương mờ mờ như khói; dăm trẻ mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu thổi sáo, dẫn trâu về chuồng; vài đôi cò trắng chao nghiêng cánh chấp chới liệng xuống đồng… Hai câu thơ đầu: Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên. (Trước xóm, sau thôn tựa khói lồng, Bóng chiều man mác có dường không). Đây là cảnh hoàng hôn, sự vật trước xóm, sau thôn chìm dần vào màn sương đang từ từ buông xuống, hòa lẫn với những làn khói tỏa ra từ mái bếp. Trong bóng chiều man mác, mọi vật thấp thoáng ẩn hiện, dường như có, dường như không. Bức tranh quê với những sắc màu quen thuộc của ánh tà dương vàng còn rớt lại trên ngọn tre, của sương tím, cò trắng, lúa xanh… chỗ đậm, chỗ nhạt cùng tiếng sáo véo von gợi cảm giác về một cuộc sống thanh bình đã trở lại sau bao năm binh lửa. Hai câu thơ cuối: Mục đồng địch lí ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền. (Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng). Nhà thơ đã lựa chọn được hai hình ảnh tiêu biểu cho cảnh đồng quê lúc chiều về: trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trầu về chuồng và cò trắng từng đôi sà xuống cánh đồng đã vắng bóng người. Lời thơ không đơn thuần là kể và tả mà nó còn biểu hiện một xúc cảm kì lạ và một niềm vui đang xốn xang, rạo rực trong lòng nhà thơ. Ngắm đàn trâu no căng đang chậm rãi nối đuôi nhau về làng, trên lưng vắt vẻo mấy chú mục đồng ung dung thổi sáo; phóng tầm mắt ra xa (vọng), thấy trên thảm lúa xanh, dăm ba cánh cò trắng muốt đang chao liệng, thử hỏi lòng nào không xao xuyến, bâng khuâng, không dạt dào yêu mến?! Cảnh tượng buổi chiều ở nông thôn được tác giả phác họa rất đơn sơ nhưng vẫn đậm đà sắc quê, hồn quê. Điều đó chứng tỏ tác giả là vị vua xuất thân từ nông dân, đã cùng lăn lộn, cùng vào sinh ra tử với dân để đánh đuổi ngoại xâm, giành lại cho đất nước cảnh sống thanh bình. Dù có địa vị tối cao nhưng tâm hồn nhà vua – thi sĩ vẫn gắn bó máu thịt với quê hương và dân chúng.
Topic: Write an essay expressing your feelings about the poem Standing at Thien Truong Palace Looking Out (Thien Truong Vows in the Afternoon) by Tran Nhan Tong. Assignment Tran Nhan Tong (1258 - 1308) real name was Tran Kham, first son of King Tran Thanh Tong. After ascending the throne, he proved to be a famous king of tolerance, kindness and patriotism. He and his father led two resistance wars against the Yuan-Mongol invaders to glorious victories (1285, 1288). Originally a Buddhist and the founder of the Truc Lam Zen sect in the direction of Vietnamizing Buddhism, at the end of his life, in 1298, he became a monk and abbot at Yen Tu Pagoda (in present-day Quang Ninh province). King Tran Nhan Tong was also a cultural writer and a typical poet of the Tran dynasty. The poem Standing at Thien Truong palace looking at me in the afternoon was composed by him on a visit to his hometown. The kings of the Tran Dynasty built a palace called Thien Truong palace in their hometown to occasionally return to rest. Every time they returned there, the kings often left poems behind. Now, we still keep a few poems, including this one. The date of composition is not specifically recorded, but the poem was certainly born not long after the third victory over the Yuan-Mongol army, during the period when the peaceful life of the people was being restored (that is, around the 1980s). 90s of the 13th century). The back village, the front village, are quiet and peaceful, Selling non-living, selling pure and positive border. Enemies of shepherds retreat to the oxen, White road parallels Phi Ha Dien. Translation: In the afternoon, looking out from Thien Truong Palace The villages behind and before the villages are as dim as smoke, The flickering afternoon scene is half present and half nonexistent. The shepherd drove the buffalo home to the sound of a flute Each pair of white storks landed in the fields. Poetry translation: The front and back of the village are like smoke from a cage The darkness of the afternoon seems so strange The shepherds and buffaloes all returned home White storks flew into the fields in pairs. (Translated by Ngo Tat To) The poem describes the afternoon scene in Thien Truong palace. This is a scene of a quiet countryside like many other countryside scenes at dusk. Only a few outlines can be counted: a few thatched roofs flickering in the mist as dim as smoke; Several young shepherds perched on the backs of buffaloes, playing flutes and leading the buffaloes to the stable; A few pairs of white storks fluttered their wings and fluttered down to the fields... First two verses: The back village, the front village, are quiet and peaceful, Selling non-living, selling pure and positive border. (In front of the village, behind the village are like smoke from a cage, Does the afternoon shadow seem so long? This is a sunset scene, things in front of the village and behind the village gradually sink into the mist that is slowly falling, mingling with the smoke emanating from the kitchen roof. In the dark afternoon, everything appeared and appeared, seemingly present, seemingly not. The countryside painting with the familiar colors of the golden sunset still falling on the bamboo tops, purple mist, white storks, green rice... dark places, light places, and the sound of a flute evokes the feeling of a peaceful life. has returned after many years of war. Last two verses: Enemies of shepherds retreat to the oxen, White road parallels Phi Ha Dien. (The shepherds and buffaloes have all returned White storks throw each pair into the fields). The poet has chosen two images that represent the countryside scene in the afternoon: a child herding a buffalo playing a flute to lead betel to the barn and a pair of white storks swooping down on the empty fields. The poem is not simply about telling and describing, but it also expresses a strange emotion and a joy that is fluttering and throbbing in the poet's heart. Watching the herd of full buffaloes slowly marching towards the village, with several shepherds leisurely playing flutes on their backs; Looking out into the distance (hope), seeing on the green rice paddies, a few white stork wings are fluttering, I wonder if my heart is not fluttering, uncertain, not full of love?! The author's sketch of an afternoon scene in the countryside is very simple but still rich in countryside colors and country soul. This proves that the author is a king who came from a peasant background, and struggled together, in life and death, with the people to expel foreign invaders and regain a peaceful life for the country. Despite his supreme position, the king and poet's soul is still closely tied to his homeland and its people.
Đề bài: Em hãy viết bài văn nêu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương. Bài làm Nhà thơ Xuân Diệu rất mê Hồ Xuân Hương. Ông đã dành nhiều thời gian để thưởng thức, nghiên cứu thơ Xuân Hương và rất tâm đắc với cái biệt danh mà ông đặt cho nhà thơ này: Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nổi tiếng của nước ta vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cùng thời với đại thi hào Nguyễn Du. Chế độ phong kiến ở giai đoạn suy tàn đã bộc lộ mặt trái đầy xấu xa, tiêu cực. Là người giàu tâm huyết với con người và cuộc đời, Hồ Xuân Hương đã gửi gắm vào thơ những điều suy tư trăn trở trước hiện thực phức tạp của xã hội, trước số phận bất hạnh của con người, nhất là phụ nữ. Bài thơ Bánh trôi nước phản ánh thân phận đau khổ, phụ thuộc của người phụ nữ và ngợi ca phẩm chất cao quý của họ. Bánh trôi là thứ bánh quen thuộc, dân dã của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Gạo nếp xay thành bột nhuyễn, lọc cho mịn, để thật ráo rồi bẻ thành từng miếng nhỏ, nặn cho tròn, nhân làm bằng đường thẻ có màu nâu đỏ. Cho bánh vào nồi nước sôi, luộc chín, vớt ra nhúng sơ vào nước lạnh rồi xếp vào đĩa. Lúc nguội, bánh ăn dẻo và thơm ngọt. Người xưa cho rằng đây là thứ bánh tinh khiết, có thể dùng để cúng. (Mùng 3 tháng 3 Âm lịch có tục cúng trời đất, tổ tiên bằng bánh trôi, bánh chay và hoa quả). Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non. Chiếc bánh trôi vừa trắng, vừa tròn, thật đẹp đẽ, đáng yêu nhưng đằng sau những chi tiết rất thực ấy lại là điều Hồ Xuân Hương muốn nói người phụ nữ và thân phận họ. Xưa nay, phụ nữ được gọi là phái đẹp, là tinh hoa của tạo hóa. Bởi vậy, nhìn chiếc bánh trôi nước xinh xắn, ta dễ liên tưởng đến vẻ đẹp trong trắng của người con gái đang xuân. Cũng giống như chiếc bánh trôi bao lần chìm nổi, người phụ nữ xưa phải chịu số phận bảy nổi ba chìm trong xã hội trọng nam khinh nữ đầy bất công. Lễ giáo phong kiến đã tước đoạt quyền tự do, buộc họ phải sống lệ thuộc vào người khác. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Đã vậy, những thế lực đen tối luôn đẩy họ vào nghịch cảnh đau thương. Người phụ nữ trong thơ Xuân Hương cũng cùng chịu chung số phận với người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung! Không được làm chủ số phận của mình, người phụ nữ nào có khác chi chiếc bánh trôi ngon hay dở là do tay kẻ làm ra nó: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Bài thơ tứ tuyệt chỉ có 4 câu, 28 chữ mà hàm chứa bao ý nghĩa. Nữ sĩ Xuân Hương với cái nhìn nhân văn, với quan điểm tiến bộ và thái độ dũng cảm hiếm có đã phác họa thành công chân dung đẹp đẽ về người phụ nữ Việt Nam. Tư tưởng tiến bộ của Xuân Hương đã được thể hiện qua nghệ thuật thơ sắc sảo, điêu luyện. Điều đó khiến thơ của bà sống mãi trong lòng người đọc Loading…
Topic: Write an essay expressing your feelings about the poem Banh troi nuoc by Ho Xuan Huong. Assignment Poet Xuan Dieu loved Ho Xuan Huong very much. He spent a lot of time enjoying and studying Xuan Huong's poetry and was very fond of the nickname he gave this poet: The Queen of Nom poetry. Ho Xuan Huong was a famous poet of our country in the late 18th and early 19th centuries, at the same time as the great poet Nguyen Du. Feudalism in its decline stage has revealed its ugly and negative side. As a person rich in enthusiasm for people and life, Ho Xuan Huong has put into his poetry his thoughts and concerns about the complex reality of society and the unfortunate fate of people, especially women. The poem Banh Troi Nuoc reflects the suffering and dependent status of women and praises their noble qualities. Banh troi is a familiar, rustic cake of the Northern Delta. Grind glutinous rice into a puree, filter until smooth, drain thoroughly, then break into small pieces, shape them into round shape, the filling is made of red brown brown sugar. Put the cake in a pot of boiling water, boil until cooked, take it out, dip it in cold water and put it on a plate. When cooled, the cake is chewy and fragrant. Ancient people believed that this was a pure cake that could be used for worship. (On the 3rd day of the 3rd lunar month, there is a custom of worshiping heaven, earth, and ancestors with floating cakes, vegetarian cakes, and fruits). Your body is both white and round, Seven floating sunken with water. The floating cake is both white and round, so beautiful and lovely, but behind those very real details is what Ho Xuan Huong wants to say about women and their fate. Since ancient times, women have been called beauty, the quintessence of creation. Therefore, looking at the lovely floating cake, we can easily think of the pure beauty of a girl in spring. Just like a floating cake that has many ups and downs, women in the past had to endure the fate of ups and downs in a society that favors men and is full of injustice. Feudal rituals deprived them of their freedom, forcing them to live dependently on others. At home, obey the father, when married, follow the husband, and the husband obeys the son. In addition, dark forces always push them into painful adversity. The woman in Xuan Huong's poem also suffers the same fate as the woman in Nguyen Du's poem: How painful is the fate of women, The words that fate is bad are also common words! Not being able to control her own destiny, a woman is no different from a cake that is good or bad depending on the hand of the person who made it: The snake is crushed even if the person molds it. The snake is crushed even if it is molded by one's hands, But I still keep my heart. The quatrain poem has only 4 lines and 28 words but contains so much meaning. Female artist Xuan Huong, with her humanistic perspective, progressive perspective and rare courageous attitude, successfully sketched a beautiful portrait of Vietnamese women. Xuan Huong's progressive ideology was expressed through sharp and skillful poetic art. That makes her poetry live forever in the hearts of readers Loading…
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ bánh trôi nước Bài làm Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Xuân Hương được đặt cho cái tên là: Bà chúa thơ nôm, mà biệt danh này xuất phát từ chính tài năng thơ ca của nàng. Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ cùng thời với đại thi hào Nguyễn Du, khi mà chế độ phong kiến đầy xấu xa và có thái độ tiêu cực với hình ảnh người phụ nữ. Với tính cách mạnh mẽ của mình, Hồ Xuân Hương đã gửi gắm những tâm tư, và quan điểm của mình về những chăn trở số phận của phụ nữ trong những vần thơ của mình. Trước sự cảm thông cho số phận bất hạnh của phụ nữ thời phong kiến nàng đã cho ra bài thơ: Bánh trôi nước để than thân, trách phận người phụ nữ đồng thời ca ngợi, tôn vinh họ. Bánh trôi nước là một loại bánh mà người xưa coi rằng rất tinh khiết có thể dùng để cũng tổ tiên. Bài thơ sử dụng loại thơ vịnh vật để nói về số phận con người, nhờ đó hình ảnh người con gái thời phong kiến được hiện lên rõ ràng ý nghĩa: Vừa trắng, vừa tròn, bảy nổi ba chìm. Chiếc bánh trôi đẹp đẽ như người phụ nữ xưa, là tinh hoa mà tạo hóa ban tặng mặc dù qua bao lần gian khổ, chìm nổi với dòng đời chịu nhiều khinh khi của xã hội phong kiến và phải sống lệ thuộc vào người khác nhưng vẫn luôn giữ cho mình một cái tâm trong sáng, tấm lòng son sắt không bị tha hóa. Đó chính là giá trị cốt lõi, giá trị vô giá của người phụ nữ thời xưa mà mọi người có thể nhận thấy: dù có bị các thế lực xấu xa đẩy vào nghịch cảnh nhưng họ vẫn luôn sáng trong với tâm hồn đẹp đẽ của mình. Hình ảnh người phụ nữ tuyệt vời đó không chỉ được áp dụng cho thời xưa mà ngày nay vẫn vậy. Qua bài thơ đặc sắc: Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương chúng ta có thể tự hào hơn và cảm thông cho số phận người phụ nữ xưa và nay và từ đó ta ngày càng biết trân trọng hơn một nửa của thế giới.
Express your thoughts about the poem "Banh troi nuoc" Assignment It is not by chance that Ho Xuan Huong was given the name: The Queen of Nom Poetry, but this nickname comes from her own poetic talent. Ho Xuan Huong was a female poet at the same time as the great poet Nguyen Du, when the feudal regime was full of evil and had a negative attitude towards the image of women. With her strong personality, Ho Xuan Huong has expressed her thoughts and opinions about the obstacles and fate of women in her poems. Out of sympathy for the unfortunate fate of women in feudal times, she wrote the poem: Water Floating Cake to mourn and blame women's fate while praising and honoring them. Banh troi nuoc is a type of cake that ancient people considered very pure and could be used to honor ancestors. The poem uses poetic poetry to talk about human fate, thanks to which the image of a feudal girl clearly shows the meaning: Both white and round, rising and falling. The floating cake is as beautiful as an ancient woman, the quintessence bestowed by the Creator despite many hardships and ups and downs in a life of much contempt from feudal society and having to live dependent on others. always keep yourself a pure mind, your heart uncorrupted. That is the core value, the priceless value of ancient women that everyone can see: even though they were pushed into adversity by evil forces, they were always pure with their beautiful souls. me. That image of a wonderful woman applies not only to ancient times but also today. Through the unique poem: Water Floating Cake by Xuan Huong Lake, we can be more proud and sympathize with the fate of women in the past and present, and from there we can increasingly appreciate more than half of the world.
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến. I. DÀN Ý 1. Mở bài: – Thơ Nguyễn Khuyến phản ánh tâm trạng đau buồn của ông trước thời cuộc rối ren, suy tàn. – Một số bài ông viết về tình làng xóm, tình bạn bè tri âm tri kỉ. Đó là những bài thơ rất cảm động. Bạn đến chơi nhà là một ví dụ tiêu biểu. – Bài thơ ra đời trong thời gian Nguyễn Khuyến đã cáo quan về sống ẩn dật tại quê nhà, nội dung thể hiện tình bạn già khăng khít, keo sơn giữa hai vị quan thanh liêm đều đã rời xa vòng danh lợi. Tình cảm chân thành ấy đã vượt qua mọi nghi lễ tầm thường của cuộc sống. 2. Thân bài * Tình bạn già tri âm, tri kỉ: + Câu để (câu 1): Đã bấy lâu nay bác đến nhà – Sự phá cách của tác giả ở chỗ: trong thể thơ bát cú Đường luật thì phần đề thường có 2 câu (phá đề, thừa đề) nhưng ở bài thơ này chỉ có một câu. – Câu thơ như một lời chào hỏi mừng rỡ, thân tình của chủ nhân trước việc đến thăm của một người bạn già xa cách đã lâu ngày, – Cách gọi bác vừa dân dã, vừa kính trọng, thể hiện sự gắn bó lâu dài, mật thiết giữa hai người. + 3 câu thực (2, 3, 4): Lời phân trần, thanh minh của chủ nhân về sự tiếp đón thiếu chu đáo của mình: – Tác giả dùng tới 3 câu, trong khi thơ Đường luật phần này chỉ có 2 câu. – Ngôn ngữ thơ như lời nói tự nhiên, mộc mạc của một ông lão nhà quê: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa (lí do thứ nhất), Ao sâu nước cả khôn chài cá (lí do thứ hai), Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà (lí do thứ ba.) + 2 câu luận: Tiếp tục phân trần thêm hai lí do: Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Tính chất hài hước nằm ở ý: nhà có đủ cả, chẳng thiếu thứ gì (cá, gà, cải, cà, bầu, mướp…), chỉ tiếc là đều đang độ dở dang, chưa dùng được, nên đành tạ lỗi với khách. Nói có nhưng thực chất là không, vì cuộc sống của nhà thơ ở chốn quê nghèo rất thiếu thốn. + 2 câu kết: Sự thiếu thốn được đẩy lên cực điểm: Đầu trò tiếp khách, trầu không có (bắt nguồn từ câu: Miếng trầu là đầu câu chuyện trong dân gian nói về cách tiếp khách thông thường nhất, tối thiểu nhất cũng phải có trầu và nước.) – Tóm lại vật chất chẳng có gì, thôi thì: Bác đến chơi đây, ta với ta. Câu thơ này là linh hồn của bài thơ. Tất cả sự mừng rỡ, quý. trọng, chân tình đều hội tụ ở ba từ ta với ta. Chủ và khách, bác và tôi đã hòa làm một. Quả là tình bạn già sâu sắc, cảm động không có gì so sánh được. – Bài thơ là tấm lòng chân thành của Nguyễn Khuyến dành cho người bạn già đáng kính đến chơi nhà. – Giọng thơ tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hình ảnh quen thuộc gợi khung cảnh thiên nhiên tươi mát ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. – Cảnh và tình đan xen hài h, nhuần nhuyễn, ấm áp tình tri âm, tri kỉ. II. BÀI LÀM Thơ Nguyễn Khuyến chẳng có mấy bài vui bởi tâm trạng ông mang nặng nỗi buồn trước tình cảnh đất nước đau thương, trước thói đời éo le, bạc bẽo. Nhất là từ khi cáo quan về sống ẩn dật ở quê nhà thì nỗi buồn ấy trong thơ ông càng sâu, càng đậm. Tuy vậy nhưng bài Bạn đến chơi nhà lại là nốt vui bất chợt làm bừng sáng cái thông minh, dí dỏm vốn có trong tính cách cụ Tam Nguyên. Ẩn chứa trong bài thơ là một tình bạn già kháng khít, keo sơn, vượt qua mọi ràng buộc của những nghi thức tầm thường. Cái nghèo vật chất không lấn át được tình cảm ấm áp, chân thành. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng không theo cấu trúc 4 phần (đề, thực, luận, kết), mỗi phần hai câu như thường thấy. Ở bài này, Nguyễn Khuyên chỉ sử dụng có một câu làm câu đề, câu thứ hai đã chuyển sang phần thực. Giữa phần thực và phần luận lại không có ranh giới rõ rệt. Hai câu 7 và 8 thì câu 7 gắn với phần luận, chỉ có câu 8 là phần kết. Sự phá cách này tạo nên nét độc đáo trong cấu trúc bài thơ, đồng thời chứng tỏ khả năng sáng tạo của nhà thơ. Đã bấy lâu nay bác tới nhà Câu mở đề giản dị, tự nhiên như lời chào hỏi thân tình của hai người bạn thân lâu lắm mới gặp lại nhau. Tuổi già là tuổi người ta thường cảm thấy cô đơn nên khao khát có bạn để chuyện trò, giãi bày tâm sự. Chính vì thế nên khi được bạn đến thăm, nhà thơ thực sự vui mừng. Ông gọi bạn bằng bác. Cách gọi dân dã, thân tình song cũng rất nể trọng, thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa chủ và khách. Câu thơ giống như lời chào quen thuộc hằng ngày ấy sẽ là tiền đề cho sự giãi bày tiếp sau đó: Đã lâu rồi, nay mới có dịp bác quá bộ tới chơi nhà, thật là quý hóa. Vậy mà… thôi thì cứ tình thực mà nói, mong bác hiểu mà vui lòng đại xá cho! Sau khi Nguyễn Khuyến rũ áo từ quan, về ở chốn quê nghèo chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa mà vẫn có bạn tìm tới thăm thì hẳn người ấy phải là tri kỉ; bởi thói đời giàu thời tìm đến, khó thời lui. Xúc động thật sự, nhà thơ nhân đó lấy cái giàu có, quý giá của tình bạn để khỏa lấp cái nghèo nàn vật chất trong cuộc sống của mình. Theo phép xã giao, khi khách đến chơi, trước hết chủ nhà phải có nước có trầu tiếp khách. Bạn thân ở nơi xa tới, lâu ngày mới gặp thì nhất thiết phải mời cơm,mời rượu. Ở chốn phố phường còn có quán xá chứ ở vùng quê Nguyễn Khuyến thì kiếm đâu ra? Cái hay của bài thơ bắt đầu từ ý này: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu nước cả khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Hiểu theo bề nổi của chữ nghĩa, nhà thơ muốn thanh minh với bạn: Cá thì nhiều đấy, nhưng ao sâu nước cả. Gà không thiếu nhưng vườn rộng rào thưa. Cải, cà, bầu, mướp thì đang ở độ chửa ra cây, còn mới nụ, vừa rụng rốn, đương hoa. Nghĩa là toàn ở độ dở dang, sắp sửa, chưa dùng được. Vậy là bữa cơm đãi khách với đầy đủ cá thịt hay đạm bạc rau dưa đều không thể có. Thôi thì ta nói chuyện với nhau bằng điếu thuốc, chén nước, miếng trầu vậy. Nhưng giở đến trầu thì đã hết tự bao giờ: Đầu trò tiếp khách trầu không có, mà xưa nay miếng trầu là đầu câu chuyện. Người đọc như hình dung ra rõ ràng cái sự loay hoay, lúng túng thật dễ thương của vị đại quan xưa, nay đã thành ông già dân dã chốn quê mùa. Nhưng xét kĩ thì chủ nhà không nghèo, ngược lại, ông là người giàu có. Câu thơ toàn nói đến cái không nhưng lại hàm chứa cái có. Cái nghèo vật chất trong hiện tại được thi vị hóa như là sự giàu có trong tương lai. Có thể những thứ cá, gà, cải, cà, bầu, mướp đều chẳng thiếu và nhà thơ đã tiếp đãi bạn rất chu tất còn nội dung bài thơ chỉ là cách giới thiệu độc đáo của cụ Tam Nguyên với bạn về cuộc sống thanh đạm của mình sau khi từ quan chăng?! Cách nói của nhà thơ là cố làm ra vẻ giàu có, dư dả nhưng thực ra ông rất nghèo và cái nghèo ấy dễ gì che giấu được! Bạn biết ta nghèo, lại ở một nơi xa xôi hẻo lánh mà vẫn tìm đến thăm ta, điều đó còn gì quý giá bằng! Tuy vậy, ẩn trong lời nói khiêm nhường của Nguyễn Khuyến là sự tự hào về cảnh sống thanh bần của mình. Ta tuy nghèo thật nhưng dễ gì giàu sang đổi được cái nghèo ấy! Trong đoạn thơ trên thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh, thâm Thúy của bậc đại nho. Bác đến chơi đây ta với ta là một câu kết hay, là linh hồn của bài thơ. Ta với ta nghĩa là một tấm lòng đến với một tấm lòng; kẻ tri âm đến với người tri kỉ. Vậy thì tất cả những lễ nghi kia đều là tầm thường, vô nghĩa. Chủ và khách có chung một tình cảm thắm thiết thanh cao, đó là cái quý giá không vật chất nào sánh được. Ba tiếng ta với ta gợi cảm xúc mừng vui, thân mật. Bạn bè xa cách đã lâu, nay vượt đường xa dặm thẳm, vượt cái yếu đuối của tuổi già để đến thăm nhau thì thật là quý hóa! Đáng quý hơn nữa là bác với tôi, ta cùng lánh đục tìm trong, lui về vui thú điền viên để giữ trọn hai chữ thiên lương. Sự gần gũi, tương đắc về mặt tâm hồn đã gắn bó chủ và khách làm một. Những điều câu nệ, khách khí đã bị xoá nhòa. Chỉ còn lại niềm vui và sự chân thành bao trùm tất cả. Tình bạn ấy đã vượt lên trên những nghi thức tiếp đãi bình thường. Bạn đến chơi nhà không phải vì mâm cao cỗ đầy mà để được gặp nhau; được hàn huyên tâm sự cho thỏa nỗi khao khát nhớ mong. Bài thơ Bạn đến chơi nhà là tấm lòng của nhà thơ và cũng là bức tranh phong cảnh nông thôn bình dị tràn đầy sức sống. Khu vườn với luống cà, giàn mướp; mặt ao sóng gợn, tiếng gà xao xác trưa hè… là hiện thân của mảnh hồn quê mộc mạc, đậm đà, sâu lắng. Màu xanh trong của nước ao, màu xanh mơn mởn của vồng cải, màu tím hoa cà, màu vàng tươi hoa mướp… loại nào cũng đang độ tươi non, làm vui mắt và ấm lòng người. Những sự vật tưởng như tầm thường ấy thực ra có sức an ủi rất lớn đối với một tâm hồn mang nặng nỗi đau đời của nhà thơ. Được đón bạn đến chơi nhà trong khung cảnh rạo rực sức sống ấy, chắc hẳn niềm vui của cụ Tam Nguyên cũng tăng lên gấp bội. Bài thơ nói về một tình bạn trong sáng, đẹp đẽ. Giọng thơ tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân quê mùa, chất phác, ấy vậy nhưng nó vẫn bộc lộ rõ nét tài hoa của ngòi bút Nguyễn Khuyến trong tả cảnh, tả tình. Cảnh, tình đan xen, hòa hợp, bổ sung cho nhau để tạo nên một bức tránh quê trong sáng, tươi mát và ấm áp tình người.
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến. I. DÀN Ý 1. Mở bài: – Thơ Nguyễn Khuyến phản ánh tâm trạng đau buồn của ông trước thời cuộc rối ren, suy tàn. – Một số bài ông viết về tình làng xóm, tình bạn bè tri âm tri kỉ. Đó là những bài thơ rất cảm động. Bạn đến chơi nhà là một ví dụ tiêu biểu. – Bài thơ ra đời trong thời gian Nguyễn Khuyến đã cáo quan về sống ẩn dật tại quê nhà, nội dung thể hiện tình bạn già khăng khít, keo sơn giữa hai vị quan thanh liêm đều đã rời xa vòng danh lợi. Tình cảm chân thành ấy đã vượt qua mọi nghi lễ tầm thường của cuộc sống. 2. Thân bài * Tình bạn già tri âm, tri kỉ: + Câu để (câu 1): Đã bấy lâu nay bác đến nhà – Sự phá cách của tác giả ở chỗ: trong thể thơ bát cú Đường luật thì phần đề thường có 2 câu (phá đề, thừa đề) nhưng ở bài thơ này chỉ có một câu. – Câu thơ như một lời chào hỏi mừng rỡ, thân tình của chủ nhân trước việc đến thăm của một người bạn già xa cách đã lâu ngày, – Cách gọi bác vừa dân dã, vừa kính trọng, thể hiện sự gắn bó lâu dài, mật thiết giữa hai người. + 3 câu thực (2, 3, 4): Lời phân trần, thanh minh của chủ nhân về sự tiếp đón thiếu chu đáo của mình: – Tác giả dùng tới 3 câu, trong khi thơ Đường luật phần này chỉ có 2 câu. – Ngôn ngữ thơ như lời nói tự nhiên, mộc mạc của một ông lão nhà quê: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa (lí do thứ nhất), Ao sâu nước cả khôn chài cá (lí do thứ hai), Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà (lí do thứ ba.) + 2 câu luận: Tiếp tục phân trần thêm hai lí do: Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Tính chất hài hước nằm ở ý: nhà có đủ cả, chẳng thiếu thứ gì (cá, gà, cải, cà, bầu, mướp…), chỉ tiếc là đều đang độ dở dang, chưa dùng được, nên đành tạ lỗi với khách. Nói có nhưng thực chất là không, vì cuộc sống của nhà thơ ở chốn quê nghèo rất thiếu thốn. + 2 câu kết: Sự thiếu thốn được đẩy lên cực điểm: Đầu trò tiếp khách, trầu không có (bắt nguồn từ câu: Miếng trầu là đầu câu chuyện trong dân gian nói về cách tiếp khách thông thường nhất, tối thiểu nhất cũng phải có trầu và nước.) – Tóm lại vật chất chẳng có gì, thôi thì: Bác đến chơi đây, ta với ta. Câu thơ này là linh hồn của bài thơ. Tất cả sự mừng rỡ, quý. trọng, chân tình đều hội tụ ở ba từ ta với ta. Chủ và khách, bác và tôi đã hòa làm một. Quả là tình bạn già sâu sắc, cảm động không có gì so sánh được. – Bài thơ là tấm lòng chân thành của Nguyễn Khuyến dành cho người bạn già đáng kính đến chơi nhà. – Giọng thơ tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hình ảnh quen thuộc gợi khung cảnh thiên nhiên tươi mát ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. – Cảnh và tình đan xen hài h, nhuần nhuyễn, ấm áp tình tri âm, tri kỉ. II. BÀI LÀM Thơ Nguyễn Khuyến chẳng có mấy bài vui bởi tâm trạng ông mang nặng nỗi buồn trước tình cảnh đất nước đau thương, trước thói đời éo le, bạc bẽo. Nhất là từ khi cáo quan về sống ẩn dật ở quê nhà thì nỗi buồn ấy trong thơ ông càng sâu, càng đậm. Tuy vậy nhưng bài Bạn đến chơi nhà lại là nốt vui bất chợt làm bừng sáng cái thông minh, dí dỏm vốn có trong tính cách cụ Tam Nguyên. Ẩn chứa trong bài thơ là một tình bạn già kháng khít, keo sơn, vượt qua mọi ràng buộc của những nghi thức tầm thường. Cái nghèo vật chất không lấn át được tình cảm ấm áp, chân thành. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng không theo cấu trúc 4 phần (đề, thực, luận, kết), mỗi phần hai câu như thường thấy. Ở bài này, Nguyễn Khuyên chỉ sử dụng có một câu làm câu đề, câu thứ hai đã chuyển sang phần thực. Giữa phần thực và phần luận lại không có ranh giới rõ rệt. Hai câu 7 và 8 thì câu 7 gắn với phần luận, chỉ có câu 8 là phần kết. Sự phá cách này tạo nên nét độc đáo trong cấu trúc bài thơ, đồng thời chứng tỏ khả năng sáng tạo của nhà thơ. Đã bấy lâu nay bác tới nhà Câu mở đề giản dị, tự nhiên như lời chào hỏi thân tình của hai người bạn thân lâu lắm mới gặp lại nhau. Tuổi già là tuổi người ta thường cảm thấy cô đơn nên khao khát có bạn để chuyện trò, giãi bày tâm sự. Chính vì thế nên khi được bạn đến thăm, nhà thơ thực sự vui mừng. Ông gọi bạn bằng bác. Cách gọi dân dã, thân tình song cũng rất nể trọng, thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa chủ và khách. Câu thơ giống như lời chào quen thuộc hằng ngày ấy sẽ là tiền đề cho sự giãi bày tiếp sau đó: Đã lâu rồi, nay mới có dịp bác quá bộ tới chơi nhà, thật là quý hóa. Vậy mà… thôi thì cứ tình thực mà nói, mong bác hiểu mà vui lòng đại xá cho! Sau khi Nguyễn Khuyến rũ áo từ quan, về ở chốn quê nghèo chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa mà vẫn có bạn tìm tới thăm thì hẳn người ấy phải là tri kỉ; bởi thói đời giàu thời tìm đến, khó thời lui. Xúc động thật sự, nhà thơ nhân đó lấy cái giàu có, quý giá của tình bạn để khỏa lấp cái nghèo nàn vật chất trong cuộc sống của mình. Theo phép xã giao, khi khách đến chơi, trước hết chủ nhà phải có nước có trầu tiếp khách. Bạn thân ở nơi xa tới, lâu ngày mới gặp thì nhất thiết phải mời cơm,mời rượu. Ở chốn phố phường còn có quán xá chứ ở vùng quê Nguyễn Khuyến thì kiếm đâu ra? Cái hay của bài thơ bắt đầu từ ý này: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu nước cả khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Hiểu theo bề nổi của chữ nghĩa, nhà thơ muốn thanh minh với bạn: Cá thì nhiều đấy, nhưng ao sâu nước cả. Gà không thiếu nhưng vườn rộng rào thưa. Cải, cà, bầu, mướp thì đang ở độ chửa ra cây, còn mới nụ, vừa rụng rốn, đương hoa. Nghĩa là toàn ở độ dở dang, sắp sửa, chưa dùng được. Vậy là bữa cơm đãi khách với đầy đủ cá thịt hay đạm bạc rau dưa đều không thể có. Thôi thì ta nói chuyện với nhau bằng điếu thuốc, chén nước, miếng trầu vậy. Nhưng giở đến trầu thì đã hết tự bao giờ: Đầu trò tiếp khách trầu không có, mà xưa nay miếng trầu là đầu câu chuyện. Người đọc như hình dung ra rõ ràng cái sự loay hoay, lúng túng thật dễ thương của vị đại quan xưa, nay đã thành ông già dân dã chốn quê mùa. Nhưng xét kĩ thì chủ nhà không nghèo, ngược lại, ông là người giàu có. Câu thơ toàn nói đến cái không nhưng lại hàm chứa cái có. Cái nghèo vật chất trong hiện tại được thi vị hóa như là sự giàu có trong tương lai. Có thể những thứ cá, gà, cải, cà, bầu, mướp đều chẳng thiếu và nhà thơ đã tiếp đãi bạn rất chu tất còn nội dung bài thơ chỉ là cách giới thiệu độc đáo của cụ Tam Nguyên với bạn về cuộc sống thanh đạm của mình sau khi từ quan chăng?! Cách nói của nhà thơ là cố làm ra vẻ giàu có, dư dả nhưng thực ra ông rất nghèo và cái nghèo ấy dễ gì che giấu được! Bạn biết ta nghèo, lại ở một nơi xa xôi hẻo lánh mà vẫn tìm đến thăm ta, điều đó còn gì quý giá bằng! Tuy vậy, ẩn trong lời nói khiêm nhường của Nguyễn Khuyến là sự tự hào về cảnh sống thanh bần của mình. Ta tuy nghèo thật nhưng dễ gì giàu sang đổi được cái nghèo ấy! Trong đoạn thơ trên thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh, thâm Thúy của bậc đại nho. Bác đến chơi đây ta với ta là một câu kết hay, là linh hồn của bài thơ. Ta với ta nghĩa là một tấm lòng đến với một tấm lòng; kẻ tri âm đến với người tri kỉ. Vậy thì tất cả những lễ nghi kia đều là tầm thường, vô nghĩa. Chủ và khách có chung một tình cảm thắm thiết thanh cao, đó là cái quý giá không vật chất nào sánh được. Ba tiếng ta với ta gợi cảm xúc mừng vui, thân mật. Bạn bè xa cách đã lâu, nay vượt đường xa dặm thẳm, vượt cái yếu đuối của tuổi già để đến thăm nhau thì thật là quý hóa! Đáng quý hơn nữa là bác với tôi, ta cùng lánh đục tìm trong, lui về vui thú điền viên để giữ trọn hai chữ thiên lương. Sự gần gũi, tương đắc về mặt tâm hồn đã gắn bó chủ và khách làm một. Những điều câu nệ, khách khí đã bị xoá nhòa. Chỉ còn lại niềm vui và sự chân thành bao trùm tất cả. Tình bạn ấy đã vượt lên trên những nghi thức tiếp đãi bình thường. Bạn đến chơi nhà không phải vì mâm cao cỗ đầy mà để được gặp nhau; được hàn huyên tâm sự cho thỏa nỗi khao khát nhớ mong. Bài thơ Bạn đến chơi nhà là tấm lòng của nhà thơ và cũng là bức tranh phong cảnh nông thôn bình dị tràn đầy sức sống. Khu vườn với luống cà, giàn mướp; mặt ao sóng gợn, tiếng gà xao xác trưa hè… là hiện thân của mảnh hồn quê mộc mạc, đậm đà, sâu lắng. Màu xanh trong của nước ao, màu xanh mơn mởn của vồng cải, màu tím hoa cà, màu vàng tươi hoa mướp… loại nào cũng đang độ tươi non, làm vui mắt và ấm lòng người. Những sự vật tưởng như tầm thường ấy thực ra có sức an ủi rất lớn đối với một tâm hồn mang nặng nỗi đau đời của nhà thơ. Được đón bạn đến chơi nhà trong khung cảnh rạo rực sức sống ấy, chắc hẳn niềm vui của cụ Tam Nguyên cũng tăng lên gấp bội. Bài thơ nói về một tình bạn trong sáng, đẹp đẽ. Giọng thơ tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân quê mùa, chất phác, ấy vậy nhưng nó vẫn bộc lộ rõ nét tài hoa của ngòi bút Nguyễn Khuyến trong tả cảnh, tả tình. Cảnh, tình đan xen, hòa hợp, bổ sung cho nhau để tạo nên một bức tránh quê trong sáng, tươi mát và ấm áp tình người.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch Thơ Lý Bạch tràn ngập ánh trăng. Trăng trong thơ của ông cũng hết sức đa dạng, phong phú và thường rất giàu hàm nghĩa. Bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh cũng viết về trăng. Nhưng cũng như một số bài thơ khác, trăng ờ đây chỉ là một phương tiện để nhà thơ bày tỏ một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tình cảm quê hương. Sự sắc sảo của Lý Bạch trong việc thể hiện nỗi nhớ nhà đã khiến ngay cả chúng ta cũng trào dâng trong lòng tình yêu thương da diết. Đọc nguyên tác bài thơ: Sàng tiễn minh nguyệt quạng Nghi thị địa thượng sương Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương. Chúng ta cứ ngỡ đây là một bài Đường thi tuyệt cú. Nhưng không, bài thơ của Lý Bạch là một bài cổ thơ, một lối thơ rất tự do về vần điệu và âm luật. Điều đáng chú ý là bài thơ ra đời khi tác giả đang sống ly hương. Vì thế bài thơ khởi hứng từ nỗi lòng của người lữ thứ. Hai câu đầu của bài thơ thiên về tả cảnh: Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương. Hai câu thơ tả cảnh mà vẽ cả tư thế của nhân vật trữ tình. Người đọc băn khoăn không biết điều gì đã khiến cho nhà thơ trằn trọc hết đứng lại ngồi, rồi lại nằm mà vẫn không ngủ được. Đầu giường tác giả tràn ngập ánh trăng. Trăng phủ tràn trên mặt đất ngỡ là sương đêm phủ. Hai từ “nghi thị” (ngỡ là) rất hay. Nó hướng về cảnh mà thực lại đang tả tâm trạng bâng khuâng, bồi hồi thêm chút khắc khoải của lòng người. Vậy là trăng đến mà không chia sẻ được. Nó chỉ là cho cái nỗi nhớ kia da diết hơn, não ruột hơn thêm. Tác giả nhìn trăng mà thực là đang đưa mắt kiếm tìm trong xa xăm, vô tận một chút hương sắc gì của quê hương. Hai câu thơ chưa tả trực tiếp mà đã gợi ra sâu sắc nỗi sầu của kẻ xa quê. Đến hai câu thơ cuối thì nỗi nhớ quê mới thực sự như dòng nước ào ạt ùa về: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương, Hai hành động dường như đối lập nhau nhưng lại gắn kết hài hòa cùng hướng về một đích. Nhân vật trữ tình đang cố tìm một thứ gì để xua tan đi nỗi nhớ quê. Và dường như thật may bởi trăng đang đến và chia sẻ. Thế nhưng “ngẩng đầu” nhìn vầng trăng đang vằng vặc, thì nỗi nhớ trong lòng của kẻ tha thương lại ngập tràn đầy. Tình thương của tác giả đến đây lắng lại và ngưng đọng sâu xa: cúi đầu nhớ cố hương; Đêm thanh tĩnh và lòng người cũng tĩnh. Trăng rất sáng, rất đẹp, rất trong và lòng người cũng vậy. Cảnh đẹp nhưng lòng người chẳng thể vui hay nói đúng hơn “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh làm cho người nặng thêm nỗi nhớ, nỗi sầu. Hai câu thơ lời ít nhưng ý tứ dàn trải mênh mông. Nỗi lòng là của tác giả mà cũng lại là của tất cả mọi người. Nó gợi vẻ thật sâu sắc nỗi lòng của những ai đã và đang sống xa quê. Nó làm cồn lên một cái gì đó thật lớn lao và tha thiết. Bài thơ của Lý Bạch thật buồn. Nỗi buồn da diết và ngưng đọng. Thử hỏi chúng ta ai có thể sống mà không cần đến quê hương? Ai có thể xa quê mà không nhớ? Bài thơ của Lý Bạc một lần nữa dạy ta thêm một bài học nhân nghĩa ở đời. Bài học ấy sâu sắc đúng như lời triết lý của nhà thơ Chế Lan Viên: Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.
Express your thoughts about the poem Feelings in a Quiet Night by Ly Bach Instruct Express your thoughts about the poem Feelings in a Quiet Night by Ly Bach Ly Bach's poetry is filled with moonlight. The moon in his poetry is also extremely diverse, rich and often rich in meaning. The poem Feelings in a Quiet Night is also written about the moon. But like some other poems, the moon here is just a means for the poet to gently but poignantly express his homeland's feelings. Ly Bach's sharpness in expressing homesickness has made even us feel a surge of love. Read the original poem: Ready to send off the moon and the moon Nghi Thi Thi upper land dew Cue the beginning of the bright moon To invest in the homeland. We thought this was a great poem. But no, Ly Bach's poem is an ancient poem, a very free style of poetry in terms of rhyme and rhythm. It is worth noting that the poem was born when the author was living in exile. Therefore, the poem is inspired by the traveler's feelings. The first two lines of the poem are about describing the scene: The head of the bed is illuminated by moonlight I thought the ground was covered in frost. The two verses describe the scene and also depict the posture of the lyrical character. The reader wonders what caused the poet to toss and turn, then sit, then lie down, still unable to sleep. The author's headboard is filled with moonlight. The moon covered the ground as if it were night dew. The two words "suspect" (thought to be) are very good. It focuses on the scene but actually depicts the feeling of sadness and restlessness of the human heart. So the moon comes without being able to share. It just makes that nostalgia more intense and more heartbreaking. The author looks at the moon and is actually looking in the distance, endlessly, for some scent of his homeland. The two verses do not describe directly, but they deeply evoke the sadness of people far from home. In the last two verses, the nostalgia for home really comes rushing back like a rushing stream: Raise your head and look at the bright moon, I bow my head and remember my homeland, The two actions seem to oppose each other but are harmoniously linked towards the same goal. The lyrical character is trying to find something to dispel the nostalgia for his hometown. And it seems fortunate because the moon is coming and sharing. But "raising your head" to look at the bright moon, the nostalgia in the heart of the loved one is filled with nostalgia. The author's love here subsides and deeply condenses: he bows his head and misses his homeland; The night is quiet and people's hearts are also quiet. The moon is very bright, very beautiful, very clear and so are people's hearts. The scenery is beautiful, but people's hearts cannot be happy, or more accurately, "sad people are never happy." The scene makes people feel more nostalgic and sad. Two verses with few words but vast meaning. The feelings belong to the author but also to everyone. It deeply evokes the feelings of those who have been living far from home. It sparked something so great and earnest. Ly Bach's poem is so sad. The sadness is intense and stagnant. Who of us can live without our homeland? Who can be away from home and not miss it? Ly Bac's poem once again teaches us another lesson of humanity in life. That lesson is as profound as the philosophy of poet Che Lan Vien: When we take the soul land.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài làm Bài Cảnh khuya được Bác Hồ sáng tác vào năm 1947, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì, gian khổ mà oanh liệt của dân tộc ta. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề và những thử thách ác liệt tưởng chừng khó có thể vượt qua, Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Người vẫn dành cho mình những phút giây thanh thản để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với người nghệ sĩ – chiến sĩ là Bác. Như một họa sĩ tài ba, chỉ vài nét bút đơn sơ, Bác đã vẽ ra trước mắt chúng ta vẻ đẹp lạ kì của một đêm trăng rừng: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Trong đêm khuya thanh vắng, dường như tất cả các âm thanh khác đều lắng chìm đi để nổi bật lên tiếng suối róc rách, văng vẳng như một tiếng hát trong trẻo, du dương. Tiếng suối làm cho không gian vốn tĩnh lặng lại càng thêm tĩnh lặng. Nhịp thơ 3/4 ngắt ở từ trong, sau đó là nốt lặng giống như thời gian suy ngẫm, liên tưởng để rồi đi đến hình ảnh so sánh thật đẹp: Ánh trăng bao phủ lên mặt đất, trùm lên tán cây cổ thụ. Ánh trăng chiếu vào cành lá, lấp lánh ánh sáng huyền ảo. Bóng trăng và bóng cây quấn quýt, lồng vào từng khóm hoa rồi in lên mặt đất đẫm sương: Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Khung cảnh thiên nhiên có xa, có gần. Xa là tiếng suối, gần là bóng trăng, bóng cây, bóng hoa hòa quyện, lung linh, sắc màu của bức tranh chỉ có trắng và đen. Màu trắng bạc của ánh trăng, màu đen sẫm của tàn cây, bóng cây, bóng lá. Nhưng dưới gam màu tưởng chừng lạnh lẽo ấy lại ẩn chứa một sức sống âm thầm, rạo rực của thiên nhiên. Hòa với âm thanh của tiếng suối có ánh trăng rời rợi, có bóng cổ thụ, bóng hoa… Tất cả giao hòa nhịp nhàng, tạo nên tình điệu êm đềm, dẫn dắt hồn người vào cõi mộng. Nếu ở hai câu đầu là cảnh đẹp đêm trăng nơi rừng sâu thì hai câu sau là tâm trạng của Bác trước thời cuộc: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên, Bác đã sung sướng thốt lên lời ca ngợi: cảnh khuya như vẽ. Cái hồn của tạo vật đã tác động mạnh đến trái tim nghệ sĩ nhạy cảm của Bác và là nguyên nhân khiến cho người chưa ngủ. Ngủ làm sao được trước đêm lành trăng đẹp như đêm nay?! Thao thức là hệ quả tất yếu của nỗi trăn trở, xao xuyến không nguôi trong tâm hồn Bác trước cái đẹp. Vậy là đã rõ. Ở câu thơ trên, Bác chưa ngủ vì tâm hồn nghệ sĩ xao xuyến trước cảnh đẹp. Còn ở câu dưới, Bác chưa ngủ vì nghĩ đến trách nhiệm nặng nề của một lãnh tụ cách mạng đang Hai vai gánh vác việc sơn hà. Trong bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, Bác cũng luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm dân, nước. Nỗi niềm ấy hội tụ mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người. Tuy Bác lặng lẽ ngắm cảnh thiên nhiên và phát hiện ra những nét đẹp tuyệt vời nhưng tâm hồn Bác vẫn hướng tới nước nhà. Đang từ trạng thái say mê chuyển sang lo lắng, tưởng chừng như phi lôgíc nhưng thực ra hai điều này lại gắn bó khăng khít với nhau. Cảnh gợi tình và tình không bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà mở rộng tới tình dân, tình nước, bởi Bác đang ở cương vị một lãnh tụ Cách mạng với trách nhiệm vô cùng to lớn, nặng nề. Bác không giấu nỗi lo mà nói đến nó rất tự nhiên. Ánh trăng vằng vặc và Tiếng suối trong như tiếng hát xa không làm quên đi nỗi đau nô lệ của nhân dân và trách nhiệm đem lại độc lập cho đất nước của Bác. Ngược lại, chính cảnh thiên nhiên đẹp đẽ đầy sức sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyết tâm cứu nước cứu dân của Bác. Non sông đất nước đẹp như gấm như hoa này không thể nào để rơi vào tay quân xâm lược. Câu thơ cuối cùng chất chứa cảm xúc thật mênh mông, sâu sắc. Hồn người lắng sâu vào hồn cảnh vật và cái sâu lắng của cảnh vật tôn thêm nét sâu lắng của hồn người.
Topic: Please write an essay expressing your thoughts about the poem Late Night by President Ho Chi Minh. Assignment The song Late Night Scene was composed by Uncle Ho in 1947, at the beginning of our nation's long, arduous and glorious resistance war against the French colonialists. Amid circumstances of immense deprivation and fierce challenges that seemed difficult to overcome, Uncle Ho still maintained a leisurely and independent demeanor. People still give themselves peaceful moments to enjoy the beauty of nature in the Viet Bac war zone. Nature has become a great source of encouragement for the artist and soldier Uncle Ho. Like a talented artist, with just a few simple brush strokes, Uncle Ho painted before our eyes the strange beauty of a forest moonlight night: The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon cage, ancient tree, shadow of flower cage. In the quiet night, all other sounds seem to have subsided, leaving behind the sound of a gurgling stream, echoing like a clear, melodious song. The sound of the stream makes the already quiet space even quieter. The 3/4 rhythm of the poem is interrupted by the inner word, followed by a quiet note, like a time of contemplation and association, leading to a beautiful comparison image: Moonlight covered the ground, covering the canopy of ancient trees. Moonlight shines on the branches and leaves, sparkling with magical light. The shadow of the moon and the shadow of a tangerine tree entangle each flower cluster and then print on the dew-soaked ground: The moon cages ancient trees, the shadows of flower cages. Natural scenery is both far and near. In the distance is the sound of a stream, near is the shadow of the moon, the shadow of trees, and the shadow of flowers blending and shimmering, the colors of the picture are only black and white. The silvery white of moonlight, the dark black of tree branches, tree shadows, and leaf shadows. But under that seemingly cold color scheme, there is hidden the silent, vibrant vitality of nature. Mixed with the sound of the stream, there is the moonlight, the shadows of ancient trees, the shadows of flowers... All harmonize rhythmically, creating a peaceful melody, leading the soul into the dreamland. If the first two sentences are the beautiful moonlit night scene in the deep forest, the next two sentences are Uncle Ho's mood before the times: The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet. Not sleep, worrying that country. Before the magical beauty of nature, Uncle Ho happily exclaimed in praise: the late night scene was like a painting. The soul of creation had a strong impact on Uncle Ho's sensitive artist's heart and was the reason why he could not sleep. How can I sleep before a beautiful moonlit night like tonight?! Restlessness is an inevitable consequence of the constant concern and anxiety in Uncle Ho's soul before beauty. So it's clear. In the above verse, Uncle Ho did not sleep because the artist's soul was moved by the beautiful scene. In the sentence below, Uncle Ho did not sleep because he thought about the heavy responsibility of a revolutionary leader shouldering the responsibility of the mountains and rivers. At any time and in any situation, Uncle Ho always kept close to the hearts of the people and the country. That feeling converges all of His thoughts, feelings and actions. Although Uncle Ho quietly admired the natural scenery and discovered wonderful beauties, his soul was still oriented toward his homeland. Going from a state of passion to worry seems illogical, but in fact these two things are closely intertwined. Erotic and love scenes are not limited to the individual but extend to the love of the people and the country, because Uncle Ho is in the position of a Revolutionary leader with extremely great and heavy responsibility. He did not hide his worry but spoke about it very naturally. The bright moonlight and the clear sound of streams singing in the distance cannot forget the pain of slavery of the people and Uncle Ho's responsibility to bring independence to the country. On the contrary, it was the beautiful natural scenery full of vitality that strongly aroused Uncle Ho's determination to save the country and its people. This beautiful country like brocade and flowers cannot fall into the hands of the invaders. The last verse contains immense and profound emotions. The human soul sinks deeply into the soul of the landscape and the depth of the landscape enhances the profoundness of the human soul.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh lớp 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh lớp 7 Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Khung cảnh được nói tới trong bài thơ là một đêm khuya giữa rừng Việt Bắc. Câu mở đầu được viết theo lối so sánh, ẩn dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa. Giữa bộn bề công việc của một vị tổng chỉ huy thật khó có một chút thảnh thơi để có thể cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhưng với Hồ Chí Minh, tình yêu thiên nhiên dường như đã trở thành một nét phẩm chất tâm hồn. Còn nhớ, khi phải tù đày trong nhà lao Tưởng Giới Thạch – Người đã từng vượt lên hoàn cảnh trớ trêu mà đắm mình vào sự kì thú của tạo vật: Mặc dù bị trói chân tay Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng Vui say ai cấm ta đừng Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu. Rồi: Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ… Ngay trong phẩm chất chiến sĩ cách mạng của Người, tình yêu thiên nhiên vẫn luôn thường trực. Bởi thế, âm thanh tiếng suối mặc dầu rất quen nhưng được gợi ra trong bài thơ lại rất lạ: Giữa bao căng thẳng và hỗn tạp của thanh âm, nghe suối chảy ta có thể cảm nhận âm thanh và sắc độ của nó. Chợt nhớ câu thơ nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Trãi viết khi ở ẩn: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai… (Bài ca Côn Sơn) Hai nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, hai thi nhân tầm vóc thời đại sống cách nhau năm thế kỉ, cùng gặp gỡ diệu kì ở cảm hứng mãnh liệt trước thiên nhiên tươi đẹp. Chỉ có điều, nghe tiếng suối, Nguyễn Trãi liên tưởng tới tiếng đàn huyền diệu mà nghệ sĩ thiên nhiên ban tặng, còn Hồ Chí Minh lại liên tưởng tới âm hưởng hùng tráng vang ngân trong tiếng hát của của đoàn quân chiến thắng. Bài ca Côn Sơn được sáng tác khi người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi sống nhàn tản, bất đắc chí tại Chí Linh ; còn Cảnh khuya được nhà cách mạng Hồ Chí Minh viết trong cương vị một người tổng chỉ huy ở chiến khu Việt Bắc. Hai cảnh ngộ, hai tâm trạng khác nhau đều có chung tiếng suối làm mạch nguồn cảm xúc, nhưng sự cảm nhận và liên tưởng của mỗi người đều thể hiện nét riêng mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại. Trở lại với bài thơ Cảnh khuya, câu thứ hai vẫn theo bút pháp tả thực, Bác viết: Trên cái nền rạo rực và gợi cảm của âm thanh tiếng suối, ánh trăng hiện lên thật bao la huyền ảo, mở ra bức tranh thiên nhiên vời vợi và thi vị hẳn lên. Thực ra, đã không ít lần Bác rung động trước vẻ đẹp kì diệu của trăng, kể cả trong hoàn cảnh Người bị giam hãm tù đày, nhưng ở đây ánh trăng mang một sắc thái lung linh tuyệt mĩ: Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Ánh trăng tờ mở và chiếu tỏa không gian, ngỡ như xuyên thấm hồn tạo vật. Ánh trăng như chảy qua kẽ lá, choàng ánh sáng xuống bóng cây cổ thụ. Nếu xem hai câu thơ trên là biểu thị một sức nghe (câu thứ nhất) và một sức nhìn (câu thứ hai) tinh tế đặc biệt thì câu thứ ba nêu lên một tình huống: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Cảnh đẹp như tranh quyến rũ nhường vậy mà Người còn thao thức, không nỡ ngủ hay không thể ngủ được trước vẻ hữu tình của thiên nhiên? Câu thơ cuối bật ra thật bất ngờ: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Giản dị và chân thực, câu thơ cuối bộc lộ sức nghĩ của Người về vận mệnh dân tộc, trước cuộc kháng chiến đầy cam go và trước thiên nhiên tươi đẹp. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp so sánh ẩn dụ, tả thực và khả năng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng, phong phú, bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết trong phẩm chất thi sĩ – chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.
Express your thoughts about the poem Late Night Scene by Ho Chi Minh for grade 7 Instruct Express your thoughts about the poem Late Night Scene by Ho Chi Minh for grade 7 The sound of the stream is as clear as singing in the distance The moon cages ancient trees, the shadows of flower cages The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country. The scene mentioned in the poem is a late night in the middle of the Viet Bac forest. The opening sentence is written in a comparative and metaphorical style: The sound of the stream is as clear as singing in the distance. In the midst of the busy work of a general commander, it is difficult to have a moment of relaxation to be able to feel the beauty of nature. But for Ho Chi Minh, love of nature seems to have become a spiritual quality. Remember, when imprisoned in prison, Chiang Kai-shek - He once overcame ironic circumstances and immersed himself in the wonder of creation: Even though his hands and feet were tied Birds sing loudly from the mountains and their fragrance pervades the forest Having fun, no one forbids me Far away roads are less lonely. Already: In prison there is neither alcohol nor flowers The beautiful scene tonight is hard to ignore People look at the moonlight outside the window Moon peeked poet watching the door… Even in his qualities as a revolutionary soldier, his love for nature was always present. Therefore, although the sound of the stream is very familiar, it is evoked in the poem and is very strange: Amidst all the tension and confusion of sounds, listening to the flowing stream we can feel its sound and color. Suddenly I remember the famous poem written by the great poet Nguyen Trai while in hiding: Con Son stream murmurs I hear the sound of a harp in my ears... (Song of Con Son) Two prominent politicians and military men, two great poets of their time, living five centuries apart, miraculously met through strong inspiration in front of beautiful nature. It's just that, listening to the sound of the stream, Nguyen Trai thought of the magical sound of the guitar that nature bestowed upon him, while Ho Chi Minh thought of the majestic sound resonating in the singing of the victorious army. The song Con Son was composed when national hero Nguyen Trai lived leisurely and helplessly in Chi Linh; and Late Night Scene was written by revolutionary Ho Chi Minh in his position as a general commander in the Viet Bac war zone. Two different situations, two different moods, both have the same sound of a stream as their emotional source, but the feelings and associations of each person express their own unique characteristics imbued with personal impressions and the spirit of the times. Returning to the poem Late Night Scene, the second sentence still follows the realistic descriptive style, Uncle Ho wrote: On the vibrant and sexy background of the sound of the stream, the moonlight appears so vast and magical, opening up a wonderful and poetic picture of nature. In fact, many times Uncle Ho was moved by the magical beauty of the moon, even in the context of his imprisonment, but here the moonlight has a beautiful shimmering nuance: The moon cages ancient trees, the shadows of flower cages. The moonlight opens and illuminates the space, seemingly penetrating the souls of creatures. The moonlight seemed to flow through the leaves, casting light on the shadow of the ancient tree. If we consider the above two verses as expressing a particularly delicate listening ability (first verse) and seeing ability (second verse), then the third verse raises a situation: The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet. The picturesque scene is so captivating, yet you still stay awake, unable to sleep or unable to sleep before the charming beauty of nature? The last verse came out unexpectedly: Not sleep, worrying that country. Simple and truthful, the last verse reveals his thoughts about the nation's destiny, before the arduous resistance war and before the beautiful nature. Combining skillfully between metaphor and realistic comparison and the ability to associate and imagine freely and richly, the poem shows the passionate love of nature in the qualities of poet - revolutionary soldier Ho Chi Minh. Bright.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Bài làm Trong tất cả những bài thơ của Bác Hồ giai đoạn kháng chiến thì em thích nhất là bài “Cảnh khuya”. Mặc dù bài thơ chỉ vỏn vẹn 4 câu thơ, nhưng đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ở núi rừng Việt Bắc, có rừng cây, có trăng sáng, có tiếng suối, và đặc biệt có một người đang ở đó thao thức không ngủ được vì lo lắng cho sự an nguy của nước nhà. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Ở hai câu thơ đầu, Bác đã dùng tâm hồn của một người thi sĩ để vẽ nên bức tranh thiên nhiên đẹp hoàn mỹ. Bức tranh núi rừng hiện ra rất sinh động bởi nó có cả tiếng suối, có trăng, có bóng hoa. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” “Tiếng suối” được ví von với “tiếng hát xa” gợi cho ta một cảm giác thanh bình. Có lẽ không gian đó yên ắng lắm, mọi người, mọi vật đã chìm vào giấc ngủ, thì Bác mới có thể lắng nghe được tiếng suối từ sau khe núi vọng về. Nhưng dưới ngòi bút và tâm hồn lãng mạn của chủ tịch Hồ Chí Minh, thì nó nghe như tiếng hát, lời hát ngọt ngào, quen thuộc gần gũi như ở quê nhà. Bất chợt Bác nhìn lên bầu trời và nhìn thấy được một cảnh tượng thật đẹp. Hình ảnh “trăng” xuất hiện không ít ở trong văn thơ, và ngay trong nhiều sáng tác của Hồ Chủ Tịch thì vẫn đã có bóng dáng của trăng, tuy nhiên ở bài thơ này, trăng hiện lên đẹp biết bao. Ánh trăng sáng luồn qua tầng cây cổ thụ, rồi sau đó chiếu xuống mặt đất trông như những bông hoa. Tâm hồn của Bác thật quá đỗi nên thơ, một hình ảnh mà chúng ta nghĩ rằng nó vô cùng quen thuộc, nhưng dưới ngòi bút của thi sĩ, nó được nâng lên một tầm mới, là vẻ đẹp nghệ thuật. Vâng, chỉ mới hai câu thơ thôi, nhưng Bác Hồ kính yêu đã vẽ nên một bức tranh thơ mộng hữu tình giữa núi rừng hoang vu của Việt Bắc, điều này vừa cho thấy vẻ đẹp tâm hồn, tinh thần lạc quan yêu đời của Bác, vừa thể hiện được sự tinh tế, những rung cảm tuyệt vời không phải ai cũng có. Điều đáng nói ở đây là Bác đã dùng những từ ngữ giàu hình ảnh cùng lối gieo vần, chữ như đang tự sự, rất giản đơn, ngắn gọn mà súc tích, ai trong chúng ta đọc lên cũng có thể tưởng tượng ra ngay khung cảnh Tây Bắc lúc đó như thế nào. Tiếp nối những rung cảm về cảnh vật thiên nhiên, Bác nhìn lại sự tồn tại của mình. “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Không phải một lời biện minh, nhưng hai câu thơ này Bác như đang tự trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người chưa ngủ”. Giữa đêm khuya thanh vắng, chỉ còn văng vẳng tiếng suối, có ánh trăng sáng soi, có bóng cây, có “hoa”, nhưng chỉ khi “người chưa ngủ” mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp đầy huyền bí ở nơi rừng núi như thế này được. Bác bộc bạch: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Con người chiến sĩ hòa quyện với tâm hồn thi sĩ tạo nên một tác phẩm “bất hủ” mà hầu như ai cũng thuộc lòng từng câu từng chữ. Cảnh khuya không chỉ đẹp vì cảnh, mà nó còn đẹp vì tình, là tình yêu thương mà Bác Hồ dành cho hàng triệu trái tim người dân Việt Nam, là tình yêu dân tộc, yêu quê hương hết thảy. Thiết nghĩ, không biết chỉ một đêm hay biết bao nhiêu đêm Bác thao thức “vì lo nỗi nước nhà”? Càng đọc bài thơ này, em lại càng yêu mến và khâm phục trước tinh thần, nghị lực của Bác Hồ kính yêu.
Express your thoughts about the poem Late Night Scene by Ho Chi Minh Assignment Of all Uncle Ho's poems during the resistance period, I like the song "Night Scene" the most. Although the poem is only 4 verses, it paints a beautiful picture of nature in the mountains and forests of Viet Bac, with forests, a bright moon, the sound of streams, and especially one person there exercising. I can't sleep because I'm worried about the safety of my country. “The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon cage, ancient tree, shadow of flower cage The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country". In the first two verses, Uncle Ho used the soul of a poet to paint a perfectly beautiful picture of nature. The picture of mountains and forests appears very vividly because it includes the sound of a stream, the moon, and the shadow of flowers. “The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon, ancient tree cage, shadow of flower cage" "The sound of the stream" is compared to "the sound of singing in the distance" and evokes a feeling of peace. Perhaps that space was very quiet, everyone and everything had fallen asleep, then Uncle could hear the sound of the stream coming from behind the ravine. But under the pen and romantic soul of President Ho Chi Minh, it sounds like singing, sweet lyrics, familiar and close to home. Suddenly Uncle looked up at the sky and saw a beautiful scene. The image of "the moon" appears a lot in poetry, and even in many of President Ho Chi Minh's works, there is still the shadow of the moon, but in this poem, the moon appears so beautiful. Bright moonlight passes through the ancient trees, then shines on the ground like flowers. Uncle Ho's soul is so poetic, an image that we think is extremely familiar, but under the poet's pen, it is raised to a new level, artistic beauty. Yes, it's only two verses, but our beloved Uncle Ho has painted a poetic and charming picture amidst the wild mountains and forests of Viet Bac, which shows the beauty of his soul and his optimistic spirit of love for life. Uncle, you just show sophistication and great vibes that not everyone has. What is worth mentioning here is that Uncle Ho used words rich in images and rhymes, the words were narrative-like, very simple, short and concise, any of us who read them can immediately imagine the scene. What was the Northwest scene like at that time? Continuing the vibes of natural scenery, Uncle Ho looked back at his existence. “The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country" Not an excuse, but these two verses seem to be answering the question: "Why don't you sleep yet?" In the middle of a quiet night, there is only the sound of the stream, the bright moonlight, the shadows of trees, and "flowers", but only when "people are not sleeping" can they feel the mysterious beauty of the forest. mountains like this. Uncle confided: "I haven't slept because I'm worried about my country" The warrior's soul blends with the poet's soul to create an "immortal" work that almost everyone knows by heart every sentence and every word. The late night scene is not only beautiful because of the scenery, but it is also beautiful because of love, the love that Uncle Ho has for millions of Vietnamese people's hearts, the love of the nation, the love of all the homeland. I thought, I don't know if it was just one night or how many nights Uncle stayed awake "because he was worried about his country"? The more I read this poem, the more I love and admire the spirit and energy of my beloved Uncle Ho.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh Bài làm Nhắc nhớ đến Hồ Chủ tịch người dân Việt Nam luôn luôn tự hào, Người chính là vị lãnh tụ vĩ đại, còn là người cha già của dân tộc Việt Nam đồng thời Người lại là một vị cha già của dân tộc. “Cảnh khuya” chính là một bài thơ không chỉ ca ngợi bức tranh thiên nhiên mà còn bộc bạch trong đó hình ảnh của người chiến sĩ yêu nước thương dân. Đầu tiên ta nhận thấy được một vẻ đẹp vô cùng sây mê và hùng vĩ, nên thơ của núi rừng Việt Bắc – chính là cái nôi của cách mạng. Bài thơ vẻn vẹn có 4 câu thơ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Người đọc có thể nhận thấy được cái bức tranh thiên nhiên đẹp của rừng Việt Bắc thể hiện ở ngay hai câu thơ đầu được Hồ Chí Minh khắc họa lại: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Hồ Chí Minh như cũng đã tái hiện lên được khung cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Khung cảnh nơi đây cũng đã bỗng trở nên thơ mộng hơn; tươi đẹp hơn nhờ biện pháp so sánh tài tình và độc đáo biết bao nhiêu: Người đọc cũng có thể nhận thấy được âm thanh mới trong trẻo và nghe cũng thật du dương, ngân nga làm sao. Không khó để nhận ra được “a” ở câu cuối gợi nên cung bậc của tiếng suối như cứ mien man và ngân xa mãi. Tiếng suối chảy mà ta như cảm nhận thấy được một sự nghẹn ngào và vô cùng say đắm biết bao nhiêu. Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng nghệ thuật so sánh đồng thời cũng đã lại tạo ra một vẻ đẹp mới cho hình ảnh thơ vô cùng đẹp đẽ. Ai mà có thể biến dòng suối thành một con người có tâm hồn biến thành một có tình cảm sâu sắc, và lại có thể cất lên khúc nhạc đầy chứa chan đó cơ chứ. Không thể phủ nhận được được tiếng suối như khúc nhạc khiến cho bức tranh khuya như sống động và không hề tẻ nhạt. Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh Khuya Thật thích thú biết bao nhiêu trong bức tranh đêm đó, nếu như tiếng suối làm cho cảnh vật tĩnh lặng, và khiến cho mọi thứ dường như cũng vô cùng sâu lắng thì ánh trăng làm cho cảnh vật thơ mộng hơn rất nhiều thông qua câu: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Hình ảnh của ánh trăng dường như cứ tròn vành vạnh tỏa ánh sáng xuống trần gian tươi đẹp này. Không dừng lại ở đó ta nhận thấy được nó lại có những lùm cây rậm rạp đã được ánh trăng chiếu xuống trông hệt như những sợi kim tuyến lấp lánh mà vô tình như đã trang điểm trên mái tóc bồng bềnh của nàng thiếu nữ duyên dáng và yêu kiều biết bao nhiêu. Ánh trăng cứ như soi qua kẽ lá để có thể chiếu xuống đất tạo thành những đốm trắng trông cũng cứ nhỏ li ti trên mặt đất lấm tấm như hoa gấm mới đẹp làm sao. Hồ Chí Minh thạt tài tình khi Người dùng chữ “Lồng” để nói sự đan xen giữa ánh trăng và cây cổ thụ cũng mới đẹp làm sao. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Người đọc có thể nhận thấy được bức tranh tươi đẹp nhưng cũng hết sức hoàn hảo, vì nó có đủ đầy ánh trăng, suối và bóng hoa, cây cổ thụ nữa khiến cho cảnh rừng Việt Bắc như cứ hiển hiện như thực như mơ. Phải chăng người chiến sĩ không thể nào ngủ được vì ánh trăng cứ đẹp đẽ soi chiếu, không ngủ được vì tất cả cảnh vật núi rừng đều đẹp biết bao nhiêu. Nhưng lại có một lý do sâu sắc hơn khiến nhân vật không ngủ đó chính là nỗi nước nhà. Luôn mong muốn nước nhà được độc lập, dân ai ai cũng được hạnh phúc,… đó chính là nỗi lo dường như cứ canh cánh trong lòng người đọc chúng ta. “Cảnh khuya” là một bức tranh thiên nhiên khiến cho chúng ta như cũng vừa say mê với cảnh, đồng thời cũng lại luôn khâm phục phẩm chất cũng như tâm hồn của một vị lãnh tụ như Bác. Minh Nguyệt
Topic: Express your thoughts about Ho Chi Minh's poem Late Night Assignment Remembering President Ho, the Vietnamese people are always proud, he is a great leader, also the old father of the Vietnamese people and at the same time he is an old father of the nation. "Night Scene" is a poem that not only praises the picture of nature but also reveals in it the image of a patriotic soldier who loves his people. First, we notice the extremely enchanting, majestic and poetic beauty of the Viet Bac mountains and forests - the cradle of the revolution. The poem has four complete lines: The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon cage, ancient tree, shadow of flower cage The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country. Readers can see the beautiful natural picture of Viet Bac forest expressed in the first two verses of Ho Chi Minh's poem: The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon cage, ancient tree, shadow of flower cage. Ho Chi Minh also seems to have recreated the natural scenery of Viet Bac mountains and forests. The scenery here has also suddenly become more poetic; How much more beautiful thanks to the ingenious and unique method of comparison: Readers can also notice how clear the new sound is and how melodious and humming it sounds. It is not difficult to recognize the "a" in the last sentence, evoking the tone of the stream's sound, which seems to be gentle and distant forever. The sound of the flowing stream makes us feel so choked and extremely passionate. Ho Chi Minh also used the art of comparison and also created a new beauty for extremely beautiful poetic images. Who could turn a stream into a person with a soul into one with deep feelings, and be able to sing that full of music. It is undeniable that the sound of the stream sounds like music, making the late night painting seem lively and not at all boring. Express your thoughts about the poem Late Night Scene How interesting it was in the picture that night, if the sound of the stream made the scene quiet, and made everything seem extremely profound, the moonlight made the scene much more poetic through the sentence. : Moon cage, ancient tree, shadow of flower cage. The image of the moonlight seems to be round and round, radiating light into this beautiful world. Not stopping there, we notice that it has dense groves of trees that are illuminated by the moonlight, looking like glittering strands of glitter that unintentionally seem to have adorned the graceful girl's flowing hair. and how lovely. The moonlight seems to shine through the leaves to shine on the ground, creating white spots that look tiny on the ground like brocade flowers, so beautiful. Ho Chi Minh was so clever when he used the word "Long" to say how beautiful the intertwining of moonlight and ancient trees is. The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country. Readers can see that the picture is beautiful but also extremely perfect, because it is full of moonlight, streams, flowers, and ancient trees, making the Viet Bac forest scene appear as real as a dream. Is it true that the soldier cannot sleep because the moonlight shines beautifully, and cannot sleep because all the mountain and forest scenery are so beautiful. But there is a deeper reason why the character does not sleep, which is the country's concern. Always wanting the country to be independent, everyone to be happy,... that is the worry that seems to linger in the hearts of our readers. "Night Scene" is a natural painting that makes us both fascinated with the scene and at the same time always admire the qualities and soul of a leader like Uncle Ho. the bright moon
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya ngắn gọn Hướng dẫn Cảnh khuya là một bài thơ rất hay và thường được làm đề thi hoặc đề kiểm tra 1 tiết, phổ biến nhất là: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. Sau đây mời các em tham khảo bài mẫu của blogvan vừa ngắn gọn vừa hay được sưu tầm và biên soạn. Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya Trong tất cả những bài thơ của Bác Hồ giai đoạn kháng chiến thì em thích nhất là bài “Cảnh khuya”. Mặc dù bài thơ chỉ vỏn vẹn 4 câu thơ, nhưng đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ở núi rừng Việt Bắc, có rừng cây, có trăng sáng, có tiếng suối, và đặc biệt có một người đang ở đó thao thức không ngủ được vì lo lắng cho sự an nguy của nước nhà. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Ở hai câu thơ đầu, Bác đã dùng tâm hồn của một người thi sĩ để vẽ nên bức tranh thiên nhiên đẹp hoàn mỹ. Bức tranh núi rừng hiện ra rất sinh động bởi nó có cả tiếng suối, có trăng, có bóng hoa. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” “Tiếng suối” được ví von với “tiếng hát xa” gợi cho ta một cảm giác thanh bình. Có lẽ không gian đó yên ắng lắm, mọi người, mọi vật đã chìm vào giấc ngủ, thì Bác mới có thể lắng nghe được tiếng suối từ sau khe núi vọng về. Nhưng dưới ngòi bút và tâm hồn lãng mạn của chủ tịch Hồ Chí Minh, thì nó nghe như tiếng hát, lời hát ngọt ngào, quen thuộc gần gũi như ở quê nhà. Bất chợt Bác nhìn lên bầu trời và nhìn thấy được một cảnh tượng thật đẹp. Hình ảnh “trăng” xuất hiện không ít ở trong văn thơ, và ngay trong nhiều sáng tác của Hồ Chủ Tịch thì vẫn đã có bóng dáng của trăng, tuy nhiên ở bài thơ này, trăng hiện lên đẹp biết bao. Ánh trăng sáng luồn qua tầng cây cổ thụ, rồi sau đó chiếu xuống mặt đất trông như những bông hoa. Tâm hồn của Bác thật quá đỗi nên thơ, một hình ảnh mà chúng ta nghĩ rằng nó vô cùng quen thuộc, nhưng dưới ngòi bút của thi sĩ, nó được nâng lên một tầm mới, là vẻ đẹp nghệ thuật. Vâng, chỉ mới hai câu thơ thôi, nhưng Bác Hồ kính yêu đã vẽ nên một bức tranh thơ mộng hữu tình giữa núi rừng hoang vu của Việt Bắc, điều này vừa cho thấy vẻ đẹp tâm hồn, tinh thần lạc quan yêu đời của Bác, vừa thể hiện được sự tinh tế, những rung cảm tuyệt vời không phải ai cũng có. Điều đáng nói ở đây là Bác đã dùng những từ ngữ giàu hình ảnh cùng lối gieo vần, chữ như đang tự sự, rất giản đơn, ngắn gọn mà súc tích, ai trong chúng ta đọc lên cũng có thể tưởng tượng ra ngay khung cảnh Tây Bắc lúc đó như thế nào. Tiếp nối những rung cảm về cảnh vật thiên nhiên, Bác nhìn lại sự tồn tại của mình. “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Không phải một lời biện minh, nhưng hai câu thơ này Bác như đang tự trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người chưa ngủ”. Giữa đêm khuya thanh vắng, chỉ còn văng vẳng tiếng suối, có ánh trăng sáng soi, có bóng cây, có “hoa”, nhưng chỉ khi “người chưa ngủ” mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp đầy huyền bí ở nơi rừng núi như thế này được. Bác bộc bạch: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Con người chiến sĩ hòa quyện với tâm hồn thi sĩ tạo nên một tác phẩm “bất hủ” mà hầu như ai cũng thuộc lòng từng câu từng chữ. Cảnh khuya không chỉ đẹp vì cảnh, mà nó còn đẹp vì tình, là tình yêu thương mà Bác Hồ dành cho hàng triệu trái tim người dân Việt Nam, là tình yêu dân tộc, yêu quê hương hết thảy. Thiết nghĩ, không biết chỉ một đêm hay biết bao nhiêu đêm Bác thao thức “vì lo nỗi nước nhà”? Càng đọc bài thơ này, em lại càng yêu mến và khâm phục trước tinh thần, nghị lực của Bác Hồ kính yêu. Bài văn mẫu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya trên đây hi vọng đã giúp các em có thêm những câu văn, đoạn văn hay để giúp bài văn của mình hoàn thiện hơn.
Briefly express your thoughts about the poem Late Night Scene Instruct Late Night Scene is a very good poem and is often used as an exam or 1-period test, the most popular being: Expressing thoughts about the poem Late Night Scene by Ho Chi Minh. Below we invite you to refer to blogvan's sample articles that are both concise and well collected and compiled. Thoughts on the poem Late Night Scene Of all Uncle Ho's poems during the resistance period, I like the song "Night Scene" the most. Although the poem is only 4 verses, it paints a beautiful picture of nature in the mountains and forests of Viet Bac, with forests, a bright moon, the sound of streams, and especially one person there exercising. I can't sleep because I'm worried about the safety of my country. “The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon cage, ancient tree, shadow of flower cage The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country". In the first two verses, Uncle Ho used the soul of a poet to paint a perfectly beautiful picture of nature. The picture of mountains and forests appears very vividly because it includes the sound of a stream, the moon, and the shadow of flowers. “The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon, ancient tree cage, shadow of flower cage" "The sound of the stream" is compared to "the sound of singing in the distance" and evokes a feeling of peace. Perhaps that space was very quiet, everyone and everything had fallen asleep, then Uncle could hear the sound of the stream coming from behind the ravine. But under the pen and romantic soul of President Ho Chi Minh, it sounds like singing, sweet lyrics, familiar and close to home. Suddenly Uncle looked up at the sky and saw a beautiful scene. The image of "the moon" appears a lot in poetry, and even in many of President Ho Chi Minh's works, there is still the shadow of the moon, but in this poem, the moon appears so beautiful. Bright moonlight passes through the ancient trees, then shines on the ground like flowers. Uncle Ho's soul is so poetic, an image that we think is extremely familiar, but under the poet's pen, it is raised to a new level, artistic beauty. Yes, it's only two verses, but our beloved Uncle Ho has painted a poetic and charming picture amidst the wild mountains and forests of Viet Bac, which shows the beauty of his soul and his optimistic spirit of love for life. Uncle, you just show sophistication and great vibes that not everyone has. What is worth mentioning here is that Uncle Ho used words rich in images and rhymes, the words were narrative-like, very simple, short and concise, any of us who read them can immediately imagine the scene. What was the Northwest scene like at that time? Continuing the vibes of natural scenery, Uncle Ho looked back at his existence. “The late night scene is like drawing a person who hasn't slept yet Not sleep, worrying that country" Not an excuse, but these two verses seem to be answering the question: "Why don't you sleep yet?" In the middle of a quiet night, there is only the sound of the stream, the bright moonlight, the shadows of trees, and "flowers", but only when "people are not sleeping" can they feel the mysterious beauty of the forest. mountains like this. Uncle confided: "I haven't slept because I'm worried about my country" The warrior's soul blends with the poet's soul to create an "immortal" work that almost everyone knows by heart every sentence and every word. The late night scene is not only beautiful because of the scenery, but it is also beautiful because of love, the love that Uncle Ho has for millions of Vietnamese people's hearts, the love of the nation, the love of all the homeland. I thought, I don't know if it was just one night or how many nights Uncle stayed awake "because he was worried about his country"? The more I read this poem, the more I love and admire the spirit and energy of my beloved Uncle Ho. The above sample essay expressing feelings about the poem Late Night Scene hopes to help you have more good sentences and paragraphs to help improve your essay.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya Bài làm Trong những bài thơ Bác Hồ làm ở chiến khu VIệt Bắc thời kì kháng chiến chống Pháp, “Cảnh khuya” là bài thơ gây cho em sự xúc động và ngượng mộ. Càng đọc bài thơ “Cảnh khuya”, em càng thấy Bác là người yêu thiên nhiên, có tâm hồn nghệ sĩ và Bác cũng là người chiến sĩ cách mạng luôn lo lắng cho vận mệnh đất nước. “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.” Cảnh thiên nhiên bỗng trở nên gần gũi, thân thiết với con người hơn nhờ biện pháp so sánh tài tình và độc đáo: tiếng suối trong như tiếng hát xa. Ta nghe như thấy âm thanh trong trẻo, du dương của tiếng suối. Và phải chăng suối cũng như một con người nên tiếng suối mới trong trẻo như tiếng hát? Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya Tiếng suối làm nổi bật cảnh tĩnh lặng, sâu lắng trong đêm khuya, ánh trăng làm cho cảnh vật thơ mộng: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Trăng chiếu lên vòm cổ thụ, nhưng như lồng vào đó ánh sáng mát dịu của mình. Trăng rọi qua kẽ lá in xuống mặt đất tạo thành muôn vàn đốm sáng lung linh như hoa. Hoa sáng của ánh trăng lồng vào hoa trên mặt đất đang mở cánh uống sươn đêm. Cảnh vừa thực nhưng lại vừa ảo, mà nghiêng về ảo. Trăng sáng, cây cổ thụ, bóng hoa và hoa trên mặt đất tuy ở ba tầng bậc khác nhau mà như gắn bó, đan xen vào nhau, tôn vẻ đẹp của nhau. Sự gắn bó ấy chính là từ “lồng” nối trăng với cổ thụ, nối bóng cổ thụ với hoa. “Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ” Mới đọc đến câu thơ thứ ba thì ai cũng đoán Bác chưa ngủ, Bác không ngủ được vì cảnh đẹp. Bác chỉ so sánh cảnh như “vẽ”. Như vẽ là thế nào, mỗi người đọc tự tưởng tượng. Nhưng như vẽ có nghĩa là rất đẹp, cũng giống như trong ca dao ví cảnh “như tranh họa đồ”. Tuy thế, câu thơ thứ tư Bác cho biết: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Hóa ra không phải Bác thức khuya để ngắm cảnh đẹp. Bác thức khuya vì lo nỗi nước nhà. Đã bao đêm Bác thao thức. Đêm nay Bác cũng thức khuya để lo việc nước, nhưng chợt gặp cảnh thiên nhiên tươi đẹp, lòng người xúc động mà bật ra những vần thơ của bài “Cảnh khuya” chứ không phải Bác ngắm cảnh để làm thơ. Bác bận trăm công ngàn việc, lo lắng vì vận mệnh đất nước, nhưng trong khoảnh khắc, Người vẫn cảm nhận được sự tươi đẹp, thơ mộng của thiên nhiên. Người nghệ sĩ và người chiến sĩ trong Bác luôn luôn gắn bó. Điều này khiến cho em hay bất cứ ai đọc thơ đều yêu kính, khâm phục tâm hồn của Bác, tấm lòng của Bác. Đọc bài thơ “Cảnh khuya”, em vừa say mê, thích thúc với cảnh, vừa kính phục phẩm chất và tâm hồn của Bác. Bài thơ chỉ cho chúng ta biết một đêm thức khuya, không ngủ của Người. Nhưng Bác còn bao nhiêu đêm thao thức, Bác còn bao nhiêu đêm không ngủ vì “thương đoàn dân công”, vì “lo nỗi nước nhà”?
Express your thoughts about the poem Late Night Scene Assignment Among the poems Uncle Ho wrote in the Vietnam War Zone during the resistance war against the French, "Night Scene" is the poem that makes me emotional and embarrassed. The more I read the poem "Late Night Scene", the more I see that Uncle Ho is a nature lover, has an artistic soul and that he is also a revolutionary soldier who always worries about the fate of the country. “The sound of the stream is as clear as singing in the distance Moon, ancient tree cage, shadow of flower cage.” The natural scene suddenly becomes closer and more intimate to people thanks to a clever and unique comparison method: the sound of a stream is as clear as singing in the distance. We hear as if we see the clear, melodious sound of the stream. And is it true that the stream is like a person, so the sound of the stream is as clear as singing? Express your thoughts about the poem Late Night Scene The sound of the stream highlights the quiet, deep scene in the dead of night, the moonlight makes the scene poetic: "The moon cage of ancient trees and the shadow of flower cages". The moon shines on the ancient canopy, but it seems to insert its own cool light into it. The moon shines through the leaves onto the ground, creating countless shimmering spots like flowers. Bright flowers of moonlight intertwine with flowers on the ground opening their petals to drink the night dew. The scene is both real and virtual, leaning towards virtuality. The bright moon, ancient trees, flower shadows and flowers on the ground, although on three different levels, seem to be attached, intertwined, enhancing each other's beauty. That attachment is the word "cage" connecting the moon with the ancient tree, connecting the shadow of the ancient tree with the flower. "The late night scene looks like someone hasn't slept yet" Just reading the third verse, everyone guessed that Uncle was not sleeping yet. He couldn't sleep because of the beautiful scenery. He just compared the scene to "painting". As for what drawing is, each reader can imagine for himself. But like painted means very beautiful, just like in folk songs the scene is "like a painting". However, in the fourth verse, Uncle Ho said: "I have not slept because I am worried about my country." Turns out it wasn't Uncle who stayed up late to admire the beautiful scenery. He stayed up late because he was worried about his country. How many nights did Uncle lie awake? This night, Uncle Ho also stayed up late to take care of the country's affairs, but suddenly he encountered a beautiful natural scene, people's hearts were moved and he burst out with the verses of the song "Late Night Scene", not because he was admiring the scenery to write poetry. He was busy with thousands of tasks and worried about the fate of the country, but in a moment, he still felt the beauty and poetry of nature. The artist and the soldier in Uncle Ho are always linked. This makes me or anyone who reads poetry love and admire Uncle Ho's soul and heart. Reading the poem "Late Night Scene", I was both fascinated and excited by the scene, while also admiring Uncle Ho's qualities and soul. The poem only tells us about his late, sleepless night. But how many restless nights does Uncle have, how many sleepless nights do he still have because of "the trade union of citizens" and because of "worries about the country"?
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của nhà thơ Hạ Tri Chương. Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của nhà thơ Hạ Tri Chương. Hạ Tri Chương (659-744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, ông còn là bạn vong niên của thi tiên Lí Bạch. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê là một trong số những bài thơ hay nổi tiếng viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện khá rõ tình cảm tha thiết, nỗi lòng của một người con xa quê hương sau mấy chục năm nay mới trở lại. Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, điều khiến người ta buồn nhất, khắc khoải nhất là phải sống xa quê. Mà sẽ là buồn hơn nữa nếu lại phải xa quê mấy chục năm trời không được một lần trở lại. Đến cuối đời may mắn được trở về thăm quê hương thì có lẽ sẽ chẳng còn ai nhớ đến, đứng giữa quê mình mà chẳng ai còn nhận ra, người ta cứ ngỡ khách lạ về làng. Và Hạ Tri Chương đã rơi vào tình cảnh ấy. Mở đầu bài thơ tác giả viết: Thiếu tiểu li gia lão đại hồi (Trẻ đi, già trở lại nhà) Câu thơ nói về một hoàn cảnh đối lập, đó là ngày Hạ Tri Chương ra đi và ngày trở về của ông. Trong cuộc đời con người sự ra đi hay trở vế sẽ chỉ là những chuyến đi bình thường nếu người ta đi vài ngày vài năm, nhưng sẽ là vấn đề nếu thời giàn ra đi kéo dài hàng mấy chục năm trời. Ngày ra đi, Hạ Tri Chương vẫn còn rất trẻ và cho đến ngày trở về đã thành một ông lão. Cả một quãng thời gian quá dài đủ khiến một con người tình nghĩa như nhà thơ nhớ quê đến mức độ nào. Có lẽ chúng ta cũng có thổ hiểu được đó là một nỗi nhớ quê da diết, dẫu cho cuộc sống của ông những ngày xa quê đẩy đủ và sung túc. Tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương được thể hiện ở câu tiếp theo. (Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu) Xa quê đã mấy chục năm nhưng tình cảm với quê hương ông vẫn giữ. Điều đó được thể hiện ở giọng quê ông vẫn giữ được, giữ được giọng quê đối với người xa quê mấy chục năm trời là một điều vô cùng quý giá. Thực ra trong cuộc sống có rất nhiều người xa quê thì dường như họ sẽ thay đổi tất cả từ giọng nói cho đến phong cách cử chỉ nhưng với Hạ Tri Chương thì điều đó không hề xảy ra. Chứng tỏ ông không hề quên nơi đã sinh ra mình, cho mình một cuộc sống, nơi có biết bao kỉ niệm, có người mẹ đã nuôi ông lớn lên bằng dòng sữa ngọt ngào, ru ông bằng những câu hát ân tình, tha thiết…Như vậy thời gian chỉ có thể làm thay đổi được mái tóc, được vẻ bên ngoài của con người chứ không thể thay đổi được những nét bên trong, nét quê ẩn chứa trong ông. Ta thấy tình cảm của ông đối với quê hương thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao nhiêu. Bởi ta biết rằng ông từng làm quan to trong triều đình, được bao người trọng vọng, ở một môi trường như thế con người rất dễ thay đổi, thực tế không ít người quay lưng lại với quê hương mình bằng cách thay đổi giọng nói cho phù hợp với nơi đô thị. Hạ Tri Chương quả có một tâm hồn thủy chung, nghĩa tình với quê hương của mình. Một con người yêu quê hương tha thiết như ông sẽ càng buồn hơn khi xa quê, nhớ quê mà chẳng được về thăm quê, để đến mấy chục năm sau mới được trở về, với biết bao bồi hồi và xúc động. Tuy nhiên, về đến làng, ông phải đối diện với một nghịch lý: Trước nơi đã sinh ra mình, ông chỉ là một người lạ: Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai (Gặp nhau mà chẳng biết nhau Trẻ cười, hỏi: “Khách từ đâu đến làng” Có điều gì đó hóm hỉnh trong câu thơ này khiến ta phải bật cười nhưng dường như đó là một cái cười chẳng trọn vẹn bởi một người con được sinh ra chính từ mảnh đất ấy nay lại được xem như một người khách lạ. Cảnh cũ còn đây nhưng bạn cũ người xưa ai còn ai mất tác giả chẳng biết và dường như chẳng còn ai nhận ra mình nữa, dường như chẳng còn ai nhận ra tác giả là chàng Hạ Tri Chương năm xưa đã sinh ra từ ngôi làng này. Họ ngỡ đâu khách lạ về thăm làng. Có cái gì đó thật nghịch lí, người của làng mà lại trở thành khách lạ. Trẻ con hồn nhiên chào hỏi: có phải là khách lạ tờ phương xa đến. Đọc những câu thơ này, ta có thể tưởng tượng một người đàn ông đứng lạc lõng giữa làng, khuôn mặt vừa vui mừng, sung sướng vì được đứng trên mảnh đất thân yêu nhưng lại vừa thoáng nét buồn vì những người qua lại chẳng ai để tâm đến, một cảm giác thất vọng, hẫng hụt của tác giả khi đứng giữa quê mình. Bao năm xa quê mong ngày trở lại thăm quê vậy mà khi đứng trên mảnh đất thân yêu của mình thì dường như tất cả không còn là của mình nữa. Song thực ra điều đó cũng là tất nhiên bởi thời gian mà Hạ Tri Chương xa quê đâu phải vài ngày, vài năm mà đã hơn nửa thế kĩ, vì vậy người trẻ không biết là lẽ thường tình. Dẫu vậy bài thơ cũng giúp ta thấy được tình cảm chân thành, thủy chung của tác giả, một người đã từng có danh vọng cao sang nhưng vẫn không quên được tình cảm với cố hương. Đó là một con người đáng trân trọng. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng có câu thơ nói về tình cảm của người xa quê. Mai về, dù bạc tóc anh cũng về. Tình cảm quê hương là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người và tác phẩm “Hồi hương cố tri” của Hạ Tri Chương là một bài thơ rất hay, tất cả tấm lòng nhà thơ được gói gọn trong bốn câu thơ đầy ý nghĩa. Tác giả đã rất thành công khi sử dụng thủ pháp nghệ thuật như tiểu đối hay tính hàm xúc nói ít gợi nhiều. Bài thơ đã giúp người đọc thấu hiểu hơn tâm trạng của người khách li hương. Bài thơ khép lại nhưng vẫn để lại dư âm khó quên trong lòng người đọc.
Expressing thoughts about the poem Randomly written on the occasion of returning home by poet Ha Tri Chuong. Instruct Expressing thoughts about the poem Randomly written on the occasion of returning home by poet Ha Tri Chuong. He Zhizhang (659-744) was one of the great poets of the Tang Dynasty, he was also a long-time friend of the poet Li Bai. The poem Randomly written on the occasion of returning home is one of the famous poems written on the topic of love for one's homeland. The poem is short but clearly shows the earnest feelings and feelings of a son who has returned from his homeland after several decades. Perhaps in every person's life, the thing that makes them the saddest and most anxious is having to live far from home. But it would be even sadder if I had to leave my hometown for decades and not be able to return once. At the end of your life, if you are lucky enough to return to visit your hometown, perhaps no one will remember you. Standing in the middle of your hometown, no one will recognize you, people will think that you are a stranger to the village. And Ha Tri Chuong fell into that situation. At the beginning of the poem, the author writes: The young master of the old family returned home (Going young, returning home when old) The poem talks about a contrasting situation, the day Ha Tri Chuong left and the day he returned. In human life, leaving or returning will just be normal trips if people go for a few days or a few years, but it will be a problem if the time of departure lasts for decades. On the day he left, Ha Tri Chuong was still very young and by the day he returned he had become an old man. A long period of time is enough to make a grateful person like the poet miss his hometown to such an extent. Perhaps we can also understand that it is a strong nostalgia for home, even though his life in the days away from home was full and prosperous. The affection and attachment to the homeland is expressed in the next sentence. (Country voice unchanged, misty hair) He has been away from home for decades, but his feelings for his homeland still remain. That is shown in the hometown accent he still retains. Maintaining a hometown accent for people who have been away from home for decades is an extremely valuable thing. In fact, in life, there are many people who are far from home and it seems they will change everything from their voice to their style of gestures, but with Ha Tri Chuong, that never happened. It proves that he has never forgotten the place where he was born, gave him a life, where there are so many memories, a mother who raised him with sweet milk, lulled him with loving, passionate songs. ...So time can only change a person's hair and outer appearance, but cannot change the inner features and country features hidden within him. We see how precious and respectful his feelings for his homeland are. Because we know that he used to be a high-ranking mandarin in the royal court and was respected by many people. In such an environment, people are very changeable. In fact, many people turned their backs on their homeland by changing their accent. suitable for urban areas. Ha Tri Chuong indeed has a loyal soul and gratitude towards his homeland. A person who loves his homeland dearly like him will be even more sad when he leaves his hometown, misses his hometown but cannot return to visit it, only to be able to return decades later, with so much sadness and emotion. However, when he returned to the village, he had to face a paradox: Before the place where he was born, he was just a stranger: Children have similar views and are not aware of each other Tieu question: Guests from the same country (Met each other but don't know each other The child smiled and asked: "Where do guests come from to the village?" There is something humorous in this verse that makes us laugh, but it seems to be an incomplete laugh because a child born from that land is now considered a stranger. The old scene is still here, but old friends and acquaintances are still here. The author doesn't know and it seems like no one recognizes him anymore. It seems like no one recognizes the author as the guy Ha Tri Chuong who was born in the village in the past. This. They thought that strangers were coming to visit the village. There is something truly paradoxical: people from the village become strangers. Children innocently greet: are they strangers from far away? Reading these verses, we can imagine a man standing lost in the middle of the village, his face is both happy and happy because he is standing on his beloved land but also has a hint of sadness because there are no people passing by. Pay attention to the author's feeling of disappointment and loss when standing in the middle of his hometown. For many years away from home, I longed to return to visit my hometown, but when I stood on my beloved land, it seemed like everything was no longer mine. But actually that is also natural because the time that Ha Tri Chuong was away from home was not a few days or a few years but more than half a century, so it is normal for young people to not know. However, the poem also helps us see the sincere and faithful feelings of the author, a person who once had high fame but still did not forget his feelings for his homeland. That is a respectable person. Poet To Huu also once wrote a poem about the feelings of people far from home. Come back tomorrow, even if you have gray hair, you'll still come back. The love for the homeland is a sacred feeling for every person and the work "Returning to the Old Friends" by Ha Tri Chuong is a very beautiful poem, all the poet's heart is encapsulated in four meaningful verses. . The author has been very successful when using artistic techniques such as diminutives or conciseness, saying less and evoking more. The poem helps readers better understand the feelings of the exiled guest. The poem ends but still leaves an unforgettable echo in the reader's heart.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê Hướng dẫn Mở bài: -Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm -Ấn tượng bước đầu của em về văn bản. Thân bài: -Trình bày cảm nghĩ của em về tác giả- một vị quan khi 86 tuổi đã từ dã kinh đô về thăm quê cũ sau cả một đời rời xa quê hương. -Cảm nghĩ về tâm sự của Hạ Tri Chương trong buổi đầu đặt chân lên mảnh đâT quê hương. -Tác dụng của pháp đối trong việc kể lại sự việc: đi – về, việc miêu tả giọng nói và mái tóc. -Tâm trạng xót xa vì đã trở thành người khách bất dắc dĩ trên quê hương cúa mình. -Thể hiện tấm lòng yêu quê hương tha thiết của tác giả. Kết bài: Bài học về tình quê hương mà bài thơ đã mang lại cho em. Tham khảo bài làm tại đây Hạ Tri Chương (659-744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, ông còn là bạn vong niên của thi tiên Lí Bạch. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê là một trong số những bài thơ hay nổi tiếng viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện khá rõ tình cảm tha thiết, nỗi lòng của một người con xa quê hương sau mấy chục năm nay mới trở lại. Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, điều khiến người ta buồn nhất, khắc khoải nhất là phải sống xa quê. Mà sẽ là buồn hơn nữa nếu lại phải xa quê mấy chục năm trời không được một lần trở lại. Đến cuối đời may mắn được trở về thăm quê hương thì có lẽ sẽ chẳng còn ai nhớ đến, đứng giữa quê mình mà chẳng ai còn nhận ra, người ta cứ ngỡ khách lạ về làng. Và Hạ Tri Chương đã rơi vào tình cảnh ấy. Mở đầu bài thơ tác giả viết: (Trẻ đi, già trở lại nhà) Câu thơ nói về một hoàn cảnh đối lập, đó là ngày Hạ Tri Chương ra đi và ngày trở về của ông. Trong cuộc đời con người sự ra đi hay trở vế sẽ chỉ là những chuyến đi bình thường nếu người ta đi vài ngày vài năm, nhưng sẽ là vấn đề nếu thời giàn ra đi kéo dài hàng mấy chục năm trời. Ngày ra đi, Hạ Tri Chương vẫn còn rất trẻ và cho đến ngày trở về đã thành một ông lão. Cả một quãng thời gian quá dài đủ khiến một con người tình nghĩa như nhà thơ nhớ quê đến mức độ nào. Có lẽ chúng ta cũng có thổ hiểu được đó là một nỗi nhớ quê da diết, dẫu cho cuộc sống của ông những ngày xa quê đẩy đủ và sung túc. Tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương được thể hiện ở câu tiếp theo. Hương âm vô cải mấn mao tồi (Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu) Xa quê đã mấy chục năm nhưng tình cảm với quê hương ông vẫn giữ. Điều đó được thể hiện ở giọng quê ông vẫn giữ được, giữ được giọng quê đối với người xa quê mấy chục năm trời là một điều vô cùng quý giá. Thực ra trong cuộc sống có rất nhiều người xa quê thì dường như họ sẽ thay đổi tất cả từ giọng nói cho đến phong cách cử chỉ nhưng với Hạ Tri Chương thì điều đó không hề xảy ra. Chứng tỏ ông không hề quên nơi đã sinh ra mình, cho mình một cuộc sống, nơi có biết bao kỉ niệm, có người mẹ đã nuôi ông lớn lên bằng dòng sữa ngọt ngào, ru ông bằng những câu hát ân tình, tha thiết…Như vậy thời gian chỉ có thể làm thay đổi được mái tóc, được vẻ bên ngoài của con người chứ không thể thay đổi được những nét bên trong, nét quê ẩn chứa trong ông. Ta thấy tình cảm của ông đối với quê hương thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao nhiêu. Bởi ta biết rằng ông từng làm quan to trong triều đình, được bao người trọng vọng, ở một môi trường như thế con người rất dễ thay đổi, thực tế không ít người quay lưng lại với quê hương mình bằng cách thay đổi giọng nói cho phù hợp với nơi đô thị. Hạ Tri Chương quả có một tâm hồn thủy chung, nghĩa tình với quê hương của mình. Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai (Gặp nhau mà chẳng biết nhau Trẻ cười, hỏi: “Khách từ đâu đến làng” Có điều gì đó hóm hỉnh trong câu thơ này khiến ta phải bật cười nhưng dường như đó là một cái cười chẳng trọn vẹn bởi một người con được sinh ra chính từ mảnh đất ấy nay lại được xem như một người khách lạ. Cảnh cũ còn đây nhưng bạn cũ người xưa ai còn ai mất tác giả chẳng biết và dường như chẳng còn ai nhận ra mình nữa, dường như chẳng còn ai nhận ra tác giả là chàng Hạ Tri Chương năm xưa đã sinh ra từ ngôi làng này. Họ ngỡ đâu khách lạ về thăm làng. Có cái gì đó thật nghịch lí, người của làng mà lại trở thành khách lạ. Trẻ con hồn nhiên chào hỏi: có phải là khách lạ tờ phương xa đến. Đọc những câu thơ này, ta có thể tưởng tượng một người đàn ông đứng lạc lõng giữa làng, khuôn mặt vừa vui mừng, sung sướng vì được đứng trên mảnh đất thân yêu nhưng lại vừa thoáng nét buồn vì những người qua lại chẳng ai để tâm đến, một cảm giác thất vọng, hẫng hụt của tác giả khi đứng giữa quê mình. Bao năm xa quê mong ngày trở lại thăm quê vậy mà khi đứng trên mảnh đất thân yêu của mình thì dường như tất cả không còn là của mình nữa. Song thực ra điều đó cũng là tất nhiên bởi thời gian mà Hạ Tri Chương xa quê đâu phải vài ngày, vài năm mà đã hơn nửa thế kĩ, vì vậy người trẻ không biết là lẽ thường tình. Dẫu vậy bài thơ cũng giúp ta thấy được tình cảm chân thành, thủy chung của tác giả, một người đã từng có danh vọng cao sang nhưng vẫn không quên được tình cảm với cố hương. Đó là một con người đáng trân trọng. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng có câu thơ nói về tình cảm của người xa quê. Mai về, dù bạc tóc anh cũng về. Tình cảm quê hương là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người và tác phẩm “Hồi hương cố tri” của Hạ Tri Chương là một bài thơ rất hay, tất cả tấm lòng nhà thơ được gói gọn trong bốn câu thơ đầy ý nghĩa. Tác giả đã rất thành công khi sử dụng thủ pháp nghệ thuật như tiểu đối hay tính hàm xúc nói ít gợi nhiều. Bài thơ đã giúp người đọc thấu hiểu hơn tâm trạng của người khách li hương. Bài thơ khép lại nhưng vẫn để lại dư âm khó quên trong lòng người đọc.
Express your feelings about the poem Randomly written on the occasion of returning home Instruct Opening: -Brief introduction about the author and work -My initial impression of the text. Body of the article: -Explain your feelings about the author - an 86-year-old mandarin who returned from the capital to visit his old hometown after a lifetime away from home. -Thoughts about Ha Tri Chuong's feelings when he first set foot on his homeland. -The effect of dharma in recounting events: going - coming back, describing voice and hair. - Feeling sad because I became an unwilling guest in my homeland. -Shows the author's sincere love for his homeland. End: The lesson about love for the homeland that the poem has brought to me. Refer to the assignment here He Zhizhang (659-744) was one of the great poets of the Tang Dynasty, he was also a long-time friend of the poet Li Bai. The poem Randomly written on the occasion of returning home is one of the famous poems written on the topic of love for one's homeland. The poem is short but clearly shows the earnest feelings and feelings of a son who has returned from his homeland after several decades. Perhaps in every person's life, the thing that makes them the saddest and most anxious is having to live far from home. But it would be even sadder if I had to leave my hometown for decades and not be able to return once. At the end of your life, if you are lucky enough to return to visit your hometown, perhaps no one will remember you. Standing in the middle of your hometown, no one will recognize you, people will think that you are a stranger to the village. And Ha Tri Chuong fell into that situation. At the beginning of the poem, the author writes: (Young people go, old people come back home) The poem talks about a contrasting situation, the day Ha Tri Chuong left and the day he returned. In human life, leaving or returning will just be normal trips if people go for a few days or a few years, but it will be a problem if the time of departure lasts for decades. On the day he left, Ha Tri Chuong was still very young and by the day he returned he had become an old man. A long period of time is enough to make a grateful person like the poet miss his hometown to such an extent. Perhaps we can also understand that it is a strong nostalgia for home, even though his life in the days away from home was full and prosperous. The affection and attachment to the homeland is expressed in the next sentence. The smell of the smell is indescribable (Country voice unchanged, misty hair) He has been away from home for decades, but his feelings for his homeland still remain. That is shown in the hometown accent he still retains. Maintaining a hometown accent for people who have been away from home for decades is an extremely valuable thing. In fact, in life, there are many people who are far from home and it seems they will change everything from their voice to their style of gestures, but with Ha Tri Chuong, that never happened. It proves that he has never forgotten the place where he was born, gave him a life, where there are so many memories, a mother who raised him with sweet milk, lulled him with loving, passionate songs. ...So time can only change a person's hair and outer appearance, but cannot change the inner features and country features hidden within him. We see how precious and respectful his feelings for his homeland are. Because we know that he used to be a high-ranking mandarin in the royal court and was respected by many people. In such an environment, people are very changeable. In fact, many people turned their backs on their homeland by changing their accent. suitable for urban areas. Ha Tri Chuong indeed has a loyal soul and gratitude towards his homeland. Children have similar views and are not aware of each other Tieu question: Guests from the same country (Met each other but don't know each other The child smiled and asked: "Where do guests come from to the village?" There is something humorous in this verse that makes us laugh, but it seems to be an incomplete laugh because a child born from that land is now considered a stranger. The old scene is still here, but old friends and acquaintances are still here. The author doesn't know and it seems like no one recognizes him anymore. It seems like no one recognizes the author as the guy Ha Tri Chuong who was born in the village in the past. This. They thought that strangers were coming to visit the village. There is something truly paradoxical: people from the village become strangers. Children innocently greet: are they strangers from far away? Reading these verses, we can imagine a man standing lost in the middle of the village, his face is both happy and happy because he is standing on his beloved land but also has a hint of sadness because there are no people passing by. Pay attention to the author's feeling of disappointment and loss when standing in the middle of his hometown. For many years away from home, I longed to return to visit my hometown, but when I stood on my beloved land, it seemed like everything was no longer mine. But actually that is also natural because the time that Ha Tri Chuong was away from home was not a few days or a few years but more than half a century, so it is normal for young people to not know. However, the poem also helps us see the sincere and faithful feelings of the author, a person who once had high fame but still did not forget his feelings for his homeland. That is a respectable person. Poet To Huu also once wrote a poem about the feelings of people far from home. Come back tomorrow, even if you have gray hair, you'll still come back. The love for the homeland is a sacred feeling for every person and the work "Returning to the Old Friends" by Ha Tri Chuong is a very beautiful poem, all the poet's heart is encapsulated in four meaningful verses. . The author has been very successful when using artistic techniques such as diminutives or conciseness, saying less and evoking more. The poem helps readers better understand the feelings of the exiled guest. The poem ends but still leaves an unforgettable echo in the reader's heart.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải. Bài làm Trần Quang Khải (1241 – 1294) là con thứ ba của vua Trần Thánh Tông. Ông được phong chức thượng tướng vì có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông (1284 – 1287) và là một trong những anh hùng đã đem tài thao lược làm nên chiến công Chương Dương, Hàm Tử lừng lẫy muôn đời. Trần Quang Khải không chỉ là một võ tướng kiệt xuất mà còn là một thi sĩ tài hoa. Bài thơ Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) được sáng tác trong hoàn cảnh thượng tướng cùng đoàn tùy tùng đi đón hai vua Trần (vua cha Trần Thánh Tông và vua con Trần Nhân Tông) về Thăng Long sau khi kinh đô được giải phóng. Sau đây là nguyên tác bằng chữ Hán: Tụng giá hoàn kinh sư Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử giang san. Dịch ra thơ tiếng Việt: Phò giá về kinh Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. (Trần Trọng Kim dịch) Hình thức bài thơ tuy ngắn gọn, cô đúc nhưng đã thể hiện được hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Tác giả đã ghi lại hai chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt vào xuân – hè năm Ất Dậu 1285: Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. (Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù.) Chương Dương là bến sông nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (cũ), nay là Hà Tây. Chiến thắng Chương Dương diễn ra vào tháng 6 năm Ất Dậu (1285) do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm Tử là địa danh ở tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Chiến thắng Hàm Tử vào tháng 4 cùng năm do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Trần Quang Khải. Đây là những trận Thủy chiến dữ dội nổ ra trên chiến tuyến sông Hồng. Trận Hàm Tử diễn ra vào tháng 4, tướng Trần Nhật Duật chém được Toa Đô. Hai tháng sau, Trần Quang Khải đại thắng giặc Nguyên – Mông tại Chương Dương độ. Hàng vạn tên lính xâm lược phần bị tiều diệt, phần bị bắt làm tù binh. Quân ta chiếm được nhiều chiến thuyền, vũ khì và lương thảo của giặc. Hai câu thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với nhịp thơ nhanh, gấp và các động từ biểu thị động tác mạnh mẽ, dứt khoát (đoạt: cướp lấy; cầm: bắt) thể hiện nhịp độ dồn dập, sôi động, quyết liệt của chiến trận. Tác giả không dừng lâu ở những chiến công và cũng không tỏ ra say sưa với chiến thắng nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh vô bờ toát lên từ âm hưởng của bài thơ. Mùa hè năm Ất Dậu là một mốc son trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hiện thực sôi động đã truyền cảm hứng vào những Vần thơ hùng tráng khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. Chiến thắng Chương Dương diễn ra sau nhưng lại được nói đến trước là do nhà thơ đang sống trong không khí hào hùng của chiến tháng Chương Dương vừa diễn ra. Kế đó, nhà thơ làm sống lại không khí sôi động của chiến thắng Hàm Tử trước đó chưa lâu. Hai chiến công Chương Dương độ và Hàm Tử quan đã làm thay đổi cục diện thê trận của quân ta. Từ chỗ rút lui chiến lược, quân ta đã tiến lên phản công như vũ bão. Mới ngày nào, 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt sang cướp phá nước ta. Kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa ngút trời. Hai mũi tấn công của giặc từ Nam Quan đánh xuống, từ Chiêm Thành đánh ra, kẹp lại như hai gọng kìm sắt. Vận nước lúc đó như “chỉ mành treo chuông” nhưng với tài thao lược của các vị danh tướng, quân ta đã lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu đánh mạnh. Với chiên thắng Chương Dương và Hàm Tử, quân ta đã giáng sấm sét xuống đầu lũ giặc phương Bắc hung hăng, ngạo mạn. Kinh thành Thăng Long được giải phóng. Quân xâm lược đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử giang san. (Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu.) Đây là lời vị thượng tướng động viên dân chúng hãy bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong hòa bình và tin tưởng sắt đá vào sự bền vững muôn đời của Tổ quốc. Danh tướng Trần Quang Khải vừa từ chiến trường trở về, áo bào còn vương mùi thuốc súng, chưa kịp nghỉ ngơi đã lo ngay đến nhiệm vụ trước mắt cũng như kế sách lâu dài cho quốc gia, dân tộc. Ông nhấn mạnh: Trong thời bình, mọi người cần phải dốc hết sức lực để xây dựng non sông. Nước mạnh, dân giàu thì mới đánh tan được tham vọng ngông cuồng của giặc ngoại xâm, đồng thời chủ quyền độc tập mới được gìn giữ lâu dài. Điều đó chứng tỏ Trần Quang Khải vừa là một chiến tướng, vừa là một vị đại thần có tài kinh bang tế thế, luôn đặt trách nhiệm với dân, với nước lên hàng đầu. Ngôn ngữ bài thơ Phò giá về kinh rất giản dị nhưng ý tưởng chứa đựng bên trong thật lớn lao. Khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng thì vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức (Trần Quốc Tuấn). Trong hòa bình, từ vua quan đến tướng sĩ, từ vương hầu đến chúng dân, ai cũng phải tu trí lực để đất nước Đại Việt được trường tồn. Câu thơ hàm chứa một tư tưởng vĩ đại, cho thấy tầm nhìn xa rộng và sáng suốt của Trần Quang Khải. Tương tự như bài Sông núi nước Nam, bài thơ Phò giá về kinh cũng thể hiện lòng yêu nước theo kiểu mộc mạc, tự nhiên nhưng mạnh mẽ, hào hùng. Hai bài thơ đều phản ánh bản lĩnh vững vàng, khí phách hiên ngang của dân tộc ta. Một bài nêu cao chủ quyền độc lập thiêng liêng, khẳng định nước Nam là của vua Nam, không kẻ nào được phép xâm phạm, nếu cố tình xâm phạm tất sẽ chuốc lấy bại vong. Một bài thể hiện khí thế hào hùng và bày tỏ khát vọng xây dựng, phát triển đất nước trong hòa bình với niềm tin đất nước sẽ bền vững nghìn thu. Bài Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một kiệt tác trong thơ văn cổ. Ý thơ hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ thơ giản dị, gợi cảm. Bài thơ thể hiện niềm tự hào to lớn về sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta và làm sống lại những năm tháng hào hùng đánh đuổi quân xâm lược Nguyên – Mông. Đồng thời nó nhắc nhở mỗi người Việt Nam phải biết nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và dựng xây đất nước thanh bình, giàu đẹp, bền vững muôn đời.
Topic: Please write an essay expressing your feelings about the poem "Pho Gia on Kinh" by Tran Quang Khai. Assignment Tran Quang Khai (1241 - 1294) was the third child of King Tran Thanh Tong. He was promoted to the rank of lieutenant general for his great contributions in the two resistance wars against the Yuan - Mongols (1284 - 1287) and was one of the heroes who used his strategic skills to create the eternally famous victories of Chuong Duong and Ham Tu. . Tran Quang Khai is not only an outstanding martial artist but also a talented poet. The poem "Pho Gia returning to the capital" was composed in the context of the prime minister and his entourage going to welcome the two Tran kings (father King Tran Thanh Tong and son Tran Nhan Tong) back to Thang Long after the capital was restored. liberated. The following is the original work in Chinese: Chanting the price of the Sutra Sutra Winning the flute of Chuong Duong Do, Cam Ho Ham Tu Quan. Peaceful practice and effort, Thousands of years ago, the rivers and rivers were tested. Translated into Vietnamese poetry: Price support to the capital Chuong Duong stole the enemy's spear, Ham Tu captured the enemy. Peace should strive, That country is thousands of years old. (Translated by Tran Trong Kim) Although the poem's form is brief and concise, it shows the victorious spirit and great aspirations of our nation in the Tran dynasty. The author recorded two resounding victories of the Dai Viet army and people in the spring and summer of At Dau year 1285: Winning the flute of Chuong Duong Do, Cam Ho Ham Tu Quan. (Chuong Duong robbed Ham Tu's spear to capture the enemy.) Chuong Duong is a river wharf located on the right bank of the Red River, in Thuong Tin district, Ha Dong province (formerly), now Ha Tay. The Chuong Duong victory took place in June of the year At Dau (1285) directly commanded by Tran Quang Khai. Ham Tu is a place on the left bank of the Red River, in Khoai Chau district, Hung Yen province. The Ham Tu victory in April of the same year was led by General Tran Nhat Duat with the strong support of Tran Quang Khai. These were fierce naval battles that broke out on the Red River front line. The Battle of Ham Tu took place in April, and General Tran Nhat Duat beheaded Toa Do. Two months later, Tran Quang Khai defeated the Mongol invaders at Chuong Duong Do. Tens of thousands of invading soldiers were partly destroyed and partly taken prisoner. Our troops captured many warships, weapons and food from the enemy. Two quatrains with a fast, urgent rhythm and verbs denoting strong, decisive movements (grabbing: snatching; holding: capturing) express the intense, exciting, and fierce pace of battle. battle. The author does not dwell long on the victories and does not appear to be intoxicated with victory, but we can still feel the boundless excitement and pride emanating from the poem's sound. The summer of At Dau year was an important milestone in the nation's history of fighting foreign invaders. The vibrant reality inspired the majestic poems, giving the poem an epic flavor. The poet used lists and parallelism to highlight two strategic historical events. The Chuong Duong victory took place later but was mentioned first because the poet was living in the heroic atmosphere of the Chuong Duong battle that had just taken place. Next, the poet revived the exciting atmosphere of the Ham Tu victory not long ago. The two victories of Chuong Duong Do and Ham Tu Quan changed the situation of our army. From a strategic retreat, our army launched a counterattack like a storm. Just a few days ago, 500,000 Yuan troops led by Thoat Hoan rushed to pillage our country. Thang Long citadel was engulfed in sky-high smoke and fire. The enemy's two attacks came down from Nam Quan and from Champa, clamped together like two iron pincers. The country's fortunes at that time were like "hanging on the curtain" but with the strategic skills of famous generals, our army used short soldiers to form long battles, using weakness to attack strongly. With the victories of Chuong Duong and Ham Tu, our army brought down thunder and lightning on the heads of the aggressive and arrogant Northern enemies. Thang Long citadel was liberated. The invaders have been wiped out of our country. Peaceful practice and effort, Thousands of years ago, the rivers and rivers were tested. (Peace should strive, That country is thousands of years old.) These are the words of the general encouraging the people to immediately embark on the work of building and developing the country in peace and have unwavering faith in the eternal sustainability of the Fatherland. Famous general Tran Quang Khai had just returned from the battlefield, his robe still smelling of gunpowder. Before he could rest, he immediately took care of the immediate tasks as well as long-term plans for the country and people. He emphasized: In times of peace, everyone needs to devote all their strength to building rivers. Only if the country is strong and the people are rich can it defeat the extravagant ambitions of foreign invaders, and only then can exclusive sovereignty be preserved for a long time. This proves that Tran Quang Khai is both a war general and a great mandarin with great economic talent, always putting responsibility to the people and the country first. The language of the poem "Pho Gia on Kinh" is very simple, but the ideas contained within are great. When the Fatherland faced the threat of invasion, the king and I agreed, brothers were in harmony, and the whole country contributed (Tran Quoc Tuan). In peace, from kings to generals, from princes to the people, everyone must cultivate wisdom so that the country of Dai Viet can survive. The poem contains a great thought, showing Tran Quang Khai's far-sighted and lucid vision. Similar to the poem "Rivers and Mountains of the South", the poem "Pho Gia Returning to the Capital" also expresses patriotism in a simple, natural but strong and heroic way. The two poems both reflect the steadfast courage and courageous spirit of our nation. An article upholding the sacred sovereignty and independence, affirming that the country of the South belongs to the King of the South, no one is allowed to violate it, and if they intentionally violate it, they will surely bring defeat. An article expressing heroic spirit and expressing the desire to build and develop the country in peace with the belief that the country will be sustainable for thousands of years. Tran Quang Khai's Essay on Sutras is a masterpiece in ancient poetry. The poetic meaning is concise and concise, the poetic language is simple and evocative. The poem shows great pride in the victorious strength of our nation and revives the heroic years of expelling the Yuan-Mongol invaders. At the same time, it reminds every Vietnamese person to raise their sense of civic responsibility in protecting and building a peaceful, beautiful, and sustainable country forever.
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. I. DÀN Ý 1. Mở bài: – Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên ngăn cách giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Đây cũng là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng. – Rất nhiều thi sĩ đã làm thơ tả cảnh đèo Ngang, trong đó nổi tiếng nhất là bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. – Tác giả sáng tác bài thơ này trong dịp từ Thăng Long vào Huế để nhậm chức Cung trung giáo tập (nữ quan dạy dỗ nghi lễ cho các cung nữ). – Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm trạng cô đơn và hoài niệm về một thời đại phong kiến huy hoàng đã qua, không bao giờ trở lại. 2. Thân bài: * Hai câu đề: + Câu thứ nhất: Bước tới đèo Ngang bóng xế tà. – Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống. – Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ. + Câu thứ hai: cỏ cây chen đá, lá chen hoa. – Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối: cỏ cây chen đá lá chen hoa. – Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước. * Hai câu thực: – Đảo ngữ trong câu đặc tả dáng vẻ mấy tiều phu kiếm củi sườn núi, nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. + Câu thứ tư: Lác đác ven sông chợ mấy nhà. – Hình ảnh ngôi chợ là bộ mặt của cuộc sống một vùng nhưng ở đây, chợ chỉ là vài túp lều tranh xiêu vẹo ven sông. – Không khí vắng vẻ, quạnh hiu bao trùm lên cảnh vật. * Hai câu luận: + Câu thứ 5: Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc. – Tiếng cuốc kêu khắc khoải lúc chiều buông càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng. – Có thể là tiếng cuốc kêu mà cũng có thể là tiếng vọng từ trong tâm tưởng hoài cổ của nữ sĩ đang nuối tiếc thời đại huy hoàng đã qua, thể hiện nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai. – Nghệ thuật đối câu (câu 5 >< câu 6) rất chỉnh, kết hợp với lối chơi chữ đồng âm khác nghĩa tài tình (cuốc cuốc = quốc quốc); gia gia = quốc gia (nước nhà), tô đậm ý nghĩa tượng trưng của hai câu luận. – Điều băn khoăn lớn nhất của nữ sĩ không ngoài chuyện của quốc gia, của thời đại. * Hai câu kết: + Câu thứ 7: Dừng chân đứng lại, trời, non, nước. – Cảnh đẹp của đèo Ngang thật hùng vĩ, khiến nữ sĩ phải đừng chân để chiêm ngưỡng, để thu nhận vẻ đẹp kì diệu ấy vào tâm hồn. + Cậu thứ 8: Một mảnh tình riêng ta với ta. – Nét tương phận càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người. – Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có ta với ta mà thôi. – Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối tiếc. 3. Kết bài: – Qua đèo Ngang được đánh giá là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ. – Thể thơ Đường luật sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngữ trong sáng và những hình ảnh dân dã, quen thuộc. – Bài thơ có sức sống vĩnh cửu trước thời gian và trong lòng nhiều thế hệ yêu thơ.
Topic: Write an essay expressing your feelings about the poem Crossing Ngang Pass by Ba Huyen Thanh Quan. I. OUTLINE 1. Introduction: – Ngang Pass is the natural boundary separating Ha Tinh and Quang Binh provinces. This is also a famous natural landscape. – Many poets have written poems describing the scenery of Ngang Pass, the most famous of which is the poem Crossing Ngang Pass by Ba Huyen Thanh Quan. – The author composed this poem on the occasion of going from Thang Long to Hue to take up the position of Cung Trung Giao Tap (a female mandarin who teaches rituals to palace maids). – Behind the landscape painting is a feeling of loneliness and nostalgia for a glorious feudal era that has passed, never to return. 2. Body of the article: * Two questions: + The first sentence: Go to Ngang pass, the shadow is fading. – The moment the female artist arrived at Ngang Pass, dusk began to fall. – Scenery can easily evoke sadness in the traveler's heart. + Second sentence: grass and trees overlap rocks, leaves overlap flowers. – Describe the wild, vibrant natural scenery of Ngang Pass through the adjective chen and two opposite clauses: grass, trees, stones, leaves, flowers. – The scene is beautiful but still tinged with the dull, lonely color of a mountainous region. * Two real sentences: – The anagram in the sentence describes the appearance of the woodcutters gathering firewood on the mountainside, emphasizing the smallness and meagerness of humans in front of the majestic nature. + Fourth sentence: There are a few houses scattered along the riverside. – The image of the market is the face of life in a region, but here, the market is just a few ramshackle thatched huts along the river. – A deserted, lonely atmosphere covers the landscape. * Two essays: + Sentence 5: Remembering the water hurts the hoe. - The sound of the hoe making an anxious sound in the late afternoon makes the space even more quiet. – It could be the sound of a hoe, or it could also be an echo from the nostalgic mind of a female artist who is regretting the past glorious era, expressing a heavy sadness that is difficult to appease. – The art of parallel sentences (sentence 5 >< sentence 6) is very precise, combined with a clever play on words with different homophones and different meanings (hoe hoe = national country); gia gia = country (home country), highlighting the symbolic meaning of the two sentences. – The female artist's biggest concern is not only about the country and the era. * Two concluding sentences: + Verse 7: Stop and stand, sky, mountains, water. – The beauty of Ngang Pass is so majestic that the female artist has to stand still to admire it, to absorb that magical beauty into her soul. + The 8th boy: A piece of love between you and me. – Fate deepens the loneliness and sadness in people's hearts. – Sadness cannot be shared, so it coalesces in the heart into a separate piece of love, only you and me. – The sound and rhythm of the verse are like a sigh of sadness and regret. 3. Conclusion: – Through Ngang Pass is considered an excellent poem, showing the female poet's talent and love for the mountains and country. – The luxurious Tang luat poetry form has become close and easy to understand thanks to its clear language and familiar, rustic images. – Poems have eternal vitality before time and in the hearts of many generations of poetry lovers.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang Hướng dẫn Việt Nam có rất nhiều con đèo nổi tiếng như Đèo Hài Vân, Đèo Cả, Đèo Phương Hoàng… nhưng nổi bật nhất vẫn là Đèo Ngang vì nó được đi vào thơ ca, được các thế hệ nhắc đến nhờ bài thơ “Qua Đèo Ngang”, một trong sáu bài thơ Đường luật còn lưu lại cho đến ngày nay của nữ thi sĩ tài danh Nguyễn Thị Hĩnh, còn được người đời biết đến qua tên gọi Bà Huyện Thanh Quan. Với những vần thơ trữ tình, in sâu vào lòng người đọc, người nghe nỗi xúc dộng lẫn thán phục, bài thơ đã miêu tả cảnh vật con đèo cũng như tâm trạng của mình khi đi từ Thăng Long vào kinh đô Huế nhậm chức. Những vần thơ ấy dược lưu truyền lại như sau: “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bèn sông, chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Dùng chân đúng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta ” Cảnh tượng Đèo Ngang hiện lên qua thời gian và không gian trong hai câu “Đề” như sau: “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa ” Nhà thơ dừng chân tại Đèo Ngang vào lúc xế tà. Việc sử dụng hình ảnh bóng chiều vào câu thơ có tác dụng giúp người đọc, người nghe cảm thấy bồi hồi xao xuyến vì đây là lúc mặt trời khuất núi, vương lại những tia nắng vàng rượm rồi tắt hẳn. Buổi xế tà là quãng thời gian các nhà văn, nhà thơ thường dùng để diễn tả nỗi buồn, nỗi trống vắng như nhà thơ Nguyễn Du đã viết: “Buồn trông cửa bể chiều hôm.” Hoặc Trần Nhân Tông đã ghi lại trong bài Thiên Trường vãn vọng: “Bóng chiều man mác có dường không.” Việc sử dụng buổi chiều đã phản ánh được tâm sự chất chứa trong lòng tác giả về một nỗi buồn hữu hữu vô vô. Nỗi buồn càng tăng lên khi cảnh vật ở đây có đá, lá hoa chen chúc nhau mọc lên tạo thành một cảnh tượng hoang dã, không có bàn tay chăm sóc của con người. Hình ảnh này cũng đã in sâu vào tâm trí em cảm xúc yêu thương quê hương và từ đó thấu hiểu hơn nỗi nhớ nhà thiết tha của tác giả khi phải rời quên đến một nơi xa lạ. “Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.” Dưới ngòi bút của nhà thơ, cảnh vật con đèo hiện lên thật cụ thể, sinh động! Cụ thể ở chi tiết vài chú tiều phu lom khom đốn củi dưới núi, còn bên kia sông lác đác, thưa thớt một vài căn nhà đơn sơ. Bà Huyện Thanh Quan đã thành công trong việc sử dụng biện pháp đảo ngữ. Từ “lom khon” được dưa lên trước nhằm diễn tả cảnh Đèo Ngang tuy có sự sống của con người nhưng người thì lại vừa không thấy mặt vừa không gặp được để trò chuyện. Còn nhà dân thì ở bên kia sông, đồng thời lại thưa thớt vài căn nên có cũng như không. Chính điều này càng làm tăng thêm nỗi buồn cho nhà thơ. Tâm sự của tác giả càng lúc càng rõ nét qua hai câu “luận”: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.” Bức tranh phong cảnh ở Đèo Ngang chẳng những có màu sắc của cảnh vật mà còn trở nên da diết với âm thanh của các loài chim như con chim quốc, con chim da đa… Tiếng chim quốc như nhắc nhở mọi người về điển tích vua Thục Đế hoá thành con chim quốc để luôn nhớ đến nỗi đau mất nước của mình. Em thật khâm phục nghệ thuật đối ý, đối lời trong hai câu thơ này vì khi ghép lại với nhau, người dọc nhận ra ngay dược tâm sự của nhà thơ “Nhớ thương nước nhà, quốc gia quốc gia”. “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.” Đứng trước cảnh trời cao vời vợi, núi non trùng điệp, sông nước mênh mông, bất cứ ai cũng cảm thấy nhỏ bé, mong manh… Nhà thơ như thu mình lại, chôn giấu sự trống vắng trong tận cõi lòng. “Ta với ta” thể hiện rõ cảm xúc khắc khoải của nhà thơ: tuy một mà hai, tuy mắt ngắm nhìn cảnh thiên nhiên ở con dèo nhưng lòng lại nặng trĩu nhớ về quê nhà không biết bao giờ trở lại. Tâm trạng u buồn này khác hẳn với niềm vui của nhà thơ Nguyễn Khuyên khi sử dụng cụm từ “Ta với ta” trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” vì tuy hai người nhưng cùng một tấm lòng, một tình bạn chân thật. Câu kết của bài thơ như một sợi dây liền mạch, nối xuyên suốt cả bài thơ tạo cho người đọc một cảm xúc day dứt, khó quên. Bài thơ Qua Đèo Ngang đã thành công khi chuyển tải được tâm sự u buồn của Bà Huyện Thanh Quan, đồng thời lồng ghép vào đó là cảnh tượng thiên nhiên rất thực, rất sinh động của một con đèo nổi tiếng trong thơ ca và trong lịch sử nước ta. Bài thơ không chỉ thành công về mặt ý nghĩa mà còn rất chỉnh chu trong việc dùng từ, tạo câu thật đặc sắc gây thích thú cho người đọc, người nghe. Các em có thể xem thêm bài: Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang và cách lập dàn ý chi tiết bài thơ.
Express your thoughts about the poem Qua Deo Ngang Instruct Vietnam has many famous passes such as Hai Van Pass, Ca Pass, Phuong Hoang Pass... but the most prominent is still Ngang Pass because it is included in poetry, mentioned by generations thanks to the poem "Through Ngang Pass ", one of the six Tang Luat poems preserved to this day by the talented female poet Nguyen Thi Hinh, also known by the name Ba Huyen Thanh Quan. With lyrical verses that leave a deep impression on the hearts of readers and listeners with both emotion and admiration, the poem describes the scenery of the pass as well as his mood when going from Thang Long to the capital Hue to take office. These poems were passed down as follows: “Step to Ngang Pass, the sunset, Chen stone plants, leaves flowers chen. Crouching under the mountain, making a few notes, There are a few houses along the river and market. Missing my country makes me sad, Trade the mouth so adhered fatigue. Use your feet to correct the sky, mountains, water, A piece of me with my own situation " The scene of Ngang Pass appears through time and space in two sentences "Deo" as follows: “Step to Ngang Pass, the sunset, Chen stone plants, leaves flowers chen " The poet stopped at Ngang Pass in the late afternoon. Using the image of the afternoon shadow in the poem has the effect of helping readers and listeners feel excited because this is the time when the sun sets behind the mountain, leaving behind golden rays of sunlight and then disappears completely. Late afternoon is a time that writers and poets often use to express sadness and emptiness as poet Nguyen Du wrote: "Sadly looking at the sea door in the afternoon." Or Tran Nhan Tong recorded in the article Thien Truong Vows: "The shadow of the afternoon seems empty." The use of afternoon reflects the feelings contained in the author's heart about a sadness that exists and does not exist. The sadness increases when the landscape here has rocks, leaves and flowers growing together, creating a wild scene, without human hands to care for it. This image also imprinted in my mind the feeling of love for my homeland and from there I better understood the author's intense homesickness when having to leave for a strange place. "Hoop down under the mountain, cry a few times, Few sporadic riverside home market." Under the poet's pen, the scenery of the pass appears very specific and vivid! Specifically, there are a few woodcutters crouching down to chop firewood under the mountain, while on the other side of the river there are a few simple houses. Ms. Huyen Thanh Quan was successful in using anagrams. The word "lom khon" is mentioned first to describe the scene where Ngang Pass has human life, but people are neither visible nor meet to talk. As for the people's houses, they are on the other side of the river, and at the same time, there are only a few houses, so it's almost impossible to have them. This makes the poet even more sad. The author's feelings become increasingly clear through two "essay" sentences: “It hurts to miss my country, Trade the mouth so adhered fatigue." The landscape painting at Ngang Pass not only has the colors of the scenery but also becomes poignant with the sounds of birds such as the national bird, the partridge... The sound of the national bird seems to remind everyone of the king's legend. Emperor Shu transformed into a national bird to always remember the pain of losing his country. I really admire the art of contrasting ideas and words in these two verses because when put together, the reader immediately recognizes the poet's confession: "Loving for home country, nation." “Stop, stop, sky, mountains, water, A piece of me with my own situation." Standing in front of the towering sky, rolling mountains, vast rivers, anyone feels small and fragile... The poet seems to shrink into himself, burying the emptiness deep in his heart. "Me and Me" clearly shows the poet's anxious feelings: although one is two, although his eyes look at the natural scenery at the pond, his heart is heavy with memories of his homeland, not knowing when he will return. This sad mood is completely different from the joy of poet Nguyen Khuyen when using the phrase "I and I" in the poem "You come to visit" because although the two people have the same heart, a true friendship. The poem's ending line is like a seamless thread, connecting throughout the entire poem, giving the reader a tormenting, unforgettable feeling. The poem Crossing Deo Ngang was successful in conveying the sad feelings of Ba Huyen Thanh Quan, while integrating into it the very real, very vivid natural scene of a famous pass in poetry and in poetry. our country's history. The poem is not only successful in terms of meaning but is also very precise in its use of words, creating unique sentences that interest readers and listeners. You can read more articles: Analyzing the poem Qua Deo Ngang and how to make a detailed outline of the poem.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Bài làm Rằm tháng Giêng năm 1948, trên chiếc thuyền neo đậu giữa một dòng sông ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng và Chính phủ mở một cuộc họp tổng kết về tình hình quân sự của thời kì đầu kháng chiến chống Pháp (1947 – 1948). Cuộc họp tan thì đêm đã khuya. Trăng rằm tỏa sáng khắp mặt đất bao la. Cảnh sông núi trong đêm trăng càng trở nên đẹp đẽ và thơ mộng. Cảm hứng dâng cao, Bác đã ứng khẩu làm bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, tựa đề là Nguyên tiêu: Thu dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân Thủy tiếp xuân thiên. Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. Sau đó, nhà thơ Xuân Thủy dịch bài thơ ra tiếng Việt dưới thể lục bát, với tên là Rằm tháng Giêng. Bản dịch giữ được gần hết ý thơ trong nguyên tác với nội dung thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thiết tha của Bác Hồ. Nếu trong bài Cảnh khuya, Bác tả cảnh trăng đẹp chốn rừng sâu thì ở bài này, Bác tả cảnh trăng trên sông nước: Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng bát ngát khắp bầu trời, mặt đất trong đêm Nguyên tiêu. Khung cảnh mênh mông, tưởng như sông nước tiếp liền với bầu trời: Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vạn vật ăm ắp sức xuân: sông xuân, nước xuân và trời xuân nối tiếp, giao hòa, tạo nên một vũ trụ căng đầy sức sống, làm náo nức lòng người. Điệp từ xuân được lặp lại nhiều lần với ý tạo vật cùng lòng người đều phơi phới khí thế tươi vui. Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. Trên một chiếc thuyền nhỏ giữa chốn mịt mù khói sóng (yên ba thâm xứ). Bác cùng Chính phủ và Trung ương Đảng luận bàn việc quân, việc nước. Công việc trọng đại đến chừng nào, nhất là trong hoàn cảnh buổi đầu kháng chiến đầy thiếu thôn, gian khổ. Tuy vậy, gian khổ không làm vơi đi cảm xúc, thi hứng trong lòng Bác. Buổi họp kết thúc vào lúc nửa đêm. Trăng rằm tròn vành vạnh treo giữa trời (nguyệt chính viên) đang toả sáng. Cảnh sông nước trong đêm lại càng thêm thơ mộng. Dòng sông trở thành dòng sông trăng và con thuyền cũng dường như chở đầy ắp ánh trăng (trăng ngân đầy thuyền). Trước đêm trăng đẹp, tâm hồn Bác lâng lâng. Bác thả hồn hòa nhập với thiên nhiên – mà Bác vốn coi là một người bạn tri âm, tri kỉ. Trong lòng Bác dâng trào một niềm vui, niềm tin vào thắng lợi của Cách mạng, của kháng chiến. Hình ảnh con thuyền chở đầy trăng lướt nhẹ trên dòng sông trăng là một hình ảnh lãng mạn có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Phải có một phong thái ung dung tự tại và niềm lạc quan mãnh liệt vào tương lai thì nhà thơ mới sáng tạo ra được hình tượng nghệ thuật độc đáo trọng một hoàn cảnh đặc biệt như vậy. Bài thơ Rằm tháng Giêng với âm hưởng khỏe khoắn, tươi vui đã đem lại cho người đọc cảm xúc thanh cao, trong sáng. Bài thơ là dẫn chứng tiêu biểu chứng minh Bác Hồ vừa là một lãnh tụ cách mạng tài ba, vừa là một nghệ sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm.
Topic: Please write an essay expressing your feelings about President Ho Chi Minh's poem on the full moon of the first lunar month. Assignment On the full moon day of January 1948, on a boat anchored in the middle of a river in the Viet Bac war zone, President Ho Chi Minh, the Party Central Committee and the Government opened a meeting to summarize the military situation of the early period of the resistance war against the French. (1947 – 1948). The meeting ended and it was late at night. The full moon shines across the vast earth. The scenery of rivers and mountains on a moonlit night becomes even more beautiful and poetic. Inspiration rising, Uncle Ho wrote an impromptu poem written in Chinese characters, titled Nguyen Tieu: Thu Da Nguyen Tieu Nguyet Chinh Vien, Spring springs, spring Water follows spring heaven. Yen ba deep land of military talks, Da semi-returning to the lunar boat. Afterwards, poet Xuan Thuy translated the poem into Vietnamese in six-eight form, with the name Full Moon in January. The translation retains most of the poetic meaning in the original with content expressing Uncle Ho's love of nature and passionate patriotism. If in the article Late Night Scene, Uncle Ho described the beautiful moon scene in the deep forest, then in this article, Uncle Ho describes the moon scene on the river: The spring full moon shines brightly, Spring river, water and sky color add spring. The full moon shines brightly across the sky and ground in the Nguyen Tieu night. The scenery is vast, it seems like the river is connected to the sky: Spring river, water and sky color add spring. All things are full of spring energy: spring river, spring water and spring sky continue and harmonize, creating a universe full of vitality, exciting people's hearts. The message from spring is repeated many times with the idea that creation and human hearts are both filled with a cheerful atmosphere. In the midst of discussing military affairs, Late at dawn moon filled the boat. On a small boat in the middle of a place filled with smoke and waves (Yen Ba Tham Land). Uncle Ho and the Government and the Party Central Committee discussed military and country affairs. How important the work is, especially in the early resistance conditions full of lack of villages and hardships. However, hardship did not lessen the emotions and inspiration in Uncle Ho's heart. The meeting ended at midnight. The full moon hanging in the sky (the main moon) is shining. The river scene at night is even more poetic. The river becomes a moonlit river and the boat also seems to be filled with moonlight (the moon fills the boat). Before the beautiful moonlit night, Uncle Ho's soul was lighthearted. He let his soul mingle with nature - which he considered a close friend and confidant. In Uncle Ho's heart, joy and faith in the victory of the Revolution and the resistance war surged. The image of a boat filled with moonlight gliding gently on the moonlit river is a romantic image with profound symbolic meaning. A poet must have a leisurely and carefree demeanor and strong optimism for the future to create a unique artistic image in such a special situation. The poem Full Moon in January with its strong and cheerful sound gives the reader a noble and pure feeling. The poem is typical evidence proving that Uncle Ho is both a talented revolutionary leader and an artist with an extremely sensitive heart.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng lớp 7 Hướng dẫn Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta, đồng thời là một nhà thơ xuất sắc của nền văn học cách mạng. Bác đã sáng tác bài thơ “Rằm tháng giêng” ở Việt Bắc, trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ chống thực dân Pháp. Bằng ngòi bút trữ tình chứa chan tình cảm, nhà thơ đã gây xúc động cho người đọc, người nghe bằng những câu thơ miêu tả cảnh đẹp đêm trăng, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên gắn liền với lòng yêu nước sâu nặng một cách sinh động như sau: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân, Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.” Bức tranh thiên nhiên thơ mộng trong bài thơ được bắt đầu bằng hình ảnh: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân, ” Câu thơ như gợi cho em lòng yêu thích cảnh đẹp thiên nhiên ở Việt Bắc: khung cảnh bầu trời cao rộng, trong trẻo, nổi bật trên bầu trời ấy là vầng trăng tròn đầy, toả sáng xuống khắp trời đất trong đêm rằm tháng giêng. Từ “xuân” được lặp đi lặp lại đã nhấn mạnh sự diễn tả vẻ đẹp và sức sống mùa xuân đang tràn ngập cả đất trời vào một đêm trăng. Hình ảnh này gợi cho em nhớ tới câu thơ tương tự của Bác khi vẽ cảnh đẹp này: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.” “Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.” Đọc đến đây, lòng em bỗng dâng lên niềm cảm phục, kính yêu đối với Bác. Mặc dù phải ngày đêm lo nghĩ việc nước, nhiều đêm không ngủ, nhưng không phải vì thế mà tâm hồn Người quên rung cảm trước vẻ đẹp của một đêm trăng rừng, một tiếng suôi trong chảy nghe như “tiếng hát xa”, hay cảnh trời nước bao la dưới ánh trăng rằm tháng giêng. Câu thơ thể hiện sự bình tĩnh, chủ động, lạc quan ở vị lãnh tụ. Phong thái ấy toát ra từ những rung cảm tinh tế và dồi dào trước thiên nhiên, đất nước. Phong thái ung dung, lạc quan còn thể hiện ở hình ảnh con thuyền của vị lãnh tụ và các đồng chí sau lúc bàn bạc việc quân trở về, lướt đi phơi phới, chở đầy ánh trăng giữa không gian của cảnh trời nước bao la dường như cũng ngập tràn ánh trăng. Phong thái ấy được toát ra từ giọng thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại, khoẻ khoắn, trẻ trung. Đọc xong bài thơ với niềm cảm xúc dạt dào, em rất khâm phục lãnh tụ Hồ chí Minh vì qua bài “Rằm tháng giêng”, nhà thơ đã để lại cho đời những câu thơ tuy đơn sơ, giản dị nhưng giàu tình ý, giàu tính nghệ thuật độc đáo của thơ hiện đại nhưng rất đậm màu sắc cổ điển. Em càng khâm phục hơn nữa khi nhà thơ đã làm rung động người đọc, người nghe về hình ảnh của Bác, một nhà thơ có tâm hồn nghệ sĩ hoà hợp thống nhất với cốt cách của người chiến sĩ, vị lãnh tụ.
Express your thoughts about the full moon poem in January for grade 7 Instruct Ho Chi Minh is our beloved leader and an excellent poet of revolutionary literature. He composed the poem "Full Moon of the First Month" in Viet Bac, during the early period of the difficult and arduous resistance war against the French colonialists. With a lyrical pen filled with emotion, the poet touched readers and listeners with verses describing the beautiful moonlit night scene, while expressing a love of nature associated with a deep patriotism. vividly as follows: “On the full moon of spring, the moon shines brightly, Spring river, water and sky color add spring, In the midst of discussing military affairs, Late at dawn moon filled the boat." The poetic picture of nature in the poem begins with the image: “On the full moon of spring, the moon shines brightly, The river springs, the water mixes with the color of the sky, adding spring." The poem reminds me of my love for the natural beauty of Viet Bac: the sky is high, wide, clear, and prominent in that sky is the full moon, shining down on the whole sky and earth on the full moon night of January. . The repeated word "spring" emphasizes the description of the beauty and vitality of spring that is filling the earth and sky on a moonlit night. This image reminds me of Uncle Ho's similar verse when painting this beautiful scene: "The moon cage of an ancient tree shadows the cage of flowers." “In the midst of discussing military affairs, Late at dawn moon filled the boat." Reading this, my heart suddenly filled with admiration and love for Uncle Ho. Even though he had to worry about affairs day and night, and many nights without sleep, that did not stop his soul from forgetting to be moved by the beauty of a forest moonlit night, the sound of a clear stream flowing like "distant singing", or Vast landscape of sky and water under the full moon of January. The poem shows calmness, initiative, and optimism in the leader. That style exudes from the delicate and abundant vibes in front of nature and country. The leisurely and optimistic attitude is also shown in the image of the boat of the leader and his comrades, after discussing the return of the troops, sailing happily, filled with moonlight in the space of vast sky and water. It also seemed to be filled with moonlight. That style is exuded by a poetic voice that is both classic and modern, strong and youthful. After reading the poem with great emotion, I admired leader Ho Chi Minh very much because through the poem "Full Moon of the First Month", the poet left behind simple, simple yet richly meaningful verses for the world. Rich in the unique artistry of modern poetry but very rich in classical colors. I admire even more when the poet has moved readers and listeners with the image of Uncle Ho, a poet whose artistic soul is in harmony with the personality of a soldier and leader.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt. Bài làm Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077. Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương. Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột. Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam): Vằng vặc sách trời chìa xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây! Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được. Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận. Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt. Đó không phải là lời nói suông. Chiến dịch tấn công ào ạt của quân ta vào căn cứ của quân cướp nước mấy tháng trước đó là một bằng chứng hùng hồn. Do đó, chân lí nói trên càng có cơ sở thực tế vững chắc. Ngày ấy, triều đình nhà Tống lấy cớ ta dám quấy nhiễu vùng biên ải nên phải dấy binh hỏi tội. Đầu năm 1076, quân ta đã tiêu diệt các căn cứ lương thảo, vũ khí, quân đội… chuẩn bị cho cuộc xâm lược của chúng ngay bên đất chúng. Cho nên chủ tướng họ Lí nhắc lại chân lí này để quân dân nước Nam đang chiến đấu nắm chắc thêm lưỡi gươm giết giặc, mặt khác để vạch trần bộ mặt phi nghĩa của quân thù và đánh mạnh vào tinh thần chúng. Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng. Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập. Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời. Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta. Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Kết quả sẽ ra sao? Đó là chúng mày không chỉ thua, mà thua to và thất bại thảm hại. Mười vạn quân giặc do hai tướng giỏi chỉ huy, quân ta dâu phải dễ đánh bại nhưng, vì hành động của chúng phi nghĩa nên tất yếu chúng sẽ bại vong. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút. Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời. Tính chất chân lí của bài thơ có giá trị vĩnh hằng bởi nó khẳng định chủ quyền độc lập của nước Nam là bất khả xâm phạm. Tác dụng to lớn, mạnh mẽ của bài thơ không chỉ bó hẹp trong hoàn cảnh lúc bấy giờ mà còn kéo dài vô tận. Hơn mười một thế kỉ, quân xâm lược phương Bắc cố tình thôn tính nước ta nhưng dân tộc ta đã đồng lòng đứng lên chiến đấu đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi để bảo vệ chủ quyền ấy. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách đanh thép chân lí độc lập tự do, đồng thời lên án tính chất phi nghĩa của hành động xâm lược cùng sự bại vong tất yếu của kẻ dám ngang ngược xâm phạm chân lí đó. Việc khẳng định lại chủ quyền độc lập của dân tộc ta để đánh tan ý chí xâm lược của bọn cướp nước trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc chiến đấu ác liệt là hết sức cần thiết. Vì lẽ đó mà từ trước tới nay, có nhiều ý kiến cho rằng Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập thành văn thứ nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt. Bài làm Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077. Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương. Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột. Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam): Vằng vặc sách trời chìa xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây! Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được. Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận. Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt. Đó không phải là lời nói suông. Chiến dịch tấn công ào ạt của quân ta vào căn cứ của quân cướp nước mấy tháng trước đó là một bằng chứng hùng hồn. Do đó, chân lí nói trên càng có cơ sở thực tế vững chắc. Ngày ấy, triều đình nhà Tống lấy cớ ta dám quấy nhiễu vùng biên ải nên phải dấy binh hỏi tội. Đầu năm 1076, quân ta đã tiêu diệt các căn cứ lương thảo, vũ khí, quân đội… chuẩn bị cho cuộc xâm lược của chúng ngay bên đất chúng. Cho nên chủ tướng họ Lí nhắc lại chân lí này để quân dân nước Nam đang chiến đấu nắm chắc thêm lưỡi gươm giết giặc, mặt khác để vạch trần bộ mặt phi nghĩa của quân thù và đánh mạnh vào tinh thần chúng. Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng. Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập. Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời. Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta. Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Kết quả sẽ ra sao? Đó là chúng mày không chỉ thua, mà thua to và thất bại thảm hại. Mười vạn quân giặc do hai tướng giỏi chỉ huy, quân ta dâu phải dễ đánh bại nhưng, vì hành động của chúng phi nghĩa nên tất yếu chúng sẽ bại vong. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút. Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời. Tính chất chân lí của bài thơ có giá trị vĩnh hằng bởi nó khẳng định chủ quyền độc lập của nước Nam là bất khả xâm phạm. Tác dụng to lớn, mạnh mẽ của bài thơ không chỉ bó hẹp trong hoàn cảnh lúc bấy giờ mà còn kéo dài vô tận. Hơn mười một thế kỉ, quân xâm lược phương Bắc cố tình thôn tính nước ta nhưng dân tộc ta đã đồng lòng đứng lên chiến đấu đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi để bảo vệ chủ quyền ấy. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách đanh thép chân lí độc lập tự do, đồng thời lên án tính chất phi nghĩa của hành động xâm lược cùng sự bại vong tất yếu của kẻ dám ngang ngược xâm phạm chân lí đó. Việc khẳng định lại chủ quyền độc lập của dân tộc ta để đánh tan ý chí xâm lược của bọn cướp nước trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc chiến đấu ác liệt là hết sức cần thiết. Vì lẽ đó mà từ trước tới nay, có nhiều ý kiến cho rằng Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập thành văn thứ nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt Hướng dẫn Nếu nhắc đến trận đánh oai hùng trên sông Như Nguyệt (sông Cầu ở Bắc Ninh) thì ai cũng nhớ đến vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt. Nhắc đến ông thì không ai có thể không nhắc đến chiến công hiển hách của ông năm 1077 thắng quân Tống. Trận đánh đã đưa ông vào sử sách lưu truyền ngàn đời với bài thơ tuyệt tác làm nức lòng người đọc, người nghe, đó là bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên định đánh đuổi giặc ngoại xâm. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đã truyền tải tấm lòng của tác giả một cách chân thật nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.” Dịch thơ: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở.” Đêm thiêng liêng trên dòng sông Như Nguyệt chợt vang lên lời thơ Thần làm cho tinh thần ba quân, tướng sĩ hứng khởi vì tự hào là con Rồng cháu Tiên, luôn có Thần giúp đỡ. Trong khi đó lời truyền cũng làm cho bọn giặc kinh sợ vỡ mật, mất hết tinh thần chiến đấu. Ớ trong bài thơ này có một điều đặc biệt là trong bản phiên âm từ tiếng Hán, Lý Thường Kiệt đã dùng chữ “dế” để chỉ vua nước ta, coi vua Nam ngang hàng với vua phương Bắc. Đây là sự tự tôn dân tộc mạnh mẽ, mãnh liệt: khẳng định nước Nam là của vua Nam. Thời xưa, với quan niệm phong kiến quân chủ, nước là của vua nên trung thành với vua là trung thành với đất nước “Trung quân, ái quốc”. Ví như mười tám dời vua Hùng thay nhau dựng nước và giữ nước bình yên cho bờ cõi. Thời kì đó đã xuất hiện Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân. Rồi đến Thục Phán đánh đuổi giặc Tần xưng An Dương Vương. Đến ngườị phụ nữ chân yếu tay mềm cũng vùng lên đánh giặc như Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân Hán hay Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân đánh phá quân Ngô. Rồi từ đó nước nam ta dần dần khởi sắc với các đời vua uy nghiêm, lẫm liệt: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), Lý Nam Đế (Lý Bí), Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng), họ Khúc, triều Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê,… Luôn sát cánh bên các vị vua còn có các danh tướng lẫy lừng như Lý thường Kiệt,… Nhờ có những vị vua anh minh, những vị tướng tài ba đã dẫn dắt đất nước được thái bình thịnh trị. Để từ đó nổi lên những chiến công vang dội đem lại nền độc lập cho đất nước. Lời tuyên bố của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng cùng quan điểm non nước Việt Nam ta đã được hoạch định từ ngàn xưa giống như câu thơ “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, qua bao nhiêu thử thách đã hình thành một Việt Nam gấm hoa, thấm đậrn tình đoàn kết dân tộc. Càng ý thức chủ quyền đất nước, càng yêu nước nồng nàn bao nhiêu, nhân dân ta càng căm thù giặc bấy nhiêu. Điều này được thể hiện rõ nét qua hai câu thơ cuối như sau: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư.” Dịch thơ: “Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ.” Kết cục cho bi kịch của việc cướp nước là bọn xâm lược sẽ bị trả đòn trên sông Như Nguyệt. Tiếng ngâm thơ vang vọng hai bên bờ sông áp đảo tinh thần ngạo mạn của bọn xâm lăng. Đồng thời giúp quân ta tăng thêm ngọn lửa hận thù sôi sục lũ giặc Tống cướp nước, tăng thêm quyết tâm vùng lên giành lại non sông, dánh cho lũ giặc tan tành từ đó giữ vững độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước. Với những khổ đau mà giặc phương Bắc gây ra thì một trận đánh hào hùng sẽ mau chóng lấy lại niềm hứng khởi cho toàn dân cùng cất tiếng hoà chung ca khúc khải hoàn, chiến thắng. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đã giúp chúng ta ghi nhớ lịch sử hào hùng của dân tộc, để ta tự hào về cội nguồn của mình, luôn nhớ chủ quyền đất nước là của chúng ta, những người con mang nòi giống “con Rồng cháu Tiên”, trong người chảy dòng máu “Lạc Hồng”. Bài thơ cũng bồi dưỡng tinh thần quyết tâm chống giặc, bảo vệ đất nước, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, yêu đất nước cho người đọc, người nghe. Đề cập đến tuyên ngôn độc lập của nước ta thì bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản đầu tiên cùng với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản thứ hai và tiếp đến là “Bản tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Tất cả đã làm cho nhân dân ta vỡ oà niềm hân hoan, hạnh phúc vì mở ra một trang sử mới. Đây là trang sử của sức mạnh niềm tin vào lẽ phải, chính nghĩa, sức mạnh của tình đoàn kết dân tộc thể hiện qua quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, giữ vững chủ quyền đất nước trước các âm mưu xâm lược của bọn cướp nước. BÀI LÀM 2 Mở bài – Đặt vấn đề: Đất nước Việt là sản phẩm của ‘ Con rồng, Cháu tiên’ ; là sự khai sinh của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tiếng nói của những người con, người cháu của đất nước đó được vang ca mấy nghìn năm. Họ đã sống, đã lao động để bảo vệ cái nôi nơi họ sinh ra – Nhưng rồì bọn quân xâm lược phong kiến phương bắc với tư tưởng bá quyền nước lớn hiển nhiên qua xâm lăng muốn biến dân tộc ta thành dân nô lệ của chúng. Và rồi chúng ta không khoan nhường một giây phút nào nữa, lên tiếng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đất nước! Và bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên ra đời: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. Thân bài – Triển khai: Bài thơ là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy.( được thể hiện rõ qua 2 câu thơ đầu ) + Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là chân lí độc lập bất hủ! “nam quốc sơn hà nam đế cư” + Ý thức tự tôn dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ qua hai từ Nam quốc và Nam đế đầy ẩn ý. Nước nam là của vua và dân nam, không một ai có thể chối cãi nó được ví như hình ảnh mẹ sinh ra con thì con chính là con của mẹ, không thể là con của một ai khác và không ai có quyền cướp con khỏi bàn tay mẹ. + Hiểu và nhận thức được chủ quyền trị vì của dân tộc đất nước của những người dân nước Việt. Thái độ ấy là tư thế của một dân tộc dám kiêu hãnh đứng thẳng làm người, giơ một quả đấm thép giáng thẳng vào bộ mặt kiêu căng ngạo mạn của bọn phong kiến Trung Quốc coi nước khác chỉ là chư hầu của chúng, coi dân tộc khác chỉ là nô lệ của chúng +Lãnh thổ ấy được minh chứng là của con dân việt không chỉ qua việc họ đã xây dựng nên đất nước ấy mà còn có tiền đề đó là “sách trời” đã chia nó từ bấy lâu nay + Ý chí đó được làm rõ qua câu hỏi tu từ “- cớ sao lũ giặc qua xâm phạm”. Đó là một biểu hiện giận dỗi đầy phẫn uất của tác giả, đó cũng là thái độ của con dân việt với lũ cướp nước +Tinh thần bảo vệ tổ quốc được nuôi dưỡng từ sâu trong trái tim của mỗi một người con dân việt khi ý thức rõ lũ phong kiến ngạo mạn, cướp đi cuộc sống bình dị của một đất nước yêu tự do, yêu hòa bình ấy + Câu thơ còn thể hiện thái độ không khoan nhượng, không nhún nhường trước những hành động bạo tàn đó, thể hiện được chí khí, bạo tàn của một người dân yêu nước +Lý Thường Kiệt còn lên tiếng cảnh báo trước những hành vi vô phép tắc của tụi xâm lăng “chúng bây sẽ bị đánh cho tơi bời” sẽ là một kết cục ê chề, thê thảm của chúng. + Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt – Khẳng định tinh thần yêu nước: + Chiến thắng với quân địch là minh chứng cho một sự thật rõ ràng là quân và dân ta có tấm lòng hướng về tổ quốc, đặt vị trí quốc gia lên hàng đầu + Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước. + Đó là tinh thần đoàn kết dân tộc để trừng trị bọn tội đồ cướp nước, bán nước Kết bài – Đánh giá:Tóm lại, bài thơ ‘Nam Quốc sơn hà’ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước đại việt: + Nói về ranh giới chủ quyền quốc gia với những lời lẽ xác đáng, khoa học + Được mọi con dân việt nam lưu truyền trong xã hội, trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác + Giá trị bài thơ gắn với thiên thời- địa lợi- nhân hòa phù hợp với lịch sử nước ta lúc bấy giờ – Bài thơ là khúc anh hùng ca của dân tộc, là tiếng nói đầy quyền uy đối với kẻ thù xâm lược – Bài thơ xứng đáng là áng thơ văn bất hủ
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt Hướng dẫn Nếu nhắc đến trận đánh oai hùng trên sông Như Nguyệt (sông Cầu ở Bắc Ninh) thì ai cũng nhớ đến vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt. Nhắc đến ông thì không ai có thể không nhắc đến chiến công hiển hách của ông năm 1077 thắng quân Tống. Trận đánh đã đưa ông vào sử sách lưu truyền ngàn đời với bài thơ tuyệt tác làm nức lòng người đọc, người nghe, đó là bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên định đánh đuổi giặc ngoại xâm. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đã truyền tải tấm lòng của tác giả một cách chân thật nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.” Dịch thơ: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở.” Đêm thiêng liêng trên dòng sông Như Nguyệt chợt vang lên lời thơ Thần làm cho tinh thần ba quân, tướng sĩ hứng khởi vì tự hào là con Rồng cháu Tiên, luôn có Thần giúp đỡ. Trong khi đó lời truyền cũng làm cho bọn giặc kinh sợ vỡ mật, mất hết tinh thần chiến đấu. Ớ trong bài thơ này có một điều đặc biệt là trong bản phiên âm từ tiếng Hán, Lý Thường Kiệt đã dùng chữ “dế” để chỉ vua nước ta, coi vua Nam ngang hàng với vua phương Bắc. Đây là sự tự tôn dân tộc mạnh mẽ, mãnh liệt: khẳng định nước Nam là của vua Nam. Thời xưa, với quan niệm phong kiến quân chủ, nước là của vua nên trung thành với vua là trung thành với đất nước “Trung quân, ái quốc”. Ví như mười tám dời vua Hùng thay nhau dựng nước và giữ nước bình yên cho bờ cõi. Thời kì đó đã xuất hiện Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân. Rồi đến Thục Phán đánh đuổi giặc Tần xưng An Dương Vương. Đến ngườị phụ nữ chân yếu tay mềm cũng vùng lên đánh giặc như Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân Hán hay Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân đánh phá quân Ngô. Rồi từ đó nước nam ta dần dần khởi sắc với các đời vua uy nghiêm, lẫm liệt: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), Lý Nam Đế (Lý Bí), Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng), họ Khúc, triều Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê,… Luôn sát cánh bên các vị vua còn có các danh tướng lẫy lừng như Lý thường Kiệt,… Nhờ có những vị vua anh minh, những vị tướng tài ba đã dẫn dắt đất nước được thái bình thịnh trị. Để từ đó nổi lên những chiến công vang dội đem lại nền độc lập cho đất nước. Lời tuyên bố của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng cùng quan điểm non nước Việt Nam ta đã được hoạch định từ ngàn xưa giống như câu thơ “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, qua bao nhiêu thử thách đã hình thành một Việt Nam gấm hoa, thấm đậrn tình đoàn kết dân tộc. Càng ý thức chủ quyền đất nước, càng yêu nước nồng nàn bao nhiêu, nhân dân ta càng căm thù giặc bấy nhiêu. Điều này được thể hiện rõ nét qua hai câu thơ cuối như sau: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư.” Dịch thơ: “Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ.” Kết cục cho bi kịch của việc cướp nước là bọn xâm lược sẽ bị trả đòn trên sông Như Nguyệt. Tiếng ngâm thơ vang vọng hai bên bờ sông áp đảo tinh thần ngạo mạn của bọn xâm lăng. Đồng thời giúp quân ta tăng thêm ngọn lửa hận thù sôi sục lũ giặc Tống cướp nước, tăng thêm quyết tâm vùng lên giành lại non sông, dánh cho lũ giặc tan tành từ đó giữ vững độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước. Với những khổ đau mà giặc phương Bắc gây ra thì một trận đánh hào hùng sẽ mau chóng lấy lại niềm hứng khởi cho toàn dân cùng cất tiếng hoà chung ca khúc khải hoàn, chiến thắng. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đã giúp chúng ta ghi nhớ lịch sử hào hùng của dân tộc, để ta tự hào về cội nguồn của mình, luôn nhớ chủ quyền đất nước là của chúng ta, những người con mang nòi giống “con Rồng cháu Tiên”, trong người chảy dòng máu “Lạc Hồng”. Bài thơ cũng bồi dưỡng tinh thần quyết tâm chống giặc, bảo vệ đất nước, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, yêu đất nước cho người đọc, người nghe. Đề cập đến tuyên ngôn độc lập của nước ta thì bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản đầu tiên cùng với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản thứ hai và tiếp đến là “Bản tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Tất cả đã làm cho nhân dân ta vỡ oà niềm hân hoan, hạnh phúc vì mở ra một trang sử mới. Đây là trang sử của sức mạnh niềm tin vào lẽ phải, chính nghĩa, sức mạnh của tình đoàn kết dân tộc thể hiện qua quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, giữ vững chủ quyền đất nước trước các âm mưu xâm lược của bọn cướp nước. BÀI LÀM 2 Mở bài – Đặt vấn đề: Đất nước Việt là sản phẩm của ‘ Con rồng, Cháu tiên’ ; là sự khai sinh của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tiếng nói của những người con, người cháu của đất nước đó được vang ca mấy nghìn năm. Họ đã sống, đã lao động để bảo vệ cái nôi nơi họ sinh ra – Nhưng rồì bọn quân xâm lược phong kiến phương bắc với tư tưởng bá quyền nước lớn hiển nhiên qua xâm lăng muốn biến dân tộc ta thành dân nô lệ của chúng. Và rồi chúng ta không khoan nhường một giây phút nào nữa, lên tiếng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đất nước! Và bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên ra đời: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. Thân bài – Triển khai: Bài thơ là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy.( được thể hiện rõ qua 2 câu thơ đầu ) + Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là chân lí độc lập bất hủ! “nam quốc sơn hà nam đế cư” + Ý thức tự tôn dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ qua hai từ Nam quốc và Nam đế đầy ẩn ý. Nước nam là của vua và dân nam, không một ai có thể chối cãi nó được ví như hình ảnh mẹ sinh ra con thì con chính là con của mẹ, không thể là con của một ai khác và không ai có quyền cướp con khỏi bàn tay mẹ. + Hiểu và nhận thức được chủ quyền trị vì của dân tộc đất nước của những người dân nước Việt. Thái độ ấy là tư thế của một dân tộc dám kiêu hãnh đứng thẳng làm người, giơ một quả đấm thép giáng thẳng vào bộ mặt kiêu căng ngạo mạn của bọn phong kiến Trung Quốc coi nước khác chỉ là chư hầu của chúng, coi dân tộc khác chỉ là nô lệ của chúng +Lãnh thổ ấy được minh chứng là của con dân việt không chỉ qua việc họ đã xây dựng nên đất nước ấy mà còn có tiền đề đó là “sách trời” đã chia nó từ bấy lâu nay + Ý chí đó được làm rõ qua câu hỏi tu từ “- cớ sao lũ giặc qua xâm phạm”. Đó là một biểu hiện giận dỗi đầy phẫn uất của tác giả, đó cũng là thái độ của con dân việt với lũ cướp nước +Tinh thần bảo vệ tổ quốc được nuôi dưỡng từ sâu trong trái tim của mỗi một người con dân việt khi ý thức rõ lũ phong kiến ngạo mạn, cướp đi cuộc sống bình dị của một đất nước yêu tự do, yêu hòa bình ấy + Câu thơ còn thể hiện thái độ không khoan nhượng, không nhún nhường trước những hành động bạo tàn đó, thể hiện được chí khí, bạo tàn của một người dân yêu nước +Lý Thường Kiệt còn lên tiếng cảnh báo trước những hành vi vô phép tắc của tụi xâm lăng “chúng bây sẽ bị đánh cho tơi bời” sẽ là một kết cục ê chề, thê thảm của chúng. + Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt – Khẳng định tinh thần yêu nước: + Chiến thắng với quân địch là minh chứng cho một sự thật rõ ràng là quân và dân ta có tấm lòng hướng về tổ quốc, đặt vị trí quốc gia lên hàng đầu + Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước. + Đó là tinh thần đoàn kết dân tộc để trừng trị bọn tội đồ cướp nước, bán nước Kết bài – Đánh giá:Tóm lại, bài thơ ‘Nam Quốc sơn hà’ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước đại việt: + Nói về ranh giới chủ quyền quốc gia với những lời lẽ xác đáng, khoa học + Được mọi con dân việt nam lưu truyền trong xã hội, trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác + Giá trị bài thơ gắn với thiên thời- địa lợi- nhân hòa phù hợp với lịch sử nước ta lúc bấy giờ – Bài thơ là khúc anh hùng ca của dân tộc, là tiếng nói đầy quyền uy đối với kẻ thù xâm lược – Bài thơ xứng đáng là áng thơ văn bất hủ
Đề bài: Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Bài Làm Trong những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của ông cha ta, có rất nhiều những trận đánh lớn, được ghi vào sổ sách. Những trận đánh mà khiến quân giặc khiếp đảm, và là nỗi lo lớn khi bất kỳ một dân tộc nào muốn xâm chiếm Đại Việt. Trong những trận đấu đó, không chỉ có những trận đánh quyết liệt mà còn có những trận đấu bằng tinh thần. Một trong những ‘trận đánh lớn’ đó đã được vang lên vào buổi chiều hôm đó. Đó chính là bài thơ “Sông Núi nước Nam”. Bài thơ như một lời khẳng định chắc chắn của quân và dân ta trước ý định xâm chiếm của kẻ thù. Bài thơ được tương truyền là do tướng quân Lý Thường Kiệt sáng tác. Trong một trận đánh lớn, khi cả hai bên đều đã thấm mệt, từ một ngôi miếu nhỏ của quân ta vọng lên một 4 câu thơ đầy hào hùng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên phận định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” Chỉ vỏn vẹn trong bốn câu thơ, nhưng khi nghe xong thì tinh thần của quân giặc đã bị hồn bay phách lạc, không đánh mà chạy. Đó như một lời khẳng định chắc chắn chiến thắng sẽ luôn thuộc về ta, sẽ không bao giờ có thể thay đổi được. Đất nước của nước Nam là mảnh đất đã có vua cai trị, lãnh đạo. Chứ không phải là một mảnh đất ‘vô chủ” mà những người khác có thể sang tự ý xâm chiếm. Một mảnh đất có vua nước Nam, có người dân nước Nam thì cớ gì lại để cho người khác chiếm lấy? “Tiệt nhiên phận định tại thiên thư” Nếu như câu thơ thứ nhất như để khẳng định chủ quyền của đất nước, của quốc gia, dân tộc thì câu thơ thứ hai như một lời nói: nước đã có chủ thì những người sống tại đất nước đó nên sống và cai trị đất nước đó thật tốt chứ không nên tranh giành hay xâm chiếm đất nước của người khác. Không ai xâm chiếm đất nước của nhau. Mọi người chỉ có thể nên giúp đỡ nhau chứ không nên tranh giành, để gây ra chiến tranh. Chiến tranh làm cho cuộc sống của con người ta trở nên khổ cực, gây nên đau khổ và chia ly. “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” Đất có chủ, nhưng hà cớ gì mà lũ giặc các ngươi lại sang bên nước ta xâm chiếm đất nước. Không phải do thiếu đất hay thiếu chỗ ở mà các ngươi sang xâm chiếm nước ta. Vậy nguyên nhân chỉ do là muốn bành trướng? muốn mở rộng lãnh thổ mà lũ giặc các ngươi mới sang xâm chiếm đất nước của chúng ta? Vậy thì như lời tướng quân Lý Thường Kiệt đã nói: “Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”. Bất cứ một lý do nào, bất cứ một hành động xâm chiếm đất nước nào của chúng sẽ bị những người con dân đất Việt đánh cho tơi bời. Bởi vì đó là tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc. Là tinh thần bất khuất không thể nào có thể chịu thua và khuất phục trước quân giặc. Bất kỳ hành động nào động đến đất nước, đến con dân đất Việt đều sẽ phải trả giá. Không phải vì cái tôi cá nhân mà ngược lại đó là tinh thần chiến đấu quật cường, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng nằm xuống để có thể bảo vệ vững chắc được độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ của sông núi nước Nam.
Topic: Expressing thoughts about the poem "Southern Rivers and Mountains". Assignment During our ancestors' struggles against foreign invaders, there were many great battles recorded in the books. These battles terrified the enemy, and were a great worry when any nation wanted to invade Dai Viet. In those matches, there were not only fierce battles but also spiritual battles. One of those ‘great battles’ was heard that afternoon. That is the poem "Southern Rivers and Mountains". The poem is like a firm affirmation of our army and people against the enemy's intention to invade. The poem is said to have been composed by General Ly Thuong Kiet. During a big battle, when both sides were tired, from a small temple of our army rang out four heroic verses: “Southern country, mountains and rivers, Southern empire Fate is completely determined in the book of heaven Like the breach of the hole invasion Anhydrous acts as being unbeaten damaged craft." It's only four verses, but after hearing it, the enemy's spirit was lost, they didn't fight but ran away. It is like a firm affirmation that victory will always belong to us and will never be able to change. The country of Nam is a land that has a king to rule and lead. It is not a piece of 'ownerless' land that others can arbitrarily invade. If a piece of land has the king of the South and the people of the South, why would someone else take it over? "The destiny is determined in the book of heaven" If the first verse is to affirm the sovereignty of the country, the nation, and the people, the second verse is like a statement: if the country has an owner, then the people living in that country should live and rule the land. That country is really good and should not be fought over or invaded other people's countries. No one invades each other's country. People should only help each other, not compete to cause war. War makes people's lives miserable, causing suffering and separation. "Like the breach of the hole invasion Anhydrous acts as being unbeaten damaged craft" The land has an owner, but why would you invade our country? It was not because of lack of land or lack of accommodation that you came to invade our country. So the reason is just the desire to expand? Want to expand the territory that your invaders just came to invade our country? So, as General Ly Thuong Kiet said: "You will be beaten to a pulp." For any reason, any act of invading their country will be severely beaten by the Vietnamese people. Because it is love for the homeland and national pride. It is an indomitable spirit that cannot give up and submit to the enemy. Any action that affects the country and Vietnamese people will have to pay the price. It is not because of personal ego, but on the contrary, it is a stubborn fighting spirit, ready to sacrifice, ready to lie down to firmly protect national independence and territorial sovereignty of the mountains and rivers of the South. .
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Tiếng Gà Trưa của Xuân Quỳnh Bài làm Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh thường hướng vể những hình ảnh, những sự việc bình dị, gần gũi trong đời sống thường nhật trong gia đình, tình yêu, tình mẹ con, bà cháu,… Bài thơ Tiếng gà trưa là một bài thơ như thế. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cả nước chống dế quốc Mĩ xâm lược. Như nhiều tác phẩm đương thời, thơ Xuân Quỳnh hướng vào chủ đề bao trùm của cả nền văn học bấy giờ là lòng yêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn dân, trước hết là của những người cầm súng. Do đó, tuy bài thơ có nhiều kỉ niệm riêng của bản thân nhà thơ, nhưng hình tượng nhân vật trữ tình lại là người chiến sĩ đang trên đường hành quân, ra tiên tuyến. Cái tôi riêng của người nghệ sĩ và cái ta chung của cả thế hệ, cả dân tộc hoà hợp tự nhiên, hồn nhiên, toả ra những cảm hứng vừa thân thương, gần gũi vừa cao cả thiêng liêng, lay động lòng người. Đây là tác phẩm viết theo thể thơ tự do, trừ cụm từ Tiếng gà trưa ba tiếng, còn lại, mỗi câu thơ gồm năm âm tiết, nối nhau, mở đầu và kết thúc theo ý tưởng và cảm xúc của nhà thơ. Ta có thể coi bài Tiếng gà trưa là thơ ngũ ngôn, một thể thơ gốc Việt Nam, bắt nguồn từ thể hát dặm Nghệ Tĩnh và vè dân gian. Bài thơ, vì thế, có giọng điệu kể chuyện tâm tình, nhẹ nhàng, thủ thỉ, tự sự, miêu tả và biểu cảm xen nhau. Trong bài thơ, cụm từ ba âm tiết Tiếng gà trưa điệp lại bốn lần ở đầu mỗi khổ thơ. Mỗi lần cất lên, câu thơ ấy gợi một hình ảnh, hoặc sự việc trong kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả và của nhân vật trữ tình – người chiến sĩ đang hành quân. Điệp ngữ Tiếng gà trưa như dòng nhạc chủ âm vừa kết nối các đoạn thơ vừa điểm nhịp cho từng cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Dựa vào mạch cảm xúc và diệp ngữ ấy, chúng ta có thể hiểu và suy ngẫm về bài thơ theo ba đoạn: Tiếng gà cất lên trên đường hành quân – đoạn một (khổ một, bảy câu đầu) ; Tiếng gà gọi về tuổi thơ – đoạn hai (khổ hai, ba, bốn, năm, sáu – hai mươi sáu câu tiếp theo) ; Tiếng gà giục giã tinh thần chiến đấu – đoạn ba (hai khổ thơ cuối). Đoạn một: Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: “Cục… cục tác cục ta” Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ Người chiến sĩ chống Mĩ cứu nước – đoàn quân ra tiền tuyến, trong đó có nhà thơ – kể một sự việc bình thường mà thú vị. Trên đường hành quân, lúc lạm nghỉ ở một xóm nhỏ bên đường, chiến sĩ ta bỗng nghe tiếng gà nhảy ổ vang lên Cục… cục tác, cục ta. Câu thơ ghi âm tiếng gà kêu nghe rất đỗi thân thương, gần gũi. Tiếp sau đó, điệp từ nghe nối nhau, nhắc lại ba lần như những dư ba kì diệu của tiếng gà. Tiếng gà làm xao động, làm dịu bớt cái nắng trưa gay gắt, xua tan những mệt mỏi nơi người chiến sĩ và … đánh thức những kì niệm xa xưa, gợi về tuổi thơ, đưa các anh, các chị sống lại những năm tháng hồn nhiên, tươi đẹp nhất của đời người. Bài thơ Tiếng gà trưa ra đời trong những ngày cả nước chống Mĩ sôi động và quyết liệt. Đoạn mở đầu này kể về một sự việc đời thường, thơ mộng, góp phần làm dịu bớt không khí nóng bức của chiến tranh, mở ra một không gian và thời gian thanh binh sâu lắng giúp cho những người lính, những bạn đọc thuở ấy cũng như chúng ta ngày nay được chút thời gian yên tĩnh trong cõi lòng để lắng sâu suy cám. Sau tiếng gà nhảy ổ ở hiện tại, sang đoạn hai, tiếng gà gọi về những kỉ niệm tuổi thơ. Ba khổ thơ, hai mươi sáu câu nối nhau cùng với Tiếng gà trưa điệp lại những ngày thơ bé với biết bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương: Tiếng gà trưa Ổ rơm hồng những trứng Này con gà mái tơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng. Tiếng gà trưa – Gà đẻ mà mậy nhìn Rồi sau này lang mặt! Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp Qua thơ, chúng ta được cùng người chiến sĩ ấy sống những ngày tháng thật là dịu êm trong tình yêu thương của người bà, và… câu chuyện về những con gà cũng rất đáng yêu. Nào là hình hài màu sắc của mấy chị “Gà mái mơ, khắp mình hoa đốm trắng”, “Gà mái vàng, lông óng như màu nắng”. Nào là chuyện nhìn gà đẻ, bị bà mắng yêu. Nào là hình ảnh bà soi trứng, theo dõi quá trình gà ấp với bàn tay khum khum, với tấm lòng chắt chiu, nâng đỡ từng sự sống nhỏ nhoi trong từng quả trứng. Rồi chuyện bà: Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh trúc bâu Đi qua nghe sột soạt… Càng về cuối, kỉ niệm tuổi thơ càng da diết cảm dộng. Qua những dòng thơ êm nhẹ, thánh thót như những nốt nhạc trong veo, hình ảnh người bà Việt Nam hiện lên đẹp như một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình thương yêu cho đứa cháu nhỏ. Bà đã tần tảo, chắt chiu chăm sóc, nâng đỡ từng quả trứng, từng chú gà con, như chắt chiu, nâng đỡ những ước mơ hạnh phúc đơn sơ, nhỏ bé của đứa cháu yêu. Hình ảnh đứa cháu được mặc bộ quần áo mới do công lao nuôi gà của bà ban tặng, hồn nhiên, ngây thơ làm sao. Chí là “cái quần chéo go”, “cái áo cánh trúc bâu” (những loại vải rẻ tiền, mà ngày nay ít người dùng) nhưng đứa cháu – chắc là một cô gái – đã vô cùng cảm động, sung sướng. Đấy đâu chỉ là bộ quần áo dài rộng, cựa quậy một tí là bật ra tiếng sột soạt, mà là biết bao hạnh phúc, biết bao tấm lòng bà đã dành cho cháu. Hình ảnh và tâm trạng người thiếu niên – những chiến sĩ chống Mỹ thuở ấu thơ – được khắc hoạ chân thực, mang bản chất nông dân, bản sắc Việt Nam, thật là đáng trân trọng. Đó là những con người giản dị, được lớn lên trong tình thương yêu, nâng đỡ của quê hương, của những người ruột thịt. Được hưởng hạnh phúc ấy, họ thực sự cảm động và mãi nhớ ơn quê hương, ông bà, cha mẹ. Riêng với nữ sĩ Xuân Quỳnh, có lẽ mối tình sâu nặng và ân nghĩa nhất là tình bà cháu. Nếu không nhớ thương, biết ơn bà, làm sao mà viết được những câu thơ, ghi lại được những kỉ niệm đẹp như thế. Thơ với đời, hiện tại và quá khứ cứ đan xen, gắn bó hài hoà, tự nhiên, hồn nhiên, trong veo như nắng trưa và gió mát ngày hè vậy. Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ. Từ những kỉ niệm tuổi thơ thấm đẫm tình bà cháu, cảm hứng thơ mớ rộng hướng tới tình yêu đất nước, nhắc nhở, giục giã những chiến sĩ – trong đó có nhà thơ Xuân Quỳnh – hãy chắc tay súng tiến lên chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ gia đình, làng xóm quê hương và nền Độc lập, Tự do của Tổ quốc. Tóm lại, bài thơ Tiếng gà trưa viết về một loại âm thanh quen thuộc, bình dị trên quê hương, đất nước ta, nhưng đã thể hiện những suy nghĩ rất sâu sắc, những cảm xúc thật cao đẹp của nữ sĩ Xuân Quỳnh. “Tiếng gà trưa” đã gọi về những kỉ niệm của tuổi thơ thơ mộng và tình bà cháu đậm đà thắm thiết. Những tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu nước và nhắc nhà chúng ta tinh thần, trách nhiệm đối với đất nước. Bài thơ viết theo thể thơ năm tiếng có cách diễn đạt chân thành, tự nhiên vừa miêu tả biểu cảm, vừa tự sự biểu cảm bằng nhiều hình ảnh, ngôn ngữ bình dị, lay động lòng người.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Tiếng Gà Trưa của Xuân Quỳnh Bài làm Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh thường hướng vể những hình ảnh, những sự việc bình dị, gần gũi trong đời sống thường nhật trong gia đình, tình yêu, tình mẹ con, bà cháu,… Bài thơ Tiếng gà trưa là một bài thơ như thế. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cả nước chống dế quốc Mĩ xâm lược. Như nhiều tác phẩm đương thời, thơ Xuân Quỳnh hướng vào chủ đề bao trùm của cả nền văn học bấy giờ là lòng yêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn dân, trước hết là của những người cầm súng. Do đó, tuy bài thơ có nhiều kỉ niệm riêng của bản thân nhà thơ, nhưng hình tượng nhân vật trữ tình lại là người chiến sĩ đang trên đường hành quân, ra tiên tuyến. Cái tôi riêng của người nghệ sĩ và cái ta chung của cả thế hệ, cả dân tộc hoà hợp tự nhiên, hồn nhiên, toả ra những cảm hứng vừa thân thương, gần gũi vừa cao cả thiêng liêng, lay động lòng người. Đây là tác phẩm viết theo thể thơ tự do, trừ cụm từ Tiếng gà trưa ba tiếng, còn lại, mỗi câu thơ gồm năm âm tiết, nối nhau, mở đầu và kết thúc theo ý tưởng và cảm xúc của nhà thơ. Ta có thể coi bài Tiếng gà trưa là thơ ngũ ngôn, một thể thơ gốc Việt Nam, bắt nguồn từ thể hát dặm Nghệ Tĩnh và vè dân gian. Bài thơ, vì thế, có giọng điệu kể chuyện tâm tình, nhẹ nhàng, thủ thỉ, tự sự, miêu tả và biểu cảm xen nhau. Trong bài thơ, cụm từ ba âm tiết Tiếng gà trưa điệp lại bốn lần ở đầu mỗi khổ thơ. Mỗi lần cất lên, câu thơ ấy gợi một hình ảnh, hoặc sự việc trong kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả và của nhân vật trữ tình – người chiến sĩ đang hành quân. Điệp ngữ Tiếng gà trưa như dòng nhạc chủ âm vừa kết nối các đoạn thơ vừa điểm nhịp cho từng cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Dựa vào mạch cảm xúc và diệp ngữ ấy, chúng ta có thể hiểu và suy ngẫm về bài thơ theo ba đoạn: Tiếng gà cất lên trên đường hành quân – đoạn một (khổ một, bảy câu đầu) ; Tiếng gà gọi về tuổi thơ – đoạn hai (khổ hai, ba, bốn, năm, sáu – hai mươi sáu câu tiếp theo) ; Tiếng gà giục giã tinh thần chiến đấu – đoạn ba (hai khổ thơ cuối). Đoạn một: Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: “Cục… cục tác cục ta” Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ Người chiến sĩ chống Mĩ cứu nước – đoàn quân ra tiền tuyến, trong đó có nhà thơ – kể một sự việc bình thường mà thú vị. Trên đường hành quân, lúc lạm nghỉ ở một xóm nhỏ bên đường, chiến sĩ ta bỗng nghe tiếng gà nhảy ổ vang lên Cục… cục tác, cục ta. Câu thơ ghi âm tiếng gà kêu nghe rất đỗi thân thương, gần gũi. Tiếp sau đó, điệp từ nghe nối nhau, nhắc lại ba lần như những dư ba kì diệu của tiếng gà. Tiếng gà làm xao động, làm dịu bớt cái nắng trưa gay gắt, xua tan những mệt mỏi nơi người chiến sĩ và … đánh thức những kì niệm xa xưa, gợi về tuổi thơ, đưa các anh, các chị sống lại những năm tháng hồn nhiên, tươi đẹp nhất của đời người. Bài thơ Tiếng gà trưa ra đời trong những ngày cả nước chống Mĩ sôi động và quyết liệt. Đoạn mở đầu này kể về một sự việc đời thường, thơ mộng, góp phần làm dịu bớt không khí nóng bức của chiến tranh, mở ra một không gian và thời gian thanh binh sâu lắng giúp cho những người lính, những bạn đọc thuở ấy cũng như chúng ta ngày nay được chút thời gian yên tĩnh trong cõi lòng để lắng sâu suy cám. Sau tiếng gà nhảy ổ ở hiện tại, sang đoạn hai, tiếng gà gọi về những kỉ niệm tuổi thơ. Ba khổ thơ, hai mươi sáu câu nối nhau cùng với Tiếng gà trưa điệp lại những ngày thơ bé với biết bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương: Tiếng gà trưa Ổ rơm hồng những trứng Này con gà mái tơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng. Tiếng gà trưa – Gà đẻ mà mậy nhìn Rồi sau này lang mặt! Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp Qua thơ, chúng ta được cùng người chiến sĩ ấy sống những ngày tháng thật là dịu êm trong tình yêu thương của người bà, và… câu chuyện về những con gà cũng rất đáng yêu. Nào là hình hài màu sắc của mấy chị “Gà mái mơ, khắp mình hoa đốm trắng”, “Gà mái vàng, lông óng như màu nắng”. Nào là chuyện nhìn gà đẻ, bị bà mắng yêu. Nào là hình ảnh bà soi trứng, theo dõi quá trình gà ấp với bàn tay khum khum, với tấm lòng chắt chiu, nâng đỡ từng sự sống nhỏ nhoi trong từng quả trứng. Rồi chuyện bà: Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh trúc bâu Đi qua nghe sột soạt… Càng về cuối, kỉ niệm tuổi thơ càng da diết cảm dộng. Qua những dòng thơ êm nhẹ, thánh thót như những nốt nhạc trong veo, hình ảnh người bà Việt Nam hiện lên đẹp như một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình thương yêu cho đứa cháu nhỏ. Bà đã tần tảo, chắt chiu chăm sóc, nâng đỡ từng quả trứng, từng chú gà con, như chắt chiu, nâng đỡ những ước mơ hạnh phúc đơn sơ, nhỏ bé của đứa cháu yêu. Hình ảnh đứa cháu được mặc bộ quần áo mới do công lao nuôi gà của bà ban tặng, hồn nhiên, ngây thơ làm sao. Chí là “cái quần chéo go”, “cái áo cánh trúc bâu” (những loại vải rẻ tiền, mà ngày nay ít người dùng) nhưng đứa cháu – chắc là một cô gái – đã vô cùng cảm động, sung sướng. Đấy đâu chỉ là bộ quần áo dài rộng, cựa quậy một tí là bật ra tiếng sột soạt, mà là biết bao hạnh phúc, biết bao tấm lòng bà đã dành cho cháu. Hình ảnh và tâm trạng người thiếu niên – những chiến sĩ chống Mỹ thuở ấu thơ – được khắc hoạ chân thực, mang bản chất nông dân, bản sắc Việt Nam, thật là đáng trân trọng. Đó là những con người giản dị, được lớn lên trong tình thương yêu, nâng đỡ của quê hương, của những người ruột thịt. Được hưởng hạnh phúc ấy, họ thực sự cảm động và mãi nhớ ơn quê hương, ông bà, cha mẹ. Riêng với nữ sĩ Xuân Quỳnh, có lẽ mối tình sâu nặng và ân nghĩa nhất là tình bà cháu. Nếu không nhớ thương, biết ơn bà, làm sao mà viết được những câu thơ, ghi lại được những kỉ niệm đẹp như thế. Thơ với đời, hiện tại và quá khứ cứ đan xen, gắn bó hài hoà, tự nhiên, hồn nhiên, trong veo như nắng trưa và gió mát ngày hè vậy. Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ. Từ những kỉ niệm tuổi thơ thấm đẫm tình bà cháu, cảm hứng thơ mớ rộng hướng tới tình yêu đất nước, nhắc nhở, giục giã những chiến sĩ – trong đó có nhà thơ Xuân Quỳnh – hãy chắc tay súng tiến lên chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ gia đình, làng xóm quê hương và nền Độc lập, Tự do của Tổ quốc. Tóm lại, bài thơ Tiếng gà trưa viết về một loại âm thanh quen thuộc, bình dị trên quê hương, đất nước ta, nhưng đã thể hiện những suy nghĩ rất sâu sắc, những cảm xúc thật cao đẹp của nữ sĩ Xuân Quỳnh. “Tiếng gà trưa” đã gọi về những kỉ niệm của tuổi thơ thơ mộng và tình bà cháu đậm đà thắm thiết. Những tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu nước và nhắc nhà chúng ta tinh thần, trách nhiệm đối với đất nước. Bài thơ viết theo thể thơ năm tiếng có cách diễn đạt chân thành, tự nhiên vừa miêu tả biểu cảm, vừa tự sự biểu cảm bằng nhiều hình ảnh, ngôn ngữ bình dị, lay động lòng người.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch Hướng dẫn Hương Lô là một đỉnh núi ở tây bắc núi Lư, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đỉnh núi cao, khói mây bao phủ, xa nhìn như một lư hương khổng lồ, nên đặt là Hương Lô. Ngắm nhìn thác núi Lư đổ nước trắng xoá từ núi xuống, xúc cảm trước cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, Lý Bạch đã sáng tác bài Vọng Lư Sơn bộc bố (Xa ngắm thác núi Lư). Bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn chỉ có 28 chữ nhưng đã dựng lên trước mắt người dọc một bức tranh toàn cảnh về núi Lư và thác núi Lư. Bức tranh được tô vẽ rộng lớn, với những màu sắc và đường nét rõ ràng, cụ thể vừa ở độ xa vừa ở thế gần, vừa ở chiều cao vừa ở độ thấp. “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. Phi lưu trúc há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu tliièn.” Dịch thơ: “Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây”. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Lý Bạch là khung cảnh và thế đứng uy nghi của núi Lư. Không tả núi Lư cao mà người đọc thấy được bề thế, độ cao của núi. Vách núi rộng lớn như bức tường đá khổng lồ dựng đứng trước mặt. Ánh nắng mặt trời ban ngày phản chiếu (nhật chiếu) đỉnh núi, vách núi Lư (Hương Lô). Đá núi nhiều màu bắt nhiệt nhanh và giảm nhiệt chậm. Khi ánh nắng niặt trời có nhiệt độ cao toả xuống núi tự nhiên thiêu đốt dá núi, làm cho đá nóng rực và bốc ra những làn khói màu tía (sinh tử yên). Các miêu tả của tác giả độc đáo, vượt qua cách miêu tả thiên nhiên núi non thông thường là tả đỉnh núi cao có mây trăng bao phủ. ơ đây, Lý Bạch chỉ tập trung miêu tả những chi tiết nổi bật, gây ấn tượng nhất cho người đọc. Ngay tữ câu đầu, nhà thơ thể hiện được hình dung, tưởng tượng phong phú của mình. Nhìn mặt trời phản chiếu vào núi và từ núi bốc ra những đám khói màu hồng nhạt, giống như một lò hương nghi ngút khói. Màu sắc mà nhà thơ tả ở dây vừa rõ ràng vừa kì lạ. Hình ảnh mặt trời, ngọn núi, màu khói tía được xêp đặt bằng những từ’ngữ giản đơn, dễ hiểu và tự nhiên, thể hiện con mắt nhìn và óc quàn sát thiên nhiên tinh tế, sắc sảo của Lý Bạch. Nươc bay thắng xuống ba nghìn thước,” Không dừng lại ở khung cảnh núi non, tiến thêm một bước, nhà thơ tả cảnh thác nước và dòng sông. Nếu như câu thơ trên là tả “sơn” thì câu thơ tiếp theo, ông tả “thủy”. Trong câu thơ thứ nhất, Lý Bạch không nói rõ vị trí đứng của mình ở đâu khi tả hình thể núi Lư thì ở câu thơ thứ hai, tác giả đã đứng từ xa (dao khan) để tả cảnh hùng vĩ, mạnh mẽ và đầy uy lực của thác nước chảy từ núi Lư. Thác nước trắng xoá, chảy thẳng từ đỉnh núi cao xuống như treo trước dòng sông (quải tiền xuyên). Nước thác từ độ núi cao ba nghìn thước (tam thiên xích) chảy mạnh, đổ nước ào ào như bay thẳng từ đỉnh núi xuống (phi lưu trực há). Chỉ một câu thơ bảy chữ, nhà thơ đã diễn tả sự quy mô, khổng lồ và tốc độ đổ nước ghê gớm của thác núi Lư. “Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.” Thác nước núi Lư trắng xoá, lấp lánh, Lý Bạch ngỡ ngàng tưởng tượng như dải Ngân Hà với hàng triệu vì sao lấp lánh, kéo dài, rực sáng trên bầu trời cao. Vì thác nước núi Lư chảy từ độ cao ngang lưng trời tuôn nước xuống nên nhà thơ liên tưởng, so sánh với một dòng sông lớn, như dải Ngân Hà trên bầu trời cao. Cách so sánh vừa độc đáo vừa hợp lí làm cho người đọc rất đỗi bất ngờ, thú vị. Chi tiết “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” tức là tuột khỏi bầu trời, từ bỏ bầu trời để rơi xuống mặt đất. Trần gian mà Lý Bạch miêu tả là một chi tiết vừa hư vừa thực, đầy sáng tạo, phù hợp với bút pháp lãng mạn của tác giả. Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của bài thơ là tác giả sử dụng ngôn ngữ tinh luyện, chính xác và giàu hình ảnh. Trong mỗi câu thơ, Lý Bạch dùng một “thi nhãn”.(mắt thơ) để miêu tả. “Thi nhãn” ở đây là những dộng từ: “sinh” (phát ra- câu 1), “quải” (treo – câu 2). Hai động từ “phi lưu” (bay, chảy) diễn tả tốc độ mạnh mẽ, ghê gớm của dòng thác. Hai tính từ nối tiếp (thẳng xuống) gọn, dứt khoát, miêu tả tư thế thiên nhiên của thác núi Lưu. Nếu sự bất ngờ, đột biến của từ ngữ được thể hiện ở ba câu thơ trên thì đến câu thơ cuối, động từ “lạc” (rơi tuột) được tác giả tài tình, khéo léo, làm bật nổi nội dung của toàn bộ bài thơ. Thác núi Lư từ trạng thái “treo” (quải), “bay chảy” (phi lưu) và cuối cùng Lý Bạch có cảm giác nó như một dải Ngân Hà từ bầu trời “rơi tuột” (trực há) xuống trần gian. Hình ảnh thác nước núi Lư như “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” làm người đọc liên tưởng đến hình ảnh “sông Hoàng chảy vỡ núi Côn Lôn” (Công vô độ hải), “sông Hoàng sợi tơ từ trời xuống” (Tây nhạc vân đài ca tống dan khâu) và “sông Hoàng từ trên trời rơi xuống” (Bài tặng Bùi thập Tứ). Bức tranh thiên nhiên vẽ thác núi Lư Được Lý Bạch miêu tả đầy đủ, vừa khéo, vừa tình. Tả thác nước mà có núi sông, ánh nắng mặt trời, dải ngân hà, trời cao, mây trắng,… Bài thơ không có từ ngữ nào nói đến con người, nhưng người đọc lại hình dung ra dược con người, một con người nhỏ bé bị bao trùm, bị thu hút trước cảnh thiên nhiên rộng lớn. Hình bóng con người đứng từ xa ngắm nhìn thác núi Lư, bị ngỡ ngàng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bị bất ngờ trước sức mạnh tự nhiên của thác núi Lư chính là Lý Bạch. Một con người lãng mạn, với tâm hồn phóng khoáng mới có được bút pháp miêu tả tưởng tượng, phong phú khác thường như thế. Dưới ngòi bút tài tình của nhà thơ, con người dù có lớn lao, khả năng to lớn đến đâu cũng cảm thấy nhỏ bé, thấp kém trước thiên nhiên rộng lớn, uy nghi.
Expressing thoughts about Ly Bach's poem "Viewing Lu Mountain Waterfall from afar". Instruct Xianglu is a mountain peak in the northwest of Mount Lu, Jiangxi province, China. The mountain peak is high, covered with smoke and clouds, from afar it looks like a giant incense burner, so it is named Huong Lo. Watching the Lu mountain waterfall pour white water down from the mountain, and being moved by the majestic natural beauty, Ly Bach composed the song Vong Lu Son declarative (Viewing the Lu mountain waterfall from afar). The poem is in the form of seven words and four verses, with only 28 words but creates a panoramic picture of Mount Lu and Mount Lu waterfall. The painting is painted widely, with clear and specific colors and lines that are both far and near, both high and low. “The edict of Huong Lo lives and dies in peace, Dao Khan Bo Bui Tien Xuan. Phi Luu Truc Ha Tam Thien Chi, Nghi Thi Thi Ngan Ha Lac Cuu Tliien.” Poetry translation: “The sun shines on Huong Lo, purple smoke flies, In the distance, you can see the waterfall in front of this river. The water flew straight down three thousand meters, It seemed like the Milky Way had slipped out of the clouds." The first image that caught Ly Bach's eyes was the scenery and majestic stance of Mount Lu. Without describing the height of Mount Lu, the reader can see the mountain's grandeur and height. The cliff is as vast as a giant stone wall standing up in front of it. The sunlight during the day reflects (sunlight) the mountain tops and cliffs of Lu (Huong Lo). Colorful mountain rocks absorb heat quickly and cool down slowly. When high-temperature sunlight radiates down the mountain, it naturally burns the mountain, making the rock hot and emitting purple smoke (birth and death peace). The author's descriptions are unique, surpassing the usual way of describing mountain nature, which is to describe high mountain peaks covered with clouds and moon. Here, Ly Bach only focuses on describing the outstanding details that make the most impression on readers. Right from the first sentence, the poet shows his rich vision and imagination. Look at the sun reflecting into the mountain and from the mountain clouds of light pink smoke come out, like a smoky incense burner. The colors the poet describes here are both clear and strange. Images of the sun, mountains, and purple smoke are arranged with simple, easy-to-understand and natural words, demonstrating Ly Bach's delicate and sharp eye and observation of nature. The water flew down three thousand meters,” Not stopping at the mountain scenery, going one step further, the poet describes the waterfall and river scene. If the above verse describes "paint", then in the next verse, he describes "water". In the first verse, Ly Bach did not clearly state where he stood when describing the shape of Mount Lu, but in the second verse, the author stood from afar (dao khan) to describe the majestic, strong and powerful scene. full of power of the waterfall flowing from Mount Lu. The waterfall is pure white, flowing straight from the top of a high mountain down as if hanging in front of a river (Qua Tien Xuyen). Water falls from a mountain three thousand meters high (three thousand meters) flowing strongly, pouring water like flying straight down from the top of the mountain (phi flow directly ha). In just one seven-word poem, the poet described the scale, colossus, and terrible pouring speed of Lu Mountain waterfall. “I thought the Milky Way slipped out of the clouds.” The waterfall of Mount Lu was white and sparkling. Ly Bach was amazed and imagined it was like the Milky Way with millions of sparkling stars, lingering and glowing high in the sky. Because the waterfall of Mount Lu flows down from the height of the sky's waist, the poet thinks and compares it to a large river, like the Milky Way high in the sky. The comparison is both unique and reasonable, making readers very surprised and interesting. The detail "the Milky Way slipped out of the clouds" means it slipped out of the sky, abandoned the sky to fall to the ground. The worldly world that Ly Bach describes is a detail that is both imaginary and real, full of creativity, consistent with the author's romantic style. The outstanding artistic feature of the poem is that the author uses refined, precise and rich language. In each verse, Ly Bach uses a "poetic eye" (poetic eye) to describe. "Poetic eyes" here are verbs: "birth" (radiate - sentence 1), "quai" (hang - sentence 2). The two verbs "to fly" (to fly, to flow) describe the strong and formidable speed of the waterfall. The two consecutive adjectives (straight down) are concise and decisive, describing the natural posture of Luu Mountain waterfall. If the surprise and mutation of words are expressed in the three verses above, then in the last verse, the verb "lost" (falling) is skillfully and skillfully expressed by the author, highlighting the content of the entire poem. poem. Lu Mountain Waterfall went from a state of "hanging" (quai), "flowing" (flowing) and finally Ly Bach felt like a Milky Way galaxy "falling" from the sky (trup ha) to the earth. The image of the Lu mountain waterfall like "the Milky Way slipping out of the clouds" reminds the reader of the image of "the Yellow River breaking through Kunlun Mountain" (Cong Vo Do Hai), "the Yellow River silk thread falling from the sky" (Tay music of Van Dai Ca Song Dan Khau) and "Yellow River falling from the sky" (Dedicated to Bui Thap Tu). The natural painting of Lu mountain waterfall is fully described by Ly Bach, both skillfully and lovingly. Describes a waterfall with mountains and rivers, sunlight, milky way, high sky, white clouds, etc. The poem does not have any words about people, but the reader imagines a person, a human being. small and surrounded, attracted by the vast natural landscape. The figure of a person standing from afar looking at Mount Lu waterfall, amazed by the majestic natural scenery, surprised by the natural power of Mount Lu waterfall is Ly Bach. Only a romantic person with a liberal soul can have such an unusually rich and imaginative descriptive style. Under the poet's talented pen, no matter how great and capable people are, they still feel small and inferior before the vast and majestic nature.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Đi đường là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 30 trong “Nhật kí trong tù”. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải lui giải tới qua nhiều nhà lao trên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trải qua cay đắng thử thách nặng nề, Người gửi gắm bao suy nghĩ, cảm xúc của mình vào bài thơ Đi đường này. Bài được tác giả Nam Trân dịch thành thơ: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Tác giả mượn chuyến đi đường để nêu lên cảm nhận đường đời vô cùng khó khăn, gian khổ: phải có quyết tâm cao, nghị lực phi thường mới chiến thắng thử thách, mới giành được thắng lợi vẻ vang. Câu thơ thứ nhất trong bài nói lên một kinh nghiệm, một chiêm nghiệm trong cuộc sống, đó là chuyện đi đường và nỗi khó khăn của chuyện đi đường. Đối với nhà thơ, con đường được nói tới không chỉ là con đường đang đi mà là con đường cách mạng. Con đường đó vô cùng nguy hiểm, là gươm kề tận cổ, súng kề tai. Hình ảnh con đường được miêu tả bằng điệp từ trập trùng đã làm nổi bật với bao gian khổ. Trong câu thơ có chữ cao đã nói lên những khó khăn trên con đường mà Bác miêu tả trong bài thơ. Hai câu thơ đầu về mặt văn chương ngữ nghĩa không có gì mới. Việc đi đường gặp khó khăn thường xuất hiện trong các áng văn cổ. Tuy nhiên, trong thơ Hồ Chí Minh nó được thể hiện một cách sâu sắc và có tính chiêm nghiệm, nó cho thấy một trải nghiệm của con người bao nhiêu năm trên đường bôn ba cứu nước. Con đường mà người chiến sĩ ấy vượt qua đâu chỉ có núi cao mà còn đầy phong ba bão táp, trên những đại dương bao la hay miền sa mạc cát trắng. Hai câu thơ cuối kết thúc theo quan hệ điều kiện – nhân quả. Khi đã chiếm được đỉnh cao chót vót thì muôn dặm nước non thu vào trong tầm mắt: Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Muốn vượt qua các dãy núi để lên được trên đỉnh thì phải có quyết tâm và nghị lực lớn, chỉ có vậy mới giành được thắng lợi cuối cùng. Câu thơ hàm chứa bài học quyết tâm vượt khó, nêu cao ý chí và nghị lực trong cuộc sống để giành thắng lợi. Bài học này là bổ ích cho tất cả mọi người. Tags:Văn 8
Express your thoughts about Ho Chi Minh's poem On the Road - Topics and sample essays 8 Instruct Assignment On the road is a four-word poem number 30 in "Prison Diary". At that time, Ho Chi Minh was sent back and forth by Chiang Kai-shek's government to many prisons in Guangxi province, China. Having gone through bitter ordeals, he put many of his thoughts and feelings into the poem Going on this road. The article was translated into poetry by author Nam Tran: Only when you travel on the road do you know how difficult it is High mountains and then high, rolling mountains The mountains rise to the very end Collect countless mountains and rivers as far as you can see. The author borrowed the road trip to express the feeling that life's path is extremely difficult and arduous: it takes high determination and extraordinary determination to overcome challenges and achieve glorious victory. The first verse in the poem talks about an experience, a contemplation in life, which is about traveling and the difficulty of traveling. For the poet, the road being talked about is not just a current road but a revolutionary road. That road is extremely dangerous, with swords at necks and guns at ears. The image of the road described with overlapping words highlights many hardships. In the verse, the word "high" speaks of the difficulties on the path that Uncle Ho describes in the poem. The first two verses are nothing new in terms of literary and semantics. Difficulties on the road often appear in ancient literature. However, in Ho Chi Minh's poetry it is expressed in a profound and contemplative way, it shows a human experience for many years on the journey to save the country. The path that that soldier crossed was not only high mountains but also full of storms, vast oceans or white sand deserts. The last two verses end according to the condition-cause-effect relationship. Once you reach the towering peak, miles of mountain water fall into view: The mountains rise to the very end Collect countless mountains and rivers as far as you can see. If you want to overcome the mountains to reach the top, you must have great determination and determination, only then can you achieve the final victory. The poem contains the lesson of determination to overcome difficulties, enhance will and determination in life to win. This lesson is useful for everyone. Tags: Literature 8
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Đi đường là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 30 trong “Nhật kí trong tù”. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải lui giải tới qua nhiều nhà lao trên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trải qua cay đắng thử tháchnặng nề, Người gửi gắm bao suy nghĩ, cảm xúc của mình vào bài thơ Đi đường này. Bài được tác giả Nam Trân dịch thành thơ: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Tác giả mượn chuyến đi đường để nêu lên cảm nhận đường đời vô cùng khó khăn, gian khổ: phải có quyết tâm cao, nghị lực phi thường mới chiến thắng thử thách, mới giành được thắng lợi vẻ vang. Câu thơ thứ nhất trong bài nói lên một kinh nghiệm, một chiêm nghiệm trong cuộc sống, đó là chuyện đi đường và nỗi khó khăn của chuyện đi đường. Đối với nhà thơ, con đường được nói tới không chỉ là con đường đang đi mà là con đường cách mạng. Con đường đó vô cùng nguy hiểm, là gươm kề tận cổ, súng kề tai. Hình ảnh con đường được miêu tả bằng điệp từ trập trùng đã làm nổi bật với bao gian khổ. Trong câu thơ có chữ cao đã nói lên những khó khăn trên con đường mà Bác miêu tả trong bài thơ. Hai câu thơ đầu về mặt văn chương ngữ nghĩa không có gì mới. Việc đi đường gặp khó khăn thường xuất hiện trong các áng văn cổ. Tuy nhiên, trong thơ Hồ Chí Minh nó được thể hiện một cách sâu sắc và có tính chiêm nghiệm, nó cho thấy một trải nghiệm của con người bao nhiêu năm trên đường bôn ba cứu nước. Con đường mà người chiến sĩ ấy vượt qua đâu chỉ có núi cao mà còn đầy phong ba bão táp, trên những đại dương bao la hay miền sa mạc cát trắng. Hai câu thơ cuối kết thúc theo quan hệ điều kiện – nhân quả. Khi đã chiếm được đỉnh cao chót vót thì muôn dặm nước non thu vào trong tầm mắt: Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Muốn vượt qua các dãy núi để lên được trên đỉnh thì phải có quyết tâm và nghị lực lớn, chỉ có vậy mới giành được thắng lợi cuối cùng. Câu thơ hàm chứa bài học quyết tâm vượt khó, nêu cao ý chí và nghị lực trong cuộc sống để giành thắng lợi. Bài học này là bổ ích cho tất cả mọi người. LUYỆN TẬP Đề 1. Trình bày hoàn cảnh ra đời và nội dung chính trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh. Đề 2. Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh. Đề 3. Tính triết lí được thể hiện như thế nào trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh? Đề 5. Cảm nhận về tính triết lí trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh.
Express your thoughts about Ho Chi Minh's poem On the Road Instruct On the road is a four-word poem number 30 in "Prison Diary". At that time, Ho Chi Minh was sent back and forth by Chiang Kai-shek's government to many prisons in Guangxi province, China. Having gone through bitter and heavy challenges, he put many of his thoughts and feelings into the poem "Going on this road". The article was translated into poetry by author Nam Tran: Only when you travel on the road do you know how difficult it is High mountains and then high, rolling mountains The mountains rise to the very end Collect countless mountains and rivers as far as you can see. The author borrowed the road trip to express the feeling that life's path is extremely difficult and arduous: it takes high determination and extraordinary determination to overcome challenges and achieve glorious victory. The first verse in the poem talks about an experience, a contemplation in life, which is about traveling and the difficulty of traveling. For the poet, the road being talked about is not just a current road but a revolutionary road. That road is extremely dangerous, with swords at necks and guns at ears. The image of the road described with overlapping words highlights many hardships. In the verse, the word "high" speaks of the difficulties on the path that Uncle Ho describes in the poem. The first two verses are nothing new in terms of literary and semantics. Difficulties on the road often appear in ancient literature. However, in Ho Chi Minh's poetry it is expressed in a profound and contemplative way, it shows a human experience for many years on the journey to save the country. The path that that soldier crossed was not only high mountains but also full of storms, vast oceans or white sand deserts. The last two verses end according to the condition-cause-effect relationship. Once you reach the towering peak, miles of mountain water fall into view: The mountains rise to the very end Collect countless mountains and rivers as far as you can see. If you want to overcome the mountains to reach the top, you must have great determination and determination, only then can you achieve the final victory. The poem contains the lesson of determination to overcome difficulties, enhance will and determination in life to win. This lesson is useful for everyone. PRACTICE Topic 1. Present the birth circumstances and main content of Ho Chi Minh's poem On the Road. Topic 2. Analysis of Ho Chi Minh's poem On the Road. Topic 3. How is philosophy expressed in Ho Chi Minh's poem On the Road? Topic 5. Feelings about philosophy in Ho Chi Minh's poem On the Road.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài tùy bút Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng. Bài làm Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng (1913 – 1984) sinh tại Hà Nội, là nhà văn và nhà báo bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông có sở trường về truyện ngắn, tùy bút, bút kí. Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn vừa viết văn, làm báo, vừa hoạt động cách mạng. Bài văn này trích từ thiên tùy bút Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt in trong tập Thương nhớ mười hai. Tác phẩm được viết trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, tác giả phải sống trong vùng kiểm soát của Mỹ – ngụy, xa cách quê hương đất Bắc, Nhà văn đã gửi vào trang sách nỗi niềm thương nhớ quê hương, gia đình tha thiết và lòng mong mỏi đất nước hòa bình, thống nhất. Điều đó thể hiện qua hoài niệm về cảnh sắc thiên nhiên và phong vị cuộc sống hằng ngày của Thủ đô Hà Nội với vẻ đẹp mang đậm bản sắc văn hóa tinh tế của một vùng và cũng là của chung đất nước. Nói đến tình yêu nồng nàn của mình đối với mùa xuân, tác giả mượn quy luật để khẳng định: Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì Lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân. Giọng văn du dương, trầm bổng, giàu chất thơ của Vũ Bằng đã đưa chúng ta vào thế giới hồi ức miên man, dạt dào cảm xúc. Thế giới ấy là một phần không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của kẻ tha hương. Nhà văn nhắc đi nhắc lại như lời tỏ tình thiết tha, say đắm: Mùa xuân của tôi… mùa xuân thần thánh của tôi… Điều đó chứng tỏ tình yêu mùa xuân đã thấm sâu vào tâm hồn, vào máu thịt của người con đất Bắc. Để nhấn mạnh sức sống và sự cuốn hút kì lạ của mùa xuân, tác giả đã dùng cách nói cường điệu ; cường điệu mà vẫn rất tự nhiên: Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người cứ căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh. Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn… Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa… Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Không khí ấm áp mùa xuân còn hiện lên trong khung cảnh gia đình ngày Tết với bàn thờ, đèn nến, hương trầm… và tình cảm cha con, vợ chồng, anh em quấn quýt, sum vầy. Viết về những cảnh này, giọng điệu của tác giả vừa sôi nổi nhiệt thành, vừa da diết lắng sâu. Điều đó đã tạo nên âm hưởng trữ tình và sức truyền cảm mạnh mẽ của đoạn văn. Cuối bài văn, tác giả tập trung miêu tả những nét riêng của trời đất, thiên nhiên vào thời điểm từ sau ngày rằm tháng giêng Âm lịch. Khả năng quan sát sắc sảo và cảm nhận tinh tế của tác giả được thể hiện qua những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu và những từ ngữ trau chuốt, chọn lọc: … Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu Giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác. Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lý, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sóng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột.
Topic: Expressing thoughts about the essay My Spring by Vu Bang. Assignment Vu Bang's real name is Vu Dang Bang (1913 - 1984) born in Hanoi, is a writer and journalist who started his writing career before the August Revolution of 1945. He has a knack for short stories, essays, and essays. sign. After 1954, he went to Saigon to write, do journalism, and engage in revolutionary activities. This essay is excerpted from the essay January Dreams of the Cold, Sweet New Moon published in the volume Thumbs Up Twelve. The work was written in a situation where the country was divided, the author had to live in the US-puppet control zone, far away from his homeland in the North. The writer put into the pages of the book his longing for his homeland and his spare family. need and longing for a peaceful and unified country. That is expressed through nostalgia for the natural scenery and taste of daily life of Hanoi Capital with a beauty imbued with the delicate cultural identity of a region and also of the country. Talking about his passionate love for spring, the author borrowed the rule to assert: It's natural like that: everyone loves spring. And January is the first month of spring, people are more affectionate, nothing strange at all. Who told the mountains not to love the water, the butterflies not to love the flowers, the moon not to love the wind; Who can stop a boy from loving a girl? Who can stop a mother from loving her child? Who can stop the girl from still missing her husband? Only then can he stop being in love with spring. Vu Bang's melodious, melodious, and poetic voice has brought us into a world of endless memories and emotions. That world is an indispensable part of the spiritual life of the exile. The writer repeats over and over again as a passionate, passionate confession: My spring... my divine spring... This proves that the love of spring has penetrated deeply into the soul, into the flesh and blood of the earthlings. North. To emphasize the vitality and strange attraction of spring, the author used hyperbole; exaggerated but still very natural: That's it, my divine spring makes people want to go crazy like that. I can't stand sitting still. The life sap in the body keeps swelling like the blood in the deer's buds, like the buds of trees, unable to stay still forever, and must emerge into tiny leaves and raise their hands to wave at the standing lovebirds. edge. With the return of spring, people's hearts seem to get younger, and beat harder... Going outdoors, seeing everyone wanting to love, coming home and feeling loved again... So beautiful, spring – spring of beloved Hanoi, of beloved North Vietnam. The warm spring atmosphere also appears in the family scene on Tet holiday with altars, candles, incense... and the affection between father and son, husband and wife, brothers and sisters. Writing about these scenes, the author's tone is both enthusiastic and passionate, but also deeply sad. That created the lyrical sound and strong inspiration of the passage. At the end of the essay, the author focuses on describing the unique features of heaven, earth, and nature after the full moon day of the first lunar month. The author's sharp observation and delicate perception are expressed through details, typical images and elaborate, selected words: ... But I love spring especially after the full moon day of January. Tet is over but not completely over, the peaches are a bit faded but the pistils are still lush, the grass is not as lush and green as at the end of winter or the beginning of January, but on the contrary, it's tingling. subtle scent. Usually, around that time the sky is no longer cloudy, spring rain begins to replace drizzle, no longer making the sky cloudy like the color of translucent crystal. Waking up in the morning, lying down and looking out the window to see the bright green streaks in the sky, I felt a bright joy. On the flower trellis, a few diligent bees flew to search for flower stamens. Just around eight or nine o'clock in the morning, against the clear sky, there were pink waves vibrating like newly shed wings of a cicada.
Phát biểu cảm nghĩ về bài văn Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô dờ A-mi-xi. Bài làm Ét môn-đô dơ A-mi-xi là nhà văn, nhà báo và nhà thơ người Ý. Tấm lòng (Những tấm lòng cao cả) là tác phẩm nổi tiếng của ông đã đưa ông ra phạm vi toàn thế giới, tác phẩm là sự phản ánh giai đoạn thiếu nhi của 2 người con trai ông, tác phẩm đã để lại cho tôi một cảm xúc khó diễn tả, thực sự ấn tượng với cách viết của ông. Trong đó đoạn trích “Mẹ tôi” là đoạn để lại cho tôi nhiều cảm xúc nhất, đọng lại sâu sắc nhất trong tâm trí. “Mẹ tôi” nói về tình mẫu tử thiêng liêng. Vì đứa con trai không hiểu chuyện, không hiểu về tình yêu mẹ dành cho nó mà khiến mẹ phải đau lòng nên người cha đã phải kìm nén sự tức giận và viết cho người con trai một tâm thư, mong người con có thể giác ngộ và cầu xin sự tha thứ từ người mẹ. Người con trai tên là En-ri-cô, trong một lần cô giáo đến thăm, En-ri-cô nhỡ thốt ra một lời thiéu lễ độ với mẹ. Và người cha đã nhìn thấy toàn bộ điều đáng xấu hổ ấy, cố gắng kìm nén lại sự giận dữ. “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”, lời đầu tiên của ông là lời răn đe nghiêm khắc đối với En-ri-cô. Ông đã thực sự tức giận con trai khi có hành động thiếu suy nghĩ như thế. Đến lời sau dường như ông đã cố nén lại gọi con trai một cách nhẹ nhàng, thân thương “ En-ri-cô của bố ạ”,”Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy”, đến đây không còn là sự tức giận nữa mà là sự đau đớn, sự bất lực của một người cha khi thấy đứa con của mình trở nên hư đốn và không thể dạy dỗ, trái tim của ông thực sự đang rỉ máu. Nhưng ông cố gắng giữ bình tĩnh để giảng giải cho En-ri-cô đi đúng hướng, học được điều hay lẽ phải. “Hãy nghĩ kỹ điều này, En-ri-cô ạ: Trong đời con có thể trải qua những ngày buồn thảm, nhưng ngày buồn thảm nhất sẽ là ngày con mất mẹ”. Sau đó, người cha đã phải phân tích cho con hiểu được rằng không ai có thể thay thế được người mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng mình nên người. Ông nghiêm khắc cảnh tỉnh con trai: “Có thể có lúc con sẽ mong ước tha thiết được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay ra đón vào lòng. Dù có lớn khôn, khoẻ mạnh thế nào đi chăng nữa, con vẫn sẽ tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che. Con sẽ cay đắng khi nhớ lại những lúc làm mẹ đau lòng… Con sẽ không thể sống thanh than, nếu đã làm cho mẹ buồn phiền. Dù có hối hận, có cầu xin linh hồn mẹ tha thứ… tất cả sẽ chỉ vô ích mà thôi. Lương tâm con sẽ không phút nào yên tĩnh. Hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình”. Hơn cả vậy, ông còn khẳng định thậm chí là nói cực đoan với cậu con trai: “Bố rất yêu con, En-ri-cô ạ, con là niềm hi vọng tha thiết nhất đời của bố, nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ”. Câu nói cảnh tỉnh con trai xuất phát từ tình yêu, lòng mong muốn đứa con mau chóng trưởng thành của người cha. Lời nói nhẹ nhàng, không hề quát tháo, măng mỏ nhưng nghe như đau xuyên thấu cả tâm can: “Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó…” “Mẹ tôi” kết thúc trong lời cuối của người cha mà khiến cho chính chúng ta cũng trăn trở: “Thôi, trong một thời gian con đừng hôn bố, bố sẽ không thể vui lòng đáp trả lại cái hôn của con được”, có nghĩa là người cha còn chưa thể dễ dàng tha thứ được vì cậu con trai đã phạm đến khía cạnh quan trọng của đạo làm con. Bởi bổn phận, trách nhiệm và lòng hiếu thảo của con cái đối với bố mẹ là thước đo nhân phẩm, phẩm chất đạo đức của con người. Có lẽ, tôi cũng đồng cảm giác như En-ri-cô vì bao lần làm mẹ buồn phiền, làm mẹ lo lắng… Đọc tác phẩm, chính bản thân mình cũng tỉnh ngộ và cảm thấy hối lỗi vì nhiều chuyện trong quá khứ. Tôi sẽ cố gắng thật nhiều để bù đắp cho cha mẹ, để cha mẹ có thể tự hào và không cần băn khoăn, suy nghĩ về tôi. Tôi trân trọng từng giây phút hạnh phúc bên gia đình và cảm thấy thật biết ơn khi được ở bên bố mẹ bởi: “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ-Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.
Expressing thoughts about the essay My Mother by writer Et-mon-do de Ami-si. Assignment Edmondo Amixi is an Italian writer, journalist and poet. Heart (Great Hearts) is his famous work that brought him to the whole world, the work is a reflection of the childhood stage of his two sons, the work left to me. an emotion that's hard to describe, really impressed with his writing style. The excerpt "My Mother" is the one that left me with the most emotions and lingered most deeply in my mind. “My Mother” talks about sacred motherhood. Because the son did not understand the situation, did not understand the love his mother had for him, which made her heartbroken, the father had to suppress his anger and write the son a letter, hoping the son could be enlightened. and asked for forgiveness from the mother. The son's name was En-rico. During a teacher's visit, En-rico accidentally uttered an impolite word to his mother. And the father saw the whole shameful thing, trying to suppress his anger. “You must never do something like that again,” his first words were a stern warning to Enrico. He was really angry with his son for acting so thoughtlessly. At the next words, it seemed like he was trying to hold back and call his son gently and lovingly, "Dad's Enrique," "Your impudence is like a knife stabbing into my heart," here he comes. It was no longer anger but pain, the helplessness of a father when he saw his child becoming naughty and unteachable, his heart was truly bleeding. But he tried to stay calm to explain to Enrique on the right track, to learn the right things. “Think carefully about this, Enrique: You may experience sad days in your life, but the saddest day will be the day you lose your mother.” After that, the father had to analyze for his child to understand that no one can replace the mother who gave birth and raised him. He sternly warned his son: "There may be times when you will earnestly wish to hear your mother's voice again, to have your mother open her arms to welcome you into her arms. No matter how grown up and healthy you are, you will still see yourself as just a poor, weak and unprotected child. I will be bitter when I remember the times when I made you sad... I will not be able to live in peace if I have made you sad. Even if you regret it, even if you ask your mother's soul for forgiveness... it will all be in vain. My conscience will not be quiet for a moment. The image of mother's gentleness and kindness will make my soul feel like it is being tortured." More than that, he also affirmed and even said it to the extreme with his son: "I love you very much, Enrico, you are my dearest hope in life, but I would rather not have you." child, it's better than seeing you be ungrateful to your mother." The words to warn the son come from the father's love and desire for his son to grow up quickly. The words were gentle, without any shouting or scolding, but it sounded like pain penetrating the soul: "Remember, love and respect for your parents is the most sacred feeling. It's shameful and humiliating for anyone who tramples on that love..." "My Mother" ends with the father's last words that make us wonder: "Well, don't kiss me for a while, I won't be able to happily return your kiss." This means that the father cannot yet forgive easily because his son has violated an important aspect of filial piety. Because the duties, responsibilities and filial piety of children towards their parents are a measure of a person's dignity and moral qualities. Perhaps, I also feel the same as Enrique because of how many times I made my mother sad and worried... Reading the work, I myself also woke up and felt sorry for many things in the past. I will try my best to make it up to my parents, so that they can be proud and not need to worry or think about me. I cherish every happy moment with my family and feel grateful to be with my parents because: "Going around the world, no one is as good as mother - No one is as miserable as father when carrying the burden of life."
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát châm biếm Bài làm Trong kho tàng – dân ca Việt Nam, cùng với những bài ca về tình cảm gia đình, những bài ca tình yêu quê hương đất nước, con người, những tiếng hát than thân, mảng ca dao châm biếm chiếm một số lượng đáng kể. Những câu hát châm biếm đã thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam. Qua các hình thức ẩn dụ, tượng trưng, biện pháp nói ngược vù phóng đại, v.v. những câu hát châm biếm đã phơi bày các sự việc mâu thuẫn, ngược đời, phê phán những thói hư, tật xấu, những hạng người và hiện tượng đáng cười, đáng chê trách trong cuộc sống. Nói khác đi, ca dao châm biếm là vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta. Trong số hàng trăm, hàng ngàn câu ca dao châm biếm, bốn bài trong văn bản Những câu hát châm biếm và ba bài đọc thêm mà học sinh lớp 7 được học có lẽ là tiêu biểu nhất. Trước hết, chúng ta thử điểm mặt xem đối tượng nhân dân ta châm biếm, chê trách là hạng người nào, là hiện tượng gì? Đó là “chú tôi” – một chàng trai làng – nào đó, là một ông thầy bói, là một “cậu cai” (trong bài học chính). Đó là một ông thầy cúng luôn tay gõ chập cheng, là “con mèo” – một loại quan chức, địa chủ trong làng. Đó còn là ông “quan tướng” (trong phần đọc thêm), về hiện tượng xã hội, ca dao châm biếm tập trung nói tới việc ma chay trong làng (bài 3, văn bản chính), hoặc cưới hỏi, lễ bái ở đình chùa… Tất cả những chân dung con người ấy điển hình cho loại người vô công rồi nghề, loại người chức sắc, quan lại từ nhỏ đến lớn, loại người chuyên nghề mê tín dị đoan,… Họ lười biếng, bê tha, gian dối, tàn ác, sách nhiễu nhân dân, gây ra biết bao hiện tượng tiêu cực trong xóm ngoài làng, gieo biết bao đau khổ cho nhân dân. Họ thật đáng cười, đáng chê trách và lên án. Trước hết là cái anh chàng “chú tồi” mà tác giả bài ca muốn giới thiệu với “cô yếm đào” xinh đẹp, trẻ trung. “Chú” lười biếng và lắm thói hư, tật xấu. “Chú” nghiện rượu (hay tửu, hay tăm), nghiện chè (hay nước chè đặc), thường ngủ muộn, thích nằm dài mong nhiều “ngày mưa”, ước đêm kéo dài (thừa trống canh) để không phải ra đồng cày ruộng. Tác giả bài ca đã sử dụng điệp từ (“hay” nhắc lại bốn lần, “ngày” hai lần, “ước” hai lần, “đêm” hai lần) gợi cảm giác kéo dài, quanh quẩn, rất bức bối, khó chịu. Đồng thời, lối chơi chữ, nói ngược (hay tửu, hay tăm, hay nước chè đặc,…) bên ngoài có vẻ như khen ông chú tài giỏi, nhưng thực ra là để giễu cợt, chê trách. Lời nhẹ nhàng, đùa vui hóm hỉnh nhưng ý nghĩa phê phán khá sâu cay. Tiếp sau chân dung “chú tôi” là chân dung ông thầy bói và “cậu cai”. Ở bài thứ hai, tác giả nhại lời thầy bói, ghi âm nguyên văn những lời phán của thầy trước một cô gái mê tín. Thầy đoán về những điều gì và phán thế nào? Toàn là những điều quan trọng mà cô “đệ tử” ước ao điều tốt lành, điều mới mẻ. Nhưng thầy phán toàn là những lời vô nghĩa, những điều vốn nó như thế, hiển nhiên chẳng cần bói toán, suy đoán gì cả. “Số cô chẳng giàu thì nghèo – Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà…”, đấy là thầy đoán về “tài lộc” của cô gái. Còn về “gia cảnh”, về “nhân duyên” thì… “cô có mẹ, mẹ là đàn bà, có cha, cha là đàn ông, cô sẽ có chồng, có chồng sẽ có con, con gái hoặc con trai”… Rõ ràng cái nhà ông thầy bói này chỉ ba hoa, mồm mép, nói những điều ai cũng biết. Tục ngữ ta có câu “thầy bói nói mò”. Ông thầy bói này không chí “nói mò” mà nói lăng nhăng, vô vị, thật đáng cười. Đáng cười hơn nữa là giọng nói của thầy. Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật “nói nước đôi”, nói phóng đại, càng nói càng vô vị, vô nghĩa. Rõ ràng, bài ca dao đã phê phán những ke hành nghề mê tín dị doan, lừa bịp lòng tin của người khác để kiếm tiền. Đồng thời, bài ca cũng giễu cợt, phê phán những người ít hiểu biết, thiếu niềm tin cuộc sống, tìm đến sự bói toán, lễ bái vu vơ, phản khoa học, nhiều khi thêm lo nghĩ không cần thiết “Bói ra ma, quét nhà ra rác”. Cha ông ta từng nhắc nhở như thế. Phê phán ông thầy bói, bài ca dao đồng thời cảnh tỉnh chúng ta. Còn “cậu cai” – trong bài thứ tư – thì có gì đáng phê phán và cách phê phán thế nào? Chân dung “cậu cai” được vẽ bằng hai nét đối chọi nhau. Hằng ngày cậu ăn mặc khá sang trọng, nào “nón dấu lông gà”, nào “ngón tay đeo nhẫn”. Nhưng khi có công việc, cần sự sang trọng, cần uy quyền thì “Áo ngắn đi mượn, quần dài di thuê”, nghĩa là cậu chẳng có của cải, tài năng đích thực gì. Đó là một thân phận rởm, uy quyền rởm mà thôi! Tác giả dân gian đã dùng nghệ thuật đối lập (bên ngoài oai vệ bên trong tầm thường) kết hợp với cường điệu (ba năm một chuyến sai, áo mượn, quần thuê) để hạ bệ “cậu cai”, cũng có nghĩa là châm biếm, phê phán tầng lớp thống trị xưa. Chúng lố lăng, bắng nhắng, nhưng bản chất thì rất tầm thường, quyền hành thảm hại đến nực cười…
Express your feelings about folk songs and satirical verses Assignment In the treasure trove of Vietnamese folk songs, along with songs about family affection, songs about love for one's homeland, people, songs of self-pity, and satirical folk songs, they account for a significant amount. . The satirical songs have quite concentratedly expressed the unique features of Vietnamese folk satirical art. Through metaphors, symbols, exaggerations, etc. The satirical songs exposed contradictory and paradoxical events, criticized bad habits, bad habits, laughable and blameworthy people and phenomena in life. In other words, satirical folk songs are a sharp spiritual weapon of our people. Among the hundreds or thousands of satirical folk songs, the four songs in the satirical songs text and three additional readings that 7th grade students learn are probably the most typical. First of all, let's try to take a look at what kind of people and what phenomenon is the object of our people's satire and criticism? That's "my uncle" - a certain village boy, a fortune teller, a "warden" (in the main lesson). It was a shaman who was always banging his cymbal, a "cat" - a type of official and landowner in the village. He is also the "general" (in the further reading section). Regarding social phenomena, satirical folk songs focus on funerals in the village (article 3, main text), or weddings and worshiping in the village. temples... All of these human portraits are typical of the type of unemployed people, the type of dignitaries and mandarins from small to large, the type of superstitious professionals... They are lazy, self-indulgent, deceit, cruelty, harassment of the people, causing many negative phenomena in the neighborhood and outside the village, bringing so much suffering to the people. They are laughable, blameworthy and condemnable. First of all, there is the "bad uncle" that the author of the song wants to introduce to the beautiful, youthful "girl bib". "Uncle" is lazy and has many bad habits and habits. "Uncle" is addicted to alcohol (or wine, or toothpicks), addicted to tea (or thick tea), often sleeps late, likes to lie down hoping for many "rainy days", wishes the night lasts (with extra empty soup) so he doesn't have to go to the fields. plow. The author of the song used alliteration ("hay" repeated four times, "day" twice, "wish" twice, "night" twice) to evoke a lingering, lingering, very frustrating and difficult feeling. bear. At the same time, the puns and back-talking (or wine, or toothpick, or thick tea, etc.) on the outside seem to compliment the talented uncle, but are actually meant to mock and criticize. The words are light and humorous, but the criticism is quite harsh. Following the portrait of "my uncle" are the portraits of the fortune teller and "the foreman". In the second article, the author parodies the words of a fortune teller, recording verbatim what he said to a superstitious girl. What do you predict and how do you say? These are all important things that the "disciple" wishes for good and new things. But the teacher said it was all meaningless words, things were just like that, obviously there was no need for divination or speculation at all. "If you're not rich, you'll be poor - On the thirtieth day of the Lunar New Year meat hanging in the house...", that was the teacher's guess about the girl's "fortune". As for "family background", about "predestination", then... "she has a mother, her mother is a woman, she has a father, the father is a man, she will have a husband, if she has a husband, she will have children, daughters or sons"... It's clear that this fortune teller's family only brags, mouths, and says things that everyone knows. There is a proverb that says "the fortuneteller speaks nonsense". This fortune teller doesn't just "talk nonsense" but talks promiscuously and tastelessly, which is laughable. Even more laughable is the teacher's voice. Folk authors have used the art of "double talk", exaggerating, the more they talk, the more tasteless and meaningless they become. Obviously, the folk song criticizes those who practice superstition and deceive other people's beliefs to make money. At the same time, the song also mocks and criticizes those who have little understanding and faith in life, and resort to fortune-telling and worshiping aimlessly and unscientifically, often adding unnecessary worries: "Fortune-telling ghosts." , sweep the house out of trash". His father once reminded him like that. Criticizing the fortune teller, the folk song also warns us. As for the "old boy" - in the fourth article - what is there to criticize and how to criticize? The portrait of the "old boy" is drawn with two contrasting strokes. Every day he dresses quite luxuriously, with a "hat marked with chicken feathers" and "a ring on his finger". But when he has a job, needs luxury, needs authority, "Borrow short shirts, rent long pants", meaning he has no real wealth or talent. That's just a fake identity and fake power! The folk author used the art of opposition (outwardly majestic, but insignificant inside) combined with exaggeration (a trip every three years, borrowed shirts, rented pants) to bring down the "old boy", which also means satirizes and criticizes the ancient ruling class. They are ridiculous and ridiculous, but their nature is very trivial, their power is ridiculously pathetic...
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người Bài làm Nếu ca dao – dân ca về tình cảm gia đình thường là những bài hát ru, thì ca dao – dân ca về tình yêu quê hương, đất nước, con người thường là những bài hát đối đáp, những khúc ca ngẫu hứng tự nhiên cất lên trong sinh hoạt cộng đồng, trong lễ hội, khi ngoạn cảnh, lúc đứng ngắm đồng ruộng quê hương,… Chùm ca dao Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người (Ngữ văn 7, tập một) có lẽ là những bài ca tiêu biểu. Điều thú vị là chỉ bốn bài ca ngắn gọn mà chúng ta nghe được nhiều giọng điệu khác nhau, nhìn ngắm, thưởng thức được nhiểu địa danh, nhiều phong cảnh kì thú khác nhau. Ở bài ca dao thứ nhất, chàng trai, cô gái hỏi – đáp về những địa danh mang những đặc điểm nổi bật. Thành Hà Nội năm cửa, sông Lục Đầu sáu khúc chảy êm đềm, nước sông Thương bên đục bên trong, núi Tản Viên, đền Sòng, thành tiên ở Lạng Sơn… Chàng trai hỏi, cô gái đáp, hỏi đáp rất hài hoà, ăn ý. Đây là một hình thức ca hát dân gian thường xuất hiện trong những lễ hội, hội mùa xuân, hội mùa thu ở nhiều vùng quê Việt Nam: hội hát xoan Phú Thọ, hội Lim Bắc Ninh, hát phường vải Nghệ – Tĩnh, hát ví ghẹo, giao duyên ở đồng bằng Bắc Bộ, ở miền Trung và nhiều tỉnh Nam Bộ,… Qua hát đối đáp, đồi bên nam, nữ (có thể là chàng trai cô gái, cũng có thể là cụ ông, cụ bà,…) thử tài nhau về kiến thức lịch sử, địa lí, văn hoá, cũng là để chia sẻ với nhau tình yêu nam nữ, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước. Lắng nghe lời hỏi, đáp của hai nhân vật trữ tình trong bài ca ơ đâu năm cửa nàng ơi… chúng ta thấy hiện lên nhiều địa danh từ thủ đô Hà Nội đến Hải Dương, Bắc Giang, vào Thanh Hoá, rồi ngược Lạng Sơn. Mỗi vùng có một nét đẹp riêng, hợp thành một bức tranh non nước Việt Nam thơ mộng, giàu truyền thống văn hoá. Không trực tiếp nói ra, nhưng cả nsười hỏi lẫn người đáp đều biểu hiện tình yêu, niềm tự hào vể quê hương, Tổ quốc mình. Bài ca còn kéo dài hơn nữa. Chẳng hạn, chàng trai hỏi tiếp: Ở đâu có chín từng mây Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng? Chùa nào mủ lại ở hang Ở đâu lắm gỗ thì nàng biết không?… Cô gái đáp: Trên trời có chín từng mây Dưới sông lắm nước, núi nay nhiều vàng Trên rừng lắm gỗ, hỡi chàng biết không… Như vậy, chàng trai, cô gái trong cuộc hát giao duyên này nói riêng, nhân dân lao động Việt Nam ta nói chung không chỉ say đắm, mến yêu, tự hào về giang sơn Việt Nam cẩm tú mà còn tỏ ra là những người lịch lãm, hào hoa, tế nhị và giàu hiểu biết, thật đáng noi theo. Tiếp sau những cuộc hát đối đáp là những chuyến du lịch. Một nhóm người, hoặc cả đoàn người đông vui chung niềm khao khát được thưởng thức cảnh đẹp ở đất kinh kì, ở xứ Huế cố đô “rủ nhau”, gọi nhau… Cảnh ở kinh kì thật phong phú, có hồ (Kiếm Hồ), có cầu (Thê Húc), có đền (Ngọc Sơn), có đài, có tháp, cảnh thiên tạo hài hoà với cảnh nhân tạo, nét đẹp tự nhiên hài hoà với nét đẹp lịch sử, văn hoá. Còn ở Huế, cảnh mới thơ mộng làm sao, đường quanh quanh uốn lượn hài hoà với “non xanh”, “nước biếc”, sơn thuỷ hữu tình. Với cảnh ở Hà Nội, tác giả dân gian không tả mà chỉ kể, theo kiểu liệt kê, các chi tiết cảnh nối nhau thật phong phú, đa dạng. Còn với Huế, cảnh được miêu tả theo kiểu chấm phá lướt qua: đường, núi, nước. Mỗi đối tượng được nhấn mạnh bằng một tính từ gợi hình. Đường thì “quanh quanh”, núi thì “xanh”, nước (sông Hương) thì “biếc”. Thêm nữa, từ láy hoàn toàn “quanh quanh” và phép so sánh “như tranh hoạ đồ” khiến cho xứ Huế càng… mộng và… thơ. Thăm Hà Nội kinh kì, rồi vô xứ Huế cố đô, chúng ta được ngắm cảnh, được thăm viếng những di tích lịch sử, văn hoá, lòng càng thêm yêu Tổ quốc tươi đẹp, trí càng thêm rộng mờ và lắng sâu, ghi nhớ công ơn người xưa đã tôn tạo và giữ gìn “bức tranh hoạ đồ” quý giá. Bài ca dao thứ tư, thú vị thay, giọng ca, lời ca phóng khoáng linh hoạt, cảnh thiên nhiên và nhân vật trữ tình hoà hợp, đậm chất đồng quê, khác hẳn hai bài trước: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông. Thân em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. Về bố cục, bài ca dao này gồm hai phần vừa độc lập vừa gắn bó với nhau. Hai câu đầu tả cảnh đồng lúa trong buổi bình minh. Hai câu sau miêu tả dáng hình cô thôn nữ đẹp đẽ, thơ mộng như đồng lúa, như những chẽn lúa… về giọng điệu, đây là loại bài ca tự do, ngôn ngữ được nới rộng theo đối tượng miêu tả và tâm trạng nhân vật trữ tình. Hai câu đầu, mỗi câu kéo dài mười hai tiếng. Câu thứ ba không phái sáu tiếng mà là bảy tiếng. Chỉ câu bốn mới trở lại tám tiếng bắt vần với câu ba giống thể thơ lục bát. Đây là bài ca dao lục bát biến thể, một thể thơ khá phố biến trong kho tàng ca dao Việt Nam. Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người Nếu hiểu theo cách thứ nhất – lời chàng trai – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao tỏ tình, ví ghẹo. Ví dụ: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Hoặc: Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm. Mở đầu các bài ca này thường là tiếng gọi, rồi tiếp sau là một câu hỏi ỡm ờ, dưa duyên. Hoặc nếu không thì cũng là những lời ca ngợi khéo léo để làm đẹp lòng người mình đang hướng tới. Ví dụ: Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh, em đứng một mình cũng xinh. Nếu hiểu theo cách hai – lời cô gái – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao mượn cảnh ngụ tình, trước thiên nhiên và cuộc sống, con người giãi bày tâm sự. Ví dụ: Một ngày hai buổi cơm đèn Còn gì má phấn, răng đen, hỡi chàng. Hoặc: – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. – Thân em như hạt mưa sa… Suy ngẫm trên cơ sở văn bản, cả nội dung, cảm hứng lẫn giọng diệu, ngôn từ, có lẽ hiểu bài ca dao “Đứng bên ni đồng…” theo cách hai là sát hợp hơn. Đây là lời cô thôn nữ trước đồng ruộng quê hương, vừa ca ngợi cảnh đẹp cánh đồng vừa tự ngắm rồi dự cảm về thân phận mình. Nếu là lời chàng trai, e rằng không sát, vì không ai tỏ tình lại nói với đối tượng bằng từ “thân em” nghe không duyên dáng, thiếu tế nhị. Những bài ca dao trên có giọng điệu khác nhau nhưng mang vẻ đẹp nghệ thuật và nội dung, ý nghĩa thật phong phú. Điều chúng ta ghi nhớ nhất là: Những câu hát về quê hương, đất nước, con người thường gợi nhiều hơn tả, nhắc đến tên núi, tên sông, tên vùng đất với những nét đặc sắc vê hình thể, cánh trí, lịch sử, văn hoá của từng địa danh. Đằng sau những câu hỏi, lời đáp, lời mời, lời nhắn gửi và các bức tranh phong cảnh luôn là tình yên chân chất, tinh tế và niềm tự hào đối với quê hương, đất nước, con người…
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người Bài làm Nếu ca dao – dân ca về tình cảm gia đình thường là những bài hát ru, thì ca dao – dân ca về tình yêu quê hương, đất nước, con người thường là những bài hát đối đáp, những khúc ca ngẫu hứng tự nhiên cất lên trong sinh hoạt cộng đồng, trong lễ hội, khi ngoạn cảnh, lúc đứng ngắm đồng ruộng quê hương,… Chùm ca dao Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người (Ngữ văn 7, tập một) có lẽ là những bài ca tiêu biểu. Điều thú vị là chỉ bốn bài ca ngắn gọn mà chúng ta nghe được nhiều giọng điệu khác nhau, nhìn ngắm, thưởng thức được nhiểu địa danh, nhiều phong cảnh kì thú khác nhau. Ở bài ca dao thứ nhất, chàng trai, cô gái hỏi – đáp về những địa danh mang những đặc điểm nổi bật. Thành Hà Nội năm cửa, sông Lục Đầu sáu khúc chảy êm đềm, nước sông Thương bên đục bên trong, núi Tản Viên, đền Sòng, thành tiên ở Lạng Sơn… Chàng trai hỏi, cô gái đáp, hỏi đáp rất hài hoà, ăn ý. Đây là một hình thức ca hát dân gian thường xuất hiện trong những lễ hội, hội mùa xuân, hội mùa thu ở nhiều vùng quê Việt Nam: hội hát xoan Phú Thọ, hội Lim Bắc Ninh, hát phường vải Nghệ – Tĩnh, hát ví ghẹo, giao duyên ở đồng bằng Bắc Bộ, ở miền Trung và nhiều tỉnh Nam Bộ,… Qua hát đối đáp, đồi bên nam, nữ (có thể là chàng trai cô gái, cũng có thể là cụ ông, cụ bà,…) thử tài nhau về kiến thức lịch sử, địa lí, văn hoá, cũng là để chia sẻ với nhau tình yêu nam nữ, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước. Lắng nghe lời hỏi, đáp của hai nhân vật trữ tình trong bài ca ơ đâu năm cửa nàng ơi… chúng ta thấy hiện lên nhiều địa danh từ thủ đô Hà Nội đến Hải Dương, Bắc Giang, vào Thanh Hoá, rồi ngược Lạng Sơn. Mỗi vùng có một nét đẹp riêng, hợp thành một bức tranh non nước Việt Nam thơ mộng, giàu truyền thống văn hoá. Không trực tiếp nói ra, nhưng cả nsười hỏi lẫn người đáp đều biểu hiện tình yêu, niềm tự hào vể quê hương, Tổ quốc mình. Bài ca còn kéo dài hơn nữa. Chẳng hạn, chàng trai hỏi tiếp: Ở đâu có chín từng mây Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng? Chùa nào mủ lại ở hang Ở đâu lắm gỗ thì nàng biết không?… Cô gái đáp: Trên trời có chín từng mây Dưới sông lắm nước, núi nay nhiều vàng Trên rừng lắm gỗ, hỡi chàng biết không… Như vậy, chàng trai, cô gái trong cuộc hát giao duyên này nói riêng, nhân dân lao động Việt Nam ta nói chung không chỉ say đắm, mến yêu, tự hào về giang sơn Việt Nam cẩm tú mà còn tỏ ra là những người lịch lãm, hào hoa, tế nhị và giàu hiểu biết, thật đáng noi theo. Tiếp sau những cuộc hát đối đáp là những chuyến du lịch. Một nhóm người, hoặc cả đoàn người đông vui chung niềm khao khát được thưởng thức cảnh đẹp ở đất kinh kì, ở xứ Huế cố đô “rủ nhau”, gọi nhau… Cảnh ở kinh kì thật phong phú, có hồ (Kiếm Hồ), có cầu (Thê Húc), có đền (Ngọc Sơn), có đài, có tháp, cảnh thiên tạo hài hoà với cảnh nhân tạo, nét đẹp tự nhiên hài hoà với nét đẹp lịch sử, văn hoá. Còn ở Huế, cảnh mới thơ mộng làm sao, đường quanh quanh uốn lượn hài hoà với “non xanh”, “nước biếc”, sơn thuỷ hữu tình. Với cảnh ở Hà Nội, tác giả dân gian không tả mà chỉ kể, theo kiểu liệt kê, các chi tiết cảnh nối nhau thật phong phú, đa dạng. Còn với Huế, cảnh được miêu tả theo kiểu chấm phá lướt qua: đường, núi, nước. Mỗi đối tượng được nhấn mạnh bằng một tính từ gợi hình. Đường thì “quanh quanh”, núi thì “xanh”, nước (sông Hương) thì “biếc”. Thêm nữa, từ láy hoàn toàn “quanh quanh” và phép so sánh “như tranh hoạ đồ” khiến cho xứ Huế càng… mộng và… thơ. Thăm Hà Nội kinh kì, rồi vô xứ Huế cố đô, chúng ta được ngắm cảnh, được thăm viếng những di tích lịch sử, văn hoá, lòng càng thêm yêu Tổ quốc tươi đẹp, trí càng thêm rộng mờ và lắng sâu, ghi nhớ công ơn người xưa đã tôn tạo và giữ gìn “bức tranh hoạ đồ” quý giá. Bài ca dao thứ tư, thú vị thay, giọng ca, lời ca phóng khoáng linh hoạt, cảnh thiên nhiên và nhân vật trữ tình hoà hợp, đậm chất đồng quê, khác hẳn hai bài trước: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông. Thân em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. Về bố cục, bài ca dao này gồm hai phần vừa độc lập vừa gắn bó với nhau. Hai câu đầu tả cảnh đồng lúa trong buổi bình minh. Hai câu sau miêu tả dáng hình cô thôn nữ đẹp đẽ, thơ mộng như đồng lúa, như những chẽn lúa… về giọng điệu, đây là loại bài ca tự do, ngôn ngữ được nới rộng theo đối tượng miêu tả và tâm trạng nhân vật trữ tình. Hai câu đầu, mỗi câu kéo dài mười hai tiếng. Câu thứ ba không phái sáu tiếng mà là bảy tiếng. Chỉ câu bốn mới trở lại tám tiếng bắt vần với câu ba giống thể thơ lục bát. Đây là bài ca dao lục bát biến thể, một thể thơ khá phố biến trong kho tàng ca dao Việt Nam. Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người Nếu hiểu theo cách thứ nhất – lời chàng trai – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao tỏ tình, ví ghẹo. Ví dụ: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Hoặc: Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm. Mở đầu các bài ca này thường là tiếng gọi, rồi tiếp sau là một câu hỏi ỡm ờ, dưa duyên. Hoặc nếu không thì cũng là những lời ca ngợi khéo léo để làm đẹp lòng người mình đang hướng tới. Ví dụ: Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh, em đứng một mình cũng xinh. Nếu hiểu theo cách hai – lời cô gái – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao mượn cảnh ngụ tình, trước thiên nhiên và cuộc sống, con người giãi bày tâm sự. Ví dụ: Một ngày hai buổi cơm đèn Còn gì má phấn, răng đen, hỡi chàng. Hoặc: – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. – Thân em như hạt mưa sa… Suy ngẫm trên cơ sở văn bản, cả nội dung, cảm hứng lẫn giọng diệu, ngôn từ, có lẽ hiểu bài ca dao “Đứng bên ni đồng…” theo cách hai là sát hợp hơn. Đây là lời cô thôn nữ trước đồng ruộng quê hương, vừa ca ngợi cảnh đẹp cánh đồng vừa tự ngắm rồi dự cảm về thân phận mình. Nếu là lời chàng trai, e rằng không sát, vì không ai tỏ tình lại nói với đối tượng bằng từ “thân em” nghe không duyên dáng, thiếu tế nhị. Những bài ca dao trên có giọng điệu khác nhau nhưng mang vẻ đẹp nghệ thuật và nội dung, ý nghĩa thật phong phú. Điều chúng ta ghi nhớ nhất là: Những câu hát về quê hương, đất nước, con người thường gợi nhiều hơn tả, nhắc đến tên núi, tên sông, tên vùng đất với những nét đặc sắc vê hình thể, cánh trí, lịch sử, văn hoá của từng địa danh. Đằng sau những câu hỏi, lời đáp, lời mời, lời nhắn gửi và các bức tranh phong cảnh luôn là tình yên chân chất, tinh tế và niềm tự hào đối với quê hương, đất nước, con người…
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao: “Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần”. Bài làm Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng nhất trong đời sống con người. Vì thế trong kho tàng văn học dân gian đã có biết bao tiếng hát, lời ru, câu chuyện… khuyên nhủ mọi người hãy xây dựng tình cảm gia đình đầm ấm, thuận hòa. Một trong những lời khuyên được lưu truyền rộng rãi là: Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Câu ca dao đã dùng hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi để lời khuyên dễ đi vào lòng người. Ai chẳng biết tay, chân là những bộ phận trên cùng một cơ thể con người. Tuy mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ khăng khít, bổ sung, hỗ trợ cha nhau. Anh em trong gia đình cũng vậy. Tuy mỗi người là một cá nhân riêng biệt nhưng đều cùng cha mẹ sinh ra, cùng chơi, cùng học, cùng lớn lên dưới một mái nhà. Vì thế, quan hệ anh em là quan hệ gắn bó máu thịt với nhau. Vậy anh em phải cư xử với nhau thế nào cho đúng? Người xưa khuyên nhủ: Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Anh em ruột thịt phải thương yêu, giúp đỡ nhau trên mỗi bước đường đời. Đùm bọc có nghĩa lằ giúp đỡ, che chở, chia sẻ cho nhau mọi nỗi buồn vui, mọi điều sướng khổ với tất cả tình cảm thương mến chân thành. Câu ca dao đưa ra một cách cư xử hợp tình hợp lí trong quan hệ anh em. Đây cũng là một chuẩn mực đạo đức để đánh giá phẩm chất con người. Đùm bọc, đỡ đần còn là trách nhiệm mỗi người anh, người em trong gia đình. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về tình anh em thắm thiết qua Sự tích trầu cau. Hai anh em sinh đôi họ Cao mồ côi cha mẹ, dắt nhau đên học ở nhà thầy đồ họ Lưu. Thấy họ nhường nhau bát cháo duy nhất, cô con gái thầy đồ cảm động và tình nguyện làm vợ người anh. Thế rồi chỉ vì một sự hiểu lầm mà người em xấu hổ phải ra đi Người anh ân hận bỏ nhà đi tìm em… Tình anh em sâu nặng đã khiến trời đất cảm động, biến anh thành cây cau, em thành hòn đá, mãi mãi bên nhau trong tục ăn trầu của người Việt. Bên cạnh việc ca ngợi tình anh em thắm thiết trong truyện Trầu cau, nhân dân ta cũng lên án người anh tham lam độc ác trong truyện Cây khế và dành cho hắn kết cục bi thảm là phải bỏ xác dưới đáy biển sâu.
Topic: Express your feelings about the folk song: "Brothers are like hands and feet, they are healed and protected, and difficulties are helped." Assignment Family love is the most sacred love in human life. Therefore, in the treasury of folk literature, there are countless songs, lullabies, stories... advising people to build warm, harmonious family relationships. One of the widely circulated pieces of advice is: Brothers like hands and feet, Tears heal and are protected, difficulties are relieved. The folk song uses specific, close comparisons so that the advice can easily reach people's hearts. Everyone knows that arms and legs are parts of the same human body. Although each department has its own functions and tasks, there is always a close relationship between them, complementing and supporting each other. The same goes for brothers in the family. Although each person is a separate individual, they are all born with the same parents, play together, study together, and grow up together under the same roof. Therefore, the brotherly relationship is a relationship of flesh and blood. So how should you treat each other properly? The ancients advised: If a wound heals, you will be protected, and when you are in trouble, you will be protected. Siblings must love and help each other at every step of their life. Caring means helping, protecting, sharing with each other all the joys and sorrows, all the joys and sufferings with all sincere love and affection. The folk song suggests a reasonable way of behaving in brotherly relationships. This is also an ethical standard to evaluate human qualities. Protecting and supporting is also the responsibility of each brother and sister in the family. In folklore, the story of brotherly love is still passed down through the story of the betel and areca nut. Two twin brothers named Cao lost their parents and took each other to study at the house of a master named Liu. Seeing them give each other a single bowl of porridge, the teacher's daughter was moved and volunteered to be his brother's wife. Then, just because of a misunderstanding, the embarrassed younger brother had to leave. The regretful older brother left home to look for him... The deep brotherly love touched heaven and earth, turning me into an areca tree, you into a stone, forever. forever together in the Vietnamese custom of chewing betel. Besides praising the passionate brotherhood in the story of Trau and Areca, our people also condemned the cruel and greedy brother in the story of Starfruit Tree and gave him the tragic end of having to leave his body at the bottom of the deep sea.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau,Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” Bài làm Gia đình là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người, là chiếc nôi đầu tiên khi một đứa trẻ chào đời, hình thành nhân cách cho con người. Một gia đình luôn sum vầy hạnh phúc, cha mẹ luôn sống đúng chuẩn mực xã hội, đạo đức sẽ hình thành cho đứa trẻ những nhân cách tốt. Chính vì vậy, khi người con gái tới tuổi phải đi lấy chồng, được gả về một nơi xa xôi khiến cho người con gái nhớ quê nhà, ngày đêm trông ngóng về quê hương, với nỗi nhớ khôn nguôi về gia đình, về những người thân yêu của mình Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều. Hai câu ca dao thể hiện sự đau xót, nỗi niềm của cô gái khi nhìn về quê hương của mình. Nhìn về nơi có gia đình thân thương với những tình cảm thân thương, sự gắn bó vô cùng thiêng liêng, sâu sắc. Điệp từ “chiều chiều” được lặp đi lặp lại, thể hiện một việc vô cùng quen thuộc, như một thói quen, thường trực nỗi nhớ nhung trong lòng người con gái xa quê, làm cho người đọc cảm thấy nhớ nhung ngậm ngùi cho thân phận của người con xa quê. Chiều tà là cảnh hoàng hôn, buông xuống bóng tối bao phủ khiến cho người nỗi buồn trong lòng người càng dâng lên da diết, khiến cho con người càng cảm thấy thê lương, tâm trạng nhớ nhà, nhớ người thân càng trở nên quay quắt, da diết vô cùng. Quê mẹ là nơi cô gái sinh ra lớn lên với những kỷ niệm ngọt ngào bên người thân. Biết bao kỷ niệm vui buồn sớm tối. Những kỷ niệm gia đình quây quần bên nhau, khiến cô gái vô cùng buồn phiền, nhớ nhung Bài ca dao thể hiện tình cảm ruột thịt giữa con cái và cha mẹ là tình cảm thiêng liêng sâu sắc không gì có thể sánh được, người con gái khi lớn lên phải gả tới nơi xa xôi nhớ nhung thương nhớ mẹ cha ở quê nhà. Giọng tâm tình đầy thương nhớ, lời thơ vô cùng dịu dàng sâu lắng khiến người đọc cảm thông với những tình cảm của người con gái xa nhà. Nỗi nhớ da diết chất chứa trong lòng người con gái khiến người con gái ruột đau như cắt. Tình cảm tha thiết nỗi nhớ quê hương là tình cảm mà bất cứ người con nào xa quê thường có. Nó thể hiện tình cảm thiêng liêng gia đình ruột thịt gắn bó với nhau không gì chia lìa được.
Topic: Expressing feelings about the folk song "In the afternoon, standing in the back alley, looking back at my mother's hometown is painful for nine afternoons" Assignment Family is the place that nurtures the human soul, is the first cradle when a child is born, and shapes a person's personality. A family that is always together and happy, where parents always live according to social and moral standards, will form good personalities for the child. That's why, when a girl reaches the age to get married, being married to a far away place makes her miss her homeland, day and night she looks forward to her homeland, with an endless nostalgia for her family and her memories. your loved one Lane stood next afternoon Looking back to my mother's hometown, my stomach aches nine times. The two folk songs express the girl's pain and sadness when looking back at her homeland. Looking at the place where there is a beloved family with loving feelings and an extremely sacred and profound attachment. The refrain "afternoon" is repeated over and over, expressing a very familiar thing, like a habit, the constant longing in the heart of a girl far from home, making the reader feel nostalgic and sad for her. the fate of a son far away from home. Late afternoon is the scene of sunset, falling into darkness, making the sadness in people's hearts rise even more intensely, making people feel even more desolate, the mood of homesickness, missing loved ones becomes even more miserable. , extremely poignant. Her mother's hometown is where the girl was born and grew up with sweet memories with her relatives. So many happy and sad memories morning and night. The memories of family gathering together made the girl extremely sad and nostalgic The folk song shows that the close relationship between children and parents is a profound spiritual feeling that nothing can compare to. When the girl grows up, she must marry to a faraway place and miss her parents back home. . The sentimental voice is full of nostalgia, the lyrics are extremely tender and profound, making the reader sympathize with the feelings of the girl far from home. The intense nostalgia contained in a girl's heart causes her biological daughter to feel pain like hell. The passionate feeling of missing one's homeland is a feeling that any child who is far from home often has. It represents the sacred bond between a biological family and nothing that can separate them.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao:Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Hướng dẫn Người phụ nữ xưa phải chịu rất nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Họ không có quyền quyết định cho cuộc sống của mình mà phải phụ thuộc vào người chồng người cha. Có rất nhiều câu ca dao tục ngữ nói về thân phận người phụ nữ lúc bấy giờ, trong đó nổi bật là câu ca dao: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.” Câu ca dao là lời giãi bày tâm sự của một người phụ nữ vì hoàn cảnh mà phải lấy chồng xa. Do ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến, người phụ nữ lúc bấy giờ chưa được quyền bình đẳng, phải hứng chịu những đau đớn trong cuộc đời. Việc lấy chồng là việc hệ trọng của đời người nhưng người phụ nữ thời đó phải chấp nhận cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, thậm chí phải lấy chồng lấy vợ từ khi lên năm lên ba. Sống trong nhà chồng người con gái đi lấy chồng xa thường phải chịu nhiều nỗi tủi hờn, đau khổ. Những lúc tủi phận, những lúc nhớ nhà nàng chỉ còn biết thui thủi ôm nỗi buồn mà “trông về quê mẹ”. Câu ca dao diễn tả tâm trạng người phụ nữ vào buổi chiều. Đó là thời điểm cuối ngày thường gợi nhiều suy nghĩ và thường gợi những nỗi buồn vương vất. Dân gian dùng từ láy Chiều chiều cho ta biết rằng không phải một buổi chiều mà chiều nào cũng vậy, khi thời gian bước vào cái giây khắc của ngày tàn, người phụ nữ lại “đứng ra ngõ sau” để “trông về quê mẹ” mà “ruột đau chín chiều”. Bước vào chiều tà không gian đã nhập nhoạng tối, người phụ nữ lại chọn địa điểm “ngõ sau” rất kín đáo để tự mình đối diện với lòng mình. “Ngõ sau” chẳng những gợi đến thân phận hèn mọn của phận dâu tôi mà kết hợp với thời gian chiều tối nó còn tạo ra một góc riêng cho người phụ nữ tội nghiệp ấy: một cái góc vừa tối vừa hẹp. Trong khung cảnh ảm đạm, hình ảnh người phụ nữ cô đơn thui thủi một mình càng nhỏ bé, đáng thương hơn nữa. Nàng lặng lẽ “Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Nhắc đến “mẹ” là nhắc đến điểm tựa tâm hồn của người con. Nhắc đến “quê mẹ” là nhắc đến những yêu thương, những đồng cảm, những sẻ chia làm ấm lòng người. Đặc biệt, từ “trông” không chỉ có nghĩa là nhìn mà còn có ý nghĩa là trông ngóng. Người phụ nữ “trông về quê mẹ” còn là đang khao khát những tình cảm ấm nồng, còn đang mong ngóng ngày trở về quê mẹ với những người thân yêu nhất của mình. Trong hoàn cảnh bèo dạt mây trôi nơi đất khách quê người, nàng trông về nơi ấy mà ruột đau chín chiều. Chín chiều là “chín bề”, là “nhiều bề”. Nỗi đau “chín chiều” là nỗi đau quặn thắt không nói nên lời, nó âm ỉ, nó dai dẳng làm mòn làm héo con người. Cách sử dụng từ ngữ có kết cấu vòng tròn đối xứng chiều chiều – chín chiều đã góp phần gợi tả bi kịch đời người phụ nữ: họ chẳng bao giờ thoát khỏi cái vòng trong khổ đau định mệnh. Tình cảnh và tâm trạng của người phụ nữ ấy vì thế mà càng nặng nề, đau xót hơn. Chỉ có hai câu thơ ngắn gọn nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa sâu xa, câu ca dao đã lột tả được hết tâm trạng của người phụ nữ khi phải đi lấy chồng xa, tủi phận cô đơn, nhớ quê nhà, nhớ mẹ, bởi ở nơi đó không có chỗ nào là chỗ dựa cho người con gái bất hạnh ấy. Câu ca dao như một lời tố cáo cái xã hội phong kiến thối nát, đẩy người phụ nữ mềm yếu xuống bước đường cùng của cuộc sống.
Topic: Express your feelings about the folk song: In the afternoon, go out and stand in the back alley / Looking back to your mother's hometown is painful for nine afternoons. Instruct Ancient women had to endure many misfortunes in life. They do not have the right to make decisions about their lives but must depend on their husbands and fathers. There are many folk songs and proverbs talking about the fate of women at that time, among which the famous folk song is: "Lane stood next afternoon Looking back to my mother's hometown is painful." The folk song is the confession of a woman who, due to circumstances, had to marry far away. Due to the influence of feudal concepts, women at that time did not have equal rights and had to endure pain in life. Getting married is an important event in a person's life, but women at that time had to accept the situation where their parents placed their children, and even had to get married from the age of five. Living in her husband's house, a girl who marries far away often has to endure a lot of sadness and suffering. In times of sadness and homesickness, all she can do is embrace her sadness and "look back to her motherland". The folk song describes a woman's mood in the afternoon. It is the end of the day that often evokes many thoughts and often evokes lingering sadness. People use the word "afternoon" to tell us that it is not just one afternoon but every afternoon. When time enters the final moment, the woman "stands in the back alley" to "look back to her motherland". ” but “the intestines hurt in nine directions”. Entering the late afternoon, the space was already dark, the woman chose a very discreet "back alley" location to face her heart. "Back alley" not only evokes the humble status of my daughter-in-law, but combined with the evening time, it also creates a private corner for that poor woman: a corner that is both dark and narrow. In the gloomy scene, the image of a lonely woman alone becomes even smaller and more pitiful. She said quietly, "Looking back to my mother's hometown is painful." Mentioning "mother" refers to the fulcrum of the child's soul. Referring to the "motherland" is mentioning the love, sympathy, and sharing that warms people's hearts. In particular, the word "look" not only means to look but also to look forward to. The woman who "looks back to her motherland" is also longing for warm feelings and looking forward to the day she can return to her motherland with her closest loved ones. In a miserable situation in a foreign land, she looked back at that place and felt a pain in her stomach. The nine dimensions are "nine surfaces", "many surfaces". The "nine-dimensional" pain is an unspeakable pain, it is dull, it is persistent, it wears away and withers the person. The use of words with a dimensional and nine-dimensional symmetrical circular structure has contributed to describing the tragedy of women's lives: they can never escape the cycle of fateful suffering. That woman's situation and mood therefore became even more serious and painful. With only two short verses but containing many profound meanings, the folk song fully describes the mood of a woman when she has to get married far away, feels lonely, misses her hometown, misses her mother, because There was no support there for that unfortunate girl. The folk song is like a denunciation of the corrupt feudal society, pushing weak women to the bottom of life.
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao: “Ngó lên nuột lạt mái nhà Bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” Bài làm “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống đạo lý cơ bản của dân tộc Việt Nam. Là biểu hiện của lòng hiếu nghĩa, người dân vẫn còn phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ… Hay trong giân dan cũng lưu truyền rất nhiều câu ca dao thể hiện tình cảm với ông bà tổ tiên, trong đó đặc biệt phải kể đến bài ca dao: “Ngó lên nuột lạt mái nhà Bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” Trong câu ca dao ta có thể cảm nhận ra rõ ràng sự tinh tế của người xưa khi đem so sánh tình cảm của mình đối với gia đình mà đặc biệt ở đây là “ông bà” với những chiếc lạt để làm lên mái nhà. Ngày xưa, người ta thường lấy lạt chẻ bằng tre để buộc những mái gianh và để hoàn thành được những mái nhà như vậy cần rất nhiều nuột lạt, số nuột lạt ấy nhiều đến không thể đếm được. Chính vì thế mà tác giả không sử dụng một con số cụ thể nào mà sử dụng từ phiếm chỉ “bao nhiêu”, “bấy nhiêu” để thể hiện tình cảm lớn lao không từ ngữ nào diễn tả được hay mang ra “cân đo đong đếm” được. Qua cách thể hiện tình cảm của con cái đối với ông bà, cha mẹ; câu ca dao cũng nói lên đạo nghĩa về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam, đây là một truyền thống tốt đẹp đã được gìn giữ và phát huy qua bao nhiêu thế hệ. Ở đây, hành động “ngó lên” còn thể hiện sự thành kính, thành khẩn khi ngước lên,hướng về với lòng biết ơn đối với lớp người đi trước-những con người đã tạo nên sự bình yên, hạnh ohusc của dân tộc. Nhịp thơ chậm, âm điệu ngậm ngùi càng thể hiện rõ lòng thành kính ấy. Bài ca dao ngắn gọn nhưng đã gói ghém được tất cả ý nghĩa, ý tình sâu sắc mà thấm thía của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ. Qua đó, nhắn nhủ với thế hệ sau hãy tôn trọng và giữ gìn những thành quả chúng ta đang có, sống ý nghĩa và bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, bởi lòng biết ơn là nền tảng của đạo làm người.
Express your thoughts about the folk song: “Look up at the roof How much I miss my grandparents." Assignment "When drinking water, remember its source" is a basic moral tradition of the Vietnamese people. As an expression of filial piety, people still have the custom of worshiping ancestors, grandparents, parents... Or in folklore, there are also many folk songs expressing affection for ancestors, especially Especially the folk song: “Look up at the roof How much I miss my grandparents." In the folk song, we can clearly feel the sophistication of the ancients when comparing their feelings for their family, especially here, "grandparents" with the laths used to make the roof. In the past, people often used split bamboo strips to tie thatched roofs and to complete such roofs, a lot of strips were needed, the number of strips was too many to count. That's why the author does not use any specific number but uses the words "how much" and "that much" to express a great feeling that no other words can describe or "weigh". "countable". Through the way children express their feelings towards their grandparents and parents; The folk song also speaks about the filial piety of the Vietnamese people. This is a good tradition that has been preserved and promoted for many generations. Here, the act of "looking up" also shows respect and sincerity when looking up, towards with gratitude towards the predecessors - the people who have created the peace and happiness of the nation. . The slow pace of the poem and the sad tone further express that devotion. The folk song is short but encapsulates all the meaning and deep and profound love that children and grandchildren have for their grandparents and parents. Thereby, we remind the next generation to respect and preserve the achievements we have, live meaningfully and express gratitude to our ancestors, because gratitude is the foundation of human morality.
Phát biểu cảm nghĩ về cây bằng lăng Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về cây bằng lăng Nếu chúng ta chịu khó để ý sẽ nhận ra mùa nào cũng có hoa nở. Không phải chỉ mùa xuân mới có. Mùa xuân chỉ hơn một chút. Mùa xuân nhiều hoa nở hơn các mùa khác. Ai nói mơ hồ chỉ có hoa nở mùa xuân là không đúng. Hoa phượng, hoa ô môi đỏ rực suốt mùa hạ. Hoa bằng lăng báo tin mùa xuân đã hết, bắt đầu những ngày trời nắng. Cây bằng lăng buông từng chuỗi hoa. Tôi thích màu tím hoa bằng lăng. Cây bằng lăng non, cao cao, phất phơ một túm lá. Rồi mà xem, cây bằng lăng phố ta sắp sùm sòa ra. Khi mùa hạ tới, cây chi chít những chùm hoa tím. Con ong, con tò vò, con ve sầu, con cánh quít, cả đàn bướm nhung nhăng kia, tha hồ nhởn nhơ vào đây. Cây bằng lăng phố ta đẹp đến thế đấy. Nhưng, bằng lăng phố tôi còn non chưa có hoa và bây giờ bằng lăng chưa có chạc vững để chúng tôi trèo lên. Vẫn có thể chơi với bằng lăng được chứ. Phải tìm ra trò chơi với bằng lăng. Ai có nhớ trò kéo co hai đứa ngoằng cánh tay vào nhau, rồi kéo. Đứa thua thì cánh tay xõa ra. Đấy, chúng tôi đã nghĩ được cách thử sức với cây bằng lăng đương lớn bổng lên. Xem các cậu ấy có khỏe không. Vui với nhau mà. Thế là, cứ đi đâu về qua cây bằng lăng, chúng tôi lại xúm nhau vít cây xuống, vít thật mạnh, bắt chỏm ngọn cây uốn dẻo xuống tận mặt đất. Rồi buông cho cây vút lên, vù một cái, như cánh nỏ bật. Khỏe đấy, hoan hô bằng lăng! Khốn khổ, cây bằng lăng nào chúng tôi cũng chơi thử sức thế. Suốt ngày, có khi cả buổi tối, những cây bằng lăng cứ bị bắt buộc vi vút lên. Chẳng mấy hôm mà những cây bằng lăng đều phờ phạc, lử khử. Cây nào cũng bị lỏng gốc. Cây lắc lư, lảo đảo, chóng mặt héo lá. Mùa xuân tới rồi. Ngoài kia đương mưa phùn. Vòm trời âm u. Cả đến mảnh trời trên đầu tường cũng không nhìn thấy. Không phải tại sương mù ngoài hồ tỏa vào. Đây là mưa bụi, hạt mưa từng làn lăng quáng li ti đậu trên áo trên tóc. Phủi nhẹ một cái, rơi đâu mất. Mưa dây mưa rợ, mưa phơi phới như rắc phân mù mịt. Mưa phùn đem mùa xuân đến. Mưa phùn khiến những chân mạ gieo muộn này xanh lá mạ. Dây khoai, dây cà chua rườm rà xanh rợ các trảng ruộng cao. Mầm cây sao, cây nhội, cây bày hai bên đường nảy lộc. Mỗi hôm trông thấy mỗi khác. Những cây bằng lăng trơ trụi, lẻo khẻo, thiểu não như cái cọc cắm. Thế mà mưa phùn đã làm cho các đầu cành bằng lăng nhú mầm. Mưa bụi đọng lại, thành những bọng nước bọc trắng ngần như thủy tinh. Trên cành ngang, những hạt mưa thành dây chuỗi hạt trai lóng lánh, ở búi cỏ dưới gốc, ô mạng nhện bám mưa bụi, như được choàng mảng voan trắng.
Express your feelings about the Lagerstroemia tree Instruct Express your feelings about the Lagerstroemia tree If we pay close attention, we will realize that flowers bloom in every season. It's not just spring. Spring is just a little more. Spring has more flowers blooming than other seasons. Whoever said that vague flowers only bloom in spring was not correct. Royal poinciana and alum flowers are bright red throughout the summer. Polyscias fruticosa flowers announce the end of spring and the beginning of sunny days. The linden tree releases strings of flowers. I like the purple color of Lagerstroemia. The tree is young and tall, with a bunch of leaves fluttering. Then look, our city's linden trees are about to bloom. When summer comes, the tree is covered with clusters of purple flowers. Bees, wasps, cicadas, tangerines, and flocks of butterflies roam freely here. Our city's banyan tree is so beautiful. But, my street's banyan tree is still young and doesn't have any flowers yet, and now the bamboo tree doesn't have a sturdy base for us to climb on. Can you still play with the Lagerstroemia? Must find a game with Lagerstroemia. Who remembers the game of tug-of-war where two people twist their arms around each other and then pull? The loser has his arms spread out. See, we have thought of a way to try our hand at the growing linden tree. See if they are healthy. Have fun together. So, wherever we went and passed the linden tree, we gathered together to screw the tree down, screw it really hard, force the top of the tree to bend down to the ground. Then let the tree soar up, with a whoosh, like a crossbow blade. That's good, cheers! Miserable, we tried our best to play with any linden tree. All day long, sometimes even into the evening, the linden trees are forced to soar. In just a few days, the linden trees were all haggard and withered. Every tree has its roots loose. Trees sway, stagger, dizziness and withered leaves. Spring is here. It's drizzling outside. The sky is gloomy. Even the piece of sky above the wall could not be seen. It's not because of the fog coming in from the lake. This is dusty rain, tiny raindrops landing on clothes and hair. Gently brush it off, it's gone. Heavy rain, heavy rain, like scattered manure. Drizzle brings spring. Drizzle makes these late sown seedlings green. Potato and tomato vines are cumbersome and green in the high fields. Sprouts of star trees, nymphs, and trees displayed on both sides of the road are sprouting. Every day I see something different. The linden trees are bare, weak, and weak like a stake. Yet the drizzle has caused the tips of the branches to sprout. Rain and dust condensed, forming white bubbles like glass. On the horizontal branches, raindrops form sparkling strings of pearls. In the tuft of grass at the base, spider web umbrellas are covered with rain and dust, as if covered with white chiffon.
Phát biểu cảm nghĩ về cô giáo chủ nhiệm của lớp em Hướng dẫn Chắc mỗi người trong chúng ta đều có một người thầy giáo, cô giáo để yêu quý, kính phục. Tôi cũng vậy, người cô giáo đã và đang để lại trong tôi nhiều sự yêu mến và kính phục nhất là cô giáo chủ nhiệm, không ai khác đó chính là cô giáo Thanh Hà-cô giáo chủ nhiệm lớp tôi. Cô đến với chúng tôi thật dịu dàng, ân cần từ đầu năm lớp 6. Tôi vẫn nhớ như in dáng vể của cô khi bước lớp, giọng nói ấm áp: “Cô sẽ là chủ nhiệm lớp chúng ta” đã làm cho chúng tôi cảm thấy ấm lòng và đỡ xa lạ trong môi trường mới mẻ này. Cô Hà là cô giáo chủ nhiệm một cô giáo vất vả hơn các cô giáo khác. Đối với chúng tôi cô là người mẹ hiền thứ hai của mình, cô luôn lo lắng, quan tâm đến những đứa con- những đứa học trò bé bỏng của mình. Chẳng phải chúng tôi sinh tuổi hổ (chúa sơn lâm) hay không mà đứa nào đứa nấy cũng nghịch ngợm mất trật tự kinh khủng. Có vẻ như đứa nào cũng muốn khẳng định tiếng gầm dũng mãnh của mình nên nói chuyện như chợ vỡ làm cô phải nhức đầu vì kỉ luật của lớp. Cô cũng gần 50 tuổi rồi – ở độ tuổi này cũng đâu còn khỏe mạnh gì nữa, vậy mà ngày nào cũng như ngày nào cô cũng đều lên lớp dù có tiết hay không có tiết để theo dõi tình hình của lớp. Để rồi khi lớp có bạn đi học muộn, có bạn chưa học bài hay bị ghi sổ đầu bài thì cô rất là lo lắng, cô lo lắng vì một phần là ảnh hưởng đến thi đua của lớp nhưng quan trọng hơn cả là ảnh hưởng đến sếp loại hạnh kiểm cuối năm của các bạn. Cô lo lắng, cô buồn, và có lúc cô giận cô mắng cả lớp làm tôi thấy sợ nhưng rồi lại thấy thương cô nhiều hơn. Nhiều bạn bảo cô khó tính và ghê gớm, cô rất nghiêm khắc với học sinh nhưng các bạn đâu biết những lúc đó cô buồn như thế nào! Các bạn cứ tưởng chỉ ảnh hưởng đến thi đua của lớp nhưng cáo ai biết rằng đằng sau đó là cô đang xấu hổ như thế nào khi lớp mình chủ nhiệm bị các cô giáo khác phê bình. Có lần cô nói với cả lớp tôi cũng thấy xấu hổ thay cô. Lớp chúng tôi rất nghịch và lười thế mà cô luôn sẵn lòng vì lớp. Lớp hư cô muốn đưa ra các hình phạt nhưng cô thương học sinh nên những hình phạt của cô tưởng là nặng nhưng hóa ra là nhẹ, nhưng cũng vì sự nhân nhượng và lòng độ lượng của cô đã khiến lớp tôi hiểu ra và tất cả đều cố gắng hơn để đưa lớp đi lên. Không chỉ có thế mà tôi lại càng yêu quí cô hơn qua những tiết học của cô. Cô là một giáo viên ngữ văn giỏi. Cô truyền cho chúng tôi những bài học bổ ích, những bài văn hay lí thú, những kiến thức nâng cao đặc biệt hay. Có lẽ tình thương học trò càng làm tôi yêu quí cô hơn và càng kính trọng cô nhiều hơn. Cô cho bài tập về nhà rõ một núi như vậy nhưng hôm sau cô tạo cơ hội cho các bạn trung bình làm bài dễ còn các bạn khá giỏi thì làm bài khó hơn một chút. Có thể giờ văn của cô hơi nặng nhọc một chút, nó không được vui vẻ như giờ anh, giờ toán nhưng với tôi nó thật nhiều ý nghĩa. Có thể cô Hà chưa phải là một cô giáo chủ nhiệm tâm lí nhất nhưng tôi chỉ dám chắc một điều rằng không cô giáo nào thương yêu học sinh của mình nhiều như cô. Cô ơi chúng em hứa sẽ ngoan hơn, sẽ biết hiểu cô hơn để cô bớt lo lắng để cô được vui vẻ, sao cho sau này khi nhắc đến chúng em cô sẽ cảm thấy và tự hào. Và chúng em cũng vậy sau này chắc ai cũng cảm thấy tự hào khi có một người mẹ thứ 2 của mình như cô.
Express your feelings about your class's homeroom teacher Instruct Surely each of us has a teacher we love and admire. Me too, the teacher who has left me with the most love and admiration is the homeroom teacher, none other than teacher Thanh Ha - the homeroom teacher of my class. She came to us so gently and considerately from the beginning of 6th grade. I still clearly remember her appearance as she walked into class, her warm voice: "You will be our class president" that made us feel warm and less strange in this new environment. Ms. Ha is the homeroom teacher, a teacher who works harder than other teachers. To us, she is our second gentle mother, she is always worried and concerned about her children - her little students. Whether we were born in the year of the tiger (the king of the forest) or not, we were all incredibly naughty and disorderly. It seemed like everyone wanted to assert their mighty roar, so they talked like crazy, giving her a headache because of class discipline. She is almost 50 years old - at this age she is no longer healthy, yet she goes to class every day, whether she has class or no class, to monitor the class situation. Then when a classmate comes to class late, someone hasn't studied or gets written off early, she gets very worried. She worries partly because it affects the class's competition, but most importantly, it affects the class. Tell your boss about your behavior at the end of the year. She was worried, she was sad, and sometimes she was angry and scolded the whole class, making me scared but then I felt more sorry for her. Many of you said she was difficult and terrible, she was very strict with students but you didn't know how sad she was at those times! You guys thought it only affected class competition, but no one knew that behind that was how embarrassed she was when the class she was in charge of was criticized by other teachers. One time she told the whole class that I was embarrassed for her. Our class is very naughty and lazy, but she is always willing to help the class. She wanted to give out punishments to the bad class, but she loved the students, so her punishments seemed to be severe but turned out to be light, but because of her mercy and generosity, my class understood everything. Everyone tries harder to move the class forward. Not only that, but I love her even more through her lessons. She is a good literature teacher. She gives us useful lessons, interesting essays, and especially good advanced knowledge. Perhaps my love for students makes me love her more and respect her more. She gave a huge amount of homework, but the next day she created opportunities for average students to do easy homework and for good students to do a little more difficult homework. Maybe her literature class is a bit heavy, it's not as fun as your class or math class, but to me it's very meaningful. Maybe Ms. Ha is not the most psychological homeroom teacher, but I can only guarantee one thing: no teacher loves her students as much as she does. Miss, we promise to be more obedient, to understand you better so that you worry less so that you can be happy, so that when you talk about us in the future, you will feel and be proud. And so will we. In the future, everyone will probably feel proud to have a second mother like you.
Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông quê hương em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông quê hương em “Quê hương là còn đò nhỏ, êm đềm khua nước ven sông”. Tuổi thơ chúng ta ai mà chẳng gắn liền với dòng sông quê hương. Bao bài hát bao lời thơ đã gửi gắm tình cảm từ con sông ấy. Dòng sông quê hương – dòng sông của tuổi thơ, dòng sông ấp ủ tôi trong tình yêu thương, dòng sông đỏ màu phù sa, đỏ màu lúa chín, đỏ màu yêu thương. Phải chăng con sông này không chỉ bồi đắp từ phù sa mà còn bồi đắp lên từ tình yêu thương tha thiết? Văng vẳng bên sông tiếng ru ầu ơ, tiếng hò đò, tiếng mái chèo khua nước, và cũng văng vẳng bên sông tiếng trái tim, tiếng yêu thương nhẹ nhàng mà đằm thắm kì lạ! Còn nói được gì đây khi nghe thấy, cảm nhận thấy câu hát quan họ mượt mà, trữ tình vào một đêm trăng thanh ở bến sông? Đêm trăng thanh, đêm trăng vũ hội của dòng sông. Cùng dòng sông ấy, buổi sáng thì trong trẻo, mát lành, buổi chiều hoàng hôn đã ngự trị thì hồng rực lên, sáng ánh lửa còn khi trăng đã chui ra khỏi cái vỏ ngày thì dòng sông lại lấp lánh trong bộ xiêm áo của nàng lọ lem, sáng và đẹp đến lạ kì! Lắng nghe, bạn còn nghe thấy cả tiếng vĩ cầm du dương, réo rắt, lúc trầm, lúc bổng vang lên từ đáy sông. Đó chính là lúc sông đang hát đấy, sông đang hát lên khúc tình ca, sông đang hát lên, hát về cuộc đời của mình, hát về quê hương. Chỉ thế thôi, chỉ đơn giản là tiếng nước chảy thôi nhưng sao mà nặng tình đến thế, lòng người phải chăng cũng rung động trước thứ tình cảm ấy? Dòng sông ấy nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ của tôi, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón tôi vào trong làn nước mát lành. Tuổi thơ tôi tắm mát trong dòng sông yêu thương. Dòng sông ấy chứa đựng bao tình yêu thương của dân làng tôi, một tình yêu đơn sơ, giản dị mà thật cao quý. Tình yêu này vun đắp cho một tình yêu còn thiêng liêng và cao cả hơn, đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu xóm làng thân thuộc, để rồi từ nơi này bao người con đã ra đi không trở về nhưng tôi biết trong trái tim của họ vẫn in hình con sông yêu thương, dòng máu trong người họ chảy ra, mang màu con sông yêu thương vì chính họ cũng đã từng tắm trong dòng sông này. Sao quên được những ngày nắng hạn, dòng sông cạn nước, trong đêm thanh tôi nghe thấy tiếng khóc than ai oán của con sông, sao mà thương đến thế. Và cũng sao quên được những ngày mùa bội thu, mọi người cũng vui mà dòng sông cũng vui, tôi biết nó đang nghĩ gì, nó đang rất vui cùng dân làng. Con sông ấy cùng như một con người biết yêu thương, biết giận hờn, lúc vui lúc buồn. Tôi yêu dòng sông xiết bao.
Express your feelings about your hometown river Instruct Express your feelings about your hometown river "Homeland is where there are still small, peaceful boats plying the water along the river." Our childhood is not attached to our hometown river. Many songs and poems have conveyed love from that river. Hometown river - the river of childhood, the river that cherishes me with love, the river is red in color of alluvium, red in color of ripe rice, red in color of love. Is this river not only built up from alluvium but also built up from passionate love? Echoing on the riverside are the sounds of lullabies, the sound of boats, the sound of oars splashing water, and also echoing on the riverside are the sounds of hearts, the gentle and strangely loving sounds of love! What else can you say when you hear and feel the smooth, lyrical Quan Ho singing on a clear moonlit night at the riverbank? The clear moonlit night, the moonlit night of the river's dance. Along the same river, in the morning it is clear and cool, in the afternoon when sunset reigns, it glows pink and bright with firelight, and when the moon comes out of its shell, the river sparkles in its clothes. Cinderella, bright and strangely beautiful! Listening, you can also hear the melodious sound of the violin, sometimes low, sometimes high, echoing from the bottom of the river. That's when the river is singing, the river is singing a love song, the river is singing, singing about his life, singing about his homeland. That's all, it's simply the sound of flowing water, but why is it so emotional? Is it true that people's hearts are also moved by that kind of love? That river nurtured my childish soul, ready to open its arms to welcome me into its cool water. My childhood was bathed in the river of love. That river contains so much love from my villagers, a simple, simple yet noble love. This love cultivates an even more sacred and noble love, which is the love of the homeland, the country, the love of familiar villages, from this place many people have left and never returned, but I know In their hearts, there is still an image of the river of love, the blood flowing from their bodies is the color of the river of love because they themselves once bathed in this river. How could I forget the days of drought, when the river dried up, in the clear night I heard the river's plaintive cry, how could I love it so much. And how can I forget the days when the harvest was good, everyone was happy and the river was also happy, I know what it was thinking, it was very happy with the villagers. That river is like a person who knows how to love, know how to be angry, sometimes happy and sometimes sad. I love the river so much.
Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông tuổi thơ quê hương em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông tuổi thơ quê hương em Quê em là một ngôi làng nhỏ nằm ven sông Hồng, nhìn từ xa dòng sông như dải lụa mềm mại ôm trọn lấy ngôi làng. Con sông quê em đã trở thành kỉ niệm khó quên đối với những người con được sinh ra và lớn lên bên dòng sông thơ mộng này. Tuổi thơ em gắn bó với dòng sông ấy, dòng sông đã cho em biết bao nhiêu kỉ niệm êm đẹp. Buổi sáng vừa thức dậy, em đã nghe thấy âm thanh rộn rã của chiếc thuyền nhỏ đang trao đổi mua bán trên bến sông. Những âm thanh đó đã trở nên quen thuộc và gần gũi đối với người dân nơi đây. Vào thời điểm này, trên bến sông thường tấp nập hơn, họ đi mua cá tôm của những người dân xóm chài đánh bắt. Dòng sông vào buổi sáng thường cho ta cảm giác bình yên. Những con sóng nhỏ xô vào bờ ì oạp. Gió thổi dìu dịu trên triền đê khiến cho không gian càng trở nôn trong trẻo và thoáng đãng hơn. Gần trưa, mặt sông trở nên sáng bừng bởi những tia nắng chiếu xuống mặt nước, màu nước sông lúc này trở nên lấp lánh hơn. Hai bên bờ sông những hàng cây đung đưa theo gió. Buổi trưa nắng đã lên cao, mặt sông như trải rộng hơn và yên lặng hơn và có điểu gì gì đó như lao xao hơn. Trên bến, từng chiếc thuyền cần mẫn đưa khách qua sông. Buổi chiều thuyền ghe tấp nập qua lại, vang vang tiếng nói cười. Đối với lũ trẻ con chúng em, dòng sông còn là nơi để cả bọn gặp gỡ và chơi đùa thoả thích. Vào những chiều hè, khi ông mặt trời chiếu những tia nắng dìu dịu trên mặt sông cũng là lúc chúng em rủ nhau ra sông chơi. Mùa hè, nước ở gần bờ không sâu lắm, tắm lại mát. Bọn em chỉ cần bơi một lát là đến bãi bồi. Đó là khoảng đất trống rất rộng, tha hồ cho cả bọn chơi đùa. Từng tốp trẻ con nô đùa ầm ĩ, át cả tiếng sóng ì oạp vỗ bờ. Cát dưới chân chúng em mịn màng như nhung. Phía tây mặt trời đỏ rực, chiếu những tia nắng cuối cùng xuống dòng sông như một bức tranh lửa. Gió từ sông thổi lên mát rượi. Lũ trẻ con chúng em mang bóng ra đá, tiếng reo hò náo động cả bãi sông. Chán đá bóng chúng em lại rủ nhau tắm. Tất cả thi nhau lặn ngụp. Dòng sông hiền hòa êm ả trôi như bàn tay mẹ nhẹ nhàng vỗ về. Có những ngày mưa, nước dâng lên cao ngập lút bãi bồi. Dòng sông đỏ ngầu oàm oạp vỗ thân đê. Những cành củi to nhỏ lặng lẽ trôi; rồi bỗng nhiên bị lôi tuột vào một cái xoáy nhỏ, cả bọn thấy thế lại reo hò ầm ĩ. Thế rồi chỉ mấy ngày sau, nước rút, dòng sông lại trở về như xưa: hiền hòa, nhẫn nại và lẳng lặng trôi.
Express your feelings about your hometown's childhood river Instruct Express your feelings about your hometown's childhood river My hometown is a small village located along the Red River. Looking from afar, the river looks like a soft silk strip embracing the village. My hometown river has become an unforgettable memory for the children who were born and raised on this poetic river. My childhood was attached to that river, the river gave me so many beautiful memories. As soon as I woke up in the morning, I heard the bustling sound of a small boat trading on the river wharf. Those sounds have become familiar and close to the people here. At this time, the river wharf is usually busier, they go to buy fish and shrimp from the fishermen. The river in the morning often gives us a feeling of peace. Small waves rushed to the shore. The wind blew softly on the dike slopes, making the space even clearer and more airy. Near noon, the river surface becomes bright with sunlight shining on the water surface, the color of the river water now becomes more sparkling. On both sides of the river, rows of trees sway with the wind. At noon, the sun was high, the river surface seemed to be wider and quieter, and something seemed to be more turbulent. On the wharf, each boat diligently carries passengers across the river. In the afternoon, boats and boats bustled back and forth, echoing with voices and laughter. For us children, the river is also a place for us to meet and play freely. On summer afternoons, when the sun shines gentle rays on the river's surface, we invite each other to go to the river to play. In summer, the water near the shore is not very deep, so bathing is cool. We just need to swim for a while to reach the mudflat. It's a very large open space for everyone to play. Groups of children played loudly, drowning out the sound of waves crashing against the shore. The sand under our feet is as smooth as velvet. In the west the sun was blazing red, shining its last rays onto the river like a painting of fire. The wind blowing from the river is cool. We children brought the ball to play, and the cheers filled the riverbank. Bored with playing soccer, we invited each other to take a bath. Everyone competes in diving. The gentle river flows smoothly like a mother's gently comforting hand. On rainy days, the water rises and floods the mudflats. The red river roared and slapped the dike body. Big and small firewood branches drift quietly; Then suddenly he was pulled into a small vortex. Seeing that, everyone cheered loudly. Then, just a few days later, the water receded and the river returned to its original state: gentle, patient, and flowing quietly.
Phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em văn 7 Ai cũng mơ ước có một nơi để nghỉ ngơi, thư giãn sau những giây phút căng thẳng trong cuộc sống. Nhà tôi có một nơi như vậy, đó chính là khu vườn nhỏ phía sau nhà. Khu vườn không to lắm và đã có từ rất lâu rồi. Tôi yêu cái vẻ rêu phong cổ kính lại xen lẫn với vẻ tươi sáng, trẻ trung bởi các loại cây tạo nên cho khu vườn. Khu vườn nhà em được bao bởi một hàng rào nhỏ thật xinh xắn mà cũng thật chắc chắn. Trong vườn, tôi trồng rất nhiều loài hoa và cây ăn quả. Rồi theo tháng năm, hoa hồng, hoa cúc, hoa lan thi màu nở rộ trong khu vườn bé nhỏ, rồi cùng với cây dưa leo, mỗi hoa, mỗi màu đã tạo nên một bức tranh đầy sức sống muôn màu, nhưng lại không hề lòe loẹt, lộn xộn mà điểm xuyết nét hài hòa, thanh nhã của thiên nhiên làm cho tôi không thể không say mê và thán phục. Rồi đến các cây ăn quả, cây nào cũng cao, cũng to và tươi mát. Trừ những thân cây sần sùi, màu nâu tẻ nhạt và lạnh lẽo, các cây khi đứng cạnh nhau lại tạo ra một sắc thái vô cùng thân thiện và trìu mến, lại thoáng chút yên tĩnh cho chúng ta cảm giác thật thoải mái và gần gũi với thiên nhiên, những vòm cây xanh mướt sẽ là những chiếc lá chắn tuyệt vời, che chở cho chúng ta khỏi những giây phút căng thẳng ngoài cuộc sống. Tôi yêu sao cái vẻ đẹp muôn hình, muôn vẻ đó. Buổi sáng, khi ánh bình minh lên, khu vườn toát lên một vẻ trẻ trung, tươi mát với những trái cam, trái táo mọng và đầy sức sống. Và khi buổi chiều xuống, cái màu xanh của lá hơi rũ xuống như an ủi, vồ vé cho tôi khỏi buồn nhớ. Vào buổi tối, khu vườn trầm xuống, hòa nhập với vẻ thanh tĩnh bên ngoài. Tôi còn nhớ mãi, ngày xưa, khu vườn này khô cằn, chỉ có một vài đốm hoa nhưng sau bao nỗ lực chăm sóc của ông cháu tôi nó đã trở thành một khu vườn vừa đẹp, vừa tươi sáng, vừa hữu ích. Khu vườn là nơi mà tôi đã được rèn luyện tính chịu khó, yêu thiên nhiên và cũng là nơi mà tôi nghỉ ngơi, thư giãn, là nơi mà tâm hồn tôi được nuôi dưỡng. Nhờ tình yêu tràn đầy với khu vườn mà tôi đã coi khu vườn là một phần của cuộc sống. Mất khu vườn là tôi mất hết lý trí. Khu vườn đối với tôi là những gì thân thương nhất, gần gũi là nơi tôi không thể quên. Làm sao không yêu được một khu vườn như thế.
Express your feelings about writer's garden 7 Instruct Express your feelings about writer's garden 7 Everyone dreams of having a place to rest and relax after stressful moments in life. My house has such a place, which is the small garden behind the house. The garden is not very big and has been around for a long time. I love the ancient moss look mixed with the bright, youthful look created by the plants that make up the garden. My garden is surrounded by a small, lovely fence that is also very sturdy. In the garden, I grow many flowers and fruit trees. Then, as the years passed, roses, chrysanthemums, and orchids bloomed in the small garden, and together with the cucumber tree, each flower, each color created a picture full of colorful vitality, but no Far from being flashy or messy, it is dotted with the harmony and elegance of nature, making me unable to help but be fascinated and admired. Then there are the fruit trees, all tall, big and fresh. Except for the rough, brown and cold tree trunks, the trees when standing next to each other create an extremely friendly and affectionate appearance, with a hint of quiet, giving us a feeling of comfort and closeness. Close to nature, the green canopy will be wonderful shields, protecting us from stressful moments in life. How I love that beauty of all shapes and sizes. In the morning, when the sunrise comes, the garden exudes a youthful, fresh look with oranges and apples that are succulent and full of vitality. And when the afternoon fell, the green color of the leaves drooped slightly as if comforting, grabbing the ticket so I wouldn't be sad and miss it. In the evening, the garden quiets down, blending in with the tranquility outside. I still remember, in the past, this garden was arid, with only a few spots of flowers, but after many efforts to care for it, it has become a garden that is both beautiful, bright, and useful. The garden is where I have been trained to be diligent, love nature, and is also where I rest, relax, and where my soul is nourished. Thanks to my overwhelming love for the garden, I have come to see the garden as a part of life. Losing the garden makes me lose all reason. The garden to me is the most dear and close thing, a place I cannot forget. How can you not love a garden like that?
Đề bài: Khu vườn là nơi gắn liền với tuổi thơ của em. Em hãy nêu cảm nghĩ của mình về khu vườn đó. Bài làm Khu vườn – nơi những loài hoa nở rộ và thi nhau đua sắc nhưng đối với tôi, khu vườn không chỉ có thế, nó ẩn chứa ý nghĩa sâu sắc gắn liền với tuổi thơ tôi. Ngày bé, thứ mà trẻ con thích nhất là những món đồ chơi đủ màu sắc, kích cỡ những thứ mà tôi thích thú nhất lại là khu vườn, một khu vườn nhỏ bé nhưng chứa bao nhiêu kỷ niệm về người mà tôi yêu quý nhất, bà nội tôi. Ai chả muốn có một khu vườn trong nhà, có những bông hoa rực rỡ, tôi cũng vậy từ ngày bé tôi luôn ước mong có một khu vườn nhỏ. Tôi yêu những loài hoa, tôi yêu cái cảm giác xung quanh mình là cây cỏ, là hương thơm. Khi bà nội tôi ở quê lên bà đã đem cho tôi nhiều cây hoa và đặt ở trước khoảng sân trước nhà. Từ khi ấy, tôi có một khu vườn như ước mơ. Thật hạnh phúc khi nhà mình có một khu vườn. Sáng sáng, mỗi khi thức dậy, tôi đều đứng ra cửa hít thở không khí trong lành và mùi thơm thoang thoảng từ những đóa hoa. Khung cảnh như một bức tranh thật đẹp, có màu sắc, có hương thơm và có cả âm thanh từ những tiếng chim hót ríu rít. Từ ngày bà nội lên, tôi rất vui vì bà đã đem lại cho tôi điều mà tôi mong từ lâu. Tôi yêu quý khu vườn không chỉ vì nó là ước mong của tôi mà đó cũng là món quà, là tấm lòng của bà cho tôi. Tôi chăm sóc từng cành cây, từng bông hoa thật chu đáo, hàng ngày tôi và bà đều tưới nước, bắt sâu, bà còn tỉa nhiều cây thành hình con đại bàng, con nai.. Vì thế mà khu vườn càng thêm rực rỡ. Dưới ánh nắng vàng, khu vườn làm cả nhà tôi như sáng lên cùng cây cỏ. Cứ rảnh rỗi, bà lại kể cho tôi nghe về nguồn gốc của từng loại cây. Từ khi có khu vườn, tôi như thêm vui vẻ, nó như người bạn thân thiết của tôi, như chiếc cầu vô hình nối tình cảm của tôi bà càng thêm sâu đậm. Nhiều khi nằm một mình trong khu vườn nhỏ vuông vắn, tôi lại cảm thấy thoải mái kỳ lạ, có chuyện gì vui hay buồn, tôi đều như có một người bạn ở bên cùng chia sẻ, cùng nói chuyện với tôi làm tôi bớt căng thẳng hay buồn bực. Bây giờ bà đã về nhưng thỉnh thoảng bà vẫn gửi cho tôi những cây hoa đẹp và dặn dò tôi chăm sóc chúng cẩn thận. Nhìn khu vườn, tôi lại nhớ đến bà, nó như thay bà nói chuyện, tâm tình cùng tôi. Giờ đây, từng chiếc lá, từng cánh hoa đều thật sự gắn bó với tôi, cứ như thế, nó như đã là một phần cuộc sống của tôi. Một khu vườn nhỏ bé nhưng ý nghĩa của nó iại thật sâu sắc. Những cành cây, bông hoa tưởng như một vật vô tri vô giác nhưng lại là một con người khích lệ tinh thần tôi mỗi khi gặp khó khăn. Mỗi bông hoa nở như một nụ cười trìu mến của bà với tôi làm trái tim tôi thêm một lần xao xuyến. Làm sao không yêu cho được một khu vườn như thế, một kỷ niệm thơ ấu còn mãi trong tôi.
Topic: The garden is a place associated with my childhood. Please tell me your thoughts about that garden. Assignment The garden - where flowers bloom and compete with each other, but for me, the garden is more than just that, it contains a deep meaning associated with my childhood. When I was a child, the things children liked most were toys of all colors and sizes. The things I enjoyed most were the garden, a small garden but containing so many memories of the person I loved the most. , my grandmother. Who doesn't want to have a garden in their house with colorful flowers? I, too, have always wanted a small garden since I was a child. I love flowers, I love the feeling of being surrounded by plants and scents. When my grandmother came from the countryside, she brought me many flower plants and placed them in the front yard of the house. Since then, I have had a dream garden. I'm so happy that my house has a garden. Every morning, when I wake up, I stand out the door to breathe in the fresh air and the faint scent of the flowers. The scene is like a beautiful picture, with colors, scents and sounds from chirping birds. Since the day my grandmother came up, I've been very happy because she's given me what I've been hoping for for a long time. I love the garden not only because it is my wish but also because it is a gift and her heart for me. I take care of each tree branch and each flower very carefully. Every day, she and I water and catch worms. She also trims many trees into the shape of eagles and deer. Because of that, the garden is even more brilliant. . Under the golden sunlight, the garden makes my whole house seem to light up with plants. Whenever she has free time, she tells me about the origin of each type of tree. Since having the garden, I feel happier, it is like my close friend, like an invisible bridge connecting my feelings and making them even deeper. Many times when I lie alone in the small, square garden, I feel strangely comfortable. No matter what happens, happy or sad, I feel like I have a friend by my side to share with, and talk to me to relieve my stress. straight or upset. Now that she's gone, she still sometimes sends me beautiful flowers and tells me to take care of them carefully. Looking at the garden, I remembered her again, it was like she was talking to me and confiding in me. Now, each leaf, each petal is truly attached to me, just like that, it seems to be a part of my life. A small garden but its meaning is profound. The branches and flowers seem like inanimate objects, but they are people who encourage my spirit every time I encounter difficulties. Each flower that blooms is like an affectionate smile from her to me, making my heart flutter once more. How can I not love a garden like that, a childhood memory that will forever stay with me.
Phát biểu cảm nghĩ về một con vật nuôi em yêu Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về một con vật nuôi em yêu Đã bao giờ bạn tự ngồi suy ngẫm xem trong tâm trí mình đang hiện lên hình ảnh của ai không? Chắc chắn là ai cũng đã từng làm thế. Nhưng các bạn biết không, lúc này đây trong tâm trí tôi tràn ngập hình ảnh về một chú mèo. Một chú mèo đã gắn bó với cả tuổi thơ tôi mà giờ đây tôi phải xa cách. “Meo meo meo, rửa mặt như mèo, xấu xấu lắm chẳng được mẹ yêu…”. Đó là bài hát đầu tiên mà tôi đã được học. Mẹ đã dạy tôi bài hát đó vì mẹ nghĩ rồi mai đây đứa con gái bé bỏng của mẹ sẽ biết chăm sóc cho những con vật đáng yêu và sẽ hát bài hát này cho chúng nghe. Từ lúc tôi còn nằm trong chiếc nôi hồi bé, chú mèo ấy đã quanh quẩn bên cạnh tôi, nó nhảy qua nhảy lại làm tôi vui mắt. Lúc ấy có lẽ tôi còn chưa biết đến tình cảm bạn bè mà chỉ coi nó như một chứ hề con luôn đến biểu diễn tiết mục của mình cho tôi xem. Vắng nó, đôi mắt tôi chìm xuống buồn bã, tôi không ăn, không uống mà chỉ khóc. Rồi cho đến lúc tôi biết đi biết chạy, nó cùng chơi đuổi bắt. Đã bao lần tôi giả vờ ngã để mèo lại gần và tôi sẽ ôm nó trong vòng tay của mình. Lúc đó tôi như muốn nói rằng: “Tớ yêu bạn lắm, mèo ạ!”. Chú mèo ấy – người bạn tuổi thơ của tôi – đã làm tôi thêm hiểu sự cao đẹp của.
Express your feelings about a beloved pet Instruct Express your feelings about a beloved pet Have you ever sat down and pondered who's image is appearing in your mind? Surely everyone has done that. But you know, right now my mind is filled with images of a cat. A cat has been with me all my childhood and now I have to be apart. “Meow meow, wash your face like a cat, it's so ugly you won't be loved by your mother…”. It was the first song I learned. Mom taught me that song because she thought that someday her little daughter would know how to take care of lovely animals and sing this song to them. Since I was in my crib as a child, that cat has been hanging around me, jumping back and forth to make me happy. At that time, perhaps I didn't even know the love of friends, but just considered it as a clown who always came to perform his act for me. Without it, my eyes sank in sadness, I didn't eat, I didn't drink, I just cried. Then, when I could walk and run, he played tag with me. How many times have I pretended to fall so that the cat would come closer and I would hold it in my arms. At that moment I wanted to say: "I love you so much, cat!". That cat - my childhood friend - made me understand more about the beauty of life.
Phát biểu cảm nghĩ về một loài hoa em yêu văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về một loài hoa em yêu văn 7 Vườn nhà em trồng rất nhiều hoa đẹp, nhưng em yêu quý nhất là những cây hoa cúc. Hoa cúc vừa đẹp, vừa thoang thoảng hương thơm lại mang nhiều ý nghĩa. Bà em nói: Ngày xưa có một cô bé đi xin thuốc về chữa bệnh cho mẹ. Cô được ông Tiên cho một bông hoa và bảo rằng bông hoa có bao nhiêu cánh thì mẹ em sẽ sống được ngần ấy tuổi. Trên đường về nhà cô bé đã đem những cánh hoa cúc ấy mà xé nhỏ ra để mong ước mẹ em được sống ở trên đời nhiều hơn nữa. Đó chính là câu chuyện về sự ra đời của bông hoa cúc. Câu chuyện mà bà em kể làm cho em thêm yêu hoa cúc. Hoa cúc thân mềm và phỗng. Cũng tuỳ loại mà thân hoa to nhỏ khác nhau. Lá của hoa cúc sần sùi uốn lượn chứ không mượt mà như lá hoa hồng. Nói cung nhìn vẻ bề ngoài thì hoa cúc rất tầm thường và có khi còn không hay mắt nữa. Thế nhưng ẩn sau cái thân hình giản dị ấy lại là vẻ đẹp thầm kín sâu xa. Hoa cúc đẹp nhất ở sức sống của mình. Cúc thường nở rộ vào lúc đầu thu và có khi kéo dài đến vài ba tháng. Lá hoa cúc, thân hoa cúc và cả những bông hoa nữa đều rất vững bền. Người ta có thể mua những đóa hoa về cắm và nếu chăm chút cẩn thận đến bình hoa, lại thường xuyên thay nước cắm thì hoa có thể nở đến hơn nửa tháng mới tàn. Vì thế nhiều người yêu hoa cúc vì nó là loài hoa mà vẻ đẹp chung thủy nhất. Em yêu hoa cúc vì hoa có nhiều cách đan xen khéo léo vào nhau trông vô cùng thích mắt. Hương hoa cúc thoang thoảng và dịu nhẹ. Nó làm cho người ta cảm thấy khoan khoái và đôi khi hình như còn giảm bớt lo âu. Mùa nào cũng vậy, bao giờ bà em cũng chọn khá nhiều những bông hoa cúc mãn khai để làm trà hoa cúc. Em không biết bà đã chế biến thế nào, thế nhưng nhấm một chút nước trà em thấy nó rất thơm, một mùi thơm rất đặc trưng và rất lạ. Chủ nhật nào cũng vậy, em theo mẹ đi bán những bông hoa cúc. Chợ hoa rực rỡ đủ sắc màu thế nhưng cái sắc vàng của cúc thì vô cùng dễ nhận ra. Bây giờ bên cạnh những bông cúc đại đóa (bông cúc lớn) màu vàng, nhà em còn trồng và bán những giống cúc đủ loại khác nhau: trắng, phớt hồng hay tím mát. Người ta mua hoa cúc cũng với nhiều mục đích. Người thì dùng để cắm, người thì mang đến những đám tang. Em không hiểu lắm nhưng mẹ em giải thích: hoa cúc tượng trưng cho sự yêu thương, cho sự thành công và những hoa cúc vàng còn tượng trưng cho quyền lực. Gạt đi tất cả những ý nghĩa rối rắm kia, em cứ thế lớn lên và yêu những bông hoa cúc một cách chân thành. Hoa cúc không kiêu sa. Nó đẹp giản dị và sâu lắng. Phải chăng vì thế mà nó cứ gắn bó tự nhiên với những năm tháng tuổi thơ êm đềm và hạnh phúc của em.
Express your feelings about a flower you love 7 Instruct Express your feelings about a flower you love 7 My garden grows many beautiful flowers, but I love chrysanthemums the most. Chrysanthemums are both beautiful and fragrant and carry many meanings. My grandmother said: Once upon a time, there was a little girl who went to ask for medicine to treat her mother's illness. She was given a flower by Mr. Tien and told that no matter how many petals the flower has, how many years her mother will live. On the way home, she took those chrysanthemum petals and tore them into small pieces to wish her mother could live more in this world. That is the story of the birth of the chrysanthemum. The story my grandmother told me made me love chrysanthemums even more. Chrysanthemums have soft and smooth stems. Depending on the type, the flower stems are different sizes. The leaves of chrysanthemums are rough and curved, not smooth like rose leaves. In terms of appearance, chrysanthemums are very ordinary and sometimes even unnoticeable. But hidden behind that simple body is a profound secret beauty. Chrysanthemums are most beautiful in their vitality. Chrysanthemums usually bloom in early autumn and sometimes last for several months. Chrysanthemum leaves, chrysanthemum stems and even flowers are all very durable. People can buy flowers to arrange and if they take careful care of the vase and regularly change the water, the flowers can bloom for more than half a month before fading. That's why many people love chrysanthemums because it is the flower with the most loyal beauty. I love chrysanthemums because the flowers have many clever ways of intertwining each other, making them look extremely pleasing to the eye. The scent of chrysanthemum is faint and gentle. It makes people feel refreshed and sometimes even seems to reduce anxiety. Every season, my grandmother always chooses a lot of chrysanthemum flowers to make chrysanthemum tea. I don't know how she prepared it, but after sipping a little tea, I found it very fragrant, a very unique and strange scent. Every Sunday, I follow my mother to sell chrysanthemums. The flower market is colorful, but the yellow color of chrysanthemums is extremely easy to spot. Now, besides the yellow chrysanthemums (large chrysanthemums), my family also grows and sells different varieties of chrysanthemums: white, pinkish or cool purple. People buy chrysanthemums for many purposes. Some people use it for decorations, others bring it to funerals. I didn't really understand, but my mother explained: chrysanthemums symbolize love, success, and yellow chrysanthemums also symbolize power. Putting aside all those confusing meanings, I grew up and sincerely loved chrysanthemums. Chrysanthemums are not arrogant. It's beautiful, simple and profound. Is that why it is naturally associated with my peaceful and happy childhood years?
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát châm biếm và phát biểu cảm nghĩ của mình về những câu hát ấy. Bài làm Trong ca dao – dân ca, ngoài những câu hát yêu thương, tình nghĩa, những câu hát than thân… còn nhiều câu hát mang nội dung hài hước, châm biếm nhằm phơi bày các hiện tượng ngược đời, phê phán những thói hư tật xấu, những hạng người và hiện tượng đáng cười trong xã hội. Dưới đây là những bài được phổ biến rộng rãi trong dân gian: 1. Cái cò lặn lội bờ ao, Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa. Ngày thì ước những ngày mưa, Đèm thì ước những đêm thừa trống canh. 2. Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà Số cô có mẹ có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông. Số cô có vợ có chồng, Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai. 3- Con cò chết rũ trên cây, Cò con mở lịch xem ngày làm ma. Cà cuống uống rượu la đà, Chim ri ríu rít bò ra lấy phần, Chào mào thì đánh trống quân, Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao. 4. Cậu cai nón dấu lông gà, Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai. Ba năm được một chuyến sai, Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê Bài thứ nhất là lời giới thiệu, quảng cáo về nhân vật chú tôi. Chân dung của người chú là bức biếm họa được vẽ toàn bằng những nét giễu cợt, mỉa mai. Hai câu mở đầu: Cái cò lặn lội bờ ao, Hỡi cô yểm đào lấy chú tôi chăng làm nhiệm vụ bắt vần và chuẩn bị cho việc giới thiệu nhân vật. Cô yếm đào là hình ảnh tương phản với hình ảnh của nhân vật chú tôi. Chiếc yếm đào tượng trưng cho những cô gái nông thôn trẻ, đẹp. Xứng đáng lấy cô yếm đào phải là chàng trai chăm chỉ, giỏi giang chứ không thể là người có nhiều thói hư tật xấu. Cái cò giới thiệu về chú của mình với cái giọng cố làm ra vẻ phô trương, trịnh trọng: Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa. Ý nghĩa phê phán, chỉ trích nằm cả ở từ hay. Theo cách hiểu dân gian thì hay có nghĩa là tài giỏi, nhưng trong văn cảnh này thì nó có nghĩa ngược lại. Tưởng hay lam hay làm, ai dè lại hay rượu hay chè đến mức nghiện ngập, bê tha. Ý mỉa mai của từ hay còn hàm chứa ở tầng nghĩa sâu hơn nữa. Tuổi thanh niên sức dài vai rộng mà không lo chí thú làm ăn, lại chấp nhận sống đời tầm gửi thì quả là chẳng đáng mặt làm trai. Người xưa có câu: Làm trai cho đáng nên trai, xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên… để khẳng định khí phách nam nhi. Bên cạnh đó cũng có câu: Đời người ngắn một gang tay, Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang với nội dung phê phán những kẻ siêng ăn nhác làm. Nhân vật chú tôi trong bài ca dao trên là loại người như thế.
Topic: Choose some satirical lyrics and express your feelings about those lyrics. Assignment In folk songs - folk songs, in addition to songs of love, gratitude, songs of self-pity... there are also many songs with humorous and satirical content to expose paradoxical phenomena and criticize bad habits. bad, laughable types of people and phenomena in society. Below are articles that are widely popular among the people: 1. The stork wades around the pond, Hey girl, will you marry my uncle? My uncle likes to drink alcohol and drink toothpicks, Or strong tea, or lying down for a nap. Every day I wish for rainy days, If you are hungry, you wish for the nights of empty soup. 2. If you're not rich, you're poor On the thirtieth day of the Lunar New Year, meat is hung in the house She has a mother, a mother, and a father Her mother is a woman, her father is a man. The number of women who have wives and husbands, When giving birth to your first child, it's either a girl or a boy. 3- The stork drooped on a tree, The little stork opened the calendar to see the day of the ghost. Ca Cuong drinks La Da wine, Birds chirping and crawling out to get their share, To greet the crest, beat the military drum, The warbler stripped naked and carried a bill to advertise. 4. He removed his hat and marked it with chicken feathers, The finger wearing the ring is called the finger. One trip every three years, Borrowed short shirts, rented long pants The first article is an introduction and advertisement for my uncle's character. The uncle's portrait is a caricature drawn entirely with mockery and irony. The two opening sentences: The stork waded around the pond, Oh the peach girl, take my uncle to do the rhyming task and prepare for character introduction. Miss Peach is a contrasting image to the image of my uncle's character. The peach bib symbolizes young, beautiful rural girls. Worthy of marrying a girl must be a hard-working and talented guy, not someone with many bad habits. The stork introduced his uncle in a voice trying to sound pompous and formal: My uncle often drinks wine or toothpicks, Or strong tea, or lies down to take naps. The meaning of criticism and criticism lies in the word good. According to folk understanding, good means talented, but in this context it has the opposite meaning. Thoughts often act or do things, but who cares about drinking or drinking to the point of addiction and indulgence. The ironic meaning of the word hay also contains a deeper meaning. When a young man has long, strong shoulders and broad shoulders, if he doesn't care about his passion for doing business and accepts a life of misfortune, he is truly unworthy of being a man. There is an ancient saying: Be a man worthy of being a man, go to Dong Dong tranquility, go to Doai Doai yen... to affirm your manly spirit. Besides, there is also a saying: "Life is one span short, Those who sleep during the day still have half a span" with the content of criticizing those who work diligently. The character of my uncle in the folk song above is that kind of person.
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát than thân và phát biểu cảm nghĩ của mình về những câu hát ấy. Bài làm Ca dao, dân ca là tấm gương phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của nhân dân lao động. Nó không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó thiết tha đối với quê hương, đất nước… mà còn là tiếng thở than về số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ cực, đắng cay. Những câu hát than thân ngoài ý nghĩa than thân trách phận còn có ý nghĩa, phản kháng, tố cáo sự thối nát, bất công của xã hội phong kiến đương thời. Điều đó được thể hiện chân thực và sinh động qua hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ đa dạng, phong phú. Ba câu hát sau đây là những ví dụ tiêu biểu: 1. Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn, cho gầy cò con? 2. Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe. 3. Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi, biết tấp vào đâu? Cả ba câu hát đều sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền với âm hưởng ngậm ngùi, thương cảm, cùng với những hình ảnh so sánh hoặc ẩn dụ thường thấy trong ca dao để diễn tả thân phận bé mọn của lớp người nghèo khổ trong xã hội cũ (con cò, con tằm, con kiến, trái bần…). Mở đầu mỗi câu thường là những cụm từ như Thương thay… Thân em như… và nội dung ý nghĩa được thể hiện dưới hình thức câu hỏi tu từ. Câu 1: Trong ca dao xưa, người nông dân thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời và thân phận bé mọn của mình, bởi họ tìm thấy những nét tương đồng ở loài chim quen thuộc ấy. Bức tranh phong cảnh nông thôn Việt Nam không thể thiếu những cánh cò lặn lội kiếm ăn trên cánh đồng, lạch nước. Cò gần gũi bên người nông dân lúc cày bừa, cấy hái vất vả. Cò giang cánh nối đuôi nhau bay về tổ lúc hoàng hôn… Con cò đã trở thành người bạn để người nông dân chia sẻ tâm tình: Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Nghệ thuật tương phản tài tình trong câu ca dao trên đã làm nổi bật hình ảnh đáng thương của con cò. Giữa trời nước mênh mông, cò lủi thủi, đơn côi, lầm lũi kiếm ăn. Thân cò vốn đã bé nhỏ lại càng thêm bé nhỏ. Đã vậy mà cò vẫn phải lên thác, xuống ghềnh, đương đầu với bao nỗi éo le ngang trái. Câu ca dao như một tiếng thở dài não nề, như một lời trách móc, oán than trước nghịch cảnh của cuộc đời. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn cho gầy cò con? Cò đã cam chịu số kiếp hẩm hiu, thế nhưng nó vẫn không được sống yên ổn trong cảnh bần hàn mà vẫn bị một ai đó, một thế lực nào đó đẩy vào cảnh bể đầy, ao cạn trớ trêu. Phải chăng đó chính là giai cấp thống trị trong xã hội cũ luôn muốn dồn người bị trị vào bước đường cùng?! Cao hơn ý nghĩa một câu hát than thân, bài ca dao trên chứa đựng thái độ phản kháng và tố cáo xã hội đương thời. Hình ảnh con cò ở đây tượng trưng cho thân phận long đong, khốn khổ của người nông dân nghèo vì sưu cao, thuế nặng, vì nạn phu phen, tạp dịch liên miên, vì sự bóc lột đến tận xương tủy của giai cấp thống trị. Vẫn theo mạch liên tưởng giống như ở bài ca dao thứ nhất, bài ca dao thứ hai là một ẩn dụ so sánh giữa thân phận của người nông dân với những loài vật bé nhỏ, tầm thường như con tằm, con kiến: Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kều ra máu có người nào nghe. Đây là câu hát nói về những số phận vất vả, bất hạnh. Điệp từ Thương thay được lặp lại bốn lần, biểu hiện sự thương cảm, xót xa vô hạn. Thương thay là thương cho thân phận mình và thân phận của những người cùng cảnh ngộ. Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ là thương cho những người lao động nghèo khổ suốt đời bị kẻ khác bòn rút sức lực, công lao. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi là thương cho nỗi khổ chung của những thân phận nhỏ nhoi, suốt đời xuôi ngược vất vả làm lụng mà vẫn cơ cực, nghèo khó. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi là thương cho những cuộc đời phiêu bạt, lận đận để kiếm sống qua ngày. Thương tháy con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe là thương cho những thân phận thấp cổ bé họng, suốt đời ôm nỗi khổ đau oan trái, không được ánh sáng công lí nào soi tỏ. Trong ca dao, người xưa có thói quen khi nhìn nhận sự vật thường hay liên hệ đến cảnh ngộ của mình, vận vào thân phận mình. Họ đồng cảm với những con vật bé nhỏ, tội nghiệp (con sâu, cái kiến, con cò, con vạc, con hạc giữa trời, con hạc đầu đình, con cuốc kêu sương, con cuốc kêu ra máu,…) bởi cho rằng chúng cũng có số kiếp, thân phận khốn khổ như mình. Những hình ảnh có tính chất ẩn dụ trong các câu hát kết hợp với bút pháp miêu tả chân thực khiến cho những nỗi thương tâm gây xúc động thấm thía. Tằm ăn lá dâu, nhả ra tơ để cho con người lấy tơ dệt thành lụa, lĩnh, gấm, vóc… những mặt hàng may mặc quý giá phục vụ cho tầng lớp thượng lưu giàu có. Đã là kiếp tằm thì chỉ ăn lá dâu, thứ lá tầm thường mọc nơi đồng ruộng, bãi sông. Mà con tằm Bé nhỏ kia ăn được là bao?! Mượn hình ảnh ấy Ị người lao động ngụ ý nói đến sự bóc lột quá đáng của giai cấp thống trị đối với họ. Công sức họ bỏ ra quá nhiều mà hưởng thụ dường như chẳng có. Điều ấy dẫn đến kiếp sống nhọc nhằn, nghèo đói kéo dài, tưởng như không thể tìm ra lối thoát. Câu hát: Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi diễn tả sự chia li bất đắc dĩ giữa người đi xa với những người thân yêu, với mảnh đất chôn nhau cắt rốn để tha phương cầu thực, để trốn thuế trốn sưu. Con đường mưu sinh trước mặt quá đỗi gập ghềnh, nguy hiểm. Người gạt nước mắt ra đi, biền biệt bóng chim tăm cá, như hạc lánh đường mây, như chim bay mỏi cánh, biết đến bao giờ được trở lại cố hương, sum vầy cha con, chồng vợ?! Kẻ ở nhà đỏ mắt thấp thỏm lo lắng, đợi trông. Trong vô vàn nỗi khổ của kiếp người, có nỗi khổ nào bằng sinh li, tử biệt? Cách mở đầu mỗi câu đều bằng từ cảm thán (Thương thay… Thương thay…) tạo ra âm điệu ngậm ngùi, mang đậm nỗi sầu thương thân, thương phận. Khe khẽ ngâm nga, ta sẽ thấy bài ca dao trên giống như một tiếng thở dài hờn tủi và tuyệt vọng. Bài ca dao thứ ba phản ánh thân phận khốn khổ của người phụ nữ nông thôn trong xã hội cũ. Hình ảnh so sánh trong bài có nét đặc biệt mang tính chất địa phương của một vùng sông nước miền Nam. Tên gọi của trái bần gợi sự liên tưởng đến thân phận người nghèo. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trái bần, trái mụ u, trái sầu riêng thường gợi đến những cuộc đời đầy đau khổ, đắng cay. Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia có khác gì trái bần nhỏ bé liên tiếp bị gió dập sóng dồi. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh, không có quyền tự mình quyết định cuộc đời. Xã hội phong kiến luôn muôn nhấn chìm họ, phủ nhận vai trò của họ. Tóm lại, cả ba bài ca dao trên đều xoay quanh nội dung than thân trách phận. Cuộc đời của người nông dân nghèo khổ xưa là một bể khổ mênh mông không bờ không bến. Hiện thực thì tăm tối, tương lai thì mù mịt, họ chẳng biết đi về đâu. Điều đó chỉ châm dứt từ khi có ánh sáng Cách mạng của Đảng soi đường dẫn lối, giải phóng nông dân ra khỏi xiềng xích áp bức của giai cấp phong kiến thông trị kéo dài bao thế kỉ. Ngày nay, cuộc sống buồn đau, cơ cực đã lùi vào dĩ vãng. Tuy vậy, đọc những bài ca dao trên, chúng ta càng hiểu, càng thương hom ông bà, cha mẹ đã phải chịu kiếp đói nghèo trong rơm rạ của một quá khứ chưa xa.
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát than thân và phát biểu cảm nghĩ của mình về những câu hát ấy. Bài làm Ca dao, dân ca là tấm gương phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của nhân dân lao động. Nó không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó thiết tha đối với quê hương, đất nước… mà còn là tiếng thở than về số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ cực, đắng cay. Những câu hát than thân ngoài ý nghĩa than thân trách phận còn có ý nghĩa, phản kháng, tố cáo sự thối nát, bất công của xã hội phong kiến đương thời. Điều đó được thể hiện chân thực và sinh động qua hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ đa dạng, phong phú. Ba câu hát sau đây là những ví dụ tiêu biểu: 1. Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn, cho gầy cò con? 2. Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe. 3. Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi, biết tấp vào đâu? Cả ba câu hát đều sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền với âm hưởng ngậm ngùi, thương cảm, cùng với những hình ảnh so sánh hoặc ẩn dụ thường thấy trong ca dao để diễn tả thân phận bé mọn của lớp người nghèo khổ trong xã hội cũ (con cò, con tằm, con kiến, trái bần…). Mở đầu mỗi câu thường là những cụm từ như Thương thay… Thân em như… và nội dung ý nghĩa được thể hiện dưới hình thức câu hỏi tu từ. Câu 1: Trong ca dao xưa, người nông dân thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời và thân phận bé mọn của mình, bởi họ tìm thấy những nét tương đồng ở loài chim quen thuộc ấy. Bức tranh phong cảnh nông thôn Việt Nam không thể thiếu những cánh cò lặn lội kiếm ăn trên cánh đồng, lạch nước. Cò gần gũi bên người nông dân lúc cày bừa, cấy hái vất vả. Cò giang cánh nối đuôi nhau bay về tổ lúc hoàng hôn… Con cò đã trở thành người bạn để người nông dân chia sẻ tâm tình: Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Nghệ thuật tương phản tài tình trong câu ca dao trên đã làm nổi bật hình ảnh đáng thương của con cò. Giữa trời nước mênh mông, cò lủi thủi, đơn côi, lầm lũi kiếm ăn. Thân cò vốn đã bé nhỏ lại càng thêm bé nhỏ. Đã vậy mà cò vẫn phải lên thác, xuống ghềnh, đương đầu với bao nỗi éo le ngang trái. Câu ca dao như một tiếng thở dài não nề, như một lời trách móc, oán than trước nghịch cảnh của cuộc đời. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn cho gầy cò con? Cò đã cam chịu số kiếp hẩm hiu, thế nhưng nó vẫn không được sống yên ổn trong cảnh bần hàn mà vẫn bị một ai đó, một thế lực nào đó đẩy vào cảnh bể đầy, ao cạn trớ trêu. Phải chăng đó chính là giai cấp thống trị trong xã hội cũ luôn muốn dồn người bị trị vào bước đường cùng?! Cao hơn ý nghĩa một câu hát than thân, bài ca dao trên chứa đựng thái độ phản kháng và tố cáo xã hội đương thời. Hình ảnh con cò ở đây tượng trưng cho thân phận long đong, khốn khổ của người nông dân nghèo vì sưu cao, thuế nặng, vì nạn phu phen, tạp dịch liên miên, vì sự bóc lột đến tận xương tủy của giai cấp thống trị. Vẫn theo mạch liên tưởng giống như ở bài ca dao thứ nhất, bài ca dao thứ hai là một ẩn dụ so sánh giữa thân phận của người nông dân với những loài vật bé nhỏ, tầm thường như con tằm, con kiến: Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kều ra máu có người nào nghe. Đây là câu hát nói về những số phận vất vả, bất hạnh. Điệp từ Thương thay được lặp lại bốn lần, biểu hiện sự thương cảm, xót xa vô hạn. Thương thay là thương cho thân phận mình và thân phận của những người cùng cảnh ngộ. Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ là thương cho những người lao động nghèo khổ suốt đời bị kẻ khác bòn rút sức lực, công lao. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi là thương cho nỗi khổ chung của những thân phận nhỏ nhoi, suốt đời xuôi ngược vất vả làm lụng mà vẫn cơ cực, nghèo khó. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi là thương cho những cuộc đời phiêu bạt, lận đận để kiếm sống qua ngày. Thương tháy con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe là thương cho những thân phận thấp cổ bé họng, suốt đời ôm nỗi khổ đau oan trái, không được ánh sáng công lí nào soi tỏ. Trong ca dao, người xưa có thói quen khi nhìn nhận sự vật thường hay liên hệ đến cảnh ngộ của mình, vận vào thân phận mình. Họ đồng cảm với những con vật bé nhỏ, tội nghiệp (con sâu, cái kiến, con cò, con vạc, con hạc giữa trời, con hạc đầu đình, con cuốc kêu sương, con cuốc kêu ra máu,…) bởi cho rằng chúng cũng có số kiếp, thân phận khốn khổ như mình. Những hình ảnh có tính chất ẩn dụ trong các câu hát kết hợp với bút pháp miêu tả chân thực khiến cho những nỗi thương tâm gây xúc động thấm thía. Tằm ăn lá dâu, nhả ra tơ để cho con người lấy tơ dệt thành lụa, lĩnh, gấm, vóc… những mặt hàng may mặc quý giá phục vụ cho tầng lớp thượng lưu giàu có. Đã là kiếp tằm thì chỉ ăn lá dâu, thứ lá tầm thường mọc nơi đồng ruộng, bãi sông. Mà con tằm Bé nhỏ kia ăn được là bao?! Mượn hình ảnh ấy Ị người lao động ngụ ý nói đến sự bóc lột quá đáng của giai cấp thống trị đối với họ. Công sức họ bỏ ra quá nhiều mà hưởng thụ dường như chẳng có. Điều ấy dẫn đến kiếp sống nhọc nhằn, nghèo đói kéo dài, tưởng như không thể tìm ra lối thoát. Câu hát: Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi diễn tả sự chia li bất đắc dĩ giữa người đi xa với những người thân yêu, với mảnh đất chôn nhau cắt rốn để tha phương cầu thực, để trốn thuế trốn sưu. Con đường mưu sinh trước mặt quá đỗi gập ghềnh, nguy hiểm. Người gạt nước mắt ra đi, biền biệt bóng chim tăm cá, như hạc lánh đường mây, như chim bay mỏi cánh, biết đến bao giờ được trở lại cố hương, sum vầy cha con, chồng vợ?! Kẻ ở nhà đỏ mắt thấp thỏm lo lắng, đợi trông. Trong vô vàn nỗi khổ của kiếp người, có nỗi khổ nào bằng sinh li, tử biệt? Cách mở đầu mỗi câu đều bằng từ cảm thán (Thương thay… Thương thay…) tạo ra âm điệu ngậm ngùi, mang đậm nỗi sầu thương thân, thương phận. Khe khẽ ngâm nga, ta sẽ thấy bài ca dao trên giống như một tiếng thở dài hờn tủi và tuyệt vọng. Bài ca dao thứ ba phản ánh thân phận khốn khổ của người phụ nữ nông thôn trong xã hội cũ. Hình ảnh so sánh trong bài có nét đặc biệt mang tính chất địa phương của một vùng sông nước miền Nam. Tên gọi của trái bần gợi sự liên tưởng đến thân phận người nghèo. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trái bần, trái mụ u, trái sầu riêng thường gợi đến những cuộc đời đầy đau khổ, đắng cay. Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia có khác gì trái bần nhỏ bé liên tiếp bị gió dập sóng dồi. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh, không có quyền tự mình quyết định cuộc đời. Xã hội phong kiến luôn muôn nhấn chìm họ, phủ nhận vai trò của họ. Tóm lại, cả ba bài ca dao trên đều xoay quanh nội dung than thân trách phận. Cuộc đời của người nông dân nghèo khổ xưa là một bể khổ mênh mông không bờ không bến. Hiện thực thì tăm tối, tương lai thì mù mịt, họ chẳng biết đi về đâu. Điều đó chỉ châm dứt từ khi có ánh sáng Cách mạng của Đảng soi đường dẫn lối, giải phóng nông dân ra khỏi xiềng xích áp bức của giai cấp phong kiến thông trị kéo dài bao thế kỉ. Ngày nay, cuộc sống buồn đau, cơ cực đã lùi vào dĩ vãng. Tuy vậy, đọc những bài ca dao trên, chúng ta càng hiểu, càng thương hom ông bà, cha mẹ đã phải chịu kiếp đói nghèo trong rơm rạ của một quá khứ chưa xa.
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát về chủ đề tình cảm gia đình và phát biểu cảm nghĩ về những câu hát ấy. Bài làm I. DÀN Ý 1, Mở bài: – Những câu hát về chủ đề tình cảm gia đình khá phổ biến trong ca dao – dân ca. – Một sô câu tiêu biểu thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người lao động. 2. Thân bài: Câu 1: Công cha như núi Thái Sơn … ghi lòng con ơi! – Khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ nhắc nhở con cái phải có bổn phận đáp đền chữ hiếu, bởi hiếu nghĩa là gốc của đạo làm người. – Nghệ thuật so sánh có tính chất ước lệ: Công cha với núi cao,nghĩa mẹ với biển rộng nhấn mạnh ý đó. – Âm hưởng nhịp nhàng, du dương, thích hợp làm bài hát ru con, chứa đựng lời khuyên nhủ chí tình về đạo làm người. Câu 2: Chiều chiều … ruột đau chín chiều. – Là tâm trạng thương nhớ gia đình, quê hương của người con gái lấy chồng xa xứ. – Thời gian: chiều chiều không gian: ngõ sau, phù hợp với tâm trạng nhân vật đang day dứt, khắc khoải, tủi thân, tủi phận một mình nơi đất khách, không biết chia sẻ cùng ai. – Cách mở đầu thường thấy trong ca dao (Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, Nhớ người áo đỏ khăn điều vắt vai; Chiều chiều ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ…), được dùng để thể hiện nỗi buồn không nguôi đè nặng lên số phận người phụ nữ dưới thời phong kiến. Câu 3: Ngó lên nuộc lạt mái nhà … bấy nhiêu! – Thể hiện lòng biết ơn chân thành, tha thiết của con cháu đối với ông bà, cha mẹ đã khuất. – Nghệ thuật so sánh: bao nhiêu … bấy nhiêu. Hình ảnh so sánh: nuộc lạt mái nhà vừa cụ thể, quen thuộc, vừa có ý nghĩa ẩn dụ, nhấn mạnh tình thương yêu, kính trọng và biết ơn vô cùng sâu sắc. Câu 4: Anh em nào phải người xa … hai thân vui vầy. – Là lời khuyên nhủ anh em ruột thịt phải thương yêu, đoàn kết, chia sẻ vui buồn, sống chết với nhau. – Anh em thuận hòa là nhà có phúc. Đây cũng chính là cách báo hiếu thiết thực nhất đối với cha mẹ. – Hình ảnh so sánh: như thể tay chân thể hiện sự gắn bó khăng khít không rời. 3. Kết bài – Ca dao trữ tình nảy sinh và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tình cảm phong phú của người lao động. II. BÀI LÀM Những câu hát về chủ đề tình cảm gia đình chiếm khối lượng khá lớn trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam, thể hiện đời sống tinh thần đẹp đẽ, phong phú của người lao động. Dưới đây là một số câu tiêu biểu nhất: 1. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! 2. Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. 3. Ngó lên nuộc lạt mái nhà, Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu. 4. Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy. Nội dung những câu hát này thường là lời khuyên bảo của ông bà, cha mẹ với con cháu hoặc là sự bày tỏ lòng hiếu kính của các thế hệ sau đối với ông bà, cha mẹ. Nghệ thuật chung là dùng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ quen thuộc trong ca dao. Câu thứ nhất khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục to lớn của cha mẹ đối với con cái và nhắc nhở bổn phận, trách nhiệm của con cái là báo đền chữ hiếu: Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Đây là lời hát ru của bà, của mẹ trên cánh võng đong đưa giữa trưa hè nóng bức hay trong những đêm đông giá rét. Âm điệu của lời ca giống như lời tâm tình thủ thỉ, thiết tha, sâu lắng. Lời ru thường gắn liền với những quan hệ tình cảm gia đình và xã hội. Trên đời này, không có bài hát ru nào mà mối quan hệ giữa người nghe và người hát lại gần gũi, ấm áp, thiêng liêng như ở bài này. Để khẳng định công cha, nghĩa mẹ, ca dao thường lấy những hình ảnh lớn lao, vĩnh hằng của thiên nhiên để so sánh. Trong văn chương phương Đông, vai trò của người cha thường được ví với trời, với núi; vai trò người mẹ ví với đất hoặc với biển trong các cặp biểu tượng truyền thống (cha – trời, mẹ – đất, cha – núi, mẹ – biển). Những hình ảnh ước lệ đẹp đẽ ấy lại được miêu tả bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời – núi cao, biển rộng mênh mông). Bởi vì chỉ có những hình ảnh lớn lao, kì vĩ ấy mới diễn tả nổi công ơn của cha mẹ. Núi ngất trời, biển rộng mênh mông không thể nào đo được, cũng như công cha, nghĩa, mẹ đối với các con kể sao cho xiết! Công cha sánh đôi với nghĩa mẹ cũng là cách nói đối xứng truyền thống trong ca dao – dân ca. Nhờ nghệ thuật so sánh tài tình mà lối giáo huấn khô khan về chữ hiểu đã biến thành lời ru ngọt ngào, êm ái. Vì thế mà khái niệm trừu tượng về công cha, nghĩa mẹ cũng trở nên cụ thể, sinh động và thấm thía hơn. Câu hát thứ hai là tâm sự của người con gái lấy chồng xa quê. Trong ca dao, dân ca, không gian ngõ sau và bến sông thường gắn liền với tâm trạng của những phụ nữ có cảnh ngộ như vậy: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều. Đó là tâm trạng buồn nhớ da diết, xót xa, thường xuất hiện vào lúc chiều buông. Cảnh chiều hay gợi buồn, gợi nhớ, bởi nó là thời điểm của sự đoàn tụ (chim bay về tổ, con người trở về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc). Vậy mà người con gái lấy chồng xa xứ phải thui thủi một mình nơi đất khách quê người. Ngõ sau là nơi vắng lặng, vào thời điểm ngày tàn đêm đến lại càng vắng lặng. Không gian ấy gợi người đọc nghĩ đến cảnh ngộ cô đơn và thân phận đau khổ của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến gia trưởng. Bao nhiêu tủi hờn dồn nén, chất chứa trong lòng mà họ không biết chia sẻ cùng ai. Người con gái xa nhà nhớ mẹ, nhớ quê… và xót xa, day dứt vì chẳng thể trọn đạo làm con là đỡ đần cha già mẹ yếu lúc ốm đau, cơ nhỡ. Bên cạnh đó có cả nỗi nhớ về một thời con gái đã qua cùng nỗi ngậm ngùi thân gái dặm trường, phải chia tay cha mẹ, anh em, khăn gói thẹo chồng. Câu hát thứ ba thể hiện lòng biết ơn tổ tiên, ông bà của các con, các cháu. Cái hay trong câu hát này là ở cách diễn tả tình cảm. Động từ Ngó lên bộc lộ thái độ trân trọng, tôn kính. Hình ảnh nuộc lạt mái nhà gợi nên mức độ không thể đo đếm cụ thể của lòng biết ơn cùng sự gắn kết bền chặt của tình cảm huyết thống. Bên cạnh đó, nó còn khẳng định công lao to lớn của tổ tiên, ông bà trong việc gây dựng nên gia đình, họ tộc. Cặp quan hệ từ chỉ mức độ tăng tiến (bao nhiêu… bấy nhiêu) nhấn mạnh thêm ý đó. Câu hát thứ tư có thể là lời của cha mẹ khuyên nhủ các con hoặc là lời của anh em ruột thịt tâm sự với nhau: Anh em nào phải người xa, Cung chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.. Quan hệ anh em khác hẳn với quan hệ của người xa (người dưng) bởi vì nó có nhiều cái chung, cái cùng rất thiêng liêng: Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Anh em là bát máu sẻ đôi, vui buồn, sướng khổ có nhau dưới một mái nhà. Quan hệ anh em được ví như thể tay chân biểu hiện sự gắn bó máu thịt, khăng khít không rời. Câu hát trên là lời khuyên nhủ anh em phải trên thuận dưới hòa, trên kính dưới nhường, phải biết nương tựa, giúp đỡ nhau để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách báo đền chữ hiếu thiết thực nhất, cụ thể nhất đối với cha mẹ: Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy. Cả bốn câu hát trên đều sử dụng thể thơ lục bát với âm điệu tâm tình, nhắn nhủ và các hình ảnh so sánh quen thuộc (tất nhiên mỗi bài có những hình ảnh độc đáo riêng). Ca dao, dân ca là tiếng hát cất lên từ trái tim chất chứa bao nỗi buồn vui, sướng khổ của con người. Thơ ca dân gian nảy sinh và phát triển là để đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm ấy. Do đó, nó sẽ còn sống mãi, ngân vang mãi trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát về chủ đề tình cảm gia đình và phát biểu cảm nghĩ về những câu hát ấy. Bài làm I. DÀN Ý 1, Mở bài: – Những câu hát về chủ đề tình cảm gia đình khá phổ biến trong ca dao – dân ca. – Một sô câu tiêu biểu thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người lao động. 2. Thân bài: Câu 1: Công cha như núi Thái Sơn … ghi lòng con ơi! – Khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ nhắc nhở con cái phải có bổn phận đáp đền chữ hiếu, bởi hiếu nghĩa là gốc của đạo làm người. – Nghệ thuật so sánh có tính chất ước lệ: Công cha với núi cao,nghĩa mẹ với biển rộng nhấn mạnh ý đó. – Âm hưởng nhịp nhàng, du dương, thích hợp làm bài hát ru con, chứa đựng lời khuyên nhủ chí tình về đạo làm người. Câu 2: Chiều chiều … ruột đau chín chiều. – Là tâm trạng thương nhớ gia đình, quê hương của người con gái lấy chồng xa xứ. – Thời gian: chiều chiều không gian: ngõ sau, phù hợp với tâm trạng nhân vật đang day dứt, khắc khoải, tủi thân, tủi phận một mình nơi đất khách, không biết chia sẻ cùng ai. – Cách mở đầu thường thấy trong ca dao (Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, Nhớ người áo đỏ khăn điều vắt vai; Chiều chiều ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ…), được dùng để thể hiện nỗi buồn không nguôi đè nặng lên số phận người phụ nữ dưới thời phong kiến. Câu 3: Ngó lên nuộc lạt mái nhà … bấy nhiêu! – Thể hiện lòng biết ơn chân thành, tha thiết của con cháu đối với ông bà, cha mẹ đã khuất. – Nghệ thuật so sánh: bao nhiêu … bấy nhiêu. Hình ảnh so sánh: nuộc lạt mái nhà vừa cụ thể, quen thuộc, vừa có ý nghĩa ẩn dụ, nhấn mạnh tình thương yêu, kính trọng và biết ơn vô cùng sâu sắc. Câu 4: Anh em nào phải người xa … hai thân vui vầy. – Là lời khuyên nhủ anh em ruột thịt phải thương yêu, đoàn kết, chia sẻ vui buồn, sống chết với nhau. – Anh em thuận hòa là nhà có phúc. Đây cũng chính là cách báo hiếu thiết thực nhất đối với cha mẹ. – Hình ảnh so sánh: như thể tay chân thể hiện sự gắn bó khăng khít không rời. 3. Kết bài – Ca dao trữ tình nảy sinh và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tình cảm phong phú của người lao động. II. BÀI LÀM Những câu hát về chủ đề tình cảm gia đình chiếm khối lượng khá lớn trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam, thể hiện đời sống tinh thần đẹp đẽ, phong phú của người lao động. Dưới đây là một số câu tiêu biểu nhất: 1. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! 2. Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. 3. Ngó lên nuộc lạt mái nhà, Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu. 4. Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy. Nội dung những câu hát này thường là lời khuyên bảo của ông bà, cha mẹ với con cháu hoặc là sự bày tỏ lòng hiếu kính của các thế hệ sau đối với ông bà, cha mẹ. Nghệ thuật chung là dùng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ quen thuộc trong ca dao. Câu thứ nhất khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục to lớn của cha mẹ đối với con cái và nhắc nhở bổn phận, trách nhiệm của con cái là báo đền chữ hiếu: Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Đây là lời hát ru của bà, của mẹ trên cánh võng đong đưa giữa trưa hè nóng bức hay trong những đêm đông giá rét. Âm điệu của lời ca giống như lời tâm tình thủ thỉ, thiết tha, sâu lắng. Lời ru thường gắn liền với những quan hệ tình cảm gia đình và xã hội. Trên đời này, không có bài hát ru nào mà mối quan hệ giữa người nghe và người hát lại gần gũi, ấm áp, thiêng liêng như ở bài này. Để khẳng định công cha, nghĩa mẹ, ca dao thường lấy những hình ảnh lớn lao, vĩnh hằng của thiên nhiên để so sánh. Trong văn chương phương Đông, vai trò của người cha thường được ví với trời, với núi; vai trò người mẹ ví với đất hoặc với biển trong các cặp biểu tượng truyền thống (cha – trời, mẹ – đất, cha – núi, mẹ – biển). Những hình ảnh ước lệ đẹp đẽ ấy lại được miêu tả bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời – núi cao, biển rộng mênh mông). Bởi vì chỉ có những hình ảnh lớn lao, kì vĩ ấy mới diễn tả nổi công ơn của cha mẹ. Núi ngất trời, biển rộng mênh mông không thể nào đo được, cũng như công cha, nghĩa, mẹ đối với các con kể sao cho xiết! Công cha sánh đôi với nghĩa mẹ cũng là cách nói đối xứng truyền thống trong ca dao – dân ca. Nhờ nghệ thuật so sánh tài tình mà lối giáo huấn khô khan về chữ hiểu đã biến thành lời ru ngọt ngào, êm ái. Vì thế mà khái niệm trừu tượng về công cha, nghĩa mẹ cũng trở nên cụ thể, sinh động và thấm thía hơn. Câu hát thứ hai là tâm sự của người con gái lấy chồng xa quê. Trong ca dao, dân ca, không gian ngõ sau và bến sông thường gắn liền với tâm trạng của những phụ nữ có cảnh ngộ như vậy: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều. Đó là tâm trạng buồn nhớ da diết, xót xa, thường xuất hiện vào lúc chiều buông. Cảnh chiều hay gợi buồn, gợi nhớ, bởi nó là thời điểm của sự đoàn tụ (chim bay về tổ, con người trở về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc). Vậy mà người con gái lấy chồng xa xứ phải thui thủi một mình nơi đất khách quê người. Ngõ sau là nơi vắng lặng, vào thời điểm ngày tàn đêm đến lại càng vắng lặng. Không gian ấy gợi người đọc nghĩ đến cảnh ngộ cô đơn và thân phận đau khổ của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến gia trưởng. Bao nhiêu tủi hờn dồn nén, chất chứa trong lòng mà họ không biết chia sẻ cùng ai. Người con gái xa nhà nhớ mẹ, nhớ quê… và xót xa, day dứt vì chẳng thể trọn đạo làm con là đỡ đần cha già mẹ yếu lúc ốm đau, cơ nhỡ. Bên cạnh đó có cả nỗi nhớ về một thời con gái đã qua cùng nỗi ngậm ngùi thân gái dặm trường, phải chia tay cha mẹ, anh em, khăn gói thẹo chồng. Câu hát thứ ba thể hiện lòng biết ơn tổ tiên, ông bà của các con, các cháu. Cái hay trong câu hát này là ở cách diễn tả tình cảm. Động từ Ngó lên bộc lộ thái độ trân trọng, tôn kính. Hình ảnh nuộc lạt mái nhà gợi nên mức độ không thể đo đếm cụ thể của lòng biết ơn cùng sự gắn kết bền chặt của tình cảm huyết thống. Bên cạnh đó, nó còn khẳng định công lao to lớn của tổ tiên, ông bà trong việc gây dựng nên gia đình, họ tộc. Cặp quan hệ từ chỉ mức độ tăng tiến (bao nhiêu… bấy nhiêu) nhấn mạnh thêm ý đó. Câu hát thứ tư có thể là lời của cha mẹ khuyên nhủ các con hoặc là lời của anh em ruột thịt tâm sự với nhau: Anh em nào phải người xa, Cung chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.. Quan hệ anh em khác hẳn với quan hệ của người xa (người dưng) bởi vì nó có nhiều cái chung, cái cùng rất thiêng liêng: Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Anh em là bát máu sẻ đôi, vui buồn, sướng khổ có nhau dưới một mái nhà. Quan hệ anh em được ví như thể tay chân biểu hiện sự gắn bó máu thịt, khăng khít không rời. Câu hát trên là lời khuyên nhủ anh em phải trên thuận dưới hòa, trên kính dưới nhường, phải biết nương tựa, giúp đỡ nhau để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách báo đền chữ hiếu thiết thực nhất, cụ thể nhất đối với cha mẹ: Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy. Cả bốn câu hát trên đều sử dụng thể thơ lục bát với âm điệu tâm tình, nhắn nhủ và các hình ảnh so sánh quen thuộc (tất nhiên mỗi bài có những hình ảnh độc đáo riêng). Ca dao, dân ca là tiếng hát cất lên từ trái tim chất chứa bao nỗi buồn vui, sướng khổ của con người. Thơ ca dân gian nảy sinh và phát triển là để đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm ấy. Do đó, nó sẽ còn sống mãi, ngân vang mãi trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về một đoạn văn mà em thích nhất trong bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân Bài làm Bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân là một tác phẩm đặc sắc mà ở đó đoạn tả mặt trời mọc trên biển đã gây cho em sự thích thú, ham mê và trí tưởng tượng sâu sắc nhất. Cảnh mặt trời mọc trên biển là một bức tranh rất đẹp và đầy chất thơ. Đây là đoạn văn miêu tả đẹp nhất của bài kí. Như một “sản phẩm quí”, vẻ đẹp của thiên nhiên như dâng sẵn, đón chờ, nhưng không phải ai cũng có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy một cách đầy đủ và tinh tế. Chính vì thế mà ngắm nhìn bình minh Cô Tô đối với Nguyễn Tuân không phải là một thú vui hưởng thụ, dễ dãi, thụ động mà là cả một cuộc đi tìm cái đẹp một cách công phu, đầy sự khám phá, sáng tạo. Như một nghệ sĩ đi săn lùng cái đẹp, Nguyễn Tuân đã dậy từ canh tư, lúc còn tôi đất, cô đi mãi trên đầu đá sư, ra thấu đầu mủi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên. Người đọc cảm mến tác giả về lòng yêu quí, tôn thờ “cái đẹp” và cảm phục, thích thú vì công phu tìm kiếm cái đẹp của người nghệ sĩ, hồi hộp cùng tác giả chờ đón cái “đẹp” xuất hiện. Rạng đông được tác giả miêu tả trong một câu rất súc tích và giàu sức gợi cảm. Chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây, hết bụi- Cảnh rất thực mà đẹp thần tiên, trong trẻo, tinh khiết. Nguyễn Tuân đã khéo léo, tinh tế tạo ra cái “phông”, cái nền cho vầng dương hiện trên mặt biển: Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh và phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Hình ảnh so sánh mà tác giả đã dùng ở đây thật là đặc sắc, vừa rất thực mà cũng rất mơ, rất kì ảo. “Thực” là vì qua làn hơi nước của mặt biển, mắt thường có thể nhìn rõ hình dáng “tròn trĩnh” của vầng thái dương. Mặt trời lúc ấy dịu êm, chưa chói loá, chưa làm nhức mắt, khiến cho người ta có thể ngắm nhìn và có cảm giác vầng mặt trời hiền hoà phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Hình ảnh so sánh “rất mơ” rất kì ảo vì nó là kết quả của óc quan sát, nhận xét tinh tế và kết hợp với trí tưởng tượng phong phú, táo bạo của tác giả. Không dừng ở đó, óc quan sát sắc sảo, tâm hồn tinh tế, kết hợp với trí tưởng tượng phong phú, táo bạo của Nguyễn Tuân đã biện những lời văn miêu tả của ông thành một bức tranh sơn mài tráng lệ. Sự am hiểu của tác giả về hội hoạ tăng thêm hiệu lực cho ngòi bút miêu tả, đoạn văn giàu chất tạo hình và màu sắc khiến nó sáng rực lên, đẹp một vẻ đẹp kì ảo mà lại rất thực. Người đọc chưa hết sững sờ trước hình ảnh so sánh mặt trời tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn, thì lại sững sờ trước một vẻ đẹp kì ảo khác: Quả trứng hồng hào, thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc, đường kính mâm rộng bâng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng. Ba tính từ đặt liên tiếp cạnh nhau (hồng hào, thăm thẳm, đường bệ) có tác dụng tả màu sắc, trạng thái, hình dáng mặt trời làm cho nó nổi bật lên trên cái mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng. Màu hồng và màu ánh bạc là hai màu sắc có sức gợi cảm của tranh sơn mài, cũng là hai màu sắc chủ đạo của bức tranh này. Vẻ đẹp của mặt trời mọc trên biển Cô Tô quả là tặng vật vô giá của thiên nhiên ban cho người lao động suốt đời gắn bó với biển cả. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Câu văn đẹp, một vẻ đẹp cổ điển, mẫu mực. Hình ảnh so sánh vầng mặt trời và bầu trời trên biển Cô Tô như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh… là một hình ảnh hết sức trang trọng, uy nghi, lộng lẫy và giàu chất nhân bản vì nó hướng tới “Con người”, vì “Con người”, kính trọng người lao động. Ta như có cảm giác thiên nhiên vĩ đại đang tự đẹp lên vì “Con người”, đang cung kính dâng lễ phẩm trong buổi lễ mừng thọ tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Và cùng lúc, chúng ta đón nhận mâm lễ phẩm của Nguyễn Tuân, một mâm lễ phẩm sang trọng, ông dâng cho muôn thuở văn chương: những trang viết tài hoa, huy hoàng của ông! Đến đây, người đọc cảm phục Nguyễn Tuân vì tài văn chương mà cũng vô cùng kính trọng cái “tâm” rất đẹp của ông. Cái “Tâm” rất đẹp của Nguyễn Tuân luôn hướng về người dân lao động của đất nước mình. Bức tranh bình minh trên biển Cô Tô sẽ giảm đi rất nhiều vẻ đẹp nếu như nhà văn không điểm vào đó mấy cánh chim không khi nào thiếu vắng trên biển. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất bạc nén. Một con Hải âu bay ngang là là nhịp cánh. Đôi nét chấm phá cuối cùng đã hoàn tất bức tranh, làm cho bức tranh sống động, đầy chất thơ. Đây là những cánh chim xưa thường chấp chới, sáng lên trong những áng thơ cổ điển. Trong đoạn văn này, những cánh chim biển nhỏ nhoi có tác dụng rất lớn: nó thổi hồn thơ vào văn xuôi. Phải chăng đó là nét tài hoa của ngòi bút văn chương Nguyễn Tuân. Em chưa một lần được ngắm cảnh bình minh ở biển. Nhờ đoạn kí của Nguyễn Tuân đã giúp em chiêm ngưỡng, thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và kì diệu của mặt trời mọc trên biển Cô Tô. Cảm ơn nhà văn với trí sáng tạo đã khám phá, đã “vẽ” lên trong văn chương vẻ đẹp của Cô Tô, giúp ta thêm yêu vùng đảo xa xôi này. Cảm ơn Nguyễn Tuân đã dạy ta cả cách đến với “Cái đẹp”.
Topic: Express your feelings about a passage you like the most in the poem Co To by Nguyen Tuan Assignment The poem Co To by Nguyen Tuan is a unique work in which the description of the sun rising over the sea has caused me the deepest excitement, passion, and imagination. The sunrise over the sea is a very beautiful and poetic picture. This is the most beautiful descriptive paragraph of the essay. Like a "precious product", the beauty of nature seems to be available and waiting, but not everyone can feel that beauty fully and delicately. That's why watching the Co To sunrise for Nguyen Tuan is not an easy, passive, enjoyable hobby but an elaborate search for beauty, full of discovery and creativity. Like an artist hunting for beauty, Nguyen Tuan woke up from the fourth watch. When she was still on land, she walked forever on the monk's head, out to the tip of the island. And sat there waiting for the sun to rise. Readers appreciate the author's love, worship of "beauty" and admiration, delight in the artist's meticulous search for beauty, and anxiously wait with the author for "beauty" to appear. Dawn is described by the author in a very concise and evocative sentence. The horizon, the ocean is as clean as a glass that wipes away all the clouds and dust - The scene is very real but magically beautiful, clear and pure. Nguyen Tuan skillfully and delicately created the "backdrop", the background for the sun to appear on the sea surface: The sun rises gradually, then rises until the end. Round and generous like the yolk of a natural egg. The comparison image that the author has used here is truly unique, both very real and also very dreamy and magical. "Real" because through the steam of the sea surface, the naked eye can clearly see the "round" shape of the sun. The sun at that time was gentle, not yet dazzling, not yet painful to the eyes, making it possible for people to look at it and feel that the sun was gentle and kind like the yolk of a plump natural egg. The comparison image "very dreamy" is very magical because it is the result of subtle observation and comment combined with the author's rich and bold imagination. Not stopping there, Nguyen Tuan's sharp observation, delicate soul, combined with his rich and bold imagination, transformed his descriptive words into a magnificent lacquer painting. The author's understanding of painting adds to the effectiveness of the descriptive pen, the text is rich in imagery and color, making it shine brightly, giving it a magical yet very real beauty. Readers are not yet stunned by the image of the sun being as round and benevolent as the yolk of a plump natural egg. They are then stunned by another magical beauty: The rosy, deep and sugary egg. The pedestal is placed on a silver tray, the diameter of the tray is as wide as a horizon the color of pearly pink sea water. Three adjectives placed consecutively next to each other (rosy, profound, majestic) have the effect of describing the color, state, and shape of the sun, making it stand out on a silver tray whose diameter is as wide as a sun. The horizon is the color of pearly pink sea water. Pink and silver are two sexy colors of lacquer paintings, and are also the two main colors of this painting. The beauty of the sunrise on Co To beach is truly a priceless gift from nature to workers who spend their lives attached to the sea. Just like a tray of offerings coming out at dawn to celebrate the longevity of all fishermen on the eternal East Sea. Beautiful sentences, a classic, exemplary beauty. The image comparing the sun and the sky on the Co To sea like a tray of offerings coming out of dawn... is a very solemn, majestic, splendid and rich image of humanity because it aims to " People", because "People", respect workers. We feel like the great nature is beautifying itself because of "Human", who is respectfully offering offerings in the ceremony to celebrate the life of all the fishermen in the eternal East Sea. And at the same time, we receive Nguyen Tuan's offering tray, a luxurious offering tray, which he offers to literature forever: his talented and glorious writing pages! At this point, readers admire Nguyen Tuan for his literary talent but also greatly respect his beautiful "mind". Nguyen Tuan's beautiful "Heart" is always directed towards the working people of his country. The picture of sunrise on Co To beach would have lost a lot of its beauty if the writer had not included a few bird wings that are never absent on the sea. A few autumn swallows fluttered back and forth on the broken tray, gradually glowing with compressed silver. A seagull flying by is flapping its wings. The last few touches complete the picture, making it lively and full of poetry. These are ancient bird wings that often flutter and light up in classic poems. In this passage, the small seabird wings have a great effect: they breathe poetic soul into prose. Is that the talent of Nguyen Tuan's literary pen? I have never once seen the sunrise at the sea. Thanks to Nguyen Tuan's memoir, it has helped me admire and enjoy the splendid, magnificent and magical beauty of the sunrise on Co To beach. Thank you to the creative writer who discovered and "painted" in literature the beauty of Co To, helping us love this remote island more. Thank you Nguyen Tuan for teaching us the way to "Beauty".
Phát biểu cảm nghĩ về người bà kính yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người bà kính yêu của em Đã là con người ai chẳng yêu gia đình mình, yêu cái hương khế ngọt tuổi thơ rải dọc theo triền sông nhỏ, yêu cái vẫy đuôi xoắn tít của chú cún, yêu tất cả những gì được thấy là hay ho qua con mắt thời trẻ nhỏ, một thời thơ dại và ngây ngô. Là một lẽ tất nhiên, trẻ con yêu mẹ, yêu cha, những người gắn bó cả đời với chúng. Tuổi thơ tôi gắn bó nhất với bà ngoại. Tôi yêu nhất bà ngoại của tôi. Tầm tôi hai, ba tuổi tôi cứ nghĩ bà cụ nào cũng hiền và đẹp như bà tôi. Bởi một lẽ, hình ảnh bà gần như choán hết tâm trí tôi, bà lo cho tôi mọi thứ, lúc nào bà cũng ở bên tôi, đưa tôi vào thế giới diệu kỳ chuyện cổ. Bà tôi vẫn đẹp, một cái đẹp hiền hòa, dịu dàng. Những lọn tóc dày của bà hàng ngày tôi vẫn miệt mài tết thành bím. Và khi soi mình trong gương bà chỉ cười trừ. Tôi yêu bà, yêu hương hoa bưởi tinh khiết vấn vương trong mái tóc, yêu đêm trăng bà bày cách ngồi đan rổ, yêu buổi trưa nắng theo bà ra đồng. Dáng người cao cao, đôi bàn tay nhăn nheo mà ấm áp, như truyền làn hơi ấm vào tâm hồn tôi, như chắt lọc những giọt nước tinh khiết nhất chảy vào tâm trí, từ cái thế giới ngoài khoảng sân, góc vườn nhà mình. Trước cái thế giới bao la mà tôi sẽ xòe cánh bay vào đó, bà như một tấm khiên mỏng manh đánh bật những điều xấu xa và đưa tôi đi đúng hướng, là một người hoa tiêu vững vàng rắn rỏi lại đầu óc tôi hướng về cái thiện. Bà còn là nhiều điều quý giá nữa mà tạo hóa ban tặng cho tôi. Như một chân lý của cuộc đời, bà, vị thần ánh sáng của tôi, sẽ mãi mãi giữ một vị trí quan tọng trong tim đứa cháu hiếu thảo này. Bà ơi! Có lời nào để cháu nói hết được nỗi tiếc thương bà…
Express your feelings about your beloved grandmother Instruct Express your feelings about your beloved grandmother As a human being, who doesn't love their family, love the sweet scent of star fruit scattered along the banks of a small river in childhood, love the wagging tail of a dog, love everything that is seen as interesting through the eyes of youth. childhood, a time of innocence and naivety. Of course, children love their mothers and fathers, the people who are with them their whole lives. My childhood was most closely related to my grandmother. I love my grandmother the most. When I was two or three years old, I thought every grandmother was as gentle and beautiful as my grandmother. For one thing, the image of her almost filled my mind, she took care of everything for me, she was always by my side, taking me into the magical world of ancient stories. My grandmother is still beautiful, a gentle, gentle beauty. I still diligently braid her thick curls into braids every day. And when she looked at herself in the mirror, she just laughed. I love her, love the pure scent of grapefruit flowers lingering in her hair, love the moonlit night when she shows me how to sit and weave baskets, love the sunny afternoon following her to the fields. The tall figure, the wrinkled but warm hands, seemed to transmit warmth into my soul, like filtering the purest drops of water flowing into my mind, from the world outside the yard and corner of my garden. . In front of the vast world that I will spread my wings to fly into, she is like a fragile shield that repels bad things and guides me in the right direction, a steady and strong navigator that my mind turns towards. goodness. She is also many more precious things that nature has given me. As a truth of life, you, my goddess of light, will forever hold an important place in the heart of this filial grandchild. Grandma! Is there any words I can say to express how much I feel sorry for her...
Phát biểu cảm nghĩ về người bố kính yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người bố kính yêu của em Bố – sao tiếng gọi lại tha thiết, thân thương đến vậy? Người bố, đó là người đã sinh thành ra chúng ta, đã nuôi dưỡng chúng ta. Bố là mái ấm che chở, bảo vệ cho chúng ta, là trụ cột vững chắc trong gia đình. Em cũng có một người bố mẫu mực. Dáng bố trông thật to cao và em cũng rất hãnh diện vì cái dáng đó của bố đối với bạn bè. Bố là một người rất yêu thương em. Có một câu chuyện mà em còn nhớ mãi. Chả là thế này, ngày xưa, nhà em nghèo lắm. Tết đến, cả gia đình em ra phố chơi xuân như mọi gia đình khác. Thấy con người ta, tay đứa nào cũng cầm quà do bố mẹ tặng mà con mình lại không có. Bố thương em quá, nghĩ em tủi thân liền bỏ ngay chiếc áo mới được cho để đi đổi lấy tiền mua quà cho em vui. Khi nhận được món quà ấy, em cảm thấy rất vui mừng, hạnh phúc. Nhưng sau đó, em lại thấy chạnh lòng thương bố, vì em mà bố đã đánh đổi cả cái áo quý giá nhất cho em để em được hạnh phúc. Em cảm thấy rất xấu hổ vì đã có nhiều lần không nghe lời như không làm bài tập, cãi lại lời bố mẹ. Bố luôn luôn hướng đến cái tốt cho em, tránh điều xấu xa cho con mình. Chỉ một biểu hiện bất bình thường nhất thôi là: trong bữa ăn, bố chỉ toàn gắp thức ăn sang bát em và mẹ mà chẳng bao giờ cho mình. Những gì tốt đẹp là bố mình dành cho em hết. Bố thương em nên rất lo đến tương lai học hành của em. Bố không bao giờ tiếc một thứ gì để cho em được học. Đối với em, bố cho rằng chẳng có nhiệm vụ nào khác ngoài ăn học. Tuy nhiên, bố không chỉ cho em học mà còn nhắc nhở em cả về thể thao nữa. Nghĩ là làm, thế là trong thời gian biểu của em có thêm một hoạt động nữa, đó là vào sáng sớm, cả hai bố con cùng dậy đi chạy bộ quanh hồ. Cũng có khi, vào buổi chiều, nếu rỗi, em có thể theo bố đi tập cử tạ. Nhờ thế mà em cũng có một sức khỏe, thể lực khá tốt. Bố có lúc còn dạy em đánh ghi ta nữa. Nhìn những ngón tay điêu luyện lướt trên dây đàn, em cảm thấy quá thán phục và cảm ơn ông trời đã ban cho em một người bố rất tốt và tâm lý với em. “Công cha như núi Thái Sơn” hay ” Công cha như núi ngất trời” Giờ, bố em đã đi công tác xa được gần một tháng. Em nhớ bố quá. sắp tết rồi, thời tiết sẽ lạnh lắm. Bố ơi, bố phải mặc nhiều áo ấm đấy nhé! Bố phải giữ sức khỏe đấy, nếu không sẽ bị cảm. Bố có biết thiếu bố, con cảm thấy buồn và cô đơn đến thế nào không? Con chỉ mong sao, bố sẽ quay trở về ngay lập tức để con sẽ ôm chầm lấy bố để chỉ nói một câu, một câu thôi. Đó là: Con yêu bố!
Express your feelings about your beloved father Instruct Express your feelings about your beloved father Dad - why is the call so earnest and loving? Father is the person who gave birth to us and raised us. Dad is the home that shelters and protects us, and is a strong pillar in the family. I also have an exemplary father. Dad's figure looks really big and tall and I'm also very proud of his appearance to my friends. Dad is a person who loves me very much. There is a story that I still remember forever. It's not like this, in the past, my family was very poor. When Tet comes, my whole family goes out to play spring like any other family. Seeing other people's children, each of them holds gifts given by their parents, but their children don't have any. Dad loved me so much, thinking I was feeling sorry for myself, he immediately gave up the new shirt he had given me to exchange for money to buy gifts to make me happy. When I received that gift, I felt very excited and happy. But after that, I felt sorry for my father, because for me, he traded his most precious shirt for me so that I could be happy. I feel very embarrassed because I have disobeyed many times, such as not doing homework or arguing with my parents. Dad always aims for the good for his children and avoids the bad for his children. Just one of the most unusual signs is: during meals, dad only puts food into my sister's and mom's bowls and never gives it to me. All the good things my father gave me. Dad loves me so he is very worried about my future education. Dad never regretted anything for me to learn. For me, my father believes that there is no other duty than studying. However, my father not only let me study but also reminded me about sports. Thinking was doing, so there was one more activity in my schedule, which was early in the morning, both father and son got up to go jogging around the lake. Sometimes, in the afternoon, if I have free time, I can follow my dad to practice weightlifting. Thanks to that, I also have quite good health and physical strength. Dad even taught me how to play the guitar. Looking at the skillful fingers gliding on the strings, I felt so impressed and thanked God for giving me a father who was very kind and understanding towards me. "The father as a mountain" nice "Father's merit is like a mountain reaching the sky" Now, my father has been away on business for nearly a month. I miss my dad so much. Tet is coming, the weather will be very cold. Dad, you must wear lots of warm clothes! Dad, you have to stay healthy, otherwise you'll catch a cold. Dad, do you know how sad and lonely I feel without you? I just hope that dad will come back immediately so that I can hug him and say just one sentence, just one sentence. That is: I love you, dad!
Phát biểu cảm nghĩ về người cha kính yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người cha kính yêu của em Từ khi lọt lòng, không ai là không được nghe tiếng ầu ơ của mẹ ru con, của bà ru cháu. Vì vậy, những đứa trẻ được tình yêu của mẹ bao bọc thì đều yêu thương mẹ. Nhưng tôi thì khác, cho dù bố không chăm sóc tôi được như mẹ nhưng tôi vẫn yêu bố hơn. Trong gia đinh, người cha luôn là ngọn núi cao ngất, là chỗ dựa vững chắc cho đứa con, là điểm tựa mỗi khi con gặp sóng gió. Không ai là không tự hào khi có một người cha như vậy phải không? Tôi càng hiểu rõ tình cảm ấy vào một ngày mẹ tôi đi công tác xa nhà. Sáng hôm đi học, bố dặn tôi nhớ mang theo áo mưa. Tôi chợt nghĩ. Trời nắng thế thì sao có thể mưa được nên tôi vội chạy đến trường mặc kệ lời gọi của bố tôi. Chỉ một lúc sau, mây đen ùn ùn kéo tới, ngồi trong lớp mà tôi thấy nao nao, nhớ lại lời nhắc nhở của bố mà tôi thấy ân hận. Trời cứ mưa, mưa rả rích một lúc rồi lại ào ào mưa như thác. Những tiếng sấm rền vang khiến cho tôi nghĩ đến cảnh phải ở trường một mình. Tôi ước gì lúc đó mình nghe lời bố thì sao đến thế này. Tan học, tôi chạy thẳng về nhà mặc cho trời vẫn cứ mưa như trút. Đến tối, người tôi nóng ran, tôi thiếp đi trong cơn lo sợ. Trong đầu tôi vẫn in rõ hình ảnh buổi sáng hôm ấy. Bố tôi nhẹ nhàng đắp khăn lên trán tôi rồi dặn dò tôi. Tôi tự cảm thấy ân hận vì việc làm buổi sáng. Bàn tay bố thô ráp nhẹ nhàng, an ủi tôi. Lúc ấy, tôi mới hiểu được tình cha con thiêng liêng đến thế nào? Trông ngoài thì bố lạnh lùng lắm nhưng trong tim bố luôn cháy lên một tình yêu vô bờ bến đối với con. Hay cứ yêu thương bố như vậy bởi vì những tình cảm của cha con và cả một cuộc sống âm thầm lặng lẽ, chỉ cho mà không nhận. Bố chính là một món quà vô cùng quý giá mà thượng đế ban tặng cho chúng ta đó.
Express your feelings about your beloved father Instruct Express your feelings about your beloved father Since birth, no one has not heard the soothing sounds of a mother rocking her child, or a grandmother rocking her grandchild. Therefore, children who are surrounded by their mother's love love their mother. But I'm different. Even though my dad doesn't take care of me like my mom, I still love him more. In the family, the father is always a towering mountain, a solid support for his child, a fulcrum every time the child encounters trouble. No one is proud to have such a father, right? I understood that sentiment even more clearly one day when my mother was away from home on a business trip. On the morning of going to school, my father told me to remember to bring a raincoat. I suddenly thought. How could it rain when it was so sunny, so I quickly ran to school ignoring my father's call. Just a moment later, dark clouds rolled in. Sitting in class, I felt uneasy, remembering my father's reminder and feeling regretful. It kept raining, pouring rain for a while and then pouring down like a waterfall. The rumbling sounds of thunder made me think of being at school alone. I wish I had listened to my father at that time. After school, I ran straight home even though it was still pouring rain. By nightfall, my body was hot and I fell asleep in fear. I still have the clear image of that morning in my head. My father gently placed a towel on my forehead and gave me instructions. I feel regretful about what I did this morning. Dad's rough hands gently comforted me. At that time, I understood how sacred the father-son relationship is? Dad looks cold on the outside, but in his heart he always burns with boundless love for you. Or just love your father like that because of the feelings between father and son and a whole life of silence and silence, only giving but not receiving. Dad is an extremely precious gift that God gave us.
Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ của em văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ của em văn 7 Mỗi người từ khi sinh ra đến khi lớn lên đều được sống trong vòng tay yêu thương của ông, bà, cha mẹ… trong đó, mẹ là người đã mang nặng đẻ đau để sinh ra ta, là người luôn luôn lo lắng, chăm sóc, yêu thương ta hết mực, Tôi cũng như mọi người, công có một người mẹ như thế. Người mẹ nào cũng yêu thương con mình, và cũng không có người con nào lai không yêu mến, kính trọng người mẹ đã sinh ra mình. Tôi rất kính yêu người mẹ của mình – người đã sinh ra tôi, cho tôi một cuộc sống hạnh phúc. Khi còn đi học mẫu giáo, ngày nào mẹ cũng đưa tôi đi học, trước khi tôi vào lớp, mẹ luôn chúc tôi được điểm cao, đừng để cô giáo phải nhắc. Lúc đi học về, tôi luôn khoe với mẹ những điểm tốt. Và thật vui sướng khi tôi được nhìn thấy nụ cười rạng rỡ trên môi mẹ. Những lúc như thế, tôi lại thầm nghĩ: phải luôn luôn đạt điểm tốt để được nhìn thấy mẹ cười. Cho đến bây giờ, khi đã là một học sinh cấp hai, tôi vẫn luôn phấn đấu như thế. Những lúc tôi bị ốm, mẹ lúc nào cũng ở bên tôi, chăm sóc cho tôi, động viên tôi mau khỏi ốm. Ánh mắt mẹ tràn đầy hy vọng, tin tưởng. Chỉ một ánh mắt, một vòng tay của mẹ cũng có thể cho tôi sức mạnh để vươn lên. Đối với tôi, mẹ thật là quan trọng. Mẹ là nguồn động viên, là chỗ dựa lớn nhất cho tôi, không có mẹ cũng sẽ không có tôi. Mẹ là người quan trọng nhất đối với ta. Chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng người mẹ của mình.
Express your feelings about your mother in paragraph 7 Instruct Express your feelings about your mother in paragraph 7 Every person from birth to adulthood can live in the loving arms of grandparents, parents... among them, mother is the one who bore the burden of giving birth to us, is the one who always worries and takes care of us. I care for you and love you with all my heart. I, like everyone else, have a mother like that. Every mother loves her child, and there is no child who does not love and respect the mother who gave birth to him. I very much love my mother - the person who gave birth to me and gave me a happy life. When I was in kindergarten, my mother took me to school every day. Before I entered class, she always wished me good grades, without letting the teacher remind me. When I come home from school, I always show off my good grades to my mother. And I'm so happy when I see the bright smile on my mother's lips. At times like that, I think to myself: I must always get good grades to see my mother smile. Until now, as a middle school student, I still strive like that. When I was sick, my mother was always by my side, taking care of me and encouraging me to recover quickly. Her mother's eyes were full of hope and trust. Just one look, one embrace from my mother can give me the strength to rise up. For me, mother is very important. My mother is my greatest source of encouragement and support. Without her, I would not be here. Mother is the most important person to me. We need to love and respect our mothers.
Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ thân yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ thân yêu của em Đã biết bao bài thơ, bài văn nói về mẹ, nói về những tình cảm thân thiết nhất của mẹ dành cho con. Ôi! Mẹ kính yêu của con. Không có một nhà văn nào, lời bài hát nào có thể sánh được tình cảm của mẹ. Nếu có một ông Tiên hiện ra và ban cho con một điều ước, con sẽ ước rằng: “Mẹ sẽ sống mãi mãi trên cõi đời này, luôn đi với con và sát cánh mãi mãi bên con”. Giá như điều đó trở thành sự thật, dù có phải chờ đợi thật lâu thì con vẫn hy vọng mong ước đổ sẽ trở thành sự thật. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Con không biết hết được những câu thơ, bài hát nói về mẹ, nhưng con vẫn hiểu rằng, mẹ là tất cả. Tình mẹ được so sánh với Biển Thái Bình, nhưng trong tâm trí mỗi người, mẹ còn hom cả biển Thái Bình rộng lớn, bao la, ngút ngàn ấy. Con yêu mẹ nhiêu lắm, nhiều hơn cả chân trời vô tận không biết đâu là bến bờ. Và tình cảm của con sẽ không bao giờ thay đổi, mãi mãi và mãi mãi. Mẹ tần tảo nuôi con từng ngày từng giờ. Nhớ dáng hôm nào mẹ lặng lẽ đưa theo con ra chợ bán rau, rồi đến tối mịt mới đưa con về nhà. Hay cả những lần mẹ chơi với con vui vẻ, sung sướng biết nhường nào, giờ đây chỉ còn là ký ức. Khi con đã lớn khôn, con đã hiểu được trong niềm vui sướng ấy, mẹ có biết bao nhiêu nhọc nhằn, vất vả hằn trên vầng trán cao cao. Và mẹ đã kìm nén nước mất để cho con được nở nụ cười ngây thơ, tinh nghịch như bao đứa trẻ khác. Mẹ đã che chở cho con đến khi trưởng thành, nuôi con lớn khôn để mong một ngày, con sẽ có ích cho xã hội. Mẹ ơi! Ngày đó không còn xa nữa đâu! Con hứa sẽ không phụ công sinh dưỡng của mẹ. Con hiểu mỗi bước đi của con đểu khắc ghi những tình cảm thiết tha, êm đềm của mẹ.
Express your feelings about your beloved mother Instruct Express your feelings about your beloved mother There have been countless poems and essays about mothers, about a mother's closest feelings for her children. Oh! My beloved mother. No writer or song lyric can compare to a mother's love. If a Fairy appeared and granted me a wish, I would wish: "Mom will live forever in this world, always walk with me and stand by my side forever." If only it could come true, even if I have to wait a long time, I still hope that my wish will come true. A mother's heart is as vast as the Pacific Ocean. A mother's love is as passionate as a sweet, gentle stream. I don't know all the poems and songs about my mother, but I still understand that my mother is everything. A mother's love is compared to the Thai Binh Sea, but in each person's mind, a mother is more than the vast, vast, boundless Thai Binh Sea. I love you so much, mom, more than the endless horizon with no end in sight. And my feelings will never change, forever and ever. The mother diligently raised her children every day and every hour. I remember the day when my mother quietly took me to the market to sell vegetables, then brought me home at night. Or even the times when my mother played with her children happily and happily, now they are just memories. When I grew up, I understood that in that joy, my mother had so many hardships and hardships written on her high forehead. And my mother held back her tears to let me smile innocently and mischievously like other children. Mother protected me until I grew up, raised me to grow up hoping that one day, I would be useful to society. Mommy! That day is not far away! I promise I won't let you down on your nourishment. I understand that every step I take is engraved with my mother's passionate and gentle feelings.
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa pa” Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa pa” Bài làm Tác phẩm “Lặng lẽ Sa pa” được nhà văn Nguyễn Trung Thành viết trong một chuyến đi thực tế lên Sa pa công tác. Với giọng nhân văn nhẹ nhàng, sâu sắc tác giả Nguyễn Thành Trung đã mang tới cho người đọc một cái nhìn mới về những con người nơi đây. Những con người sống lặng lẽ, âm thầm cống hiến cho công việc và lý tưởng của mình. Những nhân vật trong truyện ngắn dù được miêu tả ít hay nhiều, chi tiết hay thoáng qua thì đều hiện lên vô cùng cao quý, với tinh thần nhân văn đáng khâm phục. Câu chuyện xoay quanh nhân vật anh thanh niên. Một chàng trai trẻ không rõ tên tuổi, không có quê quán chỉ biết anh làm nghề khí tượng thủy văn. Công việc của anh là: đo nắng, đo mưa, đo gió mây, giông bão… để đưa ra dự đoán chính xác nhất cho người dân biết trước để phòng tránh. Anh thanh niên được tác giả phác họa lên với tấm lòng yêu đời, yêu nghề, anh có tinh thần trách nhiệm vô cùng cao với nghề nghiệp của mình. Công việc của anh gian khổ, vất vả, có chút nhàm chán và tẻ nhạt, khi mỗi ngày anh phải dậy từ một giờ sáng đi lên đỉnh núi Yên Sơn để làm việc. Những đêm mùa đông đường mưa tuyết trơn trượt nhưng mà anh vẫn lặng lẽ làm việc của mình một cách cần mẫn không hề cảm thấy vất vả. Bởi với anh thanh niên công việc chính là nguồn sống, là niềm vui của cuộc đời anh “Công việc vất vả vậy nhưng rời xa nó cháu thấy nhớ lắm”. Những lời tâm sự chân thành của anh thanh niên với mọi người khi nói về công việc của mình khiến nhiều người phải xúc động, ngưỡng mộ cho một tấm lòng cao thượng cống hiến vì công việc của anh. Sống một mình, nhưng anh thanh niên đã tạo cho mình một cuộc sống vô cùng gọn gàng ngăn nắp, đầy trách nhiệm với công việc và cuộc sống. Ngoài giờ làm việc, anh còn nhờ bác lái xe mua giúp những quyển sách để bổ sung thêm kiến thức còn thiếu xót. Ngoài ra, anh còn nuôi thêm con gà để có trứng ăn, trồng thêm luống rau, những luống rau anh chăm sóc tốt nên quanh năm xanh tốt chẳng bao giờ thiếu cái ăn. Thông qua những chi tiết nho nhỏ đó nhưng tác giả Nguyễn Trung Thành đã phác họa lên hình ảnh anh thanh niên vô cùng đáng yêu, một con người sống đẹp, có lý tưởng sống mãnh liệt. Anh luôn muốn sống hết mình cho mỗi công việc mình làm, muốn đóng góp sức lực của mình cho xây dựng đất nước. Anh không chỉ biết sống hết mình với công việc, với tuổi trẻ của mình, mà anh thanh niên còn là người có tấm lòng ấm áp biết quan tâm tới người khác. Anh mang tặng cho cô kỹ sư những bông hoa, cho bác lái xe những gói trà, rồi bác họa sĩ những món quà mà anh tự trồng được…thể hiện sự quan tâm, thương yêu người khác của một con người có trái tim đa cảm ấm áp. Sống một mình trên núi cao nhưng anh không thu mình lại, sống âm thầm cô đơn, xa lánh mọi người, mà người lại anh thanh niên là người có tấm lòng hiếu khách biết quan tâm tới người khác. Chính vì đặc tính này mà anh được mọi người yêu quý, trân trọng. Lần đầu tiên gặp có kỹ sư trẻ nhưng chính sự hiếu khách, lòng nhiệt tình của anh đã làm cho người khác cảm thấy vô cùng quý mến, có tình cảm đặc biệt với chàng trai đáng mến này. Khi anh mời cô kỹ sư trẻ và bác họa sĩ già lên thăm nhà mình trong ánh mắt anh toát lên sự yêu mến, thân thiện. Anh mừng quýnh khi đón từ tay bác lái xe những quyển sách nhờ bác mua hộ, rồi phấn khởi mời mọi người lên thăm cơ ngơi của mình. Anh thanh niên hồn nhiên, yêu đời kể cho mọi người nghe về công việc thầm lặng, của mình ở vùng đất Sa pa này với tấm lòng yêu mến, xen lẫn tự hào về công việc nhỏ bé của mình nhưng nó mang lại lợi ích cho mọi người. Công việc anh đang làm tuy có vất vả nhưng đó là một công việc vô cùng có ý nghĩa và anh yêu mến công việc của mình. Anh làm việc bằng cả tấm lòng thành kính, sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, chứ không làm miễn cưỡng cho xong. Tác giả Nguyễn Trung Thành đã có lối viết vô cùng nhẹ nhàng nhưng chân thực tinh tế, ngôn ngữ trong những cuộc hội thoại vô cùng sinh động khiến người đọc bị thu hút vào câu chuyện này một cách từ từ nhẹ nhàng nhưng vô cùng lôi cuốn hấp dẫn không muốn thoát ra. Thông qua tác phẩm Nguyễn Trung Thanh muốn khẳng định một chân lý sống đó là những con người yêu công việc, có nhiệt huyết, có hoài bão sống, thì dù ở thời nào cũng đáng quý và đáng trân trọng. Những con người cần mẫn, nhiệt tình như anh thanh niên trong câu chuyện thật sự là những tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Tình cảm của anh với công việc là việc làm đáng trân trọng. Nó tựa như những bông hoa tươi thắm tỏa hương thơm cho đời.
Expressing feelings about the young man character in "Quiet Sapa" Instruct Expressing feelings about the young man character in "Quiet Sapa" Assignment The work "Quietly Sapa" was written by writer Nguyen Trung Thanh during a field trip to Sapa for work. With a gentle and profound humane voice, author Nguyen Thanh Trung has brought readers a new perspective on the people here. People live quietly, silently dedicating themselves to their work and ideals. The characters in the short story, whether described more or less, in detail or in passing, all appear extremely noble, with an admirable humane spirit. The story revolves around the character of a young man. A young man with an unknown name and no hometown, he only knew that he worked as a hydrometeorologist. His job is: measuring sunshine, rain, wind, clouds, thunderstorms... to make the most accurate predictions for people to know in advance to prevent. The young man sketched by the author has a love for life, a love for his job, and an extremely high sense of responsibility for his profession. His work is arduous, arduous, a bit boring and tedious, as every day he has to get up at 1 a.m. to go to the top of Yen Son mountain to work. On winter nights, the roads were slippery with rain and snow, but he still quietly and diligently did his work without feeling it was hard. Because for the young man, work is the source of life, the joy of his life. "The work is so hard, but I miss it so much when I leave it." The young man's sincere confessions to everyone when talking about his work made many people touched and admired for his noble heart devoted to his work. Living alone, the young man has created for himself an extremely neat and tidy life, full of responsibility with work and life. Outside of work, he also asked his driver to help him buy books to supplement his lacking knowledge. In addition, he also raised chickens to have eggs to eat, planted more vegetable beds, the vegetable beds he took good care of were so green all year round that he never lacked food. Through those small details, author Nguyen Trung Thanh has sketched out the image of an extremely lovely young man, a beautiful person with a strong ideal of life. He always wants to live his life to the fullest in every job he does, wanting to contribute his strength to building the country. Not only does he know how to live his life to the fullest with his work and youth, but he is also a warm-hearted person who cares for others. He brought the engineer flowers, the driver packets of tea, and the painter gifts that he grew himself...showing the care and love for others of a person with a multi-hearted heart. feel warm. Living alone on a high mountain, he did not shrink back, living quietly and alone, away from people, but on the other hand, he was a young man with a hospitable heart who cared about others. Because of this characteristic, he is loved and respected by everyone. This was the first time I met a young engineer, but it was his hospitality and enthusiasm that made others feel extremely fond of and have special feelings for this lovely young man. When he invited the young engineer and the old painter to visit his house, his eyes showed affection and friendliness. He was overjoyed when he took from the driver the books he asked him to buy for him, then excitedly invited everyone to visit his property. The innocent, life-loving young man told everyone about his silent work in this Sapa land with love and pride in his small but beneficial work. for everyone. Although the work he is doing is difficult, it is extremely meaningful and he loves his job. He worked with all his sincerity and youthful enthusiasm, not reluctantly. Author Nguyen Trung Thanh has an extremely gentle yet delicate writing style, the language in the conversations is extremely lively, making the reader attracted to this story slowly but gently but extremely captivatingly. Attractive book that doesn't want to escape. Through his work, Nguyen Trung Thanh wants to affirm a living truth that people who love work, are enthusiastic, and have ambitions in life, no matter what time they are, are valuable and worthy of respect. Diligent and enthusiastic people like the young man in the story are truly shining examples for us to follow. His affection for his work is admirable. It is like fresh flowers that radiate fragrance to life.
Bài làm Nhà văn Kim Lân là một nhà văn lớn trong văn học Việt Nam. Phong cách viết vô cùng giản dị, gần gũi với đời sống của những người nông dân cho nên Kim Lân còn được gọi với cái tên khác đó là nhà văn của làng quê Việt Nam. Viết về nạn đói năm 1945 Kim Lân đã tái hiện lại một cách đầy ám ảnh thông qua tác phẩm “Vợ nhặt”. Viết về cái đói, cái nghèo nhưng tác phẩm vẫn hướng đến cho người đọc sự lạc quan, tin tưởng và khao khát hạnh phúc. Cùng với việc khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ – một người mẹ khắc khổ nhưng luôn tràn đầy tình yêu thương, lạc quan đã khiến cho “Vợ nhặt” có sức sống lâu bền đến tận hôm nay. Đọc tác phẩm “Vợ nhặt” nhân vật bà cụ Tứ không xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm mà bà cũng chỉ xuất hiện khi anh cu Tràng vừa dẫn vợ vừa nhặt được về nhà. Xây dựng lên khoảnh khắc này khiến cho người đọc sẽ bắt đầu nhận ra được người mẹ nghèo này có một tình cảm yêu thương con vô bờ bến. Đồng thời bà là một người yêu thương con người, người truyền lửa cho người khác ngay cả khi cái đói, cái chết đang rình rập con người. Xây dựng lên nhân vật bà cụ Tứ hiện là một người đàn bà khắc khổ, nghèo đói với cái dáng “lòng khòng”, hình dáng của bà cứ khập khiễng bước từ ngoài cổng bước vào. Thế rồi có một loạt từ dùng để chỉ hình dáng và cử chỉ của bà cụ Tứ cứ nhấp nháy mắt, rồi lại lập khập bước đi lễ mễ. Tất cả hình ảnh này cũng đã gợi lên trong lòng người đọc thấy được một hình ảnh người mẹ già tuy không còn khỏe mạnh và tinh anh nữa. Ở giữa xóm ngụ cư nghèo đói khi đó cái đói tràn đến nhìn khung cảnh xác xơ, người chết như ngả rạ, người đói đi lại vật vờ nhưng những bóng ma. Thì hình ảnh bà cụ Tứ hiện lên thật xót xa. Nhà văn Kim Lân cũng đã để cho bà cụ Tứ như xuất hiện với những nét tính cách và tình cảm yêu thương, đồng thời cũng lại cảm thông, chịu thương chịu khó hết mực. Bà Tứ là một người mẹ vĩ đại và tuyệt vời biết bao nhiêu. Xem thêm: Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn Khi bà cụ Tứ về nhà thấy một người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà mình, lúc đó thì tâm trạng của bà thất thường, bà cũng không yên và luôn tự hỏi là ai. Đang thắc mắc rồi khi biết được sự tình đã hiểu ra cơ sự mà chỉ cúi đầu nín lặng và lo cho hai đứa con mình. Một tình yêu con sâu sắc, cảm thông cho người đàn bà kia và bà biết được trong cái đói như này không biết hai đứa nó có sống nổi qua ngày không. Bà không xua đuổi cũng không trách gì người đàn bà – người vợ nhặt kia vì bà biết trong hoàn cảnh này thì con mình mới có được vợ. Bà cụ Tứ là một người mẹ cố tình thương bao la và sâu thẳm biết bao nhiêu. Thực sự chính nỗi lòng của người mẹ đó như cứ nặng trĩu như thật âu lo biết bao nhiêu khi cái nghèo cư dồn dập vào chính cái tình người bao la và sâu thẳm biết bao nhiêu. Phân tích nhân vật bà cụ Tứ Thấy Tràng lấy vợ, bà cũng mừng lắm và trong hiện thực nghiệt ngã đến đau lòng cũng đã khiến cho bà có được tình yêu thương lớn biết bao nhiêu. Không chỉ vậy bà cụ Tứ còn là một người rất hiểu chuyện, bà không hề than vãn bất cứ điều gì cả. Bà chỉ nhẹ nhàng bảo “Vợ chồng chúng mày lo mà làm ăn, rồi trời thương. Ai giàu ba họ, ai khó ba đời bao giờ đâu”. Dù hiện thực nghiệt ngã, cái đói cứ đeo bám nhưng bà vẫn động viên, an ủi hai vợ chồng trẻ. Tấm lòng cuar bà cụ Tứ đã khiến cho Tràng và người vợ nhặt không bị ràng buộc và quá khó khăn. Chỉ khi mà hoàn cảnh khó khăn, nghèo khó thì mới thấy được tình người cứ le lói ngay cả giữa cảnh đời u tối – nơi có nạn đói hoành hành. Thực sự điều này càng khiến cho chúng ta trân trọng biết bao nhiêu. Bà cụ Tứ là một người tuyệt vời, cho dù một cuộc đời không được tốt đẹp như bà vẫn mong. Xem thêm: Tả con lật đật của em Người đọc thấy được hình ảnh bà cụ Tứ cứ xăm xăm trong vườn vào buổi sáng đầu tiên sau khi mà Tràng lấy vợ về. Hành động này của bà đã cho thấy được nhịp sống, sự vui vẻ, nhẹ nhõm ngay trong nạn đói kinh hoàng của dân tộc. Cho dù chỉ là một hình ảnh nhỏ, một hình ảnh có lẽ rất bình dị thường nhưng nó lại đặt trong hoàn cảnh bần hàn, nghèo khó đến sự sống còn không biết mất đi lúc nào thì nó lại trở nên thật đẹp đẽ. Bà cụ Tứ như đang vun vén, xây đắp cho hạnh phúc của các con, mong muốn con sẽ thật hạnh phúc. Bà còn khuyên các con làm ăn, vẽ ra một tươi lai vô cùng tươi sáng để cho các con thêm hi vọng. Bà cụ Tứ là người truyền lửa cho các con. Đên cuối truyện thì hình ảnh nồi cháo cám lúc này lại xuất hiện ở bữa cơm đầu tiên khi Tràng dẫn vợ về. Bà cụ Tứ như cũng tủi hổ và thương người con dâu vì lẽ ra dâu mới về thì không có mâm cao cỗ đầy thì cũng phải có vài mâm tươm tất một chút. Nhưng giữa cảnh đói nghèo đến thân còn không lo nổi chứ đừng nói cỗ bàn. Khi ăn miếng cháo cám đắng chát Tràng cảm thấy đáng chát và nghẹn bứ ở trong cổ nhưng rồi cũng cố nuốt. Bà cụ Tứ thì lại phấn khởi, vui lắm “Cháo cám đấy. Ngon đáo để. Ở trong xóm mình khối nhà còn không có mà ăn”. Điều này cũng thể hiện được một sự vui vẻ của người mẹ nghèo làm bừng sáng lên không khí tăm tối những ngày qua. Chỉ có thể là tấm lòng của người mẹ thì mới có thể khiến cho con cái như trở nên yên lòng. Anh Tràng và người vợ nhặt cũng sẽ thấy ấm lòng và tin tưởng, hi vọng vào tương lai dẫu thực tại còn khó khăn. Điều đó chính là nhờ công sức của bà cụ Tứ, bà đã thổi vào lòng các con tình yêu, sự tin tưởng, sự lạc quan để mong đến hạnh phúc gia đình. Xem thêm: Phân tích ý kiến cho rằng chữ Hồng chính là nhãn tự của bài thơ Mộ của Hồ Chí Minh Nhà văn Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh bà cụ Tứ thông qua các chi tiết rất đời thường, nhưng các chi tiết đó lại khiến cho người đọc có một sự nhìn nhận khác về những người nông dân. Những người nông dân cho dù ở trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả đến như thế nào đi chăng nữa họ vẫn yêu thương nhau, chở che cho nhau. Bà cụ Tứ là một điểm sáng trong tác phẩm “Vợ nhặt” khiến cho tác phẩm giống như một bài ca ca ngợi tình yêu thương con người bất diệt.
Assignment Writer Kim Lan is a great writer in Vietnamese literature. The writing style is extremely simple, close to the lives of farmers, so Kim Lan is also known by another name, the writer of Vietnamese villages. Writing about the famine in 1945, Kim Lan hauntingly recreated it through the work "Picked Wife". Writing about hunger and poverty, the work still aims to give the reader optimism, trust and desire for happiness. Along with successfully portraying the character of Mrs. Tu - an austere mother but always full of love and optimism, "The Picked Wife" has a lasting vitality until today. Reading the work "The Wife Picked Up", the character of Mrs. Tu does not appear at the beginning of the work, but she only appears when the husband, Trang, brings home the wife he picked up. Building up to this moment makes the reader begin to realize that this poor mother has boundless love for her child. At the same time, she is a person who loves people, who gives fire to others even when hunger and death are stalking people. Building up the character of Mrs. Tu, she is now an austere, poor woman with a "stiff-hearted" appearance, her figure keeps limping from outside the gate. Then there was a series of words used to refer to the appearance and gestures of Mrs. Tu, who kept blinking her eyes, then slowly walking slowly. All of these images also evoke in the reader's mind an image of an old mother who is no longer healthy and sharp. In the middle of the poverty-stricken neighborhood, hunger came to see the desolate scene, dead people were like straw, hungry people walked around pretending like ghosts. Then the image of Mrs. Tu appeared, which was truly heartbreaking. Writer Kim Lan also allowed Mrs. Tu to appear with personality traits and loving feelings, at the same time sympathetic, compassionate and hard-working. What a great and wonderful mother Mrs. Tu is. See more: Analysis of the short story Medicine by Lu Xun When Mrs. Tu came home and saw a strange woman appearing in her house, her mood was erratic, she was restless and always wondered who it was. I was wondering and then when I learned what was going on, I understood the situation and just bowed my head and remained silent and worried about my two children. A deep love for her child, sympathy for that woman and she knew that in this kind of hunger, she did not know if the two of them would be able to survive each day. She did not chase away nor blame the woman - the pick-up wife because she knew that in this situation, her son could have a wife. Mrs. Tu is a mother who intentionally loves so much and so deeply. In fact, it was the mother's heart that felt so heavy and so worried when poverty poured into her immense and deep human love. Analyze the character of Mrs. Tu Seeing Trang get married, she was also very happy and in the harsh and heartbreaking reality, it also made her feel so much love. Not only that, Mrs. Tu is also a very understanding person, she never complains about anything. She just gently said, "You and your husband should take care of business, then God will have mercy on you. Whoever is rich will have three families, whoever will be poor will never have three generations." Even though reality was harsh and hunger persisted, she still encouraged and comforted the young couple. Mrs. Tu's kindness made Trang and his wife free from constraints and difficulties. Only when circumstances are difficult and poor can we see human love glimmering even in the midst of a dark life - where famine is rife. Actually, this makes us appreciate it even more. Mrs. Tu is a wonderful person, even though her life is not as good as she would like. See more: Describe your busy child Readers see the image of Mrs. Tu tattooing in the garden the first morning after Trang got married. This action of hers showed the rhythm of life, joy, and relief even in the midst of the nation's terrible famine. Even though it's just a small image, an image that may be very ordinary, but when placed in a situation of poverty and poverty, it becomes truly beautiful. Mrs. Tu seems to be cultivating and building her children's happiness, wanting them to be truly happy. She also advised her children to do business, painting an extremely bright future to give them more hope. Mrs. Tu is the one who passed on the fire to her children. At the end of the story, the image of the bran porridge pot appears again at the first meal when Trang brings his wife home. Mrs. Tu Nhu was also ashamed and felt sorry for her daughter-in-law because if the new daughter-in-law didn't have a full tray of food, she should have had a few decent trays. But in the midst of poverty, I can't even take care of myself, let alone food. When eating the bitter bran porridge, Trang felt acrid and choked in her throat but then tried to swallow. Mrs. Tu was excited and very happy, "It's rice porridge." Uniquely delicious. In my neighborhood, we don't even have anything to eat." This also shows a poor mother's joy that brightens the dark atmosphere of the past few days. Only a mother's heart can make her children feel at ease. Mr. Trang and his wife will also feel warm, confident and hopeful in the future even though reality is still difficult. That is thanks to the efforts of Mrs. Tu, she has breathed love, trust, and optimism into the hearts of her children to look forward to family happiness. See more: Analysis of the opinion that the word Hong is the label of the poem Ho Chi Minh's Tomb Writer Kim Lan successfully portrayed the image of Mrs. Tu through very everyday details, but those details give readers a different perspective on farmers. No matter how difficult and difficult the farmers are in, they still love each other and protect each other. Mrs. Tu is a bright spot in the work "Picked Wife", making the work like a song praising eternal human love.
Bài làm Nhà văn Kim Lân là nhà văn lão làng trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Dễ dàng nhận thấy được ngòi bút của ông hướng đến những mảnh đời bất hạnh, miêu tả được bức tranh làng quê Việt Nam. Ở đó có bao nhiêu người nông dân nghèo nhưng thật chân thành, giản dị và đầy tình thương yêu. Một trong số các tác phẩm đặc sắc và độc đáo của Kim Lân khi viết về mảng đề tài này có sức hấp dẫn người đọc không thể không nhắc đến “Vợ nhặt”. Nổi bật trong đó là nhân vật Tràng với những diễn biến tâm lý đặc sắc. Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân cũng đã lấy bối cảnh là nạn đói thê thảm, đến mức người chết như ngả rạ tại một xóm ngụ cư tiêu điều xác xơ. Đọc nhan đề của tác phẩm cũng đã phần nào làm toát lên tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm. Độc đáo ở đây là phần nhan đề cũng chính là tình huống truyện độc đáo, đặc sắc, tình huống truyện như cũng đã làm đòn bẩy đề tác giả có thể vẽ lên được tâm lý của từng nhân vật. Có thể nói thành công của Kim Lân chính là việc khắc họa được biết bao nhiêu những phẩm chất cao quý bên trong những con người nông dân nghèo đói, bần cùng. Nhà văn Kim Lân đã xây dựng lên nhân vật Tràng là nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm. Khéo léo mượn hình ảnh anh cu Tràng để có thể lột tả lên được diễn biến tâm lý của nhân vật từ chuyển biến này đến chuyển biến khác. Nhân vật Tràng là người đàn ông nghèo khổ, rách rưới và anh ta sống với mẹ già. Có thể thấy được Tràng là nhân vật cũng đã lại được xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm bằng vài nét chấm phá của tác giả Kim Lân thông qua hình ảnh “hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai còn mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của bắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ thú vị…”. Đó, chỉ với những chi tiết miêu tả đó thôi mà nhà văn Kim Lân đã khéo léo vẽ lên một hình tượng anh nông dân nghèo, một anh nông dân như thật cô quạnh giữa không gian xóm ngụ cư tiêu điều. Xem thêm: Dàn ý thuyết minh về Truyện Kiều lớp 9 chi tiết hay nhất đầy đủ Phân tích nhân vật Tràng Đặt trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt, dở khóc dở cười như vậy tác giả Kim Lân đã xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn và có thể xem là mở nút của mọi vấn đề. Khi mà nhân vật anh cu Tràng “nhặt” được vợ gây ra bao nhiêu sự ngạc nhiên cho mọi người. Tình huống truyện trong truyện ngắn chính là điểm nút dẫn dẵn câu truyện, từ đây số phận của nhân vật, tình tiết truyện cũng sẽ theo đó mà phát triển. Tại sao phải là nhặt mà không phải là lấy vợ. Từ xưa đến nay việc lấy vợ luôn quan trọng với đời người mà với anh cu Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” lại “nhặt” cũng được vợ. Từ “nhặt này” người ta thường dùng với những vật nhỏ bé, không giá trị. Từ tình huống này cũng đã cho thấy được thân phận con người trong xã hội cũ cũng thật rẻ rúm biết bao nhiêu. Một kẻ vô cùng xấu xí, thô kệch, dân ngụ cư lại còn xấu trai, dở hơi như Tràng lại lấy được vợ. Thực sự xây dựng lên được tình huống truyện như vậy nhà văn Kim Lân cũng đã cho thấy được tình cảnh xã hội lúc đó thật thê thảm, con người cũng chẳng khác gì cọng rơm, cọng cỏ cả. Người ta ngạc nhiên khi trong hoàn cảnh nạn đói đang diễn ra như vậy mà Tràng lại còn lấy vợ – đèo bòng thêm miệng ăn. Có thể đánh giá được tình huống truyện này cực kỳ đắt giá, nó cũng đã làm đòn bẩy để Kim Lân có thể qua đó bộc lộ, lột tả được hết tính cách, bộc lộ được cả nhân phẩm của người đàn ông nghèo vừa nhặt được vợ này. Xem thêm: Soạn bài Chữa lỗi về quan hệ từ đầy đủ hay nhất Không chỉ dừng lại ở đó thì diễn biến tâm lí nhân vật Tràng thay đổi từ khi “nhặt” được vợ. Khi đó thì Tràng không nghĩ gì hơn ngoài việc nghĩ đến người đàn bà đi bên cạnh thông qua chi tiết miêu tả vô cùng đặc sắc: “Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Tất cả những rung động và cảm xúc rất đời thực của một người đàn ông và khiến cho Tràng như trở nên hiền lành và cũng thật đáng mến, khác hẳn với sự thô kệch trước đây. Người đọc có thể nhận ra được diễn biến của anh cu Tràng cứ thể chuyển biến đột ngột, cho đến khi về đến ngôi nhà. Rồi cho đến khi thấy một người đàn bà ngồi ngay giữa nhà, Tràng lúc này đây mới “ngờ ngợ như không phải thế. Ra là hắn đã có vợ rồi đấy ư”. Ngay cả Tràng còn chẳng tin nổi là mình đã có vợ thì làm sao khiến người ngoài thôi khỏi bất ngờ cơ chứ. Khi dẫn người vợ nhặt về, trong đoạn thoại Tràng trò chuyện với mẹ, người ta nhận ra kẻ nông dân bân hàn, trong cảnh nghèo đói này lại có một trái tim và tấm lòng sáng, vẹn tròn và rất đỗi dung dị như vậy thật đáng quý. Ở Tràng anh vừa xót thương cho thân phận người đàn bà xa lạ nghèo khổ ấy và họ đến với nhau khiến Tràng cũng đón nhận giống như một điều trời ban vậy. Diễn biến tâm lý của nhân vật Tràng còn thay đổi hơn khi đến buổi sáng hôm sau hắn vẫn cảm thấy minh như đang ở trong mơ vậy. Tràng cảm nhận thấy được “Trong người êm ái lơ lửng như vừa ở trong giấc mơ đi ra. Hắn vẫn chưa tin việc mình có vợ. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ…”. Thế rồi giờ đây thì Tràng có một cuộc sống mới đã đến với hắn trong niềm vui lạ và phấn khởi biết bao nhiêu. Tràng cũng chấp nhận cuộc sống khốn khó cùng vợ vượt qua tất cả. Xem thêm: Nghị luận xã hội về trang phục phản cảm của một bộ phận giới trẻ Độc giả có thể cảm nhận thấy được cái cách vợ chồng Tràng cùng ăn bữa cơm đầu tiên sau đêm tân hôn thực cảm động. Cho dù “nồi cháo cám” không ngon, đắng chát và khó ăn như thế nhưng hắn vẫn ăn rất ngon lành. Vì chính bản thân Tràng biết, hắn hiểu gia cảnh, hiểu xã hội lúc này cũng đang trong cảnh bần hàn. Nhân vật Tràng được xây dựng lên là một người giàu tình cảm, với mẹ, với vợ. Có thể thấy được chính cái đói nghèo khắc nghiệt dường như không thể ngăn cản được con người chúng ta yêu nhau nhiều hơn là vì thế. Kim Lân với bút pháp tả thực cùng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, tái hiện diễn biến tâm lý nhân vật vô cùng độc đáo, sắc sảo và thật cụ thể sắc nét nhất. Nhân vật Tràng – một người nông dân nghèo đói bần hàn nhưng lại có một cái tâm trong sáng. Qua nhân vật Tràng Kim Lân đã thể hiện thành công ý nghĩa của tác phẩm, trong cảnh đói nghèo nhất, khi mà cận kề cái chết thì con người vẫn cứ yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.
Bài làm Nhà văn Kim Lân là nhà văn lão làng trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Dễ dàng nhận thấy được ngòi bút của ông hướng đến những mảnh đời bất hạnh, miêu tả được bức tranh làng quê Việt Nam. Ở đó có bao nhiêu người nông dân nghèo nhưng thật chân thành, giản dị và đầy tình thương yêu. Một trong số các tác phẩm đặc sắc và độc đáo của Kim Lân khi viết về mảng đề tài này có sức hấp dẫn người đọc không thể không nhắc đến “Vợ nhặt”. Nổi bật trong đó là nhân vật Tràng với những diễn biến tâm lý đặc sắc. Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân cũng đã lấy bối cảnh là nạn đói thê thảm, đến mức người chết như ngả rạ tại một xóm ngụ cư tiêu điều xác xơ. Đọc nhan đề của tác phẩm cũng đã phần nào làm toát lên tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm. Độc đáo ở đây là phần nhan đề cũng chính là tình huống truyện độc đáo, đặc sắc, tình huống truyện như cũng đã làm đòn bẩy đề tác giả có thể vẽ lên được tâm lý của từng nhân vật. Có thể nói thành công của Kim Lân chính là việc khắc họa được biết bao nhiêu những phẩm chất cao quý bên trong những con người nông dân nghèo đói, bần cùng. Nhà văn Kim Lân đã xây dựng lên nhân vật Tràng là nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm. Khéo léo mượn hình ảnh anh cu Tràng để có thể lột tả lên được diễn biến tâm lý của nhân vật từ chuyển biến này đến chuyển biến khác. Nhân vật Tràng là người đàn ông nghèo khổ, rách rưới và anh ta sống với mẹ già. Có thể thấy được Tràng là nhân vật cũng đã lại được xuất hiện ngay từ đầu tác phẩm bằng vài nét chấm phá của tác giả Kim Lân thông qua hình ảnh “hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu luồn qua cái xóm chợ của những người ngụ cư vào trong bến. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai còn mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của bắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ thú vị…”. Đó, chỉ với những chi tiết miêu tả đó thôi mà nhà văn Kim Lân đã khéo léo vẽ lên một hình tượng anh nông dân nghèo, một anh nông dân như thật cô quạnh giữa không gian xóm ngụ cư tiêu điều. Xem thêm: Dàn ý thuyết minh về Truyện Kiều lớp 9 chi tiết hay nhất đầy đủ Phân tích nhân vật Tràng Đặt trong bối cảnh xã hội khắc nghiệt, dở khóc dở cười như vậy tác giả Kim Lân đã xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn và có thể xem là mở nút của mọi vấn đề. Khi mà nhân vật anh cu Tràng “nhặt” được vợ gây ra bao nhiêu sự ngạc nhiên cho mọi người. Tình huống truyện trong truyện ngắn chính là điểm nút dẫn dẵn câu truyện, từ đây số phận của nhân vật, tình tiết truyện cũng sẽ theo đó mà phát triển. Tại sao phải là nhặt mà không phải là lấy vợ. Từ xưa đến nay việc lấy vợ luôn quan trọng với đời người mà với anh cu Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” lại “nhặt” cũng được vợ. Từ “nhặt này” người ta thường dùng với những vật nhỏ bé, không giá trị. Từ tình huống này cũng đã cho thấy được thân phận con người trong xã hội cũ cũng thật rẻ rúm biết bao nhiêu. Một kẻ vô cùng xấu xí, thô kệch, dân ngụ cư lại còn xấu trai, dở hơi như Tràng lại lấy được vợ. Thực sự xây dựng lên được tình huống truyện như vậy nhà văn Kim Lân cũng đã cho thấy được tình cảnh xã hội lúc đó thật thê thảm, con người cũng chẳng khác gì cọng rơm, cọng cỏ cả. Người ta ngạc nhiên khi trong hoàn cảnh nạn đói đang diễn ra như vậy mà Tràng lại còn lấy vợ – đèo bòng thêm miệng ăn. Có thể đánh giá được tình huống truyện này cực kỳ đắt giá, nó cũng đã làm đòn bẩy để Kim Lân có thể qua đó bộc lộ, lột tả được hết tính cách, bộc lộ được cả nhân phẩm của người đàn ông nghèo vừa nhặt được vợ này. Xem thêm: Soạn bài Chữa lỗi về quan hệ từ đầy đủ hay nhất Không chỉ dừng lại ở đó thì diễn biến tâm lí nhân vật Tràng thay đổi từ khi “nhặt” được vợ. Khi đó thì Tràng không nghĩ gì hơn ngoài việc nghĩ đến người đàn bà đi bên cạnh thông qua chi tiết miêu tả vô cùng đặc sắc: “Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên”. Tất cả những rung động và cảm xúc rất đời thực của một người đàn ông và khiến cho Tràng như trở nên hiền lành và cũng thật đáng mến, khác hẳn với sự thô kệch trước đây. Người đọc có thể nhận ra được diễn biến của anh cu Tràng cứ thể chuyển biến đột ngột, cho đến khi về đến ngôi nhà. Rồi cho đến khi thấy một người đàn bà ngồi ngay giữa nhà, Tràng lúc này đây mới “ngờ ngợ như không phải thế. Ra là hắn đã có vợ rồi đấy ư”. Ngay cả Tràng còn chẳng tin nổi là mình đã có vợ thì làm sao khiến người ngoài thôi khỏi bất ngờ cơ chứ. Khi dẫn người vợ nhặt về, trong đoạn thoại Tràng trò chuyện với mẹ, người ta nhận ra kẻ nông dân bân hàn, trong cảnh nghèo đói này lại có một trái tim và tấm lòng sáng, vẹn tròn và rất đỗi dung dị như vậy thật đáng quý. Ở Tràng anh vừa xót thương cho thân phận người đàn bà xa lạ nghèo khổ ấy và họ đến với nhau khiến Tràng cũng đón nhận giống như một điều trời ban vậy. Diễn biến tâm lý của nhân vật Tràng còn thay đổi hơn khi đến buổi sáng hôm sau hắn vẫn cảm thấy minh như đang ở trong mơ vậy. Tràng cảm nhận thấy được “Trong người êm ái lơ lửng như vừa ở trong giấc mơ đi ra. Hắn vẫn chưa tin việc mình có vợ. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ…”. Thế rồi giờ đây thì Tràng có một cuộc sống mới đã đến với hắn trong niềm vui lạ và phấn khởi biết bao nhiêu. Tràng cũng chấp nhận cuộc sống khốn khó cùng vợ vượt qua tất cả. Xem thêm: Nghị luận xã hội về trang phục phản cảm của một bộ phận giới trẻ Độc giả có thể cảm nhận thấy được cái cách vợ chồng Tràng cùng ăn bữa cơm đầu tiên sau đêm tân hôn thực cảm động. Cho dù “nồi cháo cám” không ngon, đắng chát và khó ăn như thế nhưng hắn vẫn ăn rất ngon lành. Vì chính bản thân Tràng biết, hắn hiểu gia cảnh, hiểu xã hội lúc này cũng đang trong cảnh bần hàn. Nhân vật Tràng được xây dựng lên là một người giàu tình cảm, với mẹ, với vợ. Có thể thấy được chính cái đói nghèo khắc nghiệt dường như không thể ngăn cản được con người chúng ta yêu nhau nhiều hơn là vì thế. Kim Lân với bút pháp tả thực cùng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, tái hiện diễn biến tâm lý nhân vật vô cùng độc đáo, sắc sảo và thật cụ thể sắc nét nhất. Nhân vật Tràng – một người nông dân nghèo đói bần hàn nhưng lại có một cái tâm trong sáng. Qua nhân vật Tràng Kim Lân đã thể hiện thành công ý nghĩa của tác phẩm, trong cảnh đói nghèo nhất, khi mà cận kề cái chết thì con người vẫn cứ yêu thương và đùm bọc lẫn nhau.
Bài làm Một trong số những nhà văn đã từng có sự gắn bó sâu sắc với đất và con người Tây Bắc thì không thể không nhắc đến nhà văn Tô Hoài. Nhà văn Tô Hoài cũng đã chia sẻ: "đất và người Tây Bắc đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá". Có lẽ cũng chính bởi nỗi niềm đó mà nhà văn đã dành một khối lượng tác phẩm viết về vùng Tây Bắc với những nét phong tục, tập quán độc đáo trong đó không thể không nhắc đến tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Trong truyện thì nhân vật nổi bật nhất là nhân vật Mị. Khi mà Mị chưa về làm dâu nhà thống lý thì Mị được coi là một cô gái với khá nhiều đức tính tốt. Cô chính là một người con của vùng núi rừng Tây bắc xinh đẹp, tài hoa cũng như rất chăm chỉ, hiếu thảo và tự do. Không quá chút nào khi nói Mị chính là đóa hoa rừng đẹp nhất trên vùng cao. Mị có tình yêu đẹp và niềm tin vào cuộc sống tương lai tươi sáng phía trước, ai ai cũng sẽ tin Mị sẽ có một cuộc sống ấm êm. Nhưng không phải vậy, gia đình cô nghèo và phải gánh một món nợ truyền kiếp, đó là một món nợ về cường quyền như đè nặng. Mị đẹp, giỏi, tài thổi sáo cho nên Mị xứng đáng nhận được tình yêu và "những đêm tình mùa xuân đến, trai đứng nhẵn cả bức vách đầu buồng Mị". “Mị có tài thổi sáo khiến biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị" …. Lúc này đây có lẽ chính là những tháng ngày tươi đẹp của tuổi trăng tròn, luôn luôn tràn trề cơ hội được hưởng thụ tình yêu và hạnh phúc. Mị cũng đã có người yêu, đó cũng hẳn là một tình yêu đẹp với ngón tay đeo nhẫn và hiệu gỗ vách hẹn hò như bao nhiêu đôi trai gái khác. Xây dựng lên nhân vật Mị bên cạnh vẻ đẹp tài năng trong con người Mị thì bản chất của một người lao động chân chính, dường như nó không mất đi trong con người Mị. Mị vẫn là một cô gái của bản làng, là cô gái của núi rừng. Mị đồng thời cũng lại biết cuốc nương, làm ngô và sẵn sàng làm nương ngô trả nợ cho bố chứ không muốn làm dâu gạt nợ qua câu nói: "bố đừng bán con cho nhà giàu con sẽ làm nương ngô trả nợ cho bố". Xem thêm: Em hãy trình bày cảm nghĩ của em về truyện Cô bé bán diêm Cuộc đời là thế, không ai được như ý cả, Mị không thể tự quyết định cuộc đời của mình được. Khi đó Mị cũng đã phải bước chân về nhà Thống lý Pá Tra ép sống kiếp dâu con mà như thân phận nô tì, nô lệ để gạt nợ cho cha. Khi mới về làm dâu thì đang là một cô gái trẻ đẹp với bao khát vọng về cuộc sống hạnh phúc và có bao nhiêu khát khao thật tươi sáng nơi tương lai, Mị như chết đứng với số phận tại đây. Khi về nhà thống lý Pá tra làm dâu gạt nợ, Mị cứ lặng lẽ, âm thầm chịu đựng nỗi đau, thậm chí có đến mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc. Mị sẵn sàng quên hết đi tất cả để tìm đến cái chết khi Mị đã ý thức được cuộc sống và tháng ngày sau này mình cũng sẽ phải chịu đựng như thế nào. Mị biết được Mị sẽ phải sống một cuộc sống thật không đáng sống. Cũng đã có biết bao nhiêu lần Mị có ý định như vậy. Có lần Mị còn hái nắm lá ngón, giấu vào trong tay áo và về quy lạy bố để chết, thế nhưng bởi vì một chữ “hiếu” mà Mị không thể đành lòng nhìn bố mẹ mình chịu khổ cực được. Khi nghĩ đến bố thì Mị đành từ bỏ ý định, Mị đã ném nắm lá ngón xuống đất như ném đi khát vọng hạnh phúc của cuộc đời mình vậy. Thực sự làm dâu con trong nhà thống lý pá tra như làm kiếp trâu ngựa để trả nợ cho cha mẹ năm xưa là một sự cam chịu khổ cực đến tận cùng. Xem thêm: Phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với dòng nước hung dữ. Phân tích nhân vật Mị Thế rồi khổ mấy Mị cũng đã quen “ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”, mọi người đi qua không biết khi nhìn vào Mị nghĩ Mị được làm dâu trong nhà giàu có như thế thì chắc cuộc sống hạnh phúc và sung sướng lắm. Thực tế lại phũ phàng, Mị bị hành hạ đến cùng cực và biến thành một nô lệ cho nhà thống lý. Công việc của Mị như đã được lập trình từ trước và Mị giống như cỗ máy làm việc. Mị dần tê liệt hết, mất hết ý niệm về thời gian, trong Mị lúc này chỉ là công việc. Khi bố Mị mất thì Mị cũng không còn nghĩ đến cái chết nữa mà cứ lùi lũi sống giống như con rùa nuôi trong xó cửa. Thế rồi sức sống tiềm tàng của Mị đã quay trở về, chính cái diễn biến tâm lý, hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân. Thông qua chính cái khát vọng sống, niềm khao khát hạnh phúc lúc này đây dường như cứ luôn luôn tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật. Qủa thực bó cũng giống như ngọn lửa vẫn đang âm ỉ cháy dưới lớp tro tàn nguội lạnh và một lúc nào đó chỉ cần một làn gió mát lành thổi tới là có thể bùng cháy một cách mãnh liệt nhất rồi. Tất cả những tác động ngoại cảnh là không nhỏ nhưng sức mạnh tiềm tàng mới chính là điều quyết định sức sống của Mị. Khi Mị cứu A Phủ và cùng nhau chạy trốn. Khi nhìn thấy A Phủ bị trói, Mị thương tình cho số phận của một người nghèo khổ cũng như mình, Diễn biến tâm trạng của Mị cũng thay đổi. Mới đầu Mị như dửng dưng thổi lửa hơ tay không quan tâm đến A phủ nhưng khi nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ vô tình mà đầy hữu ý đã làm hồi sinh trái tim đầy thương tích của Mị. Lúc này đây Mị chạy theo Aphủ, hành động tự giải thoát khỏi sợi dây trói vô hình của thần quyền. Thông qua đây có thể nói được rằng chính sự trỗi dậy của sức sống tiềm tàng làn này đã giúp Mị đập tan sức mạnh của thần quyền và cường quyền để tự giải thoát cho chính mình nữa. Có thể thấy được khác hẳn với hoàn cảnh trong đêm tình mùa xuân lần này Mị không chỉ có một mình đơn độc. Lúc này thì cả A Phủ và Mị đều là những người giàu sức sống, một khi sức sống tiềm tàng trong mỗi cá nhân tỏa sáng và kết hợp với nhau thì nó cũng sẽ tạo thành sức mạnh giải phóng cho người, khi sự đồng cảm giữa những người cùng cảnh ngộ kết hợp với đó chính ý thức phản kháng đấu tranh tạo thành sức mạnh đấu tranh giai cấp. Và sức sống trong mỗi cá nhân dường như lại được nhân lên bội phần và tạo ra được những kết quả tất yếu. Xem thêm: Tả ông của em lớp 5 hay nhất Xây dựng lên được nhân vật Mị với những cung bậc cảm xúc khác nhau cũng đã tạo ra được sức sống tiền tàng của nhân vật khiến cho câu truyện hay hơn, xúc động hơn. Thông qua nhân vật Mị nhà văn đã nói lên được giá trị hiện thực cũng như giá trị nhân đạo của tác phẩm, khiến tác phẩm có sức sống lâu bền đến như vậy.
Assignment One of the writers who had a deep attachment to the land and people of the Northwest cannot help but mention writer To Hoai. Writer To Hoai also shared: "The land and people of the Northwest have loved and missed me so much." Perhaps it is also because of that feeling that the writer has devoted a volume of works written about the Northwest region with its unique customs and habits, among which the work "A Phu and his wife" cannot help but mention. In the story, the most prominent character is Mi. When Mi had not yet become the governor's daughter-in-law, she was considered a girl with many good qualities. She is a beautiful and talented child of the Northwest mountains and forests, as well as very hard-working, filial and free. It is not an exaggeration to say that Mi is the most beautiful forest flower in the highlands. I have beautiful love and faith in a bright future life ahead, everyone will believe that I will have a warm and peaceful life. But that's not the case, her family is poor and has to bear a lifelong debt, a debt to power that feels heavy. I'm beautiful, talented, and talented at playing the flute, so I deserve to receive love and "when spring love nights come, guys stand on the entire wall of my room." "I have a talent for playing the flute that makes so many people fall in love with me, playing the flute day and night following me"... Right now, these are probably the beautiful days of the full moon, always full of opportunities to enjoy love. and happy. I also have a lover, it must be a beautiful love with a ring finger and a wooden dating sign like many other couples. Building up the character of Mi, in addition to the beauty and talent in her, the nature of an honest worker does not seem to be lost in her. I am still a girl from the village, a girl from the mountains and forests. At the same time, I also know how to hoe the fields, grow corn, and am willing to work in the corn fields to pay my father's debt. I don't want to be a daughter-in-law and get rid of the debt by saying: "Dad, don't sell me to a rich family. I will work in the corn fields to pay my debt." . See more: Please explain your feelings about the story The Little Match Girl That's life, no one gets what they want, I can't decide my own life. At that time, Mi also had to step foot into Governor Pa Tra's house and force her to live as a daughter-in-law as a slave to clear her father's debt. When I first became a bride, I was a beautiful young girl with so many desires for a happy life and so many bright desires for the future. I felt like I was frozen with fate here. When she returned home, Governor Pa Tra became a bride to get rid of the debt. Mi quietly and silently endured the pain. She even cried every night for several months in a row. I'm ready to forget everything and seek death when I realize how much life and days I will have to endure in the future. I know I will have to live a life that is not worth living. There have been countless times when I have had such thoughts. One time, Mi even picked a handful of palm leaves, hid them in her sleeve and returned to her father to die, but because of the word "filial piety" she could not bear to watch her parents suffer. When I thought of my father, I had to give up my idea. I threw a handful of palm leaves on the ground as if throwing away my life's desire for happiness. Actually, being a daughter-in-law in the governor's house is like working as a buffalo and horse to pay off debts to your parents in the past, which is a hardship to the end. See more: Analyzing the image of the boatman in the fight against the fierce water. Analyzing the character Mi After that, I was already used to being miserable. "I'm used to being in the misery for a long time", people passing by didn't know when they looked at me and thought that if I was the daughter-in-law in such a rich family, my life would be very happy and prosperous. . The reality was harsh, Mi was tortured to the extreme and turned into a slave to the governor. My work seems to have been programmed in advance and I am like a working machine. I gradually became numb, lost all sense of time, I was only thinking about work right now. When My father passed away, I no longer thought about death and just retreated to live like a turtle kept in a corner. Then Mi's potential vitality returned, it was her psychological evolution and actions during the spring love night. Through the very desire to live, the desire for happiness at this moment seems to always be hidden deep in the character's soul. Indeed, the bundle is like a fire that is still smoldering under a layer of cold ashes and at some point, just a cool breeze blowing can ignite the most intense fire. All external influences are not small, but the potential strength is what determines Mi's vitality. When Mi saved A Phu and ran away together. When she saw A Phu being tied up, Mi felt sorry for the fate of a poor person like herself. Her mood also changed. At first, Mi seemed to indifferently blow the fire and warm her hands, not caring about A Phu, but when she saw A Phu's tears, unintentionally yet intentionally, it revived Mi's wounded heart. At this moment, Mi ran after Aphu, freeing herself from the invisible rope of divine power. Through this, it can be said that it was the rise of this latent vitality that helped Mi destroy the power of theocracy and power to free herself. It can be seen that it is completely different from the situation on this spring love night. I am not alone. At this time, both A Phu and Mi are people rich in vitality. Once the potential vitality in each individual shines and combines with each other, it will also create the power to liberate others, when empathy between people in the same situation combined with the consciousness of resistance and struggle creates the power of class struggle. And the vitality in each individual seems to be multiplied and create inevitable results. See more: Best description of your grandfather in 5th grade Building up the character Mi with different levels of emotions also created the character's underlying vitality, making the story better and more emotional. Through the character Mi, the writer expressed the realistic value as well as the humanitarian value of the work, making the work have such lasting vitality.
Bài làm Nhà văn Nguyễn Tuân với những trang anh hùng dũng liệt hiện lên dưới một 1 lớp ngôn ngữ dân tộc thuần khiết, cùng với đó là một sự chuẩn mực, luôn cố gắng hết sức mình để làm sống dậy một thời quá khứ rực rỡ. Trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là một tác phẩm như thế. Bên cạnh hình tượng cao đẹp của nhân vật Huấn Cao thì nhân vật viên quản ngục cũng đóng góp một phần không nhỏ vào sự thành công của tác phẩm. Nhân vật viên quản ngục được xây dựng lên không phải là một anh hùng cao đẹp như Huấn Cao. Không có một đoạn văn nào mà nhà văn Nguyễn Tuân lại tả quản ngục giống như một tên phủ khát máu (Bữa rượu máu) hay với những hành động xấu xa cả. Với tác phẩm thì quản ngục hiện lên là một con người đó là một hình ảnh trung gian giữa cái đẹp và cái không đẹp. Cũng chính dưới ngòi bút tài hoa của một bậc thầy về ngôn ngữ cũng như chúng hình ảnh trung gian ấy cũng mập mờ, không có ranh giới rõ rệt một chút nào. Thoạt nhiên, người đọc sẽ có cảm nhận về một nhân vật viên quản ngục có vẻ như là một con người cam chịu, ông luôn yên phận và cũng chẳng có gì khác những kẻ cùng địa vị đương thời cả. Đó chính là câu: “Chuyện triều đình quốc gia chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời". Có lẽ rằng, chính cái khuôn khổ phong kiến, thêm với đó là cái “phép nước” dường như cũng đã khiến quản ngục quen với việc nhận tù, giao tù và có biết bao nhiêu mánh khóe hành hạ thường lệ. Xem thêm: Suy nghĩ của em về tuổi hai mươi Thế nhưng có ai ngờ đâu, bên trong con người đó vẫn luôn tồn tại một mầm sống tươi xanh của cái đẹp. Có thể nói rằng chính cái mầm ấy bị đè bẹp nhưng vần khắc khoải sống cũng như đã chờ đợi một lúc nào đó được vươn lên. Và rồi khi thời điểm đó cũng đến, nhân vật Huấn Cao – được nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng lên là một con người văn võ song toàn xuất hiện có cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp ai ai cũng thích. Viên quản ngục lúc này đây cũng lại bắt đầu rơi vào một tâm trạng hết sức khó xử. Thêm với đó là một sự đấu tranh âm thầm trở thành nét tiêu biểu cho quản ngục trpng suốt câu truyện mà cũng chính là biểu hiện tiêu biểu cho quản ngục suốt truyện “Chữ người tử tù” mà cùng chính là biểu hiện tiêu biểu cho tính “hướng nội” trong con người mỗi chúng ta thường bắt gặp trong tác phầm của Nguyễn Tuân. Phân tích nhân vật viên quản ngục Cho đến tận cuối cùng thì niềm đam mê cái đẹp cũng đã chiến thắng. Chính cái chiến thắng đó dường như cũng chưa phải là tuyệt đối nhưng vẫn đủ biến viên quản ngục thành một con người khác hoàn toàn với bị trí mà ông có. Viên quản ngục là một người luôn mong muốn nâng niu cái đẹp nhưng lại sợ sệt. Tác giả Nguyễn Tuân đã để cho nhân vật này như đã hóa thân thành một cái gì đó vô hình, hư ảo. Chỉ với chi tiết đó vừa bộc lộ nét mạnh mẽ của “Vang bóng một thời” có một sự lãng mạn và khao khát đánh thức cái đẹp. Tất cả điều này dường như cũng lại vừa để lộ thấp thoáng điểm yếu và sự yếu đuối của Nguyễn Tuân chính trong cái nhìn hoài vọng xa xôi. Xem thêm: Nghị luận xã hội : suy nghĩ về Câu chuyện của bốn ngọn nến Việc viên quản ngục miễn những mánh khóe hành hạ, biệt đãi những người tử tù, rồi ông cũng lại bạo dạn xin chữ, một cách khéo léo từng chút từng chút một chứ không chèn ép, sỗ sàng. Bởi chính quản ngục còn “Biết người tài, không phải là kẻ xấu". Mặc dù khi đã biệt đãi, đã toan tính cách xin chữ rồi mà viên quản ngục vẫn còn sợ, vẫn dặn viên thơ lại nói với Huấn Cao câu rằng: “Miễn là ngài giữ kín cho”. Qủa thực với một chi tiết nhỏ nhưng chắc là không thể thiếu được trong tác phẩm vừa thể hiện được cái tài, cái tâm của một người yêu thích các đẹp. Và khi Huấn Cao phát hiện ra thì ông rất cảm phục quản ngục, biết quản ngục là một người yêu thích nghệ thuật, cái đẹp. Khi mà tình yêu cái đẹp đến đam mê đã đánh thức khí phách tiềm tàng nằm im suốt bao nhiêu năm của quản ngục. Huấn Cao cảm phục viên quản ngục và đồng ý cho chữ, ở trong cảnh cho chữ thì người đọc sẽ thấy được có một chi tiết đáng nhớ đó là: “Người tù viết xong một chữ viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền xèng đánh dấu ô chữ đặt lên phiến lục ông”, quản ngục cứ “khúm núm” không phải chỉ vì nịnh bợ mà là vì cảm phục. Khi mà chính sự cảm phục của quản ngục lên đến đỉnh điểm cũng là lúc kết thúc truyện với câu: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Đọc tác phẩm ta nhận thấy được đây là một nghệ thuật tài hoa, kết thúc truyện ở cao trào khiến cho tác phẩm đặc sắc và hoàn mỹ hơn. Xem thêm: Bài văn của học sinh giỏi phân tích giá trị hiện thực trong truyện Chí Phèo- Nam Cao Tóm lại theo suốt chiều dài của truyện, nhân vật quản ngục luôn luôn tồn tại với một ý nghĩa nhất định. Nhân vật quản ngục được xây dựng lên không chỉ là một hình tượng độc đáo mà đồng thời cũng còn là nhân vật hội đủ những đặc điểm chung nhất của tác phẩm “Vang bóng một thời” với quan niệm cũng như phong cách của tác giả Nguyễn Tuân. Vô cùng hào hoa, lãng mạn đồng thời cũng đã thể hiện nên được tiếng nói của thiên lương, của tinh thần dân tộc.
Assignment Writer Nguyen Tuan with his brave heroic pages appears under a layer of pure national language, along with a standard, always trying his best to revive a brilliant past. Nguyen Tuan's work "The Words of Death Row Prisoners" is such a work. Besides the noble image of the character Huan Cao, the character of the prison guard also contributes a large part to the success of the work. The character of the prison warden is not built as a noble hero like Huan Cao. There is not a single passage in which writer Nguyen Tuan describes the prison guard as a bloodthirsty ruler (Blood Wine Meal) or with evil actions. In the work, the prison warden appears as a human being, an intermediate image between the beautiful and the unbeautiful. Also under the talented pen of a master of languages ​​like them, that intermediate image is also ambiguous, without clear boundaries at all. At first, the reader will have the impression of a prison warden character who seems to be a resigned person, he is always at peace and is no different from other people of the same position at the time. That is the sentence: "What do we know about the royal court that we can discuss?" Perhaps, it was the feudal framework, in addition to the "state law" that also seemed to make the prison guards angry. accustomed to accepting prisoners, delivering them, and having many routine torture tricks. See more: My thoughts about being in my twenties But who would have thought that inside that person there always exists a green germ of beauty. It can be said that the sprout itself was crushed, but it still lived anxiously as if it had been waiting for a moment to rise. And then when that time came, the character Huan Cao - created by writer Nguyen Tuan as a man of literature and martial arts, appeared with a talent for writing very quickly and beautifully that everyone liked. The prison warden at this time also began to fall into a very awkward mood. In addition, there is a silent struggle that becomes the typical feature of the prison guard throughout the story, which is also the typical expression of the prison guard throughout the story "The Word of a Death Row Prisoner". The "introversion" in each of us is often encountered in Nguyen Tuan's works. Analyze the character of the prison warden Until the end, the passion for beauty won. That victory did not seem to be absolute, but it was still enough to turn the prison warden into a completely different person from the intelligence he had. The prison warden is a person who always wants to cherish beauty but is afraid. Author Nguyen Tuan has let this character seem to have transformed into something invisible and illusory. Just that detail reveals the strong character of "Once upon a time" with its romance and desire to awaken beauty. All of this also seems to reveal a glimpse of Nguyen Tuan's weakness and weakness in his distant, ambitious look. See more: Social commentary: thoughts on The Story of Four Candles The prison warden exempted the prisoners from torture and gave them special treatment, and then he also boldly asked for forgiveness, tactfully, little by little, without forcing or being rude. Because the prison warden himself still "knows talented people, not bad people". Even though he had given special treatment and had already planned to ask for forgiveness, the prison warden was still afraid. He still told the poet to tell Huan Cao that : "As long as you keep it a secret." Indeed, a small but certainly indispensable detail in the work shows the talent and heart of a person who loves beautiful things In fact, he admired the prison guard very much, knowing that the prison guard was a person who loved art and beauty. When the passionate love of beauty awakened the prison guard's latent spirit that had been lying dormant for many years. Huan Cao admired the prison warden and agreed to give words. In the scene of giving words, the reader will see a memorable detail: "After the prisoner wrote a word, the prison guard quickly obediently put away the coins." The crossword check mark placed on the chart", the prison guard kept "obsessing" not just because of flattery but because of admiration. When the prison guard's admiration reaches its peak, it also ends the story with the sentence: "This ignorant person please pay his respects." Reading the work, we realize that this is a talented art, ending the story at the climax makes the work more unique and perfect. See more: An essay by a good student analyzing the realistic value in the story Chi Pheo- Nam Cao In short, throughout the length of the story, the prison guard character always exists with a certain meaning. The character of the prison guard is built not only as a unique image but also as a character that meets the most common characteristics of the work "Echoes of a Time" with the author's concept and style. Nguyen Tuan. Extremely pompous and romantic, at the same time, it also expressed the voice of heaven and the national spirit.
Bài làm Nguyễn Trung Thành với tình yêu sâu lặng với núi rừng Tây Nguyên chính vì thế mà các sáng tác của ông luôn đi sâu vào khai thác vẻ đẹp của thiên nhiên và con người nơi đây. Truyện ngắn “Rừng xà nu” là một truyện ngắn viết về Tây Nguyên với những con người anh hùng. Trong đó nổi bật nhất chính là nhân vật Tnú. Ngay từ nhỏ thì Tnú đã mồ côi, thiếu thốn tình cảm của cha mẹ, thế nhưng lại may mắn hơn thì Tnú lại luôn được dân làng bao bọc, chăm sóc. Có lẽ chính bởi vậy mà Tnú cũng lại sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Với chia sẻ của Nguyễn Trung Thành thì “ Tnú có cái bụng thương núi, thương nước”. Ngay từ khi còn nhỏ thì Tnú đã là một cậu bé dũng cảm, yêu nước. Tnú đã được dạy rằng: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn”. Chính vì thế, cậu bé con ngày nào luôn luôn ý thức được lí tưởng sống của buôn làng và luôn tin tưởng để đi theo con đường Cách mạng. Tnú từ nhỏ đã sớm tỏ ra là một người chiến sĩ anh hùng, gan góc táo bạo, đầy quả cảm. Có ai tuổi nhỏ như Tnú mà đã bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù cơ chứ? Tnú cùng với Mai xung phong vào rừng bảo vệ anh Quyết, anh Quyết là một cán bộ trung kiên của Đảng. Tinh thần cách mạng không chỉ thể hiện ở lòng yêu nước, sự gan dạ mà còn đã có ngay từ trong máu thịt, Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết. Có biết bao lần Tnú đã vượt thác và cũng chuẩn bị lên bờ thì họng súng đen ngòm đã chĩa vào gáy lạnh ngắt, trong lúc nguy hiểm là thế nhưng Tnú vẫn bình tĩnh kịp suy nghĩ nuốt ngay lá thư vào bụng. Hành động này đã cho thấy được ở nhân vật đã có những đức tính, phẩm chất của một người làm cách mạng. Mặc cho giặt có tra tấn như thế nào thì Tnú cũng không khai nửa lời. Hình tượng nhân vật Tnú cũng chính là một hình tượng đẹp, biểu tượng cho dân làng Xô – man, làng Xô – man luôn luôn tự hào về người anh hùng Tnú. Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Thương vợ – Trần Tế Xương Trong cách mạng là thế còn trong việc học thì Tnú học chữ thua Mai. Để thể hiện lòng quyết tâm thì Tnú đã lấy đá đập vào đầu khiến máu chảy ròng. Hẳn đến chi tiết này sẽ rất nhiều người thắc mắc rằng tại sao lại xây dựng lên một hình tượng nhân vật anh hình mà lại học chữ chậm? Hình tượng nhân vật anh hùng luôn luôn là niềm tự hào nhất của một cộng đồng như sao Tnú lại rất chân thực như thế? Đơn giản rằng nhà văn Nguyễn Trung Thành muốn kéo hình ảnh nhân vật gần hơn với cộng đồng. Phân tích nhân vật Tnú trong Rừng Xà Nu Sau ba năm sau, Tnú vượt ngục trở về trực tiếp lãnh đạo dân làng Xô man đánh giặc. Lúc này đây thì Mai – người bạn từ thuở thiếu thời của Tnú thì nay cũng đã là vợ của Tnú và hai người đã có với nhau một đứa con. Cứ tưởng cuộc sống sẽ hạnh phúc, song kẻ thù tàn bạo đã dập tan mái ấm bé nhỏ của Tnú. Bọn giặc thật dã man khi chúng đã giết vợ con Tnú, đau xót hơn là Tnú lại nhìn thấy cảnh tượng đau thương này. Tnú trước cái chết của vợ con hoàn toàn trở nên bất lực, các chi tiết như: Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Hay đó là các chi tiết: “Anh chồm dậy… bụng anh có lửa đốt. Chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn”. Căm thù, Tnú nhảy vào giữa đám lính, hai cánh tay như cánh gỗ lim của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai. Nhưng không còn kịp nữa! Tnú bị bắt”. Khi đứng trước cái chết cận kề, người anh hùng Tnú không hề run sợ mà anh cảm thấy mình thật bình thản vì giờ gia đình anh đã không còn nữa. Và chỉ có một điều làm Tnú day dứt và băn khoăn nhất đó chính là làng Xô man của mình. Các câu hỏi như ai sẽ cùng dân làng đánh đuổi quân giặc? và sẽ cùng dân làng đi theo lí tưởng của cụ Hồ? Thực sự lúc đó Tnú hoàn toàn không nghĩ đến mình nữa mà chỉ nghĩ cho mọi người, cho cộng đồng. Xem thêm: [Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài Khi giặc dùng giẻ tẩm nhựa xà nu để đốt mười đầu ngón tay của Tnú. Hình ảnh đôi bàn tay của trung thực, tình nghĩa, đó là đôi bàn tay cũng từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho. Đó còn là đôi bàn tay từng đặt lên bụng mình mà nói rõ ràng: “Cộng sản ở đây này”. Đó là bàn tay nghĩa tình nắm tay Mai mà khóc,… bọn giặc đốt tay Tnú như muốn thiêu rụi ý chí đấu tranh của dân làng Xô Man nhưng không ngờ rằng đó cũng là thời khắc cả dân làng nhất tề nổi dậy đấu tranh. Tất cả những lòng hận thù ấy đã biến bàn tay Tnú lúc này đây lại trở thành ngọn đuốc châm bùng lên ngọc lửa nổi dậy của dân làng Xôman. Có thể thấy được hình ảnh đôi bàn tay chỉ còn hai đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng để Tnú như muốn lên đường rửa hận. Cũng với đôi bàn tay đó Tnú cũng đã xiết vào cổ họng tất cả những thằng Dục tàn ác hơn cả dã thú. Và rồi, Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân anh lại tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả bóng quân thù trên quê hương. Tnú là một người cán bộ có tinh thần, trách nhiệm cao. Xây dựng lên nhân vật Tnú tiêu biểu của người anh hùng, Tnú đại diện cho số phận thêm với nữa đó chính là con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng. Nguyễn Trung Thành thật thành công khi đã xây dựng được hình ảnh nhân vật Tnú thật thành công khi ông viết về mảnh đất nhớ – mảnh đất Tây Nguyên.
Assignment Nguyen Trung Thanh's deep love for the mountains and forests of the Central Highlands is why his compositions always delve deeply into the beauty of nature and people here. The short story "The Snake Forest" is a short story written about the Central Highlands with heroic people. The most prominent of these is the character Tnú. From a young age, Tnú was orphaned and lacked the affection of his parents, but more fortunately, Tnú was always surrounded and cared for by the villagers. Perhaps that's why Tnú soon developed a love for the people and the village. According to Nguyen Trung Thanh, "Tnú has a heart that loves the mountains and the country." From an early age, Tnú was a brave and patriotic boy. Tnú was taught that: “The cadres are the Party. The Party still has this young country still alive." That's why the little boy was always aware of the village's ideal of life and always believed in following the path of the Revolution. From a young age, Tnú proved to be a heroic soldier, courageous, daring, and courageous. Is there anyone as young as Tnú who has braved the barbaric siege and terror of the enemy? Tnú and Mai volunteered to go into the forest to protect Mr. Quyet. Mr. Quyet was a loyal officer of the Party. The revolutionary spirit is not only expressed in patriotism and courage but is also present in the flesh and blood. Tnú has a strangely bright mind in finding a path in the forest to deliver letters to Mr. Quyet. How many times had Tnú crossed the waterfall and was about to go ashore when the black muzzle of a gun was pointed at the cold neck of his neck? In such a dangerous moment, Tnú still calmly thought and swallowed the letter right into his stomach. This action showed that the character had the virtues and qualities of a revolutionary. No matter how much torture he tried, Tnú did not confess a word. The image of the character Tnú is also a beautiful image, symbolizing the people of the Xo-man village. The Xo-man village is always proud of the hero Tnú. See more: Feelings about the poem Loving Wife - Tran Te Xuong In the revolution, that was the case, but in studying, Tnú lost to Mai in learning to read. To show his determination, Tnú hit his head with a rock, causing blood to flow. Surely at this detail, many people will wonder why they built an image of a heroic character who is slow at learning to read? The image of a heroic character is always the most proud of a community. Why is Tnú so realistic? Simply put, writer Nguyen Trung Thanh wants to bring the character's image closer to the community. Analysis of the character Tnú in Xa Nu Forest Three years later, Tnú escaped from prison and returned to directly lead the Xo barbarian villagers to fight the enemy. At this time, Mai - Tnú's childhood friend is now Tnú's wife and the two have a child together. Thought life would be happy, but a brutal enemy destroyed Tnú's little home. The enemy was brutal when they killed Tnú's wife and children. What was more painful was that Tnú saw this painful scene. Before the death of his wife and children, he became completely helpless, details such as: He ripped off dozens of figs without realizing it. Or are they the details: “He jumped up… his stomach was on fire. Where your eyes are now are two big fires." Hated, Tnú jumped into the middle of the soldiers, his arms like ironwood wings tightly embracing Mai and her child. But no longer keep up! Tnú was arrested". When facing imminent death, the hero Tnú did not tremble at all, but felt calm because his family was no longer there. And there is only one thing that torments and worries Tnú the most: his Xo man village. Questions such as who will fight with the villagers to expel the enemy? and will join the villagers in following Uncle Ho's ideals? Actually, at that time, Tnú completely stopped thinking about himself and only thought about everyone and the community. See more: [Excellent student essay] Analysis of To Hoai's A Phu and His Wife When the enemy used a rag soaked in soap sap to burn Tnú's ten fingertips. The image of the hands of honesty and gratitude, those are the hands that also held chalk to write the words that Mr. Quyet taught. Those were also the hands that once placed on my stomach and said clearly: "Communism is here." That was the loving hand that held Mai's hand and cried,... the enemy burned Tnú's hand as if wanting to burn away the fighting will of the Xo Man villagers, but they did not expect that that was also the moment when the whole village rose up to fight. All that hatred has turned Tnú's hand into a torch that ignites the rebellion of the Soman villagers. One can see the image of Tnú's hands with only two joints on each finger still holding spears and guns, as if he wanted to go on a journey to avenge his revenge. With those same hands, Tnú also squeezed the throats of all the Duc boys who were more cruel than wild animals. And then, Tnú overcame all pain and personal tragedy and joined the liberation force to wipe out all enemies in his homeland. Tnú is an officer with high spirit and responsibility. Building on the typical Tnú character of a hero, Tnú represents fate and is the path of the Central Highlands peoples in the era of liberation struggle. Nguyen Trung Thanh was very successful in building the image of the character Tnú when he wrote about the land of memory - the land of the Central Highlands.
Bài làm Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu. (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) Hoàn cảnh lịch sử diễn ra đó là khi cả nước rộn ràng lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để có thể xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc. Lúc bấy giờ có biết bao nhà văn, nhà thơ lúc này đây dường như cũng đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng. Trong đó không thể không nhắc đến người nghệ sĩ yêu nước Nguyễn Tuân được ví như một cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Tuân đã sáng tác ra tác phẩm “Người lái đò sông Đà” để có thể thể hiện được rõ nét và vô cùng sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. Có thể nói khi đến với nghệ thuật, thì chính đối với Nguyễn Tuân là đến với sự tìm tòi và sáng tạo, bởi vì chính nhà văn là người sáng tạo lại thế giới. Tác giả Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay dường như cũng giống với mình của ngày hôm qua, ông như sợ sự trùng lặp tầm thường. Cho nên ông đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, phải đi thì mới có thể viết lên các tác phẩm có giá trị được. Hình ảnh con sông Đà cũng được nhiều nhà văn, nhà thơ khắc gọa, nhưng phải đến với Nguyễn Tuân thì con sông Đà mới hiện ra chân thực và vô cùng cảm động. Với ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ tình biết bao nhiêu. Con sông Đà như còn mang tâm địa xảo quyệt của thứ kẻ thù số một, tất cả như cũng có thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…” không dừng lại ở đó thì nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ…đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông”. Nguyễn Tuân còn miêu tả có khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng “nhỏm cả dậy để vồ lấy”… Thế nhưng chính cái hung hãn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ tình ở sông Đà. Nhà văn còn miêu tả nổi bật lên được hình ảnh con sông ở những đoạn xuôi dòng, không những thế thì ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, thật uyển chuyển, mang đậm chất thơ với đoạn miêu tả: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”… Xem thêm: Nghị luận về quan niệm của Thân Nhân Trung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Chính trên con sông ấy, hình ảnh ông lái đò xuất hiện, dữ dội và phi thường. Khi đứng trong một cuộc chiến đấu “một mất, một còn” với những cái thác nước, tác giả Nguyễn Tuân lúc này cũng đã cho ta thấy được cái tài hoa, sự trí dũng tuyệt vời của ông lái đò. Hình ảnh của người lái đò sông Đà cũng chính là một hiện thân của tác giả, ông như cũng chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà dường như cũng không ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm ả… Sử dụng giọng văn thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật là một thành công của Nguyễn Tuân. Hình ảnh con sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, đồng thời con sông Đà cũng chính là một kẻ thù nhưng lại là một cố nhân. Chính dưới ngòi bút tác giả, con sông không chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, thêm với đó có một sự sôi nổi bằng những từ ngữ gợi hình ảnh, tất cả như đã tác động mạnh vào giác quan người đọc. Hình ảnh của ông lái đò cũngthế cũng xuất hiện một cách sinh động, thể hiện một sự rõ nét và sắc sảo… Đối với nhà văn Nguyễn Tuân thì “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Đầu tiên đã là văn phải đẹp, phải trau chuốt. Và đối với cái đẹp ấy đã chi phối cách nhìn của tác giả Nguyễn Tuân như đứng trên toàn bộ tác phẩm. Hình ảnh con người và sự vật lúc này đây cũng lại thông qua ngòi bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ biết bao nhiêu. Phân tích tác phẩm Người Lái Đò Sông Đà Qua bài tùy bút thì nét đẹp sông Đà được đánh giá chính là một công trình dày công sáng tạo của tạo hóa. Con sông Đà như cũng vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp đến màu sắc, với những câu văn miêu tả dòng nước, tốc độ chảy của con sông Đà mới đẹp làm sao. Đó cũng chính là nguồn cảm hứng của bao nhiêu văn, nghệ sĩ. Nước của con sông Đà khi đến mùa xuân dòng xanh ngọc bích, còn với mùa thu thì nước sông Đà dường như cứ lừ lừ chín đỏ giống như da mặt người bầm đi vì rượi bữa”. Hình ảnh con sông ấy đối với tác giả không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó cũng thật gợi cảm. Con sông Đà như cũng đã gây nên nỗi nhớ da diết cho những ai đã từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Khi gặp lại sông Đà, tác giả Nguyễn Tuân như cũng cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố nhân mà phải thốt lên: “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Xem thêm: Tả cái bàn học ở nhà của em Cũng chính trong cái đẹp đẽ, một cái đẹp như thật thơ mộng của đất trời thiên nhiên, hình ảnh con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái đò sông Đà điêu luyện điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục nhất giống như một người nghệ sĩ. Hình ảnh ông lái đò bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải qui hàng. Với đoạn văn miêu tả cảnh ông lái đò vượt thác thật đẹp: “Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”. Nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon thật hay, thật nhịp nhàng không chệch một nốt. Có thể nói tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển lớn trong phong cách Nguyễn Tuân. Ở trước cách mạng, nhà văn Nguyễn Tuân lúc đó cũng thường đi tìm đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ. Nguyễn Tuân luôn viết, tìm hiểu với một thời vang bóng đã qua. Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy được nhân vật của Nguyễn Tuân là những Huấn Cao, nhân vật quản ngục mang tâm trạng của kẻ có phí phách “nào biết trên đầu có ai”. Tất cả các nhân vật “vang bóng một thời” là những vị anh hùng ngang dọc, họ đều khinh bạc đến điều. Thế nhưng sau cách mạng thì nhà văn Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, gần gũi nhất ở ngay chính trong các công việc bình thường mà họ đang làm. Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà” thì người lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa có một trí dũng song toàn. Nguyễn Tuân cũng đã miêu tả hình ảnh người đời thường lái đò, Thêm với đó là Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, sự cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và thêm với đó là hình ảnh cuar người lái đò, tác giả Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau trong tác phẩm của chính mình như: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Tất cả mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động biết bao nhiêu. Miêu tả đoạn “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Con sông Đà còn có âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền thế rồi những con sóng dậy lên thành thác núi. Đọc tác phẩm độc giả giống như đang tận mắt chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, đồng thời cũng lại chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm ả, trữ tình biết bao nhiêu. Xem thêm: Viết về thầy cô và mái trường Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta lại coi Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Vì vốn cũng như nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học… thật lớn. Tất cả các kiến thức này cũng thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm của ông. Thể hiện rất rõ trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” thì Nguyễn Tuân cũng đã đưa ta đến với một miền quê hương Tổ quốcVị trí sông Đà, rồi lịch sử sông Đà đã được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính uyên bác, tài hoa. Nói riêng về khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của tác giả Nguyễn Tuân thật phong phú. Cứ mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đã được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Nguyễn Tuân như cũng đã khéo sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn của Nguyễn Tuân đôi khi có vẻ thô kệch, nó dường như cũng đã dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Tác giả không chỉ viết lên những trang văn tài hao mà còn khiến cho người đọc cảm nhận được âm hưởng trong mỗi đoạn văn. Tác giả đã viết về người lái đò sông Đà, cũng như viết về một vùng quê hương Tổ quốc thì nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thêm với đó là tình yêu thiên nhiên đất nước. Thực sự chính văn chương của ông đã mang đến cho chúng ta một vẻ đẹp tri thức tài hoa, uyên bác.
Bài làm Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu. (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) Hoàn cảnh lịch sử diễn ra đó là khi cả nước rộn ràng lên đường theo tiếng gọi của “tâm hồn Tây Bắc” để có thể xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc. Lúc bấy giờ có biết bao nhà văn, nhà thơ lúc này đây dường như cũng đã thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng. Trong đó không thể không nhắc đến người nghệ sĩ yêu nước Nguyễn Tuân được ví như một cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam. Nhà văn Nguyễn Tuân đã sáng tác ra tác phẩm “Người lái đò sông Đà” để có thể thể hiện được rõ nét và vô cùng sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. Có thể nói khi đến với nghệ thuật, thì chính đối với Nguyễn Tuân là đến với sự tìm tòi và sáng tạo, bởi vì chính nhà văn là người sáng tạo lại thế giới. Tác giả Nguyễn Tuân sợ mình của ngày hôm nay dường như cũng giống với mình của ngày hôm qua, ông như sợ sự trùng lặp tầm thường. Cho nên ông đã lấy “chủ nghĩa” xê dịch “làm đề tài cho tác phẩm, phải đi thì mới có thể viết lên các tác phẩm có giá trị được. Hình ảnh con sông Đà cũng được nhiều nhà văn, nhà thơ khắc gọa, nhưng phải đến với Nguyễn Tuân thì con sông Đà mới hiện ra chân thực và vô cùng cảm động. Với ngòi bút Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ tình biết bao nhiêu. Con sông Đà như còn mang tâm địa xảo quyệt của thứ kẻ thù số một, tất cả như cũng có thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào “thạch trận”…” không dừng lại ở đó thì nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ…đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông”. Nguyễn Tuân còn miêu tả có khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào thì chúng “nhỏm cả dậy để vồ lấy”… Thế nhưng chính cái hung hãn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ tình ở sông Đà. Nhà văn còn miêu tả nổi bật lên được hình ảnh con sông ở những đoạn xuôi dòng, không những thế thì ngòi bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, thật uyển chuyển, mang đậm chất thơ với đoạn miêu tả: “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân”… Xem thêm: Nghị luận về quan niệm của Thân Nhân Trung: Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Chính trên con sông ấy, hình ảnh ông lái đò xuất hiện, dữ dội và phi thường. Khi đứng trong một cuộc chiến đấu “một mất, một còn” với những cái thác nước, tác giả Nguyễn Tuân lúc này cũng đã cho ta thấy được cái tài hoa, sự trí dũng tuyệt vời của ông lái đò. Hình ảnh của người lái đò sông Đà cũng chính là một hiện thân của tác giả, ông như cũng chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà dường như cũng không ưa xuôi thuyền trên dòng sông êm ả… Sử dụng giọng văn thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật là một thành công của Nguyễn Tuân. Hình ảnh con sông Đà vừa trữ tình vừa hung bạo, đồng thời con sông Đà cũng chính là một kẻ thù nhưng lại là một cố nhân. Chính dưới ngòi bút tác giả, con sông không chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, thêm với đó có một sự sôi nổi bằng những từ ngữ gợi hình ảnh, tất cả như đã tác động mạnh vào giác quan người đọc. Hình ảnh của ông lái đò cũngthế cũng xuất hiện một cách sinh động, thể hiện một sự rõ nét và sắc sảo… Đối với nhà văn Nguyễn Tuân thì “đã là văn thì trước hết phải là văn”. Đầu tiên đã là văn phải đẹp, phải trau chuốt. Và đối với cái đẹp ấy đã chi phối cách nhìn của tác giả Nguyễn Tuân như đứng trên toàn bộ tác phẩm. Hình ảnh con người và sự vật lúc này đây cũng lại thông qua ngòi bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ biết bao nhiêu. Phân tích tác phẩm Người Lái Đò Sông Đà Qua bài tùy bút thì nét đẹp sông Đà được đánh giá chính là một công trình dày công sáng tạo của tạo hóa. Con sông Đà như cũng vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp đến màu sắc, với những câu văn miêu tả dòng nước, tốc độ chảy của con sông Đà mới đẹp làm sao. Đó cũng chính là nguồn cảm hứng của bao nhiêu văn, nghệ sĩ. Nước của con sông Đà khi đến mùa xuân dòng xanh ngọc bích, còn với mùa thu thì nước sông Đà dường như cứ lừ lừ chín đỏ giống như da mặt người bầm đi vì rượi bữa”. Hình ảnh con sông ấy đối với tác giả không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó cũng thật gợi cảm. Con sông Đà như cũng đã gây nên nỗi nhớ da diết cho những ai đã từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Khi gặp lại sông Đà, tác giả Nguyễn Tuân như cũng cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố nhân mà phải thốt lên: “Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”. Xem thêm: Tả cái bàn học ở nhà của em Cũng chính trong cái đẹp đẽ, một cái đẹp như thật thơ mộng của đất trời thiên nhiên, hình ảnh con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái đò sông Đà điêu luyện điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục nhất giống như một người nghệ sĩ. Hình ảnh ông lái đò bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải qui hàng. Với đoạn văn miêu tả cảnh ông lái đò vượt thác thật đẹp: “Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy”. Nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn violon thật hay, thật nhịp nhàng không chệch một nốt. Có thể nói tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một bước chuyển lớn trong phong cách Nguyễn Tuân. Ở trước cách mạng, nhà văn Nguyễn Tuân lúc đó cũng thường đi tìm đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ. Nguyễn Tuân luôn viết, tìm hiểu với một thời vang bóng đã qua. Người đọc có thể dễ dàng nhận thấy được nhân vật của Nguyễn Tuân là những Huấn Cao, nhân vật quản ngục mang tâm trạng của kẻ có phí phách “nào biết trên đầu có ai”. Tất cả các nhân vật “vang bóng một thời” là những vị anh hùng ngang dọc, họ đều khinh bạc đến điều. Thế nhưng sau cách mạng thì nhà văn Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức bình dị, gần gũi nhất ở ngay chính trong các công việc bình thường mà họ đang làm. Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà” thì người lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa có một trí dũng song toàn. Nguyễn Tuân cũng đã miêu tả hình ảnh người đời thường lái đò, Thêm với đó là Nguyễn Tuân đã thể hiện tấm lòng trân trọng, sự cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính trong việc tái hiện lại hình ảnh sông núi Tây Bắc và thêm với đó là hình ảnh cuar người lái đò, tác giả Nguyễn Tuân đã kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau trong tác phẩm của chính mình như: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc… Tất cả mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động biết bao nhiêu. Miêu tả đoạn “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Con sông Đà còn có âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền thế rồi những con sóng dậy lên thành thác núi. Đọc tác phẩm độc giả giống như đang tận mắt chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, đồng thời cũng lại chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm ả, trữ tình biết bao nhiêu. Xem thêm: Viết về thầy cô và mái trường Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta lại coi Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Vì vốn cũng như nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học… thật lớn. Tất cả các kiến thức này cũng thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm của ông. Thể hiện rất rõ trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” thì Nguyễn Tuân cũng đã đưa ta đến với một miền quê hương Tổ quốcVị trí sông Đà, rồi lịch sử sông Đà đã được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính uyên bác, tài hoa. Nói riêng về khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của tác giả Nguyễn Tuân thật phong phú. Cứ mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đã được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Nguyễn Tuân như cũng đã khéo sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn của Nguyễn Tuân đôi khi có vẻ thô kệch, nó dường như cũng đã dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên. Tác giả không chỉ viết lên những trang văn tài hao mà còn khiến cho người đọc cảm nhận được âm hưởng trong mỗi đoạn văn. Tác giả đã viết về người lái đò sông Đà, cũng như viết về một vùng quê hương Tổ quốc thì nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thêm với đó là tình yêu thiên nhiên đất nước. Thực sự chính văn chương của ông đã mang đến cho chúng ta một vẻ đẹp tri thức tài hoa, uyên bác.
Bài làm Kim Lân – một cái tên sáng giá trong nền văn học hiện thực của nước nhà. Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc thêm với đó là hình ảnh thân thuộc cho làng quê, tất cả điều này khiến cho tác phẩm của ông tự nhiên nhất. Đồng thời thể hiện được nỗi lòng của tác giả cũng như một lặt để phản ánh xã hội nghèo khổ, cùng cực lúc bầy giờ. Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước Việt Nam đang rơi vào nạn đói năm 1945. Trong hoàn cảnh này thì đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, như ngả rạ và “không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Chỉ với câu thơ đã tạo lên được một khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, tái hiện lên đời sống nhân dân thê thảm. Cái chết và sự sống như đang tranh giành nhau từng ngày từng giờ một. Người đọc có thể nhận thấy được ngay từ nhan đề của tác phẩm – Vợ Nhặt thì nhà văn Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, cuộc sống như bần hàn nhất. Tình huống truyện nhặt được vợ của Tràng được xem chính là một tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật. Thông qua cuộc đời của nhân vật trong truyện nhà văn như muốn phản ánh một xã hội lớn có biết bao nhiêu bất công. Nhà văn Kim Kân đã mở đầu truyện ngắn, tác giả thật tài tình khi ông cũng đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng dó là đoạn văn: “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Qủa thực cũng chính chỉ với vài chi tiết đó thôi thi người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí, thô kệch của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Có thể thấy được cũng chính là do ngày nạn đói hoành hành, hình ảnh những đám trẻ con không buồn trêu Tràng như trước nữa. Đơn giản vì chúng đã không còn sức lực nào để mà trêu. Có thể nhận thấy được một khung cảnh buồn thiu, một khung cảnh như chất chứa biết bao nhiêu ám ảnh của sự đói khổ như đã bao phủ lên xóm nghèo. Có thể nhận thấy được trong khung cảnh chiều tà, trong suy nghĩ của chính Tràng được tái hiện thông qua đoạn văn Kim Lân miêu tả: “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”. Xem thêm: Nghị luận xã hội : Tiếng hót của chim Chàng Làng Chỉ với vài chi tiết tiêu biểu, nhà văn Kim Lân cũng đã thật tài tình khi đã vé lên trước mặt người đọc cảm nhận thấy được chính hình ảnh người nông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng cực. Tất cả điều này cũng đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, một tình huống truyện vô cùng mới lạ khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Còn đối với nhân vật thì thay đổi cuộc đời. Chính với tình huống nhặt được vợ chứ không phải lấy được vợ đã gợi tả ra một sự thê thảm. Thông qua tình huống này đã khiến người đọc nhận ra được một vẻ thê thảm, một bước đường cùng đã đẩy khéo léo hình ảnh của con người trong xã hội lúc bấy giờ. Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt Hình ảnh nhân vật vợ anh cu Tràng – vợ nhặt như dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh. Thông qua câu miêu tả nhân vật người vời nhặt “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn”. Thực sự một người đàn bà nghèo khổ, ở thị không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ đến cùng cực đúng là một đôi trời sinh vậy. Chính giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, nhà văn Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, một khung cảnh như thật ảm đạm của xóm nghèo. Thêm vào đó cũng chính là từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Thế rồi chính ở hai bên dãy phố dường như cứ úp sụp, tối om và cũng không nhà nào có ánh đèn, lửa. Khi đứng dưới gốc đa, gốc gạo xù xì có bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Thêm vào đó là những tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết, tất cả thật đáng sợ. Khung cảnh những năm đói hiện ra không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Tất cả mọi thứ dường như bị cái đói, cài nghèo như đã đè nén con người nơi phố huyện như bị chìm nghỉm. Chính bằng ngòi bút tả thực sinh động, nhà văn Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong, lận đận. Nhưng trong đua khổ, trong nghèo khó thì họ vẫn luôn chở che và yêu thương nhau hơn. Xem thêm: Tả con đường từ nhà đến trường, bài văn mẫu về tả con đường hay nhất lớp 6 Người đọc có thể nhận thấy được chính điều đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng chính về người đàn bà đi bên cạnh tràng. Ta như cảm nhận thấy được thị cũng đã biết thẹn. Người đàn bà đói này không còn chua ngoa cũng không còn đanh đá nữa mà chính thị cũng đã trở nên thẹn thùng khi đi theo Tràng về làm vợ. Nhất là trong khung cảnh nạn đói vẫn đang diễn ra. Khi Tràng “nhặt vợ” về làm vợ một cách bất ngờ, cũng chính giữa cảnh đói như ngả rạ đã đẩy hai thân phận họ đến với nhau. Hãy khoan nhắc đến tình yêu ở đây mà họ như đến với nhau chính là tình thương. Trong đau khổ, nghèo khó nhất thì họ đã cưu mang nhau, thực sự đây mới là điều đánh trân trọng và khiến cho tác phẩm có gia strij đến bây giờ. Thế rồi, khi mà trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ – mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến, đồng thời có những sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Một tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu biết bao nhiêu, Kim Lân cũng đã khắc họa ra chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…” Tất cả những sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiển hiện lên vô cùng rõ nét. Thế rồi cũng chính bà cũng nhận ra, cũng hiểu ra mọi chuyện, lúc này đây bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu. “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Biết bao suy nghĩ chua xót của bà lão được tác giả Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái giúp cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn, khắc sâu vào trong tâm trí người độc. Bà cụ Tứ cũng đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Thêm vào đó thì tình huống khiến người đọc nhớ mãi không thể quên được, rồi một hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm “Vợ nhặt” như đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám”. Ở trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên thì hình ảnh nồi cháo cám là hiện thân của cái đói nghèo, sự đói nghèo ở đây lên đến cùng cực trong một gia đình giữa những ngày tháng nghèo khó. Hình ảnh bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, bà cũng đã toàn nói những chuyện vui trong nhà. Lý do chính bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo, mong cho các con có thể cố gắng vượt qua tất cả để hướng đến tương lai tương sáng hơn. Với hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị nhưng lại khắc sâu, như đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Ai ai mà chẳng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, có những mâm cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn. Với chi tiết nồi cháo cám chính là thứ duy nhất đong đầy yêu thương mà lòng người mẹ nghèo này có thể mang lại cho con. Thông qua hình ảnh nồi cháo cám này cũng được đánh giá là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt”. Không chỉ dừng lại ở đó thì hình ảnh lá cờ đỏ sao vào như đã xuất hiện ở cuối truyện đây cũng là một tín hiện, dấu hiệu như đã mang đến một chút niềm tin, sự hi vọng về một tương lai vô cùng tươi sáng hơn cho những con người đã quá đau khổ. Xem thêm: Nghị luận xã hội : Chấp nhận thực tế và tin vào chính mình Nhà văn Kim Lân với ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động thêm với đó là cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, vô cùng độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân lúc này đã vẽ lại trước mắt người đọc được một khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam trong những năm 1945. Thông qua đó thì tác giả cũng đã nhấn mạnh được tình yêu thương con người luôn bất diệt ngay cả khi cái chết đang cận kề.
Bài làm Kim Lân – một cái tên sáng giá trong nền văn học hiện thực của nước nhà. Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc thêm với đó là hình ảnh thân thuộc cho làng quê, tất cả điều này khiến cho tác phẩm của ông tự nhiên nhất. Đồng thời thể hiện được nỗi lòng của tác giả cũng như một lặt để phản ánh xã hội nghèo khổ, cùng cực lúc bầy giờ. Hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước Việt Nam đang rơi vào nạn đói năm 1945. Trong hoàn cảnh này thì đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm, như ngả rạ và “không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Chỉ với câu thơ đã tạo lên được một khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, tái hiện lên đời sống nhân dân thê thảm. Cái chết và sự sống như đang tranh giành nhau từng ngày từng giờ một. Người đọc có thể nhận thấy được ngay từ nhan đề của tác phẩm – Vợ Nhặt thì nhà văn Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, cuộc sống như bần hàn nhất. Tình huống truyện nhặt được vợ của Tràng được xem chính là một tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật. Thông qua cuộc đời của nhân vật trong truyện nhà văn như muốn phản ánh một xã hội lớn có biết bao nhiêu bất công. Nhà văn Kim Kân đã mở đầu truyện ngắn, tác giả thật tài tình khi ông cũng đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng dó là đoạn văn: “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Qủa thực cũng chính chỉ với vài chi tiết đó thôi thi người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí, thô kệch của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Có thể thấy được cũng chính là do ngày nạn đói hoành hành, hình ảnh những đám trẻ con không buồn trêu Tràng như trước nữa. Đơn giản vì chúng đã không còn sức lực nào để mà trêu. Có thể nhận thấy được một khung cảnh buồn thiu, một khung cảnh như chất chứa biết bao nhiêu ám ảnh của sự đói khổ như đã bao phủ lên xóm nghèo. Có thể nhận thấy được trong khung cảnh chiều tà, trong suy nghĩ của chính Tràng được tái hiện thông qua đoạn văn Kim Lân miêu tả: “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”. Xem thêm: Nghị luận xã hội : Tiếng hót của chim Chàng Làng Chỉ với vài chi tiết tiêu biểu, nhà văn Kim Lân cũng đã thật tài tình khi đã vé lên trước mặt người đọc cảm nhận thấy được chính hình ảnh người nông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng cực. Tất cả điều này cũng đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, một tình huống truyện vô cùng mới lạ khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Còn đối với nhân vật thì thay đổi cuộc đời. Chính với tình huống nhặt được vợ chứ không phải lấy được vợ đã gợi tả ra một sự thê thảm. Thông qua tình huống này đã khiến người đọc nhận ra được một vẻ thê thảm, một bước đường cùng đã đẩy khéo léo hình ảnh của con người trong xã hội lúc bấy giờ. Phân tích tác phẩm Vợ Nhặt Hình ảnh nhân vật vợ anh cu Tràng – vợ nhặt như dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh. Thông qua câu miêu tả nhân vật người vời nhặt “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn”. Thực sự một người đàn bà nghèo khổ, ở thị không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ đến cùng cực đúng là một đôi trời sinh vậy. Chính giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, nhà văn Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, một khung cảnh như thật ảm đạm của xóm nghèo. Thêm vào đó cũng chính là từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Thế rồi chính ở hai bên dãy phố dường như cứ úp sụp, tối om và cũng không nhà nào có ánh đèn, lửa. Khi đứng dưới gốc đa, gốc gạo xù xì có bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Thêm vào đó là những tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết, tất cả thật đáng sợ. Khung cảnh những năm đói hiện ra không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Tất cả mọi thứ dường như bị cái đói, cài nghèo như đã đè nén con người nơi phố huyện như bị chìm nghỉm. Chính bằng ngòi bút tả thực sinh động, nhà văn Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong, lận đận. Nhưng trong đua khổ, trong nghèo khó thì họ vẫn luôn chở che và yêu thương nhau hơn. Xem thêm: Tả con đường từ nhà đến trường, bài văn mẫu về tả con đường hay nhất lớp 6 Người đọc có thể nhận thấy được chính điều đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng chính về người đàn bà đi bên cạnh tràng. Ta như cảm nhận thấy được thị cũng đã biết thẹn. Người đàn bà đói này không còn chua ngoa cũng không còn đanh đá nữa mà chính thị cũng đã trở nên thẹn thùng khi đi theo Tràng về làm vợ. Nhất là trong khung cảnh nạn đói vẫn đang diễn ra. Khi Tràng “nhặt vợ” về làm vợ một cách bất ngờ, cũng chính giữa cảnh đói như ngả rạ đã đẩy hai thân phận họ đến với nhau. Hãy khoan nhắc đến tình yêu ở đây mà họ như đến với nhau chính là tình thương. Trong đau khổ, nghèo khó nhất thì họ đã cưu mang nhau, thực sự đây mới là điều đánh trân trọng và khiến cho tác phẩm có gia strij đến bây giờ. Thế rồi, khi mà trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ – mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến, đồng thời có những sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc. Một tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu biết bao nhiêu, Kim Lân cũng đã khắc họa ra chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…” Tất cả những sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiển hiện lên vô cùng rõ nét. Thế rồi cũng chính bà cũng nhận ra, cũng hiểu ra mọi chuyện, lúc này đây bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu. “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Biết bao suy nghĩ chua xót của bà lão được tác giả Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái giúp cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn, khắc sâu vào trong tâm trí người độc. Bà cụ Tứ cũng đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Thêm vào đó thì tình huống khiến người đọc nhớ mãi không thể quên được, rồi một hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm “Vợ nhặt” như đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám”. Ở trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên thì hình ảnh nồi cháo cám là hiện thân của cái đói nghèo, sự đói nghèo ở đây lên đến cùng cực trong một gia đình giữa những ngày tháng nghèo khó. Hình ảnh bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, bà cũng đã toàn nói những chuyện vui trong nhà. Lý do chính bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo, mong cho các con có thể cố gắng vượt qua tất cả để hướng đến tương lai tương sáng hơn. Với hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị nhưng lại khắc sâu, như đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Ai ai mà chẳng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, có những mâm cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn. Với chi tiết nồi cháo cám chính là thứ duy nhất đong đầy yêu thương mà lòng người mẹ nghèo này có thể mang lại cho con. Thông qua hình ảnh nồi cháo cám này cũng được đánh giá là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt”. Không chỉ dừng lại ở đó thì hình ảnh lá cờ đỏ sao vào như đã xuất hiện ở cuối truyện đây cũng là một tín hiện, dấu hiệu như đã mang đến một chút niềm tin, sự hi vọng về một tương lai vô cùng tươi sáng hơn cho những con người đã quá đau khổ. Xem thêm: Nghị luận xã hội : Chấp nhận thực tế và tin vào chính mình Nhà văn Kim Lân với ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động thêm với đó là cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, vô cùng độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân lúc này đã vẽ lại trước mắt người đọc được một khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam trong những năm 1945. Thông qua đó thì tác giả cũng đã nhấn mạnh được tình yêu thương con người luôn bất diệt ngay cả khi cái chết đang cận kề.