vi
stringlengths 846
10.5k
| en
stringlengths 799
10.5k
|
---|---|
Bài làm
Nhà văn Tô Hoài được biết đến là một cây bút có năng lực và sức sáng tạo dồi dào. Ông đã để cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ thế nhưng tác phẩm nào cũng lại có một sức hấp dẫn riêng. Trong số các tác phẩm tiêu biểu của ông không thể không nhắc đến truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Đây là truyện ngắn giàu giá trị nhân văn và đồng thời cũng đã lại khẳng định được một sức sống vô cùng phi thường của con người khi học bị áp bức bóc lột đến tận cùng.
Nhà văn Tô Hoài đã dẫn dụ người đọc vào câu chuyện chính bằng một lời giới thiệu nhẹ nhàng nhưng đầy ý vị đầy chất thơ: “Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lý Pá Tra thường thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Tác giả Tô Hoài đã rất khéo léo khi ông có thể gợi tả được hình ảnh của Mụ thông qua gương mặt, cử chỉ cứ lầm lũi, buồn khổ nhất là khi đang ở nhà thống lý rộng lớn và giàu có. Mị được xây dựng lên là một cô gái chịu sự dày vò về tinh thần, thế nhưng dường như lại có sức mạnh cũng như có thêm biết bao nhiêu nghị lực phi thường đang được nhen nhóm trong Mị.
Theo nhà văn miêu tả Mị vốn là cô gái xinh đẹp, nết na nữa, đã thế Mị lại được nhiều trai làng theo đuổi. Thế nhưng ai biết được một người con gái đẹp như đóa hoa rừng kia lại bị chịu bao nhiêu tủi hờn và bất công. Nhà Mị nợ nhà thống lý một món nợ truyền kiếp và khi không trả được Mị bị bắt làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lý. Mặc dù không muốn nhưng Mị vì thương cha nên đành lặng lẽ về làm dâu nhà thống lý trong tủi nhục và đau khổ biết bao nhiêu.
Nhà văn Tô Hoài lúc này đây cũng đã diễn tả cuộc sống như chết rồi của Mỵ tại nhà thống lý. Đó chính là một cuộc sống cơ cực, một cuộc sống không khác gì than trâu ngựa. Khi nghĩ mình phận là con dâu nhưng chính Mị cũng lại bị dối xử không khác gì nô lệ, thậm chí thân trâu ngựa cũng còn có lúc được nghỉ ngơi chứ Mị thì không. Khi bị đày đọa về thể xác và tinh thần khiến cho Mị dường như ngày càng rơi vào cảnh bế tắc, rơi vào sự tuyệt vọng.
Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A Phủ
Có thể nhận thấy được cũng chính bằng sự quan sát tỉ mỉ và sự nhạy cảm, nhà văn Tô Hoài đã khắc họa trạng trạng thái lầm lũi, đó là một kẻ sống lặng câm y hệt một con rùa trong xó của, Thế rồi căn phòng của Mị cũng chỉ có một lỗ sáng to bằng bàn tay mà thôi khi nhìn ra ngoài không biết là sương hay là nắng. Hình ảnh thống lý Pá Tra chính là hiện thân của xã hội phong kiến nhiều hà khắc với biết bao nhiêu hủ tục, tất cả như đã đẩy con người vào bước đường cùng không thương tiếc. Hình ảnh những người nông dân thấp cổ bé họng họ dường như cũng không biết kêu than ai, chỉ biết chấp nhận và chịu đựng mà thôi.
Trong câu truyện thì cũng đã có lúc Mỵ muốn tìm đến cái chết để giải thoát bản thân mình nhưng nghĩ đến cảnh người cha già yếu thì Mị lại vứt nắm lá ngón trong tay đi. Mị luôn thương cha nên cô đành chấp nhận cuộc sống hiện thực. Thực sự chính với niềm khát khao sống, lòng khát khao yêu trong con người Mị dường như đã không còn nữa. Chính Mị cũng đã lại chấp nhận sống cam chịu, có thể thấy được chính sự tồn tại như đã chết. Ở bên trong Mỵ vẫn còn tiềm ẩn sức sống rất mãnh liệt và cũng chỉ chờ thời cơ thì sức sống sẽ bùng nổ.
Nhà văn Tô Hoài đã khắc họa bức tranh mùa xuân tươi đẹp của Hồng Ngài, cũng chính với vẻ đẹp đó như đã khiến cho chính người đó như đọc cũng cảm thấy thích thú. Bức tranh mùa xuân này còn là đòn bẩy để có thể gợi lên được nghị lực trong cuộc sống. Mị đã lén lấy rượu để uống, để say. Trong cơn say Mị như sống lại ngày trước Mị nghĩ nếu có nắm lá ngón trong tay Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ cũng chẳng buồn nhớ lại nữa. Mị cũng đã ý thức được bản thân của mình muốn gì. “Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng ngày tết vẫn đi chơi. Huống chi Mỵ và A Sử lại không có lòng với nhau”. Trong con người Mị lúc ấy Mỵ đã ý thức được những khát khao một sự cháy bỏng ở trong lòng mình cháy bỏng như thế nào và tiếng sáo ngoài kia đó chính một trong những động lực khơi gợi lại những kỉ niệm êm đẹp một thời thật đẹp mà Mị cũng từng có.
Khi Mị mơ màng sống về ngày trước thì A Sử thấy vậy trói Mị vào rồi bỏ đi chơi. Mị cứ lâng lâng trong chén rượu và những ký ức như lại ùa về rõ rệt trong cô. Mị như đang đau đớn, đang tủi nhục và khắp mình mẩy đau nhức. Người đọc cũng thấy câu chuyện như càng gay gấn hơn khi cảnh tượng Mị cắt dây cởi trói cho A phủ với cảnh tượng này cũng đã khắc họa được sự sắc nét và chân thực tâm trạng, khát khao của Mị. Mị như lên vùng lên đấu tranh, tất cả khiến Mị vùng lên đòi hạnh phúc của chính mình. Khi Mị nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ của đêm hôm ấy đã đánh thức tình cảm, đó cũng còn là một sự bùng cháy trong trái tim của Mị.
|
Assignment
Writer To Hoai is known as a writer with great ability and creativity. He left behind a huge volume of works, but each work has its own appeal. Among his typical works, it is impossible not to mention the short story "A Phu and his wife". This is a short story rich in humanistic values and at the same time reaffirms the extremely extraordinary vitality of humans when they are oppressed and exploited to the extreme.
Writer To Hoai lured readers into the main story with a gentle but poetic introduction: "Whoever comes from far away and has the opportunity to enter the house of governor Pa Tra often sees a girl sitting and filming. hemp next to the rock in front of the door, next to the horse train. Always, whether she was spinning yarn, chopping horse grass, weaving, chopping firewood or carrying water from the stream, she looked down, her face filled with sadness. Author To Hoai was very skillful when he was able to describe the image of Mu through her face and gestures, which were always miserable and sad, especially when she was in the large and wealthy governor's house. Mi was portrayed as a girl suffering mental torment, but it seems that she has strength as well as a lot of extraordinary energy being rekindled within her.
According to the writer, Mi was originally a beautiful and modest girl. Moreover, she was pursued by many village boys. But who knew that a girl as beautiful as a wild flower would suffer so much sadness and injustice. Mi's family owed the governor a lifelong debt, and when she couldn't pay, Mi was forced to become the governor's daughter-in-law to get rid of the debt. Even though she didn't want to, because she loved her father, she quietly returned to become the governor's daughter-in-law in great humiliation and pain.
Writer To Hoai at this time also described My's life as death at the governor's house. It is a miserable life, a life no different from coaling buffaloes and horses. Even though she thought she was a daughter-in-law, she herself was treated like a slave. She even had time to rest, but not her. Being physically and mentally tormented made Mi seem to fall more and more into a deadlock, falling into despair.
Analysis of the work A Phu Husband and Wife
It can be seen that with meticulous observation and sensitivity, writer To Hoai portrayed the state of confusion, that is, a person living as silently as a turtle in a corner. My room only has a light hole the size of a hand. When I look out, I can't tell if it's fog or sunshine. The image of the Pa Tra governor is the embodiment of a harsh feudal society with so many bad customs, all of which seem to have pushed people into a dead end without mercy. The image of farmers with small throats seems like they don't know who to complain to, they only know how to accept and endure.
In the story, there was a time when My wanted to seek death to free herself, but thinking about her old and weak father, she threw away the handful of palm leaves in her hand. Mi always loved her father so she had to accept real life. Actually, with the desire to live, the desire to love in Mi seems to no longer exist. Mi herself has once again accepted to live with resignation, and can see her very existence as dead. Inside, My still has a very strong potential for vitality and is just waiting for the right opportunity for the vitality to explode.
Writer To Hoai portrayed Hong Ngai's beautiful spring painting, and it was with that beauty that it seemed to make the reader feel excited. This spring painting is also a lever to evoke energy in life. I secretly took alcohol to drink, to get drunk. In my drunken state, I felt like I was reliving the day before. I thought that if I had a handful of finger leaves in my hand, I would eat them to death without even bothering to remember them anymore. I was also aware of what I wanted. “I want to go out. How many married people still go out on Tet holiday? What's more, My and A Su don't have feelings for each other." At that time, I was aware of the burning desires in my heart and the sound of the flute out there was one of the driving forces that evoked those beautiful memories of the past. beautiful that I also had.
When Mi was dreaming about the old days, A Su saw that and tied Mi up and left to play. Mi was still lightheaded in the cup of wine and the memories seemed to come back clearly to her. I feel like I'm in pain, humiliated, and my whole body aches. Readers also find the story even more intense when the scene of Mi cutting the rope and untying A Phu's ties also clearly and truthfully depicts Mi's mood and desire. It was like I rose up to fight, everything made me rise up to demand my own happiness. When Mi saw A Phu's tears that night, it awakened her feelings, it was also a fire in her heart.
|
Bài làm
Nguyễn Trung Thành đã chọn cho mình một vùng đất kiên cường, con người bất khuất nhưng cũng thật chân thành, mộc mạc – Tây Nguyên để sáng tác các tác phẩm văn chương. Một trong số đó không thể không nhắc đến tác phẩm “Rừng xà nu” sáng tác trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Người ta đọc và cảm nhận thấy được “Rừng xà nu” được xem là một truyện ngắn thế nhưng dung lượng thông tin của nó lại thật lớn lao. Nói một cách khác thì tác phẩm chính là một bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên. Thêm với đó chính là sự trưởng thành của một thế hệ cách mạng mới, trẻ trung nhiệt tình, mưu trí và kiên cường nơi đây.
Tác phẩm “Rừng xà nu” đã có mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu quanh làng Xô Man của người Strá. Ở đây có một rừng xà nu bất chấp đạn bom, cây xà nu như đã vượt lên sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù để có thể tiếp nhận ánh nắng mặt trời duy trì sự sống của mình. Hình ảnh rừng xà nu tràn trề sức sống cho dù là đại bác của bọn giặc lúc nào cũng rình rập “đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng vào xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy”. Thế nhưng đáng nói ở đây thì “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình. Ở những vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại. và đặc quệnh thành từng cục máu lớn. Có những cây con vừa lớn ngang ngực lại bị đại bác chặt đứt làm đôi, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như một thân thể cường tráng. Chúng vươn rất nhanh, thay thế những cày đã ngã. Cứ thể hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…”.
Tác giả Nguyên Ngọc miêu tả rừng xà nu bằng một thứ ngôn ngữ mang trong mình rất giàu chất thơ, chắt lọc và lại còn mang một tinh tế ở một thứ ngôn ngữ vừa tả vừa gợi, đồng thời như lại còn mở ra những liên tưởng phong phú cho người đọc. Viết về hình ảnh rừng xà nu ở trong tác phẩm thì đây quả thực cũng chính là hình ảnh tả thực. Cây xà nu cùng với các đặc tính của mình cũng đã cho thấy được đây là một hình ảnh thực của loài cây luôn ham ánh sáng đồng thời lại là biểu tượng cho người dân Xô – man.
Phân tích tác phẩm Rừng Xà Nu
Nguyễn Trung Thành thật tài tình khi ông đã tái hiện chân thực cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên ở ngay trong những ngày đánh Mĩ. Tác gủa cũng tập trung miêu tả sự trưởng thành của một tế hệ như tiếp nối, phát huy thêm được những truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta và đó cũng đã phản ánh được sự trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên. Tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đó là Tnú và Dít, chính sự trưởng thành của họ gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân Strá làng Xô Man.
Nhân vật Tnú được khắc họa và xây dựng lên là nhân vật mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng đùm bọc và nuôi dạy khôn lớn. Ngày Tnú đến với cách mạng ngay từ những ngày gian khổ có biết bao nhiêu ác liệt nhất khi mà Mĩ Diệm đang ngày đêm khủng bố cách mạng ở khắp mọi nơi. Nhân vật Tnú đã chững kiến cảnh đau thương của dân làng. Để răn đe, cũng như đe dọa tinh thần kháng chiến của nhân dân Xô – man và người Tây Nguyên thì chúng đã có những hành động man rợ: “treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng, giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng”. Từ nhỏ thì Tnú đã tham gia vào cách mạng và dũng cảm nuôi dấu cán bộ và học hỏi ở anh Quyết rất nhiều điều. Chính sự dũng cảm, tinh thần yêu nước đã giúp cho Tnú có được một tinh thần gan góc, dũng cảm. Rồi trong một lần liên lạc Tnú bị bắt và bị cho vào ngục Kon Tum, khi được tại ngoại thì Tnú là một thanh niên, trưởng thành hơn về nhân cách. Tnú cũng luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình khi tiếp nhận lời trăng trối của anh Quyết. Tnú lúc này cũng đã trở thành người lãnh đạo cho chính cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Khi lớn lên Tnú và Mai – cô bạn hồi nhỏ đã thành vợ thành chồng.
Thử thách tiếp đến với Tnú đó là khi bọn giặc ở đồn Dác Hà xuống làng Xô Man truy bắt anh thì vợ con anh rơi vào tay chúng. Thực sự Tnú không thể cầm lòng trước cảnh giặc tra tấn vợ con cho nên Tnú lại phải ra đối đầu với bọn chúng. Có thể thấy được chính trong cuộc đối đầu này thì với phẩm chất kiên cường của anh càng sáng, càng đẹp hơn bao giờ hết. Khi giặc bắt Tnú, chúng lại đốt mười ngón tay anh và biến mười ngón tay đó trở thành hình ảnh của 10 ngọn đuốc. Nén nỗi đau không kêu nửa lời sau đó khi sự hống hách của kẻ thù lên đến đỉnh điểm thì tiếng “giết” vang lên lúc đó khiến dân làng nổi dậy. Chính sự nổi dậy của dân làng đã cứu thoát Tnú rồi sau đó Tnú cũng vào giải phóng quân đi giải phóng cho nhân dân, cũng như giải phóng đất nước với một nhận định sâu sắc hơn.
Trong tác phẩm thì cùng thế hệ của Tnú còn có Dít – một cô bí thư chi bộ xã kiêm chính trị viên xã đội làng Xô Man. Dít rất gan góc và còn là một cô bé cương nghị. Khi nhân vật Dít chứng kiến cái chết đau thương của chị Mai, Dít lúc đó cũng cứ lầm lì không nói gì cả. Đó là mổ ánh mắt ráo hoảnh trong khi mọi người cả cụ già, đều khóc hết.
Thông qua câu truyện thì nhân vật Tnú và Dít tiêu biểu cho thế hệ thanh niên làng Xô Man. Có thể nhận thấy được chính từ lòng căm thù của họ đến với cuộc chiến đấu của dân tộc và thêm nữa ở chính trong cuộc chiến đấu đó, họ trưởng thành. Độc giả nhận thấy được sự trưởng thành của họ có cội nguồn dường như cũng đồng thời có cả sự ý thức, cũng như dìu dắt của dân tộc.
Hình ảnh của cụ Mết chính là đại diện cho thế hệ cách mạng đi trước của làng Xô Man. Qủa không sai chút nào khi nói cụ Mết chính là pho sử sống, là chỗ dựa tinh thần của dân làng. Trong cuộc đời của cụ đã nếm trải qua nhiều đau khổ, đã thu lượm được nhiều kinh nghiệm quý báu, chính vì thế cho nên cụ luôn luôn nhắc nhờ con cháu nhớ tới quá khứ đau thương, bao nhiêu sự bất khuất cúa quê hương. Với cụ Mết, cụ đã đúc rút ra bài học đối với kẻ thù thì nếu chỉ có hai bàn tay trắng, chỉ với bàn tay không có gì thì không thể nào đối đầu với chúng được. Chúng ta phải cầm vũ khí đứng lên mà thôi. Câu nói đó được hội tụ, thể hiện đầy đủ trong câu: Chúng nó cầm súng, mình phái cầm giáo.
|
Assignment
Nguyen Trung Thanh chose for himself a land of resilience, indomitable people but also sincere and rustic - the Central Highlands to compose literary works. One of them cannot help but mention the work "The Snake Forest" composed during the years of resistance against the US to save the country.
People read and feel that "The Snake Forest" is considered a short story, but its information capacity is enormous. In other words, the work is an epic about the heroic fight of the Central Highlands people. Added to that is the maturity of a new revolutionary generation, young, enthusiastic, clever and resilient here.
The work "The Snake Forest" opens with the image of the Snake Forest surrounding the Xo Man village of the Stra people. Here there is a forest of snakehead trees that despite bombs and bullets, the snakehead tree seems to have overcome the brutal destruction of the enemy to be able to receive sunlight to maintain its life. The image of a forest full of vitality even though the enemy's cannons are always lurking "has become a custom, twice a day, either in the early morning and late afternoon, or standing still in the dusk, or at midnight and The cock crows". But it is worth mentioning here that "In the whole forest of tens of thousands of trees, there is not a single tree that is not injured. Some trees had half their trunks cut off. In the wounds, sap oozed out, overflowing, fragrant and sparkling under the harsh summer sun, then gradually bruised. and thickened into large clots of blood. There were saplings that had just grown to chest height and were cut in half by cannons. After five or ten days, the tree died. But there are also trees that are taller than a person's head, with luxuriant branches and leaves like birds with full fur and feathers. Cannons could not kill them, their wounds healed quickly like a strong body. They grow very quickly, replacing fallen plows. It's been as if for the past two or three years the snake forest has stretched out its large chest, protecting the village..."
Author Nguyen Ngoc describes the soapberry forest in a language that is rich in poetry, refinement, and sophistication in a language that is both descriptive and evocative, and at the same time seems to open up new connections. Rich ideas for readers. Writing about the image of the snake forest in the work, this is indeed a realistic image. The snake plant, along with its characteristics, has also shown that this is a true image of a tree that always craves light and is also a symbol for the Soviet people.
Analysis of the work Xa Nu Forest
Nguyen Trung Thanh was very talented when he realistically recreated the resilient fight of the Central Highlands people right in the days of fighting the Americans. The author also focuses on describing the maturity of a generation that continues and further promotes the heroic and indomitable traditions of our ancestors, and that also reflects the maturity of the Central Highlands people. Typical of that generation of young people are Tnú and Dit, their growth is closely linked to the struggle of the Stra people of Xo Man village.
The character Tnú is portrayed and built up as a character who lost his parents at a young age, was protected and raised by the villagers. The day Tnú came to the revolution right from the most arduous and fierce days when My Diem was terrorizing the revolution day and night everywhere. The character Tnú witnessed the painful scenes of the villagers. To deter and threaten the resistance spirit of the Soviet and Central Highlands people, they committed barbaric actions: "hanging Mr. hair hanging on the tip of a gun". From a young age, Tnú participated in the revolution and courageously raised the cadre's reputation and learned many things from Mr. Quyet. It is the courage and patriotism that help Tnú have a courageous and courageous spirit. Then during a contact, Tnú was arrested and sent to Kon Tum prison. When he was released on bail, Tnú was a young man, more mature in personality. Tnú also always understood his mission when receiving Mr. Quyet's last words. At this time, Tnú also became the leader of the fight of the Xo Man villagers. When they grew up, Tnú and Mai, their childhood friend, became husband and wife.
The next challenge for Tnú was that when the enemies at Dac Ha station went down to Xo Man village to arrest him, his wife and children fell into their hands. Actually, Tnú could not bear the sight of the enemy torturing his wife and children, so Tnú had to confront them. It can be seen that in this confrontation, his resilient qualities are brighter and more beautiful than ever. When the enemy captured Tnú, they burned ten of his fingers and turned those ten fingers into the image of 10 torches. Suppressing the pain without saying a word, then when the enemy's arrogance reached its peak, the sound of "kill" rang out at that moment, causing the villagers to rebel. It was the uprising of the villagers that saved Tnú and then Tnú also joined the liberation army to liberate the people, as well as liberate the country with a deeper understanding.
In the work, in the same generation as Tnú, there is also Dit - a commune party secretary and political commissar of Xo Man village. Dít is very brave and is also a determined girl. When the character Dit witnessed the painful death of Ms. Mai, Dit remained taciturn and did not say anything. It was a dry eye surgery while everyone, including the old man, cried.
Through the story, the characters Tnú and Dit represent the youth generation of Xo Man village. It can be seen that it was from their hatred for the nation's struggle and it was in that struggle that they grew up. Readers realize that their growth has roots that seem to also include the awareness and guidance of the nation.
The image of Mr. Met represents the previous revolutionary generation of Xo Man village. It is not wrong to say that Mr. Met is a living history, a spiritual support of the villagers. In his life, he has experienced a lot of suffering and gained many valuable experiences. That's why he always reminds his children and grandchildren of the painful past and the indomitableness of his homeland. . With Mr. Met, he learned the lesson that for the enemy, if you only have two empty hands, with only empty hands, you cannot confront them. We must take up arms and stand up. That saying is converged and fully expressed in the sentence: They hold guns, we hold spears.
|
Bài làm
Hình ảnh người lính trong kháng chiến hiện lên giống như một bức tượng đài, một biểu tượng đẹp. Chính vì thế mà trong các tác phẩm thơ ca đã ưu ái dành khắc họa hình ảnh người lính chân thực và đẹp đẽ nhất. Chọn ra những tác phẩm đặc sắc để viết về người lính trong kháng chiến chống Pháp thì không thể quên được tác phẩm Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. Mà ở đó khổ 3 của bài thơ Tây Tiến như một đoạn thơ hay miêu tả được chân thực hình ảnh người lính Tây Tiến trong gian khó nhưng vẫn oai hùng.
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành!
Người đọc sẽ thấy được một sự khác biệt nếu như ở những đoạn thơ đầu, hình ảnh đoàn quân Tây Tiên ở đây dường như cũng chỉ mới hiện lên qua nét vẽ gián tiếp, mới nói đến những gian khổ, hi sinh và địa bàn hoạt động. Còn với khổ thơ thứ hai ở đây thì hình ảnh của đoàn quân ấy lúc này đây như đã hiện ra với những đường nét cụ thể, gân guốc và rõ ràng hơn bao giờ hết.
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùng
Nhận xét đầu tiên về đoạn thơ thì đây là những câu thơ tả thực. Quang Dũng đã mang hiện thực vào trong câu thơ một cách trần trụi nhất. Hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến hồi ấy cũng đã hoạt động ở những vùng núi rừng hiểm trở, rừng thiêng nước độc. Ở nơi hiểm nguy đó thì hình ảnh người lính chết trận thì ít mà chết vì bệnh tật thì nhiều, ở đó có những con suối rửa chân rụng lông, khi gội đầu rụng tóc. Hình ảnh “Quân xanh” ở đây tác giả Quang Dũng cho thất được hình ảnh màu xanh lá, ngụy trang vì làn da như xanh xoa và thiếu máu. Thực sự chính những hình ảnh thực đó cùng với giọng điệu của bài thơ đã diễn tả được sự lãng mạn, phí phách riêng. Những người lính Tây Tiến họ đều là thanh niên học sinh, sinh viên trẻ Hà thành, trong hành trang của họ khi đi hàng quân vẫn còn đượm mùi sách vở và sự hào hoa của chàng trai trẻ Hà thành có tiếng. Tuy là khó khăn, gian khổ là thế, nhưng ở các chiến binh Tây Tiến vẫn không nguôi đi những tình cảm lãng mạn nhất:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Phân tích khổ 3 bài thơ Tây Tiến
Sử dụng hai trạng thái “Mộng” và “mơ” cùa người lính Tây Tiến dường như cũng đã được gửi về hai phương trời. Một là nơi biên cương, nơi còn đầy bóng giặc – mộng giết giặc lập công danh đem lại hòa bình cho đất nước. Hai là hình ảnh Hà Nội, quê hương yêu dấu, người lính như mơ những bóng dáng thân yêu. Qủa thực chính với cái “Dáng kiều thơm” thì đó cũng chính là một vầng sáng lung linh trong ký ức và như đã tố cáo, vạch trần sự đa tình, hào hoa của người lính. Những nỗi ngớ đó như được cân bằng lại cho cảm giác thư thái trong tâm hồn sau mỗi chặng đường hành quân. Xưa nay khi đi chiến trận, mấy ai trở về, các chiến sĩ Tây Tiến cũng không khỏi tránh phải những mất mát cũng như sự hi sinh:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Đằng sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ, đến đây người đọc có thể nhận thấy được âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống để giúp cho độc giả thấy rõ hơn bản chất của sự việc. Ta nhận thấy được đây cũng chính là một cảnh phim như đang cố tình quay chậm lại để nói về sự hi sinh của người lính. Trên con đường hành quân có biết bao nhiêu nguy hiểm.
Tiếp theo với hai câu thơ cuối tiếp tục âm hưởng bi tráng, dường như cũng đã tô đậm thêm sự mất mát hi sinh nhưng đó lại là một cái chết cao đẹp, tô đậm lên hình ảnh một cái chết bất tử của người lính Tây Tiến.
Áo bào thay chiếu anh về đất.
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Chỉ với hai câu mới đọc qua tưởng như chỉ làm nhiệm vụ miêu tả đồng thời như để thông báo bình thường nhưng sức gợi thật lớn. Đâu đây chúng ta vẫn như còn thấy những giọt nước mắt đọng sau hàng chữ của Quang Dũng. Chỉ với hai câu thơ rắn rỏi này người đọc cũng cảm nhận được một sự thương cảm vô cùng sâu xa. Làm sao chúng ta có thể dưng dưng được chuyện người lính “về đất” cơ chứ? Anh về đất như đã hóa thân cho dáng hình xứ sở và làm lên hình ảnh của đất nước muôn đời. Thêm với đó là tiếng gầm của con sông Mã dường như đang vĩnh biệt những người yêu con của giống nòi.
|
Assignment
The image of a soldier in the resistance appears like a monument, a beautiful symbol. That is why in poetic works, priority is given to portraying the most realistic and beautiful images of soldiers. When choosing outstanding works to write about soldiers in the resistance war against the French, we cannot forget the work Tay Tien by poet Quang Dung. In there, stanza 3 of the poem Tay Tien is like a good poem that truly describes the image of Tay Tien soldiers in hardship but still heroic.
The Tay Tien army did not grow hair
The green army has a fierce green color
Glaring eyes send dreams across the border
At night, Hanoi dreams of a beautiful and fragrant figure
Scattered across the border, graves are far away
Going to the battlefield does not regret the green life
His robe replaced his mat and brought him back to earth
Ma River roars its solo song!
Readers will see a difference if, in the first verses, the image of the Tay Tien army here seems to only appear through indirect drawings, mentioning the hardships, sacrifices, and locations. work. As for the second stanza here, the image of that army now appears with more specific, sinewy and clear lines than ever.
The Tay Tien army did not grow hair
The green army is majestic and fierce
The first comment about the poem is that these are realistic verses. Quang Dung brought reality into his verse in the most naked way. The image of Tay Tien soldiers at that time also operated in dangerous mountainous areas, sacred forests and toxic waters. In that dangerous place, there are few images of soldiers dying in battle but many dying from illness. There are streams to wash their feet and lose their hair, and when they wash their hair, their hair falls out. In the image of "Green Army" here, author Quang Dung shows that the image is green, camouflaged because the skin looks pale and anemic. In fact, it is those real images along with the poem's tone that describe the romance and wastefulness. The Tay Tien soldiers were all young Hanoi students. Their luggage when going into the army still had the smell of books and the magnanimity of a famous Hanoi young man. Even though it was difficult and arduous, the most romantic feelings still remained in the Tay Tien warriors:
Glaring eyes send dreams across the border
At night, Hanoi dreams of a beautiful and fragrant figure.
Analysis of stanza 3 of the poem Tay Tien
Using the two states "Dream" and "dreaming" of Tay Tien soldiers seems to have been sent to two directions. One is on the border, a place still full of enemies - the dream of killing the enemy to gain fame and bring peace to the country. Second is the image of Hanoi, the beloved homeland, soldiers dreaming of their beloved silhouettes. Indeed, with the "fragrant figure", it is also a shimmering light in the memory and as if denouncing and exposing the amorousness and gallantry of the soldier. Those worries seem to be balanced to create a feeling of relaxation in the soul after each march. In the past, when going to war, few people returned, and Tay Tien soldiers could not avoid losses and sacrifices:
Scattered across the border, graves are far away
Going to the battlefield does not regret the green life
Behind the solid, beautiful verses, at this point the reader can see that the tone of the verse suddenly becomes deep and low to help readers see more clearly the nature of the incident. We realize that this is also a scene where the movie seems to be deliberately slowing down to talk about the soldier's sacrifice. On the march there are so many dangers.
Next, the last two verses continue the tragic sound, also seeming to highlight the loss of sacrifice, but it is a noble death, highlighting the image of an immortal death of a Western soldier. Up.
His robe replaced his mat and brought him back to earth.
Ma River roars its solo song
With only two sentences at first read, it seems like they are only doing the task of describing and at the same time as making a normal announcement, but the evocative power is great. Somewhere we still see tears lingering behind Quang Dung's words. With just these two solid verses, the reader can feel an extremely deep sympathy. How can we be indifferent to the story of soldiers "returning to land"? He returned to the land as if he had transformed the shape of the land and created the image of the country forever. Added to that is the roar of the Ma River, which seems to be saying goodbye to the lovers of the race.
|
Bài làm
Hai tiếng “Đất nước” thật thiêng liêng biết bao nhiêu trong trái tim của những người dân. Đề tài đất nước dường như cũng lại trở thành một đề tài hay, sâu sắc và rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã đến khai thác, mỗi người lại tìm thấy hình hài đất nước trong vẻ đẹp khác nhau. Góp cho mình tình yêu đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm đã sáng tác, khám phá Đất Nước thông qua chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng mang tên “Đất nước”. Qua đây tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa, cảm nhận đồng thời ngợi ca vẻ đẹp nhiều mặt của đất nước. Đồng thời ông cũng đã trình bày ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc giữa cơn thử thách lớn của lịch sử.
Có thể nhận thấy được rằng chính hình tượng đất nước, trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm dường như cũng đã lại gắn với những nhân vật. Chúng ta có thể cảm nhận được một hình ảnh hết sức cụ thể với những sinh hoạt rất đỗi thường ngày của mỗi chúng ta. Thực sự chính tình yêu lớn lao nhưng không hề xa xôi, cũng không hề trừu tượng mà được khơi gợi từ những sự vật, gợi ra từ sinh hoạt gần gũi và cả những sinh hoạt của đất nước tự ngàn xưa nữa. Hình ảnh đất nước có trong những câu chuyện cổ tích hay có hậu mà mẹ thường hay kể cho ta từ tuổi bé thơ. Đất nước với Nguyễn Khoa Điềm còn có trong miếng trầu bây giờ bà ăn, trong lũy tre làng bao đời thành lũy, thành chông cho dân mình đánh giặc bảo vệ quê hương. Không chỉ vậy thôi đâu, hình ảnh đất nước gắn cùng tục búi tóc sau đầu, có trong câu ca dao gừng cay muối mặn, gắn cùng cái kèo, cái cột, hạt gạo một nắng hai sương với biết bao khó nhọc. Chính cách cảm nhận đất nước từ những cái bình thường quanh ta đã dẫn cho thi nhân Nguyễn Khoa Điềm đến biện pháp nghệ thuật chiết tự. Sử dụng từ ghép đất nước được tách thành đôi đế’ nhà thơ định nghĩa thật cụ thể từng thành tố một tạo lên tổng thể của Đất Nước.
Đất và Nước:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khai
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Có thể nhận thấy được chính với dòng suy tưởng đưa Nguyễn Khoa Điềm trở về quá khứ, khi trở về với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ dường như cũng đã lại khẳng định cội nguồn thống nhất của con người Việt. Hình ảnh đất nước trường tồn trong thời gian đằng đẵng, trường tồn trong không gian mênh mông. Có thể nhận thấy được đây cũng chính là những hình ảnh, những sự vật trên rất đỗi bình thường ta hay gặp thường ngay. Nhưng đâu phải tầm thường; trong đó ẩn chứa sâu xa chiều dài lịch sử và ẩn chứa trong cả truyền thông văn hóa với bao phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Tất cả điều này đã gợi lên truyền thống lịch sử – văn hóa vững bền, một không gian địa lí mênh mông của đất nước từ những điều giản dị, thường ngày, đó là thành công đặc biệt của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn trích còn thể hiện được lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đoạn trích đất Nước của Nhân dân đã trở thành tư tưởng nổi bật, cũng lại còn xuyên suốt đoạn trích Đất Nước. Nguyễn Khoa Điềm như đã giới thiệu một cách gần gũi, bình dị nhất về hình ảnh của đất nước.
Cảm nhận về bài thơ Đất Nước
Chúng ta có thể thấy được chưa bao giờ như trong thời đại dân tộc Việt Nam ta đánh Mĩ, đồng thời ta cũng cảm nhận thấy được với vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của nhân dân được thể hiện đầy đủ đến thế. Thêm với đó ta nhận thấy được một cuộc đối chọi quyết liệt với một kẻ thù giàu có và vô cùng hung bạo vào bậc nhất đòi hỏi chúng ta phải huy động triệt để sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Tất cả điều này cũng đã dẫn đến được hình ảnh Đất Nước của Nhân dân đã trở thành tư tưởng chung của thời đại. Tư tưởng này có tác dụng chi phối toàn bộ nền văn học cách mạng và đồng thời cũng đã lại làm nên rất nhiều tác phẩm có giá trị. Đặc biệt hơn khi tác giả gợi nhắc đến bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, nhà thơ tuyệt nhiên không điểm lại các triều đại, những anh hùng nổi tiếng mà ông lại luôn tự hào nhắc đếnvô vàn những lớp người vô danh, bình dị nhưng họ lại làm ra đất nước:
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trờ về nuôi cái cùng con
Với nhân dân họ luôn chăm chỉ cần cù làm lụng và ra trận đánh giặc, chuyện sống và chết đều thật giản dị, thật bình tâm vì lẽ tồn vong của đất nước. Thế rồi khi đất nước thanh bình, những người dân họ lại chăm chỉ cui cút làm ăn,toan lo nghèo khó. Rồi khi đất nước gặp nạn ngoại xâm, thêm một lần nữa họ đứng dậy cầm vũ khí, sẵn sàng xả thân vì độc lập, bảo vệ chủ quyền như lẽ tự nhiên. Nguyễn Khoa Điềm đã nói chính những con người không ai nhớ mặt đặt tên ấy đã làm ra Đất Nước. Ở trong trường kì lịch sử thì chính nhân dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo đồng thời cũng lại luôn giữ gìn truyền lại mọi tài sản vật chất, mọi giá trị tinh thần để làm nên Đất Nước muôn đời thông qua đoạn thơ:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân.
Có biết bao nhiêu lớp người vô danh, thầm lặng ấy đã hóa thân cho đất nước vững bền. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận sự hóa thân của nhân dân dường như đã lại hiển hiện trên gương mặt địa lí của đất nước. Chúng ta biết có không ít tác phẩm thơ văn dường như đã nhắc tới những danh lam thắng cảnh, nhắc đến những sự tích núi sông của đất nước Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm văn hiến. Thế nhưng nhìn nhận và gắn chúng cùng số phận, gắn với các địa danh đó là những phẩm chất của những người dân bình dị nhất ở trong đó. Thực sự đó chính là sự hi sinh cao đẹp của quần chúng nhân dân thì chỉ có Nguyễn Khoa Điềm mà thôi.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
Nguyễn Khoa Điềm như muốn làm sáng tỏ tư tưởng Đất Nước của Nhân dân từ nhiều phía, rõ ràng ở nhiều chiều như thế, đoạn trích đã đem đến cho người đọc niềm tin tưởng vào chính sự trường tồn của đất nước Việt Nam ta. Hình ảnh Đất Nước là của Nhân dân, mà đáng nói Nhân dân thì mênh mông, vĩ đại và luôn luônbất tử. Theo một lẽ tự nhiên thì đất nước này mãi mãi trường tồn cùng với Nhân dân.
Không chỉ thể mà Nguyễn Khoa Điềm còn thể hiện hình ảnh Đất Nước của Nhân dân, chính Đất Nước của ca dao thần thoại từ góc độ thế hệ trẻ trong thời đại dân tộc anh hùng đã đứng dậy để kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm dường như đã gợi nhắc trách nhiệm đối với vận mệnh đất nước. Ta nhận thấy được phải chăng đây chính là mục đích của đoạn thơ đặc sắc – Đất Nước này khi được đặt trong những năm tháng chiến tranh thật quyết liệt và hào hùng. Tất cả ý thức cũng như trách nhiệm này cũng đã được tác giả Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận và dẫn dắt vô cùng tự nhiên. Mới đầu tiên thì hình ảnh đất nước thân thiết ở ngoài ta ở xung quanh ta. Thế nhưng càng về sau thì hình ảnh đất nước lại ở trong ta và có trong mỗi người yêu nước;.
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cẩm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Thông qua đoạn thơ trên Nguyễn Khoa Điềm như đã bày tỏ mỗi con người hôm nay đều đang thừa hưởng biết bao nhiêu di sản vật chất và tinh thần quý báu của đất nước, của nhân dân và lại còn của bao thế hệ đi trước. Có lẽ chính vì thế phải biết cống hiến đời mình vì những lẽ tồn vong của đất nước. Thêm với đó ta nhận thấy được chính các ý thức trách nhiệm được nhà thơ trình bày thật thiết tha và đằm thắm và đó cũng chính là những mệnh lệnh được cất lên từ chính trái tim vô cùng xúc động.
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
Nguyễn Khoa Điềm như đã tiếp thu nguồn mạch cảm hứng yêu nước chưa bao giờ vơi cạn trong lịch sử văn học Việt Nam. Khi ở trong bối cảnh của thời đại dân tộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, người đọc nhận thấy được đoạn trích Đất Nước trong trường ca “Mặt đường khát vọng” dường như đã thể hiện những nhận thức, khám phá mới mẻ về vẻ đẹp đất nước, quê hương. Nguyễn Khoa Điềm luôn luôn tìm tòi và suy ngẫm tới mọi phương diện vô cùng sâu sắc từ lịch sử, địa lí, phong tục… tất cả như đã để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Đồng thời như lại còn gợi nhắc ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Thế nhưng hơn tất cả tất cả sự hấp dẫn của đoạn trích “Đất nước” này không chỉ ở nội dung cảm nhận mà còn chính là ở cách thể hiện của tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã gửi gắm vào đó.
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
|
Bài làm
Hai tiếng “Đất nước” thật thiêng liêng biết bao nhiêu trong trái tim của những người dân. Đề tài đất nước dường như cũng lại trở thành một đề tài hay, sâu sắc và rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã đến khai thác, mỗi người lại tìm thấy hình hài đất nước trong vẻ đẹp khác nhau. Góp cho mình tình yêu đất nước thì Nguyễn Khoa Điềm đã sáng tác, khám phá Đất Nước thông qua chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng mang tên “Đất nước”. Qua đây tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa, cảm nhận đồng thời ngợi ca vẻ đẹp nhiều mặt của đất nước. Đồng thời ông cũng đã trình bày ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc giữa cơn thử thách lớn của lịch sử.
Có thể nhận thấy được rằng chính hình tượng đất nước, trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm dường như cũng đã lại gắn với những nhân vật. Chúng ta có thể cảm nhận được một hình ảnh hết sức cụ thể với những sinh hoạt rất đỗi thường ngày của mỗi chúng ta. Thực sự chính tình yêu lớn lao nhưng không hề xa xôi, cũng không hề trừu tượng mà được khơi gợi từ những sự vật, gợi ra từ sinh hoạt gần gũi và cả những sinh hoạt của đất nước tự ngàn xưa nữa. Hình ảnh đất nước có trong những câu chuyện cổ tích hay có hậu mà mẹ thường hay kể cho ta từ tuổi bé thơ. Đất nước với Nguyễn Khoa Điềm còn có trong miếng trầu bây giờ bà ăn, trong lũy tre làng bao đời thành lũy, thành chông cho dân mình đánh giặc bảo vệ quê hương. Không chỉ vậy thôi đâu, hình ảnh đất nước gắn cùng tục búi tóc sau đầu, có trong câu ca dao gừng cay muối mặn, gắn cùng cái kèo, cái cột, hạt gạo một nắng hai sương với biết bao khó nhọc. Chính cách cảm nhận đất nước từ những cái bình thường quanh ta đã dẫn cho thi nhân Nguyễn Khoa Điềm đến biện pháp nghệ thuật chiết tự. Sử dụng từ ghép đất nước được tách thành đôi đế’ nhà thơ định nghĩa thật cụ thể từng thành tố một tạo lên tổng thể của Đất Nước.
Đất và Nước:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Nước là nơi con cá ngư ông móng nước biển khai
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Có thể nhận thấy được chính với dòng suy tưởng đưa Nguyễn Khoa Điềm trở về quá khứ, khi trở về với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ dường như cũng đã lại khẳng định cội nguồn thống nhất của con người Việt. Hình ảnh đất nước trường tồn trong thời gian đằng đẵng, trường tồn trong không gian mênh mông. Có thể nhận thấy được đây cũng chính là những hình ảnh, những sự vật trên rất đỗi bình thường ta hay gặp thường ngay. Nhưng đâu phải tầm thường; trong đó ẩn chứa sâu xa chiều dài lịch sử và ẩn chứa trong cả truyền thông văn hóa với bao phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Tất cả điều này đã gợi lên truyền thống lịch sử – văn hóa vững bền, một không gian địa lí mênh mông của đất nước từ những điều giản dị, thường ngày, đó là thành công đặc biệt của Nguyễn Khoa Điềm. Đoạn trích còn thể hiện được lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đoạn trích đất Nước của Nhân dân đã trở thành tư tưởng nổi bật, cũng lại còn xuyên suốt đoạn trích Đất Nước. Nguyễn Khoa Điềm như đã giới thiệu một cách gần gũi, bình dị nhất về hình ảnh của đất nước.
Cảm nhận về bài thơ Đất Nước
Chúng ta có thể thấy được chưa bao giờ như trong thời đại dân tộc Việt Nam ta đánh Mĩ, đồng thời ta cũng cảm nhận thấy được với vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của nhân dân được thể hiện đầy đủ đến thế. Thêm với đó ta nhận thấy được một cuộc đối chọi quyết liệt với một kẻ thù giàu có và vô cùng hung bạo vào bậc nhất đòi hỏi chúng ta phải huy động triệt để sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Tất cả điều này cũng đã dẫn đến được hình ảnh Đất Nước của Nhân dân đã trở thành tư tưởng chung của thời đại. Tư tưởng này có tác dụng chi phối toàn bộ nền văn học cách mạng và đồng thời cũng đã lại làm nên rất nhiều tác phẩm có giá trị. Đặc biệt hơn khi tác giả gợi nhắc đến bốn nghìn năm lịch sử của đất nước, nhà thơ tuyệt nhiên không điểm lại các triều đại, những anh hùng nổi tiếng mà ông lại luôn tự hào nhắc đếnvô vàn những lớp người vô danh, bình dị nhưng họ lại làm ra đất nước:
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trờ về nuôi cái cùng con
Với nhân dân họ luôn chăm chỉ cần cù làm lụng và ra trận đánh giặc, chuyện sống và chết đều thật giản dị, thật bình tâm vì lẽ tồn vong của đất nước. Thế rồi khi đất nước thanh bình, những người dân họ lại chăm chỉ cui cút làm ăn,toan lo nghèo khó. Rồi khi đất nước gặp nạn ngoại xâm, thêm một lần nữa họ đứng dậy cầm vũ khí, sẵn sàng xả thân vì độc lập, bảo vệ chủ quyền như lẽ tự nhiên. Nguyễn Khoa Điềm đã nói chính những con người không ai nhớ mặt đặt tên ấy đã làm ra Đất Nước. Ở trong trường kì lịch sử thì chính nhân dân là lực lượng chủ yếu sáng tạo đồng thời cũng lại luôn giữ gìn truyền lại mọi tài sản vật chất, mọi giá trị tinh thần để làm nên Đất Nước muôn đời thông qua đoạn thơ:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân.
Có biết bao nhiêu lớp người vô danh, thầm lặng ấy đã hóa thân cho đất nước vững bền. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã cảm nhận sự hóa thân của nhân dân dường như đã lại hiển hiện trên gương mặt địa lí của đất nước. Chúng ta biết có không ít tác phẩm thơ văn dường như đã nhắc tới những danh lam thắng cảnh, nhắc đến những sự tích núi sông của đất nước Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm văn hiến. Thế nhưng nhìn nhận và gắn chúng cùng số phận, gắn với các địa danh đó là những phẩm chất của những người dân bình dị nhất ở trong đó. Thực sự đó chính là sự hi sinh cao đẹp của quần chúng nhân dân thì chỉ có Nguyễn Khoa Điềm mà thôi.
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
Nguyễn Khoa Điềm như muốn làm sáng tỏ tư tưởng Đất Nước của Nhân dân từ nhiều phía, rõ ràng ở nhiều chiều như thế, đoạn trích đã đem đến cho người đọc niềm tin tưởng vào chính sự trường tồn của đất nước Việt Nam ta. Hình ảnh Đất Nước là của Nhân dân, mà đáng nói Nhân dân thì mênh mông, vĩ đại và luôn luônbất tử. Theo một lẽ tự nhiên thì đất nước này mãi mãi trường tồn cùng với Nhân dân.
Không chỉ thể mà Nguyễn Khoa Điềm còn thể hiện hình ảnh Đất Nước của Nhân dân, chính Đất Nước của ca dao thần thoại từ góc độ thế hệ trẻ trong thời đại dân tộc anh hùng đã đứng dậy để kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Tác giả Nguyễn Khoa Điềm dường như đã gợi nhắc trách nhiệm đối với vận mệnh đất nước. Ta nhận thấy được phải chăng đây chính là mục đích của đoạn thơ đặc sắc – Đất Nước này khi được đặt trong những năm tháng chiến tranh thật quyết liệt và hào hùng. Tất cả ý thức cũng như trách nhiệm này cũng đã được tác giả Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận và dẫn dắt vô cùng tự nhiên. Mới đầu tiên thì hình ảnh đất nước thân thiết ở ngoài ta ở xung quanh ta. Thế nhưng càng về sau thì hình ảnh đất nước lại ở trong ta và có trong mỗi người yêu nước;.
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cẩm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Thông qua đoạn thơ trên Nguyễn Khoa Điềm như đã bày tỏ mỗi con người hôm nay đều đang thừa hưởng biết bao nhiêu di sản vật chất và tinh thần quý báu của đất nước, của nhân dân và lại còn của bao thế hệ đi trước. Có lẽ chính vì thế phải biết cống hiến đời mình vì những lẽ tồn vong của đất nước. Thêm với đó ta nhận thấy được chính các ý thức trách nhiệm được nhà thơ trình bày thật thiết tha và đằm thắm và đó cũng chính là những mệnh lệnh được cất lên từ chính trái tim vô cùng xúc động.
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
Nguyễn Khoa Điềm như đã tiếp thu nguồn mạch cảm hứng yêu nước chưa bao giờ vơi cạn trong lịch sử văn học Việt Nam. Khi ở trong bối cảnh của thời đại dân tộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ, người đọc nhận thấy được đoạn trích Đất Nước trong trường ca “Mặt đường khát vọng” dường như đã thể hiện những nhận thức, khám phá mới mẻ về vẻ đẹp đất nước, quê hương. Nguyễn Khoa Điềm luôn luôn tìm tòi và suy ngẫm tới mọi phương diện vô cùng sâu sắc từ lịch sử, địa lí, phong tục… tất cả như đã để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Đồng thời như lại còn gợi nhắc ý thức trách nhiệm trước vận mệnh đất nước. Thế nhưng hơn tất cả tất cả sự hấp dẫn của đoạn trích “Đất nước” này không chỉ ở nội dung cảm nhận mà còn chính là ở cách thể hiện của tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã gửi gắm vào đó.
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
|
Bài làm
Có thể nói bài thơ “Việt Bắc” được đánh giá chính là đỉnh cao của thơ tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử là tháng 10 năm 1954 khi đó những người cán bộ đã rời căn cứ miền núi trở về miền xuôi hoạt động cách mạng. Từ đó nhà thơ Tố Hữu đã tức cảnh sinh tình mà viết về bài thơ Việt Bắc. Với bài thơ này đã thể hiện được nghĩa tình gắn bó thắm thiết giữa Đảng và nhân dân.
Bài thơ miêu tả cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy. Trong khoảng 15 năm ấy cũng sẽ có biết bao kỉ niệm ân tình, đó là quãng thời gian họ cũng đã từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi. Và khi chia tay họ như gợi lại cho nhau bao nhiêu hồi ức đẹp đẽ và đồng thời khẳng định một nghĩa tình thủy chung và hướng về một tương lai tươi sáng. Thế rồi câu chuyện ân tình cách mạng của tác giả Tố Hữu cũng đã được thể hiện bày tỏ dưới câu chuyện của tình yêu đôi lứa. Theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca có một bên hỏi, bên đáp. Đó là một người bày tỏ tâm sự và một người hô ứng, đồng vọng. Việc hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm đẹp đẽ, kỷ niệm như không thể nào quên được của một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Tất cả những điều này như đã mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương vô cùng sâu sắc. Ở bên ngoài chính là sự đối đáp nhưng bên trong lại là một lời độc thoại như khéo léo biểu hiện được biết bao nhiêu tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ và của những người tham gia kháng chiến.
Thông qua dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, thì người đọc nhận thấy được cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp. Thêm với đó chính là một nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi lúc này đây cũng đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc với vẻ đẹp vừa hiện thực, một vẻ đẹp lại rất đỗi thơ mộng như gợi ra rõ những nét riêng biệt và vô cùng độc đáo, khác hẳn với những miền quê khác trên đất nước Việt Nam. Miêu tả vẻ đẹp này thì cũng chỉ có những người con Việt Bắc hay từng gắn bó với núi rừng Việt Bắc thì mới có thể hiểu được, cảm nhận được về ánh nắng ban chiều, cây cối, vạn vật nơi đây:
Nhớ gì như nhớ người yêu
………………….
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc
Thế nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc mà tác giả Tố Hữu miêu tả đó chính là một sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người. Thế rồi đó là những ấn tượng không thể phai mờ về người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình thấm đượm:
Ta về, mình có nhớ ta
……………………..
Nhớ ai Tiếng hất ân tình thuỷ chung
Người đọc cũng có thể nhận thấy được hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, bao nhiêu sự phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa. Ta nhận thấy được như gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình thường người lao động người làm nương, người đan nón, người hái măng,… Cũng chính bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, chính những con người lao động này như đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến:
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng,…
Thông qua đây ta nhận thấy được cái âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, một khúc ca thật đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Cũng theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình độc giả dễ dàng lạc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian thật rộng lớn. Thông qua các hình ảnh hào hùng, sôi nổi thể hiện khí thế quân dân chung sức chung lòng để đánh đuổi kẻ thù chung. Không chỉ thể đoạn thơ còn thể hiện được sức sống mạnh mẽ, đầy âm hưởng anh hùng ca của bài thơ để thể hiệ khí thế mạnh mẽ cho cả dân tộc đứng lên vì độc lập, tự do.
Những đường Việt Bắc của ta
…………………………….
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Chính dân tộc ấy đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ vượt qua bao nhiêu khó khăn để có thể lập lên được biết bao nhiêu chiến công. Một điều đặc biệt ở đây đó chính là tác giả Tố Hữu đã miêu tả các chiến công này như gắn liền với các đại danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,… Không chỉ dường lại ở việc miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Tất cả những điều đó đã thể hiện được sức mạnh của lòng căm thù giặc thông qua các hình ảnh: miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung, sự son sắt: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên – tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên chống giặc ngoại xăm bảo vệ đất nước.
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…………………………
|
Assignment
It can be said that the poem "Viet Bac" is considered the pinnacle of To Huu poetry and also an outstanding achievement of the poetry of the resistance war against the French. Born in historical circumstances in October 1954, the cadres left their mountain bases to return to the lowlands to engage in revolutionary activities. From then on, poet To Huu was angry at the scene of love and wrote about the poem Viet Bac. This poem demonstrates the close bond between the Party and the people.
The poem describes the farewell of people who lived together for fifteen years. During those 15 years, there will also be many fond memories, a time when they also shared all the bitterness and sweetness. And when they parted, they seemed to remind each other of so many beautiful memories and at the same time affirmed a loyal relationship and looked forward to a bright future. Then the story of author To Huu's revolutionary love was also expressed in the story of a couple's love. According to the familiar response style of folk songs, there is one side asking and the other side answering. That is one person expressing his feelings and one person responding and echoing. The questioning and answering opened up many beautiful, unforgettable memories of a time of revolution and arduous but heroic resistance. All of this seems to have opened up a lot of extremely deep feelings of nostalgia. On the outside, there is a response, but on the inside, there is a monologue that skillfully expresses many thoughts and feelings of the poet himself and those participating in the resistance.
Through the lyrical subject's recollection, the reader sees the beautiful scene and people of Viet Bac appear. In addition to that, there is a passionate nostalgia of the officer who is about to return home at this time, which has also deeply engraved the nature of the mountains and forests of Viet Bac with a beauty that is both realistic, a beauty that is very poetic as if clearly evoking the Distinctive and extremely unique features, different from other countryside in Vietnam. Describing this beauty, only people from Viet Bac who have been attached to the mountains and forests of Viet Bac can understand and feel the afternoon sunlight, trees, and everything here:
Missing something like missing a lover
………………….
Ngoi Thia, Day River, and Le Stream are all empty.
Feelings about Viet Bac's poem
But perhaps the most beautiful part of the nostalgia for Viet Bac that author To Huu describes is the intimate blend between scene and people. Then there are the indelible impressions of the Viet Bac people who are diligent in their work and faithful in their love:
I'm back, you miss me
……………………..
Remember someone The sound of faithful love
Readers can also see the image of Viet Bac's nature appearing with so much diverse beauty, so much richness and vitality, changing with each weather and each season. We can see that attached to each scene are the images of ordinary people, laborers, farmers, hat weavers, bamboo pickers, etc. Just by their seemingly small actions, it is their own actions. These working people seem to have contributed to the great strength of the resistance:
Love each other, share the cassava roots back
Sharing half bowl of rice, covered with blankets sui,…
Through this we can see the lyrical sound echoing throughout the poem, creating a sweet song, a truly loving song of comradeship, compatriotism, love of nature, and love of country. Also following the lyrical subject's remembrance, readers can easily get lost in the scene of the Viet Bac battle with its vast space. Through heroic and vibrant images, the spirit of the army and people is shown to work together to expel the common enemy. Not only does the poem's form also express the poem's strong vitality, full of epic resonance, to express the strong spirit for the entire nation to stand up for independence and freedom.
Our Viet Bac roads
…………………………….
The headlights turn on like tomorrow.
It was that nation that overcame so many hardships, overcame so many difficulties to be able to achieve so many victories. A special thing here is that author To Huu described these victories as being associated with great names: Phu Thong, Giang Pass, Lo River, Rang Street, Hoa Binh, Tay Bac, Dien Bien,... Not only did To Huu describe the heroic spirit of the resistance war, but he also deeply explained the sources of strength that led to victory. All of these things have shown the power of hatred for the enemy through images: a piece of rice dipped in salt, a heavy feud, the power of faithful love, the determination: We are here, we are there, bitterness. Sweet and spicy, the strength of the great solidarity of the people, the close harmony between people and nature - all create the image of the country standing up against foreign invaders to protect the country.
Remember when the enemy comes to attack
…………………………
|
Bài làm
Tây Tiến của tác giả Quang Dũng được biết đến là một bản anh hùng ca ca ngợi những người anh hùng trong kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Tây Tiến mang một vẻ đẹp bi tráng nhưng lại thật hào hoa, lãng mạn tái hiện lại cả một thời kỳ hào hùng thuở nào.
Bài thơ Tây Tiến chính là một nỗi nhớ da diết của tác giả Quang Dũng. Tác giả nhớ về biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp về người lính, trong bài thơ thể hiện rõ nét. Hay còn có những câu thơ thể hiện được vẻ đẹp của người lính trong đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Khi đọc đoạn thơ, khung cảnh chiến trường Tây Bắc núi non hùng vĩ như hiện ra ngay trước mắt người đọc một khoảng không gian vô cùng hùng vĩ. Tác giả Quang Dũng đã tài tình vẽ ra được một bức tranh hiện thực về môi trường khốc liệt mà những người lính Tây Tiến khi xưa phải đối mặt. Biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ cũng như bệnh tật hoành hành. Địa bàn hoạt động ở nơi rừng thiêng nước độc, ở đó có núi cao vách đứng trùng trùng, điệp điệp và hiểm trở. Tất cả như cứ rình rập đòi mạng người. Thông qua đó ta nhận thấy được điều kiện sống của những người lính rất khắc nghiệt và nguy hiểm. Có thể thấy được một trong những căn bệnh đáng sợ nhất luôn đe dọa người lính đó là bệnh sốt rét. Căn bệnh sốt rét làm người lính Tây Tiến không mọc tóc. Quang Dũng đã sử dụng cách nói giảm nói tránh thật hài hước. Với cách nói này đã cho ta thấy tinh thần lạc quan hết mực của người lính Tây Tiến cho dù trong hoàn cảnh khó khăn.
Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến
Những căn bệnh sốt rét cũng làm nước da người lính lúc này cũng lại trở nên xanh xao. Tuy bệnh tật dày vò là thế nhưng những người chiến sĩ Tây Tiến cũng cứ vẫn giữ một tinh thần chiến đấu quật cường. Ở họ cũng cứ vẫn quắc thước hiên ngang, xung trận đánh giáp lá cà khiến cho quân địch phải hoảng sợ. Rồi Quang Dũng như đã điểm mặt người lính Tây Tiến trông “dữ oai hùm”, gương mặt đó nổi bật lên trong màu xanh lá, thực sự đây là một dấu ấn đau thương trong kháng chiến chống Pháp.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Có biết bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu gian khổ và ác liệt thế, những người lính Tây Tiến cũng cứ mộng mơ đúng như chất lãng mạn của những người thanh niên trẻ. Hình ảnh:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đây chắc chắn là giấc mộng dệt nên từ ý chí giết giặc đuổi thù, đồng thời như đã mang lại bình yên độc lập cho dân tộc. Tất cả họ cũng đã dùng đôi mắt trừng trừng của mình như mở to anh dũng chiến đấu với kẻ thù. Điều này cũng đã thể hiện được ý chí mạnh mẽ thề sống chết với lũ xâm lược nước ta. Hình ảnh đôi mắt của người lính như luôn thao thức nhớ về quê hương Hà Nội. Người lính Tây Tiến mơ về một dáng kiều thơm trong mộng trong mơ. Những người lính không chỉ biết cầm súng cầm gươm để đi theo tiếng gọi của đất nước mà người lính còn rất hào hoa, giàu tình cảm trong cuộc sống. Biết bao nhiêu gian khổ, bao nhiêu thiếu thốn ngay cả khi tính mạng bị đe dọa thì trái tim của họ dường như cứ vẫn nhung nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội. Họ là các chàng trai hào hao, xếp bút nghiêng để nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc. Nơi mà người lính nhung nhớ về chính là những ngôi nhà, những con đường hoa sữa thơm lừng, hay còn đó cả hình bóng kiều diễm thướt tha của người con gái Hà thành.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Thông qua khổ thơ này ta nhận thấy được chính nét bi tráng của người lính Tây Tiến, tất cả như đã thể hiện thật rõ nét qua những câu thơ trên. Những người lính chính họ cũng đã ra đi, cầm súng bảo vệ đất nước. Người lính như đã ngã xuống nhưng trong tư thế anh hùng, bất khuất. Người lính Tây Tiến hi sinh đã khiến cho ta cảm thấy thật xót thương và kính phục biết bao. Quang Dũng sử dụng câu thơ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Câu thơ được vang lên như một lời thề kiên trung của biết bao thế hệ khi ra đi vì tiếng gọi của quê hương đó là: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Hình ảnh người lính vừa ngang tàn mà cũng vừa cao đẹp đã trở thành một biểu tượng đẹp cho bài thơ Tây Tiến. Ở nơi núi rừng Tây Bắc hoang vu hẻo lánh ấy có bao nhiêu mồ viễn xứ mà còn cứ nằm “rải rác” đến ghê người. Người lính hi sinh mà chỉ có “áo bào thay chiếu” để che thân xác các anh nhưng Tổ quốc và nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn to lớn của người lính. Tuy các anh có “về đất” nhưng lại về một cách an nhiên, thanh thản. Người lính về với quê hương về với đất mẹ, thêm với đó là tiếng thác của con sông Mã cứ gầm lên giống một lời khóc bị thương, bi tráng thật thiêng liêng và cao cả.
|
Assignment
Tay Tien by author Quang Dung is known as an epic poem praising the heroes in the resistance war against the French. The poem Tay Tien has a tragic beauty but is also very pompous and romantic, recreating a heroic period of the past.
The poem Tay Tien is a deep nostalgia of author Quang Dung. The author remembers so many beautiful memories of the soldier, clearly expressed in the poem. There are also verses that express the beauty of soldiers in the following verse:
The Tay Tien army did not grow hair
The green army has a fierce green color
Glaring eyes send dreams across the border
At night, Hanoi dreams of a beautiful and fragrant figure
Scattered across the border, graves are far away
Going to the battlefield does not regret the green life
His robe replaced his mat and brought him back to earth
Ma River roars its solo song
When reading the poem, the majestic mountainous Northwest battlefield scene appears right before the reader's eyes in an extremely majestic space. Author Quang Dung has skillfully painted a realistic picture of the fierce environment that the soldiers of the ancient Tay Tien had to face. There are so many difficulties, hardships, and diseases. The area of operation is in the sacred forest and poisonous water, where there are high mountains, steep walls, overlapping and dangerous. Everyone seems to be stalking people, demanding their lives. Through this we realize that the living conditions of soldiers are very harsh and dangerous. It can be seen that one of the most terrifying diseases that always threatens soldiers is malaria. Malaria caused Tay Tien soldiers to not grow hair. Quang Dung used a humorous way of understatement. This way of speaking shows us the extremely optimistic spirit of Tay Tien soldiers even in difficult circumstances.
Feelings about the poem Tay Tien
Malaria also made the soldier's skin pale again. Even though they were tormented by illness, Tay Tien soldiers still maintained a strong fighting spirit. They also continued to stand tall and brave, engaging in hand-to-hand combat, causing the enemy to panic. Then Quang Dung seemed to point out the face of the Tay Tien soldier who looked "fierce", that face stood out in green, this was truly a painful mark in the resistance war against the French.
Glaring eyes send dreams across the border
At night, Hanoi dreams of a beautiful and fragrant figure
With so many difficulties, so many hardships and fierceness, Tay Tien soldiers still dream like the romantic nature of young men. Image:
Glaring eyes send dreams across the border
This is certainly a dream woven from the will to kill the enemy and chase away the enemy, and at the same time it seems to have brought peace and independence to the nation. They all used their glaring eyes to heroically fight the enemy. This also demonstrated the strong will to swear life and death against the invaders of our country. The image of the soldier's eyes seems to be always restless, remembering his hometown, Hanoi. The Tay Tien soldier dreams of a beautiful, fragrant figure in his dreams. Soldiers not only know how to hold guns and swords to follow the call of the country, but soldiers are also very proud and rich in love in life. Knowing how many hardships, how many deprivations, even when their lives are threatened, their hearts seem to still remember the beauty of Hanoi. They are proud boys, tilting their pens to listen to the call of the Fatherland. The places that soldiers remember fondly are the houses, the streets of fragrant milk flowers, or even the graceful and graceful silhouette of Hanoi's girls.
Scattered across the border, graves are far away
Going to the battlefield does not regret the green life
His robe replaced his mat and brought him back to earth
Ma River roars its solo song
Through this stanza, we can see the tragic character of the Tay Tien soldiers, as clearly shown in the above verses. The soldiers themselves also left, holding guns to protect the country. The soldier seemed to have fallen but in a heroic, indomitable posture. The sacrifice of the Tay Tien soldier has made us feel so much pity and admiration. Quang Dung uses poetry
Going to the battlefield does not regret the green life
The poem is echoed as an oath of steadfastness by countless generations when leaving for the call of the homeland: Decide to die for the Fatherland and decide to live. The image of a soldier who is both cruel and beautiful has become a beautiful symbol for the poem Tay Tien. In that remote, desolate Northwest mountains and forests, there are so many graves from far away lands that they are still "scattered" to an alarming extent. The soldiers sacrificed their lives with only "robes instead of mats" to cover their bodies, but the Fatherland and the people will forever remember the great gratitude of the soldiers. Even though you "returned to land", you returned safely and peacefully. The soldier returned to his homeland and returned to his motherland, in addition to that, the sound of the waterfall of the Ma River kept roaring like a wounded, tragic cry that was truly sacred and noble.
|
Bài làm
Tố Hữu là một cái tên không còn xa lạ trong thơ ca Việt Nam nhất là thơ ca cách mạng. Chặng đường thơ ca Tố Hữu gắn liền với chặng đường lịch sử dân tộc và trong đó không thể không nhắc đến tác phẩm Việt Bắc – đỉnh cao thơ của Tố Hữu. Bài thơ Việt Bắc mở đầu với 8 câu đầu thật độc đáo.
Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cả những cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954. Tác phẩm cũng được ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ Việt Bắc dường như không mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn như chất chứa đầy nước mắt mà còn mang với đó biết bao nhiêu nỗi niềm chia ly. Nỗi niềm này cũng ở trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân Việt Bắc luôn sâu đậm ân tình. Có thể thấy được với đoạn thơ mở đầu của bài thơ Việt Bắc cũng chính là sự thể hiện tinh tế và sâu sắc những rung động trong trái tim của người đi và cả trái tim người ở lại chính trong giờ phút chia li
– Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tác giả Tố Hữu thật tài tình biết bao nhiêu khi nhà thơ đã mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu lứa đôi đó là:
Mình về mình có nhớ ta?
Khi nói “Mình về” chính là biểu thị hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm. Nói về ở đây như đã gợi đến sự chia li, thực sự đó cũng chính là sự chia li của người ra đi và người ở lại. Xét về mặt kết cấu câu thơ thì “mình” dường như được đứng ở đầu câu, còn với “ta” đứng ở cuối câu thơ. Tất cả như đã gợi lên cái khoảng cách chính giữa “ta” và “mình”. Thế rồi chính nỗi niềm lại gợi lên qua câu hỏi ấy của người ở lại là nỗi nhớ, chính tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Khi đứng ở chính giữa câu thơ là một từ “nhớ” nên nó đã làm cho mối quan hệ của mình và ta, người ra đi và kẻ ở lại thì sẽ được xích lại gần nhau hơn. Nguyên do cơ sở của nỗi nhớ ấy chính là:
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc
Có thể nhận thấy câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều năm nào. Thế nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. Khoảng thời gian mười lăm năm ấy dường như đã gợi đến một quãng thời gian khó khăn, đó là một thời đau thương, mất mát. Tất cả những mất mát, những đau thương đó như chìm đi và đọng lại trong câu thơ là một tình cảm thiết ta.
Đọc đến câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi day dứt:
Mình về mình có nhớ không?
Cây thơ này được lặp lại giống một câu thơ đầu và mở r acho người đọc nhận thấy được đối tượng không hề bó hẹp ở mối quan hệ giữa “ta – mình” và thêm với đó chính là một nỗi nhớ dường như không còn chỉ hướng tới ta. Thế rồi nỗi nhớ đó đã hướng vào chính đối tượng rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là không gian núi rừng Việt Bắc hiện ra thật đẹp. Nơi đó có núi, có nguồn đó là những không gian vô cùng quen thuộc cũng đã với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Khi đó thì tất cả không gian như chứa đầy biết bao nhiêu kỷ niệm. Cho nên tất cả không gian đó luôn khiến người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở hiện tại và đừng bao giờ quên về quá khứ. Nhắc nhở rằng khi sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, và cũng đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua.
Chỉ với bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, những câu hỏi này chủ yếu là để giãi bày tình cảm và như để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình. Lý do chính bởi giữa hai đối tượng đó có sự gắn bó khăng khít trong một thời kháng chiến ác liệt.
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Với bốn câu thơ này thì người ở lại đặt ra câu hỏi nhưng người ra đi không trực tiếp trả lời câu hỏi. Thay vào đó thì người ra đi như đã thể hiện tình cảm lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay. Chính với ấn tượng ban đầu đã tác động đến người ra đi
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Dùng đại từ phiếm chỉ “ai” là đại từ không xác định, và cho là bất cứ người dân Việt Bắc nào đi chăng nữa thì đã cùng sống, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với người ra đi. Cho dù ta hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì cũng là một âm thanh rất đỗi ngọt ngào. Âm thanh đó cũng chính là biết bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu tâm tình ngào. Người đọc câu thơ thấy được ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối trong tương quan như đối lập giữa bên trong và bên ngoài. Ở trong lòng thì cứ bâng khuâng như còn biết bao nhiêu hành động bồn chồn như thấp thỏm của người ra đi. Chính với cảm xúc như bâng khuâng, bồn chồn.
|
Assignment
To Huu is a name that is no longer unfamiliar in Vietnamese poetry, especially revolutionary poetry. To Huu's poetic journey is closely linked to the nation's historical journey, and among them it is impossible not to mention the work Viet Bac - the pinnacle of To Huu's poetry. Viet Bac's poem opens with the first 8 very unique lines.
The poem Viet Bac was composed by To Huu during the special farewell between the people of Viet Bac and the resistance officers in October 1954. The work was also born in that situation. Viet Bac's poem does not seem to carry the scene of a separation with sadness as if filled with tears, but also carries with it so many feelings of separation. This feeling is also in the feelings between officials and the people of Viet Bac who are always deeply grateful. It can be seen that the opening stanza of Viet Bac's poem is also a subtle and profound expression of the vibrations in the hearts of those who leave and the hearts of those who stay at the moment of separation.
– When I come back, I miss you
Those fifteen years were passionate and passionate.
Do you remember when I come back?
Looking at trees remember the mountains, looking at rivers remember the source?
How ingenious is author To Huu when the poet opens with a question that resonates with a folk song and a couple's love:
When I come back, do you miss me?
When saying "I'm going home" it means expressing the situation for the person who stays behind to express their feelings. Talking about it here seems to suggest separation, actually it is also the separation of those who leave and those who stay. In terms of verse structure, "I" seems to stand at the beginning of the sentence, while "I" stands at the end of the verse. It all seems to evoke the main distance between "us" and "me". Then the feeling evoked through that question of the person who stayed behind was nostalgia, the feelings of the person who stayed towards the person who left. When standing in the middle of the verse is the word "remember", it makes the relationship between you and me, the one who leaves and the one who stays, closer together. The basic reason for that nostalgia is:
Those fifteen years were passionate and passionate
Analysis of the first 8 lines of the Viet Bac poem
It can be seen that the poem has a subtle echo of Kieu's poetry from years ago. However, from that sound resonates the emotions of people in a time of resistance. That fifteen year period seemed to evoke a difficult time, a time of pain and loss. All those losses and pain seem to sink away and remain in the poem as a strong feeling.
Reading the third verse also brings up a tormenting question:
Do you remember when I come back?
This poem is repeated like the first verse and opens the reader up to realize that the subject is not limited to the relationship between "I - myself" and in addition is a nostalgia that seems to no longer be just towards us. Then that nostalgia was directed at a much larger object, which was the beautiful space of Viet Bac mountains and forests. There are mountains, sources, and extremely familiar spaces that are also familiar to those who stay and are also attached to those who leave. At that time, the entire space seemed filled with so many memories. So all that space always makes the person who stays behind want to remind the person who left to live in the present and never forget about the past. Reminder that when living in the lowlands, don't forget the uplands, and also don't forget the memories of a bygone era.
With only the first four verses and only two questions, these questions are mainly to express feelings and as if to wish the person leaving to have the same feelings as yourself. The main reason is because there was a close bond between those two subjects during a time of fierce resistance.
The sound of someone earnestly beside the alcohol
With butterflies in my stomach, I walked restlessly
Indigo shirt brings separation
We held each other's hand, did not know what to say…
With these four verses, the person who stays asks a question, but the person who leaves does not directly answer the question. Instead, the person leaving seems to have expressed his lingering feelings and regrets during the farewell. It is the first impression that impacts the person who leaves
The sound of someone earnestly beside the alcohol
Using the casual pronoun "who" is an indefinite pronoun, and assuming that any Viet Bac people lived, worked, and lived together with the person who left. No matter how we understand it, it is a very sweet sound. That sound is also so many memories, so many sweet feelings. The reader of the poem can see the 4/4 rhythm with the two minor clauses in correlation as the opposition between inside and outside. In my heart, I feel restless as if there are still so many restless and anxious actions of the person who left. It is with emotions such as wistfulness and restlessness.
|
Bài làm
Được mệnh danh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường cho nên nhà thơ Xuân Quỳnh luôn luôn mang được những khao khát về hạnh phúc, về tình yêu với cuộc sống. Để chọn một bài thơ của Xuân Quỳnh viết về cuộc sống thì Sóng chính là bài thơ đặc sắc hơn cả.
Đọc bài thơ chưa cần phải để ý quá nhiều đến ý nghĩa nhưng ta đã cảm nhận được vô cùng rõ nét hình tượng “sóng” và “em” đăng đối nhau, bổ sung cho nhau. Có thể nói rằng với hình tượng sóng mà Xuân Quỳnh sử dụng trong bài đó chính là một hình ảnh ẩn dụ cho bao nhiêu cung bậc cảm xúc của người con gái đang yêu. Còn với hình tượng em lại chính là sự hóa thân của cái tôi trữ tình nhà thơ. Xuyên suốt bài thơ thì hình tượng này có lúc phân đôi và đồng thời lại soi chiếu vào nhau để làm nổi bật sự tương đồng. Sóng và em có khi lại hòa nhập làm một để tạo ra một âm vang cộng hưởng. Qua hình tượng sóng nữ sĩ Xuân Quỳnh đã bày tỏ được một tình yêu dạt dào, mãnh liệt về tình yêu đôi lứa.
Ngay từ phần mở đầu bài thơ là hình tượng “sóng” có rất nhiều trạng thái khác nhau:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Hình ảnh sóng có khi dữ dội lắm, thế nhưng lại có lúc lại dịu êm, đã thế lại còn vừa ồn ào rồi lại vừa lặng lẽ. Tác giả Xuân Quỳnh đã khéo léo mượn những trạng thái khác nhau này của hình ảnh con sóng để thể hiện tâm tư của người con gái đang yêu. Vẻ bên ngoài có khi họ thật đằm thắm, lại còn thật dịu dàng nhưng bên trong lại ẩn chứa một tâm hồn cứ khao khát yêu thương mãnh liệt, khao khát một sự dữ dội biết bao. Xuân Quỳnh thật tài tình khi đưa cặp đôi phạm trù nội dung có tính đối nghịch đi liền nhau để nhằm tạo ra sự so sánh giữa cái mạnh mẽ, tạo ra được sự ồn ào và cái dịu êm, tạo ra được cái lặng lẽ qua đó nhằm diễn tả tính cách đan xen. Tất cả những tính cách, trạng thái này bộc lộ một sự đa chiều của người phụ nữ đang yêu. Vì do “Sông không hiểu nổi mình” cho nên chính con sóng đã chủ động tìm ra biển, tìm đến được đại dương là để tự hiểu mình. Điều này cũng giống như em mong muốn được đến bên anh, để đến với một tình yêu để có thể hiểu rõ được hơn về tâm hồn.
Ứng chiếu với những con sóng của biển thì muôn đời vẫn thế thì tình yêu qua năm tháng vẫn là nỗi khát khao của những lứa đôi cũng cứ vậy:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Xuân Quỳnh đã thốt lên từ “Ôi!” giống như một nỗi thổn thức của trái tim đang yêu. Thêm với đó thì nghệ thuật đối lập từ ngày xưa rồi đến ngày sau dường như cũng đã lại khẳng định sự trường tồn của con sóng. Hình ảnh sóng nước là thế và sóng tình cũng chẳng khác là bao. Thế rồi chính tình yêu từ ngàn đời nay chẳng hề bất di bất dịch và đó chính là một quy luật của tự nhiên. Tình yêu thật khó hiểu và khó lý giải:
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Từ xưa đến nay đã có ai định nghĩa rõ ràng được tình yêu, đồng thời làm sao biết được tình yêu bắt đầu từ đâu, và làm sao có thể hiểu được trọn vẹn tình yêu cơ chứ? Các thắc mắc khi nào ta yêu nhau thì đó giống như một cách cắt nghĩa đầy nữ tính và đầy trực cảm khó có thể giải thích
Phân tích bài thơ Sóng
Từ xưa đến nay thì tình yêu thường đi kèm với nỗi nhớ. Có lẽ chính vì thế mà nỗi nhớ cũng được nhắc đến, thế nhưng nỗi nhớ của người con gái trong bài thơ Sóng này thật da diết. Nỗi nhớ như cứ thường trực:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Nhà thơ Xuân Quỳnh thật khéo léo cũng đã mượn hình ảnh những con sóng cho dù ở dưới lòng sâu hay con sóng ở trên mặt nước. Tất cả trạng thái của sóng như cứ triền miên, vô hạn luôn luôn hướng tới bờ để diễn tả nỗi nhớ người yêu của người con gái. Thực sự chính nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ cồn cào, một nỗi nhớ da diết, không thể nào nguôi ngoai được. Chính những nỗi nhớ đó lại còn bao trùm lên cả không gian và thời gian khiến cho con sóng như:
Ngày đêm không ngủ được
Qủa thực nếu vắng anh thì em nhớ anh. Người con gái như cứ nhớ thương mãi khắc khoải và thổn thức không yêu
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Thực sự với một tình yêu mãnh liệt, chân thành thì cho dù nơi nào em cũng nghĩ rằng cũng mong hướng về anh, hướng duy nhất một mình anh.
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào cũng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Đây được coi là một cách để nhà thơ có thể khẳng định được tình yêu chân thành, mãnh liệt và thủy chung. Con sóng kia có ở xa nơi đại dương nhưng cũng sẽ lại tới bờ. Chính sự chân thành sẽ đưa mỗi con người đến được bến bờ hạnh phúc cho dù có khó khăn, có nhiều chông gai.
Người đọc có thể nhận thấy được nếu như những khổ thơ trước Xuân Quỳnh đi sâu vào những cung bậc thương nhớ, giận hờn và mong ngóng. Nhưng cho đến đoạn thơ tiếp đây thì nữ sĩ lại thể hiện biết bao nhiêu sự băn khoăn, lo lắng:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Thực sự tương lai hạnh phúc nó còn đang ở phía trước, thêm với đó thì ý thức về thời gian và sự thay đổi cũng lại đã khiến nhà thơ không khỏi lo lắng, trăn trở. Vượt lên hết cả Xuân Quỳnh đã tin tưởng vào tình yêu của mình và có ước vọng về một tình yêu:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
|
Assignment
Known as the poet of everyday happiness, poet Xuan Quynh always brings the desire for happiness and love to life. To choose a poem written by Xuan Quynh about life, Wave is the most unique poem.
Reading the poem does not require paying too much attention to the meaning, but we can clearly feel the images of "wave" and "you" opposing each other and complementing each other. It can be said that the wave image that Xuan Quynh used in that article is a metaphor for the many emotions of a girl in love. As for the image of you, it is the incarnation of the poet's lyrical ego. Throughout the poem, this image is sometimes divided and at the same time reflected in each other to highlight the similarities. The waves and you sometimes merge into one to create a resonant sound. Through the image of waves, female artist Xuan Quynh expressed an abundant and intense love for couples.
Right from the beginning of the poem is the image of "waves" with many different states:
Intense and mellow
Noisy and quiet
The river doesn't understand me
Waves find their way to the ocean
The image of the waves is sometimes very fierce, but other times it is gentle, at the same time it is both noisy and then quiet. Author Xuan Quynh cleverly borrowed these different states of the wave image to express the thoughts of a girl in love. Sometimes they look so loving and gentle on the outside, but inside they hide a soul that longs for love so fiercely, so fiercely. Xuan Quynh is very talented in bringing a pair of opposing content categories together to create a comparison between the strong, creating noise and the soft, creating the quiet through That is to describe mixed personalities. All of these personalities and states reveal the multidimensionality of a woman in love. Because "The river cannot understand me", the wave itself actively sought out the sea, and to find the ocean was to understand itself. This is the same as my desire to come to you, to come to a love that can better understand the soul.
Reflecting on the waves of the sea, it will always be the same, and love over the years will still be the desire of couples:
Oh the waves of the past
And the next day it was still the same
The desire for love
Recovery in the child's chest
Xuan Quynh exclaimed the word "Oh!" like a sob of a heart in love. In addition, the contrasting art from the past to the next also seems to confirm the longevity of the wave. The image of water waves is like that and love waves are no different. Then the love that has existed for thousands of years has not changed and is a law of nature. Love is difficult to understand and explain:
Before countless waves
I think about you, baby
I think about the big ocean
Where do the waves come from?
Waves start from the wind
Where does the wind start
I do not know either
When do we love each other?
Since ancient times, has anyone been able to clearly define love, and at the same time, how do we know where love begins, and how can we fully understand love? The question of when we fall in love is like a feminine and intuitive explanation that is hard to explain.
Analysis of the poem Waves
From ancient times until now, love is often accompanied by nostalgia. Perhaps that's why nostalgia is also mentioned, but the nostalgia of the girl in the poem This Wave is so intense. Nostalgia seems to be constant:
Waves in the depths
Waves on the water
Oh, the waves miss the shore
Can't sleep day and night
My heart misses you
Even in dreams and still awake
Poet Xuan Quynh cleverly borrowed the image of waves, whether in the depths or on the surface of the water. All the waves' states seem to be endless and endless, always heading towards the shore to express the girl's longing for her lover. In fact, that nostalgia is an intense nostalgia, a longing that cannot be quenched. Those nostalgias also cover space and time, causing waves like:
Can't sleep day and night
Indeed, if I am without you, I miss you. The girl seemed to remember her love forever and was sobbing without love
My heart misses you
Even in dreams and still awake
Truly, with a strong and sincere love, no matter where I am, I always think that I want to turn to you, the only direction to you.
Out there in the ocean
Hundreds of thousands of waves
Every child reaches the shore
Despite all the obstacles
This is considered a way for the poet to affirm sincere, intense and faithful love. That wave may be far away in the ocean, but it will still reach the shore. It is sincerity that will bring each person to the shore of happiness despite difficulties and hardships.
Readers can see if the stanzas before Xuan Quynh go deep into the levels of longing, anger and longing. But until the next poem, the female poet shows so much anxiety and worry:
Life is so long
Years still pass
Like the ocean, even though it is wide
Clouds still fly far away
In fact, a happy future is still ahead, in addition to that, the awareness of time and change also makes the poet worried and concerned. Above all, Xuan Quynh believed in her love and had a desire for love:
How to dissolve?
Into hundreds of small waves
In the middle of a great sea of love
Let it still flap for thousands of years.
|
Bài làm
Nhắc nhớ đến hình ảnh đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở. Hình ảnh đất nước luôn luôn in sâu vào trong tâm trí của biết bao nhiêu trái tim con người. Không sai chút nào khi nói đất nước đưa chúng ta từ lời ca ngọt ngào của mẹ và rồi ta lớn lên trong tình thương yêu vô bờ bến. Nói về đất nước ta cũng bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ đặc sắc của nhà thơ Nguyễn Đình Thi và rồi ta bắt gặp một hình ảnh đất nước vẹn tròn, đất nước được nhìn nhận giữa nhiều yếu tố qua trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm. Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm như để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc vì nhà thơ đã thức tỉnh được ý thức cũng như tinh thần dân tộc Việt.
Người đọc có thể cảm nhận ngay được ở phần đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng và lại còn thủ thỉ. Nguyễn Khoa Điềm như đã kết hợp được những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ rất đỗi bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước tươi đẹp của ông cha ta:
Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa
ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Hình ảnh đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà nó chính những gì rất gần gũi, là những gì thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người chúng ta. Từ ngày xưa thì đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích mà mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ,…tất cả như đã gợi lên được hình ảnh của một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, sâu sắc mà lại thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược đang muốn cướp đất nước ta.
Không chỉ dừng lại ở đó thì hình ảnh đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời. Đất nước lại còn minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa, một dân tộc như thật giàu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình. Hình ảnh cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn – một lời thơ vô cùng hay. Ta đã biết gừng tất nhiên là cay, còn với muối tất nhiên là mặn rồi những Nguyễn Khoa Điềm lại cho muốn 3 năm, gừng 9 tháng như muốn nói dẫu như thế nào thì tình nghĩa vẫn không thay đổi. Chỉ sử dụng những hình ảnh thơ này thôi nhưng đã khiến cho chúng ta rưng rưng biết bao nhiêu nhớ thương về tình nghĩa thủy chung.
Thế rồi đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa thông qua câu thơ:
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó
Người đọc cũng có thể nhận thấy được ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, đã vậy lại còn rất quen thuộc và giản gị biết bao. Tất cả việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để như thể hiện suy tưởng của mình về hình đất nước với quan niệm vô cùng sáng tạo nhưng lại thật đúng: Đất nước của nhân dân.
Nguyễn Khoa Điềm như vẫn sử dụng chính bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, tác giả đã khéo lép diễn tả được khái niệm, hình ảnh đất nước theo kiểu riêng của chính mình:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nươc là nơi em đánh rơi chiếc
khăn trong nỗi nhớ thầm
Dễ nhận thấy được trong bài thơ “Đất nước” thì hình ảnh đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí vô cùng mênh mông từ rừng đến biển. Đất nước cũng được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người lao động, hiện lên được không gian của tình yêu đôi lứa đó còn cả là một không gian của nỗi nhớ thương. Người đọc có thể nhận thấy được ý niệm về hình ảnh đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố tưởng như khác biệt nhau và hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Tác giả đã sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê một chút nào đồng thời lại sử dụng nó vô cùng duyên dáng, ý nhị của dân tộc ta về một khái niệm đất nước. Với điều này thì tư duy nhà thơ có thể tách ra được, nhấn mạnh thêm được.
Phân tích bài thơ Đất Nước
Hình ảnh đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, còn với nước lại có khả năng gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Thế rồi cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn gặp nhau. Không dừng lại ở đó thì hình ảnh đất nước còn người bạn chia sẻ biết bao những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu. Nguyễn Khoa Điềm đã khéo tách đất và nước ra khi anh và em đang là hai cá thể. Xong lại còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta vậy. Hình ảnh của chiếc khăn – đó chính là biểu tượng của nỗi nhớ thương. Từ xưa đến nay chiếc khăn đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng được người đời thể hiện trong câu ca dao năm nào:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất …
Và rồi Nguyễn Khoa Điềm lấy hình ảnh chiếc khăn này như một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, khiến cho người ta cảm thấy sự bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương nhau.
Hình ảnh đất Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha, yêu quê hương. Thêm với đó thì hình aảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, các hình ảnh con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung. Tất cả các hình ảnh này lại thấm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả Nguyễn Khoa Điềm. Hình ảnh Đất Nước mình như cũng thật bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng và mang tầm vóc tráng lệ và kỳ vĩ vô cùng, nhất là đối với những người đi xa lúc nào cũng nhớ về quê hương.
Với Nguyễn Khoa Điềm thì hình ảnh Đất Nước trường tồn trong không gian và thời gian được thể hiện qua các câu: Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông dường như cứ mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, đồng thời cũng chính là một khoảng không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam trải qua biết bao thế hệ. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, hay nhắc đến truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ,… đó là một cách để gợi nhắc về nguồn cội của dân tộc ta.
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Có thể nhận thấy được chính cảm hứng thơ của tác giả Nguyễn Khoa Điềm lúc này đây lại có vẻ phóng túng , lại có một sự tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ rằng. Tác giả đã thể hiện được đất nước ở trong không gian địa lý, chiều dài lịch sử và cả phong tục tập quán của nhân dân ta. Thông qua ba phương diện đều hiện lên một sự gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi. Tất cả phương diện này nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Và cụ thể hơn thì Đất nước cũng luôn ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng ta:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Thật vậy, đất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt đất nước đã lại hóa thành máu xương của mỗi con người. Chính vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả đất nước. Ở trong mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước, chúng ta luôn luôn phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn đời. Càng về sau thì tác giả lại càng đi sâu và chúng minh làm nổi bật tư tưởng Đất nước của nhân dân và không ai khác nhân dân chính là người đã sáng tạo ra đất nước. Chỉ với tư tưởng này mà Nguyễn Khoa Điềm đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn vô cùng mới mẻ. Vẫn còn đó hình ảnh của núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, hình ảnh những núi Bút non Nghiêng,… nó đâu còn là cảnh thú thiên nhiên đơn thuần mà nó lại được cảm nhận qua các đóng góp của nhân dân
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước một lối sống ông cha
Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Chính tư tưởng Đất nước của nhân dân cũng đã lại luôn chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử của bốn nghìn năm của đất nước. Nguyễn Khoa Điềm không hề nói đến những vị anh hùng lịch sử mà lại tập trung vào những con người bình thường, vô danh để nói lên quan niệm đất nước này là đất nước của nhân dân.
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước
Đất nước là của những con người lao động, họ đã lao động và chống giặc ngoại xâm. Đồng thời họ cũng đã giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, những giá trị tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, những ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, rồi tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao. Tất cả mạch cảm xúc như lắng lại để cuối cùng lại dẫn đến cao trào và làm nổi bật lên tư tưởng cốt lõi mà Nguyễn Khoa Điềm gửi gắm.
Đất nước này là Đất nước nhân dân
Đất nước của Nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
|
Bài làm
Nhắc nhớ đến hình ảnh đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở. Hình ảnh đất nước luôn luôn in sâu vào trong tâm trí của biết bao nhiêu trái tim con người. Không sai chút nào khi nói đất nước đưa chúng ta từ lời ca ngọt ngào của mẹ và rồi ta lớn lên trong tình thương yêu vô bờ bến. Nói về đất nước ta cũng bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ đặc sắc của nhà thơ Nguyễn Đình Thi và rồi ta bắt gặp một hình ảnh đất nước vẹn tròn, đất nước được nhìn nhận giữa nhiều yếu tố qua trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm. Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm như để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc vì nhà thơ đã thức tỉnh được ý thức cũng như tinh thần dân tộc Việt.
Người đọc có thể cảm nhận ngay được ở phần đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng và lại còn thủ thỉ. Nguyễn Khoa Điềm như đã kết hợp được những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ rất đỗi bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước tươi đẹp của ông cha ta:
Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa
ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Hình ảnh đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà nó chính những gì rất gần gũi, là những gì thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người chúng ta. Từ ngày xưa thì đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích mà mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ,…tất cả như đã gợi lên được hình ảnh của một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, sâu sắc mà lại thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược đang muốn cướp đất nước ta.
Không chỉ dừng lại ở đó thì hình ảnh đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời. Đất nước lại còn minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa, một dân tộc như thật giàu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình. Hình ảnh cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn – một lời thơ vô cùng hay. Ta đã biết gừng tất nhiên là cay, còn với muối tất nhiên là mặn rồi những Nguyễn Khoa Điềm lại cho muốn 3 năm, gừng 9 tháng như muốn nói dẫu như thế nào thì tình nghĩa vẫn không thay đổi. Chỉ sử dụng những hình ảnh thơ này thôi nhưng đã khiến cho chúng ta rưng rưng biết bao nhiêu nhớ thương về tình nghĩa thủy chung.
Thế rồi đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa thông qua câu thơ:
Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó
Người đọc cũng có thể nhận thấy được ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, đã vậy lại còn rất quen thuộc và giản gị biết bao. Tất cả việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để như thể hiện suy tưởng của mình về hình đất nước với quan niệm vô cùng sáng tạo nhưng lại thật đúng: Đất nước của nhân dân.
Nguyễn Khoa Điềm như vẫn sử dụng chính bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, tác giả đã khéo lép diễn tả được khái niệm, hình ảnh đất nước theo kiểu riêng của chính mình:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nươc là nơi em đánh rơi chiếc
khăn trong nỗi nhớ thầm
Dễ nhận thấy được trong bài thơ “Đất nước” thì hình ảnh đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí vô cùng mênh mông từ rừng đến biển. Đất nước cũng được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người lao động, hiện lên được không gian của tình yêu đôi lứa đó còn cả là một không gian của nỗi nhớ thương. Người đọc có thể nhận thấy được ý niệm về hình ảnh đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố tưởng như khác biệt nhau và hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó. Tác giả đã sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê một chút nào đồng thời lại sử dụng nó vô cùng duyên dáng, ý nhị của dân tộc ta về một khái niệm đất nước. Với điều này thì tư duy nhà thơ có thể tách ra được, nhấn mạnh thêm được.
Phân tích bài thơ Đất Nước
Hình ảnh đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, còn với nước lại có khả năng gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền. Thế rồi cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn gặp nhau. Không dừng lại ở đó thì hình ảnh đất nước còn người bạn chia sẻ biết bao những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu. Nguyễn Khoa Điềm đã khéo tách đất và nước ra khi anh và em đang là hai cá thể. Xong lại còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta vậy. Hình ảnh của chiếc khăn – đó chính là biểu tượng của nỗi nhớ thương. Từ xưa đến nay chiếc khăn đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng được người đời thể hiện trong câu ca dao năm nào:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất …
Và rồi Nguyễn Khoa Điềm lấy hình ảnh chiếc khăn này như một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, khiến cho người ta cảm thấy sự bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương nhau.
Hình ảnh đất Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha, yêu quê hương. Thêm với đó thì hình aảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, các hình ảnh con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung. Tất cả các hình ảnh này lại thấm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả Nguyễn Khoa Điềm. Hình ảnh Đất Nước mình như cũng thật bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng và mang tầm vóc tráng lệ và kỳ vĩ vô cùng, nhất là đối với những người đi xa lúc nào cũng nhớ về quê hương.
Với Nguyễn Khoa Điềm thì hình ảnh Đất Nước trường tồn trong không gian và thời gian được thể hiện qua các câu: Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông dường như cứ mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, đồng thời cũng chính là một khoảng không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam trải qua biết bao thế hệ. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, hay nhắc đến truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ,… đó là một cách để gợi nhắc về nguồn cội của dân tộc ta.
Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Có thể nhận thấy được chính cảm hứng thơ của tác giả Nguyễn Khoa Điềm lúc này đây lại có vẻ phóng túng , lại có một sự tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ rằng. Tác giả đã thể hiện được đất nước ở trong không gian địa lý, chiều dài lịch sử và cả phong tục tập quán của nhân dân ta. Thông qua ba phương diện đều hiện lên một sự gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi. Tất cả phương diện này nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Và cụ thể hơn thì Đất nước cũng luôn ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng ta:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Thật vậy, đất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt đất nước đã lại hóa thành máu xương của mỗi con người. Chính vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả đất nước. Ở trong mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước, chúng ta luôn luôn phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn đời. Càng về sau thì tác giả lại càng đi sâu và chúng minh làm nổi bật tư tưởng Đất nước của nhân dân và không ai khác nhân dân chính là người đã sáng tạo ra đất nước. Chỉ với tư tưởng này mà Nguyễn Khoa Điềm đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn vô cùng mới mẻ. Vẫn còn đó hình ảnh của núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, hình ảnh những núi Bút non Nghiêng,… nó đâu còn là cảnh thú thiên nhiên đơn thuần mà nó lại được cảm nhận qua các đóng góp của nhân dân
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước một lối sống ông cha
Ôi! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Chính tư tưởng Đất nước của nhân dân cũng đã lại luôn chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử của bốn nghìn năm của đất nước. Nguyễn Khoa Điềm không hề nói đến những vị anh hùng lịch sử mà lại tập trung vào những con người bình thường, vô danh để nói lên quan niệm đất nước này là đất nước của nhân dân.
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước
Đất nước là của những con người lao động, họ đã lao động và chống giặc ngoại xâm. Đồng thời họ cũng đã giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, những giá trị tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, những ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, rồi tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao. Tất cả mạch cảm xúc như lắng lại để cuối cùng lại dẫn đến cao trào và làm nổi bật lên tư tưởng cốt lõi mà Nguyễn Khoa Điềm gửi gắm.
Đất nước này là Đất nước nhân dân
Đất nước của Nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
|
Bài làm
Tố Hữu là một trong số ít nhà thơ nỏi danh trong thơ cách mạng. Với một hồn thơ đằm thắm, rạo rực, trữ tình, cách mạng thì ông đã để lại cho đời rất nhiều các tác phẩm thơ hay. Trong đó không thể không nhắc đến bài thơ Việt Bắc.
Hoàn cảnh sáng tác ra bài thơ Việt Bắc gắn bó chặt chẽ với chặng đường lịch sử của dân tộc vào sự kiện năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Cho đến tháng 10/1954, TW Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc để trở về HN. Nhân sự kiện ấy nhà thơ Tố Hữu cũng sáng tác bài Việt Bắc.
Bài thơ Việt Bắc được chia rõ ràng có hai phần. Phần đầu của bài thơ đã tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, còn với phần hai gợi viễn cảnh tươi sáng, ca ngợi công ơn của Đảng của Bác Hồ.
Người đọc sẽ ấn tượng ngay với hai mươi câu đầu
"Mình về mình có nhớ ta
…. Tân trào, Hồng Thái, mái đình cây đa"
Ngay từ bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay trong sự bị rịn:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Người đọc có thể nhận thấy được với điệp từ "nhớ" dường như cũng đã luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tất cả như tràn đầy thương nhớ. Thêm với đó chính là cách xưng hô "mình – ta" thể hiện được một sự mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao xưa vậy. Không khó để nhận ra được trong phần mở đầu thì câu thơ lúc này đây cũng đã lại mang dáng dấp một câu Kiều của Nguyễn Du
Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
Thực sự rằng chính những cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều. Âm điệu của bài thật sự ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm chứa chan. Thêm với đó chính là tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Bài thơ Việt Bắc hỏi về
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Chỉ với câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, biết bao nhiêu hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng của dân tộc ta.
Với bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về xuôi nói:
Xem thêm: Phân Tích Khổ Thơ Thứ 3 Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mạc Tử
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Tố Hữu cũng thật tài tình khi sử dụng hai từ láy: Bâng khuâng, bồn chồn để có thể diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, sự luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… tất cả dường như cũng cứ lẫn lộn cùng một lúc. Trong khoảng 15 năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, và cũng là từng ấy thời gian gian khổ cùng nhau, gắn bó với nhau cho nên khi chia tay thì không thể tránh khỏi được nỗi niềm bâng khuâng.
Tố Hữu sử dụng hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li" thật hay, nó là một hình ảnh hoán dụ để nói về người ở lại.
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Câu thơ như đầy tính chất biểu cảm của người ra đi và người ở không biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì ở họ có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu đã sử dụng dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng ở chính trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng đến da diết biết bao nhiêu.
Đọc tác phẩm với 12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích thì đây cũng là một lời tâm tình của Việt Bắc:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa
Với điệp từ "nhớ" dường như đã lặp đi lặp lại nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau. Nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở nữa. Ta như thấy được hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Thêm với đó chính là tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, tất cả như lại gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương.
Phân tích bài thơ Việt Bắc
Bài thơ Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ cũng đừng bao giờ quên những năm tháng gian lao vất vả, những hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn đủ mọi thứ về cơ sở vật chất.
Xem thêm: Nghị luận xã hội về phương châm Học đi đôi với hành
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Hình ảnh độc đáo "Miếng cơm chấm muối" được đánh giá chính là một chi tiết thực, dường như đã phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Với cách nói mối thù nặng vai của Tố Hữu như đã nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta bao nhiêu năm. Thêm với đó chính với cảm xúc thương nhớ xa vắng dường như được thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt biết bao nhiêu:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Hình ảnh độc đáo mà Tố Hữu dùng "Trám bùi để rụng, măng mai để già" để có thể gợi nỗi buồn thiếu vắng. Hình ảnh trám rụng – măng già mà lại không ai thu hái. Tất cả như diễn tả một nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại.
Khi tiễn người về sau chiến thắng và cũng chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, tất cả như đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Bài thơ Việt Bắc vẫn nhắc nhở con người đừng quên cội nguồn cách mạng. Người đọc nhận thấy được đây cũng chính là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ này như đã tiêu biểu cho sắc thái của Tố Hữu trong thơ ca cách mạng và cắt cứa trên khẳng định nghĩa tình thủy chung son sắt của những người cán bộ.
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
Sử dụng cặp từ ta với mình/mình với ta cùng cách ngắt nhịp 3/3 như thể hiện sự quấn quýt, gắn bó tách rời.
Những câu tiếp theo thể hiện được hiện thực Việt Bắc trong hồi tưởng. Đó là một hình ảnh chiến khu càng sống động thì cho thấy được nỗi nhớ, tình cảm kẻ ra đi với người ở lại như càng tươi mới biết bao nhiêu. Thêm với đó chính là cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt,… tất cả như hiện về nổi hình nổi sắc.
Cảnh Việt Bắc như hiện ra cũng thật thanh bình
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Với câu thơ này thì người đọc nhận thấy được hình ảnh so sánh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm. Có thể nói chính với cách so sánh này mới lạ sáng tạo. Tất cả diễn tả được nỗi nhớ, nỗi lòng của kẻ ở, người đi. Tất cả những khó khăn gian khổ được tái hiện:
Xem thêm: Tập đọc: Trên con tàu vũ trụ
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Hoàn cảnh đấu tranh thiếu thốn, đầy gian khổ thế nhưng người Việt Bắc lại đẹp nghĩa tình và chan hòa. Rồi những cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen thuộc. Bức tranh tứ bình ở Việt Bắc cũng được tái hiện chỉ trong vòng 8 câu thơ vô cùng đặc sắc. Và với đoạn miêu tả bức tranh tứ bình này người đọc mới nhận thấy được tài năng tả cảnh của tác giả Tố Hữu gửi gắm trong đó.
Khi miêu tả xong bức tranh tứ bình thì là cảnh đêm như thật sự phù hợp với một khúc hát trao duyên trong thời điểm chi tay giã bạn. Có thể nói dưới ánh trăng thu, tiếng hát thật ân tình khiến cho cảnh vật như thật ấm áp biết bao nhiêu.
Cho đến những câu cuối của bài Việt Bắc thì đã làm nổi bật lên hình ảnh Việt Bắc đánh giặc, Việt Bắc anh hùng. Thông qua đây người đọc không chỉ nhận ra được rằng thiên nhiên Việt Bắc không chỉ được cảm nhận bởi vẻ đẹp của 4 mùa mà thiên nhiên còn chính là một nhân tố đắc lực góp phần làm nên cuộc kháng chiến toàn thắng.
Bài thơ Việt Bắc chính là một chặng đời lịch sử của dân tộc. Tố Hữu đã thật tài tình khi đã ghi lại lịch sử bằng thơ. Phong cách thơ Tố Hữu cũng được thể hiện rõ nét nhất trong thi phẩm Việt Bắc.
|
Bài làm
Tố Hữu là một trong số ít nhà thơ nỏi danh trong thơ cách mạng. Với một hồn thơ đằm thắm, rạo rực, trữ tình, cách mạng thì ông đã để lại cho đời rất nhiều các tác phẩm thơ hay. Trong đó không thể không nhắc đến bài thơ Việt Bắc.
Hoàn cảnh sáng tác ra bài thơ Việt Bắc gắn bó chặt chẽ với chặng đường lịch sử của dân tộc vào sự kiện năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Cho đến tháng 10/1954, TW Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc để trở về HN. Nhân sự kiện ấy nhà thơ Tố Hữu cũng sáng tác bài Việt Bắc.
Bài thơ Việt Bắc được chia rõ ràng có hai phần. Phần đầu của bài thơ đã tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, còn với phần hai gợi viễn cảnh tươi sáng, ca ngợi công ơn của Đảng của Bác Hồ.
Người đọc sẽ ấn tượng ngay với hai mươi câu đầu
"Mình về mình có nhớ ta
…. Tân trào, Hồng Thái, mái đình cây đa"
Ngay từ bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay trong sự bị rịn:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Người đọc có thể nhận thấy được với điệp từ "nhớ" dường như cũng đã luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tất cả như tràn đầy thương nhớ. Thêm với đó chính là cách xưng hô "mình – ta" thể hiện được một sự mộc mạc, thân gần gợi liên tưởng ca dao xưa vậy. Không khó để nhận ra được trong phần mở đầu thì câu thơ lúc này đây cũng đã lại mang dáng dấp một câu Kiều của Nguyễn Du
Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
Thực sự rằng chính những cảm xúc đậm đà chất dân gian, đậm đà chất Kiều. Âm điệu của bài thật sự ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm chứa chan. Thêm với đó chính là tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Bài thơ Việt Bắc hỏi về
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Chỉ với câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, biết bao nhiêu hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn cách mạng của dân tộc ta.
Với bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về xuôi nói:
Xem thêm: Phân Tích Khổ Thơ Thứ 3 Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mạc Tử
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Tố Hữu cũng thật tài tình khi sử dụng hai từ láy: Bâng khuâng, bồn chồn để có thể diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, sự luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… tất cả dường như cũng cứ lẫn lộn cùng một lúc. Trong khoảng 15 năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, và cũng là từng ấy thời gian gian khổ cùng nhau, gắn bó với nhau cho nên khi chia tay thì không thể tránh khỏi được nỗi niềm bâng khuâng.
Tố Hữu sử dụng hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li" thật hay, nó là một hình ảnh hoán dụ để nói về người ở lại.
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Câu thơ như đầy tính chất biểu cảm của người ra đi và người ở không biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì ở họ có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Không phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu đã sử dụng dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng ở chính trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng đến da diết biết bao nhiêu.
Đọc tác phẩm với 12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích thì đây cũng là một lời tâm tình của Việt Bắc:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa
Với điệp từ "nhớ" dường như đã lặp đi lặp lại nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau. Nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở nữa. Ta như thấy được hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Thêm với đó chính là tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, tất cả như lại gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương.
Phân tích bài thơ Việt Bắc
Bài thơ Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ cũng đừng bao giờ quên những năm tháng gian lao vất vả, những hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn đủ mọi thứ về cơ sở vật chất.
Xem thêm: Nghị luận xã hội về phương châm Học đi đôi với hành
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Hình ảnh độc đáo "Miếng cơm chấm muối" được đánh giá chính là một chi tiết thực, dường như đã phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Với cách nói mối thù nặng vai của Tố Hữu như đã nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta bao nhiêu năm. Thêm với đó chính với cảm xúc thương nhớ xa vắng dường như được thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt biết bao nhiêu:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Hình ảnh độc đáo mà Tố Hữu dùng "Trám bùi để rụng, măng mai để già" để có thể gợi nỗi buồn thiếu vắng. Hình ảnh trám rụng – măng già mà lại không ai thu hái. Tất cả như diễn tả một nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại.
Khi tiễn người về sau chiến thắng và cũng chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, tất cả như đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Bài thơ Việt Bắc vẫn nhắc nhở con người đừng quên cội nguồn cách mạng. Người đọc nhận thấy được đây cũng chính là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ này như đã tiêu biểu cho sắc thái của Tố Hữu trong thơ ca cách mạng và cắt cứa trên khẳng định nghĩa tình thủy chung son sắt của những người cán bộ.
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
Sử dụng cặp từ ta với mình/mình với ta cùng cách ngắt nhịp 3/3 như thể hiện sự quấn quýt, gắn bó tách rời.
Những câu tiếp theo thể hiện được hiện thực Việt Bắc trong hồi tưởng. Đó là một hình ảnh chiến khu càng sống động thì cho thấy được nỗi nhớ, tình cảm kẻ ra đi với người ở lại như càng tươi mới biết bao nhiêu. Thêm với đó chính là cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt,… tất cả như hiện về nổi hình nổi sắc.
Cảnh Việt Bắc như hiện ra cũng thật thanh bình
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Với câu thơ này thì người đọc nhận thấy được hình ảnh so sánh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm. Có thể nói chính với cách so sánh này mới lạ sáng tạo. Tất cả diễn tả được nỗi nhớ, nỗi lòng của kẻ ở, người đi. Tất cả những khó khăn gian khổ được tái hiện:
Xem thêm: Tập đọc: Trên con tàu vũ trụ
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Hoàn cảnh đấu tranh thiếu thốn, đầy gian khổ thế nhưng người Việt Bắc lại đẹp nghĩa tình và chan hòa. Rồi những cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen thuộc. Bức tranh tứ bình ở Việt Bắc cũng được tái hiện chỉ trong vòng 8 câu thơ vô cùng đặc sắc. Và với đoạn miêu tả bức tranh tứ bình này người đọc mới nhận thấy được tài năng tả cảnh của tác giả Tố Hữu gửi gắm trong đó.
Khi miêu tả xong bức tranh tứ bình thì là cảnh đêm như thật sự phù hợp với một khúc hát trao duyên trong thời điểm chi tay giã bạn. Có thể nói dưới ánh trăng thu, tiếng hát thật ân tình khiến cho cảnh vật như thật ấm áp biết bao nhiêu.
Cho đến những câu cuối của bài Việt Bắc thì đã làm nổi bật lên hình ảnh Việt Bắc đánh giặc, Việt Bắc anh hùng. Thông qua đây người đọc không chỉ nhận ra được rằng thiên nhiên Việt Bắc không chỉ được cảm nhận bởi vẻ đẹp của 4 mùa mà thiên nhiên còn chính là một nhân tố đắc lực góp phần làm nên cuộc kháng chiến toàn thắng.
Bài thơ Việt Bắc chính là một chặng đời lịch sử của dân tộc. Tố Hữu đã thật tài tình khi đã ghi lại lịch sử bằng thơ. Phong cách thơ Tố Hữu cũng được thể hiện rõ nét nhất trong thi phẩm Việt Bắc.
|
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm – hình tượng người lính Tây Tiến:
Thiên nhiên Tây Bắc, dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng được cảm nhận vừa đa dạng, vừa độc đáo, vừa hùng vĩ và thơ mộng nên thơ qua bài thơ “Tây Tiến”.
Hình tượng những người lính Tây Tiến hiện lên với những lí tưởng cao cả, sẵn sàng xả thân, hy sinh vì lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc.
2. Thân bài
2.1. Nội dung phân tích
Hình tượng người lính Tây Tiến trong bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, hoang sơ, linh thiêng, đầy bí ẩn trên con đường hành quân gian khổ. Dù gian khổ nhưng những người lính vẫn luôn yêu đời. (Đoạn 1)
Hình tượng người lính Tây Tiến trong đêm hội đuốc hoa (Vẻ đẹp của tình quân dân). (Đoạn 2)
Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng (Đoạn 3):
+ Chân dung người lính Tây Tiến gian khổ hào hùng ở khí thế chiến đấu.
+ Lãng mạn, hào hoa.
+ Bi thương ở sự hy sinh.
+ Bi tráng ở lí tưởng cao đẹp.
2.2. Đặc sắc nghệ thuật
Giọng điệu chủ đạo xuyên suốt bài thơ của bài thơ là trang trọng.
Quang Dũng thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của những người lính Tây Tiến.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích và nêu cảm nhận.
Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến
Bài làm tham khảo
Thiên nhiên Tây Bắc, dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng được cảm nhận vừa đa dạng, vừa độc đáo, vừa hùng vĩ và thơ mộng nên thơ qua bài thơ “Tây Tiến”. Trong đó, hình tượng những người lính Tây Tiến hiện lên với những lí tưởng cao cả, sẵn sàng xả thân, hy sinh vì lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc Việt Nam ta.
Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ “Tây Tiến” là cảm xúc của một nỗi nhớ da diết bao trùm lên cả không gian và thời gian:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi…”
Nỗi nhớ đơn vị trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra một trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,… liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ tiếp theo:
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao. Ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”
Trong bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, hoang sơ, linh thiêng, đầy bí ẩn ấy là hình ảnh của những người lính Tây Tiến trên con đường hành quân gian khổ. Dù gian khổ nhưng những người lính vẫn luôn yêu đời. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có tính chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính Tây Tiến trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời.
Câu thơ “Ngàn thước lên cao. Ngàn thước xuống” như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thơ trên là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thơ “Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi” là nhìn ngang. Ta có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mưa núi thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.
Tiếp đó, hình tượng người lính Tây Tiến trong đêm hội đuốc hoa là vẻ đẹp của tình quân dân thắm thiết. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất thơ mộng:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Cả doanh trại được “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm liên hoan văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “Kìa em” như thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng Tây Bắc bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy với vũ điệu đậm chất xứ lạ “man điệu” đã thu hút mọi ánh mắt của những chàng trai Tây Tiến trẻ trung, hóm hỉnh.
Trong khổ thứ ba của bài thơ thỉ hình tượng người lính Tây Tiến mang trong mình những vẻ đẹp: hào hùng, hào hoa và bi tráng. Trước tiên, Quang Dũng khắc họa chân dung người lính Tây Tiến gian khổ hào hùng ở khí thế chiến đấu:
“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm”
Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Trong bài thơ “Đồng Chí” của Chính Hữu, ông đã trực tiếp miêu tả căn bệnh quái ác đó:
“ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
Còn Tố Hữu, khi ông miêu tả chân dung anh vệ quốc trong bài “Cá nước” cũng có những câu thơ nhắc tới căn bệnh sốt rét:
“Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ”
Những cái đầu không mọc tóc của những người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh li kì, giật gân hay là sản phẩm của trí tưởng tượng của tác giả. Mà đó là một sự thật nghiệt ngã trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc nhất của dân tộc ta. Những người lính ấy, họ đã cho đi tuổi thanh xuân, đánh đổi mạng sống để cống hiến hết sức mình vì bầu trời tự do của quê hương, đất nước mình. Qua cái nhìn của Quang Dũng toát lên cái oai phong, lẫm liệt của những mãnh chúa sơn lâm nơi rừng thiêng, hùng vĩ.
Những người lính Tây Tiến có vẻ bề ngoài oai hùng, dữ dằn là vậy, nhưng bên trong họ là cả một tâm hồn thơ mộng, những trái tim rạo rực, khao khát tình yêu đôi lứa. Điều đó cũng là lẽ đương nhiên vì họ còn rất trẻ, họ có quyền được yêu:
“ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Chỉ qua bốn câu thơ mà Quang Dũng đã không chỉ khắc họa được dáng vẻ bên ngoài của những người lính Tây Tiến mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn lãng mạn, hào hoa, đầy thơ mộng của họ.
Ngòi bút của Quang Dũng khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy của cuộc chiến tranh đau thương. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào bi thương là lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà màu sắc đau thương không thể lấn át được tinh thần chiến đấu và lí tưởng cao cả của những chàng trai Tây Tiến anh hùng.
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Hình tượng những người lính Tây Tiến tiều tụy, tàn tạ trong vẻ bề ngoài nhưng vẫn chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những người tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Trong cái âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết và sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thẫm đẫm tinh thần bi tráng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
|
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm – hình tượng người lính Tây Tiến:
Thiên nhiên Tây Bắc, dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng được cảm nhận vừa đa dạng, vừa độc đáo, vừa hùng vĩ và thơ mộng nên thơ qua bài thơ “Tây Tiến”.
Hình tượng những người lính Tây Tiến hiện lên với những lí tưởng cao cả, sẵn sàng xả thân, hy sinh vì lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc.
2. Thân bài
2.1. Nội dung phân tích
Hình tượng người lính Tây Tiến trong bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, hoang sơ, linh thiêng, đầy bí ẩn trên con đường hành quân gian khổ. Dù gian khổ nhưng những người lính vẫn luôn yêu đời. (Đoạn 1)
Hình tượng người lính Tây Tiến trong đêm hội đuốc hoa (Vẻ đẹp của tình quân dân). (Đoạn 2)
Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng (Đoạn 3):
+ Chân dung người lính Tây Tiến gian khổ hào hùng ở khí thế chiến đấu.
+ Lãng mạn, hào hoa.
+ Bi thương ở sự hy sinh.
+ Bi tráng ở lí tưởng cao đẹp.
2.2. Đặc sắc nghệ thuật
Giọng điệu chủ đạo xuyên suốt bài thơ của bài thơ là trang trọng.
Quang Dũng thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của những người lính Tây Tiến.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích và nêu cảm nhận.
Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến
Bài làm tham khảo
Thiên nhiên Tây Bắc, dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng được cảm nhận vừa đa dạng, vừa độc đáo, vừa hùng vĩ và thơ mộng nên thơ qua bài thơ “Tây Tiến”. Trong đó, hình tượng những người lính Tây Tiến hiện lên với những lí tưởng cao cả, sẵn sàng xả thân, hy sinh vì lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc Việt Nam ta.
Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ “Tây Tiến” là cảm xúc của một nỗi nhớ da diết bao trùm lên cả không gian và thời gian:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi…”
Nỗi nhớ đơn vị trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra một trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,… liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ tiếp theo:
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao. Ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi”
Trong bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, hoang sơ, linh thiêng, đầy bí ẩn ấy là hình ảnh của những người lính Tây Tiến trên con đường hành quân gian khổ. Dù gian khổ nhưng những người lính vẫn luôn yêu đời. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có tính chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính Tây Tiến trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời.
Câu thơ “Ngàn thước lên cao. Ngàn thước xuống” như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu như câu thơ trên là nhìn lên và nhìn xuống thì câu thơ “Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi” là nhìn ngang. Ta có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mưa núi thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.
Tiếp đó, hình tượng người lính Tây Tiến trong đêm hội đuốc hoa là vẻ đẹp của tình quân dân thắm thiết. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất thơ mộng:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Cả doanh trại được “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm liên hoan văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “Kìa em” như thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng Tây Bắc bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy với vũ điệu đậm chất xứ lạ “man điệu” đã thu hút mọi ánh mắt của những chàng trai Tây Tiến trẻ trung, hóm hỉnh.
Trong khổ thứ ba của bài thơ thỉ hình tượng người lính Tây Tiến mang trong mình những vẻ đẹp: hào hùng, hào hoa và bi tráng. Trước tiên, Quang Dũng khắc họa chân dung người lính Tây Tiến gian khổ hào hùng ở khí thế chiến đấu:
“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm”
Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Trong bài thơ “Đồng Chí” của Chính Hữu, ông đã trực tiếp miêu tả căn bệnh quái ác đó:
“ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”
Còn Tố Hữu, khi ông miêu tả chân dung anh vệ quốc trong bài “Cá nước” cũng có những câu thơ nhắc tới căn bệnh sốt rét:
“Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ”
Những cái đầu không mọc tóc của những người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh li kì, giật gân hay là sản phẩm của trí tưởng tượng của tác giả. Mà đó là một sự thật nghiệt ngã trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc nhất của dân tộc ta. Những người lính ấy, họ đã cho đi tuổi thanh xuân, đánh đổi mạng sống để cống hiến hết sức mình vì bầu trời tự do của quê hương, đất nước mình. Qua cái nhìn của Quang Dũng toát lên cái oai phong, lẫm liệt của những mãnh chúa sơn lâm nơi rừng thiêng, hùng vĩ.
Những người lính Tây Tiến có vẻ bề ngoài oai hùng, dữ dằn là vậy, nhưng bên trong họ là cả một tâm hồn thơ mộng, những trái tim rạo rực, khao khát tình yêu đôi lứa. Điều đó cũng là lẽ đương nhiên vì họ còn rất trẻ, họ có quyền được yêu:
“ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Chỉ qua bốn câu thơ mà Quang Dũng đã không chỉ khắc họa được dáng vẻ bên ngoài của những người lính Tây Tiến mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn lãng mạn, hào hoa, đầy thơ mộng của họ.
Ngòi bút của Quang Dũng khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy của cuộc chiến tranh đau thương. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào bi thương là lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà màu sắc đau thương không thể lấn át được tinh thần chiến đấu và lí tưởng cao cả của những chàng trai Tây Tiến anh hùng.
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Hình tượng những người lính Tây Tiến tiều tụy, tàn tạ trong vẻ bề ngoài nhưng vẫn chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những người tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Trong cái âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết và sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi lụy mà thẫm đẫm tinh thần bi tráng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
|
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu về tác giả – tác phẩm –hình tượng người lái đò sông Đà.
2. Thân bài
2.1. Khái quát:
Tác phẩm được sáng tác trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân (1958-1960), in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960)
2.2. Nội dung phân tích
Ngoại hình của người lái đò sông Đà
Phẩm chất của người lái đò sông Đà:
Cần cù, thông minh, người lái đò là một người lao động lành nghề trên sông Đà.
Dũng cảm trên mặt trận sông nước (3 vòng trùng vi thạch trận)
Tài hoa:
+ Vòng trùng vi thạch trận thứ nhất: người lái đò như một vị dũng tướng, tài ba.
+ Vòng trùng vi thạch trận thứ hai: người lái đò là một người nghệ sĩ xiếc rất điêu luyện.
+ Vòng trùng vi thạch trận thứ ba: người lái đò là một xạ thủ bắn tên.
Người nghệ sĩ:
+ Quan niệm giản dị về điều phi thường.
+ Ba mối quan hệ của người lái đò với con sông Đà: sông Đà là môi trường sống, là kẻ thù số một và là một cố nhân.
2.3. Đặc sắc nghệ thuật
3. Kết bài:
Tổng kết nội dung phân tích và nêu cảm nhận của bản thân.
Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà
Bài làm tham khảo
Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa, uyên bác, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông.
“Người lái đò sông Đà” được sáng tác trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Nguyễn Tuân (1958-1960), in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960). Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo. Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới: “Chất vàng mười của đất nước” trong xây dựng xã hội chủ nghĩa qua hình ảnh người lái đò sông Đà.
Người lái đò hiện lên trước hết là một người lao động cần cù, thông minh, người lái đò là một người lao động lành nghề trên sông Đà. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vượt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một: “Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền…Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này…”
Tiếp đó, hình tượng người lái đò hiện lên là người dũng cảm, tài hoa trên mặt trận sông nước qua ba vòng trùng vi thạch trận. Vòng trùng vi thạch trận thứ nhất: Người lái đò như một vị dũng tướng, tài ba. Vòng trùng vi thạch trận thứ hai: Người lái đò là một người nghệ sĩ xiếc rất điêu luyện. Vòng trùng vi thạch trận thứ ba: Người lái đò là một xạ thủ bắn tên. Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”rồi ông lái đò đã“phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Đến vòng thứ ba, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép.
Trong cuộc chiến không cân sức ấy, người lái đò chỉ có một cán chèo, một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng, người lái đò vẫn chiến thắng, khiến cho bọn đá tướng tiu nghỉu bộ mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé.
|
Detailed outline:
1. Introduction: Introducing the author - the work - the image of the Da River boatman.
2. Body of the article
2.1. General:
The work was composed during a field trip to the Northwest by Nguyen Tuan (1958-1960), published in the essay collection "Song Da" (1960).
2.2. Content analysis
Appearance of the Da River ferryman
Qualities of Da River boatmen:
Diligent and intelligent, the ferryman is a skilled worker on the Da River.
Courage on the river front (3 rounds of microscopic stone formations)
Talent:
+ The first micro-lith formation: the ferryman is like a brave and talented general.
+ The second micro-lith formation: the ferryman is a very skilled circus artist.
+ The third round of microscopic stone formations: the ferryman is an arrow shooter.
Artist:
+ Simple concept of extraordinary things.
+ Three relationships of the boatman with the Da River: Da River is the living environment, the number one enemy and an old friend.
2.3. Artistic features
3. Conclusion:
Summarize the analysis and state your own feelings.
Analyze the image of the Da River ferryman
Reference work
Nguyen Tuan is a talented and erudite writer who has been passionate about finding the beauty of life all his life. He has a knack for the essay genre. One of his typical works is the essay "The ferryman on Da River". The work depicts the diverse beauty, both fierce and lyrical, of the Da River and praises the simple but majestic ferryman on the river.
"The boatman on Da River" was composed during a field trip to the Northwest by Nguyen Tuan (1958-1960), published in the essay collection "Song Da" (1960). Nguyen Tuan came to many different lands, lived with soldiers, workers and ethnic people. The practice of building a new life in the highlands has given the writer creative inspiration. Through "The Da River Ferryman", Nguyen Tuan discovered and praised the artistry, talent and courage of the new working people: "The country's ten golden qualities" in building socialism through form. Photo of Da River ferryman.
The ferryman appears first of all as a diligent and intelligent worker. The ferryman is a skilled worker on the Da River. Nguyen Tuan brought his character right into a fierce situation where all those qualities were revealed, if not at the cost of his own life. The writer calls this the arduous fight of the ferryman on the Da River battlefield, on a naval battle on the Da River front. It was a deadly and dangerous waterfall crossing that took place in many episodes and waves like a battle in which the opponent revealed the appearance and mind of the number one enemy: "The rocks here have been lying in ambush for thousands of years." In the river, it seems that every time a boat appears in this noisy but lonely stretch, every time a boat emerges into the river's bend, some of the rocks will rise up to grab the boat... Which rock's face? It looks so unruly, every rock is more wrinkled and distorted than the water surface here..."
Next, the image of the ferryman appears as a brave and talented person on the river front through three rounds of microscopic stone formations. The first micro-lith formation: The ferryman is like a brave and talented general. The second round of microscopic stone formations: The ferryman is a very skilled circus artist. The third round of microscopic stone formations: The ferryman is an arrow shooter. In that stone formation, the boatman held his oar with both hands to prevent it from being thrown out of the waves and thrown straight at him. When the Da River unleashed its most dangerous attack, the water clung to the boat like a wrestler grabbing his waist to flip him upside down in the middle of the thunderous roar of water, the old man remained undeterred, calm, full of ingenuity. Like a commander, steering the boat through the rapids. Even when injured, the boatman still tried to suppress his wound, his legs still clamped tightly around the rudder stem, his face distorted like a wave of waves hitting, cutting, and hitting dangerous places. "After destroying the first micro-lith formation", the ferryman "broke the second siege". The ferryman firmly grasped the strategy of the river god and rock god. By the third round, there were fewer doors, both right and left were dead channels, but the driver actively "attacked": Just launch the boat straight, piercing the middle door. The boat soared through the stone gate, the wings opened and closed.
In that unequal battle, the ferryman had only one oar, a boat with no way back, and the river seemed to possess the supernatural power of a sea monster. However, in the end, the ferryman still won, making the stone generals look pale because they had to give in to a small boat.
|
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm – nhân vật Chiến:
Đọc các tác phẩm của Nguyễn Thi, ta thấy tác phẩm nào của ông cũng nồng nàn hơi thở chất phác, ấm áp và mạnh mẽ của đất đai.
“Những đứa con trong gia đình” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi. Tác phẩm ca ngợi những con người giàu lòng yêu nước, gắn bó với quê hương mà tiêu biểu là nhân vật Chiến.
2. Thân bài
2.1. Nội dung phân tích
Những nét giống mẹ:
+ Vóc dáng: hai bắp tay tròn vo, thân người to và chắc nịch.
+ Đức tính: đảm đang…
Những nét khác mẹ:
+ Tính cách: Chiến là một cô bé hồn nhiên, vô tư ở tuổi mới lớn.
+ Thương em trai, luôn lo cho em, nhường nhịn em.
+ Có điều kiện trực tiếp cầm súng đánh giặc trả thù cho ba má.
+ Ý thức được truyền thống tốt đẹp của gia đình và dân tộc.
So sánh tính cách hai chị em Chiến:
+ Việt – nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong những trang văn của Nguyễn Thi. Việt được bạn đọc yêu thích ở cái vẻ lộc ngộc, vô tư của một cậu con trai đang tuổi ăn tuổi lớn.
+ Chiến được yêu thích ở nét chững chạc, biết thay mẹ lo toan cho em trai và sắp xếp đâu ra đấy mọi chuyện trong nhà. Chiến nhường nhịn em bao nhiêu thì Việt hay tranh giành với chị bấy nhiêu.
2.2. Đặc sắc nghệ thuật
Nguyễn Thi là một trong những nhà văn tài hoa trong bút pháp phân tích tâm lí sắc sảo. Ngôn ngữ trong những trang văn của ông đậm chất Nam Bộ.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua hồi ức, đối thoại bộc lộ tâm lí và tính cách nhân vật.
Lối kể chuyện lôi cuốn có sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ
Nguyễn Thi khắc họa chân thực, sinh động vẻ đẹp của người con gái trẻ tên Chiến – nhân vật đại diện cho những con người giàu lòng yêu quê hương đất nước.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích và nêu cảm nhận
Phân tích nhân vật Chiến
Bài làm tham khảo
Đọc Nguyễn Thi, từ “Người mẹ cầm súng”, “Mẹ vắng nhà” cho đến “Những đứa con trong gia đình”, ta thấy tác phẩm nào của ông cũng nồng nàn hơi thở chất phác, ấm áp và mạnh mẽ của đất đai. Những nhân vật của ông cắm chắc vào đời sống, luôn lăn lộn trong gian nguy, vất vả, khẩu súng như lúc nào cũng ấm tay người, và áo quần dường như vẫn đẫm chất mồ hôi mặn mòi, khét cháy. “Những đứa con trong gia đình” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thi trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm ca ngợi những con người giàu lòng yêu nước, gắn bó với quê hương mà ấn tượng nhất có lẽ là nhân vật Chiến.
Các chi tiết trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi được thuật lại không hoàn toàn theo trật tự thời gian mà chủ yếu là theo dòng hồi tưởng miên man đứt nối của Việt. Người mẹ của hai chị em Việt và Chiến đã ngã xuống, nhưng trái đạn mà chị nhặt vào rổ bưng về để tiếp sức cho cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù tàn ác thì vẫn nóng nguyên. Người mẹ đã khuất, nhưng dòng sông truyền thống gia đình vẫn còn chảy mãi với thời gian. Và hình ảnh chị như được hiện về nguyên hình nguyên dạng trong Chiến – một trong những đứa con của gia đình.
Người con gái trẻ ấy mang vóc dáng của mẹ mình: “hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng…thân người to và chắc nịch”. Đó là những vẻ đẹp của những con người sinh ra ở đời là để gánh vác, để chịu đựng gian khổ và để chiến thắng những thế lực tàn ác.
Nói đến những điểm giống mẹ, ngoài đức tính đảm đang, chu toàn cho gia đình thì chưa bao giờ Chiến giống mẹ hơn cái đêm chị sắp xa nhà đi bộ đội. Phải đến đêm đó thì người ta mới thấy một cô Chiến biết lo liệu, đảm đang, toan tính việc nhà thật trọn vẹn trước sau. Từ em trai cho đến nhà cửa, giường ván, ruộng nương và nơi gửi bàn thờ má. Chiến liệu việc y hệt má, “nói nghe in như má vậy”. Hình ảnh của người mẹ dường như lúc nào cũng bao bọc lấy Chiến khiến Việt không dưới ba lần thấy chị Chiến giống in hệt mẹ, có cái sai khác thì cũng chỉ ở chỗ chị “không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi” mà thôi. Chính bản thân Chiến cũng cũng thấy mình trong đêm ấy đang hòa vào trong mẹ: “Tao cũng lựa ý nếu má còn sống chắc má tính vậy, nên tao cũng tính vậy”.
Nguyễn Thi muốn cho chúng ta hiểu rằng: Trong cái thời điểm thiêng liêng ấy, người mẹ sống hơn bao giờ hết trong những đứa con của họ. “Cả chị cả em cùng nhớ đến má. Hình như má cũng đã về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt? Đêm nay, dễ gì má vắng mặt”.
Chị Chiến chỉ hơn em trai mình là Việt chừng một tuổi nhưng Chiến người lớn hơn hẳn so với Việt. Chiến có thể bỏ ăn để đánh vần cuốn sổ gia đình. Nhưng so với thế hệ của mẹ thì người con gái trẻ ấy là khúc sông sau. Mà khúc sông sau bao giờ cũng chảy được xa hơn khúc sông trước nó. Cho nên cũng dễ tìm ra những nét khiến cho Chiến khác mẹ mình. Chiến là một cô bé hồn nhiên, vô tư ở tuổi mới lớn.
Cái khác ấy không chỉ ở chiếc gương trong túi mà Việt tưởng tượng có thể theo Chiến ra tận ngoài mặt trận, cũng không chỉ ở cái dáng vẻ trẻ trung “kẹp một nhúm tóc mai vào miệng” hay là tính hay cười. Người mẹ, trước nỗi đau mất chồng đã không có dịp nào cầm súng. Còn Chiến, Chiến đi bộ đội để trả thù cho cha mẹ, cho quê hương với quyết tâm như dao chém đá: “Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”. “Đã làm thân con gái” ra ở đời này không chỉ có “chí làm trai”.
Nếu như Việt – nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong những trang văn của Nguyễn Thi. Việt được bạn đọc yêu thích ở cái vẻ lộc ngộc, vô tư của một cậu con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Thì Chiến được yêu thích ở nét chững chạc, biết thay mẹ lo toan cho em trai và sắp xếp đâu ra đấy mọi chuyện trong nhà. Chiến nhường nhịn em bao nhiêu thì Việt hay tranh giành với chị bấy nhiêu. Đêm trước ngày ra đi, Chiến nói với em trai những lời nghiêm trang thì Việt lục “lăn kềnh ra ván cười khì khì”, lúc lại rình “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay”. Vào bộ đội, chị Chiến đem theo tấm gương soi-cái vật tùy thân của một cô gái trẻ. Còn Việt, cậu mang theo một chiếc súng cao su!
|
Detailed outline:
1. Introduction: General introduction about the author - work - character Chien:
Reading Nguyen Thi's works, we see that every one of his works is filled with the simple, warm and strong breath of the land.
"Children in the Family" is one of Nguyen Thi's outstanding works. The work praises people who are patriotic and attached to their homeland, typically the character Chien.
2. Body of the article
2.1. Content analysis
Similarities to mother:
+ Body shape: round biceps, big and stocky body.
+ Virtue: diligence...
Differences from mother:
+ Personality: Chien is an innocent, carefree girl in her teens.
+ Love my younger brother, always take care of him, and give in to him.
+ Have the opportunity to directly take up a gun to fight the enemy to avenge my parents.
+ Be aware of good traditions of family and nation.
Compare the personalities of the two Chien sisters:
+ Viet - the character that appears most often in Nguyen Thi's writings. Viet is loved by readers for his happy, carefree look of a growing up boy.
+ Chien is loved for his maturity, knowing how to take care of his mother for his younger brother and arrange everything in the house properly. The more Chien gives in to his sister, the more Viet often fights with her sister.
2.2. Artistic features
Nguyen Thi is one of the talented writers with sharp psychological analysis. The language in his writing is distinctly Southern.
The art of building characters through memories and dialogue reveals the character's psychology and personality.
The engaging storytelling style intertwines the present and the past
Nguyen Thi realistically and vividly portrays the beauty of a young girl named Chien - a character representing people who love their homeland.
3. Conclusion
Summarize the analysis and state your comments
Analysis of Chien's character
Reference work
Reading Nguyen Thi, from "The Gun-Holding Mother", "The Absent Mother" to "Children in the Family", we see that all of his works are filled with the simple, warm and strong breath of the earth. band. His characters are firmly rooted in life, always struggling in danger and hardship, their guns seem to always be warm in their hands, and their clothes still seem to be soaked in salty, burning sweat. "Children in the Family" is one of Nguyen Thi's excellent short stories during the resistance war against America. The work praises people who are patriotic and attached to their homeland, but the most impressive one is probably the character Chien.
The details in Nguyen Thi's work "Children in the Family" are narrated not entirely in chronological order but mainly according to Viet's endless stream of disconnected memories. The mother of two sisters Viet and Chien fell, but the bullet she picked up in a basket to carry back to fuel the fight against the cruel enemy was still hot. The mother has passed away, but the river of family tradition still flows forever. And her image seemed to be restored to her original form in Chien - one of the family's children.
That young girl has her mother's physique: "two round biceps, sunburnt red...body big and stocky". Those are the beauties of people born into this world to shoulder, to endure hardships and to defeat cruel forces.
Speaking of similarities to her mother, besides her qualities of being responsible and taking care of her family, Chien has never been more like her mother than the night she was about to leave home to join the army. It wasn't until that night that people saw a Ms. Chien who knew how to manage, be responsible, and plan the housework thoroughly. From my younger brother to the house, the plank bed, the fields and the place where my mother's altar was placed. The tactic is exactly the same as my mother, "speaking and sounding like my mother". The image of the mother seemed to always surround Chien, making Viet no less than three times see that Chien looked exactly like her mother, the only difference was that she "didn't break her arms and hit her thighs complaining of fatigue." never mind. Chien himself also found himself that night merging with his mother: "I also decided that if my mother was still alive, she would have planned the same, so I also planned the same."
Nguyen Thi wants us to understand that: In that sacred time, mothers live more than ever in their children. “Both my sister and I remember my mother. It seems like my mother has returned somewhere. Is your mother following the fireflies on the roof or is she sitting leaning against some rice baskets, holding her hat and fanning it? Tonight, it's easy for Mom to be absent."
Chien is only about a year older than her younger brother Viet, but Chien is much older than Viet. Chien can skip meals to spell out the family book. But compared to her mother's generation, that young girl is the next river. The next river section always flows farther than the previous river section. Therefore, it is easy to find the features that make Chien different from his mother. Chien is an innocent, carefree girl in her teens.
The difference was not only in the mirror in his pocket, but Viet imagined that he could follow Chien to the front, nor only in his youthful appearance "with a strand of sideburns stuck in his mouth" or his habit of smiling. The mother, faced with the pain of losing her husband, had no opportunity to hold a gun. As for Chien, Chien joined the army to avenge his parents and homeland with determination like a knife cutting stone: "I already told Uncle Nam. Having lost my daughter, I only have one sentence: if the enemy remains, I will die, is that so? "Being a girl" in this life is not just "willing to be a boy".
If Viet - the character that appears most often in Nguyen Thi's writing pages. Viet is loved by readers for his happy, carefree look of a growing up boy. Chien is loved for his maturity, knowing how to take care of his mother for his younger brother and arrange everything in the house properly. The more Chien gives in to his sister, the more Viet often fights with her sister. The night before his departure, Chien said serious words to his younger brother, Viet Luc "rolled over on the board laughing", sometimes sneaked up "taking a picture of a firefly in his hand". Entering the army, Chien brought with her a mirror - a young girl's personal identification item. As for Viet, he brought a slingshot!
|
Bài làm
Những cánh rừng xà nu ngút ngàn, xa tận chân trời được nhà văn Nguyễn Trung Thành lấy làm hình ảnh trung tâm trong truyện ngắn “Rừng xà nu”. Cây xà nu đã gắn liền với đời sống tinh thần của những con người Xô man, cây xà nu cùng đất nước đứng lên chống giặc ngoại xâm trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
“Rừng xà nu” được lấy cảm hứng từ những trận chiến đấu của những người dân Tây Nguyên nói chung trong những ngày tháng khói lửa của chiến tranh. Vô vàn khó khăn và thử thách không ngừng dội xuống cho con người mà con cả thiên nhiên. Cánh rừng xà nu vẫn kiên trung đứng giữa đất trời như biểu tượng vững vàng cho đất và người Xô man, sẽ luôn chiến đấu để bảo vệ tự do và hạnh phúc của chính mình và của cả dân tộc.
Cây xà nu gắn bó trong đời sống thường ngày, trong sinh hoạt hàng ngày của người dân Xô man. Từ khói bếp lửa nơi nhà sàn, ánh lửa những đêm đốt lửa nghe cụ Mết kể chuyện Tnú, nhựa cây xà nu được anh Thắng lấy làm bảng đen dạy Tnú và Mai học con chữ,… Xà nu đã đi vào đời sống của người dân làng Xô man bằng những hình ảnh gần gũi và dung dị nhất. Ngay từ khi sinh ra, cây xà nu đã ôm những con người Xô man vào lòng, chứng kiến hết thảy những đổi thay của con người nơi đây.
Cánh rừng xà nu trong miêu tả của Nguyễn Trung Thành còn là hiện trưng cho sức mạnh, giống như người mẹ bảo vệ những đứa con của mình. Rừng xà nu phải chịu biết bao vết thương trong chiến tranh “cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương. Có cây bị chặt đứt nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão; ở chỗ vết thương nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt rồi dần dần bầm đen lại và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Đã trở thành quy luật, cánh rừng xà nu nơi đầu con nước lớn của làng Xô man phải hứng chịu nhiều trận đánh từ giặc “chúng nó bắn đã thành lệ, ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm hoặc trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác của đồn giặc đều rơi vào ngọn đồi xà nu”… Cánh rừng xà nu đã phải gồng mình chịu bao đau thương, nhưng không bao giờ chịu khuất phục trước súng đạn của kẻ thù.
Giống như những con người bình dị Xô man, rừng xà nu cũng vươn mình đứng dậy qua bao lần bị đánh phá. Rừng xà nu đã là nơi đón đầu giặc Mỹ, giữa cánh rừng bao la ấy như bủa vây cản bước quân thù. Dù không thể đếm được là bao nhiêu cây đã ngã xuống nhưng cánh xà nu vẫn vươn mình đứng dậy, đâm những ngọn lá xanh mướt như những ngọn giáo lên bầu trời như thách thức, hiên ngang trước sự khắc nghiệt, tàn phá của quân thù.
Từng cây xà nu đứng dậy, kiêu hãnh, song song đồng hành cùng người dân làng Xô man. Biết bao thế hệ ngã xuống, từ anh Sút, bà Nhan đến Tnú và Mai,… Thế hệ nối tiếp thế hệ để bảo vệ dân làng, đi theo tiếng gọi của Đảng, theo lời căn dặn của cụ Mết “Đảng còn thì núi nước này còn”. Cánh rừng xà nu chảy không biết bao nhiêu “máu” nhưng cũng đầy oai hùng, biết đứng dậy mạnh mẽ sau nhiều mất mát. Dù những mầm non mới bắt đầu chớm nở nhưng cũng đã là sức mạnh, là sự kiên cường đáng ngưỡng mộ để đi về tương lai tươi sáng hơn.
Ngọn lửa của cây xà nu rực cháy trên mười đầu ngón tay của Tnú như thổi bùng lên sức mạnh của người dân Xô man nói riêng và cả cộng đồng dân tộc Tây Nguyên nói chung. Nhựa cây xà nu bùng cháy suốt đêm như thúc giục, là sự sục sôi trong ý chí chiến đấu của cả vùng đất rộng lớn, thực hiện lời giáo huấn “chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo”.
|
Assignment
The immense sandalwood forests, far away into the horizon, were taken by writer Nguyen Trung Thanh as the central image in the short story "The Snakewood Forest". The snake plant has been associated with the spiritual life of the Soviet people. The snake plant and the country stood up against foreign invaders during the years of resistance against the US.
“The Snake Forest” was inspired by the battles of the Central Highlands people in general during the smoky days of war. Countless difficulties and challenges constantly rain down on humans and nature. The sandalwood forest still stands steadfastly between heaven and earth as a steadfast symbol for the land and the Soviet people, who will always fight to protect the freedom and happiness of themselves and the entire nation.
The snake plant is closely associated with the daily life and daily activities of the Soviet people. From the smoke of the kitchen fire in the house on stilts, the firelight of the nights when he lit a fire and listened to Mr. Met tell the story of Tnú, the sap of the snakehead tree was used by Mr. Thang as a blackboard to teach Tnú and Mai to learn letters,... Snakeheads have entered the lives of people. Xo man villagers with the most familiar and simple images. Right from birth, the snakehead tree has held the Soviet people in its arms, witnessing all the changes of people here.
The snake forest in Nguyen Trung Thanh's description also symbolizes strength, like a mother protecting her children. The soapberry forest suffered countless wounds during the war: "There are tens of thousands of trees in the entire snakewood forest, not a single tree is uninjured. Some trees had half their trunks cut off and fell like a storm; In the wound, the sap oozed out abundantly, fragrant, glistening in the harsh summer sun, then gradually darkened and thickened into large clots of blood. It has become a rule that the snake forest at the head of the big river in the village of Xo Man has to endure many battles from the enemy. "They shoot as a custom, twice a day, either early in the morning and late in the afternoon, or in the shadows. and dusk, or midnight, or when the cock crows. Most of the enemy's cannonballs fell on the hill of the enemy's guns... The forest of the enemy had to endure much pain and suffering, but never succumbed to the enemy's guns and bullets.
Like the simple people of the Soviet barbarians, the snake forest also stood up after being attacked many times. The snake forest was the place to welcome the American invaders. In the middle of that vast forest, it seemed to surround and block the enemy's progress. Although it is impossible to count how many trees have fallen, the snake's wings still rise up, stabbing green leaves like spears into the sky as if challenging, standing tall in the face of the harshness and destruction of the army. enemy.
Each snake tree stood up, proud, accompanying the people of Xo man village. So many generations have fallen, from Mr. Sut and Ms. Nhan to Tnú and Mai... Generation after generation to protect the villagers, following the call of the Party, following the advice of Mr. Met, "If the Party is still alive, then the mountains are gone." This country still exists". The snake forest flows with countless "blood" but is also full of majesty, knowing how to stand up strong after many losses. Although the young shoots have just begun to sprout, they are already strength and admirable resilience to move forward into a brighter future.
The fire of the snake plant burning on Tnú's ten fingertips seemed to ignite the strength of the Soviet people in particular and the Central Highlands ethnic community in general. The sap of the snake plant burned throughout the night as if urging, the boiling of the fighting will of the entire vast land, carrying out the teaching "If they hold guns, we must hold spears".
|
Bài làm
Núi non hùng vĩ của làng Xôman đã sinh ra người anh hùng mang tên Tnú. Qua từng hành động, qua từng lời nói chúng ta càng yêu mến hơn con người hết lòng vì đất nước, có tấm lòng yêu thương gia đình, yêu thương đồng bào sâu nặng.
Tnú là người yêu Cách mạng, sẵn sàng hi sinh thân mình để bảo vệ cán bộ Cách mạng, bảo vệ người dân Strá. Ngay từ nhỏ, Tnú đã là người thông minh, dũng cảm, nhanh trí, xử lí các tình huống nguy hiểm. Vượt qua bao nhiêu con suối dưới sự quản lí chặt chẽ của giặc, leo qua không biết bao ngọn đồi, bao cây xà nu để rẽ đường cho cán bộ Cách mạng. Sự hăng say trong công tác đưa đón cán bộ ngay khi còn nhỏ đã báo hiệu một người có thể làm Cách mạng sau này.
Khi không thể học được chữ, Tnú tự lấy đá đập vào đầu mình, giận dỗi bỏ ra bờ suối. Ý thức cái tôi lớn, mong muốn học được con chữ để có thể nhanh chóng làm Cách mạng, quả thực là một con người anh dũng.
Khi trưởng thành Tnú tiếp bước con đường Cách mạng, cùng dân làng chống lại sự càn quét của quân đội Mỹ – ngụy. Trái tim của người con Strá đã nguyện hiến dâng cho Tổ quốc. Anh luôn đi đầu trong các phong trào kháng chiến, là tấm gương sáng cho già trẻ, lớn bé làng Xôman ngưỡng mộ noi theo. Trong căn nhà sàn đầy ắp ánh lửa, giọng cụ Mết trầm ấm kể về cuộc đời Tnú. Cách người già làng căn dặn lũ nhỏ trong làng, căn dặn lứa thanh niên trẻ, kể cho nhau nghe lại câu chuyện về người anh hùng của bản, người có tấm lòng trong sáng như con nước đầu làng. Câu chuyện của Tnú đã thắp sáng biết bao con người hòa cùng niềm tin, sức mạnh, chung tay bảo vệ buôn làng.
Mười đầu ngón tay Tnú bị tẩm nhựa xà nu cháy đỏ rực, ngọn lửa ấy chỉ thiêu đốt được cơ thể của anh mà không lay chuyển được trái tim của người anh hùng Cách mạng. Ngọn lửa được bùng cháy mạnh mẽ nhất khi con người Tnú đã thấm nhuần tư tưởng “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Có áp bức ắt có đấu tranh và sự đấu tranh ấy là tất yếu. Dù có mất đi mười đầu ngón tay nhưng khối óc và trái tim của người anh hùng của dân làng Xôman càng tực cháy hơn bao giờ hết, bởi chính Tnú biết rõ nếu không đấu tranh, không sử dụng vũ khí sẽ không bao giờ dành chiến thắng. Tnú là hình mẫu lí tưởng của những người dân Tây Nguyên thấm đượm tư tưởng Cách mạng, là người con kiên trung của đất nước.
Tnú còn là người có tấm lòng yêu quê hương sâu sắc. Về làng sau nhiều năm, con nước đầu làng lại đưa những kí ức vọng về. Từng chút muối được anh nâng niu, chia sẻ cho từng người dân trong làng. Vị muối mặn nồng, món quà vô giá giữa những ngày tháng khó khăn làm vui thêm trong từng căn nhà nhỏ. Tấm lòng thương đồng bào càng thúc giục anh sớm ra trận, sớm trở về vinh quang để trợ giúp buôn làng.
Nhân vật Tnú còn là người chịu nhiều những mất mát gia đình. Sinh ra đã không còn bố mẹ, Tnú được yêu thương bởi tấm lòng của người dân Xôman. Khi có cho mình một gia đình nhỏ với Mai, nhưng cũng không trọn vẹn. Tnú đã phải chịu bao nhiêu đau thương cả về thể xác lẫn tinh thần. Tình yêu dành cho đất nước đã được đặt cao hơn hết thảy, dù có đau thương đến đâu, nhiệm vụ của người Cách mạng vẫn được đề cao trước hết. Từ những đau thương đã biến thành sức mạnh, phải tự lớn mạnh.
Hình ảnh Tnú cũng giống như cây xà nu vậy. Biết bao phong ba vẫn đứng lên mạnh mẽ, là cầu nối, là điểm tựa vững vàng của cả dân làng. Nguyễn Trung Thành đã thực sự thành công trong việc xây dựng hình ảnh về người anh hùng Xôman với những phẩm chất vô cùng đáng quý. Tnú lại một lần nữa gợi nhớ tới hình ảnh anh hùng Núp của buôn làng Tây Nguyên, những con người kiên trung, dũng cảm, thông minh của Cách mạng.
|
Assignment
The majestic mountains of Soman village gave birth to a hero named Tnú. Through every action, through every word, we love more and more people who are wholeheartedly devoted to the country, who have a deep love for their family and their fellow countrymen.
Tnú is a lover of the Revolution, ready to sacrifice himself to protect the Revolutionary cadres and the people of Stra. From a young age, Tnú was smart, brave, quick-witted, and able to handle dangerous situations. Crossed so many streams under the strict management of the enemy, climbed over countless hills, and many snake plants to clear the way for Revolutionary cadres. The enthusiasm in transporting cadres at an early age signaled that a person could make a Revolution later.
When he couldn't learn to read, Tnú hit himself on the head with a rock and angrily walked to the stream bank. Having a great sense of ego and wanting to learn the letters to be able to quickly make a Revolution, he is truly a heroic person.
When he grew up, Tnú followed the path of Revolution, together with the villagers to resist the invasion of the US-puppet army. The heart of the son of Stra vowed to dedicate himself to the Fatherland. He was always at the forefront of resistance movements, a shining example for the young and old in the Soviet village to admire and follow. In the stilt house filled with firelight, Mr. Met's warm voice told about Tnú's life. The way the village elders advise the children in the village, instruct the young people, and tell each other the story of the village's hero, the person with a pure heart like the village's head of water. Tnú's story has inspired many people to join hands in protecting the village with faith and strength.
The ten tips of Tnú's fingers were soaked in burning red soap, that fire only burned his body but could not shake the heart of the Revolutionary hero. The fire burned most strongly when Tnú people were imbued with the thought "They hold guns, we must hold spears". Where there is oppression, there must be struggle and that struggle is inevitable. Even though he lost ten fingers, the mind and heart of the hero of the Soman villagers burned more than ever, because Tnú himself knew that if he did not fight or use weapons, he would never win. win. Tnú is the ideal model of the people of the Central Highlands imbued with Revolutionary ideology, a loyal son of the country.
Tnú is also a person who deeply loves his homeland. Returning to the village after many years, the water at the head of the village brought back memories. He cherished every bit of salt and shared it with each person in the village. The strong salty taste, a priceless gift in the midst of difficult days, adds joy to every small house. His love for his people urged him to go to war as soon as possible and return with glory to help his village.
The character Tnú is also someone who has suffered many family losses. Born without parents, Tnú is loved by the hearts of the Soman people. Even though I have a small family with Mai, it's not complete. Tnú had to endure so much pain both physically and mentally. Love for the country has been placed above all else, no matter how painful it is, the mission of the Revolutionary people is still emphasized first. From the pain that has turned into strength, we must grow stronger.
The image of Tnú is like that of a snake plant. There are so many heroes still standing strong, being a bridge and a strong fulcrum for the whole village. Nguyen Trung Thanh has truly succeeded in building the image of a Soviet hero with extremely valuable qualities. Tnú once again evokes the image of the heroic Nup of the Central Highlands villages, the steadfast, brave, and intelligent people of the Revolution.
|
Bài làm
Nhắc đến Nguyễn Thi không thể không nhắc đến một người con của Nam Bộ, một người gắn bó sâu sắc với nhân dân miền Nam, tác phẩm những đứa con trong gia đình là tác phẩm xuất sắc của ông viết về người nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm, khát khao hòa bình, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước mình, xuyên suốt mạch truyện là hình ảnh hai chị em Chiến và Việt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.
Hai chị em được sinh ra và lớn lên trong gia đình cách mạng, từ nhỏ cả hai đã mang trong mình lòng yêu nước, lòng căm thù giặc vì đã cướp đi niềm hạnh phúc gia đình của hai chị em, cướp đi tình yêu từ cha, mẹ, ông bà mà đáng lẽ ra hai người phải có được. Từ nhỏ đã phải chịu sự mất mát to lớn đó nhưng hai chị em không hề run sợ trước kẻ địch, không hề suy sụp mà trái lại càng làm cho sự căm thù giặc trong hai con người ngày một sâu sắc, cả hai đều muốn tự tay mình trả thù cho ông bà, ba mẹ, đều muốn cầm súng đứng lên đánh giặc.
Tình cảm đó được tác giả thể hiện vô cùng xuất sắc trước tình tiết hai chị em tranh nhau đi tòng quân và sáng hôm sau trước khi lên đường là cảnh hai chị em khiêng bàn thờ má sang nhà chú năm gửi gắm để đến khi hai đứa trả thù xong sẽ trở về đón má sau. Cảnh tượng đó càng làm cho tình thương người chị của Việt rõ nét hơn bao giờ hết, nỗi căm thù giặc càng cháy bỏng trong con người cậu, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, tình yêu của những con người phải chịu hậu quả của chiến tranh đã thể hiện rõ ý nghĩa của cuộc chiến tranh phi nghĩa mà lũ cướp nước gây ra, từ đó việc lên đường đánh mỹ cũng vì đạo lý trả thù nhà, rửa hận cho quê hương, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước về cả tinh thần và dũng khí.
Sự kiên cường của hai chị em đã biến họ thành những chiến sĩ dũng cảm, gan góc, sức mạnh ẩn sâu trong những con người ấy đã tạo nên chiến công mà không phải ai cũng làm được, ở cái tuổi 18 đôi mươi đã là tiểu đội trưởng của bộ đội nữ địa phương Bến Tre, đôi bàn tay cầm bút nay vì nước mà nâng súng đã bắn chìm tàu mỹ, còn Việt là em nhưng cũng không kém là bao so với chị, đôi bàn tay cậu phá xe tăng địch trong trận đánh giáp lá cà, hai con người đã xác định ra trận sẽ không quay trở về nếu như chưa trả được thù cho ba mẹ sẽ quyết định không trở về. Và dù cho sau này Việt có bị thương nặng thì ý chí trong cậu vẫn không bao giờ tắt, hai mắt dù đã không nhìn thấy gì, cơ thể cậu toàn thân đầu đau nhức, máu chảy và mất cảm giác nhưng cậu vẫn kiên cường đứng đó, vẫn cầm chắc súng trong tay sẵn sàng bắn trả địch bất cứ lúc nào. Mạnh mẽ là vậy, ý trí cao là vậy nhưng cả hai con người đều còn rất trẻ, họ vẫn còn ngây thơ trẻ trung của lứa tuổi mới lớn, vẫn tranh giành nhau như những đứa trẻ, chính chiến tranh đã làm nên những con người yêu nước, truyền thống cách mạng gia đình của họ.
Cùng phong cách sống, quan điểm sống, chung một mối thù nhưng mỗi người lại có những nét riêng biệt của mình, mỗi người một tính cách riêng, người chị là một cô gái gan góc, cứng cáp, hiểu chuyện và biết quan tâm tới người em trai của mình, còn Việt là người con trai nhưng tính tình hiếu động, suốt ngày hòa mình vào thiên nhiên với chim, cá mây trời. Người chị luôn đảm đang trong cuộc sống, vì ba mẹ mất sớm nên đã tôi luyện trong người cô một tính cách mạnh mẽ, biết lo toan cho gia đình, lo toan cho người em của mình, ra dáng là một trụ cột gia đình, còn về phần Việt tuy là con trai nhưng lại được nuông chiều, công việc nhà, công việc quan trọng đã được người chị lo toan hết nên cậu có phần ỷ lại, yêu quý người chị của mình vô cùng nhưng chỉ giữ trong lòng, đánh giặc không sợ chết nhưng lại sợ ma vô cùng, chất trẻ thơ hồn nhiên vui tươi đó đã tạo nên hình ảnh Việt vô cùng độc đáo với những nét riêng biệt.
|
Assignment
When mentioning Nguyen Thi, it is impossible not to mention a son of the South, a person deeply attached to the people of the South. His work Children in the Family is his excellent work about Southern farmers. has a patriotic tradition, hates foreign invaders, longs for peace, is ready to fight to protect his homeland and country, throughout the story line are the images of two sisters Chien and Viet during the resistance period. war against America.
The two sisters were born and raised in a revolutionary family. Since childhood, both of them have had patriotism and hatred for the enemy for robbing them of family happiness and robbing them of love. father, mother, grandparents that the two of you should have had. Having suffered that great loss since childhood, the two sisters did not tremble in front of the enemy, did not collapse, but on the contrary, the hatred for the enemy became deeper and deeper in the two people, both wanted to With my own hands, I avenged my grandparents and parents. They all wanted to pick up guns and fight the enemy.
That sentiment was expressed extremely well by the author in the scene where the two sisters fought to join the army and the next morning before leaving, the scene of the two sisters carrying their mother's altar to their fifth uncle's house to entrust them to. After revenge, the child will return to pick up his mother later. That scene made Viet's love for his sister clearer than ever, his hatred for the enemy burning even more in him, his love for his homeland, his love for his family, his love for those who must suffering the consequences of the war clearly demonstrated the meaning of the unjust war that the bandits caused. From then on, going to fight against America was also because of the morality of revenge for one's family, to avenge the homeland, and for the next generation to follow. continue the previous generation in both spirit and courage.
The resilience of the two sisters turned them into brave, courageous soldiers. The strength hidden deep within those people created feats that not everyone could accomplish, at the age of 18 and 20 they were already The squad leader of the local women's army of Ben Tre, the hands that held the pen now raised the gun for the sake of the country and sank the American ship, while Viet was his younger brother but not much worse than his sister, his hands destroyed tanks. enemy in hand-to-hand combat, two people who had decided not to return from battle without avenging their parents decided not to return. And even though Viet was later seriously injured, his will was never extinguished. Even though his eyes could no longer see anything, his whole body ached, his head ached, he was bleeding and he lost feeling, but he was still resilient. Standing there, still holding the gun firmly in hand, ready to shoot back at the enemy at any time. So strong, so high-minded, but both people are still very young, they still have the youthful innocence of adolescence, still fighting with each other like children, it was the war that created them. patriots, their family revolutionary tradition.
Sharing the same lifestyle, outlook on life, the same hatred, but each person has their own unique characteristics, each person has their own personality, the older sister is a brave, strong, understanding and caring girl. To his younger brother, Viet is a boy with an active personality, spending all day immersed in nature with birds and fish in the sky. The older sister is always responsible in life. Because her parents died early, she has trained a strong personality in her, knowing how to take care of the family, take care of her younger brother, and act like a breadwinner. As for Viet, although he is a boy, he is pampered, the housework and important work are taken care of by his older sister, so he somewhat relies on his older sister, loves him very much, but only keeps it in his heart. , fighting the enemy is not afraid of death but is extremely afraid of ghosts, that innocent and joyful childlike quality has created an extremely unique image of Vietnam with its own distinct features.
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm – nhân vật A Phủ
“Vợ chồng A Phủ” là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn Tô Hoài lên Tây Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Bằng lòng khao khát sống mãnh liệt họ đã đến với Cách mạng, đến với ánh sáng của Đảng mà đại diện cho lớp người đó chính là hình tượng nhân vật A Phủ.
2. Thân bài
Nội dung phân tích
Xuất thân – Cảnh ngộ :
+ A Phủ mồ côi cả cha lẫn mẹ vì nhà bị chết dịch.
+ Tuy chỉ mới 14 tuổi, A Phủ đã rất gan bướng, trốn thoát lên núi, rồi lưu lạc đến Hồng Ngài.
+ Lớn lên, A Phủ thành một chàng trai khỏe mạnh “chạy nhanh như ngựa”, lao động giỏi, lại “săn bò tót rất thạo”. Vì thế, A Phủ trở thành niềm mơ ước của bao cô gái.
+ A Phủ suốt đời làm thuê làm mướn, nghèo đến nỗi không thể nào lấy được vợ và cũng không có nổi lấy một cái vòng bạc để đi chơi ngày Tết như bao chàng trai Hmông khác.
Số phận: Chịu thân phận của kẻ nghèo hèn bị áp bức, bóc lột. Trải qua những ngày tháng đọa đày cùng cực trong nhà Thống lí
Đức tính đáng quý: Tháo vác, kiên cường, lòng ham sống mãnh liệt.
=> Tinh thần phản kháng là cơ sở để sau này, khi gặp A Châu – người cán bộ của Đảng, A Phủ nhanh chóng giác ngộ cách mạng, anh tham gia du kích, tích cực đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng quê hương.
Đặc sắc nghệ thuật
Khẳng định tài năng của nhà văn đã mang lại sức sống cho tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” trong việc xây dựng nhân vật.
Tạo được những tình huống độc đáo, hấp dẫn, lối kể chuyện giản dị, ngôn ngữ chính xác, tinh tế.
3. Kết bài.
Tổng kết nội dung phân tích.
Nêu cảm nhận.
Phân tích nhân vật A Phủ
Bài làm tham khảo
“Vợ chồng A Phủ” là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn Tô Hoài lên Tây Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tryện ngắn này năm trong số rất ít những tác phẩm của các nhà văn khác viết cùng thời còn sức sống lâu bền, không chỉ bởi nghệ thuật đặc sắc mà còn bởi nội dung phản ánh chân thực sinh động về số phận những con người nô lệ. Bằng lòng khao khát sống mãnh liệt họ đã đến với Cách mạng, đến với ánh sáng của Đảng mà đại diện cho lớp người đó chính là hình tượng nhân vật A Phủ.
Nửa đầu của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” tác giả kể về quãng đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài và cả hai đều làm tay sai trong nhà thống lí Pá Tra. Ở giai đoạn này, A Phủ chỉ là nhân vật phụ nhưng lại góp phần quan trọng làm nổi bật hình tượng nhân vật chính – Mị, đồng thời khắc họa rõ hơn chủ đề tác phẩm. Nhân vật A Phủ được Tô Hoài miêu tả sóng đôi với nhân vật Mị và thân phận nô lệ cũng không ngoại trừ anh. A phủ cũng là nhân vật đại diện cho lớp người lao động nghèo khổ bị áp bức bóc lột tàn bạo.
Từ khi còn nhỏ, A Phủ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ vì “năm xưa, làng Háng –Bla phải một trận đậu mùa, nhiều trẻ con, cả người lớn, chết, có nơi chết cả nhà” và chỉ có A Phủ là may mắn sống sót. Cuộc đời bất hạnh của A Phủ cũng bắt đầu từ đây. Có người làng đói bụng đã bắt A Phủ đem xuống bán ở cánh đồng của người Thái để đổi lấy thóc ăn. Có lẽ do thiếu thốn tình cảm của cha mẹ nên khi mới mười bốn, A Phủ rất “gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp. A Phủ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài”. Lớn lên giữa núi rừng mùa này sang mùa khác, chẳng mấy chốc A Phủ đã thành một chàng trai khỏe mạnh lao động giỏi “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”. Chính vì thế mà A Phủ được rất nhiều cô gái trong vùng say đắm, họ còn bảo với nhau rằng “Đứa nào được A Phủ cũng bằng có được con trâu tốt trong nhà”. Được nhiều người mê là vậy nhưng hoàn cảnh của A Phủ “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc” suốt đời làm thuê làm mướn, nên không một ai muốn gả con gái mình cho A Phủ cả.
Bi kịch chưa dừng lại ở đó. Trong một đêm sinh sự đánh nhau với con quan làng – A Sử, A Phủ đã ra tay trừng trị thói con quan ỷ thế làm càn của A Sử. Sau đó thì anh đã bị bắt sống mang về nhà thống lí Pá Tra và phải nhận lấy những trận đòn kinh người. Vốn là một đứa trẻ ngang bướng từ nhỏ nên anh rất cứng đầu và không chịu khuất phục. Dù bị đánh đập A Phủ cũng không hề kêu than đến nửa lời. Không có tiền nộp phạt A Phủ đành “phải đi trừ nợ cho nhà quan thống lí Pá Tra”. Suốt năm, suốt tháng A Phủ quần quật với công việc “đốt rừng, cày nương, cuốc mương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng”. A Phủ chấp nhận sự áp bức đó cũng vì anh biết mình đã gây nên tội thì cùng phải chịu phạt. Hơn nữa, chính A Phủ cũng không có gia đình, không ruộng, không bạc, vì vậy việc trở thành tay sai cho nhà thống lí cũng là lẽ đương nhiên.
Khi bị hổ vồ mất bò do A Phủ mài bẫy nhím “A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột trong góc nhà bằng dây mây quấn từ chân đến vai, chờ khi nào bắn được hổ mới tha”. Khi ấy Hồng Ngài đang là mùa đông, nhưng vốn là người mạnh mẽ, gan góc nên A Phủ cũng không sợ gì, ngay cả khi cái chết gần kề. Bị trói đứng, đói, khát trong cái lạnh cắt da, khiến Mị còn nghĩ rằng “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Cho dù như vậy, A Phủ cũng không chịu khuất phục, anh nhai đứt hai vòng dây trói, song không thoát. Chính Mị đã thấy A Phủ rơi nước mắt “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hãm má đã xám đen lại” của chàng trai A Phủ vô cùng mẽ. Đó là giọt lệ cay đắng tuyệt vọng, buông tay trước số phận nghiệt ngã. Qua đó ta càng cảm nhận rõ hơn những đức tính đáng quý ở A Phủ – một chàng trai tháo vác, kiên cường với một lòng ham sống mãnh liệt. Đông thời ta càng lật rõ bộ mặt tàn bạo của chế độ phong kiến ngự trị ở miền núi Tây Bắc khi xưa.
Những đức tính đáng quý cùng với tinh thần phản kháng mãnh liệt của A Phủ chính là cơ sở để sau này, khi anh gặp A Châu – người cán bộ của Đảng. A Phủ đã nhanh chóng giác ngộ lí tưởng Cách Mạng, điều này đã thôi thúc anh tham gia du kích, tích cực đấu tranh để giải phóng chính bản thân mình và giải phóng cho quê hương.
|
Detailed outline
1. Introduction:
General introduction about the author - work - character A Phu
"A Phu Couple" is the result of writer To Hoai's field trip to the Northwest during the resistance war against the French.
With a strong desire to live, they came to the Revolution, to the light of the Party, representing that class of people is the image of the character A Phu.
2. Body of the article
Content analysis
Origin – Circumstances:
+ A Phu lost both his parents because his family died of an epidemic.
+ Although only 14 years old, A Phu was very stubborn, escaped to the mountains, and then wandered to Hong Ngai.
+ Growing up, A Phu became a healthy young man who "ran as fast as a horse", was good at working, and was "very good at hunting bulls". Therefore, A Phu became the dream of many girls.
+ A Phu worked all his life as a hired laborer, so poor that he could not get married and could not even get a silver bracelet to go out on Tet like other Hmong boys.
Fate: Suffering the fate of the poor, oppressed and exploited. Experiencing days of extreme suffering in the Governor's house
Valuable virtues: Resourcefulness, resilience, strong desire to live.
=> The spirit of resistance is the basis for later, when he met A Chau - a Party cadre, A Phu quickly became enlightened about the revolution, he joined the guerrillas, actively fought to liberate himself and liberate himself. hometown.
Artistic features
Affirming the writer's talent has brought vitality to the work "A Phu and his wife" in building characters.
Create unique, attractive situations, simple storytelling, precise and sophisticated language.
3. Conclusion.
Summary of analysis content.
State your feelings.
Analyze the character A Phu
Reference work
"A Phu Couple" is the result of writer To Hoai's field trip to the Northwest during the resistance war against the French. This short story is one of the very few works by other writers written at the same time that still has lasting vitality, not only because of its unique art but also because of its content, which vividly reflects the fate of slaves. rule. With a strong desire to live, they came to the Revolution, to the light of the Party, representing that class of people is the image of the character A Phu.
The first half of the work "A Phu and his wife" tells about the life of Mi and A Phu in Hong Ngai and both worked as henchmen in the house of governor Pa Tra. At this stage, A Phu is only a supporting character but makes an important contribution to highlighting the image of the main character - Mi, while also portraying the theme of the work more clearly. The character A Phu is described by To Hoai in parallel with the character Mi and his slave status is no exception. A Phu is also a character representing the poor working class who are brutally oppressed and exploited.
From a young age, A Phu lost both his parents because "in the past, Hang-Bla village suffered a smallpox epidemic, many children and adults died, and in some places the whole family died" and only A Phu was the only one. is lucky to survive. A Phu's unhappy life also started from here. A hungry villager captured A Phu and sold him in a Thai field in exchange for rice. Perhaps due to the lack of affection from his parents, when he was only fourteen, A Phu was very "stubborn, refusing to stay in the low fields. A Phu fled to the mountains and wandered to Hong Ngai. Growing up in the mountains and forests season after season, A Phu soon became a strong and hardworking young man who "knows how to cast plowshares, chisel hoes, plow well and hunt gaur very fiercely". That's why A Phu is loved by many girls in the area. They even tell each other that "Whoever gets A Phu is equal to having a good buffalo in the house". Even though many people love her, A Phu's situation is "no parents, no fields, no money" and she has worked as a laborer all her life, so no one wants to marry her daughter to A Phu.
The tragedy did not stop there. One night, there was a fight with the village mandarin's son - A Su. A Phu took action to punish A Su's habit of relying on his position and acting arrogantly. After that, he was captured alive and brought to the house of governor Pa Tra and had to receive terrible beatings. Being a stubborn child since childhood, he was very stubborn and refused to yield. Even though A Phu was beaten, he never complained. Having no money to pay the fine, A Phu had to "have to pay off the debt of the governor of Pa Tra". Throughout the year, throughout the month, A Phu works hard at "burning forests, plowing fields, digging ditches, hunting bulls, trapping tigers, herding cows, herding horses, all year round alone wandering around the hills outside the forest." . A Phu accepted that oppression because he knew that he had committed a crime and must be punished. Furthermore, A Phu himself had no family, no fields, no money, so it was natural for him to become a lackey for the governor.
When the cow was mauled by a tiger because A Phu had sharpened a porcupine trap, "A Phu was forced to stand tied to a pillar in the corner of the house with a rattan rope from his feet to his shoulders, waiting until he could shoot the tiger before releasing him." At that time, it was winter for Hong Ngai, but because he was a strong and courageous person, A Phu was not afraid of anything, even when death was near. Being tied up, hungry, thirsty in the biting cold, made Mi think, "Maybe tomorrow night that person will die, die of pain, die of hunger, die of cold, must die". Even so, A Phu did not give in. He chewed through two ropes, but could not escape. It was Mi who saw A Phu shed tears, "a sparkling stream of tears crawling down the dark gray cheeks" of the extremely strong young man A Phu. It was a bitter tear of despair, letting go of a cruel fate. Through this, we can feel more clearly the precious qualities of A Phu - a resourceful, resilient young man with a strong desire to live. In the East, we have revealed more clearly the brutal face of the feudal regime that ruled in the Northwest mountains in the past.
A Phu's precious qualities and strong spirit of resistance were the basis for when he later met A Chau - a Party cadre. A Phu quickly became enlightened to the revolutionary ideal, which inspired him to join the guerrillas and actively fight to liberate himself and his homeland.
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về:
Tác giả: vị trí của Nguyễn Minh Châu trong nền văn học hiện đại Việt Nam cùng tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật” mới mẻ qua các sáng tác của nhà văn.
Tác phẩm – nhân vật: viết về những con người đời thường, những số phận bi kịch đang bế tắc. Đặc biệt là nhân vật người đàn bà với cuộc sống đầy ngang trái, bất công, bất hạnh…
2. Thân bài
Khái quát chung
Hoàn cảnh sáng tác: ra đời trong hoàn cảnh xã hội đăc biệt, tác phẩm được sáng tác vào tháng 8/1983.
Xuất xứ: in trong tập truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, năm 1987.
Tóm lược tác phẩm: Truyện kể lại chuyến đi thực tế của một người nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng cùng với những chiêm nghiệm sâu sắc của anh về nghệ thuật và cuộc đời.
Nội dung phân tích
LĐ1: Hoàn cảnh, ngoại hình, số phận – Người đàn bà vô danh.
Người phụ nữ vô danh, trạc ngoài 40 tuổi, thân hình cao lớn, thô kệch.
Từ nhỏ đã là một đứa con gái xấu xí, lại rỗ mặt, kết hôn với anh con trai của một nhà hàng chài giữa phá.
Số phận người phụ nữ bất hạnh.
LĐ2: Phẩm chất, tính cách nhân vật – Vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài.
Vẻ đẹp của một người từng trải sâu sắc: đẹp nhất nhưng đặc biệt nhất
Vẻ đẹp khoan dung, nhân hậu, độ lượng: thiên chức của người phụ nữ.
Vẻ đẹp tình mẫu tử thiêng liêng.
+ Nhẫn nhục, chịu đựng
+ Giàu đức hy sinh, yêu thương con tha thiết
+ Người phụ nữ giàu lòng vị tha, bao dung, sắc sảo và thấu hiểu lẽ đời.
=>“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức tranh hiện thực mà ở đó hiện lên số phận những con người cả một đời lầm lũi, quẩn quanh với những lo toan của cuộc sống. Họ chính là nạn nhân của nhau
Đánh giá nghệ thuật
Nét độc đáo trong cách xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu
Nghệ thuật khắc họa nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện …
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích.
Nêu cảm nhận.
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài
Bài làm tham khảo
Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút tài hoa của nền văn học hiện đại Việt Nam cùng tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật” mới mẻ qua các sáng tác. Nhà văn đã viết lên tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” về những con người đời thường, những số phận bi kịch đang bế tắc, quẩn quanh trong nghèo đói, thất học. Đặc biệt là nhân vật người đàn bà với cuộc sống đầy ngang trái, bất công, bất hạnh.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất được in trong tập truyện cùng tên, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, năm 1987. Truyện thể hiện rõ phong cách nghệ thuật “tự sự – triết lý” của Nguyễn Minh Châu. Truyện kể lại chuyến đi thực tế của một người nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng. Trong chuyến đi đó anh đã có cho mình những “chiêm nghiệm” sâu sắc về cuộc đời và con đường nghệ thuật của người một nghệ sĩ chân chính. Khung cảnh sáng sớm trên biển quả là một bức tranh tuyệt bích. Cứ ngỡ anh đã tìm ra chân lý nghệ thuật, nhưng nó đã dập tắt khi chiếc thuyền ngoài xa tiến gần vào bờ. Chỉ vài giây phút trước nó vẫn còn là những giá trị tuyệt mĩ, vậy mà giờ đây Phùng đã phải chứng kiến câu chuyện đau lòng của gia đình làng chài ấy. Trước mắt anh là bóng dáng của một người đàn bà “trạc ngoài bốn mươi tuổi”, thân hình thì cao lớn, gương mặt tái ngắt, có lẽ người đàn bà ấy đã phải thức trắng đêm để kéo lưới.
Đọc toàn bộ tác phẩm, ta nhận thấy một điều là người đàn bà tội nghiệp ấy không có lấy một cái tên, Nguyễn Minh Châu đã gọi một cách phiếm định, lúc thì gọi là người đàn bà hàng chài, khi thì gọi chị ta, lúc lại gọi mụ. Tuyệt nhiên không phải nhà văn “bí” ngôn ngữ đến mức không thể đặt cho chị một cái tên. Phải chăng điều này nằm trong dụng ý nghệ thuật của tác giả? Cách tác giả gọi tên nhân vật như vậy vừa khái quát lại vừa cụ thể, vừa xác định lại vừa phiếm chỉ. Điều đó như một lời dự báo không lành về một cuộc đời ngang trái, một số phận bất hạnh bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề những lo toan.
Quả thực như vậy, số phận cùng cực, đau khổ của người phụ nữ vùng biển dường như đã được lột tả rõ thông qua người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”. Nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả vẻ bề ngoài của nhân vật người đàn bà hàng chài mà qua ngòi bút thấm đượm giá trị nhân văn của ông đã đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống người dân lao động. Ngòi bút tài hoa ấy tựa như một mũi tên lách thật sâu vào từng ngõ ngách cuộc đời để khám phá cho bằng được cái mạch ngầm hiện thực về số phận bất hạnh của người đàn bà hàng chài ấy.
Trước hết hình tượng người phụ nữ hàng chài gây ấn tượng ở vẻ đẹp của một người phụ nữ từng trải. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã là một đứa con gái xấu xí. Đến khi tới tuổi cập kê chị được cha mẹ gả cho anh con trai của nhà hàng chài giữa phá, cũng chính từ đó những sóng gió trong cuộc đời chị đã trỗi dậy. Chị câm nín không một lời van xin trước những trận đòn roi vô cớ của lão chồng vũ phu. Khiến ai biết được cũng phải phẫn nộ và không thể nào cầm được nước mắt vì sức chịu đựng của chị là quá lớn. Nhưng ẩn sâu trong đó là vẻ đẹp khuất lấp của người phụ nữ với vẻ đẹp khoan dung, nhân hậu, độ lượng – thiên chức của người phụ nữ. Chị luôn cam chịu tất cả là vì gia đình.
Phùng và Đẩu đã là những chiến sĩ, họ từng chiến đấu và đã chiến thắng kẻ thù. Phùng – một người nghệ sĩ chân chính muốn bảo vệ người đàn bà tội nghiệp. Đẩu – một quan tòa muốn lấy lại công bằng về quyền sống của con người. Họ đã tìm cách giải quyết, song họ đã thất bại. Vì sao? Nói như Nguyễn Minh Châu thì là do “cuộc đời vốn đa sự, con người thì đa đoan”. Chính lời giãi bày giản dị nhưng sâu xa của người đàn bà ở tòa án huyện đã khiến Phùng và Đẩu hiểu ra sự thật câu chuyện về cuộc đời của chị. Nó như một lời giải đáp cho Phùng và Đẩu, bởi những giây phút ấy thực sự thấm thía, giúp họ hiểu được nguyên do của những điều tưởng chừng như vô lí trong cách hành xử của người đàn bà hàng chài cam chịu ấy. Chính những lời giãi bày từ gan ruột người đàn bà ấy đã thức tỉnh trong Phùng một chân lí: một người nghệ sĩ chân chính không được phép “dễ dãi” trong việc nhìn nhận hiện thực của đời sống. Phùng đã phát hiện ra bên trong người đàn bà thô kệch ấy là một vẻ đẹp khuất lấp của một người phụ nữ có trái tim nhân hậu-một vẻ đẹp tâm hồn mà không phải ai cũng có thể nhìn nhận ra được. Vẻ đẹp tâm hồn đẹp đẽ ấy hoàn toàn đối lập với bức tranh thiên nhiên trên biển vào lúc sáng sớm. Qua đó người đọc có thể cảm nhận được rằng phía sau cái dáng hình thô kệch, xấu xí của chị hàng chài là cả vẻ đẹp tâm hồn cao thượng ẩn sâu trong đáy lòng của người đàn bà hàng chài này.
Tiếp đó, vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà ấy còn thể hiện ở tình yêu thương con hết mực, đó chính là vẻ đẹp của tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý. Trong đau khổ,bất hạnh người đàn bà ấy vẫn tìm được cho mình một niềm vui đó chính là những đứa con thân yêu mà chị dứt ruột đẻ ra “Vui nhất là khi nhìn thấy đàn con chúng tôi được ăn no …Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Người đàn bà hóa ra không hề cố chấp cam chịu một cách vô lí mà là người có suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện. Ở chị, ta thấy thấp thoáng những phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng của người phụ nữ Việt Nam được gìn giữ tự bao đời: thủy chung, nhân hậu, giàu lòng vị tha, giàu đức hy sinh vì chồng, vì con. Chị là một người phụ nữ giàu lòng vị tha, bao dung, sắc sảo và thấu hiểu lẽ đời.
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức tranh hiện thực mà ở đó hiện lên số phận những con người cả một đời lầm lũi, quẩn quanh với những lo toan của cuộc sống. Họ chính là nạn nhân của nhau, nhưng đống thời, nhìn rộng ra, họ là nạn nhân của hoàn cảnh – một hiện thực nghiệt ngã mà chỉ có Nguyễn Minh Châu mới dám nói lên vào thời điểm sáng tác “nhạy cảm” ấy. Trong đó, người đàn bà hàng chài là nạn nhân chính. Người đàn ông vũ phu ấy vừa là thủ phạm lại vừa là nạn nhân. Còn những đứa con của họ là nạn nhân, và rất có thể chúng sẽ lại là những thủ phạm khác trong tương lai?
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về:
Tác giả: vị trí của Nguyễn Minh Châu trong nền văn học hiện đại Việt Nam cùng tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật” mới mẻ qua các sáng tác của nhà văn.
Tác phẩm – nhân vật: viết về những con người đời thường, những số phận bi kịch đang bế tắc. Đặc biệt là nhân vật người đàn bà với cuộc sống đầy ngang trái, bất công, bất hạnh…
2. Thân bài
Khái quát chung
Hoàn cảnh sáng tác: ra đời trong hoàn cảnh xã hội đăc biệt, tác phẩm được sáng tác vào tháng 8/1983.
Xuất xứ: in trong tập truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, năm 1987.
Tóm lược tác phẩm: Truyện kể lại chuyến đi thực tế của một người nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng cùng với những chiêm nghiệm sâu sắc của anh về nghệ thuật và cuộc đời.
Nội dung phân tích
LĐ1: Hoàn cảnh, ngoại hình, số phận – Người đàn bà vô danh.
Người phụ nữ vô danh, trạc ngoài 40 tuổi, thân hình cao lớn, thô kệch.
Từ nhỏ đã là một đứa con gái xấu xí, lại rỗ mặt, kết hôn với anh con trai của một nhà hàng chài giữa phá.
Số phận người phụ nữ bất hạnh.
LĐ2: Phẩm chất, tính cách nhân vật – Vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài.
Vẻ đẹp của một người từng trải sâu sắc: đẹp nhất nhưng đặc biệt nhất
Vẻ đẹp khoan dung, nhân hậu, độ lượng: thiên chức của người phụ nữ.
Vẻ đẹp tình mẫu tử thiêng liêng.
+ Nhẫn nhục, chịu đựng
+ Giàu đức hy sinh, yêu thương con tha thiết
+ Người phụ nữ giàu lòng vị tha, bao dung, sắc sảo và thấu hiểu lẽ đời.
=>“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức tranh hiện thực mà ở đó hiện lên số phận những con người cả một đời lầm lũi, quẩn quanh với những lo toan của cuộc sống. Họ chính là nạn nhân của nhau
Đánh giá nghệ thuật
Nét độc đáo trong cách xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu
Nghệ thuật khắc họa nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện …
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích.
Nêu cảm nhận.
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài
Bài làm tham khảo
Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút tài hoa của nền văn học hiện đại Việt Nam cùng tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật” mới mẻ qua các sáng tác. Nhà văn đã viết lên tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” về những con người đời thường, những số phận bi kịch đang bế tắc, quẩn quanh trong nghèo đói, thất học. Đặc biệt là nhân vật người đàn bà với cuộc sống đầy ngang trái, bất công, bất hạnh.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất được in trong tập truyện cùng tên, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, năm 1987. Truyện thể hiện rõ phong cách nghệ thuật “tự sự – triết lý” của Nguyễn Minh Châu. Truyện kể lại chuyến đi thực tế của một người nghệ sĩ nhiếp ảnh tên Phùng. Trong chuyến đi đó anh đã có cho mình những “chiêm nghiệm” sâu sắc về cuộc đời và con đường nghệ thuật của người một nghệ sĩ chân chính. Khung cảnh sáng sớm trên biển quả là một bức tranh tuyệt bích. Cứ ngỡ anh đã tìm ra chân lý nghệ thuật, nhưng nó đã dập tắt khi chiếc thuyền ngoài xa tiến gần vào bờ. Chỉ vài giây phút trước nó vẫn còn là những giá trị tuyệt mĩ, vậy mà giờ đây Phùng đã phải chứng kiến câu chuyện đau lòng của gia đình làng chài ấy. Trước mắt anh là bóng dáng của một người đàn bà “trạc ngoài bốn mươi tuổi”, thân hình thì cao lớn, gương mặt tái ngắt, có lẽ người đàn bà ấy đã phải thức trắng đêm để kéo lưới.
Đọc toàn bộ tác phẩm, ta nhận thấy một điều là người đàn bà tội nghiệp ấy không có lấy một cái tên, Nguyễn Minh Châu đã gọi một cách phiếm định, lúc thì gọi là người đàn bà hàng chài, khi thì gọi chị ta, lúc lại gọi mụ. Tuyệt nhiên không phải nhà văn “bí” ngôn ngữ đến mức không thể đặt cho chị một cái tên. Phải chăng điều này nằm trong dụng ý nghệ thuật của tác giả? Cách tác giả gọi tên nhân vật như vậy vừa khái quát lại vừa cụ thể, vừa xác định lại vừa phiếm chỉ. Điều đó như một lời dự báo không lành về một cuộc đời ngang trái, một số phận bất hạnh bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề những lo toan.
Quả thực như vậy, số phận cùng cực, đau khổ của người phụ nữ vùng biển dường như đã được lột tả rõ thông qua người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”. Nguyễn Minh Châu không chỉ miêu tả vẻ bề ngoài của nhân vật người đàn bà hàng chài mà qua ngòi bút thấm đượm giá trị nhân văn của ông đã đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về cuộc sống người dân lao động. Ngòi bút tài hoa ấy tựa như một mũi tên lách thật sâu vào từng ngõ ngách cuộc đời để khám phá cho bằng được cái mạch ngầm hiện thực về số phận bất hạnh của người đàn bà hàng chài ấy.
Trước hết hình tượng người phụ nữ hàng chài gây ấn tượng ở vẻ đẹp của một người phụ nữ từng trải. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã là một đứa con gái xấu xí. Đến khi tới tuổi cập kê chị được cha mẹ gả cho anh con trai của nhà hàng chài giữa phá, cũng chính từ đó những sóng gió trong cuộc đời chị đã trỗi dậy. Chị câm nín không một lời van xin trước những trận đòn roi vô cớ của lão chồng vũ phu. Khiến ai biết được cũng phải phẫn nộ và không thể nào cầm được nước mắt vì sức chịu đựng của chị là quá lớn. Nhưng ẩn sâu trong đó là vẻ đẹp khuất lấp của người phụ nữ với vẻ đẹp khoan dung, nhân hậu, độ lượng – thiên chức của người phụ nữ. Chị luôn cam chịu tất cả là vì gia đình.
Phùng và Đẩu đã là những chiến sĩ, họ từng chiến đấu và đã chiến thắng kẻ thù. Phùng – một người nghệ sĩ chân chính muốn bảo vệ người đàn bà tội nghiệp. Đẩu – một quan tòa muốn lấy lại công bằng về quyền sống của con người. Họ đã tìm cách giải quyết, song họ đã thất bại. Vì sao? Nói như Nguyễn Minh Châu thì là do “cuộc đời vốn đa sự, con người thì đa đoan”. Chính lời giãi bày giản dị nhưng sâu xa của người đàn bà ở tòa án huyện đã khiến Phùng và Đẩu hiểu ra sự thật câu chuyện về cuộc đời của chị. Nó như một lời giải đáp cho Phùng và Đẩu, bởi những giây phút ấy thực sự thấm thía, giúp họ hiểu được nguyên do của những điều tưởng chừng như vô lí trong cách hành xử của người đàn bà hàng chài cam chịu ấy. Chính những lời giãi bày từ gan ruột người đàn bà ấy đã thức tỉnh trong Phùng một chân lí: một người nghệ sĩ chân chính không được phép “dễ dãi” trong việc nhìn nhận hiện thực của đời sống. Phùng đã phát hiện ra bên trong người đàn bà thô kệch ấy là một vẻ đẹp khuất lấp của một người phụ nữ có trái tim nhân hậu-một vẻ đẹp tâm hồn mà không phải ai cũng có thể nhìn nhận ra được. Vẻ đẹp tâm hồn đẹp đẽ ấy hoàn toàn đối lập với bức tranh thiên nhiên trên biển vào lúc sáng sớm. Qua đó người đọc có thể cảm nhận được rằng phía sau cái dáng hình thô kệch, xấu xí của chị hàng chài là cả vẻ đẹp tâm hồn cao thượng ẩn sâu trong đáy lòng của người đàn bà hàng chài này.
Tiếp đó, vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà ấy còn thể hiện ở tình yêu thương con hết mực, đó chính là vẻ đẹp của tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý. Trong đau khổ,bất hạnh người đàn bà ấy vẫn tìm được cho mình một niềm vui đó chính là những đứa con thân yêu mà chị dứt ruột đẻ ra “Vui nhất là khi nhìn thấy đàn con chúng tôi được ăn no …Ông trời sinh ra đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn”. Người đàn bà hóa ra không hề cố chấp cam chịu một cách vô lí mà là người có suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện. Ở chị, ta thấy thấp thoáng những phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng của người phụ nữ Việt Nam được gìn giữ tự bao đời: thủy chung, nhân hậu, giàu lòng vị tha, giàu đức hy sinh vì chồng, vì con. Chị là một người phụ nữ giàu lòng vị tha, bao dung, sắc sảo và thấu hiểu lẽ đời.
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đã vẽ lên một bức tranh hiện thực mà ở đó hiện lên số phận những con người cả một đời lầm lũi, quẩn quanh với những lo toan của cuộc sống. Họ chính là nạn nhân của nhau, nhưng đống thời, nhìn rộng ra, họ là nạn nhân của hoàn cảnh – một hiện thực nghiệt ngã mà chỉ có Nguyễn Minh Châu mới dám nói lên vào thời điểm sáng tác “nhạy cảm” ấy. Trong đó, người đàn bà hàng chài là nạn nhân chính. Người đàn ông vũ phu ấy vừa là thủ phạm lại vừa là nạn nhân. Còn những đứa con của họ là nạn nhân, và rất có thể chúng sẽ lại là những thủ phạm khác trong tương lai?
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm –nhân vật Tnú
Tác giả – tác phẩm: Nguyễn Trung Thành – ta hãy gọi tác giả đúng theo tên được kí bên dưới thiên truyện ngắn. Ông đã dành phần lớn chiều dài tác phẩm “Rừng xà nu” để ghi lại lời kể chuyện với giọng rất trầm của người già làng bên bếp lửa
Nhân vật Tnú: nhân vật mang tầm vóc sử thi nhưng đậm chất chân thực, đời thường.
2. Thân bài
Nội dung phân tích: Tnú mang phẩm chất của người anh hùng lý tưởng:
Gan góc, ngang tàng, dũng cảm, mưu trí.
Khi Tnú còn nhỏ:
+ Tnú nhận nhiệm vụ nuôi dấu Cách Mạng trong rừng.
+ Cầm đá đập vào đầu chảy máu ròng ròng mình để quyết tâm học chữ.
+ Không đi đường mòn mà đi đường rừng, tìm chỗ thác mạnh.
+Tnú bị bắt khi làm liên lạc và nuốt lá thư và kiên quyết không khai lấy nửa lời dù có bị tra tấn tàn bạo.
Khi Tnú lớn lên:
+ Tnú vượt ngục trở về.
+ Lãnh đạo dân làng Xô Man chuẩn bị vũ khi
+ Xông vào cứu vợ con.
+ Chịu đựng đau đơn, không thèm kêu van khi bị giặc tẩm nhựa xà nu đốt 10 đầu ngón tay.
Tnú có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng.
Tnú thực hiện nghỉ đúng giấy phép.
Trung thành với Cách Mạng được bộc lộ qua thử thách.
Tnú có tình yêu thương và sục sôi căm thù.
Tnú xông ra cứu vợ con với hai bàn tay trắng,
Khi về thăm làng vẫn để cho vòi nước của làng giội lên khắp người như ngày trước.
Cuộc đời bi tráng của Tnú và con đường đến với cách mạng của Tnú điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên.
=> Từ đó góp phần làm sáng tỏ quy luật: “Không thể chiến đấu với quân thù chỉ bằng tay không và lòng căm thù giặc mù quáng”.
Đặc sắc nghệ thuật: Nghệ thuật xây dựng nhân vật mang đậm chất sử thi:
Hướng tới vấn đề mang tính cộng đồng, ý nghĩa toàn dân tộc, thời đại.
Phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân làng Xô Man, người dân Tây Nguyên.
Nhân vật mang tính sử thi –Tnú tiêu biểu cho dân làng Xô Man, tính cách điển hình của người dân Tây Nguyên.
Ngôn ngữ nghệ thuật trang trọng, hào hùng, tráng lệ.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích.
Nếu cảm nhận
Phân tích nhân vật Tnú
Bài làm tham khảo
Nguyễn Trung Thành – ta hãy gọi tác giả đúng theo tên được kí bên dưới thiên truyện ngắn. Ông đã dành phần lớn chiều dài tác phẩm “Rừng xà nu” để ghi lại lời kể chuyện với giọng rất trầm của người già làng bên bếp lửa, trong lúc “bên ngoài lấm tấm một trận mưa đêm, rì rào như gió nhẹ”. Trong cái đêm thiêng liêng ấy của những năm 1965, giặc Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam nước ta, câu chuyện chỉ kể chủ yếu về cuộc đời của một con người anh hùng – Tnú – là nhân vật được tác giả khắc họa mang tầm vóc sử thi nhưng đậm chất chân thực, đời thường.
Đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta thấy hiện lên rõ nhất ở hình tượng nhân vật Tnú đó chính là nhân vật mang phẩm chất của người anh hùng lý tưởng.
Trước hết, nhân vật Tnú là một người chiến sĩ gan góc, ngang tàng, ngoan cường và đầy mưu trí ngay từ khi anh còn nhỏ tuổi. Chi tiết Tnú nhận nhiệm vụ nuôi dấu Cách Mạng trong rừng đã nói lên điều đó. Hay khi Tnú đã tự tay cầm đá đập vào đầu mình chảy máu ròng ròng để quyết tâm học chữ. Làm sao để biết được đã có bao nhiêu người từng nở nụ cười hiền, đầy độ lượng và trìu mến khi đọc tới chi tiết kể Tnú, vì không nhớ được mặt chữ, đã đập vỡ bảng, lấy đá ghè đầu chảy máu, để rồi sáng hôm sau lại sượng sùng gọi riêng Mai ra phía sau hốc đá hỏi xem “Chữ O có móc là chữ chi…Còn chữ chi đứng sau chữ đó nữa, chữ chi có cái bụng to to đó”. Điều này chứng tỏ rằng để đưa được chữ vào bên trong tảng trán rắn chắc như đá núi, Tnú đã cần đến cả một sự phấn đầu ngoan cường.
Hay ta cũng cần nhắc tới chi tiết khi Tnú làm nhiệm vụ liên lạc đã không chọn đi đường mòn mà đi đường rừng, không đi chỗ nước êm mà tìm chỗ thác mạnh mà đi. Thậm chí khi Tnú bị bắt trên đường làm nhiệm vụ liên lạc, anh đã nuốt lá thư vào bụng và kiên quyết không khai lấy nửa lời dù có bị tra tấn tàn bạo. Quả là một cậu bé có tấm lòng dũng cảm và đầy mưu trí mới có những hành động gan góc đến như vậy!
Chưa dừng lại ở đó, phẩm chất gan góc, dũng cảm và gan góc ở Tnú còn được bộc lộ rõ hơn khi anh lớn lên. Tnú vượt ngục trở về. Lãnh đạo dân làng Xô Man chuẩn bị vũ khí. Xông vào cứu vợ con. Chịu đựng đau đớn, không thèm kêu van khi bị giặc tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay. Nếu ai đã từng đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành thì chắc hẳn rằng không thể nào quên được hình ảnh mười đầu ngón tay Tnú rực cháy lửa xà nu, như mười ngọn đuốc. Nhưng không phải chỉ vì hình ảnh ấy tố cáo tội ác quân thù hay nói lên lòng dũng cảm, gan góc, ngoan cường của người chiến sĩ Cách Mạng – nếu chỉ có vậy thôi thì nó có khác gì so với một hình ảnh tương tự trong vở kịch “Nổi gió” của Đào Hồng Cầm? Mà ẩn sâu trong nó, Nguyễn Trung Thành đã tìm ra một chân lý nghệ thuật sâu sắc và tàn nhẫn: Khi một Tnú chỉ có đôi bàn tay không thì ngay cả thứ nhựa xà nu thân thiết của núi rừng Tây Nguyên – cái khối chất thơm ngào ngạt và như đọng nắng quê hương kia cũng có thể trở thành ngọn lửa hủy diệt chính những bàn tay vẫn hàng chăm sóc, vun trồng cho nương rẫy.
Với hình ảnh đôi bàn tay cụt đốt của Tnú, Nguyễn Trung Thành đã như muốn ghi vào thời gian một lời nhắc nhở vĩnh hằng: Rằng sẽ ra sao, nếu kẻ thù cầm súng rồi mà ta còn chưa kịp cầm lấy dáo?
Tiếp đó, phẩm chất của người sĩ Cách Mạng còn thể hiện qua nhân vật Tnú với tính kỷ luật cao. Tnú thực hiện nghỉ đúng một ngày theo giấy phép đã ghi rõ. Phẩm chất trung thành với Cách Mạng ở anh thì được bộc lộ qua những thử thách như khi bị giặc bắt, bị giặc Mỹ tra tấn dã man, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn trung thành không khai lấy nửa lời.
Nguyễn Trung Thành còn khắc họa nhân vật Tnú có tình yêu thương sâu sắc và một tấm lòng sục sôi căm thù. Điều này ta có thể thấy ở tình yêu thương mà anh dành cho vợ con của mình. Tnú và Mai, giữa họ đã nảy sinh một mối tình đẹp như trong các truyện truyền kì, và Mai đã sinh cho anh một đứa con trai hứa hẹn sẽ trở nên một Tnú khác. Nhưng Tnú đã phải trải qua những phút giây đau đớn tốt cùng của một người cha, một người chồng khi phải chứng kiện vợ con anh bị giặc Mỹ tra tấn. Và rồi “Tnú không cứu sống được mẹ con Mai”, mặc dù ta tưởng như anh đã có tất cả những gì cần có. Tnú với sức mạnh cường tráng được ví là như một thân xà nu lớn. Chảy trong huyết quản anh là là dòng máu anh hùng của xứ sở Tây Nguyên, truyền lại từ Đam Săn, Xing Nhã. Chứa đầy trong ngực anh là sức mạnh mênh mông và hoang dại của núi rừng Tây Nguyên. Anh không hề biết đến sợ hãi, cũng không biết đến khuất phục, cho dù sự tàn bạo có là mũi súng hay lưỡi dao mà hậu quả là những vết chém ngang dọc trên lưng anh.
Vậy tại sao mà với bằng ấy cái có, Tnú vẫn không cứu sống được mẹ con Mai? Có nhiều người cho rằng lẽ ra Tnú phải xông ra cứu mẹ con Mai trước khi chứng kiến con anh chết. Nhưng có lẽ khi ta đọc đủ kỹ, ngẫm đủ thấu thì sẽ hiểu được rằng đằng sau tư cách một cười chồng, một người cha thì Tnú còn mang tư cách là một người lãnh đạo Cách Mạng. Vì Tnú chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí. Dẫu cho lòng căm thù giặc đã biến “hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn” và anh đã xông vào chúng với sức mạnh của hùm thiêng. Anh không biết mình đã làm gì, chỉ thấy “thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng giặc tháo chạy vào nhà ưng”. Thế nhưng, “Tnú không cứu sống được Mai”. “Ờ, Tnú không cứu sống được mẹ con Mai” – đấy là điều mà cụ Mết, bằng chất giọng nặng trầm, muốn ghi khắc đời đời vào kí ức và tâm can hậu thế.
Cuộc đời bi tráng của Tnú chính là điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên. Từ đó góp phần làm sáng tỏ quy luật: “Không thể chiến đấu với quân thù chỉ bằng tay không và lòng căm thù giặc mù quáng”. Giác ngộ được chân lý đó, dân làng Xô Man đã đi tìm vũ khí và quay về với những lưới mác và cây rựa được mài bằng đá núi Ngọc Linh. Lúc đó, lửa đã tắt trên bàn tay Tnú. Lửa xà nu chỉ còn soi xác giặc chết ngổn ngang. Rừng Xô Man sẽ ào ào rung động “tiếng chim nối lên… và lửa cháy khắp rừng.”
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về tác giả – tác phẩm –nhân vật Tnú
Tác giả – tác phẩm: Nguyễn Trung Thành – ta hãy gọi tác giả đúng theo tên được kí bên dưới thiên truyện ngắn. Ông đã dành phần lớn chiều dài tác phẩm “Rừng xà nu” để ghi lại lời kể chuyện với giọng rất trầm của người già làng bên bếp lửa
Nhân vật Tnú: nhân vật mang tầm vóc sử thi nhưng đậm chất chân thực, đời thường.
2. Thân bài
Nội dung phân tích: Tnú mang phẩm chất của người anh hùng lý tưởng:
Gan góc, ngang tàng, dũng cảm, mưu trí.
Khi Tnú còn nhỏ:
+ Tnú nhận nhiệm vụ nuôi dấu Cách Mạng trong rừng.
+ Cầm đá đập vào đầu chảy máu ròng ròng mình để quyết tâm học chữ.
+ Không đi đường mòn mà đi đường rừng, tìm chỗ thác mạnh.
+Tnú bị bắt khi làm liên lạc và nuốt lá thư và kiên quyết không khai lấy nửa lời dù có bị tra tấn tàn bạo.
Khi Tnú lớn lên:
+ Tnú vượt ngục trở về.
+ Lãnh đạo dân làng Xô Man chuẩn bị vũ khi
+ Xông vào cứu vợ con.
+ Chịu đựng đau đơn, không thèm kêu van khi bị giặc tẩm nhựa xà nu đốt 10 đầu ngón tay.
Tnú có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng.
Tnú thực hiện nghỉ đúng giấy phép.
Trung thành với Cách Mạng được bộc lộ qua thử thách.
Tnú có tình yêu thương và sục sôi căm thù.
Tnú xông ra cứu vợ con với hai bàn tay trắng,
Khi về thăm làng vẫn để cho vòi nước của làng giội lên khắp người như ngày trước.
Cuộc đời bi tráng của Tnú và con đường đến với cách mạng của Tnú điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên.
=> Từ đó góp phần làm sáng tỏ quy luật: “Không thể chiến đấu với quân thù chỉ bằng tay không và lòng căm thù giặc mù quáng”.
Đặc sắc nghệ thuật: Nghệ thuật xây dựng nhân vật mang đậm chất sử thi:
Hướng tới vấn đề mang tính cộng đồng, ý nghĩa toàn dân tộc, thời đại.
Phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân làng Xô Man, người dân Tây Nguyên.
Nhân vật mang tính sử thi –Tnú tiêu biểu cho dân làng Xô Man, tính cách điển hình của người dân Tây Nguyên.
Ngôn ngữ nghệ thuật trang trọng, hào hùng, tráng lệ.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích.
Nếu cảm nhận
Phân tích nhân vật Tnú
Bài làm tham khảo
Nguyễn Trung Thành – ta hãy gọi tác giả đúng theo tên được kí bên dưới thiên truyện ngắn. Ông đã dành phần lớn chiều dài tác phẩm “Rừng xà nu” để ghi lại lời kể chuyện với giọng rất trầm của người già làng bên bếp lửa, trong lúc “bên ngoài lấm tấm một trận mưa đêm, rì rào như gió nhẹ”. Trong cái đêm thiêng liêng ấy của những năm 1965, giặc Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam nước ta, câu chuyện chỉ kể chủ yếu về cuộc đời của một con người anh hùng – Tnú – là nhân vật được tác giả khắc họa mang tầm vóc sử thi nhưng đậm chất chân thực, đời thường.
Đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ta thấy hiện lên rõ nhất ở hình tượng nhân vật Tnú đó chính là nhân vật mang phẩm chất của người anh hùng lý tưởng.
Trước hết, nhân vật Tnú là một người chiến sĩ gan góc, ngang tàng, ngoan cường và đầy mưu trí ngay từ khi anh còn nhỏ tuổi. Chi tiết Tnú nhận nhiệm vụ nuôi dấu Cách Mạng trong rừng đã nói lên điều đó. Hay khi Tnú đã tự tay cầm đá đập vào đầu mình chảy máu ròng ròng để quyết tâm học chữ. Làm sao để biết được đã có bao nhiêu người từng nở nụ cười hiền, đầy độ lượng và trìu mến khi đọc tới chi tiết kể Tnú, vì không nhớ được mặt chữ, đã đập vỡ bảng, lấy đá ghè đầu chảy máu, để rồi sáng hôm sau lại sượng sùng gọi riêng Mai ra phía sau hốc đá hỏi xem “Chữ O có móc là chữ chi…Còn chữ chi đứng sau chữ đó nữa, chữ chi có cái bụng to to đó”. Điều này chứng tỏ rằng để đưa được chữ vào bên trong tảng trán rắn chắc như đá núi, Tnú đã cần đến cả một sự phấn đầu ngoan cường.
Hay ta cũng cần nhắc tới chi tiết khi Tnú làm nhiệm vụ liên lạc đã không chọn đi đường mòn mà đi đường rừng, không đi chỗ nước êm mà tìm chỗ thác mạnh mà đi. Thậm chí khi Tnú bị bắt trên đường làm nhiệm vụ liên lạc, anh đã nuốt lá thư vào bụng và kiên quyết không khai lấy nửa lời dù có bị tra tấn tàn bạo. Quả là một cậu bé có tấm lòng dũng cảm và đầy mưu trí mới có những hành động gan góc đến như vậy!
Chưa dừng lại ở đó, phẩm chất gan góc, dũng cảm và gan góc ở Tnú còn được bộc lộ rõ hơn khi anh lớn lên. Tnú vượt ngục trở về. Lãnh đạo dân làng Xô Man chuẩn bị vũ khí. Xông vào cứu vợ con. Chịu đựng đau đớn, không thèm kêu van khi bị giặc tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay. Nếu ai đã từng đọc “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành thì chắc hẳn rằng không thể nào quên được hình ảnh mười đầu ngón tay Tnú rực cháy lửa xà nu, như mười ngọn đuốc. Nhưng không phải chỉ vì hình ảnh ấy tố cáo tội ác quân thù hay nói lên lòng dũng cảm, gan góc, ngoan cường của người chiến sĩ Cách Mạng – nếu chỉ có vậy thôi thì nó có khác gì so với một hình ảnh tương tự trong vở kịch “Nổi gió” của Đào Hồng Cầm? Mà ẩn sâu trong nó, Nguyễn Trung Thành đã tìm ra một chân lý nghệ thuật sâu sắc và tàn nhẫn: Khi một Tnú chỉ có đôi bàn tay không thì ngay cả thứ nhựa xà nu thân thiết của núi rừng Tây Nguyên – cái khối chất thơm ngào ngạt và như đọng nắng quê hương kia cũng có thể trở thành ngọn lửa hủy diệt chính những bàn tay vẫn hàng chăm sóc, vun trồng cho nương rẫy.
Với hình ảnh đôi bàn tay cụt đốt của Tnú, Nguyễn Trung Thành đã như muốn ghi vào thời gian một lời nhắc nhở vĩnh hằng: Rằng sẽ ra sao, nếu kẻ thù cầm súng rồi mà ta còn chưa kịp cầm lấy dáo?
Tiếp đó, phẩm chất của người sĩ Cách Mạng còn thể hiện qua nhân vật Tnú với tính kỷ luật cao. Tnú thực hiện nghỉ đúng một ngày theo giấy phép đã ghi rõ. Phẩm chất trung thành với Cách Mạng ở anh thì được bộc lộ qua những thử thách như khi bị giặc bắt, bị giặc Mỹ tra tấn dã man, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn trung thành không khai lấy nửa lời.
Nguyễn Trung Thành còn khắc họa nhân vật Tnú có tình yêu thương sâu sắc và một tấm lòng sục sôi căm thù. Điều này ta có thể thấy ở tình yêu thương mà anh dành cho vợ con của mình. Tnú và Mai, giữa họ đã nảy sinh một mối tình đẹp như trong các truyện truyền kì, và Mai đã sinh cho anh một đứa con trai hứa hẹn sẽ trở nên một Tnú khác. Nhưng Tnú đã phải trải qua những phút giây đau đớn tốt cùng của một người cha, một người chồng khi phải chứng kiện vợ con anh bị giặc Mỹ tra tấn. Và rồi “Tnú không cứu sống được mẹ con Mai”, mặc dù ta tưởng như anh đã có tất cả những gì cần có. Tnú với sức mạnh cường tráng được ví là như một thân xà nu lớn. Chảy trong huyết quản anh là là dòng máu anh hùng của xứ sở Tây Nguyên, truyền lại từ Đam Săn, Xing Nhã. Chứa đầy trong ngực anh là sức mạnh mênh mông và hoang dại của núi rừng Tây Nguyên. Anh không hề biết đến sợ hãi, cũng không biết đến khuất phục, cho dù sự tàn bạo có là mũi súng hay lưỡi dao mà hậu quả là những vết chém ngang dọc trên lưng anh.
Vậy tại sao mà với bằng ấy cái có, Tnú vẫn không cứu sống được mẹ con Mai? Có nhiều người cho rằng lẽ ra Tnú phải xông ra cứu mẹ con Mai trước khi chứng kiến con anh chết. Nhưng có lẽ khi ta đọc đủ kỹ, ngẫm đủ thấu thì sẽ hiểu được rằng đằng sau tư cách một cười chồng, một người cha thì Tnú còn mang tư cách là một người lãnh đạo Cách Mạng. Vì Tnú chỉ có tay không giữa quân thù đầy vũ khí. Dẫu cho lòng căm thù giặc đã biến “hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn” và anh đã xông vào chúng với sức mạnh của hùm thiêng. Anh không biết mình đã làm gì, chỉ thấy “thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng giặc tháo chạy vào nhà ưng”. Thế nhưng, “Tnú không cứu sống được Mai”. “Ờ, Tnú không cứu sống được mẹ con Mai” – đấy là điều mà cụ Mết, bằng chất giọng nặng trầm, muốn ghi khắc đời đời vào kí ức và tâm can hậu thế.
Cuộc đời bi tráng của Tnú chính là điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên. Từ đó góp phần làm sáng tỏ quy luật: “Không thể chiến đấu với quân thù chỉ bằng tay không và lòng căm thù giặc mù quáng”. Giác ngộ được chân lý đó, dân làng Xô Man đã đi tìm vũ khí và quay về với những lưới mác và cây rựa được mài bằng đá núi Ngọc Linh. Lúc đó, lửa đã tắt trên bàn tay Tnú. Lửa xà nu chỉ còn soi xác giặc chết ngổn ngang. Rừng Xô Man sẽ ào ào rung động “tiếng chim nối lên… và lửa cháy khắp rừng.”
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tình thương là hạnh phúc của con người
2. Thân bài
2.1. Giải thích nhận định
+ “Tình thương” là gì? Là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật (theo Từ điển tiếng Việt). Cụ thể là lòng yêu thương, sự gắn bó, đoàn kết, chia sẻ của con người với con người hoặc với các đối tượng khác (thiên nhiên, cây cỏ, loài vật, quê hương, đất nước…).
+ “Hạnh phúc” là gì? Là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. (theo Từ điển tiếng Việt). Có thể hiểu hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống.
+ Ý nghĩa: Tình thương khiến cho người ta biết giúp đỡ, chia sẻ, thông cảm và đùm bọc lẫn nhau. Khi bạn cho đi hay nhận lại tình thương có nghĩa là bạn đang được hưởng sung sướng, hạnh phúc mà tình thương mang lại.
2.2. Phân tích – Chứng minh
LĐ1: Tình thương không nhất thiết phải là những sự giúp đỡ về vật chất hay tiền bạc. Đôi khi đến tình thương đến từ những điều nhỏ nhặt, bình dị trong cuộc sống.(Nêu dẫn chứng)
LĐ2: Tình thương đích thực chỉ xuất phát từ tâm hồn chân thật và không vụ lợi. .(Nêu dẫn chứng)
LĐ3: Gia đình, nhà trường, xã hội này sẽ ra nếu con người sống với nhau mà không có tình thương. (Nêu dẫn chứng)
2.3. Bình luận
Bàn luận:
+ Tình thương giúp ta tìm được giá trị sống đích thực trong cuộc sống của mình.
+ Tình thương như một sợi dây vô hình gắn kết những tâm hồn khô cằn lại với nhau.
Bác bỏ:
+ Một số cá nhân chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình thương của con người
+Lợi dụng tình thương
Khẳng định: Xã hội sẽ ngày càng đẹp hơn, cuộc sống của chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi ta có tình thương.
2.4. Liên hệ bản thân
+ Mỗi cá nhân cần xác định tầm quan trọng và sự cần thiết của việc làm giàu, làm đẹp thế giới tâm hồn
+ Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện tâm hồn, nhân cách theo chuẩn mực đạo đức, đạo lí xã hội và lấy đó làm mục tiêu phấn đấu hoàn thiện mình, tự tin để cùng tồn tại và phát triển hài hòa với cộng đồng.
3. Kết bài
+ Khẳng định vấn đề nghị luận là đúng đắn
+ Rút ra bài học: chúng ta được sinh ra trên đời là một ân huệ. Vì vậy phải sống thật xứng đáng là con người có đạo đức, có nhân cách và hành động vì tình thương.
Tình thương là hạnh phúc của con người
Bài văn tham khảo
Victo Huygo từng nói: “Con người không có tình thương cũng giống như vườn hoa không có ánh nắng mặt trời. Không có gì đẹp đẽ và hữu ích có thể nảy nở trong đó được”. Quả đúng như vậy, vẻ đẹp hình thức bên ngoài thường đem đến cho chúng ta niềm hạnh phúc. Nhưng vẻ đẹp của tâm hồn bên trong sẽ càng làm ta hạnh phúc hơn khi tất cả mọi người được sưởi ấm bằng những tia nắng tình thương.
Đã bao giờ bạn tự hỏi chính mình “hạnh phúc” là gì chưa? Đơn giản lắm! Bạn biết không theo từ điển Tiếng Việt thì “hạnh phúc” chính là trạng thái sung sướng vì bản thân cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. Hay ta có thể hiểu một cách đơn giản hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống. Vậy còn “tình thương” là gì? Tình thương là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật (theo Từ điển tiếng Việt). Cụ thể hơn thì “tình thương” là sự chia sẻ, giúp đỡ, là lòng yêu thương, gắn bó giữa con người với con người hoặc với các đối tượng khác như: cây cỏ, các loài vật hay thiên nhiên …Vậy “Tình thương là hạnh phúc của con người” có nghĩa là tình thương khiến cho con người ta biết giúp đỡ, chia sẻ, thông cảm và đùm bọc lẫn nhau cuôc sống. Khi bạn cho đi hay nhận lại tình thương có nghĩa là bạn đang được hưởng sung sướng, hạnh phúc mà tình thương mang lại.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, con người ta cứ loay hoay, tìm kiếm cái gọi là “hạnh phúc” ở những nơi xa xôi mà quên đi một điều rằng: hạnh phúc ở ngay trong trái tim ta. Tôi từng nghe không ít người nói rằng “có tiền là sẽ mua được hạnh phúc”. Tôi không tin vào điều đó! Vậy còn bạn? Đâu cứ phải đi du lịch hay chi một khoản tiền lớn cho những bữa tiệc thì đó mới là tận hưởng cuôc sống hạnh phúc. Thực ra hạnh phúc chỉ đơn giản là ta cho đi tình thương và chúng hiện hữu ở ngay trong cuộc sống đời thường của chúng ta đây. Ra đường gặp những người cao tuổi hay những người phụ nữ đang mang bầu thì bạn có thể dừng xe để giúp họ băng qua đường hoặc xách đồ giúp họ. Đó chính là tình thương và tôi tin rằng bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc vì mình vừa làm được một việc tốt. Nhưng tình thương không nhất thiết phải là những sự giúp đỡ về vật chất hay tiền bạc. Chỉ cần bạn thật tâm muốn giúp đỡ thì dù là một hành động nhỏ thôi thì cũng đem đến niềm vui cho bạn và cho cả người được bạn giúp đỡ. Vậy đó, tình thương đem đến cho ta hạnh phúc và nó bắt nguồn từ những điều nhỏ nhặt, bình dị trong cuộc sống. Chúng ta hãy luôn tin rằng sống bằng một trái tim luôn rộng mở thì chẳng có điều gì là không thể làm được. Điều đó giống như một quy luật nhân quả vậy “gieo nhân nào thì gặt quả nấy”. Nếu bạn cho đi tình thương bạn sẽ được nhận về tình thương. Còn nếu bạn cho đi sự thù ghét, không sớm thì muộn bạn cũng nhận lại sự thù ghét mà thôi.
Chúng ta hạnh phúc khi có tình thương. Nhưng tình thương đích thực phải xuất phát từ tâm hồn chân thật và không vụ lợi. Tố Hữu từng viết:
“Nếu là con chim, chiếc lá,
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”
Thật vậy, sống là cho, là cống hiến, chia sẻ chứ không phải chỉ sống cho bản thân mình. Sống là phải đem tình yêu thương của mình chia sẻ với mọi người. Nhưng cho đi mà không màng đến danh lợi thì đó mới là hạnh phúc thực sự. Giúp đỡ một người gặp nạn cho dù họ có báo ơn hay không thì ta vẫn phải nhớ một điều rằng cho đi là hạnh phúc. Nói đến tình thương ta phải nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người là tấm gương sáng ngời về quan điểm sống. Cả cuộc đời mình, Người sống và làm việc bắt nguồn vì lòng thương dân. Bác nguyện hi sinh tuổi trẻ và hạnh phúc của mình để ra đi tìm đường cứu nước và cùng đồng bào giành lại quyền độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Nam ta. Sống là cho thì ta sẽ nhận lại được nhiều thứ. Đó có thể là nhiều tiếng “cảm ơn”, nhiều tình cảm của mọi người, nhiều nụ cười hòa lẫn với nước mặt của niềm hạnh phúc. Đừng màng tới lợi ích mà hãy cho đi một tình thương từ thật đáy lòng bạn, tôi tin rằng khi đó bạn sẽ là người hạnh phúc nhất!
Gia đình, nhà trường, xã hội này sẽ ra sao nếu con người sống với nhau mà không có tình thương? Ta biết rằng tình thương làm cho mối quan hệ của con người tốt đẹp hơn và đem đến cho ta một cuộc sống ấm áp, tràn ngập niềm vui…Vậy như nếu không có tình thương thì có lẽ Trái Đất này không còn tồn tại cho tới hôm nay! Cha mẹ không dành tình yêu thương cho con cái của mình thì chắc chắn rằng khi lớn lên chúng cũng sẽ trở thành những người ích kỷ, hay những ông bố, bà mẹ thiếu trách nhiệm. Thậm chí chúng sẽ trở thành những đứa trẻ hư hỏng, dễ mắc những tệ nạn xã hội. Trong môi trường giáo dục cũng vậy, nếu không xuất phát từ tình thương những trẻ em nghèo vùng cao thì nhiều thầy cô đã không chấp nhận cuộc sống khó khăn, thiếu thốn , bất chấp cả nguy hiểm để đem cái chữ đến cho các em. Hay đơn giản là trong xã hội này mà không có tình thương thì chắc chắn sẽ không có những tình yêu đôi lứa đích thực. Bởi tình thương chân thành là cơ sở của tình yêu đôi lứa.
Tình thương là hạnh phúc của con người. Quả đúng như vậy, bởi tình thương giúp ta tìm được giá trị sống đích thực trong cuộc sống của mình. Sống mà không có tình thương thì chẳng khác nào ta tự tách mình ra khỏi cuộc sống loài người. Tình thương như một sợi dây vô hình gắn kết những tâm hồn khô cằn lại với nhau. Từ đó mọi người mới có thể cùng nhau sống, cùng nhau làm việc chứ không phải cuốc sống ganh đua, đố kị. Nhưng trong thực tế hiện nay không phải tất cả mọi người đều có được sợi dây gắn kết đó. Một số cá nhân chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình thương của con người. Họ sống chỉ biết hưởng thụ cho bản thân mà không muốn chia sẻ. Nhất là những bạn trẻ, họ lại đi tìm niềm vui trong cuộc sống sa hoa, đua đòi, thác loạn trong những cơn say với bóng cười, thuốc lắc…Đó không phải là hạnh phúc mà chính đó dang dần hủy hoại tuổi trẻ và tương lai của mình. Đó là cơ hội cho tệ nạn xã hội, HIV/AIDS ngày càng lộng hành, hủy diệt cuộc sống con người. Hay cũng có những kẻ lại đi lợi dụng tình thương của người khác hòng đem lại lợi ích cho bản thân. Và những kẻ lợi dụng tình thương đó sẽ phải nhận lại những hậu quả và thật đáng chê trách. Đặc biệt, thiếu tình thương chính là mầm mống của căn bệnh vô cảm đang tràn lan trong xã hội hiện đại ngày nay.
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tình thương là hạnh phúc của con người
2. Thân bài
2.1. Giải thích nhận định
+ “Tình thương” là gì? Là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật (theo Từ điển tiếng Việt). Cụ thể là lòng yêu thương, sự gắn bó, đoàn kết, chia sẻ của con người với con người hoặc với các đối tượng khác (thiên nhiên, cây cỏ, loài vật, quê hương, đất nước…).
+ “Hạnh phúc” là gì? Là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. (theo Từ điển tiếng Việt). Có thể hiểu hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống.
+ Ý nghĩa: Tình thương khiến cho người ta biết giúp đỡ, chia sẻ, thông cảm và đùm bọc lẫn nhau. Khi bạn cho đi hay nhận lại tình thương có nghĩa là bạn đang được hưởng sung sướng, hạnh phúc mà tình thương mang lại.
2.2. Phân tích – Chứng minh
LĐ1: Tình thương không nhất thiết phải là những sự giúp đỡ về vật chất hay tiền bạc. Đôi khi đến tình thương đến từ những điều nhỏ nhặt, bình dị trong cuộc sống.(Nêu dẫn chứng)
LĐ2: Tình thương đích thực chỉ xuất phát từ tâm hồn chân thật và không vụ lợi. .(Nêu dẫn chứng)
LĐ3: Gia đình, nhà trường, xã hội này sẽ ra nếu con người sống với nhau mà không có tình thương. (Nêu dẫn chứng)
2.3. Bình luận
Bàn luận:
+ Tình thương giúp ta tìm được giá trị sống đích thực trong cuộc sống của mình.
+ Tình thương như một sợi dây vô hình gắn kết những tâm hồn khô cằn lại với nhau.
Bác bỏ:
+ Một số cá nhân chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình thương của con người
+Lợi dụng tình thương
Khẳng định: Xã hội sẽ ngày càng đẹp hơn, cuộc sống của chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi ta có tình thương.
2.4. Liên hệ bản thân
+ Mỗi cá nhân cần xác định tầm quan trọng và sự cần thiết của việc làm giàu, làm đẹp thế giới tâm hồn
+ Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện tâm hồn, nhân cách theo chuẩn mực đạo đức, đạo lí xã hội và lấy đó làm mục tiêu phấn đấu hoàn thiện mình, tự tin để cùng tồn tại và phát triển hài hòa với cộng đồng.
3. Kết bài
+ Khẳng định vấn đề nghị luận là đúng đắn
+ Rút ra bài học: chúng ta được sinh ra trên đời là một ân huệ. Vì vậy phải sống thật xứng đáng là con người có đạo đức, có nhân cách và hành động vì tình thương.
Tình thương là hạnh phúc của con người
Bài văn tham khảo
Victo Huygo từng nói: “Con người không có tình thương cũng giống như vườn hoa không có ánh nắng mặt trời. Không có gì đẹp đẽ và hữu ích có thể nảy nở trong đó được”. Quả đúng như vậy, vẻ đẹp hình thức bên ngoài thường đem đến cho chúng ta niềm hạnh phúc. Nhưng vẻ đẹp của tâm hồn bên trong sẽ càng làm ta hạnh phúc hơn khi tất cả mọi người được sưởi ấm bằng những tia nắng tình thương.
Đã bao giờ bạn tự hỏi chính mình “hạnh phúc” là gì chưa? Đơn giản lắm! Bạn biết không theo từ điển Tiếng Việt thì “hạnh phúc” chính là trạng thái sung sướng vì bản thân cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. Hay ta có thể hiểu một cách đơn giản hạnh phúc là trạng thái hoàn toàn mãn nguyện trong tâm hồn về mọi phương diện trong cuộc sống. Vậy còn “tình thương” là gì? Tình thương là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật (theo Từ điển tiếng Việt). Cụ thể hơn thì “tình thương” là sự chia sẻ, giúp đỡ, là lòng yêu thương, gắn bó giữa con người với con người hoặc với các đối tượng khác như: cây cỏ, các loài vật hay thiên nhiên …Vậy “Tình thương là hạnh phúc của con người” có nghĩa là tình thương khiến cho con người ta biết giúp đỡ, chia sẻ, thông cảm và đùm bọc lẫn nhau cuôc sống. Khi bạn cho đi hay nhận lại tình thương có nghĩa là bạn đang được hưởng sung sướng, hạnh phúc mà tình thương mang lại.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, con người ta cứ loay hoay, tìm kiếm cái gọi là “hạnh phúc” ở những nơi xa xôi mà quên đi một điều rằng: hạnh phúc ở ngay trong trái tim ta. Tôi từng nghe không ít người nói rằng “có tiền là sẽ mua được hạnh phúc”. Tôi không tin vào điều đó! Vậy còn bạn? Đâu cứ phải đi du lịch hay chi một khoản tiền lớn cho những bữa tiệc thì đó mới là tận hưởng cuôc sống hạnh phúc. Thực ra hạnh phúc chỉ đơn giản là ta cho đi tình thương và chúng hiện hữu ở ngay trong cuộc sống đời thường của chúng ta đây. Ra đường gặp những người cao tuổi hay những người phụ nữ đang mang bầu thì bạn có thể dừng xe để giúp họ băng qua đường hoặc xách đồ giúp họ. Đó chính là tình thương và tôi tin rằng bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc vì mình vừa làm được một việc tốt. Nhưng tình thương không nhất thiết phải là những sự giúp đỡ về vật chất hay tiền bạc. Chỉ cần bạn thật tâm muốn giúp đỡ thì dù là một hành động nhỏ thôi thì cũng đem đến niềm vui cho bạn và cho cả người được bạn giúp đỡ. Vậy đó, tình thương đem đến cho ta hạnh phúc và nó bắt nguồn từ những điều nhỏ nhặt, bình dị trong cuộc sống. Chúng ta hãy luôn tin rằng sống bằng một trái tim luôn rộng mở thì chẳng có điều gì là không thể làm được. Điều đó giống như một quy luật nhân quả vậy “gieo nhân nào thì gặt quả nấy”. Nếu bạn cho đi tình thương bạn sẽ được nhận về tình thương. Còn nếu bạn cho đi sự thù ghét, không sớm thì muộn bạn cũng nhận lại sự thù ghét mà thôi.
Chúng ta hạnh phúc khi có tình thương. Nhưng tình thương đích thực phải xuất phát từ tâm hồn chân thật và không vụ lợi. Tố Hữu từng viết:
“Nếu là con chim, chiếc lá,
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”
Thật vậy, sống là cho, là cống hiến, chia sẻ chứ không phải chỉ sống cho bản thân mình. Sống là phải đem tình yêu thương của mình chia sẻ với mọi người. Nhưng cho đi mà không màng đến danh lợi thì đó mới là hạnh phúc thực sự. Giúp đỡ một người gặp nạn cho dù họ có báo ơn hay không thì ta vẫn phải nhớ một điều rằng cho đi là hạnh phúc. Nói đến tình thương ta phải nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người là tấm gương sáng ngời về quan điểm sống. Cả cuộc đời mình, Người sống và làm việc bắt nguồn vì lòng thương dân. Bác nguyện hi sinh tuổi trẻ và hạnh phúc của mình để ra đi tìm đường cứu nước và cùng đồng bào giành lại quyền độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Nam ta. Sống là cho thì ta sẽ nhận lại được nhiều thứ. Đó có thể là nhiều tiếng “cảm ơn”, nhiều tình cảm của mọi người, nhiều nụ cười hòa lẫn với nước mặt của niềm hạnh phúc. Đừng màng tới lợi ích mà hãy cho đi một tình thương từ thật đáy lòng bạn, tôi tin rằng khi đó bạn sẽ là người hạnh phúc nhất!
Gia đình, nhà trường, xã hội này sẽ ra sao nếu con người sống với nhau mà không có tình thương? Ta biết rằng tình thương làm cho mối quan hệ của con người tốt đẹp hơn và đem đến cho ta một cuộc sống ấm áp, tràn ngập niềm vui…Vậy như nếu không có tình thương thì có lẽ Trái Đất này không còn tồn tại cho tới hôm nay! Cha mẹ không dành tình yêu thương cho con cái của mình thì chắc chắn rằng khi lớn lên chúng cũng sẽ trở thành những người ích kỷ, hay những ông bố, bà mẹ thiếu trách nhiệm. Thậm chí chúng sẽ trở thành những đứa trẻ hư hỏng, dễ mắc những tệ nạn xã hội. Trong môi trường giáo dục cũng vậy, nếu không xuất phát từ tình thương những trẻ em nghèo vùng cao thì nhiều thầy cô đã không chấp nhận cuộc sống khó khăn, thiếu thốn , bất chấp cả nguy hiểm để đem cái chữ đến cho các em. Hay đơn giản là trong xã hội này mà không có tình thương thì chắc chắn sẽ không có những tình yêu đôi lứa đích thực. Bởi tình thương chân thành là cơ sở của tình yêu đôi lứa.
Tình thương là hạnh phúc của con người. Quả đúng như vậy, bởi tình thương giúp ta tìm được giá trị sống đích thực trong cuộc sống của mình. Sống mà không có tình thương thì chẳng khác nào ta tự tách mình ra khỏi cuộc sống loài người. Tình thương như một sợi dây vô hình gắn kết những tâm hồn khô cằn lại với nhau. Từ đó mọi người mới có thể cùng nhau sống, cùng nhau làm việc chứ không phải cuốc sống ganh đua, đố kị. Nhưng trong thực tế hiện nay không phải tất cả mọi người đều có được sợi dây gắn kết đó. Một số cá nhân chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình thương của con người. Họ sống chỉ biết hưởng thụ cho bản thân mà không muốn chia sẻ. Nhất là những bạn trẻ, họ lại đi tìm niềm vui trong cuộc sống sa hoa, đua đòi, thác loạn trong những cơn say với bóng cười, thuốc lắc…Đó không phải là hạnh phúc mà chính đó dang dần hủy hoại tuổi trẻ và tương lai của mình. Đó là cơ hội cho tệ nạn xã hội, HIV/AIDS ngày càng lộng hành, hủy diệt cuộc sống con người. Hay cũng có những kẻ lại đi lợi dụng tình thương của người khác hòng đem lại lợi ích cho bản thân. Và những kẻ lợi dụng tình thương đó sẽ phải nhận lại những hậu quả và thật đáng chê trách. Đặc biệt, thiếu tình thương chính là mầm mống của căn bệnh vô cảm đang tràn lan trong xã hội hiện đại ngày nay.
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
Tác giả Lưu Quang Vũ (1948-1988) là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ.
Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch.
2. Thân bài
2.1. Khái quát chung
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được viết vào năm 1981, công diễn lần đầu năm 1984.
Vở kịch thực chất là sự cải biên một truyện cười dân gian
Đoạn trích phân tích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch.
2.2. Nội dung phân tích
LĐ1: Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác anh hàng thịt (xung đột trung tâm)
=> Bi kịch sống nhờ, sống gửi, tồn tại trái với lẽ tự nhiên
LĐ2: Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với người thân
=> Bi kịch bị chối bỏ bởi những người xung quanh
LĐ3: Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích
=> Bi kịch sửa sai càng thêm sai
LĐ4: Giải thoát bi kịch của một sự giả tạo trong con người Hồn Trương Ba
=> Một kết cục bi kịch nhưng là sự chiến thắng của những điều tốt đẹp, của bản lĩnh, của một hồn Trương Ba “nguyên vẹn, thẳng thắn, trong sạch”
2.3. Đánh giá nghệ thuật
Sự hấp dẫn của kịch bản, được sáng tác từ cốt truyện dân gian.
Nghệ thuật tạo dựng tình huống độc đáo, xây dựng và dẫn dắt xung đột kịch hợp lí.
Nghệ thuật dựng hành động kịch sinh động.
Vở kịch được tạo nên bởi yếu tố huyền thoại, nghĩa là không có thực.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích.
Nếu cảm nhận
Phân tích trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Bài văn tham khảo
Lưu Quang Vũ (1948-1988) được đánh giá một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Sau năm 1975, Lưu Quang Vũ nổi lên như một nhà soạn kịch có sức sáng tạo vô cùng dổi dào. Các tác phẩm của ông có sức phê phán mạnh mẽ, đầy quyết liệt và đậm chất trữ tình. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những vở kịch đặc sắc nhất và mang chủ đề phức tạp nhất của Lưu Quang Vũ. Nằm ở phần kết của vở kịch, đoạn trích thể hiện rõ nhất tài năng của nhà viết kịch hàng đầu Việt Nam.
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được Lưu Quang Vũ viết vào năm 1981, công diễn lần đầu năm 1984 và nhiều lần trên sân khấu cả trong và ngoài nước.Vở kịch được gợi dẫn từ một cốt truyện dân gian, thực chất là sự cải biên một truyện cười dân gian. Trong khi tác giả dân gian chỉ tạo ra một tình huống oái oăm nhằm gây tiếng cười phê phán thì Lưu Quang Vũ đã biến nó thành một tấn bi kịch – bi kịch tâm lí. Đoạn trích phân tích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.
Đến cảnh VII của vở kịch thì xung đột giữa hồn và xác đã được đẩy lên đỉnh điểm, nút thắt được siết chặt đến cao độ và cũng là lúc ta thấu hiểu tấn bi kịch mang tên: “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Đầu tiên là bi kịch sống nhờ, sống gửi, tồn tại trái với lẽ tự nhiên của hồn Trương Ba. Bi kịch ấy được thể hiện rõ qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba đã tách khỏi xác anh hàng thịt, còn “thân xác bằng thịt vẫn ngồi nguyên trên chõng và lúc này chỉ còn là thân xác”. Hồn Trương Ba nhân hậu, trong sáng và thanh cao lại đặt trong thân xác của một anh hàng thịt phàm tục, thô lỗ, đầy sức mạnh bản năng tục tằn. Lúc nào hắn cũng chỉ nghĩ đến mấy “cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi…”. “Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi”…
Cuộc tranh luận giữa hồn và xác diễn ra quyết liệt. Dường như có những lúc tiếng nói của xác thịt lấn át cả tiếng nói của linh hồn, đẩy linh hồn vào thế bị động và một mực phủ nhận lí lẽ của xác anh hàng thịt “lí lẽ của anh thật ti tiện”. Chỉ còn biết ngao ngán thở dài một tiếng “Trời!”. Qua đó, ta thấy rằng hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ tột cùng. Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải của linh hồn đã nói nói lên điều đó. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt chính là ẩn dụ về cuộc đấu tranh giữa tâm hồn và thân xác trong một con người. Đó là tiếng nói của bản năng và những tác động ghê gớm của nó vào linh hồn. Mặc dầu cho linh hồn luôn đấu tranh để vượt lên những đòi hỏi không chính đáng của thể xác nhưng khó mà tránh khỏi những tác động đó. Hồn Trương Ba có những dấu hiệu của sự tha hóa: trở nên thô lỗ tát con đến chảy máu mồm, thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…
Tiếp đó là bi kịch bị chối bỏ bởi những người xung quanh được thể hiện tập trung qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với những người thân. Tình trạng tồn tại bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo của Hồn Trương Ba khiến cho vợ ông đau khổ tới mức định bỏ nhà ra đi dù bà là người hiền lành, cam chịu. Cái Gái quyết liệt không chịu nhận ông nội “Tôi không phải là cháu ông…Ông nội tôi chết rồi”, “Ông nội đời nào thô lỗ và phũ phàng như vậy”, “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi”. Nó tố cáo Hồn Trương Ba làm gãy cây trong vườn, dẫm nát cây sâm quý của ông nội đã mất và còn làm hỏng mất cái diều của thằng cu Tị… Mặc dù cái Gái là đứa cháu rất yêu thương ông nội, đêm nào nó cũng khóc thương ông, nâng niu cất giữ từng chút kỷ niệm của ông. Nhưng nó vẫn chỉ là một đứa trẻ nhỏ, tâm hồn ngây thơ, trong sáng, thánh thiện không thể chấp nhận sự thô lỗ, tầm thường của linh hồn ông nội trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt. Có lẽ người thấu hiểu và thương Trương Ba nhất nhà lại là chị con dâu, nhưng trước tình cảnh đó chị cũng phải nói rằng: “mỗi ngày thầy một đổi khác đi, mất mát dần”. Càng thương bố chồng, người con dâu ấy càng đau khổ, tuyệt vọng trong câu hỏi “làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”. Than ôi! Còn gì đau đớn và hổ thẹn hơn khi mà bị chính những người thân của ta ruồng bỏ… Có lẽ đó là bi kịch dằn vặt nhất đối với Trương Ba của hiện tại.
Bi kịch lại nối tiếp những bi kịch khi Đế Thích khuyên Trương chấp nhận vì thế giới không toàn vẹn, thể hiện cái nhìn quan liêu, hời hợt về cuộc sống con người. Và đó chính là bi kịch sửa sai càng thêm sai. Trương Ba bị chết oan uổng vì “một lầm lẫn của quan thiên đình”. Để sửa sai thì Đế Thích đã cho hồn Trương Ba sống trong thân xác của anh hàng thịt. Tồn tại ở tình trạng trái với tự nhiên một thời đã khiến hồn Trương Ba nhận ra rằng “có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm”. Chỉ có cách là cố gắng đừng sai mà thôi. Nếu lỡ sai rồi thì hãy làm một việc đúng khác để bù lại. Khi Trương Ba kiên quyết đòi trả xác cho anh hàng thịt, Đế Thích định cho hồn ông nhập vào cu Tị. Bằng sự quyết liệt của mình, Hồn Trương Ba đã không chấp nhận mà chỉ xin tiên Đế Thích trả lại cuộc sống cho cu Tị – một cậu bé ngoan ngoãn, đáng yêu, rất thân thiết với ông và cái Gái hồi ông còn sống. Có lẽ chính sự lựa chọn đó mới làm cho linh hồn của Trương Ba thanh thản. Ông nhận ra rằng con người là một thể thống nhất, hồn xác phải hài hòa đồng thuận. Sống phải là chính mình. Sự bất tử của con người nằm trong ý nghĩa sự sống và sự hóa thân vào cuộc sống xung quanh.
Khép lại vở kịch, Trương Ba đã chấp nhận cái chết để không còn cái vật quái gở mang tên “Hồn Trương Ba da hàng thịt” nữa. Đây là một kết cục đầy bi kịch chứ không phải kết thúc có hậu như trong cốt truyện dân gian trước đó. Nhưng đó lại là cái kết của sự chiến thắng cái ác, cái xấu và của những điều tốt đẹp, bản lĩnh. Vở kịch được đánh giá là một vở “bi kịch lạc quan” bởi tuy rằng Trương Ba không còn tiếp tục được sống nhưng những giá trị đích thực của cuộc sống được bảo toàn. Không còn trên cõi trần nhưng Trương Ba sẽ còn sống mãi trong lòng người thân, bạn bè và với tất cả những gì tốt đẹp nhất.
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
Tác giả Lưu Quang Vũ (1948-1988) là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ.
Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch.
2. Thân bài
2.1. Khái quát chung
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được viết vào năm 1981, công diễn lần đầu năm 1984.
Vở kịch thực chất là sự cải biên một truyện cười dân gian
Đoạn trích phân tích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch.
2.2. Nội dung phân tích
LĐ1: Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác anh hàng thịt (xung đột trung tâm)
=> Bi kịch sống nhờ, sống gửi, tồn tại trái với lẽ tự nhiên
LĐ2: Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với người thân
=> Bi kịch bị chối bỏ bởi những người xung quanh
LĐ3: Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích
=> Bi kịch sửa sai càng thêm sai
LĐ4: Giải thoát bi kịch của một sự giả tạo trong con người Hồn Trương Ba
=> Một kết cục bi kịch nhưng là sự chiến thắng của những điều tốt đẹp, của bản lĩnh, của một hồn Trương Ba “nguyên vẹn, thẳng thắn, trong sạch”
2.3. Đánh giá nghệ thuật
Sự hấp dẫn của kịch bản, được sáng tác từ cốt truyện dân gian.
Nghệ thuật tạo dựng tình huống độc đáo, xây dựng và dẫn dắt xung đột kịch hợp lí.
Nghệ thuật dựng hành động kịch sinh động.
Vở kịch được tạo nên bởi yếu tố huyền thoại, nghĩa là không có thực.
3. Kết bài
Tổng kết nội dung phân tích.
Nếu cảm nhận
Phân tích trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt
Bài văn tham khảo
Lưu Quang Vũ (1948-1988) được đánh giá một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Sau năm 1975, Lưu Quang Vũ nổi lên như một nhà soạn kịch có sức sáng tạo vô cùng dổi dào. Các tác phẩm của ông có sức phê phán mạnh mẽ, đầy quyết liệt và đậm chất trữ tình. Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những vở kịch đặc sắc nhất và mang chủ đề phức tạp nhất của Lưu Quang Vũ. Nằm ở phần kết của vở kịch, đoạn trích thể hiện rõ nhất tài năng của nhà viết kịch hàng đầu Việt Nam.
Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được Lưu Quang Vũ viết vào năm 1981, công diễn lần đầu năm 1984 và nhiều lần trên sân khấu cả trong và ngoài nước.Vở kịch được gợi dẫn từ một cốt truyện dân gian, thực chất là sự cải biên một truyện cười dân gian. Trong khi tác giả dân gian chỉ tạo ra một tình huống oái oăm nhằm gây tiếng cười phê phán thì Lưu Quang Vũ đã biến nó thành một tấn bi kịch – bi kịch tâm lí. Đoạn trích phân tích thuộc cảnh VII và đoạn kết của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”.
Đến cảnh VII của vở kịch thì xung đột giữa hồn và xác đã được đẩy lên đỉnh điểm, nút thắt được siết chặt đến cao độ và cũng là lúc ta thấu hiểu tấn bi kịch mang tên: “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Đầu tiên là bi kịch sống nhờ, sống gửi, tồn tại trái với lẽ tự nhiên của hồn Trương Ba. Bi kịch ấy được thể hiện rõ qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba đã tách khỏi xác anh hàng thịt, còn “thân xác bằng thịt vẫn ngồi nguyên trên chõng và lúc này chỉ còn là thân xác”. Hồn Trương Ba nhân hậu, trong sáng và thanh cao lại đặt trong thân xác của một anh hàng thịt phàm tục, thô lỗ, đầy sức mạnh bản năng tục tằn. Lúc nào hắn cũng chỉ nghĩ đến mấy “cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi…”. “Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi”…
Cuộc tranh luận giữa hồn và xác diễn ra quyết liệt. Dường như có những lúc tiếng nói của xác thịt lấn át cả tiếng nói của linh hồn, đẩy linh hồn vào thế bị động và một mực phủ nhận lí lẽ của xác anh hàng thịt “lí lẽ của anh thật ti tiện”. Chỉ còn biết ngao ngán thở dài một tiếng “Trời!”. Qua đó, ta thấy rằng hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ tột cùng. Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải của linh hồn đã nói nói lên điều đó. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt chính là ẩn dụ về cuộc đấu tranh giữa tâm hồn và thân xác trong một con người. Đó là tiếng nói của bản năng và những tác động ghê gớm của nó vào linh hồn. Mặc dầu cho linh hồn luôn đấu tranh để vượt lên những đòi hỏi không chính đáng của thể xác nhưng khó mà tránh khỏi những tác động đó. Hồn Trương Ba có những dấu hiệu của sự tha hóa: trở nên thô lỗ tát con đến chảy máu mồm, thèm ăn ngon, thèm rượu thịt…
Tiếp đó là bi kịch bị chối bỏ bởi những người xung quanh được thể hiện tập trung qua màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với những người thân. Tình trạng tồn tại bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo của Hồn Trương Ba khiến cho vợ ông đau khổ tới mức định bỏ nhà ra đi dù bà là người hiền lành, cam chịu. Cái Gái quyết liệt không chịu nhận ông nội “Tôi không phải là cháu ông…Ông nội tôi chết rồi”, “Ông nội đời nào thô lỗ và phũ phàng như vậy”, “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi”. Nó tố cáo Hồn Trương Ba làm gãy cây trong vườn, dẫm nát cây sâm quý của ông nội đã mất và còn làm hỏng mất cái diều của thằng cu Tị… Mặc dù cái Gái là đứa cháu rất yêu thương ông nội, đêm nào nó cũng khóc thương ông, nâng niu cất giữ từng chút kỷ niệm của ông. Nhưng nó vẫn chỉ là một đứa trẻ nhỏ, tâm hồn ngây thơ, trong sáng, thánh thiện không thể chấp nhận sự thô lỗ, tầm thường của linh hồn ông nội trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt. Có lẽ người thấu hiểu và thương Trương Ba nhất nhà lại là chị con dâu, nhưng trước tình cảnh đó chị cũng phải nói rằng: “mỗi ngày thầy một đổi khác đi, mất mát dần”. Càng thương bố chồng, người con dâu ấy càng đau khổ, tuyệt vọng trong câu hỏi “làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”. Than ôi! Còn gì đau đớn và hổ thẹn hơn khi mà bị chính những người thân của ta ruồng bỏ… Có lẽ đó là bi kịch dằn vặt nhất đối với Trương Ba của hiện tại.
Bi kịch lại nối tiếp những bi kịch khi Đế Thích khuyên Trương chấp nhận vì thế giới không toàn vẹn, thể hiện cái nhìn quan liêu, hời hợt về cuộc sống con người. Và đó chính là bi kịch sửa sai càng thêm sai. Trương Ba bị chết oan uổng vì “một lầm lẫn của quan thiên đình”. Để sửa sai thì Đế Thích đã cho hồn Trương Ba sống trong thân xác của anh hàng thịt. Tồn tại ở tình trạng trái với tự nhiên một thời đã khiến hồn Trương Ba nhận ra rằng “có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm”. Chỉ có cách là cố gắng đừng sai mà thôi. Nếu lỡ sai rồi thì hãy làm một việc đúng khác để bù lại. Khi Trương Ba kiên quyết đòi trả xác cho anh hàng thịt, Đế Thích định cho hồn ông nhập vào cu Tị. Bằng sự quyết liệt của mình, Hồn Trương Ba đã không chấp nhận mà chỉ xin tiên Đế Thích trả lại cuộc sống cho cu Tị – một cậu bé ngoan ngoãn, đáng yêu, rất thân thiết với ông và cái Gái hồi ông còn sống. Có lẽ chính sự lựa chọn đó mới làm cho linh hồn của Trương Ba thanh thản. Ông nhận ra rằng con người là một thể thống nhất, hồn xác phải hài hòa đồng thuận. Sống phải là chính mình. Sự bất tử của con người nằm trong ý nghĩa sự sống và sự hóa thân vào cuộc sống xung quanh.
Khép lại vở kịch, Trương Ba đã chấp nhận cái chết để không còn cái vật quái gở mang tên “Hồn Trương Ba da hàng thịt” nữa. Đây là một kết cục đầy bi kịch chứ không phải kết thúc có hậu như trong cốt truyện dân gian trước đó. Nhưng đó lại là cái kết của sự chiến thắng cái ác, cái xấu và của những điều tốt đẹp, bản lĩnh. Vở kịch được đánh giá là một vở “bi kịch lạc quan” bởi tuy rằng Trương Ba không còn tiếp tục được sống nhưng những giá trị đích thực của cuộc sống được bảo toàn. Không còn trên cõi trần nhưng Trương Ba sẽ còn sống mãi trong lòng người thân, bạn bè và với tất cả những gì tốt đẹp nhất.
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm
– Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên viết về bút kí, tản văn. Sáng tác của ông gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, con người, đặc biệt là văn hóa Huế
+ Tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” thực sự là một trong những trang viết hay nhất của nhà văn về một dòng sông mang ba huyền thoại đẹp – sông Hương.
2. Thân bài
LĐ1: Khái quát
Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên. Bài ký có ba phần, sách giá khoa trích học phần đầu. Với bút ký này tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm nhận thật đầy chất thơ về dòng sông Hương theo dòng chảy của nó từ Trường Sơn cho đến khi chảy qua thành phố Huế và xuôi về biển.
LĐ2: Vẻ đẹp độc đáo của con sông Hương
– Cội nguồn của sông Hương
– Sông Hương đến ngoại vi thành phố
– Sông Hương trong lòng thành phố
– Sông Hương rời khỏi kinh thành Huế
– Sông Hương – chứng tích lịch sử
– Sông Hương – dòng sông thi ca
LĐ3: Đặc sắc nghệ thuật
+ Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phét tư từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,..
+ Kết hợp hài hòa giữa cảm xúc trí tuệ, chủ quan và khách quan. Bút kí có sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân.
3. Kết bài
Thâu tóm nội dung phân tích, mở rộng, nâng cao vấn đề.
Phân tích tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông
Bài văn tham khảo
Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên viết về bút kí, tản văn. Sáng tác của ông gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, con người, đặc biệt là văn hóa Huế như: “Ngôi sao trên đỉnh Phù Văn Lâu”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông”,..Trong đó tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” thực sự là một rng những trang viết hay nhất của nhà văn về một dòng sông mang ba huyền thoại đẹp – sông Hương.
Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên. Bài ký có ba phần, sách giá khoa trích học phần đầu. Với bút ký này tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm nhận thật đầy chất thơ về dòng sông Hương theo dòng chảy của nó từ Trường Sơn cho đến khi chảy qua thành phố Huế và xuôi về biển.
Sông Hương nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ gắn bó sâu sắc với dãy Trường Sơn. Sông Hương mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm nhưng cũng có lúc dịu dàng, say đắm. Sự mãnh liệt, hoang dại của sông được thể hiện qua những so sánh: “Như một bản Trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội “mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn”, nhưng cũng có lúc nó lại hiền lành, trữ tình “dịu dàng, say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Nhà văn đã nhân hóa dòng sông giống như “một cô gái Digan phóng khoáng và man dại”. Con sông được rừng già hun đúc cho “một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Đó là sức mạnh bản năng của người con gái, sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa lý lãnh thổ để đi ra khỏi rừng, “nó nhanh chóng mang một sắc đẹp nhẹ nhàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa sứ sở”.
Với vốn hiểu biết về địa lý tác giả đã miêu tả tỉ mỉ về sông Hương với hình ảnh: “Nhưng ngay từ đầu, vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Sự chuyển dòng ấy, trong cách cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường giống như “một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố trong tương lai của nó”. Vẫn những đường cong mềm mại, sông Hương lại có sự chuyển mình: “Từ ngã ba tuần, sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thêm đất bãi Ngọc Biểu, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một đường cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”. Có lúc cảnh sắc sông hương hiện lên như một bức tranh có đường nét, hình khối với “ sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm mại như tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi”. Người đọc còn bắt gặp vẻ đẹp đa màu mà biến ảo, phân quang màu sắc của nền trời Tây Nam thành phố: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.
Ngoài ra ta còn thấy sông Hương hiện lên với vẻ đẹp trầm mặc chảy dưới những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn. Đó là vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long. Có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó rời xa thành phố để đi qua những bờ tre, lũy trúc và những àng cau thôn Vĩ Dạ.
Đoạn tả sông Hương khi đi qua thành phố đã gây được nhiều ấn tượng cho người đọc. Từ Kim Long, sông Hương đã nhìn thấy các hình ảnh “chiếc cầu trắng in ngấn trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Đó chính là chiếc cầu Tràng Tiền nối đôi bờ sông thơ mộng. Không chỉ vậy, vẻ đẹp của dòng sông Hương còn được miêu tả “giáp mặt thành phố ở cồn Dã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến”. Nhà văn như thổi linh hồn vào cảnh vật: “đường cong ấy làm cho dòng sông như mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”. “Tôi nhớ sông Hương, quý điệu chảy lững lờ của nó khi ngang qua thành phố”. Cái phút ban đầu để đến với “người tình” của sông Hương như thế đấy ! Nàng đã tự làm mới mình để hiến tặng những gì đẹp nhất cho người yêu.
Từ sông Hương xinh đẹp, nhà văn liên tưởng đến nhiều con sông trên thế giới như sông Xen, sông Nê – va, sông Đa – nuýt,..và nhận ra những điểm tương đồng giữa chúng là cùng chảy giữa lòng thành phố. Nhưng sông Hương khác với các dòng sông khác là bởi vì nó vẫn giữ được những nét cổ kính và nếu sông Nê – va chảy nhanh quá thì sông Hương lại chảy chậm buồn như điệu Slow “đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Tình cảm của dòng sông dành cho thành phố Huế cũng rất sâu đậm. Dường như sông Hương không muốn xa thành phố: “rồi như sực nhớ ra một điều gì đó chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc Bao Vinh xưa cổ”. Nhà văn ví sông Hương như nàng Kiều chí tình trở lại tìm Kim Trọng. Vì thế nên nhìn “khúc quanh này” thấy nó “thật bất ngờ”. Nhà văn cảm nhận khúc quanh ấy giống như “ là nỗi vẫn vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Đó là sự chí tình của sông Hương trở về “để nói một lời thề trước khi về với biển cả”. Tác giả liên hệ “lời thề ấy vang vọng khắp khu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”.
Dưới góc độ văn hóa, tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế: “Sông Hương đã trở thành một người đánh đàn tài nữ giữa đêm khuya…Qủa đúng vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được hình thành trên mặt nước của dòng sông này”. Tác giả liên tưởng tới việc có người nghệ nhân già gần thế kỷ chơi đàn, một đêm khuya nghe con gái đọc Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”. Người nghệ nhân ấy đã nhổm dậy, vỗ đìu chỉ vào trang sách mà nói “Đó là Tứ Đại Cảnh”. Cũng từ đó cùng với ngòi bút tài hoa cộng với sự rung cảm mạnh mẽ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhớ tới Nguyễn Du “Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều”. Đây là cách liên tưởng độc đáo, tài hoa mang đến cho người đọc một sự bồi hồi, xao xuyến.
Trong cái nhìn đa diện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không chỉ là một người tình dịu dàng, thủy chung mà còn là một anh hùng ghi dấu những thế kỉ vinh quang. Từ thuở các vua Hùng dựng nước cho đến Dự địa chí của Nguyễn Trãi với cái tên Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc. Dòng sông ấy là điểm tựa bảo vệ biên cương thời kì Đại Việt. Thế kỉ XVIII nó mang vẻ soi bóng kinh thành Phú Xuân, gắn liền với tên tuổi của người anh hùng Nguyễn Huệ. Nó đọng lại bầm da, tím máu, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX”. Nó đi vào thời đại của cách mạng tháng tám bằng những chiến công rung chuyển. Nó chứng kiến cuộc nổi dậy tổng tiến công tết Mậu Thân 1968. Sông Hương đã gắn liền với lịch sử của Huế, lịch sử dân tộc.
Vẻ đẹp của sông Hương không được tô đậm, không hoàn hảo nếu như nhà văn quên đi một dòng sông thi ca. Sông Hương là nguồn thi hứng bất tận, nó vẫn “mãi là nỗi hoài vọng về một cái đẹp nào đó chưa đạt tới” để bao thế hệ lãng tử đến đây thả hồn ngụp lặn. Suy cho cùng, chính vẻ đẹp thơ mộng của sông Hương trong thực tế đã làm nên điều kì diệu trong mỗi trang thơ. Sông Hương sẽ còn mãi tuôn chảy ngọt ngào, dạt dào trong nguồn mạch thi ca của dân tộc
|
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm
– Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên viết về bút kí, tản văn. Sáng tác của ông gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, con người, đặc biệt là văn hóa Huế
+ Tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” thực sự là một trong những trang viết hay nhất của nhà văn về một dòng sông mang ba huyền thoại đẹp – sông Hương.
2. Thân bài
LĐ1: Khái quát
Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên. Bài ký có ba phần, sách giá khoa trích học phần đầu. Với bút ký này tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm nhận thật đầy chất thơ về dòng sông Hương theo dòng chảy của nó từ Trường Sơn cho đến khi chảy qua thành phố Huế và xuôi về biển.
LĐ2: Vẻ đẹp độc đáo của con sông Hương
– Cội nguồn của sông Hương
– Sông Hương đến ngoại vi thành phố
– Sông Hương trong lòng thành phố
– Sông Hương rời khỏi kinh thành Huế
– Sông Hương – chứng tích lịch sử
– Sông Hương – dòng sông thi ca
LĐ3: Đặc sắc nghệ thuật
+ Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phét tư từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,..
+ Kết hợp hài hòa giữa cảm xúc trí tuệ, chủ quan và khách quan. Bút kí có sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và những trải nghiệm của bản thân.
3. Kết bài
Thâu tóm nội dung phân tích, mở rộng, nâng cao vấn đề.
Phân tích tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông
Bài văn tham khảo
Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên viết về bút kí, tản văn. Sáng tác của ông gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước, con người, đặc biệt là văn hóa Huế như: “Ngôi sao trên đỉnh Phù Văn Lâu”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông”,..Trong đó tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông” thực sự là một rng những trang viết hay nhất của nhà văn về một dòng sông mang ba huyền thoại đẹp – sông Hương.
Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên. Bài ký có ba phần, sách giá khoa trích học phần đầu. Với bút ký này tác giả đã mang đến cho người đọc những cảm nhận thật đầy chất thơ về dòng sông Hương theo dòng chảy của nó từ Trường Sơn cho đến khi chảy qua thành phố Huế và xuôi về biển.
Sông Hương nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ gắn bó sâu sắc với dãy Trường Sơn. Sông Hương mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm nhưng cũng có lúc dịu dàng, say đắm. Sự mãnh liệt, hoang dại của sông được thể hiện qua những so sánh: “Như một bản Trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội “mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn”, nhưng cũng có lúc nó lại hiền lành, trữ tình “dịu dàng, say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Nhà văn đã nhân hóa dòng sông giống như “một cô gái Digan phóng khoáng và man dại”. Con sông được rừng già hun đúc cho “một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. Đó là sức mạnh bản năng của người con gái, sức mạnh ấy được chế ngự bởi cấu trúc địa lý lãnh thổ để đi ra khỏi rừng, “nó nhanh chóng mang một sắc đẹp nhẹ nhàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa sứ sở”.
Với vốn hiểu biết về địa lý tác giả đã miêu tả tỉ mỉ về sông Hương với hình ảnh: “Nhưng ngay từ đầu, vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”. Sự chuyển dòng ấy, trong cách cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường giống như “một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố trong tương lai của nó”. Vẫn những đường cong mềm mại, sông Hương lại có sự chuyển mình: “Từ ngã ba tuần, sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thêm đất bãi Ngọc Biểu, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một đường cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”. Có lúc cảnh sắc sông hương hiện lên như một bức tranh có đường nét, hình khối với “ sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm mại như tấm lụa với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi”. Người đọc còn bắt gặp vẻ đẹp đa màu mà biến ảo, phân quang màu sắc của nền trời Tây Nam thành phố: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”.
Ngoài ra ta còn thấy sông Hương hiện lên với vẻ đẹp trầm mặc chảy dưới những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn. Đó là vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long. Có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó rời xa thành phố để đi qua những bờ tre, lũy trúc và những àng cau thôn Vĩ Dạ.
Đoạn tả sông Hương khi đi qua thành phố đã gây được nhiều ấn tượng cho người đọc. Từ Kim Long, sông Hương đã nhìn thấy các hình ảnh “chiếc cầu trắng in ngấn trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Đó chính là chiếc cầu Tràng Tiền nối đôi bờ sông thơ mộng. Không chỉ vậy, vẻ đẹp của dòng sông Hương còn được miêu tả “giáp mặt thành phố ở cồn Dã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến”. Nhà văn như thổi linh hồn vào cảnh vật: “đường cong ấy làm cho dòng sông như mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”. “Tôi nhớ sông Hương, quý điệu chảy lững lờ của nó khi ngang qua thành phố”. Cái phút ban đầu để đến với “người tình” của sông Hương như thế đấy ! Nàng đã tự làm mới mình để hiến tặng những gì đẹp nhất cho người yêu.
Từ sông Hương xinh đẹp, nhà văn liên tưởng đến nhiều con sông trên thế giới như sông Xen, sông Nê – va, sông Đa – nuýt,..và nhận ra những điểm tương đồng giữa chúng là cùng chảy giữa lòng thành phố. Nhưng sông Hương khác với các dòng sông khác là bởi vì nó vẫn giữ được những nét cổ kính và nếu sông Nê – va chảy nhanh quá thì sông Hương lại chảy chậm buồn như điệu Slow “đấy là điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Tình cảm của dòng sông dành cho thành phố Huế cũng rất sâu đậm. Dường như sông Hương không muốn xa thành phố: “rồi như sực nhớ ra một điều gì đó chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc Bao Vinh xưa cổ”. Nhà văn ví sông Hương như nàng Kiều chí tình trở lại tìm Kim Trọng. Vì thế nên nhìn “khúc quanh này” thấy nó “thật bất ngờ”. Nhà văn cảm nhận khúc quanh ấy giống như “ là nỗi vẫn vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Đó là sự chí tình của sông Hương trở về “để nói một lời thề trước khi về với biển cả”. Tác giả liên hệ “lời thề ấy vang vọng khắp khu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, ấy là tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”.
Dưới góc độ văn hóa, tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế: “Sông Hương đã trở thành một người đánh đàn tài nữ giữa đêm khuya…Qủa đúng vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được hình thành trên mặt nước của dòng sông này”. Tác giả liên tưởng tới việc có người nghệ nhân già gần thế kỷ chơi đàn, một đêm khuya nghe con gái đọc Kiều “Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”. Người nghệ nhân ấy đã nhổm dậy, vỗ đìu chỉ vào trang sách mà nói “Đó là Tứ Đại Cảnh”. Cũng từ đó cùng với ngòi bút tài hoa cộng với sự rung cảm mạnh mẽ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhớ tới Nguyễn Du “Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều”. Đây là cách liên tưởng độc đáo, tài hoa mang đến cho người đọc một sự bồi hồi, xao xuyến.
Trong cái nhìn đa diện của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không chỉ là một người tình dịu dàng, thủy chung mà còn là một anh hùng ghi dấu những thế kỉ vinh quang. Từ thuở các vua Hùng dựng nước cho đến Dự địa chí của Nguyễn Trãi với cái tên Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc. Dòng sông ấy là điểm tựa bảo vệ biên cương thời kì Đại Việt. Thế kỉ XVIII nó mang vẻ soi bóng kinh thành Phú Xuân, gắn liền với tên tuổi của người anh hùng Nguyễn Huệ. Nó đọng lại bầm da, tím máu, “nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX”. Nó đi vào thời đại của cách mạng tháng tám bằng những chiến công rung chuyển. Nó chứng kiến cuộc nổi dậy tổng tiến công tết Mậu Thân 1968. Sông Hương đã gắn liền với lịch sử của Huế, lịch sử dân tộc.
Vẻ đẹp của sông Hương không được tô đậm, không hoàn hảo nếu như nhà văn quên đi một dòng sông thi ca. Sông Hương là nguồn thi hứng bất tận, nó vẫn “mãi là nỗi hoài vọng về một cái đẹp nào đó chưa đạt tới” để bao thế hệ lãng tử đến đây thả hồn ngụp lặn. Suy cho cùng, chính vẻ đẹp thơ mộng của sông Hương trong thực tế đã làm nên điều kì diệu trong mỗi trang thơ. Sông Hương sẽ còn mãi tuôn chảy ngọt ngào, dạt dào trong nguồn mạch thi ca của dân tộc
|
Bài làm
Tệ nạn xã hội nói chung, tệ nạn mại dâm nói riêng luôn là gánh nặng của toàn xã hội. Mại dâm là một vấn đề xã hội khó giải quyết không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết mọi quốc gia trên thế giới.
Đây là một hoạt động rất khó kiểm soát bởi tính phức tạp, tinh vi và trá hình của nó, những hệ lụy do nó gây ra vô cùng nghiêm trọng đối với toàn xã hội. Hiện nay còn xuất hiện những đối tượng và hình thức hoạt động mại dâm mới: Gái gọi, du lịch tình dục, người nước ngoài bán dâm, mại dâm nam, mại dâm đồng tính, người chuyển giới bán dâm, môi giới mại dâm thông qua mạng internet, facebook,…
Tình trạng người mại dâm sử dụng ma túy có xu hướng gia tăng; đối tượng mua dâm thuộc nhiều lứa tuổi, thành phần khác nhau.
Mại dâm là tệ nạn xã hội trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, giống nòi, đời sống vật chất và văn hóa của dân tộc, trật tự an toàn xã hội và gây ra nhiều tác hại về mọi mặt: về sức khỏe: làm suy kiệt về sức khỏe, mắc các bệnh xã hội, các bệnh viêm nhiễm đường tình dục… dẫn đến ảnh hưởng tới sự phát triển giống nòi do bị bệnh tật, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai; mại dâm gắn liền với lây nhiễm HIV, là con đường nhanh nhất dẫn đến AIDS một căn bênh thế kỷ đang trở thành đại dịch, hủy hoại sưh sống của mỗi con người và của cả nhân loại.
|
Assignment
Social evils in general and prostitution in particular are always a burden for the entire society. Prostitution is a social problem that is difficult to solve not only in Vietnam but in almost every country in the world.
This is a very difficult activity to control because of its complexity, sophistication and disguise, and the consequences it causes are extremely serious for the entire society. Nowadays, there are also new subjects and forms of prostitution: call girls, sex tourism, foreign prostitutes, male prostitutes, gay prostitutes, transgender prostitutes, prostitution brokers. via the internet, facebook,...
Drug use by sex workers tends to increase; Sex buyers come from many different ages and backgrounds.
Prostitution is a social evil that is contrary to the morality and fine customs of the nation, negatively affects the health, race, material and cultural life of the nation, social order and safety, and causes many harmful effects in all aspects: health: depleting health, social diseases, sexually transmitted diseases... leading to affecting the development of the race due to illness, affecting the future generation; Prostitution is associated with HIV infection, the fastest path to AIDS, a disease of the century that is becoming a pandemic, destroying the lives of each person and all humanity.
|
Bài làm
Trong thời gian qua vấn đề “ấu dâm” đang là chủ đề nóng của toàn xã hội được báo chí, truyền thông phản ánh và thu hút rất nhiều sự quan tâm của dư luận khiến mọi người phẫn nộ, lên án và đặt ra vấn đề hết sức bức thiết là trẻ em cần được bảo vệ một cách tốt hơn khỏi những nguy cơ bị xâm hại tình dục.
Ấu dâm hay lạm dụng tình dục trẻ em không phải là chuyện chưa từng xảy ra mà nó đã và đang tồn tại và âm thầm phát triển ngày một đáng kể như một căn bệnh dai dẳng trong nhiều năm qua. Một căn bệnh mà ai trong số chúng ta cũng lo sợ và luôn mong muốn có những biện pháp phòng chống tốt nhất để bảo vệ con em và người thân của mình.
Trước hết chúng ta cần hiểu “ấu dâm” là gì? Ấu dâm là một chứng rối loạn tình dục bao gồm những ham muốn tình dục đối với trẻ em dưới tuổi vị thành niên, tức là khoảng dưới 14 tuổi. Người mắc bệnh phải ít nhất 16 tuổi và lớn hơn trẻ bị hại ít nhất 5 tuổi. vì đây là một thuật ngữ mới nên hiện nay chưa có cách hiểu cụ thể về ấu dâm, nhưng dưới góc độ của sinh viên luật, có thể hiểu “ấu dâm” là kẻ phạm tội có hành vi sờ soạng, ôm ấp, hôn hít, đụng chạm vào bộ phận sinh dục của trẻ em nhưng chưa thực hiện hành vi giao cấu.
Hầu hết những người có xu hướng ấu dâm là nam giới, ít trường hợp là nữ giới hoặc cũng có thể những vụ ấu dâm mà nữ giới là người phạm tội ít bị phát hiện hơn so với người phạm tội là nam giới. Còn về phía nạn nhân, có thể ở nhiều độ tuổi từ trẻ sơ sinh đến trẻ tuổi vị thành niên, sự lệch lạc trong nhu cầu tình dục khiến người bệnh không thể điều khiển được hành vi, dù biết đó là điều vô đạo đức. Nạn nhân bao gồm cả bé trai và bé gái. Suy nghĩ lạm dụng tình dục thường chỉ xảy ra ở bé gái khiến các bé trai trở thành “miếng mồi” cho những người có bệnh ấu dâm.
Việc nghiên cứu về “ấu dâm”- một bệnh về tâm lý cũng mới chỉ được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới nghiên cứu trong những năm gần đây. Nguyên nhân dẫn tới ấu dâm có thể do hoàn cảnh gia đình hay đã từng bị quấy dối tình dục khi còn nhỏ nên đã dẫn tới nhận thức lệch lạc trong nhận thức. Vậy việc phòng chống “ấu dâm” có khó khăn hay không và làm như thế nào để bảo vệ con em mình khỏi mối nguy cơ bị xâm hại tình dục từ “ấu dâm”?
Theo Trung tá Đài Trung Hiếu – Chuyên gia tội phạm học Bộ Công An cho biết hiện nay có tới 73% đối tượng xâm hại tình dục trẻ em chính là người quen của nạn nhân. Như vậy có thể thấy người phạm tội phần lớn là người que của nạn nhân hoặc cũng có thể là người có địa vị trong xã hội hoặc cũng có thể là những người hoàn toàn không có sự ức chế vè tình dục những lại có những ham muốn bệnh hoạn, coi đó là sở thích đó chính là “ấu dâm”. Đa số những kẻ “ấu dâm” đều lợi dung sự ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên, ít hiểu biết hoặc lợi dụng sự quen biết đối với cha mẹ các em để tiếp cận rồi thực hiện hành vi đồi bại của mình. Đặc biệt là ở các làng quê, do trình độ dân trí thấp và lo sợ dư luận xã hội đã tạo ra tâm lý e ngại không giám tố cáo hành vi của kẻ phạm tội cho cơ quan chức năng. Đây cũng chính là lỗ hổng, là cơ hội cho những kẻ phạm tội lẩn trốn, coi thường pháp luật.
Về vấn đề “ấu dâm” thì bộ luật hình sự hiện hành hay BLHS năm 2015 đang được Quốc hội sửa đổi bổ sung cũng không thấy đề cập tới vấn đề này, do vậy tại các địa phương, cơ quan chức năng chỉ biết căn cứ vào hành vi thực tế để xem xét người phạm tội sẽ thuộc tội nào trong các tội về xâm hại tình dục trẻ em chứ chưa hề có điều khoản hay hình phạt cụ thể nào cho những kẻ thực hiện hành vi ấu dâm.
Vì pháp luật chưa có quy định, hình phạt cụ thể cho những kẻ này nên vấn đề vệ con em, người thân thích của mình khỏi những kẻ phạm tội càng quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Dưới góc độ của sinh viên Luật, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm phòng ngừa những kẻ phạm tội, hạn chế thấp nhất hậu quả xảy ra, bảo đảm cho các em phát triển một cách tốt nhất về thể chất và tâm hồn.
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư, mọi người dân về bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại tình dục đặc biệt là “ấu dâm”.
Thứ hai, phối hợp chặt chẽ giữa gia đinh, nhà trường, luôn trang bị cho các em rằng ngoài bố mẹ, bác sỹ hay y tá thì các em không được phép cho bất kỳ ai đụng chạm và những chỗ nhạy cảm hay bộ phận sinh dục của các em. Nhà trường và gia đình phải giáo dục ý thức cảnh giác, trang bị cách thức phòng vệ đối với những kẻ có hành vi đồi bại
Thứ ba, cha mẹ, thầy cô giáo hay người thân của các em cần có trách nhiệm hơn trong việc chăm sóc, chăm nom, trông chừng các em trong tất cả các khoảng thời gian như vui chơi, sinh hoạt, học tập. Thường xuyên để mắt, quan tâm chia sẻ để phát hiện những thay đổi trong tâm sinh lý của các em để tạo ra sự tin tưởng của các em đối với cha mẹ, thầy cô, khiến các em yên tâm cởi mở chia sẻ tâm sự mà trước giờ các em chưa giám kể cho ai nghe. Hạn chế cho các em tiếp xúc với người lạ, đặc biệt là các địa điểm các em có thể ở một mình với người lớn.
Thứ tư, cha mẹ và nhà trường phải thường xuyên cập nhật tình hình tội phạm xung quanh khu vực mình đang sinh sống. Nếu có vụ việc liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em nói chung hay “ấu dâm” nói riêng xảy thì những người có liên quan phải báo cao ngay với cơ quan chức năng để có biện pháp phòng ngừa tội phạm và tránh tình trạng để lọt tội phạm.
|
Assignment
In recent times, the issue of "pedophilia" has been a hot topic in the entire society, reflected in the press and media and attracting a lot of public attention, making people angry, condemning and raising questions. It is extremely urgent that children need to be better protected from the risks of sexual abuse.
Pedophilia or child sexual abuse is not something that has never happened, but it has existed and silently grown significantly as a persistent disease for many years. A disease that all of us fear and always want to have the best prevention measures to protect our children and loved ones.
First of all, we need to understand what "pedophilia" is? Pedophilia is a sexual disorder that includes sexual desires for children under the age of 14. The patient must be at least 16 years old and at least 5 years older than the victim. Because this is a new term, there is currently no specific understanding of pedophilia, but from the perspective of law students, a "pedophile" can be understood as a criminal who commits acts of touching, hugging, or kissing. inhaling or touching the child's genitals but not having sexual intercourse.
Most of the people with pedophile tendencies are men, few cases are women, or it is also possible that pedophile cases involving women are less likely to be detected than male offenders. As for the victims, who can range in age from infants to teenagers, the deviation in sexual needs makes the patient unable to control their behavior, even though they know it is immoral. . Victims include both boys and girls. Thinking that sexual abuse usually only happens to girls makes boys become "prey" for people with pedophilia.
Research on "pedophilia" - a psychological disease has only been researched by domestic and international scientists in recent years. The cause of pedophilia can be due to family circumstances or having been sexually harassed as a child, leading to cognitive distortions. So is preventing "pedophilia" difficult and how can we protect our children from the risk of sexual abuse from "pedophiles"?
According to Lieutenant Colonel Tai Trung Hieu - Criminology expert of the Ministry of Public Security, currently up to 73% of people who sexually abuse children are acquaintances of the victims. Thus, it can be seen that the criminals are mostly relatives of the victims or they can also be people of high status in society or they can also be people who have absolutely no sexual inhibitions but have sexual desires. Wanting to be sick, considering it as a hobby is "pedophilia". Most "pedophiles" take advantage of the children's innocence, purity, innocence, lack of understanding, or take advantage of their acquaintance with their parents to approach and carry out their depraved acts. Especially in rural villages, low educational levels and fear of public opinion have created a fear of not reporting criminals' actions to the authorities. This is also a loophole, an opportunity for criminals to hide and disregard the law.
Regarding the issue of "pedophilia", the current penal code or the 2015 Penal Code that is being amended by the National Assembly does not mention this issue, so in localities, authorities only know the basis. Based on actual behavior to consider which of the crimes of child sexual abuse the offender will fall into, there are no specific provisions or penalties for those who commit pedophiles.
Because the law does not have specific regulations or penalties for these people, the issue of protecting your children and relatives from criminals is more important and urgent than ever. From the perspective of Law students, we would like to offer some solutions to prevent criminals, minimize the consequences, and ensure that they develop in the best way possible physically and mentally. soul.
Firstly, promote propaganda, education, and raise awareness of the community and all people about protecting children from sexual abuse, especially "pedophilia".
Second, closely coordinate between family and school, always equip children that other than parents, doctors or nurses, they are not allowed to let anyone touch sensitive places or body parts. children's genitals. Schools and families must educate vigilance and equip them with ways to defend against those who commit corrupt acts.
Third, parents, teachers or relatives of children need to be more responsible in taking care of, looking after, and watching over their children during all periods of time such as playing, living, and studying. Regularly keep an eye out, pay attention and share to detect changes in the children's physiology to create trust in their parents and teachers, making them feel secure and open to share their thoughts. that you have never told anyone before. Limit children's contact with strangers, especially places where they may be alone with adults.
Fourth, parents and schools must regularly update the crime situation around the area where they live. If there is a case related to child sexual abuse in general or "pedophilia" in particular, those involved must immediately report it to the authorities to take measures to prevent crimes and avoid situations. let criminals slip.
|
Hướng dẫn làm bài
Đề bài yêu cầu bàn về một vấn đề vốn vẫn bị xem là nhạy cảm đối với lứa tuổi học sinh. Sự thực, đây là vấn đề mà tuổi trẻ học đường cần nhận thức được một cách sâu sắc. Cần trả lời được các câu hỏi: Thế nào là xâm hại tình dục trẻ em? Tình trạng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đã có sự gia tăng đáng lo ngại như thế nào trong thời gian gần đây? Những nguyên nhân đưa đến tình trạng đó? Hậu quả khôn lường của tình trạng xâm hại tình dục trẻ em đối vói đạo đức và an ninh xã hội? Những điều mà chúng ta cần phải làm để ngăn chặn loại tội ác này?
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Trong những năm gần đây, tình trạng tội phạm xâm hại trẻ em có xu hướng gia tăng, trong đó, tội phạm xâm hại tình dục chiếm một tỉ lệ lớn. Hành vi xâm hại tình dục không chỉ gây ra cho các em nỗi đau đớn về thể xác mà còn để lại những sang chấn tâm lí lâu dài và hết sức nặng nề. Vậy thực trạng xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
– Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi mà một người trưởng thành dùng vị thế hoặc vũ lực nhằm dụ dỗ hoặc cưỡng ép trẻ vị thành niên tham gia vào hoạt động tình dục. Nạn nhân bị xâm hại tình dục bao gồm cả trẻ em trai và gái. Các trẻ em bị xâm hại tình dục thường bị đe doạ, hãm hại nếu nói ra sự việc. Đây là những tội ác cực kì nguy hiểm đối với xã hội với khung hình phạt cao nhất là tử hình. . ‘
– Đối tượng xâm hại tình dục trẻ em khá đa dạng, thuộc mọi tầng lóp, trong đó có cả những cán bộ có chức quyền. Và điều đáng nói hơn là, có nhiều vụ án, các em bị chính những người thân ruột thịt của mình xâm hại. Theo báo cáo của Cục Cảnh sát hình sự – Bộ Công an, trong năm 2014, toàn quốc phát hiện 1.885 vụ xâm hại trẻ em, trong đó có 1.544 vụ xâm hại tình dục (chiếm hơn 80%). Nhưng đây hẳn chưa phải là con số chính xác, vì có nhiều trường hợp các em bị xâm hại nhưng gia đình, người thân không phát hiện hoặc phát hiện nhưng vì nhiều lí do nên không trình báo với cơ quan chức năng.
– Hậu quả, các em bị xâm hại tình dục không chỉ bị đau đớn về mặt thể xác, bị đe doạ đến tính mạng, có nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, mà còn phải gánh chịu những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về mặt tịnh thần. Trẻ em bị xâm hại tình dục thường mắc chứng hoang mang cực độ, hoặc tâm thần, khó hoà nhập lại vói cuộc sống bình thường. Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đồng thời cũng làm tan nát bao nhiêu gia đình; gây nên sự hoang mang, lo sợ và phẫn nộ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội.
– Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. về nguyên nhân khách quan, do sự phát tán phim ảnh, game online thiếu lành mạnh tràn lan trên mạng internet; do đa số đối tượng phạm tội có trình độ nhận thức thấp, nghề nghiệp không ổn định; do sử dụng rượu, bia quá mức dễ mất kiểm soát hành vi thú tính… Bên cạnh đó, nhiều trường họp, vì xấu hổ, sợ rắc rối nên nạn nhân và gia đình không trình báo cơ quan công an để xử lí nghiêm khắc, triệt để. Cách làm này vô tình đã trở thành tấm lá chắn che đậy tội ác cho kẻ phạm tội khiến hành vi coi thường pháp luật của chúng gia tăng.
– Về nguyên nhân chủ quan, do bận bịu với cuộc sống mưu sinh, nhiều gia đình đã sao nhãng trách nhiệm đối vói con cái. Một số em thiếu sự chăm sóc, bảo vệ của bố mẹ nên dễ bị đối tượng xấu xâm hại. Thông thường các em bị chính người thân, họ hàng hoặc hàng xóm xâm hại nhưng không dám nói vớ cha mẹ, đến khi họ phát hiện thì các em đã bị xâm hại nhiều lần. Cũng có khi, vì sự thiếu quan tâm của các bậc cha mẹ nên một số em sa vào ăn chơi lêu lổng, học hành chểnh mảng, bắt chước hành động của người lớn qua phim ảnh. Bên cạnh đó, công tác phòng ngừa, tuyên truyền, giáo dục về đạo đức lối sống, pháp luật và kĩ năng tự phòng vệ cho trẻ em cùa nhà trường và xã hội cũng chưa cao và hiệu quả.
– Từ thực trạng trên, để góp phần phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn loại tội phạm này, chính quyền các cấp, nhà trường, các phương tiện thông tin truyền thông phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân và học sinh, tránh tình trạng nhiều gia đình biết con bị xâm hại tình dục nhưng không tố giác tội phạm; tăng cường quản lí mạng internet, kịp thòi ngăn chặn các phim ảnh, trò choi có nội dung không lành mạnh; quản lí chặt chẽ các đối tựợng có tiền án, tiền sự, có nguy cơ phạm tội xâm hại tình dục; xét xử nghiêm minh những trường họp phạm tội để răn đe.
– Các bậc cha mẹ cần quan tâm chăm sóc, quản lí, bảo vệ con cái; thường xuyên nâng cao cảnh giác, tránh tình trạng con bị xâm hại mà không hề hay biết; trẻ em cần được giáo dục cẩn thận về giới tính, về kĩ năng sống, kĩ năng tự bảo vệ bản thân trước sự xâm hại nói chung và xâm hại tình dục nói riêng.
– Nạn xâm hại tình dục trẻ em đang gia tăng đến mức báo động. Đây là một loại tội ác đặc biệt nghiêm trọng, cần phải bị cả xã hội lên án và loại bỏ. Để nâng cao hiệu quả phòng chống nạn xâm hại tình dục trẻ em, cần phải có sự phối họp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường, truyền thông, các cơ quan chức năng cũng như sức mạnh tổng họp của toàn xã hội.
|
Instructions for homework
The question asks to discuss an issue that is still considered sensitive for students of all ages. In fact, this is an issue that school youth need to be deeply aware of. Need to answer the questions: What is child sexual abuse? How worrying has the recent increase in child sexual abuse crimes been? What are the causes leading to that situation? What are the unpredictable consequences of child sexual abuse for morality and social security? What do we need to do to prevent this type of crime?
The article can develop the following main ideas:
– In recent years, crimes against children have tended to increase, in which sexual abuse crimes account for a large proportion. Sexual abuse not only causes children physical pain but also leaves lasting and extremely severe psychological trauma. So what is the current situation of child sexual abuse in Vietnam?
– Child sexual abuse is an act in which an adult uses position or force to lure or force a minor to participate in sexual activity. Victims of sexual abuse include both boys and girls. Children who have been sexually abused are often threatened and harmed if they speak out. These are extremely dangerous crimes to society with the highest penalty being the death penalty. . '
– The subjects of child sexual abuse are quite diverse, from all walks of life, including officials in positions of authority. And what is more remarkable is that, in many cases, children were abused by their own relatives. According to a report by the Criminal Police Department - Ministry of Public Security, in 2014, 1,885 cases of child abuse were detected nationwide, including 1,544 cases of sexual abuse (accounting for more than 80%). But this is probably not an accurate number, because there are many cases where children are abused but their families and relatives do not discover it or, for many reasons, do not report it to the authorities.
– As a result, sexually abused children not only suffer physical pain, are life-threatening, and are at risk of infectious diseases, but they also have to suffer particularly serious health consequences. pure face. Children who are sexually abused often suffer from extreme confusion or mental illness, making it difficult to reintegrate into normal life. Crimes that sexually abuse children also destroy many families; causing confusion, fear and anger among the people, adversely affecting social order and security.
– There are many reasons leading to the increase in child sexual abuse crimes. Regarding objective causes, due to the spread of unhealthy movies and online games on the internet; Because the majority of criminals have low cognitive levels and unstable occupations; Due to excessive use of alcohol, it is easy to lose control of animalistic behavior... Besides, in many cases, because of shame and fear of trouble, victims and their families do not report to the police for strict handling. , thoroughly. This approach unintentionally became a shield to cover up crimes for criminals, causing their disregard for the law to increase.
– Regarding subjective reasons, due to being busy with making a living, many families have neglected their responsibilities towards their children. Some children lack the care and protection of their parents, so they are easily harmed by bad people. Usually, children are abused by relatives, relatives or neighbors but do not dare tell their parents. By the time they find out, they have been abused many times. Sometimes, because of the lack of care from their parents, some children indulge in promiscuity, neglect their studies, and imitate the actions of adults through movies. In addition, the prevention, propaganda, and education on lifestyle ethics, law, and self-defense skills for children in schools and society are not high and effective.
– From the above situation, to contribute to preventing, fighting, and preventing this type of crime, governments at all levels, schools, and media must regularly propagate and educate the people about the law. and students, avoiding the situation where many families know their children have been sexually abused but do not report the crime; Strengthen internet management, promptly prevent movies and games with unhealthy content; Strictly manage subjects with criminal records and at risk of committing sexual abuse; Strictly judge criminal cases to serve as a deterrent.
– Parents need to care for, manage, and protect their children; Regularly raise vigilance to avoid situations where children are abused without even knowing it; Children need to be carefully educated about sex, life skills, and self-protection skills against abuse in general and sexual abuse in particular.
– Child sexual abuse is increasing at an alarming rate. This is a particularly serious crime that needs to be condemned and eliminated by the whole society. To improve the effectiveness of preventing child sexual abuse, there needs to be synchronous coordination between families, schools, media, authorities as well as the combined strength of the entire society.
|
Bài làm
“Năm tuổi, tôi bị anh họ xâm hại. Đến giờ dù đã hai mươi mấy tuổi nhưng kí ức về những giây phút khủng khiếp ấy vẫn hiện rõ trong đầu tôi. Nhưng tôi vẫn chẳng dám nói gì với mẹ mình.”- Chia sẻ từ bạn A.Y
“Năm học cấp 3 tôi bị một kẻ biến thái chạy lên bóp ngực khi đang trên đường về nhà. Kể với bố mẹ tôi còn bị họ cười và bảo có gì đâu mà làm lớn chuyện.”- Chia sẻ từ bạn M.T
“Thầy giáo chủ nhiệm tôi năm học lớp 3 rất thích sờ vào chỗ kín học sinh. Con trai lớp tôi đều “qua tay” thầy cả. Thầy lại là người được toàn bộ phụ huynh học sinh tôn trọng cho rằng “thầy dạy rất giỏi”.- Chia sẻ từ bạn M.T.N
“Hồi bé, thầy dạy đàn bế một đứa trong đám bọn tôi lên trên đùi rồi sờ soạng khắp người. Bọn tôi há hốc mồm kể lại cho cô giáo nghe. Cô quát bọn tôi “điêu, bịa chuyện”.- Chia sẻ từ bạn P.H.T….
Đó chỉ là một số rất ít những lời tâm sự đau đớn đến thắt lòng của những nạn nhân của nạn ấu dâm. Nhưng bài học đắt giá như vậy đã thực sự đủ để thức tỉnh cả xã hội đang trong cơn u mê chưa? Để rồi “những con quỷ đội lốt người ấy” vẫn nhởn nhơ ngoài vòng phát luật.Chưa bao giờ, vấn nạn ấu dâm lại nhức nhối như hiện nay. Mỗi ngày hàng loạt những vụ xâm hại quấy rối được lộ ra như một hồi chuông cảnh tỉnh những ông bố bà mẹ. Cả thế giới ngỡ ngàng trước những hành vi đồi bại “không thể tưởng tượng nổi” để rồi tự hỏi mình rằng:
“Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra với thế giới này vậy?”
Vậy, Ấu dâm thực sự là gì?
Theo nguồn Wikipedia, cho đến hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất hoàn toàn về “Ấu dâm” hay còn gọi là lạm dụng tình dục ở trẻ em. Tuy nhiên đặc trưng chính yếu của hành vi lạm dụng tình dục trẻ em là quá trình trong đó một người trưởng thành lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục. Cũng có một số nhận định “Ấu dâm” thực tế là một dạng biến thái tình dục hình thành từ các khiếm khuyết về não bộ hay nhân cách của người bệnh. Trong một số trường hợp, kẻ có hành vi ấu dâm thậm chí còn không nhận thấy mình là người lớn và đang có hành vi xâm hại với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, dù ra sao thì đó cũng là những hành vi xấu xa đối với trẻ em và tất nhiên nó không thể chữa trị bằng những lời lăng mạ, chửi rủa hay đe dọa. Khi làn sóng cộng đồng đấu tranh phẫn nộ như hiện nay, những kẻ “ấu dâm” lại càng có cơ hội để ẩn mình mà không đi chữa trị. Đúng vậy, những kẻ ấu dâm là những con người như mỗi chúng ta, nhưng ở họ phần “người” đã biến mất chỉ còn lại phần “con” mà thôi.
Tôi sẽ cho bạn thấy những con số đáng sợ về thực trạng vấn nạn ấu dâm ở Việt Nam và các nước.
Theo Bộ lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2011-2015, Việt Nam có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Trung bình cứ 8 giờ lại có một trẻ em Việt Nam bị xâm hại tình dục, 6 bé trai lại có 1 bé bị xâm hại và ở nữ là cứ 4 bé gái lại có một bé bị xâm hại.
Bạn có nhớ về hồi tháng 3/2017 vụ án mạng xảy ra với bé gái 9 tuổi người Việt,Lê Thị Nhật Linhtại Nhật Bản, khi mà người ta tìm thấy thi thể bé trong tình trạng không mảnh vải che thân cạnh bãi cỏ bên một mương thoát nước tại thành phố Abiko, tỉnh Chiba, cách nhà bé khoảng 10 km. Không ai biết được em đã phải trải qua những điều kinh khủng gì, nỗi đau đớn mất mát của bố mẹ em trong khi kẻ bị tình nghi vẫn nhởn nhơ không nhận tội.
Tại Mỹ, cứ 8 phút, các nhân viên xã hội lại tìm thấy bằng chứng hoặc khẳng định một trường hợp xâm hại tình dục tại Mỹ.
– Cứ 1/7 (13%) người trẻ dùng Internet cho biết họ từng nhận được những lời gạ gẫm tình dục trên mạng xã hội.
-1/25 người trẻ bị gạ gẫm tình dục từ những đối tượng gặp trực tiếp bên ngoài.
-34% nạn nhân bị xâm hại tình dục là dưới 12 tuổi.
– Khoảng 60% đối tượng xâm hại tình dục là người quen mà lũ trẻ biết.
– Khoảng 30% đối tượng xâm hại tình dục là các thành viên họ hàng trong gia đình và 10% còn lại là người lạ.
-23% đối tượng xâm hại tình dục có độ tuổi dưới 18.
Hay ở Nam Phi- nơi được coi là kém phát triển trên thế giới:
Theo một báo cáo của hiệp hội thương mại Solidarity Helping Hand, Nam Phi, cứ 3 phút lại có một trẻ em bị xâm hại tình dục tại quốc gia này.
– Theo nghiên cứu của Hiệp hội Y khoa Quốc gia vào năm 2009, cứ 1/4 người thú nhận đã xâm hại tình dục ai đó.
– Cũng trong báo cáo này, 62% con trai hơn 11 tuổi tin rằng việc ép ai đó quan hệ tình dục không phải là một hành động bạo lực.
Đó chỉ là một số rất ít về vấn nạn này trên toàn thế giới. Đó thực sự là những con số biết nói.
Người ta vẫn nói: “Trẻ con như tờ giấy trắng.” Đúng vậy, chúng ngây thơ trong sáng mà theo mọi người đó là những điều ngọt ngào nhất thế gian. Vậy nhưng, tờ giấy trắng đó của chúng ta đang bị vẩn đục bởi bàn tay của những con quỷ ấu dâm.
– “Tổ chức phi chính phủ của Đức có tên Innocence in Danger đã thực hiện chiến dịch đầy ý nghĩa với khẩu hiệu “Some touches never leave” (Có những vết hằn không bao giờ biến mất)”
Những kí ức ấy, bọn trẻ nào có thể quên. Nó không chỉ là nỗi đau về thể xác mà còn là nỗi đau về tinh thần. Tờ giấy bị bôi bẩn nào thể trắng lại như ban đầu, những tấm gỗ bị đóng đinh liệu có thể lành lăn như trước? Nó sẽ là nỗi ám ảnh mà cả đời chúng sẽ chẳng bao giờ quên. Những “ kẻ khốn đội lốt thiên thần” ấy đã cướp đi sự hồn nhiên, cướp đi tiếng cười, cướp đi niềm vui, cướp đi sự hạnh phúc mà các em đáng lẽ được nhận. Sẽ thật đau lòng biết bao khi bố mẹ các em nhìn thấy con mình ngày càng héo mòn, như thể còn mỗi thể xác, các em còn sống mà như đang chết dần chết mòn, nó như hoa quả tươi khi bị bỏ ra khỏi thuốc bảo quản không hỏng ngay nhưng ngày càng thối rữa. Bạn có bao giờ quên được cái ánh nhìn tuyệt vọng, vô hồn của những đứa trẻ đó không?
Trong chương trình Sing my song 2018, thí sinh Trương Phước Lộc đã có bài hát “Ông kẹ”, ca khúc nói về vấn đề xâm hại trẻ em, cuộc chiến mà toàn thế giới đang đấu tranh và mượn hình ảnh “ông kẹ” để nói về những con người xấu xa trong bóng tối. Đứng sau tấm màn, cùng bóng đen bao trùm Phước Lộc hát lên như tiếng gọi đau đớn của các bé bị xâm hại, giai điệu mạnh mẽ cùng ca từ như lời cảnh tỉnh cho các bậc phụ huy hãy dành thời gian quan tâm con của mình nhiều hơn.
Đúng vậy, ông ấy giống ta chẳng như cổ tích vẽ ra đâu, ông ấy ở ngay trong cuộc sống chúng ta thôi. Theo thống kê, những “ông kẹ của hiện đại” có đến 93% là người có mối quan hệ quen biết với nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân, 47% là người trong gia đình, họ hàng. Thật là đáng sợ!
Nhưng những nạn nhân của chúng ta, họ không dám lên tiếng. Họ cứ ngỡ họ là một trong số ít kém may mắn trên thế giới nên họ chỉ dám lên tiếng bày tỏ sự đồng cảm với những nạn nhân mới, những đứa trẻ chỉ vừa lên 8, lên 9. Nhưng không, khi họ vô tình đồng loạt lên tiếng, những dòng tâm sự của họ đã khiến cả xã hội phải bàng hoàng. Bàng hoàng khi nhận ra những nạn nhân đều bị xâm hại chỉ là những đứa trẻ trong sáng, bang hoàng khi có những nạn nhân vẫn ầm thầm lặng lẽ kêu cứu trong cõi lòng vì không đủ cam đảm lên tiếng. Đừng cố tìm hiểu vì sao họ im lặng, cái ta cần làm là hiểu họ vậy là đủ. Những “kẻ bệnh hoạn” đó rất hiểu tâm lý nạn nhân của mình. Chúng luôn tìm cách để các em không dám lên tiếng.
Họ luôn dụ dỗ chúng “À, sẽ chẳng ai tin mày đâu, bố mẹ sẽ giận mày đó. À, bạn bè sẽ xa lánh mày…”. Với mỗi đứa trẻ đó như là một ác mộng, họ mới chỉ cho chúng thấy phần nổi của tảng bang lớn chìm trong nước còn những kẻ nham hiểm vẫn an tâm núp trong lớp vỏ bọc hiền lành, thánh thiện và ngày đêm gieo rắc tội lỗi, phá hủy tương lai những mầm non của thế kỷ mới. Và một phần dẫn đến sự im lặng của bọn trẻ là do người lớn chúng ta. Bạn đã bao giờ quan tâm nhiều hơn đến con mình, bạn có hay ngồi lắng nghe những tâm sự của chúng hay nhìn những nét vẽ nguệch ngoạc nhưng chứa đựng ẩn ý sâu sa mà những con quỷ dữ gieo giắt vào tâm trí các em.
Bạn có nhớ câu hát đó không: “Mẹ ơi! Đừng lo cái chăn đừng lo miếng ăn hãy đem con về nhà“. Hãy bỏ bớt đi những công việc, hãy bỏ bớt đi cơm áo gạo tiền, hãy học cách tin con, lắng nghe con, bởi mỗi lần bạn lơ là là một bước bạn đẩy con mình ra xa, gần hơn với những kẻ ấu dâm.
|
Bài làm
“Năm tuổi, tôi bị anh họ xâm hại. Đến giờ dù đã hai mươi mấy tuổi nhưng kí ức về những giây phút khủng khiếp ấy vẫn hiện rõ trong đầu tôi. Nhưng tôi vẫn chẳng dám nói gì với mẹ mình.”- Chia sẻ từ bạn A.Y
“Năm học cấp 3 tôi bị một kẻ biến thái chạy lên bóp ngực khi đang trên đường về nhà. Kể với bố mẹ tôi còn bị họ cười và bảo có gì đâu mà làm lớn chuyện.”- Chia sẻ từ bạn M.T
“Thầy giáo chủ nhiệm tôi năm học lớp 3 rất thích sờ vào chỗ kín học sinh. Con trai lớp tôi đều “qua tay” thầy cả. Thầy lại là người được toàn bộ phụ huynh học sinh tôn trọng cho rằng “thầy dạy rất giỏi”.- Chia sẻ từ bạn M.T.N
“Hồi bé, thầy dạy đàn bế một đứa trong đám bọn tôi lên trên đùi rồi sờ soạng khắp người. Bọn tôi há hốc mồm kể lại cho cô giáo nghe. Cô quát bọn tôi “điêu, bịa chuyện”.- Chia sẻ từ bạn P.H.T….
Đó chỉ là một số rất ít những lời tâm sự đau đớn đến thắt lòng của những nạn nhân của nạn ấu dâm. Nhưng bài học đắt giá như vậy đã thực sự đủ để thức tỉnh cả xã hội đang trong cơn u mê chưa? Để rồi “những con quỷ đội lốt người ấy” vẫn nhởn nhơ ngoài vòng phát luật.Chưa bao giờ, vấn nạn ấu dâm lại nhức nhối như hiện nay. Mỗi ngày hàng loạt những vụ xâm hại quấy rối được lộ ra như một hồi chuông cảnh tỉnh những ông bố bà mẹ. Cả thế giới ngỡ ngàng trước những hành vi đồi bại “không thể tưởng tượng nổi” để rồi tự hỏi mình rằng:
“Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra với thế giới này vậy?”
Vậy, Ấu dâm thực sự là gì?
Theo nguồn Wikipedia, cho đến hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất hoàn toàn về “Ấu dâm” hay còn gọi là lạm dụng tình dục ở trẻ em. Tuy nhiên đặc trưng chính yếu của hành vi lạm dụng tình dục trẻ em là quá trình trong đó một người trưởng thành lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục. Cũng có một số nhận định “Ấu dâm” thực tế là một dạng biến thái tình dục hình thành từ các khiếm khuyết về não bộ hay nhân cách của người bệnh. Trong một số trường hợp, kẻ có hành vi ấu dâm thậm chí còn không nhận thấy mình là người lớn và đang có hành vi xâm hại với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, dù ra sao thì đó cũng là những hành vi xấu xa đối với trẻ em và tất nhiên nó không thể chữa trị bằng những lời lăng mạ, chửi rủa hay đe dọa. Khi làn sóng cộng đồng đấu tranh phẫn nộ như hiện nay, những kẻ “ấu dâm” lại càng có cơ hội để ẩn mình mà không đi chữa trị. Đúng vậy, những kẻ ấu dâm là những con người như mỗi chúng ta, nhưng ở họ phần “người” đã biến mất chỉ còn lại phần “con” mà thôi.
Tôi sẽ cho bạn thấy những con số đáng sợ về thực trạng vấn nạn ấu dâm ở Việt Nam và các nước.
Theo Bộ lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2011-2015, Việt Nam có 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Trung bình cứ 8 giờ lại có một trẻ em Việt Nam bị xâm hại tình dục, 6 bé trai lại có 1 bé bị xâm hại và ở nữ là cứ 4 bé gái lại có một bé bị xâm hại.
Bạn có nhớ về hồi tháng 3/2017 vụ án mạng xảy ra với bé gái 9 tuổi người Việt,Lê Thị Nhật Linhtại Nhật Bản, khi mà người ta tìm thấy thi thể bé trong tình trạng không mảnh vải che thân cạnh bãi cỏ bên một mương thoát nước tại thành phố Abiko, tỉnh Chiba, cách nhà bé khoảng 10 km. Không ai biết được em đã phải trải qua những điều kinh khủng gì, nỗi đau đớn mất mát của bố mẹ em trong khi kẻ bị tình nghi vẫn nhởn nhơ không nhận tội.
Tại Mỹ, cứ 8 phút, các nhân viên xã hội lại tìm thấy bằng chứng hoặc khẳng định một trường hợp xâm hại tình dục tại Mỹ.
– Cứ 1/7 (13%) người trẻ dùng Internet cho biết họ từng nhận được những lời gạ gẫm tình dục trên mạng xã hội.
-1/25 người trẻ bị gạ gẫm tình dục từ những đối tượng gặp trực tiếp bên ngoài.
-34% nạn nhân bị xâm hại tình dục là dưới 12 tuổi.
– Khoảng 60% đối tượng xâm hại tình dục là người quen mà lũ trẻ biết.
– Khoảng 30% đối tượng xâm hại tình dục là các thành viên họ hàng trong gia đình và 10% còn lại là người lạ.
-23% đối tượng xâm hại tình dục có độ tuổi dưới 18.
Hay ở Nam Phi- nơi được coi là kém phát triển trên thế giới:
Theo một báo cáo của hiệp hội thương mại Solidarity Helping Hand, Nam Phi, cứ 3 phút lại có một trẻ em bị xâm hại tình dục tại quốc gia này.
– Theo nghiên cứu của Hiệp hội Y khoa Quốc gia vào năm 2009, cứ 1/4 người thú nhận đã xâm hại tình dục ai đó.
– Cũng trong báo cáo này, 62% con trai hơn 11 tuổi tin rằng việc ép ai đó quan hệ tình dục không phải là một hành động bạo lực.
Đó chỉ là một số rất ít về vấn nạn này trên toàn thế giới. Đó thực sự là những con số biết nói.
Người ta vẫn nói: “Trẻ con như tờ giấy trắng.” Đúng vậy, chúng ngây thơ trong sáng mà theo mọi người đó là những điều ngọt ngào nhất thế gian. Vậy nhưng, tờ giấy trắng đó của chúng ta đang bị vẩn đục bởi bàn tay của những con quỷ ấu dâm.
– “Tổ chức phi chính phủ của Đức có tên Innocence in Danger đã thực hiện chiến dịch đầy ý nghĩa với khẩu hiệu “Some touches never leave” (Có những vết hằn không bao giờ biến mất)”
Những kí ức ấy, bọn trẻ nào có thể quên. Nó không chỉ là nỗi đau về thể xác mà còn là nỗi đau về tinh thần. Tờ giấy bị bôi bẩn nào thể trắng lại như ban đầu, những tấm gỗ bị đóng đinh liệu có thể lành lăn như trước? Nó sẽ là nỗi ám ảnh mà cả đời chúng sẽ chẳng bao giờ quên. Những “ kẻ khốn đội lốt thiên thần” ấy đã cướp đi sự hồn nhiên, cướp đi tiếng cười, cướp đi niềm vui, cướp đi sự hạnh phúc mà các em đáng lẽ được nhận. Sẽ thật đau lòng biết bao khi bố mẹ các em nhìn thấy con mình ngày càng héo mòn, như thể còn mỗi thể xác, các em còn sống mà như đang chết dần chết mòn, nó như hoa quả tươi khi bị bỏ ra khỏi thuốc bảo quản không hỏng ngay nhưng ngày càng thối rữa. Bạn có bao giờ quên được cái ánh nhìn tuyệt vọng, vô hồn của những đứa trẻ đó không?
Trong chương trình Sing my song 2018, thí sinh Trương Phước Lộc đã có bài hát “Ông kẹ”, ca khúc nói về vấn đề xâm hại trẻ em, cuộc chiến mà toàn thế giới đang đấu tranh và mượn hình ảnh “ông kẹ” để nói về những con người xấu xa trong bóng tối. Đứng sau tấm màn, cùng bóng đen bao trùm Phước Lộc hát lên như tiếng gọi đau đớn của các bé bị xâm hại, giai điệu mạnh mẽ cùng ca từ như lời cảnh tỉnh cho các bậc phụ huy hãy dành thời gian quan tâm con của mình nhiều hơn.
Đúng vậy, ông ấy giống ta chẳng như cổ tích vẽ ra đâu, ông ấy ở ngay trong cuộc sống chúng ta thôi. Theo thống kê, những “ông kẹ của hiện đại” có đến 93% là người có mối quan hệ quen biết với nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân, 47% là người trong gia đình, họ hàng. Thật là đáng sợ!
Nhưng những nạn nhân của chúng ta, họ không dám lên tiếng. Họ cứ ngỡ họ là một trong số ít kém may mắn trên thế giới nên họ chỉ dám lên tiếng bày tỏ sự đồng cảm với những nạn nhân mới, những đứa trẻ chỉ vừa lên 8, lên 9. Nhưng không, khi họ vô tình đồng loạt lên tiếng, những dòng tâm sự của họ đã khiến cả xã hội phải bàng hoàng. Bàng hoàng khi nhận ra những nạn nhân đều bị xâm hại chỉ là những đứa trẻ trong sáng, bang hoàng khi có những nạn nhân vẫn ầm thầm lặng lẽ kêu cứu trong cõi lòng vì không đủ cam đảm lên tiếng. Đừng cố tìm hiểu vì sao họ im lặng, cái ta cần làm là hiểu họ vậy là đủ. Những “kẻ bệnh hoạn” đó rất hiểu tâm lý nạn nhân của mình. Chúng luôn tìm cách để các em không dám lên tiếng.
Họ luôn dụ dỗ chúng “À, sẽ chẳng ai tin mày đâu, bố mẹ sẽ giận mày đó. À, bạn bè sẽ xa lánh mày…”. Với mỗi đứa trẻ đó như là một ác mộng, họ mới chỉ cho chúng thấy phần nổi của tảng bang lớn chìm trong nước còn những kẻ nham hiểm vẫn an tâm núp trong lớp vỏ bọc hiền lành, thánh thiện và ngày đêm gieo rắc tội lỗi, phá hủy tương lai những mầm non của thế kỷ mới. Và một phần dẫn đến sự im lặng của bọn trẻ là do người lớn chúng ta. Bạn đã bao giờ quan tâm nhiều hơn đến con mình, bạn có hay ngồi lắng nghe những tâm sự của chúng hay nhìn những nét vẽ nguệch ngoạc nhưng chứa đựng ẩn ý sâu sa mà những con quỷ dữ gieo giắt vào tâm trí các em.
Bạn có nhớ câu hát đó không: “Mẹ ơi! Đừng lo cái chăn đừng lo miếng ăn hãy đem con về nhà“. Hãy bỏ bớt đi những công việc, hãy bỏ bớt đi cơm áo gạo tiền, hãy học cách tin con, lắng nghe con, bởi mỗi lần bạn lơ là là một bước bạn đẩy con mình ra xa, gần hơn với những kẻ ấu dâm.
|
DÀN BÀI
1. Mở bài
Giới thiệu chung về sách, mối băn khoăn về việc đọc sách.
2. Thân bài
a. Đọc sách có lợi gì?
– Mở mang kiến thức về đời sống;
– Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm;
– Trau dồi kĩ năng nói và viết tiếng Việt.
b. Thích đọc loại sách nào nhất? Vì sao?
– Loại sách: những truyện viết về con người, nhất là về những con người trẻ tuổi đã vượt lên khó khăn để đi đến thành công;
– Vì sao?
– Phù hợp với lứa tuổi, tâm lí, mơ ước của bản thân,
– Giúp ta cách giải quyết những trường hợp tương tự;
– Dẫn chứng: đọc cuốn Kliông gia đình của Hecto Malô.
c. Đọc thế nào thì có lợi? Thế nào thì có hại?
– Phải biết chọn sách hay sách tốt để đọc;
– Đọc có kế hoạch, có giờ giấc một cách khoa học;
– Đọc có suy nghĩ, học theo sách nhưng không nô lệ sách.
3. Kết bài
– Sách là một sản.phẩm kì diệu;
– Sách là người thầy, người bạn của mọi người.
BÀI LÀM
Bắt đầu kì nghỉ hè, bố tôi cho tôi một số tiền nhỏ, bảo ra quán sách, chọn mua ít quyển sách về mà đọc. Trước những quầy sách hàng nối hàng, tôi thực sự phân vân. Sách quá nhiều, quyển nào trông cũng thật hấp dẫn, đủ cách trình bày, đủ loại, từ truyện dài đến truyện vừa, truyện ngắn, từ truyện trinh thám, truyện vụ án đến truyện cười, truyện tranh… Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng chọn mua được mấy quyển sách hợp với ý thích của em, phù hợp với ý nghĩ của tôi về việc đọc sách.
Nói cho cùng thì không ai đo cho được những lợi ích của sách vở, bởi tác động của nó không chỉ đến ngay một lúc, và hiệu quả của nó có khi trải suốt cả đời người. Sách mang đến cho con người ta sự hiểu biết vô tận về cuộc sống, về đất nước, về thế giới, về con người, không chỉ của ngày hôm nay, mà cả trong quá khứ, vài chục năm, vài trăm năm, có khi cả mấy ngàn năm trước. Đọc sách, ta có thể biết được những phong tục, tập quán, tâm lí, nguyện vọng của những người sống rất xa ta cả về không gian và thời gian, hoặc chính cuộc sông và con người trước mắt ta, bên cạnh ta mà ta không nhận ra.
Những quyển sách hay bao giờ cũng dạy ta cách sống đẹp, cách nghĩ, cách làm, cách nói năng, đối xử đẹp trong đời sống. Ớ những quyển sách ấy luôn luôn chứa đựng những tình cảm cao thượng, những lời khuyên, những nguồn động viên khích lệ… Điều kì diệu là sách ít khi trực tiếp đưa ra những lời khuyên dạy khô khan, mà thường là bằng những câu văn đẹp, những câu chuyện thú vị hay những nhân vật có sức thu hút, sách để cho người đọc tự mình rút ra những bài học, những lời khuyên… Sách chia sẻ vớí con người trong cả những lúc buồn đau hay thất vọng.
Riêng đối với lứa tuổi học sinh, sách còn là người thầy dạy môn tiếng Việt tuyệt vời. Đọc sách, ta không cố tình học tập, thế mà rồi ngày qua ngày, từ quyển sách này sang quyển sách khác, ta cứ tự nhiên thu nhận cách nói cách viết rõ ràng, lưu loát, phù hợp với các quy tắc luật tệ mà khi ở trên lớp, ta cứ trầy trật mãi cũng không sao nhét hết vào đầu.
Sách là người thầy, sách là người bạn là thế. Sách vừa thú vị vừa bổ ích là thế. Tuy nhiên, cách đọc sách không ai giống ai, chọn sách để đọc cũng không ai giống ai. Riêng tôi, tôi thích những quyển sách viết về lứa tuổi của mình, truyện trong nước cũng như những truyện dịch từ tác phẩm nước ngoài, đặc biệt là truyện về những người trải qua cuộc sông gian nan nhưng nhờ có lòng tốt, có nghị lực, có niềm tin vào cuộc sống, niềm tin vào chính mình, cuối cùng đã trưởng thành. Theo tôi, một quyển sách hay phải làm cho người đọc thêm yêu thương con người, yêu thương đất nước và nhân dân mình, biết đau khổ trước nỗi bất hạnh và vui sướng vì hạnh phúc của con người lương thiện. Đọc những quyển sách như thế, tôi cảm thấy giữa sách với mình thật gần gũi. Tôi như cùng được sống với người trong sách, chia sẻ cách nghĩ, cách sống và cả những ước mong của nhân vật. Rất nhiều khi tôi như được nhập thân vào nhân vật, cùng buồn vui, lo lắng, hồi hộp. Từ cuộc đời nhân vật trong truyện, tôi có thể rút ra cho mình những bài học.
Chỉ riêng với một tác phẩm như hai tập Không gia đình của nhà văn Pháp Hecto Malô (Hector Malot) mà tôi đọc trong dịp hè vừa qua, tôi cũng đã nhận được bao điều thú vị và bổ ích. Tác phẩm vừa giúp tôi hiểu biết thêm đôi chút về nước Pháp, vừa khiến tôi xúc động vô cùng về cuộc đời và tâm hồn của chú bé Rêmi mới tám tuổi đã lưu lạc giang hồ, từng gặp không ít những kẻ độc ác xấu xa nhưng cũng đã gặp bao nhiêu con người cao thượng, ngay thẳng, đầy lòng vị tha. Tôi theo dõi từng bước chân của Rêmi, và cứ nghĩ, nếu mình là chú bé ấy, mình cũng sẽ cố gắng sống như thế, ngay thật, can đảm, trọng danh dự, biết quý trọng tình bạn, yêu thương và sống tình nghĩa với mọi người. Chắc chắn những cuốn sách như thế sẽ sống mãi với tôi đến suốt đời và sẽ còn có ích cho tôi rất nhiều. Rồi cũng trong dịp hè này, nghe lời khuyên của các anh chị, tôi tìm đọc hai tập nhật kí của hai liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thuỳ Trâm. Hai quyển sách với những trang văn được viết không phải để “làm văn” mà sao hay và đẹp đến lạ lùng. Những tâm hồn đẹp quá! Đất nước mình thiêng liêng quá, mình phải sống thế nào cho xứng đáng với đất nước, với những con người ấy đây!
Đọc sách có rất nhiều lợi ích, điều đó ai cũng thấy, song không phải bất cứ cách đọc sách nào cũng mang lại lợi ích. Trước hết, phải biết chọn sách mà đọc. Phải đọc những quyển sách thực sự giúp ta hiểu biết cuộc sống, thiết thực bồi bổ tình cảm và tâm hồn ta. Nhân vật trong sách phải là những con người dù sống trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không ngừng vươn lên, trở nên trong sáng, tốt đẹp hơn. Một quyển sách tốt là một quyển sách tốt từ nội dung đển hình thức, từ câu chuyện sinh động, thú vị, đến lời văn giản dị, trong sáng, gãy gọn. Một quyển sách như thế thật đáng bỏ tiền để mua, đáng mất công để đọc. Trong khi đó, tôi biết có không ít bạn cũng thích đọc nhiều sách nhưng bạ sách gì, cũng đọc, cả những quyển tuy cũng được gọi là “sách” nhưng nội dung thì nhảm nhí, văn chương thì thô kệch, rườm rà. Những quyển sách như thế, càng đọc nhiều thì tác hại càng nhiều.
Có sách hay để đọc, lại phải biết nên đọc vào lúc nào, giờ nào. Thú vị nhất là đọc sách vào những ngày giờ rảnh rỗi, được ngồi trước hiên nhà thoáng mát, hay trên chiếc võng vườn sau rỢp bóng cây trong ngày hè, tha hồ cho trí tưởng tượng và cảm xúc bay bổng… Mê sách mà đến nỗi đọc trong cả giờ ăn, giờ học bài, thậm chí để sách vào dưới hộc bàn để đọc lén trong lúc thầy giáo đang giảng bài, thì lợi đâu chưa thấy, đã thấy ngay cái hại.
Đọc sách chính là “học bằng sách”. Bởi vậy, phải biết suy nghĩ, chọn ra điều để học. Trong đời, mỗi người có một hoàn cảnh riêng không ai giông ai, mỗi thời đại, mỗi đất nước lại có những hoàn cảnh riêng biệt. Học theo sách tức là chọn được những giá trị cốt lõi rồi vận dụng cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình. Đọc sách để rồi chỉ được tiếng là “con mọt sách” hay “cái giá đựng sách”, hoặc bắt chước sách một cách nô lệ, thì tốt hơn, đừng nên đọc sách. Thử tưởng tượng: đọc xong một quyển sách rồi bắt chước chàng Đôn Kihôtê thời xưa, mặc giáp, cầm gươm, lên ngựa ruổi rong… sẽ thế nào. Cho nên, từ việc thấy được cái lợi của việc đọc sách, đến việc đọc sách cho thực sự có lợi, từ việc đọc sách, đến việc học bằng sách còn biết bao điều phải suy nghĩ.
Trong những phát minh của loài người từ xưa đến nay, sách là một phát minh kì diệu vô cùng. Có sách, con người đã bước từ thời tiền sử sang thời có lịch sử. Sách làm cho con người lớn lên, làm cho con người xích lại gần nhau, sách dạy dỗ, an ủi con người. Nếu mai sau lớn lên, ta trở thành người có ích cho đời, một phần lớn nhờ công của sách, ôi, những quyển sách kì diệu!
|
DÀN BÀI
1. Mở bài
Giới thiệu chung về sách, mối băn khoăn về việc đọc sách.
2. Thân bài
a. Đọc sách có lợi gì?
– Mở mang kiến thức về đời sống;
– Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm;
– Trau dồi kĩ năng nói và viết tiếng Việt.
b. Thích đọc loại sách nào nhất? Vì sao?
– Loại sách: những truyện viết về con người, nhất là về những con người trẻ tuổi đã vượt lên khó khăn để đi đến thành công;
– Vì sao?
– Phù hợp với lứa tuổi, tâm lí, mơ ước của bản thân,
– Giúp ta cách giải quyết những trường hợp tương tự;
– Dẫn chứng: đọc cuốn Kliông gia đình của Hecto Malô.
c. Đọc thế nào thì có lợi? Thế nào thì có hại?
– Phải biết chọn sách hay sách tốt để đọc;
– Đọc có kế hoạch, có giờ giấc một cách khoa học;
– Đọc có suy nghĩ, học theo sách nhưng không nô lệ sách.
3. Kết bài
– Sách là một sản.phẩm kì diệu;
– Sách là người thầy, người bạn của mọi người.
BÀI LÀM
Bắt đầu kì nghỉ hè, bố tôi cho tôi một số tiền nhỏ, bảo ra quán sách, chọn mua ít quyển sách về mà đọc. Trước những quầy sách hàng nối hàng, tôi thực sự phân vân. Sách quá nhiều, quyển nào trông cũng thật hấp dẫn, đủ cách trình bày, đủ loại, từ truyện dài đến truyện vừa, truyện ngắn, từ truyện trinh thám, truyện vụ án đến truyện cười, truyện tranh… Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng chọn mua được mấy quyển sách hợp với ý thích của em, phù hợp với ý nghĩ của tôi về việc đọc sách.
Nói cho cùng thì không ai đo cho được những lợi ích của sách vở, bởi tác động của nó không chỉ đến ngay một lúc, và hiệu quả của nó có khi trải suốt cả đời người. Sách mang đến cho con người ta sự hiểu biết vô tận về cuộc sống, về đất nước, về thế giới, về con người, không chỉ của ngày hôm nay, mà cả trong quá khứ, vài chục năm, vài trăm năm, có khi cả mấy ngàn năm trước. Đọc sách, ta có thể biết được những phong tục, tập quán, tâm lí, nguyện vọng của những người sống rất xa ta cả về không gian và thời gian, hoặc chính cuộc sông và con người trước mắt ta, bên cạnh ta mà ta không nhận ra.
Những quyển sách hay bao giờ cũng dạy ta cách sống đẹp, cách nghĩ, cách làm, cách nói năng, đối xử đẹp trong đời sống. Ớ những quyển sách ấy luôn luôn chứa đựng những tình cảm cao thượng, những lời khuyên, những nguồn động viên khích lệ… Điều kì diệu là sách ít khi trực tiếp đưa ra những lời khuyên dạy khô khan, mà thường là bằng những câu văn đẹp, những câu chuyện thú vị hay những nhân vật có sức thu hút, sách để cho người đọc tự mình rút ra những bài học, những lời khuyên… Sách chia sẻ vớí con người trong cả những lúc buồn đau hay thất vọng.
Riêng đối với lứa tuổi học sinh, sách còn là người thầy dạy môn tiếng Việt tuyệt vời. Đọc sách, ta không cố tình học tập, thế mà rồi ngày qua ngày, từ quyển sách này sang quyển sách khác, ta cứ tự nhiên thu nhận cách nói cách viết rõ ràng, lưu loát, phù hợp với các quy tắc luật tệ mà khi ở trên lớp, ta cứ trầy trật mãi cũng không sao nhét hết vào đầu.
Sách là người thầy, sách là người bạn là thế. Sách vừa thú vị vừa bổ ích là thế. Tuy nhiên, cách đọc sách không ai giống ai, chọn sách để đọc cũng không ai giống ai. Riêng tôi, tôi thích những quyển sách viết về lứa tuổi của mình, truyện trong nước cũng như những truyện dịch từ tác phẩm nước ngoài, đặc biệt là truyện về những người trải qua cuộc sông gian nan nhưng nhờ có lòng tốt, có nghị lực, có niềm tin vào cuộc sống, niềm tin vào chính mình, cuối cùng đã trưởng thành. Theo tôi, một quyển sách hay phải làm cho người đọc thêm yêu thương con người, yêu thương đất nước và nhân dân mình, biết đau khổ trước nỗi bất hạnh và vui sướng vì hạnh phúc của con người lương thiện. Đọc những quyển sách như thế, tôi cảm thấy giữa sách với mình thật gần gũi. Tôi như cùng được sống với người trong sách, chia sẻ cách nghĩ, cách sống và cả những ước mong của nhân vật. Rất nhiều khi tôi như được nhập thân vào nhân vật, cùng buồn vui, lo lắng, hồi hộp. Từ cuộc đời nhân vật trong truyện, tôi có thể rút ra cho mình những bài học.
Chỉ riêng với một tác phẩm như hai tập Không gia đình của nhà văn Pháp Hecto Malô (Hector Malot) mà tôi đọc trong dịp hè vừa qua, tôi cũng đã nhận được bao điều thú vị và bổ ích. Tác phẩm vừa giúp tôi hiểu biết thêm đôi chút về nước Pháp, vừa khiến tôi xúc động vô cùng về cuộc đời và tâm hồn của chú bé Rêmi mới tám tuổi đã lưu lạc giang hồ, từng gặp không ít những kẻ độc ác xấu xa nhưng cũng đã gặp bao nhiêu con người cao thượng, ngay thẳng, đầy lòng vị tha. Tôi theo dõi từng bước chân của Rêmi, và cứ nghĩ, nếu mình là chú bé ấy, mình cũng sẽ cố gắng sống như thế, ngay thật, can đảm, trọng danh dự, biết quý trọng tình bạn, yêu thương và sống tình nghĩa với mọi người. Chắc chắn những cuốn sách như thế sẽ sống mãi với tôi đến suốt đời và sẽ còn có ích cho tôi rất nhiều. Rồi cũng trong dịp hè này, nghe lời khuyên của các anh chị, tôi tìm đọc hai tập nhật kí của hai liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thuỳ Trâm. Hai quyển sách với những trang văn được viết không phải để “làm văn” mà sao hay và đẹp đến lạ lùng. Những tâm hồn đẹp quá! Đất nước mình thiêng liêng quá, mình phải sống thế nào cho xứng đáng với đất nước, với những con người ấy đây!
Đọc sách có rất nhiều lợi ích, điều đó ai cũng thấy, song không phải bất cứ cách đọc sách nào cũng mang lại lợi ích. Trước hết, phải biết chọn sách mà đọc. Phải đọc những quyển sách thực sự giúp ta hiểu biết cuộc sống, thiết thực bồi bổ tình cảm và tâm hồn ta. Nhân vật trong sách phải là những con người dù sống trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không ngừng vươn lên, trở nên trong sáng, tốt đẹp hơn. Một quyển sách tốt là một quyển sách tốt từ nội dung đển hình thức, từ câu chuyện sinh động, thú vị, đến lời văn giản dị, trong sáng, gãy gọn. Một quyển sách như thế thật đáng bỏ tiền để mua, đáng mất công để đọc. Trong khi đó, tôi biết có không ít bạn cũng thích đọc nhiều sách nhưng bạ sách gì, cũng đọc, cả những quyển tuy cũng được gọi là “sách” nhưng nội dung thì nhảm nhí, văn chương thì thô kệch, rườm rà. Những quyển sách như thế, càng đọc nhiều thì tác hại càng nhiều.
Có sách hay để đọc, lại phải biết nên đọc vào lúc nào, giờ nào. Thú vị nhất là đọc sách vào những ngày giờ rảnh rỗi, được ngồi trước hiên nhà thoáng mát, hay trên chiếc võng vườn sau rỢp bóng cây trong ngày hè, tha hồ cho trí tưởng tượng và cảm xúc bay bổng… Mê sách mà đến nỗi đọc trong cả giờ ăn, giờ học bài, thậm chí để sách vào dưới hộc bàn để đọc lén trong lúc thầy giáo đang giảng bài, thì lợi đâu chưa thấy, đã thấy ngay cái hại.
Đọc sách chính là “học bằng sách”. Bởi vậy, phải biết suy nghĩ, chọn ra điều để học. Trong đời, mỗi người có một hoàn cảnh riêng không ai giông ai, mỗi thời đại, mỗi đất nước lại có những hoàn cảnh riêng biệt. Học theo sách tức là chọn được những giá trị cốt lõi rồi vận dụng cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình. Đọc sách để rồi chỉ được tiếng là “con mọt sách” hay “cái giá đựng sách”, hoặc bắt chước sách một cách nô lệ, thì tốt hơn, đừng nên đọc sách. Thử tưởng tượng: đọc xong một quyển sách rồi bắt chước chàng Đôn Kihôtê thời xưa, mặc giáp, cầm gươm, lên ngựa ruổi rong… sẽ thế nào. Cho nên, từ việc thấy được cái lợi của việc đọc sách, đến việc đọc sách cho thực sự có lợi, từ việc đọc sách, đến việc học bằng sách còn biết bao điều phải suy nghĩ.
Trong những phát minh của loài người từ xưa đến nay, sách là một phát minh kì diệu vô cùng. Có sách, con người đã bước từ thời tiền sử sang thời có lịch sử. Sách làm cho con người lớn lên, làm cho con người xích lại gần nhau, sách dạy dỗ, an ủi con người. Nếu mai sau lớn lên, ta trở thành người có ích cho đời, một phần lớn nhờ công của sách, ôi, những quyển sách kì diệu!
|
Bài làm
Trong cuộc sống, chúng ta luôn muốn được làm những điều tốt đẹp cho người khác, đó là một phẩm chất đáng quý trong mỗi con người. Nhưng câu hỏi được đặt ra là: đâu là điều tốt đẹp nhất? Có người đã từng nói: “Điều tốt đẹp nhất bạn có thể làm cho người khác không phải là chia sẻ sự giàu có của mình mà là giúp anh ấy nhận ra sự giàu có của bản thân”. Đây có thể được xem như một câu trả lời đúng đắn nhất cho câu hỏi ấy.
“Sự giàu có” không hẳn lúc nào cũng mang ý nghĩa có nhiều của cải, giàu sang. Trong câu nói ấy, “sự giàu có” còn có thể hiểu theo một nghĩa rộng hơn, đó chính là năng lực, là ưu điểm của con người. “Chia sẻ” luôn là một việc đáng làm, đó là một điều đáng quý ai cũng thấy rõ. Nhưng “chia sẻ” có lẽ chưa phải là điều tốt đẹp nhất bạn có thể làm cho một người. Bạn có thể chia sẻ ít hoặc nhiều, một lần hay vài lần nhưng không thể cứ cho đi mãi. Cách tốt nhất là hãy giúp anh ấy đứng trên đôi chân của chính mình, hãy chỉ ra “sự giàu có” của anh ấy để anh ấy biết cách phát huy thế mạnh của mình. Chia sẻ sẽ giúp người khác sống tốt hơn một lần nhưng để anh ấy nhận thấy sự giàu có của bản thân, anh ấy sẽ hạnh phúc mãi mãi.
Giống như khi bạn gặp một người ăn xin nghèo khổ và cho anh ấy một đồng xu bạn đã giúp anh ấy khỏi một bữa đói, đó là điều đáng quý. Nhưng bạn có thể tiếp tục cho anh ấy tất cả những ngày tiếp theo? Câu trả lời dĩ nhiên là không. Điều tốt nhất bạn nên làm là hãy chỉ cho anh ta cách dùng sức lao động của chính bản thân để kiếm được những bữa ăn sau. Mỗi con người đều có năng lực của riêng mình và khi nhận thức được năng lực ấy, họ sẽ sử dụng vào những việc làm phù hợp. Nếu có một điều tốt đẹp nhất ta có thể làm cho người khác thì đó chính là hãy chỉ ra cho họ những thứ mà họ có.
|
Assignment
In life, we always want to do good things for others, which is a valuable quality in every human being. But the question is: what is the best? Someone once said: "The best thing you can do for another person is not to share your wealth but to help him realize his own wealth." This can be considered the most correct answer to that question.
“Wealth” does not always mean having a lot of wealth or wealth. In that saying, "wealth" can also be understood in a broader sense, which is the ability and advantage of a person. “Sharing” is always something worth doing, it is a precious thing that everyone can clearly see. But "sharing" is probably not the best thing you can do for someone. You can share a little or a lot, once or several times, but you can't keep giving forever. The best way is to help him stand on his own feet, point out his "wealth" so he knows how to promote his strengths. Sharing will help others live better once but let him realize his own wealth, he will be happy forever.
Just like when you meet a poor beggar and give him a coin, you have saved him from hunger, which is something precious. But can you continue giving him all the next days? The answer is of course no. The best thing to do is to show him how to use his own labor to earn future meals. Every person has their own ability and when they realize that ability, they will use it for appropriate jobs. If there is one kind thing we can do for others, it is to show them what they have.
|
Bài làm
Dân gian đã sáng tạo nên những câu tục ngữ, ca dao hóm hỉnh nhằm chế giễu bộ mặt xấu xa thối nát của bọn vua quan trong xã hội cũ. Trong lúc bọn chúng tự xưng là “thiên tử’, “bậc chí tôn”, “quan phụ mẫu,v.v… thì nhân dân coi họ bằng nửa con mắt!
Ngày xưa, quan là đại diện của vua, làm việc cho triều đình, hoặc cai trị một vùng nào, địa phương nào. Trong hơn một nghìn năm chế độ phong kiến ở nước ta, từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn đã có những bậc minh quân, những ông vua anh hùng, cũng có nhiều ông quan, vị đại thần có tài kinh bang tế thế, nổi tiếng thanh liêm lưu danh sử sách như Chu Văn An, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,v.v… Có những vị đại thần mà công đức gắn liền với những con kênh, dòng sông như Vĩnh Tế, Thọai Ngọc Hầu,v.v… Lịch sử và nhân dân rất công bằng. Thời Lê – Trịnh, thời Nguyễn sau này, tệ mua quan bán tước diễn ra, bộ máy quan trường vô cùng hủ bại, thối nát. Đặc biệt dưới thời Pháp thuộc, bọn quan lại, phần đông chỉ là tay sai của thực dân, làm quan để vinh thân phì gia. Do đó, bọn quan lại đã bị nhân dân đả kích, khinh bỉ và lên án.
Câu tục ngữ “Miệng quan trôn trẻ” xuất hiện trong hoàn cảnh xã hội ấy. Nó đã trở thành “bia miệng” thế gian. “Miệng quan có gang có thép” thế mà bị dân đen đem so sánh với “trôn trẻ”. “Miệng quan” và “trốn trẻ” là hai bộ phận của cơ thể con người, đã trở thành hai hoán dụ nghệ thuật trong mối quan hệ so sánh làm bật ra một tiếng cười giễu cợt châm biếm sâu cay.
“Miệng quan” thì ghê gớm lắm! Nắm quyền lực trong tay, quyền sinh quyền sát trong tay, muốn nói thế nào mà chẳng được! “Công lí” đo quan định đoạt, tha hồ đổi trắng thay đen, dân chúng chỉ biết cúi đầu răm rắp tuân theo! Ai dám cãi, dám chống lại “bậc cha mẹ của dân”? Bởi vậy, dân gian mới mỉa mai châm biếm: “Muôn nói gian làm quan mà nói”, hoặc: “Quan cứ lệnh, lính cứ truyền”.
“Miệng quan” là thế. Còn “trôn trẻ” thì sao? Trẻ được nói ở đây là trẻ sơ sinh. Trôn trẻ sơ sinh bài tiết vô chừng, diễn ra nhiều lần trong ngày đêm, rất tùy tiện khó mà biết trước được. Trẻ dầm dề suốt ngày. “Miệng quan” và “trôn trẻ”, hai bộ phận thượng, hạ khác nhau, của hai lứa tuổi, hai đối tượng khác nhau, nhưng lại có sự tương đồng về sự tùy tiện trong họat động, tùy tiện về phán xét, tùy tiện về bài tiết. Thật là thâm thúy! Qua sự so sánh “Miệng quan (như) trôn trẻ”, nhân dân đã vạch trần bản chất xấu xa của bọn quan lại như hông hách, lộng hành bất chấp công lí, dùng công quyền để áp chế dân lành, để ăn bẩn! “Miệng quan” (cái cao sang) được so sánh với “trôn trẻ” (bẩn), nhân dân đã hạ nhục các “quan phụ mẫu” với tất cả sự khinh bỉ!
Câu tục ngữ “Miệng quan trôn trẻ” còn mang một hàm ý châm biếm sâu cay, đả kích thậm tệ cái thói “ăn bẩn”, lòng tham vô đáy, thủ đoạn vơ vét của bọn tham quan ô lại. Với chúng, công lí chỉ là cái bánh vẽ, “đồng bạc đâm toạc tờ giây”. Dân đen chẳng may bị trát quan đòi là gặp phải đại họa. Bởi lẽ “Của vào quan như than vào lò”, “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”. Nguyễn Công Hoan, nhà văn hiện thực xuất sắc đã sáng tạo nên chân dung biếm họa, đả kích sâu cay bọn quan lại “sâu mọt” của dân trong thời Pháp thuộc. Tên huyện Hĩnh “ăn bẩn” một đồng hào của mẹ Nuôi (“Đồng hào có ma”). Tên quan phụ mẫu, trước mặt lúc nào cũng có cái đĩa, chốc chốc hắn lại đưa tay ra vét. Hắn hỏi anh Pha: “Tiền đâu?”. Hắn giải thích việc ăn hốì lộ như giải thích một chân lí: “Vào quan không có lôi nói bằng nước dãi!” (Tiểu thuyết “Bước đường cùng”). Trong ý nghĩ và kinh nghiệm của dân gian, bọn quan lại chỉ là lũ cướp ngày:
“Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.
|
Assignment
Folk have created humorous proverbs and folk songs to mock the evil and corrupt faces of kings and mandarins in the old society. While they call themselves "gods of heaven", "sovereigns", "parents, etc., people look at them with half an eye!
In the past, mandarins were representatives of the king, worked for the court, or ruled over a region or locality. During more than a thousand years of feudalism in our country, from Dinh, Ly, Tran, Le, Tay Son, the Nguyen Dynasty had wise men, heroic kings, and also many mandarins and great mandarins. He was talented in business, famous for his integrity, and saved his name in history books such as Chu Van An, Tran Quoc Tuan, Nguyen Trai, Nguyen Binh Khiem, etc. There were great mandarins whose merits were associated with canals and rivers such as Vinh Te, Thoai Ngoc Hau, etc. History and people are very fair. During the Le - Trinh dynasties and later Nguyen dynasties, the practice of buying and selling titles took place, and the official apparatus was extremely corrupt and corrupt. Especially during the French colonial period, most of the mandarins were just lackeys of the colonialists, serving as mandarins to honor their families. Therefore, the mandarins were attacked, despised and condemned by the people.
The proverb "The mouth of the mandarin looks after children" appeared in that social situation. It has become the world's "mouth beer". "The mandarin's mouth is full of cast iron and steel" yet the common people compare him to "a babysitter". "Mandarin's mouth" and "child's mouth" are two parts of the human body, which have become two artistic metonymies in a comparative relationship that evoke a deep, satirical mocking laugh.
"The mandarin's mouth" is very terrible! Holding the power in your hand, the right to live and the right to kill in your hand, you can say whatever you want but you can't! "Justice" is decided by the officials, freely changing white for black, the people can only bow their heads and obey! Who dares to argue, dare to go against "the parents of the people"? That's why people sarcastically say: "If you want to talk about cheating, you'll be a mandarin", or: "The mandarin will give orders, the soldiers will give orders".
"The official mouth" is like that. What about "child care"? The child mentioned here is a newborn. Newborns excrete irregularly, occurring many times a day and night, very arbitrarily and difficult to predict. Children are tired all day long. "The mandarin's mouth" and "the young man's mouth", two different upper and lower parts, of two ages, two different subjects, but with similarities in arbitrariness in activities, arbitrariness in judgment, excretion is arbitrary. How profound! Through the comparison "The mandarin's mouth (is like) a babysitter", the people have exposed the evil nature of mandarins such as being overbearing, acting in disregard of justice, using public power to oppress good people, and to eat dirt. ! "Mandarin's mouth" (noble) is compared to "child's mouth" (dirty), people humiliate "parental mandarins" with all contempt!
The proverb "The mouth of a young mandarin" also carries a deep satirical connotation, severely attacking the habit of "dirty eating", bottomless greed, and predatory tactics of corrupt corrupt officials. To them, justice is just a cake, "the silver coin punctures the second". Unfortunate black people who are summoned by officials face great disaster. Because "Forms enter the mandarin like coal into the furnace", "The mandarin sees bales like ants see fat". Nguyen Cong Hoan, an excellent realistic writer, created a caricature portrait, deeply attacking the "wormy" mandarins of the people during the French colonial period. District name Hinh "dirtyly ate" a dime belonging to his adoptive mother ("The dime has ghosts"). The mandarin's father and mother always had a plate in front of them, and every now and then he would reach out and scrape it. He asked Mr. Pha: "Where is the money?". He explained taking bribes as if explaining a truth: "When entering an official position, there is no such thing as drooling!" (Novel "The Last Step"). In the thoughts and experiences of the people, mandarins are just robbers:
"My son remember this sentence,
Robbers at night are enemies, robbers during the day are officials."
|
Bài làm
Con người là động lực phát triển xã hội. Thời đại nào cũng vậy. Bước sang thế kỉ XXI, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm và trọng tâm của dân tộc ta. Sự nghiệp vĩ đại đó luôn luôn gắn liền với công cuộc xây dựng nền vãn hóa Việt Nam, xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện đại. Con người Việt Nam hiện đại phải là con người có vãn hóa.
Vậy, thế nào là con người có văn hóa?
Thiết nghĩ, con người có văn hóa trong xã hội ta hiện nay cần hội tụ đủ những tiêu chí sau đây: 1, phải có học vấn; 2, phải có tâm hồn đẹp; 3, có kiến thức và kĩ năng khoa học hiện đại; 4, có phong cách sông, lối úng xử văn minh. Tóm lại, người có văn hóa là con người Việt Nam mới, con người tiên tiến của cộng đồng dân tộc, được mọi người quý mến, tôn trọng. Có thể, con người có văn hóa còn có nhiều tiêu chí khác nữa, nhưng trong bài này, tôi chỉ bàn luận về bốn tiêu chí trên đây.
1. Con người có văn hóa, trước hết là con người có học vấn. Không phải là con người sống dưới đáy xã hội “vừa dốt vừa ngu, mần hùng hục như tru, ăn toàn nu, suốt đời đội khu thiên hạ” (Tục ngữ), (Mần: lao động chân tay; tru: con trâu; nu: củ nâu; khu: cái mông, cái đít – phương ngữ Nghệ Tĩnh nói. lên nỗi khổ, nỗi nhục của người dân đen ngày xưa). Người có văn hóa ngày nay cũng không phải là tầng lớp nho sĩ đứng đầu trong 4 giai tầng của xã hội phong kiến: sĩ, nông, công, thương. Lớp nho sĩ biết Hán tự (tam thiên tự, ngũ thiên tự); lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách gối đầu giường, lấy tam cương, ngủ thường để sống và ứng xử. Người có vãn hóa trong xã hội ta ngày nay, thời kì đổi mới và phát triển, phải là người có học vấn; về văn hóa có trình độ chuyên môn… Và để hội nhập, người có văn hóa phải biết, nên biết từ một đến hai ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, mới có thể giao lưu, mới có thể hòa nhập nền kinh tế thị trường: như làm phiên dịch, làm hướng dẫn viên du lịch, đi xuất khẩu lao động, v.v… chứ không phải để nói vài câu tiếng Tây, tiếng Tàu cho oai! Người có văn hóa còn phải có hiểu biết cuộc sống, có vốn sống thực tế, không thoát li đời sống của cộng đồng dân tộc.
Trái lại vẫn có những trường hợp người có bằng cấp cao, học vị cao, địa vị cao lại là kẻ không có văn hóa, bị đồng loại coi khinh, gọi là “mụ nọ”, “thằng kia”. Trong khi đó, nhiều người chỉ là phó thường dân nhưng lại là người có văn hóa, được bà con, anh em quý trọng, kính mến. Vì sao lại như vậy? Hãy đến các phiên tòa hình sự xử bọn cán bộ tham nhũng thì sẽ biết!
2. Con người có văn hóa là con người có tâm hồn đẹp. Là những con người giàu lòng yêu nước thương dân, suốt đời hi sinh chiến đấu vì độc lập, tự do, hòa bình và sự phồn vinh, hùng mạnh của Tổ quốc. Họ rất giàu tình nhân ái: Thương người như thể thương thân, đùm bọc, sẻ chia với đồng bào trong loận lạc, họan nạn; Lá lành đùm lá rách.
Khi Tổ quốc bị xâm lãng, họ sẵn sàng xả thân vì dân, vì nước. Trong hòa bình, họ đem hết tài năng góp phần phát triển nền kinh tế, văn hóa của đất nước quê hương. Họ được cộng đồng cảm phục và tôn vinh.
3. Con người có văn hóa là con người có kiến thức và kĩ năng khoa học kĩ thuật hiện đại. Nước ta đã và đang tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, trên mặt trận nông nghiệp đã có những bước tiến và thành tựu kì diệu. Nông thôn đã được điện khí hóa, việc sản xuất đã được cơ giới hóa. Hình ảnh con trâu kéo cày đi trước, người nông phu bì bõm lội bùn theo sau đã được thay thế dần bằng máy cày, máy bừa, máy gặt đập liên hợp, máy bơm nước… Sản xuất ra bảy triệu tấn gạo xuất khẩu hằng năm đâu chỉ là công sức của những con người lam lũ đói rét, mà còn có công sức của hàng chục triệu người nông dân có trình độ, có văn hóa và ham học hỏi. Những chủ trang trại, những tỉ phú, triệu phú chăn nuôi, trồng cây ăn quả,… đã và đang làm chủ khoa học kĩ thuật hiện đại.
Trên các mặt trận khác như giáo dục, y tế, giao thông vận tải, xây dựng, … xuất hiện ngày một đông đảo hàng triệu con người có văn hóa, đã và đang đem tài năng, sức lao động sáng tạo làm đổi thay hẳn bộ mặt giàu đẹp của đất nước.
4. Người có văn hóa có phong cách sống mang vẻ đẹp nhân văn, có lối ứng xử văn minh đáng quý trọng. Dấu ấn về phong cách sống của mỗi người được phản ánh qua cử chỉ, ngôn ngữ, cách ăn mặc, cách đối xử hằng ngày. Kể vô văn hóa thường ăn mặc lô” lăng, đầu tóc bù xù, cách đi đứng kênh kiệu, ăn nói thô lỗ, tục tĩu, hay khoe khoang, hay khích bác bạn bè, hắn bị đồng loại coi khinh, coi thường và xa lánh. Trái lại, người có vãn hóa, cử chỉ, cách ăn mặc đứng đắn, nói năng thận trọng, lễ độ, khiêm nhường; tư cách, đạo đức tốt đẹp.
Lối ứng xử của người có văn hóa rất lịch sự, văn minh. Họ sông chan hòa với đồng loại. Họ quan tâm tới mọi người, nhất là những người bất hạnh. Họ rất nhiệt tình và hảo tâm trong các phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lũ, ủng hộ các nạn nhân bị chất độc da cam. Mọi việc làm của họ đầy tình người. Họ thuộc lớp người gương mẫu, là bộ phận tiến bộ trong xã hội ta.
Họ tiêu biểu cho người tốt, việc tốt, được bà con, anh em, nhân dân quý trọng.
|
Assignment
People are the driving force of social development. It's the same in any era. Entering the 21st century, industrialization and modernization of the country are the central and central tasks of our nation. That great career is always associated with the work of building Vietnamese culture, building and developing modern Vietnamese people. Modern Vietnamese people must be cultured people.
So, what is a cultured person?
I think that cultured people in our society today need to meet the following criteria: 1, must be educated; 2, must have a beautiful soul; 3, have modern scientific knowledge and skills; 4, have a civilized style and manners. In short, a cultured person is a new Vietnamese person, an advanced person of the ethnic community, loved and respected by everyone. Perhaps, a cultured person has many other criteria, but in this article, I will only discuss the above four criteria.
1. A cultured person is, first of all, an educated person. Not people living at the bottom of society, "both ignorant and stupid, man is as fierce as a howler, eats nothing, and dominates the world all his life" (Proverb), (Man: manual labor; howl: buffalo ; nu: brown bulb; area: butt, butt - Nghe Tinh dialect says the suffering and humiliation of the black people in the past). Today's cultured people are not the leading class of Confucian scholars in the four strata of feudal society: scholars, farmers, workers, and merchants. Confucian scholars know Chinese characters (three thousand words, five thousand words); Take the Four Books and Five Classics as bedside books, take the Three Diamonds and sleep often to live and behave. A cultured person in our society today, in a period of innovation and development, must be an educated person; about culture with professional qualifications... And to integrate, a cultured person must know, should know one to two foreign languages, especially English, to be able to communicate, to be able to integrate into the market economy. school: like working as a translator, working as a tour guide, going to export labor, etc., not to speak a few sentences in Western or Chinese to show off! A cultured person must also have an understanding of life, have practical living skills, and not escape the life of the ethnic community.
On the contrary, there are still cases where people with high degrees, high degrees, and high positions are uncultured, despised by their peers, called "that woman" or "that guy". Meanwhile, many people are just civilian deputies but are cultured people who are respected and loved by their relatives and brothers. Why is that? Go to the criminal trials of corrupt officials and you will know!
2. A cultured person is a person with a beautiful soul. They are people who are rich in patriotism and love for their people, sacrificing their lives to fight for independence, freedom, peace, prosperity and strength of the Fatherland. They are very rich in compassion: They love others as if they loved themselves, protect and share with their fellow countrymen in trouble and misfortune; Good leaves protect torn leaves.
When the Fatherland was invaded, they were willing to sacrifice their lives for the people and the country. In peace, they use all their talents to contribute to the development of the economy and culture of their home country. They are admired and honored by the community.
3. A cultured person is a person with modern scientific and technical knowledge and skills. Our country has been moving strongly on the path of industrialization and modernization. Currently, on the agricultural front there have been miraculous advances and achievements. The countryside was electrified, production was mechanized. The image of a buffalo pulling a plow ahead and a farmer following in the mud has been gradually replaced by plows, harrows, combine harvesters, water pumps... Producing seven million tons of rice for export every year. This year is not only the effort of hungry and cold people, but also the efforts of tens of millions of qualified, cultured and eager to learn farmers. Farm owners, billionaires, millionaires raising livestock, growing fruit trees, etc. have been mastering modern science and technology.
On other fronts such as education, health care, transportation, construction, etc., millions of cultured people are increasingly appearing, bringing their talents and creative labor to change. must be the rich and beautiful face of the country.
4. Cultured people have a lifestyle of humane beauty and civilized behavior worthy of respect. The imprint of each person's lifestyle is reflected in daily gestures, language, dress, and behavior. An uncultured person who often dresses sloppily, has messy hair, walks haughtily, speaks rudely, profanely, brags, or provokes friends, he is despised, despised and despised by his peers. tear away. On the contrary, people who have good culture, gestures, dress properly, speak carefully, are polite, and are humble; good character and ethics.
The behavior of cultured people is very polite and civilized. They live in harmony with their fellow humans. They care about everyone, especially the unfortunate. They are very enthusiastic and generous in fundraising movements to support people affected by natural disasters, floods, and victims of Agent Orange. All their actions are full of humanity. They belong to a class of exemplary people, a progressive part of our society.
They represent good people, good deeds, and are respected by relatives, brothers, and people.
|
Bài làm
Làm người khó hay dễ? Để trở thành một con người chân chính là khó hay dễ?
Có ý kiến cho rằng: “Phải biết tự trọng và phải biết tự sỉ nhục mới là con người chân chính”.
Nghĩa của các từ: tự trọng, sỉ nhục, con người chân chính là thế nào? – Tự trọng là tự mình coi trọng và giữ gìn phẩm cách, danh dự của mình. Tự sỉ nhục nghĩa là tự lấy làm xấu xa, nhục nhã, đáng hổ thẹn về nhân cách, về việc làm của mình. Con người chân chính là con người hoàn toàn xứng với tên gọi tốt đẹp, với vị thế của mình. Ví dụ: nhà giáo chân chính, thầy thuốc chân chính, v.v…
Câu nói trên đây chỉ rõ người chân chính phải sống đẹp, phải có lòng tự trọng và tự sỉ nhục.
Tại sao “Phải biết tự trọng và phải biết tự sỉ nhục mới là con người chân chính”?
Lòng tự trọng là đức tính để tu thân tích cực nhất. Người có lòng tự trọng biết tu dưỡng đạo đức, biết giữ gìn nhân cách, phẩm giá của mình. Biết sông thật thà, khiêm tốn, lễ phép. Không khoe khoang. Sông cần kiệm, trong sạch. Lúc nào cũng có ý thức giữ gìn từ lời ăn tiếng nói, cách ăn mặc đến cử chỉ, việc làm. Sông mực thước, cẩn trọng, không làm mất lòng ai, không làm hại ai. Biết tôn trọng người, kính trọng người, biết san sẻ tình thương, biết cảm thông với mọi người là tự trọng.
Người có lòng tự trọng lại tự biết sỉ nhục. Luôn luôn tự răn mình không được làm bậy, không được sống lèm nhèm, không được làm bất cứ một việc gì thất đức. Nhân vô thập toàn, nên người biết tự sỉ nhục sẽ cảm thấy xấu hổ trước bất cứ một lỗi lầm nào của mình đã gây ra, chân thành sửa chữa, hoặc nhận lỗi, không né tránh theo lối “tranh công, đổ lỗi”. Tục ngữ có câu: “Con dại, cái mang”. Người có lòng tự trọng và tự sỉ nhục cảm thấy vô cùng đau đớn, xấu hổ trước những hành vi xấu xa, hư đốn của anh em mình, của con cháu mình. Một vị phụ huynh, nếu có lòng tự trọng thì luôn luôn quan tâm giáo dục, dạy bảo con em mình phấn đâu trở thành con ngoan, trò giỏi, biết lắng nghe ý kiến của các thầy, cô giáo nhận xét, đánh giá về con em mình. Đằng sau các học sinh hư, học sinh cá biệt, các vụ bạo lực học đường, … ta thường thấy hình ảnh một số “bậc bề trên” thiếu hẳn cái lòng tự trọng và tự sỉ nhục cần có; thậm chí có “vị” đã hùa theo đứa con hư của mình rồi gây ra bao điều phản cảm, gây khó chịu cho nhiều người, gây rắc rối, khó dễ cho nhà trường và thầy cô giáo!
|
Assignment
Is it difficult or easy to be human? Is it difficult or easy to become a genuine person?
There is an opinion that: "You must know self-respect and know how to humiliate yourself to be a true human being."
What is the meaning of the words: self-esteem, humiliation, true person? – Self-respect is valuing and preserving one's own dignity and honor. Self-humiliation means making yourself look bad, humiliated, and shameful about your personality and actions. A true person is a person who is completely worthy of his good name and position. For example: true teacher, true physician, etc.
The above saying clearly shows that a true person must live beautifully, must have self-esteem and self-humiliation.
Why "One must know self-respect and must know self-humiliation to be a true human being"?
Self-esteem is the most positive virtue for self-cultivation. People with self-respect know how to cultivate morality and preserve their personality and dignity. Know that the river is honest, humble, and polite. Unostentatious. The river is thrifty and clean. Always be conscious of your speech, dress, gestures, and actions. Live in moderation, be careful, don't offend anyone, don't harm anyone. Knowing how to respect people, respect people, know how to share love, know how to sympathize with everyone is self-respect.
People with self-esteem know how to humiliate themselves. Always admonish yourself not to do anything wrong, not to live lazily, not to do anything unvirtuous. Humanity is not perfect, so a person who knows how to humiliate himself will feel ashamed of any mistake he has made, sincerely correct it, or admit his mistake, without avoiding it in the way of "taking credit and blaming". . There is a proverb that says: "If the child is foolish, the child will bear the brunt." People with self-esteem and self-humiliation feel extremely painful and ashamed at the evil and naughty actions of their brothers and their children and grandchildren. A parent, if he or she has self-esteem, will always care about educating and teaching his or her children to strive to become good children and good students, and know how to listen to the opinions of teachers and their comments and evaluations. my children. Behind bad students, exceptional students, school violence cases, etc., we often see images of some "superiors" lacking the necessary self-esteem and self-humiliation; There are even "people" who followed their bad children and caused many offensive things, causing discomfort to many people, causing trouble and difficulties for the school and teachers!
|
Bài làm
Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, nếu có một người bạn tốt, bạn giỏi để tâm giao, nếu có một cuốn sách tốt, sách hay để đọc thì sẽ hạnh phúc biết bao! Câu danh ngôn sau đây là một ý tưởng sâu sắc, nêu lên bài học quý báu để sông đẹp:
“Những người bạn thông minh sẽ còn mãi. Như cuốn sách tốt nhất của cuộc đời”.
Ai sống mà không có bạn? Ai sống mà không hề đọc sách? Nhưng, bạn phải là người bạn như thế nào? Sách phải là cuốn sách như thế nào? Nhà triết học đã nêu lên một so sánh thật hay về “người bạn thông minh” với “cuốn sách tốt nhất của cuộc đợi”.
Tại sao “Những người bạn thông minh sẽ còn mãi. Như cuốn sách tốt nhất của cuộc đời”? Trong xã hội nào cũng vậy, có đủ loại người, tốt và xấu, “người ba đấng, vật ba loài”. Sách cũng vậy, có sách tốt, “sách gối đầu giường”, nhưng cũng không thiếu loại sách dở, sách ba lăng nhăng, tầm phào, thậm chí còn loại sách độc hại, loại mê tín dị đoan, loại reo rắc những tư tưởng phản động, phi nhân bản.
Sống phải có bạn, bạn tri âm, bạn tri kỉ. Ta sẽ học được những điều hay, điều tốt của bạn. Những người bạn thông minh sẽ hiểu ta hơn, giúp ta tiến bộ về nhân cách, về trí tuệ. Đúng như dân gian đã nói: “Học thầy không tày học bạn”, hoặc “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Những người bạn thông minh là những ngọn đèn sáng trên bàn học của ta, chiếu rọi tâm hồn ta, trí tuệ ta.
Phải biết chọn bạn. Thời đi học, thời trẻ cần biết chọn bạn. Chơi với bạn xấu rất nguy hiểm, không chóng thì chầy sẽ sa ngã hư hỏng. Nguyễn Trãi có câu thơ nhắc nhở chúng ta:
“Chơi cùng đứa dại nên bầy dại
Kết mấy người khôn học nết khôn”
Đứa dại là đứa lừa thầy phản bạn, là đứa xâu. Những vụ cướp của giết người, những vụ bạo lực học đường cho ta thấy “đứa dại” đó toàn là học sinh cá biệt, đứa con rắn mặt, bất hiếu.
Kết bạn với người khôn là người thông minh, có đạo đức tốt thì ta sẽ học được “nết khôn” để làm người, để trở thành con ngoan, trò giỏi.
Bởi vậy, những người bạn tốt, những người bạn thông minh sẽ còn mãi, còn mãi, sẽ chia buồn, sẽ giúp ta động viên ta thêm sức mạnh lúc ta gặp khó khăn, chia vui cùng ta lúc thành công, thành đạt.
Có những người bạn tốt, bạn thông minh thì cuộc sống của mỗi chúng ta mới thật vui sướng, hạnh phúc. Đúng như ca dao đã truyền tụng:
“Ra đi vừa gặp bạn hiền,
Khác nào ăn quả đào tiên trên trời”.
Có những người bạn thông minh để sống, để trao đổi, để tâm tình, để học hỏi khác nào chọn được cuốn sách tốt nhất, hay nhất, quý nhất để đọc. Sách tốt, sách tốt nhất sẽ mở mang tri thức, nâng cao hiểu biết cho ta, sẽ chỉ cho ta điều hay lẽ phải, sẽ dạy ta cách sông, cách làm ăn. Sách tốt là người bạn tâm tình của ta để ta vừa đọc vừa ngẫm nghĩ, vừa học vừa giải trí. Đúng như học giả Chu Quang Tiềm (Trung Quốc) đã nói:
“Sách củ trăm lần xem chẳng chán
|
Assignment
In the life of each of us, if we have a good friend, a good friend to confide in, if we have a good book, a good book to read, how happy we will be! The following quote is a profound idea, stating a valuable lesson for a beautiful river:
“Smart friends will last forever. Like the best book of life."
Who lives without you? Who lives without reading books? But, what kind of friend should you be? What kind of book should a book be? The philosopher made a beautiful comparison of "the wise friend" with "the best book of life".
Why “Smart friends will last forever. Like the best book of life”? In every society, there are all kinds of people, good and bad, "three types of people, three species of animals". Books are the same, there are good books, "bedside books", but there is also no shortage of bad books, promiscuous and gossipy books, and even harmful books, superstitious books, and those that spread bad ideas. reactionary, inhuman thoughts.
To live must have friends, confidants, confidants. We will learn good things from you. Smart friends will understand us better and help us progress in personality and intelligence. Just as the people say: "Learning from a teacher is not good for learning from friends", or "Near ink, it's black, near a lamp, it's bright". Smart friends are bright lights on our desks, illuminating our souls and our minds.
You must know how to choose friends. During school and youth, you need to know how to choose friends. Playing with bad friends is very dangerous, sooner or later you will fall into ruin. Nguyen Trai has a poem that reminds us:
“Playing with foolish people makes you foolish
Get some smart people to learn wise manners"
A foolish person is one who cheats his teacher and betrays his friend, a traitor. The robberies, murders, and school violence cases show us that those "fools" are all exceptional students, tough-faced, unfilial children.
If we make friends with smart people who are intelligent and have good morals, we will learn "smart habits" to be human, to become good children and good students.
Therefore, good friends, smart friends will last forever, will last forever, will offer condolences, will help encourage us to gain strength when we encounter difficulties, and share joy with us when we succeed.
Having good and smart friends will make each of our lives truly joyful and happy. Just as folk songs have recited:
“Just left and met a good friend,
It's like eating heavenly peaches."
Having smart friends to live with, to exchange with, to confide in, and to learn from is like choosing the best, best, most valuable book to read. Good books, the best books, will expand our knowledge, improve our understanding, will show us the right things, will teach us how to live, how to do business. Good books are our confidants so we can read and reflect, learn and entertain. Just as scholar Chu Quang Tiem (China) said:
“I never get tired of looking at old books a hundred times
|
Bài làm
Kiên nhẫn và nóng vội là hai mặt đối lập trong tính cách, nhân cách. Đúng như có người đã nói:
“Kiên nhẫn trợ giúp sự yếu đuối; nóng vội làm đổ vỡ sức mạnh”.
Kiên nhẫn là có khả năng tiếp tục làm việc đã định một cách bền bỉ, không nản lòng, mặc dù thời gian kéo dài, kết quả chưa thấy.
Nóng vội là muốn cho xong ngay, được ngay, không chịu được sự chờ đợi.
1. Tại sao kiên nhẫn trợ giúp sự yếu đuối? Trên đường đời dài dằng dặc, dài vô tận có muôn ngàn khó khăn. Nào là núi cao, đèo cao, lũng hẹp, suối sâu… Nào là đại dương mênh mông, muôn trùng sóng bạc. Có sóng thần, có bão tố, có cá mập nhe nanh. Trên rừng có nhiều thú dữ, hổ sói từng đàn. Mùa đông băng tuyết bao phủ bao la. Mùa hè nắng như đổ lửa, như thiêu như đốt. Nào là đói khát, dịch bệnh hoành hành. Làm sao để vượt qua, để đi tới? Đúng là đường đời có muôn vàn thử thách khó khăn. “Hành lộ nan! Hành lộ nan!”, nhà thơ Lý Bạch đời Đường đã nói như vậy.
Ngoài khó khăn khách quan, người đi đường còn gặp khó khăn chủ quan. Đó là sự ngại khó, ngại khổ, là sự mỏi gối chồn chân. Đầu thế kỉ XX, nhà giáo Nguyễn Bá Học đã khuyên học sinh: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. “Lòng ngại núi e sông” là do tư tưởng ngại khó, ngại khổ, là thiếu niềm tin, thiếu kiên nhẫn, thiếu tinh thần bền bỉ, cố gắng.
Trong học tập, trong lao động, trong chiến đấu cũng vậy, nếu thiếu ý chí, quyết tâm, hay giao động nản lòng, thiếu niềm tin,… thì không thể nào thu được kết quả tốt đẹp. Có nỗ lực vươn lên thì mới có thể:
“Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”.
(Đi đường – Hồ Chí Minh)
Nhà nông phải thức khuya dậy sớm, cuốc bẫm cày sâu, trải qua nhiều mưa nắng, “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” mới có thể làm nên những cánh đồng xanh, những mùa vàng bội thu, mới có thóc đầy kho, cơm đầy nồi, sống ấm no hạnh phúc.
Học trò cũng phải siêng năng học tập, học ở trường lớp, học ở ngoài đời, học ở tại gia đình, tranh thủ mọi thời gian để học tập, có lúc phải vượt qua nhiều khó khăn mới có thể thi đua cùng bạn bè, phấn đấu trở thành học sinh giỏi. Kiên nhẫn là tri thức.Người lính thời khói lửa, phải hành quân chiến đấu liên miên, trải qua đói khát, xông pha trong mưa bom bão đạn, nếu sợ khó, sợ khổ, sợ chết thì làm sao có thể đập tan được đồn giặc, làm sao có thể “Đánh cho Mĩ cút, đánh cho ngụy nhào” được. Với người lính ngoài lòng kiên nhẫn còn phải có tinh thần chiến đấu dũng cảm, lòng yêu nước thương dân mới có thể viết nên bao chiến công hiển hách.
Mài sắt nên kim, kiến tha lâu củng đầy tổ, rùa thắng thỏ trong cuộc chạy thi,… những mẩu chuyện ngụ ngôn ấy đã khẳng định một chân lí, một niềm tin ở đời: “Kiền nhẫn trợ giúp sự yếu đuối”-, kiên nhẫn cho ta niềm tin và sức mạnh để vươn lên trong cuộc đời. Kiên nhẫn là nguồn sống, nguồn hạnh phúc cho chúng ta.
2. Trái với lòng kiên nhẫn là sự nóng vội. Nóng vội là một trong những hạn chế, khuyết tật về tính cách. Tại sao nóng vội làm đổ vỡ sức mạnh?
Công việc chưa chuẩn bị đến nơi đến chốn, thiếu thông tin, tài lực chưa đủ mà đã hấp tấp, đã nóng vội làm thì sao không đổ vỡ? Học trò làm bài thi, chưa đọc kĩ đề bài, chưa suy nghĩ đầy đủ đã nóng vội viết ào ào, chất lượng, điểm số’ bài thi sẽ thế nào? Đánh giặc muốn thắng giặc phải chuẩn bị lực lượng và tinh thần chiến đấu cho ba quân, phải biết ta biết địch thì trăm trận trăm thắng! Cày câỳ, phải theo quy luật mùa vụ, thời tiết; phải ba tháng trông cây, một ngày trông quả. Không thể nóng vội như anh nông dân nọ “kéo cây lúa lên” cho lúa xanh tốt hơn lúa mọi người! Nóng vội vì ngu si dốt nát là vậy.
Có sức mạnh mới giành được thắng lợi trong làm ăn, trong học tập, trong chiến đấu. Nếu thiếu kiên nhẫn, nếu chỉ hùng hục nóng vội sẽ làm đổ vỡ sức mạnh, làm tiêu tan sự nghiệp.
Bệnh duy ý chí, khẩu hiệu “đốt chảy giai đoạn” là nguồn gôc đẻ ra tư tưởng và hành động nóng vội. Thiếu kiến thức khoa học kĩ thuật mà chỉ nóng vội hành đồng sẽ chuôc lấy nhiều thất bại cay đắng trong xây dựng và phát triển sản xuất, mở mang kinh tế.
Bài ca dao sau đây, chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ:
“Đi đâu mà vội mà vàng Mà vấp phải đả, mà quàng phải dây?
Thủng thẳng, như chúng em đẫy,
|
Assignment
Patience and impatience are two opposite sides of character and personality. Just like someone said:
“Patience aids weakness; Haste destroys strength.
Patience is the ability to continue doing a set task persistently, without getting discouraged, even though the time is long and the results are not yet visible.
Being impatient means wanting to get it done right away, to get it right away, not being able to stand the wait.
1. Why does patience help weakness? On the long and endless road of life, there are thousands of difficulties. There are high mountains, high passes, narrow valleys, deep streams... There are vast oceans, countless silver waves. There are tsunamis, storms, and sharks baring their fangs. There are many wild animals in the forest, tigers and wolves in groups. Winter is covered with immense snow and ice. Summer is hot like fire, scorching. There is hunger, thirst, and epidemics raging. How to overcome, to move forward? It is true that life's path has many difficult challenges. “The journey is difficult! The journey is difficult!”, said the poet Ly Bach of the Tang Dynasty.
In addition to objective difficulties, pedestrians also encounter subjective difficulties. It is the fear of difficulty, the fear of suffering, the tiredness of the knees and legs. In the early twentieth century, teacher Nguyen Ba Hoc advised students: "The path is difficult, not because it separates the river from the mountains, but because people are afraid of the mountains and afraid of the river." "The heart is afraid of mountains and rivers" is due to the thought of being afraid of difficulties, afraid of suffering, lack of faith, lack of patience, lack of spirit of perseverance and effort.
In studying, in working, in fighting, if you lack willpower, determination, are often discouraged, lack faith,... it is impossible to get good results. Only by making efforts to improve can we:
“The mountains rise to the very end,
As far as the eye can see, there are countless mountains and rivers."
(By road – Ho Chi Minh)
Farmers have to stay up late and get up early, hoe deeply and plow deeply, go through a lot of rain and sun, "Sweat like the rain of plowing fields" to be able to create green fields, rich golden seasons, and have rice to fill warehouses. , a full pot of rice, a prosperous and happy life.
Students also have to study diligently, study in school, study in real life, study at home, take advantage of all their time to study, and sometimes have to overcome many difficulties to be able to compete with their friends. , strive to become a good student. Patience is knowledge. A soldier in a time of fire and smoke, having to march and fight constantly, experiencing hunger and thirst, rushing through a rain of bombs and storms of bullets, if he is afraid of difficulties, afraid of suffering, afraid of death, how can he defeat them? enemy station, how can we "Fight until the Americans go away, fight until the puppets fall". For a soldier, in addition to patience, he must also have a courageous fighting spirit and patriotism for his people to be able to write many glorious victories.
Grinding iron makes metal, ants stay long enough to fill their nests, turtles beat rabbits in a race,... these fables affirm a truth, a belief in life: "Patience helps the weak" - , patience gives us faith and strength to rise in life. Patience is the source of life and happiness for us.
2. The opposite of patience is impatience. Impatience is one of the limitations and defects of personality. Why does haste destroy strength?
If the work is not fully prepared, lacks information, and has not enough financial resources, but if it is done hastily and hastily, then why does it not fail? Students take the exam, haven't read the question carefully, haven't thought it through enough, and rush to write hastily. What will be the quality and score of the exam? If you want to win against the enemy, you must prepare the forces and fighting spirit of the three armies. You must know yourself and the enemy to win a hundred battles! Plowing trees must follow the rules of seasons and weather; It takes three months to grow the tree and one day to grow the fruit. We can't be impatient like that farmer who "pulled up the rice plants" so that the rice would be greener than everyone else's! That's what being in a hurry is because of ignorance.
Only with strength can you win in business, in study, in battle. If you are impatient, if you just rush and rush, you will destroy your strength and ruin your career.
The disease of willpower and the slogan "burn the stages" are the source of hasty thoughts and actions. Lacking scientific and technical knowledge and only hastily acting will result in many bitter failures in building and developing production and expanding the economy.
The following folk song, many of us probably still remember:
“Where are you going in such a hurry that you trip over a rock and run into a rope?
Straight through, like we push,
|
Bài làm
Trong xã hội thời nào cũng vậy có đủ loại người: quân tử / tiểu nhân, người trí thức / kẻ vô học, người nhân đức / kẻ bạc ác tinh ma, người giàu sang / kẻ nghèo hèn, người lành / kẻ dữ, người tốt / kẻ xấu, v.v… Mỗi một lớp người, một một loại người lại có cách sống, cách nghĩ, cách ứng xử khác nhau. Có người đức trọng tài cao, lại có kẻ mặt người dạ thú. Về kẻ trí, kẻ nhân, người xưa nhận xét:
“Kẻ trí là kẻ biết người; kẻ nhân là kể yêu người”.
1. Thế nào là kẻ trí? Kẻ trí là người có trình độ học vấn uyên thâm, hiểu biết sâu rộng. Bậc trí giả là những người đức trọng tài cao.
Tại sao kẻ trí là kẻ biết người? Kẻ trí mới có đủ kiến thức, sự hiểu biết, vốn sống, kinh nghiệm sống nên mới có thể phân biệt được người tốt / kẻ xấu, người nhân đức / kẻ bạc ác, mới biết được sở trường / sở đoản của mỗi người. Các bậc minh quân ngày xưa là những kẻ trí nên mới chọn được nhân tài, hiền sĩ, giao cho họ chức trọng quyền cao, để các vị trọng thần ấy đem tài kinh bang tế thế giúp vua, giúp dân làm nên bao sự nghiệp to lớn, vẻ vang, viết nên bao trang sử vàng chói lọi. Các vị lãnh tụ ngày nay cũng vậy, phần lớn là những kẻ trí nên đã xây dựng được bộ máy lãnh đạo tài giỏi, đưa đất nước ngày một phát triển. Lịch sử các dân tộc, các quốc gia xưa nay đều cho ta thấy vai trò to lớn của những kẻ trí lỗi lạc xuất chúng.
Kẻ trí tự biết mình nên mới biết người. Kẻ trí biết người không chỉ để chung sống mà còn để học tập người, bồi bổ sở trường, khắc phục sở đoản, làm cho tài đức, nhân cách bản thân ngày một phát triển tốt đẹp. Kẻ trí biết người nên mới tránh xa kẻ xu nịnh, bọn bạc ác, tinh ma.
Phân biệt được người tốt / kẻ xấu thật không dễ dàng, cổ nhân có nói: “Họa hổ / họa bì / nan họa cốt / Tri nhân, tri diện, bất tri tấm”, nghĩa là: vẽ hổ có thể vẽ được bộ lông, da hổ, nhưng khó vẽ được xương hổ; biết người, biết được bộ mặt người, nhưng không biết được lòng người. Tục ngữ, ca dao cũng có câu: “Sông sâu còn có kẻ dò / Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”.
Vì thế, muốn hiểu người, hiểu đời, muôn biết thời thế phải có kiến thức, có học vấn uyên thâm, có hiểu biết sâu rộng. Kẻ trí là kẻ biết người, do đó, ai cũng phải nỗ lực học tập để có thể vươn lên tầm kẻ trí.
2. Ngoài kẻ trí còn có kẻ nhân. Thế nào là kẻ nhân’?
Kẻ nhân là người giàu tình thương, luôn quan tâm đến đồng loại. Kẻ nhân có trái tim nhân hậu, sống giàu tình người, biết san sẻ, cưu mang đến mọi người. Kẻ nhân “Thương người như thể thương thân”, biết “Lá lành đùm lá rách”. Giữa thời loạn lạc hoặc thiên tai nắng hạn, bão lũ cơ hàn, những người họan nạn, nghèo khổ trên mọi miền đất nước.
Tại sao kẻ nhân là kể yêu người”? Kẻ nhân giàu lòng nhân đức, quý trọng con người, lúc nào cũng coi mọi người gần xa bằng tấm lòng nhân ái. Họ vui, buồn cùng cái vui, buồn của đồng loại; họ hiểu thâu tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của đồng bào. Kẻ nhân là “người giàu có nhất”, không phải là người lắm bạc vàng châu báu mà là người có tấm lòng vàng, giàu tình nhân ái.
Trong các phong trào xã hội cứu giúp nạn nhân chất độc da cam, những người tàn tật, trẻ em mồ côi,… ta thấy hình ảnh những kẻ nhân xuất hiện ngày một nhiều, họ đã hết lòng đem của cải, vật chất và tinh thần nhân ái đến với những con người đạu khổ, bất hạnh. Họ đã làm vơi đi bao dòng lệ, bao tiếng thở dài, họ đã đem nụ cười đến cho các em nhỏ mồ côi, họ đã đem bát cơm, tấm áo đến cho các gia đình trong vùng bão lũ, lụt lội.
Kẻ nhân đã hi sinh cả tính mạng để cứu người. Họ đã có bao hành động, cử chỉ đẹp và cảm động để cứu người, làm ta cảm phục.
Thật vậy, kẻ nhân là kẻ yêu người.
|
Assignment
In society at all times, there are all kinds of people: gentlemen / petty men, intellectuals / uneducated people, virtuous people / evil people, rich people / poor people, good people / evil people, good people / bad people, etc. Each class of people, each type of person, has a different way of living, thinking, and behaving. There are people who are highly virtuous judges, and there are people who have human and beastly faces. Regarding the wise and the benevolent, the ancients commented:
“A wise person is one who knows others; A benevolent person is one who loves others."
1. What is a wise person? A wise person is a person with profound education and deep understanding. Wise people are people with high moral values.
Why are wise people the ones who know others? Only a wise person has enough knowledge, understanding, life capital, and life experience to be able to distinguish between good people / bad people, virtuous people / evil people, and know the strengths / weaknesses of each person. . The wise men of the past were wise men, so they chose talented people and wise men and assigned them high positions of authority, so that these nobles could use their economic talents to help the king and the people to create many careers. huge, glorious, writing many brilliant golden pages of history. Today's leaders are the same, most of them are wise people, so they have built a talented leadership system, bringing the country to further development. The history of all peoples and countries has shown us the great role of outstanding intellectuals.
The wise know themselves, so they know others. A wise person knows people not only to live together but also to learn from them, improve their strengths, overcome their weaknesses, and make their own virtue and personality develop better and better. Wise people know people, so they stay away from flatterers, evil people, and mischievous demons.
Distinguishing between good people and bad people is not easy, the ancients said: "Painting a tiger / painting skin / difficult disaster bone / Knowing the person, knowing the face, not knowing the face", meaning: when drawing a tiger, you can draw the whole body. tiger fur and skin, but it is difficult to draw tiger bones; knowing people, knowing their faces, but not knowing their hearts. There is also a saying in proverbs and folk songs: "The river is deep and there are those who probe / Who can measure the sinister heart?"
Therefore, if you want to understand people, understand life, and know the times, you must have knowledge, profound education, and deep understanding. A wise person is someone who knows others, therefore, everyone must make an effort to study to be able to rise to the level of a wise person.
2. Besides the wise, there are also benevolent people. What is a human being?
A benevolent person is a person who is rich in love and always cares about fellow human beings. A benevolent person has a kind heart, lives rich in human love, knows how to share and take care of everyone. The benevolent person "Loves others as if he loved himself", knowing "Good leaves cover torn leaves". In the midst of chaos or natural disasters, drought, storms and floods, there are people in need and poverty in all parts of the country.
Why is it that those who are kind are considered to love others? A benevolent person is rich in virtue, values people, and always treats everyone near and far with compassion. They are happy and sad along with the happiness and sadness of their fellow human beings; They understand the thoughts, aspirations, and feelings of their people. The benevolent person is the "richest person", not the person with a lot of silver, gold, or jewels, but the person with a heart of gold, rich in compassion.
In social movements to help victims of Agent Orange, disabled people, orphans, etc., we see images of victims appearing more and more, they wholeheartedly bring wealth, material and The spirit of kindness comes to suffering and unfortunate people. They have relieved many tears, many sighs, they have brought smiles to orphaned children, they have brought bowls of rice and clothes to families in storm and flood areas.
The person who sacrificed his life to save others. They have done so many beautiful and touching actions and gestures to save people, making us admire them.
Indeed, a benevolent person is someone who loves others.
|
Bài làm
Sống ở đời, hầu như ai cũng có bạn. Cũng có loại bạn sớm nắng chiều mưa, có loại bạn “Khi vui thì vỗ tay vào / Đến khi họan nạn thì nào thấy ai!”. Đáng sợ nhất là loại người “lừa thầy phản bạn” mà cụ Trạng Trình đã vạch mặt:
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết xôi, hết rượu, hết ông tôi!”
Nhưng bạn tốt rất nhiều: bạn đồng hương, bạn đồng học, bạn đồng khoa, bạn đồng tuế, bạn tri âm, bạn tri kỉ, bạn thủy chung, bạn chiến đấu cùng vào sinh ra tử, cùng nếm mật nằm gai…
Có được một người bạn hiền, một người bạn tốt, một người bạn thủy chung thì thật hạnh phúc biết bao! Nhân dân ta thường nói: “Giàu vì bạn, sang vì vợ”.
Nói đến tình bạn là nói đến tình thân ái. Đúng như có người đã cho rằng: “Tình thân ái là sợi dây kết chặt tình bạn thêm bền, thêm đẹp”.
Không có tình thân ái thì không thể có tình bạn. Vì có thân ái mới có tình cảm yêu mến gần gũi. Có tình thân ái mới hòa hợp, mới gắn kết hai trái tim, hai tâm hồn, lúc vui, lúc buồn đều có nhau. Có thân ái mới sẻ ngọt chia bùi với nhau, mới đồng cam cộng khổ, họan nạn có nhau: “Anh với tôi đôi người xa lạ / Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau / Súng bên súng, đầu sát bên đầu / Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ / Đồng chí!” (Chính Hữu).
Có tình bạn nào đẹp bằng tình bạn tuổi thơ thời áo trắng? Chung bàn, chung lớp, chung thầy; cùng đi học, cùng vui chơi, cùng hát ca, cùng mơ ước. Một củ lạc, một trái sâu dầm,… cùng chia đôi. Cùng đá bóng, cùng đi bơi, kéo co, vật nhau, tặng nhau một thứ đồ chơi nhân ngày sinh nhật,… làm cho tình thân ái thêm thắm thiết. Mừng vui sau khi được điểm 10, khi được thầy khen, bạn quý. Thật vô tư và yêu đời, giỏi giang và lớn lên cùng nãm tháng. Dây thân ái đã buộc chặt tình bạn tuổi thơ, lưư giữ mãi bao kỉ niệm sâu sắc thời cắp sách, mà sau này, khi ta đã trưởng thành, khi ta đã luống tuổi, dù cách xa nhau đôi phía chân trời, nhưng những kỉ niệm của ngày xưa thân ái vẫn còn làm ta rơi lệ!
Vở chèo Lưu Bỉnh – Dương Lễ không còn xa lạ với nhân dân ta từ bao đời nay, nhưng đến nay trong dịp hội xuân của xóm dưới làng trên, màn chèo nàng Châu Long – vợ Dương Lễ – cải trang đến giúp Lưu Bình ăn học, đỗ đạt… vẫn được bà con cô bác dân cày đón chào nhiệt liệt, sân đình đêm hội chèo chật ních người kéo đến xem. Qua vai chèo nàng Châu Long, ta càng thấy rõ dây thân ái thủy chung đã làm cho tình bạn giữa Lưu Bình – Dương Lễ thêm bền, thêm đẹp.
Các nhà nho thường nhắc đến tình bạn tri âm của Bá Nha – Chung Tử Kì, những người cộng sản lại hay kể chuyện tình bạn tri âm của Ăng-ghen và Mác.
Có nhiều bài thơ cảm động nói về tình bạn thủy chung của các tao nhân mặc khách. Bài thơ “Bạn đến chơi nhà’”, bài “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến, học trò phổ thông ai cũng đã được học. Dây thân ái của tình bạn, có khi là niềm vui vẻ, vồn vã khi bạn đến chơi nhà, có khi là hàng lệ trào ra khi được tin bạn mới qua đời:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước
vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời…”
(Khóc Dương Khuê)
|
Assignment
In life, almost everyone has friends. There are also the type of friends who are sunny and rainy in the afternoon, and there are the type of friends who "clap your hands when you're happy / When you're in trouble, you don't see anyone!". The most terrifying is the type of person who "tricks his teacher and betrays his friend" that Mr. Trang Trinh exposed:
“There is still money, there is still money, there are still disciples,
Out of sticky rice, out of wine, out of my grandfather!”
But there are many good friends: compatriots, classmates, classmates, fellow students, confidants, confidants, loyal friends, friends who fight together in life and death, who taste the honey of thorns...
How happy it is to have a gentle friend, a good friend, a faithful friend! Our people often say: "Be rich for your friends, be luxurious for your wife."
Talking about friendship is talking about intimacy. Just as someone said: "Friendship is the bond that makes friendship more durable and more beautiful."
Without cordiality, there can be no friendship. Because there is affection, there is love and closeness. Only with cordial love can harmony, two hearts and two souls can be connected, both happy and sad are together. Only with love can we share sweetness and happiness with each other, we can share suffering and misfortune together: "You and I are strangers / We met each other from different places / Gun next to gun, head next to head / Cold night Sharing a blanket becomes soul mates / Comrades!” (Chinh Huu).
Is there any friendship as beautiful as childhood friendship in the white shirt era? Same desk, same class, same teacher; Go to school together, play together, sing together, dream together. One peanut, one worm,... divided in half. Playing soccer together, swimming together, tug-of-war, wrestling, giving each other a toy on their birthday,... makes the love more intimate. Be happy after getting a score of 10, when the teacher praises you, you appreciate it. So carefree and loving, talented and growing up over the years. The cord of affection has tied childhood friendships together, preserving many profound memories of our school days, but later, when we have grown up, when we are old, even though we are far apart on both sides of the horizon, the Memories of those dear old days still make me cry!
The rowing performance of Luu Binh - Duong Le is no longer strange to our people for many generations, but now during the spring festival of the lower village, the rowing performance of Chau Long - Duong Le's wife - came in disguise to help Luu Binh eat. Studying, passing... were still warmly welcomed by farmers, the communal house yard on the night of the Cheo festival was packed with people coming to watch. Through Chau Long's shoulder, we can see more clearly the bond of love and loyalty that has made the friendship between Luu Binh - Duong Le more durable and more beautiful.
Confucian scholars often mention the close friendship of Ba Nha - Chung Tu Ky, communists often tell the story of the close friendship of Engels and Marx.
There are many touching poems about the faithful friendship of the people. The poem "You come to visit" and the song "Crying Duong Khue" by Nguyen Khuyen, every high school student has learned. The cordiality of friendship, sometimes it's the joy and excitement when you come to visit, sometimes it's the tears that flow when you hear the news that you've just passed away:
“Uncle Duong, that's enough
The gentle cloudy water touches my heart.
I remember from the time I was enrolled in the department back in the day
It's still early in the morning and I'm together
Dear from before to after,
While meeting is different from destiny..."
(Crying Duong Khue)
|
Bài làm
Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những biểu tượng. Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 đạt được sự hàm súc, đa nghĩa một phần là nhờ nhà văn đã sáng tạo được những hình ảnh, chi tiết giàu giá trị biểu tượng. Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là một trường hợp như vậy. Hình ảnh tấm ảnh trong bộ lịch cuối năm đã khép lại tác phẩm nhưng đọng lại mãi với những suy tư, tự nghiệm của nghệ sĩ Phùng và người đọc: Không những trong bộ lịch năm ấy … hoà lẫn trong đám đông. Không khó khăn mấy người đọc cũng nhận thấy ở đây dường như có hai bức ảnh trong một khuôn hình.
Trước hết đó là một bức ảnh thuần nghệ thuật dành cho những nhà sành nghệ thuật: Một bức ảnh mang vẻ đẹp toàn mĩ, vốn là một cảnh đắt trời cho, kết tinh công phu và sự may mắn của người nghệ sĩ (sau hàng tuần mai phục, Phùng đã chụp được). Một bức ảnh về con thuyền được chụp từ ngoài xa với vẻ đẹp hài hoà giữa con người và cảnh vật. Một cảnh đẹp được ghi lại bằng một ấn tượng thuần tuý nghệ thuật. Một bức ảnh không chỉ đem đến một niềm hạnh phúc cho người sáng tạo mà còn đủ sức thuyết phục với cả những nhà sành nghệ thuật và có sức sống lâu bền “mãi mãi về sau”…
Đằng sau bức ảnh nghệ thuật đó là một bức ảnh cuộc sống hiện thực trần trụi, lam lũ mà trung tâm là hình ảnh người đàn bà vùng biển cao lớn với dáng người thô kệch… bước những bước chậm rãi, bàn chân đặt trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông. Một hình ảnh không còn thơ nữa mà rất đời. Hình ảnh này đã trở thành một ám thị đối với Phùng mỗi lần ngắm kĩ tôi vần thấy. Nhưng tại sao chỉ riêng Phùng mới thấu thị như vậy mà những người khác thì không? Phải chăng vì Phùng biết nhìn kĩ, nhìn lâu, nhìn thẳng; biết nhìn xuyên qua màu hồng hồng của ánh sương mai, nhìn cho ra được những thô kệch, ướt sũng, nhợt trảng, bạc phếch… Và điều quan trọng nhất là Phùng biết nhìn bằng trải nghiệm. Hay nói khác đi Phùng không chỉ nhìn mà còn sống trong cuộc đời, đau đáu nỗi đau của người đàn bà hàng chải, lắng nghe câu chuyện của chị.
Dùng nghệ thuật tương phản kết hợp với một chút phi lí (bức ảnh đen trắng nhưng lại nhìn ra màu hồng hồng), Nguyễn Minh Châu đã dựng lên một ẩn dụ nghệ thuật với bao nhiêu thông điệp, nhận thức:
+ Thứ nhất, nghệ thuật cất lên từ cuộc sống nhưng giữa cái đẹp của nghệ thuật và cuộc sống luôn có khoảng cách. Đôi khi ngay đằng sau cái đẹp mơ màng và tưởng như toàn bích kia lại chứa đựng trong đó những hiện thực cuộc sống còn đầy khiếm khuyết, nhức nhối. Không cẩn thận cái đẹp thuần tuý nghệ thuật lại trờ thành cái đẹp giả dối…
+ Thứ hai, cần phải nhìn thắng vào cuộc sống dù nó không phải thơ mộng như chúng ta muốn.
+ Thứ ba, cần phải kéo gần khoảng cách giữa nghệ thuật và cuộc sống, muốn phản ánh trung thực cuộc sống người nghệ sĩ phải đi đen với cuộc đời, cúi xuống thật gần những số phận cá nhân vốn nhiều bi kịch, lắng nghe câu chuyện của họ…
|
Assignment
Nguyen Minh Chau is a writer of symbols. Nguyen Minh Chau's short stories after 1975 achieved conciseness and multiple meanings partly because the writer created images and details rich in symbolic value. The work The Boat in the Far Away is such a case. The image of the photo in the year-end calendar closed the work but remained forever with the thoughts and experiences of artist Phung and the reader: Not only in that year's calendar... mixed in the crowd. It is not difficult for many readers to notice that there seem to be two photos in one frame.
First of all, it is a pure artistic photo for art connoisseurs: A photo of perfect beauty, which is a heaven-given scene, crystallizing the artist's diligence and luck (after thousands of years). ambush week, Phung took the photo). A photo of a boat taken from afar shows the harmonious beauty between people and scenery. A beautiful scene captured with a purely artistic impression. A photo not only brings happiness to the creator but is also convincing enough for art connoisseurs and has lasting vitality "forever after"...
Behind that artistic photo is a photo of naked, flooded real life, the center of which is the image of a tall coastal woman with a rough figure... walking slowly, her feet resting on her face. solid ground, blending in with the crowd. An image that is no longer poetic but very real. This image has become a suggestion for Phung every time I look closely I see it. But why is only Phung so clairvoyant and not others? Is it because Phung knows how to look closely, look long, look straight; knows how to see through the pink color of the morning dew, to see rough, wet, pale, silvery things... And the most important thing is that Phung knows how to see through experience. In other words, Phung not only watched but also lived in life, aching for the pain of the street woman, listening to her story.
Using contrasting art combined with a bit of absurdity (the photo is black and white but looks pink), Nguyen Minh Chau has created an artistic metaphor with many messages and perceptions:
+ First, art emerges from life, but between the beauty of art and life there is always a gap. Sometimes right behind that dreamy and seemingly perfect beauty, there are hidden realities of life that are still full of flaws and pain. If you're not careful, pure artistic beauty can become fake beauty...
+ Second, we need to look at life even though it is not as poetic as we want.
+ Third, it is necessary to close the gap between art and life. To honestly reflect life, the artist must go dark with life, bend down very close to personal fates that are full of tragedy, and listen. their story…
|
Bài làm
Bén duyên văn tự với mảnh đất Tây Nguyên, nhà văn đất Quảng đã viết Rừng xà nu như một lần nữa khẳng định với người đọc: ông là nhà văn của mảnh đất Tây Nguyên. Khơi nguồn cho xúc cảm của người nghệ sĩ, bên cạnh hình tượng xà nu, đôi bàn tay Tnú cũng lấp lánh sắc màu ý nghĩa.
Đôi bàn tay Tnú xuất hiện khá nhiều lần trong Rừng xà nu như hình ảnh hoán dụ nói cùng ta số phận và phẩm chất của người anh hùng Tnú. Đôi bàn tay Tnú dắt Mai lên rẫy trồng tỉa bắp, xách xà lét giấu gạo cơm nuôi giấu cán bộ, bàn tay mang đá trắng ba ngày từ đỉnh núi Ngọc Linh trở về, bàn tay lấy đá tự đập vào đầu mình trừng phạt vì học mãi không được cái chữ của Cụ Hồ… Đôi bàn tay ấy thể hiện con người có ý chí, gan góc, một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng. Đó còn là đôi bàn tay chở che, yêu thương mẹ con Mai, bàn tay găn bó máu thịt với quê hương xứ sở. Sau ba năm đi lực lượng, về đến con suối đầu làng, chính đôi bàn tay ấy đã vục dòng nước mát quê hương để rửa mặt, để xúc động trong hoài niệm. Bàn tay Tnú còn là bàn tay tín nghĩa không biết phản bội. Sa vào tay giặc khi còn là cậu bé liên lạc. đôi bàn tay ấy đặt lên bụng mà chắc nịch khẳng định: “Cộng sản ở đây”. Đôi bàn tay ấy đã thể hiện sâu sắc một lòng tín nghĩa, chí tình với cách mạng.
Nhung bàn tay Tnú xuất hiện trong tác phẩm đâu chỉ trong hình hài lành lặn, đôi bàn tay đau thương đầy ám ảnh. Ai đọc Rừng xà nu dù một lần thì chắc khó có thể quên hình ảnh mười ngón tay Tnú rímg rực cháy lửa xà nu như mười ngọn đuốc. Anh không cùm thấy lửa cháy ớ mười đầu ngón tay. Anh nghe lừa cháy trong lồng ngực, trong bụng mình. Diệu kì thay, chính trong thử thách đau thương ấy lại tỏa sáng mạnh mẽ ý chí, nghị lực phi thường, sự gan góc kiên cường của người anh hùng. Bàn tay đau thương ấy trở thành vết thương chưa khi nào liền miệng, là bang chứng tội ác của kẻ thù, nó cũng trở thành mối di hận cả đời Tnú mang theo.
|
Assignment
Having a literary affinity with the land of the Central Highlands, the writer from Quang wrote The Jungle as once again affirming to readers: he is a writer of the land of the Central Highlands. Evoking the artist's emotions, besides the snake image, Tnú's hands also sparkle with meaningful colors.
Tnú's hands appear many times in the Snake Forest as a metonymic image telling us the fate and qualities of the hero Tnú. Tnú's hands led Mai to the fields to plant and trim corn, carrying barley to hide rice to feed and hide from officials, hands carrying white stones for three days back from the top of Ngoc Linh mountain, hands using stones to hit themselves on the head as punishment for I have never been able to learn Uncle Ho's words... Those hands show a person with will, courage, and loyalty to the Party and the revolution. Those are also the hands that protect and love Mai and her children, the hands that are tied by blood and flesh to their homeland. After three years in the army, returning to the stream at the beginning of the village, those same hands splashed the cool water of their homeland to wash their faces and to be moved with nostalgia. Tnú's hand is also a faithful hand that does not know how to betray. Falling into the hands of the enemy when he was still a liaison boy. Those hands placed on his stomach and firmly affirmed: "Communism is here." Those hands showed a profound sense of trust and devotion to the revolution.
But Tnú's hands appear in the work not only in healthy form, but with haunting, painful hands. Anyone who reads The Snake Forest even once will hardly forget the image of ten Tnú fingers burning with snake fire like ten torches. He could not help but feel the fire burning at the tips of his ten fingers. He heard the donkey burning in his chest, in his stomach. Miraculously, it was in that painful ordeal that the hero's strong will, extraordinary energy, and tenacity shone through. That painful hand became a wound that never healed, a testimony to the enemy's crimes, and it also became a lifelong hatred that Tnú carried.
|
Bài làm
Cũng như nhãn tự trong một bài thơ, chi tiết nghệ thuật có vị trí nghệ thuật vô cùng quan trọng đổi với tác phẩm văn xuôi, nó có thể thâu tóm linh hồn của tác phẩm. Hình ảnh “lá ngón'” trờ thành một trong những chi tiết nghệ thuật đặc trưng, mang nhiều tầng ý nghĩa và đê lại ấn tượng sâu sắc trong tâm tường độc giả Việt Nam. Và dù thời gian trôi qua, tác giả không còn nữa thì khi nhắc đến chi tiết nghệ thuật liền nhớ lại nội dung tác phẩm.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác khi Tô Hoài tham gia kháng chiến, căn cứ hoạt động ở miền cao Tây Bắc. Câu chuyện là cuộc đời tủi nhục của Mị và A Phủ – hai mảnh đời có số phận bất hạnh gần như nhau, đại diện cho những kiếp đời lầm than dưới ách thống trị tàn ác của bọn thực dân phong kiến. Họ gặp nhau, tự giải thoát và tìm đến cách mạng như một lẽ hiển nhiên, biểu trưng cho con đường tìm đến cách mạng, tìm đến giải phóng và tự do của đồng bào miền cao Tây Bắc.
Hình ảnh “lá ngón” xuất hiện ba lần trong tác phẩm và chì gan liền với nhân vật Mị – người con gái miền cao lương thiện, xinh đẹp, tài hoa nhưng cuộc đời nhiều bất hạnh. Mị xuất hiện với hình ảnh mở đầu u ám: Ai ờ xa về… có một cô con gái. Lúc nào cũng vậy,… mặt buồn rười rượi. Đó cũng chính là phong cách của Tô Hoài: Đi thẳng vào vấn đề, nêu ngay nhân vật. Sự xuất hiện ủ dột báo hiệu một thực tại không tươi sáng. Sự hiện diện song song giữa cô gái – tàu ngựa – tàng đá cho thấy sự ngang tầm giữa các chủ thể: người và súc vật, súc vật và vó tri. Hay đó cũng chính là ngầm ý của tác giả muốn nói đến cái xã hội đương thời. Cái thực tại xám xịt này là hệ lụy của chế độ thực dân phong kiến thối tha, là kết cục bi thương của con người lành tính. Mị – một cô gái miền cao đang tràn bung sức trẻ – ngay trong đêm tình hội xuân nồng nàn thì cuộc đời màu hồng chấm dứt. Cô bị trói gô như súc nô, bắt về nhà thống lí Pá Tra “củng trình má” như một món hàng. Người ta làm gì cuộc đời cô. thực sự lúc đó cô không biết, mãi cho đến lúc A Sử đứng trước mặt bố cô tuyên bố đã cúng trình ma, thôi thì cô đã là người nhà thống lí mất rồi! Một cú đánh ngã tự do. một cái rơi thật sự thẳng. Mị đi từ cuộc đời đẹp như trong tranh xuống hố sâu của địa ngục – nơi mà kẻ khác sổng bằng âm thanh của tiếng than và hít thở hơi mùi máu, mà mỗi bước đi là một nỗi tủi nhục đến tột cùng. Mị sống không bang chết, sống như một xác người trong kiếp cầm súc và rồi “có áp bức có đấu tranh”. Cô tìm về cha già, tay cầm nắm lá ngón. “Lá ngón” xuất hiện lần đầu tiên như một lối thoát đen. Đây là lối thoát ngắn và hữu hiệu nhất. Nhưng lại là lối thoát cho những ai muốn chấm dứt hiện tại nghiệt ngã chứ không phải lối thoát cho người muốn sang trang mới. Rõ ràng, đây là sự phản kháng quyết liệt nhưng vô vọng – một hình thức phản kháng bị động. Và sự xuất hiện của “lá ngón” lúc này mang tầm ý nghĩa tổ cáo cao độ: Sự dã man của xã hội ép buộc con người lương thiện đi tìm cái chết. Nó – lá ngón, cũng là hiện thân cho nỗi thống khổ của nhân dân, cho những tích tụ đắng cay, đầy đau đớn và uất hận. Mị ném phịch xuống đất nắm lá ngón mình tự tìm hái trong rừng như một sự chuẩn bị sẵn sàng trước đó, ném trong nước mắt. Tự mình tìm đên lá ngón – độc dược của rừng xanh – đã là sự can đảm của người con gái. Nhưng ném đi độc dược để tiếp tục sống khổ lại càng can đảm hơn. Đối với Mị, thà chết đi còn hơn sống nhục, nhưng rồi lại thà sống nhục còn hơn bất hiếu. Chính chữ hiểu là bản lĩnh cao đẹp nơi người con gái trẻ. Đó cũng chính là nguyên nhân cốt yếu cho sự can đảm bán mình chuộc cha của Vương Thuý Kiều trong Đoạn trường tân thanh của đại thi hào Nguyễn Du. Cả hai người con gái tài năng, sắc diện và nhân phẩm tuyệt vời, điều đó kết cục chung vì chế độ xấu xa mục rữa, những thiên hương vô phúc sinh nhầm thời, những cánh hoa trôi dạt trong bão dữ. “Lá ngón” như vậy, đã mang một tầng ý nghĩa nhân sinh tuy bản thân tượng trưng cho cái chết.
Ta có thể nhìn thấy sự kiên quyết và chút gì đó vụt sáng trong lòng MỊ khi cô tìm đến lá ngón với ý nghĩ đã tìm ra lối thoát. Nhưng đồng thời cũng nhận ra nồi đau lòng của cô khi thấy rằng chưa phải lúc và lối thoát ấy một lần nữa tuột khỏi tầm tay. Nhưng rồi cơn đau nào cũng phải qua đi sau thời hạn định. Mị trở về. tiếp tục sống cho hết kiếp cùng mạt nhục nhã. Nhiều năm trôi qua, cha già – người thân duy nhất cũng qua đời nhưng cái thôi thúc giải thoát trong Mị nay đã tắt. Mị không còn nghĩ đến đấu tranh bởi lẽ sống hay chết đối với cô lúc này không quan trọng nữa và đương nhiên “lá ngón” cũng chẳng còn lảng vảng trong tâm trí đã ngủ quên.
Đó chính là sự xuất hiện lần thứ hai của “lá ngón” vì ở lần này, “lá ngón” xuất hiện bằng cách ra đi. Lá ngón phai mờ tượng trưng cho sự ham sống đã nguội lạnh. Nồi ám ảnh về cái chết giờ đây không còn gặm nhấm tâm hồn cho sự tự do của lí trí. Nhưng đối với Mị, đó lại là nồi đáng sợ! ơ lâu trong cái khô, Mị quen khổ rồi. Dần thay thế cho “phản kháng” là “chấp nhận chịu đựng”. Một cô gái với bản lĩnh tự hái thuốc độc cho mình nay buông xuôi chấp thuận. Cô buông xuôi không bởi cô chấp thuận, cô đồng thuận mà sự thả trôi kia là kết cục của cuộc tự đấu tranh trong đon độc, dai dẳng cuối cùng kết thúc bằng sự mỏi mệt và tuyệt vọng đổ ập xuống đôi bờ vai yếu ớt. Vậy ra, “lá ngón” kia đang ngầm kêu thay tiếng đồng bào hướng về cách mạng. Chẳng biết tự bao giờ, Mị quay cuồng vào công việc nhà Pá Tra như một cái máy và cho tới khi trâu ngựa đã về chuồng, cô vẫn còn đứng đó tiếp tục mãi không thôi. Lúc nào cũng vậy, ngồi một mình trong căn buồng tối trông ra lỗ vuông trắng đục chăng biêt “là sương hay nắng”, Mị luôn đăm đắm một ánh nhìn. Ánh nhìn ấy vừa khát khao, vừa hồi tưởng. Nếu như xem lỗ vuông nơi căn phòng là vách ngăn giữa lao tù và tự do, thì ít ra mỗi khi nhìn vào đó, Mị vẫn còn chút gì khao khát sống. Còn đối với “lá ngón”, nghĩ đến nó là nghĩ đến cái chết và chỉ khi Mị muốn kết liễu đời mình thì lá ngón lại là hình ảnh mặc định đầu tiên hiện ra.
Rồi đêm nay, đêm tình mùa xuân lại kéo đến – cái đêm tình tứ lứa đôi ngọt ngào, đêm của những xúc cảm yêu thương được chuẩn bị trước bởi những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá hay đêm được tượng hình bời tiếng sáo mê li. Đêm hội mùa xuân vẫn đến và đi như hằng năm vẫn thế. Và năm nay, đến hẹn lại lên, đêm được chờ mong lại đến. Nó đến vẫn với diện mạo xinh tươi và bản chất ngọt ngào, vẫn rừng xanh đó, vẫn triền núi xưa nhưng người đưa đã khác. Đêm xuân này vắng bóng má đào. Tiếng sáo cũ vẫn cứ vô tư bay đi cùng gió với mây, đi tìm người tình ngày nào lâu nay vắng bóng. Rồi như trách oán, như không muốn đi, tiếng sáo ấy cứ réo mãi bên tai người con gái như lưu luyến, tần ngần. Như một phép tiên, đôi môi tường chừng đã bị phong kín bởi thời gian nay mấp máy điều gì! Gì thế kia? Hỡi ôi bài hát cũ – bài hát thiết tha dạo cùng khúc nhạc rừng vàng. Hình ảnh ấy ôi thật xót xa. Người con gái làm say đắm biết bao chàng trai, bông hoa của núi rừng hùng vĩ ngày nào biến mất đi trong đêm oan nghiệt. Để giờ đây chỉ còn tiếng hát nhẩm ngày xưa. MỊ đang hát, đang cổ hát để kéo về những kí ức xúc cảm vàng son. Sau không biết bao ngày sống kiếp nô lệ, Mị vẫn nhớ từng khúc nhạc từng lời ca. Chứng tỏ trong cô, vàng son không khép. Quá khứ và thực tại là hai đỉnh trái chiều và sống về quá khứ giữa thực tại tàn nhẫn, Mị đang khao khát vô cùng, con tim cô vẫn còn thổn thức. Kí ức kéo về tiếp theo cho Mị lòng can đảm, lòng can đảm tồn tại khiến Mị muốn sống về kí ức và cô tìm đến rượu để tiếp tục lối đi trái chiều với thời gian. Người ta uống rượu thì say, còn Mị càng uống càng tỉnh. Mị tỉnh bởi Mị nhớ lại mình ngày xưa và đem so với mình hiện tại như chợt giật mình cho những gì bấy lâu xảy ra với bản thân. Mị tỉnh bởi Mị nhớ lại những sự đối xử dã man của những kẻ đốn mạt ấy dành cho cô. Rồi cái ý thức cá nhân dâng lên mạnh mẽ mà một khi ỷ thức ấy đỉnh điểm thì Mị lại càng không thể chấp nhận nhục nhã đớn đau trong cái cảnh sống không ra người này đây. Sao Mị có thể: Giải thoát! Tự do! Mị không thể tự do thể xác và… cô sẽ tự do tâm hồn, và … lá ngón một lần nữa xuất hiện.
|
Bài làm
Cũng như nhãn tự trong một bài thơ, chi tiết nghệ thuật có vị trí nghệ thuật vô cùng quan trọng đổi với tác phẩm văn xuôi, nó có thể thâu tóm linh hồn của tác phẩm. Hình ảnh “lá ngón'” trờ thành một trong những chi tiết nghệ thuật đặc trưng, mang nhiều tầng ý nghĩa và đê lại ấn tượng sâu sắc trong tâm tường độc giả Việt Nam. Và dù thời gian trôi qua, tác giả không còn nữa thì khi nhắc đến chi tiết nghệ thuật liền nhớ lại nội dung tác phẩm.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được sáng tác khi Tô Hoài tham gia kháng chiến, căn cứ hoạt động ở miền cao Tây Bắc. Câu chuyện là cuộc đời tủi nhục của Mị và A Phủ – hai mảnh đời có số phận bất hạnh gần như nhau, đại diện cho những kiếp đời lầm than dưới ách thống trị tàn ác của bọn thực dân phong kiến. Họ gặp nhau, tự giải thoát và tìm đến cách mạng như một lẽ hiển nhiên, biểu trưng cho con đường tìm đến cách mạng, tìm đến giải phóng và tự do của đồng bào miền cao Tây Bắc.
Hình ảnh “lá ngón” xuất hiện ba lần trong tác phẩm và chì gan liền với nhân vật Mị – người con gái miền cao lương thiện, xinh đẹp, tài hoa nhưng cuộc đời nhiều bất hạnh. Mị xuất hiện với hình ảnh mở đầu u ám: Ai ờ xa về… có một cô con gái. Lúc nào cũng vậy,… mặt buồn rười rượi. Đó cũng chính là phong cách của Tô Hoài: Đi thẳng vào vấn đề, nêu ngay nhân vật. Sự xuất hiện ủ dột báo hiệu một thực tại không tươi sáng. Sự hiện diện song song giữa cô gái – tàu ngựa – tàng đá cho thấy sự ngang tầm giữa các chủ thể: người và súc vật, súc vật và vó tri. Hay đó cũng chính là ngầm ý của tác giả muốn nói đến cái xã hội đương thời. Cái thực tại xám xịt này là hệ lụy của chế độ thực dân phong kiến thối tha, là kết cục bi thương của con người lành tính. Mị – một cô gái miền cao đang tràn bung sức trẻ – ngay trong đêm tình hội xuân nồng nàn thì cuộc đời màu hồng chấm dứt. Cô bị trói gô như súc nô, bắt về nhà thống lí Pá Tra “củng trình má” như một món hàng. Người ta làm gì cuộc đời cô. thực sự lúc đó cô không biết, mãi cho đến lúc A Sử đứng trước mặt bố cô tuyên bố đã cúng trình ma, thôi thì cô đã là người nhà thống lí mất rồi! Một cú đánh ngã tự do. một cái rơi thật sự thẳng. Mị đi từ cuộc đời đẹp như trong tranh xuống hố sâu của địa ngục – nơi mà kẻ khác sổng bằng âm thanh của tiếng than và hít thở hơi mùi máu, mà mỗi bước đi là một nỗi tủi nhục đến tột cùng. Mị sống không bang chết, sống như một xác người trong kiếp cầm súc và rồi “có áp bức có đấu tranh”. Cô tìm về cha già, tay cầm nắm lá ngón. “Lá ngón” xuất hiện lần đầu tiên như một lối thoát đen. Đây là lối thoát ngắn và hữu hiệu nhất. Nhưng lại là lối thoát cho những ai muốn chấm dứt hiện tại nghiệt ngã chứ không phải lối thoát cho người muốn sang trang mới. Rõ ràng, đây là sự phản kháng quyết liệt nhưng vô vọng – một hình thức phản kháng bị động. Và sự xuất hiện của “lá ngón” lúc này mang tầm ý nghĩa tổ cáo cao độ: Sự dã man của xã hội ép buộc con người lương thiện đi tìm cái chết. Nó – lá ngón, cũng là hiện thân cho nỗi thống khổ của nhân dân, cho những tích tụ đắng cay, đầy đau đớn và uất hận. Mị ném phịch xuống đất nắm lá ngón mình tự tìm hái trong rừng như một sự chuẩn bị sẵn sàng trước đó, ném trong nước mắt. Tự mình tìm đên lá ngón – độc dược của rừng xanh – đã là sự can đảm của người con gái. Nhưng ném đi độc dược để tiếp tục sống khổ lại càng can đảm hơn. Đối với Mị, thà chết đi còn hơn sống nhục, nhưng rồi lại thà sống nhục còn hơn bất hiếu. Chính chữ hiểu là bản lĩnh cao đẹp nơi người con gái trẻ. Đó cũng chính là nguyên nhân cốt yếu cho sự can đảm bán mình chuộc cha của Vương Thuý Kiều trong Đoạn trường tân thanh của đại thi hào Nguyễn Du. Cả hai người con gái tài năng, sắc diện và nhân phẩm tuyệt vời, điều đó kết cục chung vì chế độ xấu xa mục rữa, những thiên hương vô phúc sinh nhầm thời, những cánh hoa trôi dạt trong bão dữ. “Lá ngón” như vậy, đã mang một tầng ý nghĩa nhân sinh tuy bản thân tượng trưng cho cái chết.
Ta có thể nhìn thấy sự kiên quyết và chút gì đó vụt sáng trong lòng MỊ khi cô tìm đến lá ngón với ý nghĩ đã tìm ra lối thoát. Nhưng đồng thời cũng nhận ra nồi đau lòng của cô khi thấy rằng chưa phải lúc và lối thoát ấy một lần nữa tuột khỏi tầm tay. Nhưng rồi cơn đau nào cũng phải qua đi sau thời hạn định. Mị trở về. tiếp tục sống cho hết kiếp cùng mạt nhục nhã. Nhiều năm trôi qua, cha già – người thân duy nhất cũng qua đời nhưng cái thôi thúc giải thoát trong Mị nay đã tắt. Mị không còn nghĩ đến đấu tranh bởi lẽ sống hay chết đối với cô lúc này không quan trọng nữa và đương nhiên “lá ngón” cũng chẳng còn lảng vảng trong tâm trí đã ngủ quên.
Đó chính là sự xuất hiện lần thứ hai của “lá ngón” vì ở lần này, “lá ngón” xuất hiện bằng cách ra đi. Lá ngón phai mờ tượng trưng cho sự ham sống đã nguội lạnh. Nồi ám ảnh về cái chết giờ đây không còn gặm nhấm tâm hồn cho sự tự do của lí trí. Nhưng đối với Mị, đó lại là nồi đáng sợ! ơ lâu trong cái khô, Mị quen khổ rồi. Dần thay thế cho “phản kháng” là “chấp nhận chịu đựng”. Một cô gái với bản lĩnh tự hái thuốc độc cho mình nay buông xuôi chấp thuận. Cô buông xuôi không bởi cô chấp thuận, cô đồng thuận mà sự thả trôi kia là kết cục của cuộc tự đấu tranh trong đon độc, dai dẳng cuối cùng kết thúc bằng sự mỏi mệt và tuyệt vọng đổ ập xuống đôi bờ vai yếu ớt. Vậy ra, “lá ngón” kia đang ngầm kêu thay tiếng đồng bào hướng về cách mạng. Chẳng biết tự bao giờ, Mị quay cuồng vào công việc nhà Pá Tra như một cái máy và cho tới khi trâu ngựa đã về chuồng, cô vẫn còn đứng đó tiếp tục mãi không thôi. Lúc nào cũng vậy, ngồi một mình trong căn buồng tối trông ra lỗ vuông trắng đục chăng biêt “là sương hay nắng”, Mị luôn đăm đắm một ánh nhìn. Ánh nhìn ấy vừa khát khao, vừa hồi tưởng. Nếu như xem lỗ vuông nơi căn phòng là vách ngăn giữa lao tù và tự do, thì ít ra mỗi khi nhìn vào đó, Mị vẫn còn chút gì khao khát sống. Còn đối với “lá ngón”, nghĩ đến nó là nghĩ đến cái chết và chỉ khi Mị muốn kết liễu đời mình thì lá ngón lại là hình ảnh mặc định đầu tiên hiện ra.
Rồi đêm nay, đêm tình mùa xuân lại kéo đến – cái đêm tình tứ lứa đôi ngọt ngào, đêm của những xúc cảm yêu thương được chuẩn bị trước bởi những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá hay đêm được tượng hình bời tiếng sáo mê li. Đêm hội mùa xuân vẫn đến và đi như hằng năm vẫn thế. Và năm nay, đến hẹn lại lên, đêm được chờ mong lại đến. Nó đến vẫn với diện mạo xinh tươi và bản chất ngọt ngào, vẫn rừng xanh đó, vẫn triền núi xưa nhưng người đưa đã khác. Đêm xuân này vắng bóng má đào. Tiếng sáo cũ vẫn cứ vô tư bay đi cùng gió với mây, đi tìm người tình ngày nào lâu nay vắng bóng. Rồi như trách oán, như không muốn đi, tiếng sáo ấy cứ réo mãi bên tai người con gái như lưu luyến, tần ngần. Như một phép tiên, đôi môi tường chừng đã bị phong kín bởi thời gian nay mấp máy điều gì! Gì thế kia? Hỡi ôi bài hát cũ – bài hát thiết tha dạo cùng khúc nhạc rừng vàng. Hình ảnh ấy ôi thật xót xa. Người con gái làm say đắm biết bao chàng trai, bông hoa của núi rừng hùng vĩ ngày nào biến mất đi trong đêm oan nghiệt. Để giờ đây chỉ còn tiếng hát nhẩm ngày xưa. MỊ đang hát, đang cổ hát để kéo về những kí ức xúc cảm vàng son. Sau không biết bao ngày sống kiếp nô lệ, Mị vẫn nhớ từng khúc nhạc từng lời ca. Chứng tỏ trong cô, vàng son không khép. Quá khứ và thực tại là hai đỉnh trái chiều và sống về quá khứ giữa thực tại tàn nhẫn, Mị đang khao khát vô cùng, con tim cô vẫn còn thổn thức. Kí ức kéo về tiếp theo cho Mị lòng can đảm, lòng can đảm tồn tại khiến Mị muốn sống về kí ức và cô tìm đến rượu để tiếp tục lối đi trái chiều với thời gian. Người ta uống rượu thì say, còn Mị càng uống càng tỉnh. Mị tỉnh bởi Mị nhớ lại mình ngày xưa và đem so với mình hiện tại như chợt giật mình cho những gì bấy lâu xảy ra với bản thân. Mị tỉnh bởi Mị nhớ lại những sự đối xử dã man của những kẻ đốn mạt ấy dành cho cô. Rồi cái ý thức cá nhân dâng lên mạnh mẽ mà một khi ỷ thức ấy đỉnh điểm thì Mị lại càng không thể chấp nhận nhục nhã đớn đau trong cái cảnh sống không ra người này đây. Sao Mị có thể: Giải thoát! Tự do! Mị không thể tự do thể xác và… cô sẽ tự do tâm hồn, và … lá ngón một lần nữa xuất hiện.
|
Bài làm
Sống gắn bó nghĩa tình cùng mảnh đất Tây Bắc. với sở trường quan sát những nét riêng về phong tục văn hóa của những con người nơi cao nguyên đá mờ sương ấy, Tô Hoài đã khắc họa được những chi tiết nghệ thuật đặc sắc góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm và góp thêm nét vẽ riêng vào bức tranh Tây Bắc.
Với gam màu xám lạnh, u tối. Tô Hoài đã cho người đọc cảm nhận được không gian sống của Mị: Mỗi ngày, Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Cân buồng Mị nằm kín mít, chỉ có ô vuông bằng hàn tay trông ra chi thấy trăng trang, không biết là sương hay là nắng. Mị cứ ngồi đấy mà trông ra ngoài, đến khi nào chết thì thói. Đây là chi tiết nam ở phần giữa tác phẩm, miêu tả không gian sống của Mị ở nhà thống lí Pa Tra. Sau ý định tìm lá ngón tự tử không thành vì thương cha, Mị dập tắt ngọn lửa lòng về nhà thống lí và tiếp tục chôn vùi tuổi xuân của mình trong địa ngục trần gian đó. Căn buồng ấy kín mít, có ô vuông bằng bàn tay. Hình ảnh đó giàu sức gợi, khiến người ta liên tường đến nhà tù, một thứ ngục thất đang giam hãm đời Mị. Đó là một không gian nhỏ bé, trơ trọi đối lập với cái mênh mông, rộng lớn của đất trời Tây Bắc. Cái ngột ngạt, tù túng trong căn buồng Mị nằm đối lập với một thế giới bên ngoài lồng lộng của mây trời, gió núi. của hương hoa rừng Tây Bắc, nó đối lập với cái giàu có, tấp nập của nhà thống lí Pa Tra. Nó không phải là căn buồng của cô con dâu nhà giàu có nhiều tiền, nhiều thuốc phiện nhất vùng mà đó là chồ ở của con ờ, thậm chí không bằng con ở. Căn buồng ấy giống như một miền đời bị quên lãng.
Trong căn buồng ấy, chân dung số phận khổ đau của đời Mị được nhà văn khắc họa thật rõ nét: Mị sống câm lặng như đá núi “không nói”, lầm lụi. chậm chạp trơ lì như “con rùa” quẩn quanh nơi xó cửa. Nếu ở trên, Mị có lúc tưởng mình là “con trâu con ngựa” – nhưng hình ảnh đó mới chỉ gợi nỗi khố cực vì lao động vất vả thì hình ảnh “con rùa” có sức ám ảnh mang ý nghĩa về thân phận bị đè nén, bị bỏ quên. Mị mất hết ý niệm về không gian, thời gian: chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng. Cuộc sống của Mị không có sắc màu, âm thanh, không có cả ngắn dài thời gian, không chia biệt đêm ngày.
Không chỉ có thế, Mị còn không có ý thức về sự sống đợi đến bao giờ chết thì thôi. Phải chăng thứ ngục thất tinh thần ấy đã làm héo mòn, tàn úa từng ngày từng tháng tâm hồn Mị. Mị sống như loài thảo mộc cỏ cây không hương không sắc, lay lắt, dật dờ, vô hồn, vô cảm. Không còn nữa một cô Mị đẹp như đóa hoa ban trắng của núi rừng Tây Bắc vừa thắm sắc, đượm hương, một cô Mị khao khát tình yêu và tự do có ý thức sâu sắc về quyền sống, từng thiết tha xin cha đừng bán con cho nhà giàu, từng có ý định ăn lá ngón là kết thúc chuỗi ngày sống mà như chết. Như vậy, vượt lên trên nghĩa tả thực về không gian sống của Mị, căn buồng ấy là biểu tượng cho ngục thất tinh thần, địa ngục trần gian giam cầm khát vọng sống, khát vọng tự do của đời Mị.
Chi tiết đó đã góp phần thể hiện tư tưởng, thái độ của nhà văn. Nhà văn đã tố cáo sâu sắc chế độ cai trị miền núi đã đày đọa con người, làm tê liệt quyền sống, quyền khao khát hạnh phúc của họ. Đồng thời, Tô Hoài bày tỏ tấm lòng xót xa thương cảm cho số phận người phụ nữ vùng núi cao Tây Bắc khi cách mạng chưa về. Đó cũng là cảm hứng nhân đạo quen thuộc trong văn học.
Nếu hình ảnh căn buồng Mị nằm là một trong những chi tiết có sức ám ảnh ờ truyện ngắn Vợ chồng A Phủ nhất thì hình tượng tiếng sáo đêm tình mùa xuân lại có sức quyến rũ lòng người nhất. Hình tượng tiếng sáo nằm ở phần giữa tác phẩm, ngòi bút Tô Hoài đã rất dụng công để miêu tả những thanh âm của tiếng sáo vùng núi cao Tây Bắc trong đêm tình mùa xuân. Sau những chuồi ngày sống chỉ mang ý nghĩa của sự tồn tại, tê liệt, chai lì cái nồng nàn của lửa, của men rượu, cái tươi vui chộn rộn của mùa xuân Hồng Ngài đã đánh thức tâm hồn Mị, tiếng sáo đã vọng đến đôi tai Mị. Tiếng sáo được miêu tả từ xa đến gần. với những cung bậc khác nhau: khi tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi, tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng, tiếng sáo lửng lơ bay ngoài đường, trong đầu Mị, rập rờn tiếng sáo, tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi.
|
Assignment
Living closely with the Northwest land. With his knack for observing the unique cultural customs of the people in that misty rocky plateau, To Hoai has portrayed unique artistic details that contribute to expressing the theme of the work and contributing to Unique brushstrokes in the Northwest painting.
With a cool, dark gray color scheme. To Hoai gave readers a sense of Mi's living space: Every day, Mi did not speak, retreating like a turtle kept in the corner of the door. Mi's room was completely covered, with only a hand-welded square that looked like the moon, not knowing if it was dew or sunshine. I just sit there and look out until I die. This is a male detail in the middle of the work, describing Mi's living space in the house of governor Pa Tra. After a failed attempt to commit suicide because she loved her father, Mi extinguished the fire in her heart and returned to the governor's house and continued to bury her youth in that hell on earth. The room was tight, with squares the size of a hand. That image is rich in evocation, making people think of prison, a kind of prison that is imprisoning Mi's life. It is a small, lonely space in contrast to the vastness and vastness of the Northwest sky and land. The stuffiness and crampedness in Mi's room is in contrast to the outside world of clouds and mountain wind. of the floral fragrance of the Northwest forest, it contrasts with the wealth and bustle of the Pa Tra governor's house. It's not the room of the rich daughter-in-law who has the most money and the most drugs in the area, but it's my room, not even as good as yours. That room was like a forgotten region of life.
In that room, the portrait of the miserable fate of Mi's life was clearly portrayed by the writer: She lived as silently as a mountain rock, "not speaking", and confused. slowly and inertly like a "turtle" hanging around the corner of the door. If above, Mi sometimes thought she was a "buffalo and horse" - but that image only evoked the hardship caused by hard work, while the image of "turtle" had the haunting power to convey the meaning of the fate of being oppressed. suppressed, forgotten. I lost all sense of space and time: I only saw the white moon, not knowing if it was mist or sunshine. My life has no color, no sound, no short or long time, no distinction between day and night.
Not only that, Mi also has no sense of life until she dies. Could it be that this mental prison has withered and withered my soul day by day and month by month? I live like a plant with no scent or color, languid, listless, lifeless, emotionless. There is no longer a Miss Mi who was as beautiful as the white daylilies of the Northwest mountains and forests, both colorful and fragrant, a Miss Mi who longed for love and freedom, had a deep sense of her right to life, and once earnestly begged her father not to sell her. son of a rich family, he once thought that eating the leaves would mean ending his days of living as if he were dead. Thus, beyond the realistic meaning of Mi's living space, that room is a symbol of the mental prison, the earthly hell that imprisons the desire to live and the desire for freedom of Mi's life.
That detail contributed to expressing the writer's thoughts and attitudes. The writer deeply denounced the mountainous regime for tormenting people, paralyzing their right to life and their right to desire happiness. At the same time, To Hoai expressed his sadness and sympathy for the fate of women in the Northwest highlands when the revolution had not yet returned. That is also a familiar humanitarian inspiration in literature.
If the image of the room where Mi lies in is one of the most haunting details in the short story A Phu and his wife, then the image of the flute on a spring love night is the most captivating. The image of the flute is located in the middle of the work. To Hoai's pen has worked very hard to describe the sounds of the flute in the high mountains of the Northwest on a spring love night. After days of living with only the meaning of existence, numbness, and dullness, the passion of fire, of alcohol, and the bustling joy of spring, Hong Ngu has awakened My soul, the sound of the flute has echoed. to my ears. The sound of the flute is described from far to near. with different levels: when the sound of the flute looms over the top of the mountain, the sound of the flute echoes calling to friends in the village, the sound of the flute floats on the street, in my head, the sound of the flute is heard, the sound of the flute takes me along the journeys. play.
|
Bài làm
Chọn nạn đói năm 1945 – trang sử bi thương nhất của lịch sử dân tộc làm bối cảnh của câu chuyện, Kim Lân đã kể cho ta nghe một câu chuyện lạ lùng nhất trong cuộc sống: chuyện anh Tràng bỗng nhiên có người đàn bà về trong những ngày tối sầm vì đói khát ấy. Chính tình huống độc đáo và éo le ấy đã nảy sinh bao nét tâm lí ngổn ngang, bao niềm vui, nỗi buôn. Và hình ảnh nụ cười, nước mắt trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm được coi là những chi tiết nghệ thuật đặc sắc góp phần thể hiện tài năng của Kim Lân trong việc khắc họa tâm lí nhân vật và thể hiện tư tường nhà văn, chủ đề tác phẩm.
Hình ảnh nụ cười được nhà văn nhắc đến nhiều lần qua việc khắc họa chân dung nhân vật Tràng. Khi đẩy xe bò thóc hắn vuốt mồ hôi trên mặt cười, trên đường dẫn người vợ nhặt về: hắn tủm tỉm cười, hai con mắt sáng lên lấp lánh, khi trẻ con trêu chọc Tràng bật cười “Bố ranh”. Khi người vợ nén tiếng thở dài trước quang cảnh của nhà Tràng, hắn “quay lại nhìn thị cười cười”. Bà cụ Tứ về, Tràng tươi cười mời mẹ ngồi lên giường…
Nụ cười của Tràng đã góp phần khắc họa tính cách, tâm lí tính cách thuần phác, nhân hậu, yêu đời của gã trai quê mùa, thô kệch; nói cùng ta niềm hạnh phúc, sung sướng của con người trong tận cùng đói khát vẫn không thôi khao khát tình yêu, tổ ấm gia đình. Đặt trong bối cảnh của câu truyện viết về nạn đói thảm thương 1945, hình ảnh nụ cười của Tràng (lặp lại 8 lần) giống như cơn gió mát lành làm dịu đi cái căng thẳng ngột ngạt, cái trăm đắng ngàn cay của con người ngày đói, thể hiện cái nhìn lạc quan, niềm hi vọng của nhà văn vào cuộc sông. Phải chăng, nhà văn đã gửi gắm một thông điệp giản dị: chỉ có tình yêu thương mới có thể mang đến niềm vui, nụ cười hạnh phúc cho con người.
Bên cạnh việc khắc họa tâm lí của Tràng qua nụ cười, Kim Lân cũng chú ý nét tâm lí của nhân vật bà cụ Tứ qua chi tiết giọt nước mắt. Khi hiểu ra cơ sự nhặt vợ của con kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Khi lo lắng cho cảnh ngộ đói khát của chúng: bà cụ nghẹn lời không nói. nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng. Khi nghe thấy tiếng trống thúc thuế, bà vội ngoảnh mặt đi. bà không muốn để con dâu nhìn thấy bà khóc.
Giọt nước mắt của bà cụ Tứ góp phần thể hiện nồi xót xa của người mẹ trước cảnh ngộ của con lấy vợ giữa “tao đoạn này” và số phận không được bằng người. Việc lấy vợ của con là vui nhưng vì cái cái đói, cái chết mà khiến bà xót xa, tủi thân, tủi phận. Giọt nước mắt khố đau ấy như lời kết án sâu sắc thực dân Pháp, phát xít Nhật đấy dân ta đến thảm cảnh cùng cực đó.
Giọt nước mắt cho thấy tấm lòng chan chứa yêu thương con của người mẹ, những giọt nước mắt như cổ kìm nén (rỉ ra hai dòng nước mắt, ngoảnh vội ra ngoài). Thương con, mừng lòng trước hạnh phúc của con, bà đào sâu chôn chặt, giấu đi nồi lo lắng, bà khóc thầm, khóc vụng, để rồi chỉ nói những lời yêu thương, động viên con.
Nụ cười – nước mắt là biểu hiện của hai trạng thái cám xúc đối lập nhau nhưng cùng lấp lánh ánh sáng của tình người, của tình yêu thương giữa những ngày đói khát, chủng góp phần thể hiện sự éo le của tình huống truyện, làm nên giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc. Khắc họa hình ảnh giàu ý nghĩa đó. Kim Lân chứng tỏ là nhà văn thấu hiểu tâm lí nhân vật, biệt tài xây dựng những chi tiết nghệ thuật nhỏ nhưng hàm chửa tầng ý nghĩa sâu sa. thể hiện quan niệm sáng tác “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”.
Không chỉ thành công ở chi tiết “nụ cười”, “nước mắt”, Kim Lân cũng để lại ấn tượng đậm nét trong tâm trí người đọc ở hình tượng nồi cháo cám. Nhà văn đã để cho cái đói quay quắt se duyên cho một mối tình nhưng cũng đây họ đến bên bờ vực: liệu có nuôi nổi nhau qua cái thì tao đoạn này không. Bữa corn đón nàng dâu mới minh họa rõ nét hon cho cái thực trạng thảm thương của những con người khốn khó đó: giữa cái mẹt rách chỉ có niêu cháo loãng, một lùm rau chuối thái rối. đĩa muối trắng và nồi cháo cám. Cháo cám dẫu được mẹ già sang trọng gọi là chè khoán nhưng vẫn không sao xua được cảm giác đắng ngắt, chát xít nơi cổ họng, không sao nén được nỗi tủi hờn dâng lên trong tâm trí mỗi người. Bát cháo cám như đập tan cái không khí vui tươi ở phần đầu bữa ăn. Hiện thực về cái đói vô cùng khốc liệt và ám ảnh một lân nữa xuất hiện, đe dọa hạnh phúc của con người. Thứ hạnh phúc bé nhỏ. mong manh vừa mới nhen nhúm ngay lập tức bị đe dọa bời cái đói. Nỗi xót xa, buồn tủi thấm trong trang văn của Kim Lân như lan sang người đọc.
|
Assignment
Choosing the 1945 famine - the most tragic page in the nation's history as the story's background, Kim Lan told us the strangest story in life: the story of Mr. Trang suddenly having a woman come home. in those dark days of hunger and thirst. It was that unique and difficult situation that gave rise to so many psychological turmoils, joys, and sorrows. And the images of smiles and tears that return many times in the work are considered unique artistic details that contribute to demonstrating Kim Lan's talent in portraying character psychology and expressing family thoughts. literature and theme of the work.
The image of a smile is mentioned many times by the writer in portraying the character Trang. While pushing the rice cart, he wiped the sweat from his smiling face, and on the way, he led his wife to pick it up: he smiled, his eyes lit up and sparkled, when the children teased him, Trang burst out laughing, "Dad." When his wife suppressed her sigh at the sight of Trang's house, he "turned around and looked at her and smiled". Mrs. Tu came home, Trang smiled and invited her mother to sit on the bed...
Trang's smile contributed to portraying the simple, kind-hearted, life-loving personality and psychology of the rustic, rough boy; tell us the happiness and joy of people who, in the depths of hunger and thirst, still cannot stop longing for love, a warm home and family. Placed in the context of the story about the tragic famine of 1945, the image of Trang's smile (repeated 8 times) is like a cool breeze that soothes the suffocating tension and bitterness of humanity. hungry day, expressing the writer's optimistic view and hope for life. Perhaps, the writer has sent a simple message: only love can bring joy and happy smiles to people.
Besides portraying Trang's psychology through her smile, Kim Lan also paid attention to the psychology of Mrs. Tu's character through the details of her tears. When she understood the reason for finding her son's wife, two tears fell from her eyes. When worried about their hunger and thirst: the old lady choked and did not speak. Tears kept flowing down. When she heard the sound of the tax drum, she quickly looked away. She didn't want her daughter-in-law to see her cry.
Mrs. Tu's tears contributed to expressing the mother's sadness at the plight of her son getting married in the middle of "this is my fate" and his fate is not as good as other people. Her son's marriage was happy, but the hunger and death made her feel sad, sad, and miserable. Those tears of pain were like a profound condemnation of the French colonialists and Japanese fascists who brought our people to such extreme tragedy.
The tears show the mother's heart full of love for her child, the tears are like she is holding back (leaking out two streams of tears, quickly looking away). Loving her child, happy for his happiness, she dug deep and buried it, hiding her worries, she cried secretly, cried awkwardly, only to say words of love and encouragement to her child.
Smiles and tears are expressions of two opposing emotional states, but they both sparkle with the light of humanity and love in the midst of hunger and thirst, contributing to expressing the irony of the story's situation. create real values, profound humanitarian values. Portray that meaningful image. Kim Lan proves to be a writer who understands the character's psychology and has a talent for creating small artistic details that contain deep meaning. Expressing the creative concept of "precious fox crystals, no precious foxes".
Not only successful in the "smile" and "tears" details, Kim Lan also left a deep impression in the reader's mind with the image of a pot of bran porridge. The writer let hunger be the cause of a love affair, but here they are at the brink: will they be able to support each other through this period? The corn meal to welcome the new bride more clearly illustrates the pitiful reality of those poor people: in the middle of a ragged basket there is only a pot of thin porridge and a grove of chopped bananas. plate of white salt and pot of bran porridge. Even though bran porridge was elegantly called "che" by my old mother, it still couldn't dispel the bitter, acrid feeling in the throat, and couldn't suppress the sadness rising in everyone's mind. The bowl of bran porridge seemed to destroy the cheerful atmosphere at the beginning of the meal. The reality of extremely fierce and haunting hunger once again appears, threatening human happiness. Little happiness. The newly sprouted fragility is immediately threatened by hunger. The grief and sadness that permeates Kim Lan's writing seems to spread to the reader.
|
Bài làm
Hương phù sa của đời phải chăng là nhụy hoa xây đắp hình tượng nghệ thuật? Trên dải đất hình chữ s có một mảnh đất nơi địa đầu của Tổ quốc – hoang vu và ngút ngàn nhưng lại là cảm hứng của bao văn nhân thi sĩ. Lật lại vài trang sách ta thấy lấp lánh “hồn Tây Bắc” trong trang thơ Chế Lan Viên, dòng Đà giang “Bắc độc lưu” trong trang văn Nguyễn Tuân,… Đằm sâu trong vẻ đẹp đó ta làm sao có thê quên được Tô Hoài – cây bút ngược dòng về Tây Bắc trong tập Truyện Tây Bắc. Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ mà nhà văn Tô Hoài đã dành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập Truyện Tây Bắc (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ờ với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong Vợ chồng A Phủ không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật của mọt cây bút tài hoa. Đọc Vợ chồng A Phủ, ta không thể quên được chi tiết MỊ cắt dây trói cún A Phủ – một chi tiết làm nên mọi giá trị tác phẩm. Và đúng như ai đó đã từng nói, khi cắt dây trói cứu A Phủ, Mị cũng đã tự cat dây trói buộc cuộc đời mình với nhà thống lí Pả Tra.
Câu chuyện về Mị, được bắt đầu từ một hình ảnh rất giàu sức gợi: Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra, thường thấy có một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, che củi hay cõng nước dưới khe lén, cô ẩy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi, chỉ với hai câu văn giản dị ấy thôi, bản chất sự việc đã hiện 34 – ThS. Nguyễn Thành Huân lên rõ nét. Câu văn cũng như dài thêm ra để độc giả lĩnh hội một cách thấu đáo. Vị trí xuất hiện của Mị đã nói lên tất cả, ngồi quay sợi gai bên tảng đá, cạnh tàu ngựa, thậm chí còn như gắn liền với chúng.
Mị vốn là một cô gái con nhà nghèo – nghèo từ trong trứng nghèo ra; Mị trẻ giàu lòng yêu đời, ham sống và có tài thôi sáo hay; Mị còn là một cô gái chăm làm, một người con hiếu thảo… Nhưng, một món “nợ gia truyền” của người nghèo, mà Mị phải “đi tù khổ sai” trong nhà thống lí Pá Tra, dưới hình thức làm con dâu gạt nợ. Biết bao thân phận người dân miền núi, đã bị trả giá băng cả đời người như bởi hình thức cho vay nặng lãi.
Thời gian đầu, khi mới ở “nhà tù Pá Tra”. Mị đau đóm, uất ức, phản ứng quyết liệt. Cớ đến mẩy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Cô không thể chấp nhận làm thân phận nô lệ cho nhà giàu. Nhưng, tất cả đã thành định mệnh nàng Kiều của Nguyễn Du. trước khi dấn thân vào cuộc đời ô nhục, cũng một lần nghĩ đến quên sinh, mà cũng không thoát khỏi kiếp đọa đày mười lăm năm chìm nổi, Mị còn khổ hom, bởi món nợ vẫn còn đây, đổ lên đầu bố già.
Ở địa ngục trần gian nhà thống lí Pá Tra, bao vất vả, cực nhọc nhất đổ lên đầu. Mấy năm sau khi bố già qua đời, MịỊ cũng không nghĩ đến cái chết nữa, bởi vì Ở ỉ âu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tường mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa phải đôi cái tàu ngựa nhà này đến củi tàu ngựa nhà khác, ngựa chi biết việc ăn cò, biết đi làm mà thói. Đời Mị chỉ là công việc nối tiếp nhau, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng cứ thế làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì đi giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nưcmg bè bắp… thêm vào sự đọa đày thể xác ấy còn là ách áp chế về tinh thần mê tín, thần quyền đã hỗ trợ rất đắc lực cho giai cấp thống trị. Nó thực sự là thứ “thuốc phiện tinh thần” như lời Các-Mác nói.
Không chỉ dừng lại ở đó, ở tầng sâu hơn ngòi bút Tô Hoài còn nêu lên một sự thực đau lòng: con người bị áp bức, nếu cứ nhẫn nhục chịu đựng, kéo dài đến một lúc nào đó, sẽ bị tê liệt cả tinh thần phản kháng. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa thật không ở đâu mạng sống, nhân cách con người bị coi rẻ đến thế! Cũng không ở đâu, con người lại tự mình coi rẻ mình một cách tuyệt vọng như vậy. Mị cam chịu thân phận con rùa trong xó chỉ biết ngồi trong cái buồng kín mít, trông ra cửa sổ vuông mờ mờ trăng trắng, cho đến bao giờ chết thì thôi.
Như đã nói ở phân đầu, Mị có một tuổi trẻ hạnh phúc, một khát khao làm chủ cuộc sống tính cách ấy, phẩm chất ấy không bao giờ chết, nó chỉ tạm thời bị đè nén xuống. Và ngọn gió để thổi bùng lên đốm lửa trong lòng Mị, là hoàn cảnh điển hình: mùa xuân về trên vùng cao: Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ừng, gió và rét rất dữ dội. Dầu trong thời tiết khắc nghiệt, mùa xuân về cũng đem đến cho người dân vùng cao một niềm vui sống, được sức sống của tạo vật và con người như bừng tỉnh: trong các làng Mèo Đò, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên các mõm đủ xòe như con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện vừa nở trắng, lại đôi ra màu đỏ hau, đỏ tham, rồi sang màu tím man mác. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà… Sức mạnh của ngòi bút nhân đạo Tô Hoài không chỉ dừng lại ở tình cảm xót thương Mị, ở sự tố cáo tính tàn bạo của giai cấp thống trị, mà còn ở chỗ nhìn ra con người bên trong của nhân vật. ông đã tìm sâu vào tận cùng của ý thức và trong đáy sâu của tiềm thức nhân vật. cho thấy vẫn còn le lói chút ánh sáng, hơi ấm của niềm ham sống, khát khao hạnh phúc, như lớp tro dày nguội lạnh vẫn còn ủ chút than hồng, lớp than ấy chỉ cần ngọn gió thoáng qua là bùng lên. Tô Hoài đã góp thêm vào truyền thống nhân đạo trong nền văn học dân tộc một tiếng nói có quyền năng và sức tái tạo riêng.
Hoàn cảnh ấy không thể tác động vào tâm hồn Mị. Trong các yếu tố ngoại cảnh của mùa xuân, phải kể đến tiếng sáo: Ngoài đầu núi lấp ì ó đã có tiếng ai thổi sáo rù bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bôi hổi. Như vậy, với Mị, tiếng sáo là biểu tượng lôi cuốn nhất của tình yêu, khát vọng ham sống. Trong không khí ấy Mị lại được kích động bởi men rượu: Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng hát. Cách uống rượu ấy như báo trước sự nối loạn mà chính Mị cũng chưa ý thức rõ: Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đẩy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sổng về ngày trước. Bằng việc nhớ lại quá khứ. Mị đã vượt qua tình trạng sống “phi thời gian’’ lâu nay của mình. Tiếp đó, lòng ham sống trong Mị trỗi dậy mãnh liệt: Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Phản ứng đầu tiên đến trong tâm trí Mị là một ý nghĩ: Nếu có nám lú ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho hết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa… ý nghĩ về cái chết lúc này chính là sự phản kháng quyết liệt với hoàn cảnh. Trong khi ấy, tiếng sáo gọi bạn yêu cứ thôi thúc, quyến rũ Mị. Nó là biểu tượng của sự sống mà bấy lâu nay Mị đã quên, giờ đang trở lại. Tiếng sáo theo sát diễn biến tâm trạng nhân vật. Tiếng sáo từ chỗ là một sự việc của thực tại bên ngoài (lửng lơ bay ngoài đường), đã trở thành sự hiện hữu của đời sống bên trong (rập rờn trong đầu).
Từ những chuyển biến trong suy nghĩ, Mị đã có một hành động thật ý nghĩa Mị đến góc nhà, lấy ong mỡ, xắn một miếng bo thêm vào đĩa đèn cho sáng. Hành động này có ý nghĩa là MỊ đã thắp lên một ngọn đèn, soi rọi cuộc sống tối tăm triền miên của quá khứ. Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mãnh liệt, cũng là lúc nó bị vùi dập một cách tàn bạo. A Sử bước vào. thản nhiên xách ra một thúng sợi đay, trói đứng Mị vào cột nhà. Suốt cái đêm bị trói đứng vào cột nhà ấy, Mị đã sống trong sự giằng xé mãnh liệt giữa niềm khao khát hạnh phúc cháy bỏng và thực tại tàn bạo, lạnh lùng. Lúc mới bị trói, Mị vẫn còn như sống trong tâm trạng mê say với tiếng sáo ngoài kia. Mị như quên mình đang bị trói, quên những đau đớn thế xác, đến nồi trong giây phút khát khao cuộc sống mãnh liệt. Mị đã “vùng bước đi’’. Nhưng thực tế phũ phàng là vòng dây trói đang thít chặt, dẫu mong ước mãnh liệt đến mấy, Mị cũng không vượt qua được. Hai biểu tượng của ước mơ và thực tại hiện ra trong hai âm thanh trái ngược, tiếng sáo gọi bạn yêu tha thiết và tiếng chân ngựa đạp vào vách khô khan. MỊ không nghe tiếng sảo nữa. Chi còn nghe tiếng chăn ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cò. Mị thôn thức nghĩ mình không bằng con ngựa – thực tại phũ phàng đã bóp nghẹt những khát vọng tươi sáng. Ket cục ấy nói lên rằng, chỉ có những phàn kháng tự phát, nhân vật không tự giải thoát cho mình; đồng thời nó cũng hứa hẹn những cuộc nổi loạn trong tương lai của nhân vật.
Sau đêm xuân bị trói đứng, tình cảm u mê của Mị có phần trầm trọng. Trước cảnh A Phủ bị trói đứng, lúc đầu Mị là người hoàn toàn vô cảm, vô hồn. cô vẫn thán nhiên thổi lửa hơ tay. A Phủ có là cái xác chết đứng đấy, với Mị cũng thế thôi. Đôi mat mở trừng trừng của A Phủ chẳng gợi lên cho Mị một điều gì cả. Nhưng như đã nói ở đoạn trên, khát vọng đi theo tiếng gọi tự do hãy còn đó trong tâm hồn Mị. Không phải ngẫu nhiên, hình ảnh ngọn lửa được tác giả lặp đi lặp nhiều lần trong một đoạn văn miêu tả tâm lí nhân vật khá sâu sắc, tinh tế.
|
Bài làm
Hương phù sa của đời phải chăng là nhụy hoa xây đắp hình tượng nghệ thuật? Trên dải đất hình chữ s có một mảnh đất nơi địa đầu của Tổ quốc – hoang vu và ngút ngàn nhưng lại là cảm hứng của bao văn nhân thi sĩ. Lật lại vài trang sách ta thấy lấp lánh “hồn Tây Bắc” trong trang thơ Chế Lan Viên, dòng Đà giang “Bắc độc lưu” trong trang văn Nguyễn Tuân,… Đằm sâu trong vẻ đẹp đó ta làm sao có thê quên được Tô Hoài – cây bút ngược dòng về Tây Bắc trong tập Truyện Tây Bắc. Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ mà nhà văn Tô Hoài đã dành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập Truyện Tây Bắc (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn, cùng ờ với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong Vợ chồng A Phủ không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật của mọt cây bút tài hoa. Đọc Vợ chồng A Phủ, ta không thể quên được chi tiết MỊ cắt dây trói cún A Phủ – một chi tiết làm nên mọi giá trị tác phẩm. Và đúng như ai đó đã từng nói, khi cắt dây trói cứu A Phủ, Mị cũng đã tự cat dây trói buộc cuộc đời mình với nhà thống lí Pả Tra.
Câu chuyện về Mị, được bắt đầu từ một hình ảnh rất giàu sức gợi: Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra, thường thấy có một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, che củi hay cõng nước dưới khe lén, cô ẩy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi, chỉ với hai câu văn giản dị ấy thôi, bản chất sự việc đã hiện 34 – ThS. Nguyễn Thành Huân lên rõ nét. Câu văn cũng như dài thêm ra để độc giả lĩnh hội một cách thấu đáo. Vị trí xuất hiện của Mị đã nói lên tất cả, ngồi quay sợi gai bên tảng đá, cạnh tàu ngựa, thậm chí còn như gắn liền với chúng.
Mị vốn là một cô gái con nhà nghèo – nghèo từ trong trứng nghèo ra; Mị trẻ giàu lòng yêu đời, ham sống và có tài thôi sáo hay; Mị còn là một cô gái chăm làm, một người con hiếu thảo… Nhưng, một món “nợ gia truyền” của người nghèo, mà Mị phải “đi tù khổ sai” trong nhà thống lí Pá Tra, dưới hình thức làm con dâu gạt nợ. Biết bao thân phận người dân miền núi, đã bị trả giá băng cả đời người như bởi hình thức cho vay nặng lãi.
Thời gian đầu, khi mới ở “nhà tù Pá Tra”. Mị đau đóm, uất ức, phản ứng quyết liệt. Cớ đến mẩy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Cô không thể chấp nhận làm thân phận nô lệ cho nhà giàu. Nhưng, tất cả đã thành định mệnh nàng Kiều của Nguyễn Du. trước khi dấn thân vào cuộc đời ô nhục, cũng một lần nghĩ đến quên sinh, mà cũng không thoát khỏi kiếp đọa đày mười lăm năm chìm nổi, Mị còn khổ hom, bởi món nợ vẫn còn đây, đổ lên đầu bố già.
Ở địa ngục trần gian nhà thống lí Pá Tra, bao vất vả, cực nhọc nhất đổ lên đầu. Mấy năm sau khi bố già qua đời, MịỊ cũng không nghĩ đến cái chết nữa, bởi vì Ở ỉ âu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tường mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa phải đôi cái tàu ngựa nhà này đến củi tàu ngựa nhà khác, ngựa chi biết việc ăn cò, biết đi làm mà thói. Đời Mị chỉ là công việc nối tiếp nhau, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng cứ thế làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì đi giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nưcmg bè bắp… thêm vào sự đọa đày thể xác ấy còn là ách áp chế về tinh thần mê tín, thần quyền đã hỗ trợ rất đắc lực cho giai cấp thống trị. Nó thực sự là thứ “thuốc phiện tinh thần” như lời Các-Mác nói.
Không chỉ dừng lại ở đó, ở tầng sâu hơn ngòi bút Tô Hoài còn nêu lên một sự thực đau lòng: con người bị áp bức, nếu cứ nhẫn nhục chịu đựng, kéo dài đến một lúc nào đó, sẽ bị tê liệt cả tinh thần phản kháng. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa thật không ở đâu mạng sống, nhân cách con người bị coi rẻ đến thế! Cũng không ở đâu, con người lại tự mình coi rẻ mình một cách tuyệt vọng như vậy. Mị cam chịu thân phận con rùa trong xó chỉ biết ngồi trong cái buồng kín mít, trông ra cửa sổ vuông mờ mờ trăng trắng, cho đến bao giờ chết thì thôi.
Như đã nói ở phân đầu, Mị có một tuổi trẻ hạnh phúc, một khát khao làm chủ cuộc sống tính cách ấy, phẩm chất ấy không bao giờ chết, nó chỉ tạm thời bị đè nén xuống. Và ngọn gió để thổi bùng lên đốm lửa trong lòng Mị, là hoàn cảnh điển hình: mùa xuân về trên vùng cao: Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ừng, gió và rét rất dữ dội. Dầu trong thời tiết khắc nghiệt, mùa xuân về cũng đem đến cho người dân vùng cao một niềm vui sống, được sức sống của tạo vật và con người như bừng tỉnh: trong các làng Mèo Đò, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên các mõm đủ xòe như con bướm sặc sỡ. Hoa thuốc phiện vừa nở trắng, lại đôi ra màu đỏ hau, đỏ tham, rồi sang màu tím man mác. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà… Sức mạnh của ngòi bút nhân đạo Tô Hoài không chỉ dừng lại ở tình cảm xót thương Mị, ở sự tố cáo tính tàn bạo của giai cấp thống trị, mà còn ở chỗ nhìn ra con người bên trong của nhân vật. ông đã tìm sâu vào tận cùng của ý thức và trong đáy sâu của tiềm thức nhân vật. cho thấy vẫn còn le lói chút ánh sáng, hơi ấm của niềm ham sống, khát khao hạnh phúc, như lớp tro dày nguội lạnh vẫn còn ủ chút than hồng, lớp than ấy chỉ cần ngọn gió thoáng qua là bùng lên. Tô Hoài đã góp thêm vào truyền thống nhân đạo trong nền văn học dân tộc một tiếng nói có quyền năng và sức tái tạo riêng.
Hoàn cảnh ấy không thể tác động vào tâm hồn Mị. Trong các yếu tố ngoại cảnh của mùa xuân, phải kể đến tiếng sáo: Ngoài đầu núi lấp ì ó đã có tiếng ai thổi sáo rù bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bôi hổi. Như vậy, với Mị, tiếng sáo là biểu tượng lôi cuốn nhất của tình yêu, khát vọng ham sống. Trong không khí ấy Mị lại được kích động bởi men rượu: Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng hát. Cách uống rượu ấy như báo trước sự nối loạn mà chính Mị cũng chưa ý thức rõ: Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đẩy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sổng về ngày trước. Bằng việc nhớ lại quá khứ. Mị đã vượt qua tình trạng sống “phi thời gian’’ lâu nay của mình. Tiếp đó, lòng ham sống trong Mị trỗi dậy mãnh liệt: Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Phản ứng đầu tiên đến trong tâm trí Mị là một ý nghĩ: Nếu có nám lú ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho hết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa… ý nghĩ về cái chết lúc này chính là sự phản kháng quyết liệt với hoàn cảnh. Trong khi ấy, tiếng sáo gọi bạn yêu cứ thôi thúc, quyến rũ Mị. Nó là biểu tượng của sự sống mà bấy lâu nay Mị đã quên, giờ đang trở lại. Tiếng sáo theo sát diễn biến tâm trạng nhân vật. Tiếng sáo từ chỗ là một sự việc của thực tại bên ngoài (lửng lơ bay ngoài đường), đã trở thành sự hiện hữu của đời sống bên trong (rập rờn trong đầu).
Từ những chuyển biến trong suy nghĩ, Mị đã có một hành động thật ý nghĩa Mị đến góc nhà, lấy ong mỡ, xắn một miếng bo thêm vào đĩa đèn cho sáng. Hành động này có ý nghĩa là MỊ đã thắp lên một ngọn đèn, soi rọi cuộc sống tối tăm triền miên của quá khứ. Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mãnh liệt, cũng là lúc nó bị vùi dập một cách tàn bạo. A Sử bước vào. thản nhiên xách ra một thúng sợi đay, trói đứng Mị vào cột nhà. Suốt cái đêm bị trói đứng vào cột nhà ấy, Mị đã sống trong sự giằng xé mãnh liệt giữa niềm khao khát hạnh phúc cháy bỏng và thực tại tàn bạo, lạnh lùng. Lúc mới bị trói, Mị vẫn còn như sống trong tâm trạng mê say với tiếng sáo ngoài kia. Mị như quên mình đang bị trói, quên những đau đớn thế xác, đến nồi trong giây phút khát khao cuộc sống mãnh liệt. Mị đã “vùng bước đi’’. Nhưng thực tế phũ phàng là vòng dây trói đang thít chặt, dẫu mong ước mãnh liệt đến mấy, Mị cũng không vượt qua được. Hai biểu tượng của ước mơ và thực tại hiện ra trong hai âm thanh trái ngược, tiếng sáo gọi bạn yêu tha thiết và tiếng chân ngựa đạp vào vách khô khan. MỊ không nghe tiếng sảo nữa. Chi còn nghe tiếng chăn ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cò. Mị thôn thức nghĩ mình không bằng con ngựa – thực tại phũ phàng đã bóp nghẹt những khát vọng tươi sáng. Ket cục ấy nói lên rằng, chỉ có những phàn kháng tự phát, nhân vật không tự giải thoát cho mình; đồng thời nó cũng hứa hẹn những cuộc nổi loạn trong tương lai của nhân vật.
Sau đêm xuân bị trói đứng, tình cảm u mê của Mị có phần trầm trọng. Trước cảnh A Phủ bị trói đứng, lúc đầu Mị là người hoàn toàn vô cảm, vô hồn. cô vẫn thán nhiên thổi lửa hơ tay. A Phủ có là cái xác chết đứng đấy, với Mị cũng thế thôi. Đôi mat mở trừng trừng của A Phủ chẳng gợi lên cho Mị một điều gì cả. Nhưng như đã nói ở đoạn trên, khát vọng đi theo tiếng gọi tự do hãy còn đó trong tâm hồn Mị. Không phải ngẫu nhiên, hình ảnh ngọn lửa được tác giả lặp đi lặp nhiều lần trong một đoạn văn miêu tả tâm lí nhân vật khá sâu sắc, tinh tế.
|
Gợi ý
– Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám. Một trong những tác phấm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn Vợ nhặt, được in trong tập truyện Con chó xẩu xí (1962). Đây là tác phẩm mà Kim Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp nhất về nạn đói năm Át Dậu (1945) của nước ta.
– Trong tác phẩm. Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo vừa thể hiện được giá trị tư tướng, lại vừa thể hiện được giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
a. Thế nào là tình huống? Vai trò của tình huống trong một tác phẩm truyện?
– Có thể hiểu, tình huống truyện chính là bối cành, hoàn cảnh (không gian, thời gian, địa điểm, âm thanh, màu sắc… tạo nên câu chuyện).
– Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành động; tình huống tầm trạng; tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính bước ngoặt của nhân vật; thì tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật; và tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật.
– Tình huống càng độc đáo, mới lạ, càng giúp cho tác phẩm hấp dẫn, ấn tượng, sâu sắc với người đọc.
b. Tình huống truyện của tác phẩm
– Trước hết, Tràng là một người mồ côi cha, ở với mẹ già tại xóm ngụ cư.
+ Nhà nghèo, anh làm nghề kéo xe bò thuê. Tràng có một ngoại hình xấu xí, thô kệch.
+ Đã thế lại có phần dở người. Lời ăn tiếng nói cũng thô kệch như chính ngoại hình của hắn. Có thể nói, nguy cơ ế vợ đã rõ.
+ Đã vậy, gặp năm đói khủng khiếp, cái chết luôn luôn đeo bám. Trong lúc không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đên chuyện dựng vợ, gả chồng thì đột nhiên Tràng có vợ, mà lại có vợ bằng cách nhặt được.
– Trong hoàn cảnh ấy, rõ ràng có vợ cũng có nghĩa là phải thêm một miệng ăn và cũng là đem thêm tai hoạ về cho mình và mẹ, đẩy mau mình và mẹ đến cái chết. Như vậy, việc Tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt. Chính điều này đã làm cho nhiều người ngạc nhiên.
+ Đó là những người dân trong xóm ngụ cư: họ ngạc nhiên, bàn tán, phán đoán rồi họ cùng nghĩ: Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?
+ Còn bà cụ Từ – mẹ Tràng – lại càng ngạc nhiên. Lúc đầu bà lão không hiểu, rồi bà cúi đầu nín lặng với bao tâm sự vui – buồn lẫn lộn Biết rằng chúng nó có nuôi nôi nhau sống qua được cơn đói khát này không.
+ Nhất là, ngay chính bản thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ. Thậm chí, sáng hôm sau Tràng cảm thấy êm ái như từ giấc mơ đi ra.
Tóm lại. tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ nhưng lại hợp lí, tạo sức hấp dần và nhiều suy nghĩ cho người đọc.
c. Thái độ của nhà văn
* Với người dân lao động:
– Qua câu chuyện, nhà văn đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khô bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình.
+ Ông xót thương cho dân tộc trước thảm hoạ đói chết người như ngả rạ.
+ Ông cũng ái ngại cho người con gái bị nạn đói cướp đi gần hết (gia đình, nhan sắc, tính cách, tên tuổi,…).
– Không những vậy, nhà văn còn rất tinh tế khi phát hiện ra khát vọng hạnh phúc và niềm vui khi nhặt vợ của Tràng; cái duyên thầm của thị qua cái liếc mắt với Tràng… Có thể nói:
+ Nhà văn rất trân trọng và tự hào về vẻ đẹp nhân tính của con người lao động nghèo trước thảm hoạ đau thương, chết chóc.
+ Đồng thời nhà văn còn tập trung ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động qua hình ảnh của bà cụ Tứ: một người mẹ giàu tình thương con, giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống và đây cũng chính là niềm tin của nhà văn vào phẩm chất tốt đẹp của con người.
|
Suggest
– Kim Lan is one of the outstanding writers of modern Vietnamese prose before and after the August Revolution. One of Kim Lan's typical works written right after the success of the August Revolution is the short story Picked Up Wife, published in the story collection The Ugly Dog (1962). This is the work in which Kim Lan successfully recreated the bleakest and most terrible picture of the famine in the Year of the Rooster (1945) in our country.
– In the work. Kim Lan has built a unique story situation that both shows the personal value and the artistic value of the work.
a. What is the situation? What is the role of situation in a work of fiction?
– It can be understood that the story situation is the context and circumstances (space, time, location, sound, color... that create the story).
– There are three common types of situations in short stories: action situations; status quo situation; cognitive situations. If the action situation is mainly aimed at the character's turning point action; Mood situations mainly explore the character's emotional and emotional developments; and the cognitive situation mainly explains the character's moment of "enlightenment" of the truth.
– The more unique and novel the situation, the more attractive, impressive and profound it will make the work to the reader.
b. Story situation of the work
– First of all, Trang is an orphan, living with her elderly mother in the neighborhood.
+ His family was poor, so he worked as a hired cart puller. Trang has an ugly, rough appearance.
+ Even so, it's a bit of a bad person. His speech is as rough as his appearance. It can be said that the risk of being single is clear.
+ So, in the year of terrible hunger, death always followed. While no one (including Trang) was thinking about getting married, suddenly Trang had a wife, and she got a wife by finding her.
– In that situation, clearly having a wife also means having to feed another mouth and also bringing more disaster to me and my mother, quickly pushing me and my mother to death. Thus, the fact that Trang has a wife is a tragic adversity, mixed with joy and sadness, bringing laughter to tears. This has surprised many people.
+ Those were the people in the neighborhood: they were surprised, discussed, judged, and then they thought: Can they support each other through this?
+ And old lady Tu - Trang's mother - was even more surprised. At first the old woman did not understand, then she bowed her head and remained silent with mixed feelings of joy and sadness, wondering if they could feed each other and survive this hunger and thirst.
+ Especially, even Trang himself was surprised with his own happiness when he saw her sitting right in the middle of the house and until now he was still skeptical. Even the next morning, Trang felt as smooth as coming out of a dream.
In short. The story situations that Kim Lan builds are both unexpected but reasonable, creating attraction and many thoughts for the reader.
c. Writer's attitude
* For working people:
– Through the story, the writer has given his best feelings to poor people with all his kindness.
+ He pitied the nation before the disaster of famine and death like straw.
+ He also felt sorry for the girl whose famine took away almost everything (family, beauty, personality, name,...).
– Not only that, the writer is also very subtle when discovering Trang's desire for happiness and joy when choosing a wife; Her secret charm through a glance with Trang... It can be said:
+ The writer is very appreciative and proud of the human beauty of poor working people in the face of painful and deadly disasters.
+ At the same time, the writer also focuses on praising the good qualities of working people through the image of Mrs. Tu: a mother rich in love for her children, rich in kindness and faith in life, and this is also is the writer's belief in the good qualities of humans.
|
Gợi ý
– Giới thiệu tác giả tác phẩm.
– Giới thiệu đoạn văn.
– Giới thiệu ý kiến.
a. Giải thích ý kiến
– Đoạn văn miêu tả sự hồi sinh của nhân vật Mị vào đêm tình mùa xuân là một đoạn đặc sắc kết tinh tài năng nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo sâu sắc và mới mẻ của nhà văn Tô Hoài trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.
– Tài năng nghệ thuật: là tài năng sáng tạo riêng, độc đáo của người nghệ sĩ: từ cách chọn đề tài, xây dựng nhân vật, tình huống truyện, ngôn ngữ, giọng điệu, dùng từ đặt câu…
– Tư tưởng nhân đạo: chính là tấm lòng yêu thương con người, nhà văn chân chính là nhà nhân đạo từ trong cốt tùy. đồng cảm với những kiếp đời đau khổ bất hạnh, lên án những the lực phi nhân bản chà đạp lên quyền sống cùa con người, phát hiện, ngợi ca những vẻ đẹp nhân văn.
b. Phân tích, chứng minh
– Mị là một cô con dâu gạt nợ sống ở nhà thống lí Pá Tra để trả món nợ truyền đời – truyền kiếp là hai mươi đồng bạc trang mà bố mẹ Mị vay bổ thống lí Pá Tra hồi cưới nhau.
+ Quãng đời cùa Mị ở Hồng Ngài thật sự là một chuỗi ngày đen tối nhất của một người đàn bà ờ giữa chốn địa ngục trần gian.
+ Tuy là mang tiếng con dâu của vua xứ Mèo mà lại phải làm việc quần quật như “con trâu, con ngựa”, sống vô cảm vô hồn, không có ý thức về thời gian, tuổi trẻ, tình yêu, cam chịu, nhẫn nhục.
– Tưởng đâu đấy sẽ là một dấu chấm hết cho cuộc đời của người đàn bà Mèo ấy, nhưng đằng sau cái đống tro tàn của lòng Mị. vẫn còn thấp thoáng đâu đó những tia lửa nhỏ của khát vọng sống. Và chí cần một cơn gió tác động, nó sẽ bừng lên thành ngọn lửa – ngọn lửa của sự khát khao mãnh liệt được sống – chứ không chấp nhận tồn tại với thân phận nô lệ như vậy.
– Mị – sự trỗi dậy của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc.
+ Những yếu tố tác động đến sự hồi sinh của Mị: Những chiếc váy hoa đã đem phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ. hoa thuốc phiện vừa nở trang lại đới ra màu đỏ hau. đỏ thậm rồi sang màu tỉm man mác. Đám trẻ đợi Teỉ, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà cũng có những tác động nhất định đến tâm lí của MỊ.
+ Rượu là chất xúc tác trực tiếp đê tâm hồn yêu đời, khát vọng sống của Mị trồi dậy. Mị đã lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Mị vừa như uổng cho hả giận, vừa như uống hận. nuốt hận. Hơi men đã đưa tâm hồn Mị theo tiếng sáo.
—> Trong đoạn diễn tả tâm trạng hồi sinh của Mị. tiếng sáo có một vai trò đặc biệt quan trọng. Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tinh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng tình yêu tự do, đã theo sát diễn biến tâm trạng Mị, là ngọn gió thổi bùng lên đốm lửa tưởng đã nguội tắt. Thoạt tiên, tiếng sáo còn ‘‘lấp ló”, “lừng lơ” đầu núi, ngoài đường. Sau đó, tiếng sáo đã thâm nhập vào thế giới nội tâm của Mị và cuối cùng tiếng sáo trở thành lời mời gọi tha thiết để rồi tâm hồn Mị bay theo tiếng sáo.
– Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân.
+ Dấu hiệu đau tiên của việc sống lại đó là Mị nhớ lại quá khứ, nhớ về hạnh phúc ngẳn ngủi trong cuộc đời tuổi trẻ của mình và niềm ham sống trở lại MỊ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị tre lắm. Mị vẫn còn trè lắm. Mị muốn đi chơi.
+ Phản ứng đẩu tiên của MỊ là: Nếu có nam lá ngón trong tay, Mị sẽ ăn cho chết ngay. Mị đã ý thức được tình cảnh đau xót của mình. Những giọt nước mắt tưởng đã cạn kiệt vì đau khổ đã lại có thể lăn dài.
+ Từ những sôi sục trong tâm tư đã dần MỊ tới hành động lẩy ống mỡ, xắn một miếng bò thêm vào đĩa đèn cho sáng. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho căn phòng bấy lâu chỉ là bóng tối. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của mình.
+ Hành động này đẩy tới hành động tiếp: Mị quấn tóc lại, với lay lấy cái vảy hoa vắt ờ phía trong vách.
+ Mị quên hẳn sự có mặt của A Sử, quên hằn mình đang bị trói, tiếng sáo vẫn dìu dặt và tâm hồn Mị đang đi theo những cuộc chơi, những đám choi.
—> Tô Hoài đã đặt sự hồi sinh của Mị vào tình huống bi kịch: khát vọng mãnh liệt – hiện thực phũ phàng khiến cho sức sống ở Mị càng thêm phần dữ dội. Qua những chi tiết này, nhà văn muốn phát biểu một tư tưởng: sức sống của con người cho dù bị giẫm đạp, bị trói chặt vẫn không thể chết mả luôn luôn âm ỉ, chỉ gặp dịp là bùng lên.
– Thành công của nhà văn chính là việc khắc họa nội tâm nhân vật chủ yếu bàng tâm trạng.
+ Chỉ bằng một sự khai thác tinh tế nơi sự thay đổi cảnh sắc mùa xuân đất trời, mùa xuân nơi bản làng, người đọc như thấy được nó đã tác động như thế nào đến tâm hồn nguội lạnh của người đàn bà kia.
+ Cả trong đêm ấy, hành động của Mị được tác già miêu tả rất ít, ngắn gọn, những nó đã thật sự gây hứng thú cho người đọc khi dõi theo từng cử chỉ, từng kí ức, từng việc làm của Mị trong đêm mùa xuân ấy.
– Nét đặc sắc trong xây dựng nhân vật của Tô Hoài trong truyện ngan này là miêu tả diễn biến bên trong tâm hồn nhân vật. nhất là Mị. Những đoạn tả sự thức tỉnh của niềm khát vọng cuộc sống ờ Mị trong một đêm xuân (đã phân tích ờ trên), cảnh Mị suy nghĩ tới hành động cắt dây trói cho A Phủ là nhũng thành công nổi bật của tác giả trong cách miêu tả ‘từ bên trong” nhân vật. Tác giả diễn tả được những biến chuyển tinh tế trong nội tâm nhân vật cùa mình, tránh được cái nhìn giản đơn cũng như cách tô vẽ giả tạo khi viết về những con người miền núi.
c. Nhận xét
– Nghệ thuật truyện của Tô Hoài còn thành công ở chỗ tác giả đã nắm bắt. lựa chọn được nhiều chi tiết chân thực, sinh động mà có sức khái quát cao. Những chi tiết ấy lại thường đặt trong một hệ thống tương quan đối lập nên càng nổi rõ (Cô Mị cúi mặt. lặng lẽ như một cái bóng giữa cảnh giàu có tấp nập của nhà Pá Tra; căn phòng âm u của Mị và khung cảnh mùa xuân tràn đầy sức sống và ánh sáng ở bên ngoài; tiếng sáo và tiếng chân ngựa đạp vào vách).
– Có thể nói, Tô Hoài đã đặt cả tấm lòng của mình vào nơi Mị nên mới có thể gây cho người đọc một sự đồng cảm sâu sắc đến vậy.
– Với sự trồi dậy – dù chỉ trong khoảnh khẳc – của khát khao sống, ta nhận ra ràng cô Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa kia, đã không còn nữa; mà thay vào đó là một cô gái luôn âm ỉ trong mình một ngọn lửa được sống – chứ không phái tồn tại như một cái xác không hôn như trước kia.
|
Suggest
- Introducing the author and his work.
– Introduce the paragraph.
– Introducing opinions.
a. Explain comments
– The passage describing the resurrection of the character Mi on the night of spring love is a unique passage that crystallizes the artistic talent and profound and new humanitarian ideology of writer To Hoai in the short story A Phu and his wife. .
– Artistic talent: is the artist's own, unique creative talent: from choosing a topic, building characters, story situations, language, tone, using words to make sentences...
– Humanitarian ideology: is the heart that loves people, a true writer is a humanitarian from the core. sympathize with lives of suffering and misfortune, condemn inhuman forces that trample on people's right to life, discover and praise humane beauty.
b. Analyze and prove
– I am a debt-stricken daughter-in-law who lives at Governor Pa Tra's house to pay off the hereditary debt of twenty silver coins that My parents borrowed from Governor Pa Tra when they got married.
+ My life in Hong Ngai was truly a series of darkest days for a woman in the middle of hell on earth.
+ Although she is known as the daughter-in-law of the King of Meo, she has to work hard like a "buffalo and horse", living a lifeless and emotionless life, with no sense of time, youth, love, or resignation. long-suffering.
– I thought it would be the end of that Cat woman's life, but behind the ashes of Mi's heart. There are still small sparks of desire to live somewhere. And with just a gust of wind, it will flare up into a fire - the fire of a strong desire to live - rather than accept existence with such a slave status.
– Mi – the rise of the desire to live and the desire for happiness.
+ Factors affecting Mi's revival: The floral dresses were dried on the cliffs, spreading like colorful butterflies. As soon as the poppy flowers bloom, they turn bright red. dark red and then pale pink. The children waiting for Tei, playing spinning wheels, and laughing loudly on the playground in front of the house also had a certain impact on my psychology.
+ Alcohol is a direct catalyst for My love of life and desire to live to emerge. I secretly took the jar of wine and kept drinking each bowl. I feel like I'm wasting my anger, and I'm drinking my hatred. swallow hatred. The smell of alcohol led My soul to follow the sound of the flute.
—> In the passage describing Mi's revived mood. The flute has a particularly important role. To Hoai described the sound of the flute as an artistic intention to shake Mi's soul. The sound of the flute is a symbol of the desire for free love, closely following the evolution of Mi's mood, the wind blowing up a fire that was thought to have cooled down. At first, the sound of the flute still "loomed" and "loomed" at the top of the mountain and on the road. After that, the sound of the flute penetrated into My inner world and finally the sound of the flute became an earnest invitation and then My soul followed the sound of the flute.
– The evolution of Mi's mood on a spring love night.
+ The first painful sign of being resurrected is that I remember the past, remember the short-lived happiness in my young life and the desire to live again. I feel excited again, suddenly happy in my heart. Tet nights in the past. I'm very young. I'm still very young. I want to go out.
+ My first reaction was: If I had a male finger leaf in my hand, I would eat it to death immediately. I was aware of my painful situation. The tears that seemed to have dried up due to suffering were able to roll down again.
+ From the excitement in my mind, I gradually came to the action of removing the tube of fat, rolling up a piece of beef and adding it to the lamp plate to light up. I want to light up a room that has been dark for so long. I want to light up my dark life.
+ This action prompted the next action: I wrapped my hair and reached out to shake the flower scale hanging on the inside of the wall.
+ I completely forgot about A Su's presence, forgot that I was tied up, the sound of the flute was still gentle and my soul was following the games and parties.
—> To Hoai placed Mi's resurrection in a tragic situation: strong desire - harsh reality makes Mi's vitality even more intense. Through these details, the writer wants to express an idea: human vitality, even if trampled or tied up, cannot die and is always smoldering, only when the occasion arises it flares up.
– A writer's success lies in portraying a character's innermost feelings mainly through their moods.
+ Just by a subtle exploitation of the changing scenery of spring, earth and sky, spring in the village, the reader seems to see how it affected the cold soul of that woman.
+ Even that night, Mi's actions were described very little and briefly by the author, but it really sparked the reader's interest as they followed every gesture, every memory, and every deed of Mi during the night. that spring.
– The unique feature of To Hoai's character building in this fairy tale is the description of the developments inside the character's soul. especially Mi. The passages describing the awakening of Mi's desire for life on a spring night (analyzed above), the scene where Mi contemplates the act of cutting A Phu's ropes are outstanding successes of the author in this way. describe 'from the inside' the character. The author is able to describe the subtle changes in the inner thoughts of his characters, avoiding a simple look and artificial painting when writing about mountain people.
c. Comment
– The art of To Hoai's story is also successful because the author has grasped it. Choose many realistic, vivid details that have high generalizability. Those details are often placed in a system of opposing correlations, so they stand out even more clearly (Miss Mi bowed her head, quietly like a shadow amidst the bustling wealth of Pa Tra's house; Mi's dark room and the frame. The spring scene is full of life and light outside; the sound of flutes and the sound of horses' feet hitting the wall).
– It can be said that To Hoai has put his whole heart into Mi so he can cause such deep sympathy in the reader.
- With the resurgence - even for just a moment - of the desire to live, we realize that Miss Mi has retreated like the turtle kept in the corner, no longer there; Instead, she is a girl who always has a smoldering fire inside her to live - instead of existing like an unkissed corpse like before.
|
Gợi ý
– Nguyễn Trung Thành bút danh Nguyên Ngọc – là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông cũng là nhà văn của mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ. Có duyên và gắn bó với mảnh đất Tây Nguyên trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ là điều kiện thuận lợi, tiền đề dẫn đến những thành công trong những sáng tác về vùng đất này: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu,…
– Truyện ngắn Rừng xà nu (1965) viết về những anh hùng làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam 1945 – 1975. Cảm hứng của Rừng xà nu được phát khởi từ một triết lí nảy ra từ máu lửa của một thời đại đau thương mà anh dũng.
Hình tượng trung tâm của tác phẩm là Tnú. Có ý kiến cho rằng: Tnủ điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Tnú điển hình cho con đường đấu tranh cách mạng cùa người làng Xô Man. Vậy đâu là giá trị thực sự của hình tượng này?
2.1. Giải thích ý kiến
– Tnú điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên nghĩa là tính cách, phẩm chất của Tnú có nhiều điểm tương đồng, khái quát hoặc được kết tinh từ tính cách, phẩm chất của con người Tây Nguyên. Tính cách của Tnú tiêu biểu cho tính cách con người Tây Nguyên.
– Tnú điển hình cho con đường đẩu tranh cách mạng của người làng Xô Man là nói tới cuộc đời Tnú có điểm tương đồng với con đường đấu tranh cách mạng của con người làng Xô Man, đi từ khó khăn gian khổ đen thắng lợi, từ đau thương đến anh dũng.
2.2. Phân tích khái quát về hình tượng
– Bối cảnh đất nước và làng Xô Man trong kháng chiến.
– Hoàn cảnh riêng của nhân vật.
– Khái quát tính cách, tâm hồn, lí tường của nhân vật.
Chúng ta nhất trí với những ý kiến trên. Đây là hai nhận xét khái quát về hai khía cạnh khác nhau cùa hình tượng Tnú: ý kiến trước chỉ ra vẻ đẹp tính cách, phẩm chất; ý kiến sau khái quát phương diện cuộc đời.
2.3. Chứng minh qua hai ý kiến
– Tnú trước hết điển hình cho tính cách con người Tây Nguyên.
+ Yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, bất khuất với kẻ thù: Tnú có ba mối thù lớn: của bản thân, của gia đình, của buôn làng. (Thí sinh cần phân tích những chi tiết hay):
• Bị đốt mười ngón tay, lửa cháy ở trong lồng ngực.
• Đôi mắt Tnú biến thành hai cục lửa lớn khi chứng kiến cảnh vợ con bị giặc tra tấn.
+ Sớm có lí tưởng cách mạng, trung thành tuyệt đối với cách mạng, tính kỉ luật cao:
• Từ bé đã thuộc lòng câu nói của cụ Met Cán bộ là Đảng, Đảng còn núi nước này còn.
• Về thăm làng một đêm nhưng có giấy phép.
+ Sức sống mãnh liệt, dẻo dai: (Thí sinh chú ý chi tiết đôi bàn tay của Tnú).
+ Trung thực, dũng cảm, gan góc, thông minh lanh lợi, có tinh thần trách nhiệm trong công việc: để cán bộ ngủ một mình ngoài rừng bụng dạ không yên được; đi rừng; vượt suối; nuốt lá thư…
+ Có tình thương yêu sâu sắc với gia đình, buôn làng.
-Tnú còn là điển hình cho con đường đấu tranh cách mạng của dân làng Xô Man.
+ Mang thân phận mồ côi, sinh ra và lớn lên trong sự đùm bọc, yêu thương của buôn làng, Tnú có một cuộc đời nghèo khổ, cơ cực như bao người khác nhưng cũng phát huy được cốt cách của người Xô Man: Đời nó khô nhung bụng nó sạch như nước suối làng ta.
+ Tnú gặp bi kịch khi chưa cầm vũ khí: bản thân bị bắt, bị tra tấn dã man (mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt), bị tù; vợ con bị giặc tra tấn đến chết; cụ Met nhắc lại nhiều lần Tnú không cứu sống được Mai – Tnú không cứu sống được mẹ con Mai – Tnú không cứu được vợ con… để khắc ghi vào tâm trí người nghe một chân lí cùa thời đại: chừng ấy phẩm chất (gan góc, quả cảm, tình yêu sâu sắc,…) là chưa đủ để cứu sống mẹ con Mai mà phải là chủng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo mác.
+ Tnú được giải thoát khi dân làng Xô Man đã cầm vũ khí, đứng dậy đấu tranh, bảo vệ buôn làng; vượt lên nỗi đau đớn, bi kịch cá nhân, Tnú quyết tâm gia nhập lực lượng giải phóng, giết giặc trả thù cho gia đình, quê hương, góp phần bảo vệ buôn làng.
+ Bước đường đời của Tnú đại diện cho con đường của các dân tộc Tây Nguyên trong khói lửa đấu tranh. Câu chuyện bi tráng ở một con người mang ý nghĩa của một dân tộc.
2.4. Phản biện của bản thân (bổ sung ý kiến).
– Hai ý kiến đều đúng và sâu sắc, tuy khác nhau, tưởng đối lập nhưng thực ra là bổ sung cho nhau cùng khẳng định vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng Tnú.
– Đó là sự hòa hợp cuộc đời và tính cách, cá nhân và cộng đồng để tạo nên vẻ đẹp toàn vẹn cùa một hình tượng giàu chất sử thi.
– Có được vẻ đẹp toàn vẹn đó là do nhà văn không chỉ có duyên mà còn đã gắn bó sâu nặng với mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ; không chỉ là tôi yêu say mê cây xà nu từ ngày đó mà còn cùng ăn, cùng ngủ, cùng chiến đấu với đồng bào Tây Nguyên, để rồi mang không khí đau thương mà anh dũng của một thời khói lửa thổi vào tác phẩm, và rồi ghi một dấu ấn cho văn học cách mạng Việt Nam bằng sự bất tử của hình tượng Tnú.
2.5. Tiểu kết về đối tượng
– Đánh giá khái quát những ý kiến trên.
|
Suggest
– Nguyen Trung Thanh, pen name Nguyen Ngoc – is one of the great writers of modern Vietnamese literature. He is also a writer from the majestic Central Highlands land. Having an affinity and attachment to the land of the Central Highlands during both the resistance wars against the French and the Americans is a favorable condition, a premise that leads to success in compositions about this land: The Country Stands Up, Forest of Serpents nu,…
– The short story The Snake Forest (1965) was written about the heroes of the Soviet Man village during the resistance war against America, representing the epic trend and romantic inspiration of Vietnamese literature from 1945 to 1975. Inspiration of The Snake Forest Nu was born from a philosophy born from the blood and fire of a painful but heroic era.
The central image of the work is Tnú. There is an opinion that: The cabinet represents the personality of people in the Central Highlands. Other opinions emphasize: Tnú represents the path of revolutionary struggle of the people of Xo Man village. So what is the real value of this image?
2.1. Explain comments
– Tnú is typical for the personality of people in the Central Highlands, meaning that Tnú's personality and qualities have many similarities, generalizations or are crystallized from the personalities and qualities of people in the Central Highlands. Tnú's personality represents the personality of the people of the Central Highlands.
- Tnú typical of the revolutionary struggle path of the people of Xo Man village is that Tnú's life has similarities with the revolutionary struggle path of the people of Xo Man village, going from hardship to victory, from pain to heroism.
2.2. General analysis of images
– Background of the country and Soviet Man village during the resistance war.
– Personal circumstances of the character.
– Overview of the character's personality, soul, and reason.
We agree with the above opinions. These are two general comments about two different aspects of the Tnú image: the previous opinion points out the beauty of personality and qualities; The following opinion summarizes aspects of life.
2.3. Prove through two opinions
– Tnú first of all represents the personality of the people of the Central Highlands.
+ Patriotism, deep hatred of the enemy, indomitable to the enemy: Tnú has three great hatreds: of himself, of his family, and of the village. (Candidates need to analyze interesting details):
• Burned ten fingers, fire burned in the chest.
• Tnú's eyes turned into two big flames when he witnessed his wife and children being tortured by the enemy.
+ Early had revolutionary ideals, absolute loyalty to the revolution, high discipline:
• Since childhood, I have memorized the saying of Mr. Met: Cadres are the Party, the Party still has the mountain and the country still exists.
• Visit the village for one night but with a permit.
+ Strong vitality and endurance: (Candidates pay attention to the details of Tnú's hands).
+ Honest, brave, courageous, intelligent, and responsible at work: letting officers sleep alone in the forest with an uneasy stomach; go to the forest; stream crossing; swallow the letter…
+ Have deep love for family and village.
-Tnú is also a typical example of the revolutionary path of the Xo Man villagers.
+ As an orphan, born and raised in the care and love of the village, Tnú has a poor and miserable life like many other people but also develops the core character of the Soviet people: Life It's dry but its belly is as clean as our village's spring water.
+ Tnú encountered tragedy before even holding a weapon: he was arrested, brutally tortured (each finger had only two segments left), and imprisoned; His wife and children were tortured to death by the enemy; Mr. Met repeated many times that Tnú could not save Mai's life - Tnú could not save the mother and child's life Mai - Tnú could not save his wife and children... to engrave in the listener's mind a truth of the times: that many qualities (liver angle, bravery, deep love,...) is not enough to save Mai and her mother's life. It's the kind that has to hold the gun, I have to hold the spear.
+ Tnú was liberated when Xo Man villagers took up arms, stood up to fight, and protect the village; Overcoming pain and personal tragedy, Tnú determined to join the liberation force, kill the enemy to avenge his family and homeland, and contribute to protecting the village.
+ Tnú's life path represents the path of the Central Highlands peoples in the fire and smoke of struggle. The tragic story of a person carries the meaning of a nation.
2.4. Your own criticism (additional comments).
– The two opinions are both correct and profound. Although they are different and seem to be opposites, they actually complement each other and affirm the beauty of the image of the hero Tnú.
– It is the harmony of life and personality, individual and community to create the complete beauty of an epic image.
– Having that complete beauty is because the writer is not only predestined but also deeply attached to the majestic Central Highlands land; Not only have I loved the snakehead tree since that day, but I have also eaten, slept, and fought with the people of the Central Highlands, bringing the painful and heroic atmosphere of a time of fire and smoke into the work. and then made a mark on Vietnamese revolutionary literature with the immortality of the image of Tnú.
2.5. Summary about the subject
– General assessment of the above opinions.
|
Gợi ý
– Vài nét về tác giả Tố Hữu, giá trị bài thơ Việt Bắc.
– Nhấn mạnh hai ý kiến: Việt Bắc là bản anh hùng ca. tình ca về kháng chiến và con người kháng chiến; Ở Việt Bắc, tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu rõ nét nhất.
– Ý kiến thứ nhất: ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta, nhũng con nguời kháng chiến (nhân dân và cán bộ cách mạng) anh hùng trong chiến đấu, căm thù giặc cao độ, có tinh thần đoàn kết. Thể hiện tình cảm lưu luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca ngợi lối sống ân nghĩa ân tình giữa nhân dân và cách mạng.
– Ý kiến thứ hai: khẳng định vẻ đẹp về nghệ thuật thơ Tố Hữu – tính dân tộc – thể hiện ở kết cấu đậm chất ca dao, thể thơ lục bát điêu luyện, ngọt ngào, ở việc sử dụng cặp đại từ “mình”, “ta”.
a. Việt Bắc là bản tình ca về kháng chiến và con người kháng chiến
– Tình cảm lưu luyến vấn vương giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ cách mạng, ca ngợi lối sống ân tình thủy chung của đồng bào Việt Bắc (Tám câu thơ đầu).
– Thể hiện qua những kỉ niệm của tác giả về những nãm tháng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ của đồng bào Việt Bắc (Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng). Ca ngợi vẻ đẹp của cảnh và nguời Việt Bắc: cảnh đẹp, hài hòa từ đuờng nét, màu sắc, âm thanh; con nguời đẹp trong lối sống nghĩa tình Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi… Rừng thu trăng rọi hòa bình.
b. Việt Bắc là bản anh hùng ca về kháng chiến và con người kháng chiến
– Anh hùng trong chiến đấu: khung cảnh hùng tráng đậm chất sử thi, cảm hứng lãng mạn thể hiện qua giọng điệu dồn dập, âm hưởng hào hùng, những hoạt động sôi nổi… góp phần diễn tả sức mạnh và khí thế chiến đấu của cuộc kháng chiến (Những đường Việt Bắc cùa ta… Bước chăn nát đá muôn tàn lửa bay).
– Sức mạnh bắt nguồn từ lòng căm thù trước tội ác của giặc Nhớ khi giặc đến giặc lùng, Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai, từ tinh thần đoàn kết Rừng cây núi đủ ta cùng đánh Tây, “Đất trời ta củ chiến khu một lòng. Sức mạnh của đau thương biến thành hành động và lập được những chiến công vang dội Tin vui chiến thắng trăm miền.
– Sức mạnh của niềm tin, lạc quan tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ; khẳng định Việt Bắc là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến (Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa).
c.Việt Bắc, tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu rõ nét nhất
– Tâm trạng bao trùm là nỗi nhớ, nương theo những câu hỏi, theo lối đối đáp của ca dao “ta – mình” để khơi gợi kỉi niệm về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.
– Sử dụng ngôn ngữ xưng hô “ta – mình” khá linh hoạt, hình thành một cuộc đối đáp thực sự, cũng là sự phân thân, tự vấn của người đi (cán bộ cách mạng) đế đáp lại tấm chân tình sâu nặng của người ở lại {Đồng bào Việt Bắc), tạo nên cảnh tiễn biệt dùng dàng thương nhớ, tạo độ sâu về tư tưởng cho bài thơ.
– Là những đánh giá về giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật độc đáo về bài thơ Việt Bắc – một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp.
– Tác dụng: nói lên được những vấn đề có ý nghĩa lớn lao của thời đại, khơi được đúng chỗ sâu thẳm nhất trong truyền thống ân tình thủy chung ngàn đời của dân tộc ta.
– Đây là những ý kiến đánh giá đúng đắn về giá trị của bài thơ Việt Bắc, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thi phẩm.
|
Suggest
– Some details about author To Huu, the value of Viet Bac's poem.
– Emphasize two opinions: Viet Bac is an epic. love songs about the resistance and the people of the resistance; In Viet Bac, the national character in To Huu's poetic art is most obvious.
– First opinion: praising our nation's resistance war against the French colonialists, the resistance fighters (people and revolutionary cadres) who were heroic in battle, had a high level of hatred for the enemy, and had a group spirit. conclude. Expressing the lingering affection between Viet Bac compatriots and revolutionary cadres, praising the gracious and loving lifestyle between the people and the revolution.
– Second opinion: affirming the beauty of To Huu's poetic art - nationality - expressed in the folk song-like structure, the skillful and sweet six-eight verse form, and in the use of the pronoun pair "myself". ", "I".
a. Viet Bac is a love song about the resistance war and its people
– The lingering feelings between Viet Bac compatriots and revolutionary cadres, praising the loyal and loving lifestyle of Viet Bac compatriots (First eight verses).
– Expressed through the author's memories of the years of sharing sweets and sharing, sharing oranges and suffering of the Viet Bac people (A bowl of rice is shared, half a blanket is covered). Praising the beauty of the landscape and people of Viet Bac: beautiful scenery, harmony of lines, colors, sounds; beautiful people in a loving lifestyle. Green forest with bright red banana flowers... Autumn forest with moonlight shining on peace.
b. Viet Bac is an epic story about the resistance war and its people
– Hero in battle: majestic epic scene, romantic inspiration expressed through intense tone, heroic sound, exciting activities... contributing to expressing the strength and fighting spirit of the resistance war (Our Viet Bac roads... The steps of the blanket crushed rocks and sent fire flying).
– Strength originates from hatred towards the enemy's crimes. Remember when the enemy comes and the enemy hunts, A piece of rice dipped in salt, the hatred is heavy, from the spirit of solidarity. The forests, trees and mountains are enough for us to fight the West together, "Our land and sky are fighting for each other." single-minded area. The power of pain turns into action and achieves resounding victories. Good news of victory in hundreds of regions.
– The power of faith and optimism in the Party and Uncle Ho; affirmed that Viet Bac is a solid base of the resistance war (Revolutionary homeland that created the Republic).
c. In Viet Bac, the national character in To Huu's poetic art is the clearest
– The overarching mood is nostalgia, relying on questions, following the response style of the folk song "I - me" to evoke memories of the resistance war and the resistance people.
- Use the "I - me" language of address quite flexibly, forming a real response, also a separation and self-questioning of the person (revolutionary cadre) to respond to the deep sincerity of the people who stayed behind (Viet Bac compatriots), creating a farewell scene that is easy to remember, creating ideological depth for the poem.
– These are assessments of the value of the ideological content and unique artistic form of the Viet Bac poem - a pinnacle of To Huu's poetry and also an excellent work of Vietnamese poetry during the resistance war against Vietnam. France.
– Effect: speaks up about issues of great significance of the times, uncovering the deepest place in our nation's tradition of faithful love for thousands of years.
– These are correct assessments of the value of Viet Bac's poems, helping readers feel more deeply about the poem.
|
Gợi ý
– Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm.
– Dẫn dắt và trích dẫn ý kiến.
+ Có những bài thơ đã sống cuộc đời đầy thăng trầm và cũng khá truân chuyên nhưng cuối cùng vẫn định hình trong lòng độc giả và khẳng định giá trị đích thực của mình trong thơ ca. Tây Tiến của Quang Dũng là một tác phẩm như thế.
+ Bài thơ được nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của kháng chiến bởi đó là một tiếng thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của một thời anh hùng rực lửa không thể nào quên.
Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là nét đặc sắc bao trùm bài thơ, làm nên vè đẹp riêng của Tây Tiến. Nhưng điều đó do đâu mà có và nó đã được thể hiện trong bài thơ như thế nào?
a. Lí giải về cảm hửng lãng mạn và tinh thần bi tráng của bài thơ Tây Tiến.
– Ở đây có sự gặp gỡ giữa hồn thi nhân, nhân vật trữ tình trong tác phẩm, cái thời anh hùng rực lửa giai đoạn đầu kháng chiến chống Pháp và chiến trường miền Tây dữ dội. ác liệt nhưng cũng rất thơ mộng, trừ tình. Cả bốn yếu tố trên dường như đã hội tụ mãnh liệt và da diết trong nỗi nhớ của Quang Dũng để trào ra cảm hứng lãng mạn và bật lên tinh thần bi tráng trong cái phút “xuất thần” sinh ra “đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện” Tây Tiến.
– Quang Dũng là một hồn thơ hào hoa và lãng mạn. Lính Tây Tiến cũng là những con người như thế. phần lớn là người Hà Nội, mang đậm chất hào hoa, lãng mạn của những chàng trai Kinh thành.
+ Khung cảnh chiến trường Tây Tiến dữ dội, ác liệt nhưng rất thơ mộng, trữ tình. Cuộc hành quân cùa người lính Tây Tiến đánh giặc lại càng đẹp theo phong vị lãng mạn của những tráng sĩ “vung gươm ra sa trường” thời ấy.
+ Hồn thơ lãng mạn Quang Dũng đã gặp một mảnh đất thơ “lãng mạn”, được một “bầu trời thơ” lãng mạn bao quanh làm sao có thể không trào ra cảm hứng lãng mạn bay bổng trong bài thơ này?
– Tinh thần bi tráng do đâu mà có? Chiến trường Tây Tiến ác liệt, hoang vu. nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường hành quân:
+ Đó là chất bi, là hiện thực khốc liệt cùa cuộc chiến. Quang Dũng không lẩn tránh cái bi, nhưng đem đến cho cái bi màu sắc và âm hướng tráng lệ, hào hùng bi tráng.
+ Đó là nhờ nét “tráng” rất khỏe của thi sĩ đã át được, thắng được cái “bi”. Cái “tráng” này là của Quang Dũng và cả một lớp trai trẻ như ông thời ấy, mang trong lòng một bầu máu nóng “quyết lư cho Tổ quốc quyết sinh”, “một ra đi là không trở về” như hình mẫu những tráng sĩ anh hùng trong truyện cổ mà họ từng ôm ấp.
+ Cái “tráng” lại được luồng gió yêu nước của thời anh hùng rực lừa của thời bấy giờ thôi vào nên lại càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là “bài thơ này đã được khí phách của cá một thời đại ùa vào, chắp cánh” (Hoài Thanh) để cho cái chất bi tráng ấy bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời thơ.
=> Như vậy, cam hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gẳn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng hưởng với nhau để làm nên linh hồn, sác diện của bài thơ và tạo nên vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm.
b. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng được thể hiện trong bài thơ như thế nào?
– Cảm hứng lãng mạn thể hiện cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và phát huy cao độ trí tưởng tượng. Cái tôi cùa Quang Dũng trong Tây Tiến là một cái tôi như thế.
+ Nó trào ra ngay đầu bài thơ, đầy ắp và mãnh liệt trong một nồi ‘”nhớ chơi vơi” rất lạ, đểrồi sau đó tuôn chày ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ.
+ Cái tôi ấy có mặt ở khẳp nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cảnh chiến trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình, thơ mộng, đến một hội đuốc hoa đầy sắc màu của xứ lạ phương xa; từ nỗi nhớ một bản làng Mai Châu “cơm lên khói” đến một Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm thật hào hoa lãng mạn.
+ Nhà thơ đã tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ. dữ dội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ bằng cách sử dụng thủ pháp đối lập.
+ Trí tường tượng bay bồng khiến cho thi nhân hình dung ra một “đêm hơi”, càm nhận được cái oai linh của Thần Núi. thấy được “hồn lau nẻo bến bờ” và nghe được cá tiếng Sông Mã gầm lên khúc độc hành…
– Tinh thần bi tráng thể hiện ở chỗ nhà thơ không lẩn tránh cái bi, thường đề cập đến cái chết, nhưng đó không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, lẫm liệt của người chiến sì đi vào cõi bất tử.
+ Bài thơ ba lần nói đến cái chết, cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất có lẽ là cái chết sang trọng này:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
+ Sang trọng vì được bọc trong những tấm chiến bào, được về với đất mẹ, và nhất là được thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để đưa tiễn hương hồn người chiến sĩ. Ở đây thủ pháp cường điệu đã đẩy chất bi tráng lên đến đinh cao của nó.
– Chất bi tráng làm nên sắc diện của bài thơ, có mặt trong tác phẩm, nhưng nổi rõ và in đậm dấu nhất ở đoạn thơ thứ ba khi Quang Dũng miêu tả chân dung người lính Tây Tiến, đồng đội của ông, trong các cặp hình ảnh đối lập: giữa ngoại hình tiều tụy với thần thái “dữ oai hùm”, giữa Mắt trừng gửi mộng qua biên giới với Đém mơ Hà Nội dáng kiều thơm, và nhất là hình ảnh của cái chết Rải rác biên cương mồ viễn xứ với lí tường đánh giặc thanh thản đến lạ lùng của người chiến sĩ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Một tư thế ra đi như thế thì cái chết còn có nghĩa lí gì đối với họ?
|
Suggest
– Briefly introduce the author and work.
– Lead and quote opinions.
+ There are poems that have lived a life full of ups and downs and are quite arduous, but in the end they still shape the hearts of readers and affirm their true value in poetry. Tay Tien by Quang Dung is such a work.
+ The poem is remembered as a beautiful memory of the resistance war because it is a poem full of romantic inspiration and the tragic spirit of an unforgettable, fiery heroic time.
Romantic inspiration and tragic spirit are the unique features that cover the poem, creating the unique beauty of Tay Tien. But where does that come from and how is it expressed in the poem?
a. Explanation of the romantic feeling and tragic spirit of the poem Tay Tien.
– Here there is a meeting between the poet's soul, the lyrical character in the work, the fiery heroic period in the early stages of the resistance against the French and the fierce Western battlefield. fierce but also very poetic, except for love. All four of the above factors seem to have converged intensely and passionately in Quang Dung's nostalgia to overflow with romantic inspiration and a tragic spirit in the "ecstatic" moment of giving birth to his "proud first child." flower and robust” Tay Tien.
– Quang Dung is a proud and romantic poet. Tay Tien soldiers are also like that. Most of them are from Hanoi, imbued with the pomp and romance of the capital's boys.
+ The scene of the Tay Tien battlefield is intense and fierce but very poetic and lyrical. The march of Tay Tien soldiers to fight the enemy is even more beautiful in the romantic style of the brave soldiers "swinging their swords into the battlefield" at that time.
+ The soul of romantic poetry Quang Dung encountered a "romantic" poetic land, surrounded by a romantic "poetry sky", how could he not overflow with soaring romantic inspiration in this poem?
– Where does the tragic spirit come from? The Tay Tien battlefield was fierce and desolate. many wild animals, forest malaria caused many deaths, many soldiers fell on the march:
+ That is the tragedy, the fierce reality of the war. Quang Dung does not avoid tragedy, but gives tragedy color and tone that is magnificent, heroic and tragic.
+ It is thanks to the poet's very strong "strength" that he was able to overcome and overcome the "trauma". This "strongman" belongs to Quang Dung and a whole class of young men like him at that time, carrying in their hearts a warm blood of "determination to live for the Fatherland", "once you leave, you will not return" like the role models of the people. The heroes and heroes in ancient stories that they once embraced.
+ The "strong man" was inspired by the patriotic wind of that time, making it even more heroic and brilliant. It is true that "this poem has been filled with the spirit of an era and given wings" (Hoai Thanh) to let that tragic quality soar like a rare beauty of a poetic era.
=> Thus, romantic inspiration and tragic spirit are always intertwined, support each other, and resonate with each other to create the soul and face of the poem and create the unique beauty of the work.
b. How is the romantic inspiration and tragic spirit expressed in the poem?
– Romantic inspiration shows the ego full of feelings, emotions and highly promotes imagination. Quang Dung's ego in Tay Tien is such an ego.
+ It gushes out right at the beginning of the poem, full and intense in a very strange pot of "remembering and playing", and then flows like a stream throughout the poem.
+ That ego is present everywhere, deposited in every place, from the rugged, wild battlefield scene to the peaceful, poetic river scene, to a colorful flower torch festival of a foreign land far away; From nostalgia for a Mai Chau village with "rice rising in smoke" to a romantic and fragrant Hanoi Dream Night.
+ The poet highlighted the extraordinary, creating a strong impression of grandeur. fierce and poetic, beautiful by using opposing techniques.
+ The floating imagination makes the poet imagine a "steamy night", feeling the majesty of the Mountain God. I can see the "soul of reeds on the shore" and hear the sound of the Ma River roaring its solo song...
- The spirit of tragedy is shown in the fact that the poet does not avoid tragedy, often mentioning death, but it is not a tragic death but the heroic, heroic death of a warrior entering immortality. death.
+ The poem mentions death three times. Every death is beautiful, but the most beautiful is probably this luxurious death:
His robe replaced his mat and brought him back to earth
Ma River roars its solo song.
+ Luxurious because of being wrapped in war clothes, returning to the motherland, and especially having nature play fierce and majestic music to send off the soldier's soul. Here the method of exaggeration has pushed the melodrama to its highest peak.
– The tragic quality that makes up the face of the poem is present in the work, but is most clearly and boldly imprinted in the third verse when Quang Dung describes the portrait of the Tay Tien soldier, his comrade, in the poems. pair of contrasting images: between the haggard appearance and the "fierce tiger" charisma, between Staring Eyes that Send Dreams Across the Border and Dem Dreaming of Hanoi with the fragrant appearance, and especially the image of death, scattered across the border and graves. Far away from the land with the strangely peaceful intention of fighting the enemy of a soldier on the battlefield, he does not regret his life. With a passing posture like that, what meaning does death have for them?
|
Bài làm
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc. Mảnh đất nơi xứ thiêng đã khơi nguồn và thăng hoa lưu dấu tên tuổi của những nhà văn, nhà thơ. Nếu như Chế Lan Viên trở về Tây Bắc là tìm về ngọn nguồn của ơn nghĩa và khơi nguồn thơ ca, thì với Tô Hoài lên Tây Bắc là buông dòng cảm xúc trên ngòi bút trong tập Truyện Tây Bắc. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ được trích từ tập Truyện Tây Bắc (1953). Tập truyện này đã từng được nhận Giải Nhất giải thường của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955). Vợ chồng A Phủ là một thành công nghệ thuật xuất sắc của Tô Hoài sau cách mạng, là thành tựu của văn học kháng chống Pháp, đồng thời là tác phẩm tiêu biểu về đề tài miền núi.
Trước cách mạng Tô Hoài cũng đã từng viết về đề tài miền núi nhưng chưa thành công và chỉ từ sau chuyến đi thực tế Tây Bắc nhà văn mới thật sự khẳng định mình là một trong những cây bút xuất sắc viết về đề tài miền núi. Chính vì vậy truyện ngắn Vợ chồng A Phủ còn là kết quả của sự chuyển biến về tư tưởng, về độ chín muồi của nhà văn khi viết về miền núi.
Vợ chồng A Phủ viết về sự đổi đời của đôi vợ chồng người H’mông từ thung lũng đau thương ra cảnh đồng vui từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân cuộc đời mới.
ổi bật lên trong tác phẩm là hai hình tượng nhân vật Mị và A Phủ, qua hai nhân vật này người đọc thấy được giá trị hiện thực của ngòi bút Tô Hoài.
Vợ chồng A Phủ là bức tranh xã hội miền núi sau Cách mạng tháng Tám. Ngòi bút của Tô Hoài khá toàn diện khi tác giả phản ánh cả bộ mặt giai cấp thống trị và đời sống nhân dân lao động bị áp bức. Cha con nhà thống lí Pá Tra là hiện thân của tội ác giai cấp thống trị miền núi.
Chung duy trì chế độ lãnh đạo thổ ty chế độ chúa đất từ thời trung cổ vô cùng tàn bạo. Trong chế độ ấy giai cấp thống trị có quyền chiếm đoạt ruộng đất bóc lột sức lao động, đánh đập hành hạ, thậm chí giết những người bị chúng biến thành nô lệ. Chỉ cần nhìn vào cảnh xử kiện, đánh đòn phạt vạ A Phủ cũng đủ thấy sự tham lam tàn bạo của những tên chúa đất miền núi. Và cũng chỉ cần nhìn vào cảnh A Sử trói Mị một cách lạnh lùng tàn nhẫn cũng đủ thấy sự vô lương tâm đến mất hết tính người cùa giai cấp thống trị.
Khi A Sử biết Mị định đi chơi hắn đã lấy cả một thúng sợi đay trói đứng Mị vào cột. Trói xong Mị, A Sử thản nhiên lấy chiếc thắt lưng xanh thắt ra ngoài áo, thản nhiên tắt đèn, thản nhiên khép cửa lại thật lạnh lùng không suy nghĩ. Tính mạng con người trong nhà thống lí Pá Tra rẻ mạt đến thế là cùng.
Bên cạnh sự tàn bạo về cường quyền giai cấp thống trị còn duy trì sự tàn bạo của thần quyền, hủ tục trình ma đã tước đi cả sự sống những khát vọng giải thoát ở những con người lao động bị áp bức. Bằng việc miêu tả cái bóng ma vô hình của giai cấp thống trị cột chặt chế độ nô lệ của những người lao động trong ngục tù của cường quyền và thần quyền. Giá trị hiện thực cơ bản của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là sự phản ánh toàn diện sâu sắc đời sống người dân lao động bị áp bức qua hai nhân vật chính Mị và A Phủ.
Bức tranh về đời sống tăm tối đến nghẹt thở của người dân lao động được phản ánh qua số phận Mị và A Phủ trong thời gian ở Hồng Ngài.
Mị vốn là một cô gái H’mông xinh đẹp, nết na, Mị có tài thổi sáo, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Cô như bông hoa rừng ngát hương làm say đắm bao chàng trai nhưng chì vì một món nợ truyền kiếp Mị trở thành dâu gạt nợ trong nhà thống lí Pá Tra. Cô bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn trở thành con trâu con ngựa trong nhà thống lí. Thậm chí còn khổ hơn cả kiếp đời trầu, ngựa. Vì con trâu con ngựa làm còn có lúc đêm đến nó còn được đứng nhai cỏ hoặc gãi chân chứ đời người đàn bà con gái trong nhà thống lí thì làm việc không kể ngày đêm. Không những bị bóc lột sức lao động, Mị còn bị đánh đập hành hạ thật tàn nhẫn ngày tết Mị không được đi chơi còn bị A Sừ trói đứng trong buồng tối.
Cùng với sự đày đọa về thể xác Mị còn bị chà đạp về tinh thần. Bị áp bức quá nặng nề người con gái giàu sức sống khi nào giờ đây trở thành người phụ nữ cam chịu. Dưới ngòi bút của Tô Hoài căn buồng Mị ở được miêu tả như một ngục thất nó làm Mị mất khái niệm về thời gian, không gian. Mị suốt ngày lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở lâu trong cái khổ Mị đã quen rồi, Mị tưởng mình là con trâu con ngựa trong nhà thống lí, Mị trờ thành công cụ lao động biết nói mà không dám nói.
Cũng giống như Mị, A Phủ mang số phận của một nông nô miền núi. A Phủ vốn là một chàng trai mồ côi tuy khỏe mạnh nhưng nghèo nên không lấy được vợ. A Phủ vốn là chàng trai của núi rừng tự do không chỉ khỏe chạy nhanh như ngựa mà còn có tài săn bán, biết đúc lưỡi cày, lưỡi cuốc, bẫy hổ săn bò tót rất bạo. Chỉ vì A Phủ đánh con quan để bảo vệ cuộc vui xuân của trai bản mà A Phủ bị bắt về đánh phạt vạ. A Phủ bị hành hạ một cách nhục hình cởi trần quỳ để chịu đòn, trong khi bọn thống trị ăn chơi phè phỡn. Vì không có tiền nộp phạt A Phủ đã bị biến thành kẻ đi ở không công với lời nguyền độc địa của thống lí Pá Tra lúc trình ma: Đời mày, đời con mày tao cũng hắt thế nếu không trà hết nợ. Cũng như Mị, A Phủ bị cường quyền, thần quyền tước đoạt đi cả sức sống. Một chàng trai như A Phủ mà tự đi đào lỗ chôn cọc, tự đi lấy dây trói, lấy cọc về để thống lí Pá Tra trói mình để đợi ngày chết khô chết héo thật đúng là tính mạng con người vô cùng rẻ mạt, A Phủ trở thành vật thế mạng cho con bò đã bị hổ ăn thịt.
Có thể nói Mị và A Phủ là hiện thân những đau khổ của người dân miền núi trước cách mạng và qua sổ phận họ là bức tranh về đời sống tăm tối đến nghẹt thở của nhiều người lao động bị áp bức.
Qua số phận Mị và A Phủ từ khi trốn khỏi Hồng Ngài đến Phiềng Sa, nhà văn đã phản ánh quá trình đẩu tranh từ tự phát đến tự giác của người dân miền núi. Lúc đầu Mị và A Phủ chạy trốn cái chết nhưng sau đó lại đến với cách mạng, ở Vợ chồng A Phủ Tô Hoài còn phản ánh một hiện thực cơ bản nữa trong xã hội hiện thực lúc bấy giờ. Đó là sự vùng lên đấu tranh, là nguyện vọng hướng tới cách mạng của người dân lao động nghèo khổ.
|
Assignment
Northwest? There is only the Northwest. The sacred land has inspired and sublimated the names of writers and poets. If Che Lan Vien's return to the Northwest is to find the source of gratitude and poetry, then for To Hoai to return to the Northwest is to let go of his emotions on his pen in the collection Northwest Stories. The short story A Phu and his wife is excerpted from the collection Tales of the Northwest (1953). This collection of stories once received the First Prize of the Vietnam Arts Association (1954 - 1955). A Phu and His Wife is an outstanding artistic success of To Hoai after the revolution, an achievement of anti-French resistance literature, and a typical work on the theme of mountainous areas.
Before the revolution, To Hoai also wrote about mountainous topics but was not successful, and only after the field trip to the Northwest did the writer truly assert himself as one of the outstanding writers writing on mountainous topics. . Therefore, the short story A Phu and his wife is also the result of a change in ideology and maturity of the writer when writing about the mountains.
A Phu and his wife write about the change of life of a Hmong couple from the valley of pain to the fields of joy, from being slaves to becoming masters of a new life.
What appears in the work are the two characters Mi and A Phu. Through these two characters, readers can see the realistic value of To Hoai's writing.
A Phu and his wife are a picture of mountainous society after the August Revolution. To Hoai's pen is quite comprehensive as the author reflects both the face of the ruling class and the lives of oppressed working people. The father and son of the Pa Tra governor are the embodiment of the crimes of the ruling class in the mountains.
Chung maintained the extremely brutal medieval regime of land lord leadership. In that regime, the ruling class has the right to appropriate land to exploit labor, beat and torture, and even kill those they turn into slaves. Just looking at the scene of the lawsuit and punishment of A Phu is enough to see the brutal greed of the mountainous land lords. And just looking at the scene of A Su coldly and cruelly tying up Mi is enough to see the unscrupulousness of the ruling class.
When A Su knew that Mi was planning to go out, he took a basket of jute and tied her to a pole. After tying up Mi, A Su calmly took the green belt and tied it over his shirt, calmly turned off the light, calmly closed the door, coldly without thinking. Human life in the Pa Tra governor's house is so cheap.
In addition to the brutality of the power of the ruling class, it also maintains the brutality of theocracy and the custom of submitting ghosts, which has deprived the oppressed of working people of their aspirations for liberation. By depicting the invisible specter of the ruling class that enslaves workers in the prison of power and theocracy. The basic realistic value of the short story A Phu and his wife is a comprehensive and profound reflection of the lives of oppressed working people through the two main characters Mi and A Phu.
The picture of the breathtakingly dark life of working people is reflected in the fate of Mi and A Phu during their time in Hong Ngai.
I was originally a beautiful, modest H'mong girl. I was talented at playing the flute, and blowing leaves as well as playing the flute. She is like a fragrant forest flower that captivates many men, but because of a life-long debt, she becomes a debt-getting daughter-in-law in the house of governor Pa Tra. She was brutally exploited and became a buffalo and horse in the governor's house. Even more miserable than the life of betel and horses. Because the buffalo and horse work, sometimes at night they can stand and chew grass or scratch their feet, but in the life of the women and girls in the governor's house, they work day and night. Not only was she exploited for her labor, she was also brutally beaten and tortured during Tet. She was not allowed to go out and was tied up in a dark room by A Su.
Along with the physical torture, Mi was also mentally trampled. Having been so heavily oppressed, the vibrant girl has now become a resigned woman. Under To Hoai's pen, the room in which I lived was described as a prison, which made me lose the concept of time and space. I retreat all day like a turtle kept in a corner. Having lived in misery for so long, I got used to it. I thought I was a buffalo and a horse in the governor's house. I became a working tool that could talk but didn't dare to speak.
Just like Mi, A Phu had the fate of a serf in the mountains. A Phu was originally an orphan who was healthy but poor so he could not get a wife. A Phu was originally a young man from the free mountains and forests. Not only was he strong and ran as fast as a horse, but he also had the talent to hunt and sell, knowing how to cast plowshares, hoe blades, tiger traps, and hunt bulls very fiercely. Just because A Phu beat the mandarin to protect the village boys' spring fun, A Phu was arrested and punished. A Phu was subjected to humiliating torture and he knelt naked to receive blows, while the rulers enjoyed themselves and had fun. Because he didn't have money to pay the fine, A Phu was turned into a homeless person with the cruel curse of Governor Pa Tra when he presented the ghost: Your life and your children's lives will be the same if you don't pay off all the debt. Like Mi, A Phu was stripped of all vitality by the power and theocracy. A guy like A Phu who digs his own hole to bury the stake, gets his own rope, takes the stake back so that Pa Tra can tie him up and wait for the day he dies wither, is truly a very cheap human life, A The palace became a substitute for the cow that was eaten by the tiger.
It can be said that Mi and A Phu embody the suffering of mountain people before the revolution and through their fate is a picture of the suffocatingly dark life of many oppressed workers.
Through the fate of Mi and A Phu after escaping from Hong Ngai to Phieng Sa, the writer reflected the process of fighting from spontaneity to self-awareness of the mountain people. At first Mi and A Phu ran away from death but then came to revolution. A Phu To Hoai and his wife also reflected another basic reality in real society at that time. It is the uprising and struggle, the aspiration towards revolution of the poor working people.
|
Bài làm
Văn học bao giờ cũng thể hiện và bám sát tình hình thay đổi của đất nước, nó phản ánh từng giai đoạn thăng trầm của lịch sử dân tộc. Giai đoạn 1954 – 1965, đất nước ta đang sôi nổi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, chính bởi vậy mà các tác phẩm văn học thời kì này thể hiện sâu sắc bước chân của người lao động trong hành trình mới từ bóng tối đi ra ánh sáng, con đường giác ngộ của nhân dân lao động và cách mạng, về Đảng. Tiêu biểu cho chủ đề ấy chính là những khuynh hướng khai thác hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phù đều là những tác phẩm viết về số phận người dân lao động với khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn. Hai tác phẩm có nét giống và khác nhau gì trong phương diện thể hiện?
Mỗi tác phẩm đều có cách thể hiện qua cái nhìn riêng tư và bối cảnh câu chuyện khác nhau, tuy nhiên cả hai tác phẩm đều đề cập đến vấn đề chung là đổi đời của nhân dân về cách mạng. Mỗi cặp vợ chồng trong một tác phẩm đều thể hiện tình yêu quê hương đất nước và khát vọng sổng bang các cách khác nhau. Mị và A Phủ trong Vợ chồng A Phủ khi lên đến Phiềng Sa thì đã đứng lên cùng với người dân quê hương giải phóng cuộc đời, xây dựng quê hương yên ấm. Còn vợ chồng Tràng trong Vợ nhặt thì trong chi tiết cuối truyện khi ăn ngồi trong bữa ăn ngày đói đã hình dung về đoàn người đi phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo, đó cũng chính là tư tưởng giải phóng nhen nhóm trong đầu những người dân có số phận nghèo khổ.
Một nội dung thống nhất được cả hai tác giả hướng tới xuyên suốt cả câu chuyện đó chính là sự ý thức về thân phận người lao động vô cùng cực khổ và không hạnh phúc. Một bên là số phận bị bủa vây bởi nạn đói và ám ảnh bởi cái chết đói, còn một bên số phận cực nhục như trâu như ngựa cho nhà thống lí Pá Tra. Song tất cả họ đều hướng đến cách mạng và cách mạng đã giải phóng cho cuộc đời họ.
|
Assignment
Literature always expresses and closely follows the changing situation of the country, it reflects each ups and downs of the nation's history. During the period 1954 - 1965, our country was vibrant in the process of building socialism, that's why the literary works of this period deeply expressed the footsteps of workers in the new journey from darkness. darkness to light, the path of enlightenment of the working and revolutionary people, to the Party. Typical of that theme are the trends of exploiting reality in the works The Picked Wife by Kim Lan and The A Phu Couple by To Hoai.
Kim Lan's Picked Wife and A Phu Couple are both works written about the fate of working people with aspirations and spiritual beauty. What are the similarities and differences between the two works in terms of expression?
Each work has a different way of expressing itself through a personal perspective and story context, however both works address the common issue of changing people's lives through revolution. Each couple in a work expresses their love for their homeland and their desire to survive in different ways. Mi and A Phu in A Phu and his wife, when they arrived in Phieng Sa, stood up with the people of their homeland to liberate their lives and build a peaceful homeland. As for Trang and his wife in The Picked Wife, in the last detail of the story, when sitting at a meal on a hungry day, they imagined a group of people going to destroy Japanese grain warehouses to give to the poor. That was also the thought of liberation that sparked in the minds of the people. people have a poor fate.
A unified content that both authors aim for throughout the story is the awareness of the extremely miserable and unhappy condition of workers. On one side is the fate of being surrounded by famine and haunted by starvation, and on the other side is the fate of extreme humiliation like buffalo and horse for the governor Pa Tra. But they all aimed for revolution and the revolution liberated their lives.
|
Bài làm
Dòng thời gian luôn âm thầm và lặng lẽ trôi – nó như một cung đàn bật lên những âm thanh xô bồ và thanh thoát bởi vậy mà đại thi hào Nguyễn Du viết: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Nỗi niềm ấy đâu phải chỉ riêng Nguyễn Du, đâu chỉ riêng Truyện Kiều mà là mối quan tâm thường trực của những người nghệ sĩ chân chính của những tác phẩm văn chương chân chính. Bởi văn học sẽ không là cái gì cả nếu như nó không vì con người. Người nghệ sĩ đích thực bao giờ cũng là nhà nhân đạo từ trong cốt truyện. Họ mang mối quan tâm thường trực vì người cho nên họ xem việc lên án cái xấu cái ác là nghĩa vụ của người cầm bút. Tô Hoài với Vợ chồng A Phủ, Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa đã đạt tới điều đó.
Văn chương chân chính là văn chương vì người, phục vụ người, văn chương ấy, ra đời trong những buồn vui cùa loài người và sẽ ở lại với loài người cho đến ngày tận thế (Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh). Văn chương ấy phải mang giá trị nhân đạo sâu sắc bởi nhà văn cũng chính là nhà nhân đạo. Những cây bút chân chính bao giờ cũng sáng tác dưới ánh sáng của tình cảm nhân đạo ấy. Thạch Lam từng giãi bày: Đối với tôi, văn chương không phải là mang đến sự thoát li hay sự lãng quên. Nó là thứ khí giới thanh cao và đắc lực để tố cáo một xã hội giả dối và tàn ác làm cho lòng người thêm xanh sạch. Còn Nam Cao lại đưa ra quan điểm một tác phẩm văn học có giá trị: phủi vượt lẽn mọi bờ cõi và giới hạn, nó ca ngợi tình thương, bác ái, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn. Bên cạnh việc phát hiện khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người, văn chương cần phải chỉ ra, lên án cái ác, cái xấu. Bởi vì trong muôn mặt của đời sống cái ác cái xấu là điều mà dẫu chúng ta không thích nó vẫn luôn tồn tại.
Hành trình rộng dài của văn học cũng chính là hành trình miệt mài của người nghệ sĩ đấu tranh với cái xấu cái ác. Tô Hoài với Vợ chồng A Phủ, Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa là những nhà văn chân chính đã nói lên tiếng nhân đạo của mình trong việc lên án cái ác cái xẩu qua những hình tượng nghệ thuật sống động: A Sử và lão đàn ông.
A Sử là con đẻ của chế độ phong kiến chúa đất ở miền núi Tây Bắc. Quyền lực của kẻ thống trị nơi rẻo cao đã mang đến cho hắn vị thế của một thiên tử bởi điều đơn giản thống lí Pá Tra mang uy lực của ông trời con nhà Pá Tra giàu, Tây lại cho nhiều muối về bán. Đó chính là ấn tượng của người đọc về gia đình thống lí cường quyền ắt sẽ dẫn đến tiền quyền. Dễ hiểu vì sao biết bao cô gái Mèo nhà lành đã phải nuốt nước mắt sợ A Sử khi hắn bộc lộ ý định: cho tôi đứa con gái này, còn tiền thì bố tôi bảo đã… rồi. Mị người con gái xinh đẹp, hiếu thảo, cô tâm hồn mộng mơ, ấp ủ một tình yêu đẹp đã bước chân về nhà thống lí Pá Tra trong cảnh ngộ ấy, khi mà cha mẹ Mị vay tiền của nhà thống lí khi họ lấy nhau và cuộc hôn nhân của cô mới có thể xóa đi món nợ truyền kiếp ấy mà thôi. Nhân danh người chồng, A Sử đã chà đạp cuộc đời Mị, biến Mị thành bông hoa ban tinh khiết của núi rừng Tây Bắc thành con trâu con ngựa, con rùa lầm lũi trong xó cửa. Người đọc xót xa biết bao trước cảnh Mị đang bồi hồi rạo rực chuẩn bị đi chơi xuân, bị A Sử trói đứng vào cột nhà bàng thúng dây đay; A Sử dùng chân đạp vào mặt Mị để cô gã dúi mặt vào bếp lửa.
Mang uy lực của kẻ thống trị, A Sử đã hủy diệt biết bao cuộc đời. Từ một chàng trai khỏe mạnh, tài giỏi, chỉ vì không chấp nhận thói hung hãng của A Sừ, A Phủ đã biến thành thân trâu ngựa cho nhà thống lí. Cuộc đụng độ của trai làng đã mang đến cho A Phủ cái tội tày đình: Mày đánh con quan làng lẽ ra mày phải chết nhưng làng tha cho mày được sống mà trả nợ. Cuộc xử kiện diễn ra ngay tại nhà thống lí trong khói thuốc phiện mà ở đó nguyên đơn cũng chính là quan tòa thì làm gì có công lí. Kết cục là chàng trai vì một lẽ công bằng tự do đã bị đánh, phải tự đào hố chôn cột, tự lấy dây mây cho người ta trói lên chân mình rồi lê chân đau mổ lợn cho cả làng phạt vạ mình; mở đầu cho chuỗi ngày ở đó cơ cực chỉ vì để hổ vồ mất một con bò, A Phủ đã bị trói đứng để chờ cái chết trong nhà thống lí, đã có biết bao kiếp người phải chịu nhục hình oan khuất như thế. Khi Mị cắt sợi dây mây cởi trói cho A Phủ và cùng chạy trốn cũng là lúc những người khốn khổ đã tạo thành liên minh để chống lại kẻ thù chung. Sức mạnh của lòng khao khát tự do đã đưa những người khốn khổ tìm đến với cách mạng. Điều đó đồng nghĩa với việc cái áo của kẻ thống trị như A Sử đã lùi vào kí ức.
Xây dựng hình tượng nhân vật A Sử, nhân vật tố cáo tội ác phong kiến của chúa đất miền núi Tây Bắc.
Nguyễn Minh Châu là cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ ngòi bút của ông mang tính sử thi – lãng mạn.
Từ sau 1980 ông đã trở thành một trong những cây bút tiên phong của thời kì đổi mới, từng được đánh giá là người mở đường tinh anh của văn học nước ta hiện nay (Nguyên Ngọc). Với tâm niệm nhà văn viết văn đứng trước pháp trường trắng, viết văn là đi tìm hạt ngọc ẩn giấu bén trong tâm hồn người, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu hướng về những cá nhân với cảm hứng đời tư, thế sự. Để rồi những trang văn của ông, người đọc nhận ra rằng: cuộc chiến đấu vì nhân cách và phẩm giá người luôn là cuộc chiến cam go và chưa có hồi kết dù chúng ta đã thắng lợi vẻ vang trong chiến tranh giành lại độc lập. Chiếc thuyền ngoài xa được viết sau Vợ chồng A Phủ hơn ba mươi năm. Ở tác phẩm, gương mặt của cái ác hiện lên qua hình ảnh lão đàn ông làng chài.
Hình ảnh gã đàn ông xuất hiện lần đầu trong một tình huống đặc biệt, qua sự cảm nhận của Phùng, nhân vật ít nhiều mang bóng dáng của chính tác giả. Theo yêu cầu của tác phẩm Phùng đến vùng biển, vốn là chiến trường trước đây anh đã từng chiến đấu để chụp tấm ảnh đưa vào bộ lịch với chủ đề “thuyền và biển”. Sau một tuần phục kích, anh đã chụp được một cảnh đắt trời cho, đó là cảnh chiếc thuyền đẹp như mơ ẩn hiện trong màu hồng của sương mai. Không khí hạnh phúc của người nghệ sĩ sáng tạo đã tới chân lí của nghệ thuật ấy là khi anh tự hỏi: hình như ai đó đã nói rằng cái đẹp chính là đạo đức. Ấy vậy mà khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ, Phùng đã phải đối mặt với một sự thật cuộc đời đau lòng: tấm thảm kịch gia đình làng chài mà diễn viên và đạo diễn không ai khác chính là người chồng – người cha của gia đình này.
Lão đàn ông làng chài với mái tóc rối bù tổ quạ, cái lưng cong như mui thuyền, những vết chân in trên cát… tất cả toát lên một vẻ hoang sơ, dữ dàn. Lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc dây lưng của lính ngụy vụt tới tấp lên người đàn bà, người vợ của mình. Lão vừa vụt vừa rít lên đầy đau khổ: Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ. Và cũng chính lão chõ lên thuyền như quát: cứ ngồi nguyên đấy động đậy tao giết cả mày đi bây giờ. Tất cả những hành động của lão diễn ra trước con mắt của Phùng. Phẩm chất người lính không chấp nhận bất công ngang trái trong anh đã khiến Phùng lao đến cứu người đàn bà trong tâm thế của người lính cửu nạn. Lần thứ hai, chiếc thuyền lưới vó xuất hiện và tất cả lại diễn ra y như lần trước chỉ có điều, nếu lần trước đứa con trai giằng được chiếc thắt lưng của lão, sau khi chịu đựng hai cái tát thì lần này cậu bé đã thủ sẵn một con dao găm giấu trong cặp quần. Rất may đứa chị gái đã tước lại được con dao. Phùng đã đánh nhau với gã đàn ông làng chài và bị thương nhẹ. Tại chính mảnh đất này, Phùng và đồng đội chiến đấu để giữ gìn từ tay kẻ thù anh đã đổ máu bởi chính những người mà trước đây anh bảo vệ.
Có ai ngờ rằng vùng đầm phá yên tĩnh đến hoang sơ như nơi chốn bị bỏ quên của đất nước lại mang trong nó một sự thật tàn khốc đến như vậy. Không ai khác lão đàn ông là hiện thân của cái ác và nạn nhân không ai khác chính là người vợ, con của lão. Người đàn bà hàng chài âm thầm chịu đựng những trận đòn của chồng và chỉ xin một đặc ân chồng đưa mình lên bờ mà đánh. Những đứa con hằng ngày chứng kiến cảnh bố đánh mẹ đã bị tổn thương nặng nề.
|
Bài làm
Dòng thời gian luôn âm thầm và lặng lẽ trôi – nó như một cung đàn bật lên những âm thanh xô bồ và thanh thoát bởi vậy mà đại thi hào Nguyễn Du viết: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Nỗi niềm ấy đâu phải chỉ riêng Nguyễn Du, đâu chỉ riêng Truyện Kiều mà là mối quan tâm thường trực của những người nghệ sĩ chân chính của những tác phẩm văn chương chân chính. Bởi văn học sẽ không là cái gì cả nếu như nó không vì con người. Người nghệ sĩ đích thực bao giờ cũng là nhà nhân đạo từ trong cốt truyện. Họ mang mối quan tâm thường trực vì người cho nên họ xem việc lên án cái xấu cái ác là nghĩa vụ của người cầm bút. Tô Hoài với Vợ chồng A Phủ, Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa đã đạt tới điều đó.
Văn chương chân chính là văn chương vì người, phục vụ người, văn chương ấy, ra đời trong những buồn vui cùa loài người và sẽ ở lại với loài người cho đến ngày tận thế (Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh). Văn chương ấy phải mang giá trị nhân đạo sâu sắc bởi nhà văn cũng chính là nhà nhân đạo. Những cây bút chân chính bao giờ cũng sáng tác dưới ánh sáng của tình cảm nhân đạo ấy. Thạch Lam từng giãi bày: Đối với tôi, văn chương không phải là mang đến sự thoát li hay sự lãng quên. Nó là thứ khí giới thanh cao và đắc lực để tố cáo một xã hội giả dối và tàn ác làm cho lòng người thêm xanh sạch. Còn Nam Cao lại đưa ra quan điểm một tác phẩm văn học có giá trị: phủi vượt lẽn mọi bờ cõi và giới hạn, nó ca ngợi tình thương, bác ái, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn. Bên cạnh việc phát hiện khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người, văn chương cần phải chỉ ra, lên án cái ác, cái xấu. Bởi vì trong muôn mặt của đời sống cái ác cái xấu là điều mà dẫu chúng ta không thích nó vẫn luôn tồn tại.
Hành trình rộng dài của văn học cũng chính là hành trình miệt mài của người nghệ sĩ đấu tranh với cái xấu cái ác. Tô Hoài với Vợ chồng A Phủ, Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa là những nhà văn chân chính đã nói lên tiếng nhân đạo của mình trong việc lên án cái ác cái xẩu qua những hình tượng nghệ thuật sống động: A Sử và lão đàn ông.
A Sử là con đẻ của chế độ phong kiến chúa đất ở miền núi Tây Bắc. Quyền lực của kẻ thống trị nơi rẻo cao đã mang đến cho hắn vị thế của một thiên tử bởi điều đơn giản thống lí Pá Tra mang uy lực của ông trời con nhà Pá Tra giàu, Tây lại cho nhiều muối về bán. Đó chính là ấn tượng của người đọc về gia đình thống lí cường quyền ắt sẽ dẫn đến tiền quyền. Dễ hiểu vì sao biết bao cô gái Mèo nhà lành đã phải nuốt nước mắt sợ A Sử khi hắn bộc lộ ý định: cho tôi đứa con gái này, còn tiền thì bố tôi bảo đã… rồi. Mị người con gái xinh đẹp, hiếu thảo, cô tâm hồn mộng mơ, ấp ủ một tình yêu đẹp đã bước chân về nhà thống lí Pá Tra trong cảnh ngộ ấy, khi mà cha mẹ Mị vay tiền của nhà thống lí khi họ lấy nhau và cuộc hôn nhân của cô mới có thể xóa đi món nợ truyền kiếp ấy mà thôi. Nhân danh người chồng, A Sử đã chà đạp cuộc đời Mị, biến Mị thành bông hoa ban tinh khiết của núi rừng Tây Bắc thành con trâu con ngựa, con rùa lầm lũi trong xó cửa. Người đọc xót xa biết bao trước cảnh Mị đang bồi hồi rạo rực chuẩn bị đi chơi xuân, bị A Sử trói đứng vào cột nhà bàng thúng dây đay; A Sử dùng chân đạp vào mặt Mị để cô gã dúi mặt vào bếp lửa.
Mang uy lực của kẻ thống trị, A Sử đã hủy diệt biết bao cuộc đời. Từ một chàng trai khỏe mạnh, tài giỏi, chỉ vì không chấp nhận thói hung hãng của A Sừ, A Phủ đã biến thành thân trâu ngựa cho nhà thống lí. Cuộc đụng độ của trai làng đã mang đến cho A Phủ cái tội tày đình: Mày đánh con quan làng lẽ ra mày phải chết nhưng làng tha cho mày được sống mà trả nợ. Cuộc xử kiện diễn ra ngay tại nhà thống lí trong khói thuốc phiện mà ở đó nguyên đơn cũng chính là quan tòa thì làm gì có công lí. Kết cục là chàng trai vì một lẽ công bằng tự do đã bị đánh, phải tự đào hố chôn cột, tự lấy dây mây cho người ta trói lên chân mình rồi lê chân đau mổ lợn cho cả làng phạt vạ mình; mở đầu cho chuỗi ngày ở đó cơ cực chỉ vì để hổ vồ mất một con bò, A Phủ đã bị trói đứng để chờ cái chết trong nhà thống lí, đã có biết bao kiếp người phải chịu nhục hình oan khuất như thế. Khi Mị cắt sợi dây mây cởi trói cho A Phủ và cùng chạy trốn cũng là lúc những người khốn khổ đã tạo thành liên minh để chống lại kẻ thù chung. Sức mạnh của lòng khao khát tự do đã đưa những người khốn khổ tìm đến với cách mạng. Điều đó đồng nghĩa với việc cái áo của kẻ thống trị như A Sử đã lùi vào kí ức.
Xây dựng hình tượng nhân vật A Sử, nhân vật tố cáo tội ác phong kiến của chúa đất miền núi Tây Bắc.
Nguyễn Minh Châu là cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ ngòi bút của ông mang tính sử thi – lãng mạn.
Từ sau 1980 ông đã trở thành một trong những cây bút tiên phong của thời kì đổi mới, từng được đánh giá là người mở đường tinh anh của văn học nước ta hiện nay (Nguyên Ngọc). Với tâm niệm nhà văn viết văn đứng trước pháp trường trắng, viết văn là đi tìm hạt ngọc ẩn giấu bén trong tâm hồn người, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu hướng về những cá nhân với cảm hứng đời tư, thế sự. Để rồi những trang văn của ông, người đọc nhận ra rằng: cuộc chiến đấu vì nhân cách và phẩm giá người luôn là cuộc chiến cam go và chưa có hồi kết dù chúng ta đã thắng lợi vẻ vang trong chiến tranh giành lại độc lập. Chiếc thuyền ngoài xa được viết sau Vợ chồng A Phủ hơn ba mươi năm. Ở tác phẩm, gương mặt của cái ác hiện lên qua hình ảnh lão đàn ông làng chài.
Hình ảnh gã đàn ông xuất hiện lần đầu trong một tình huống đặc biệt, qua sự cảm nhận của Phùng, nhân vật ít nhiều mang bóng dáng của chính tác giả. Theo yêu cầu của tác phẩm Phùng đến vùng biển, vốn là chiến trường trước đây anh đã từng chiến đấu để chụp tấm ảnh đưa vào bộ lịch với chủ đề “thuyền và biển”. Sau một tuần phục kích, anh đã chụp được một cảnh đắt trời cho, đó là cảnh chiếc thuyền đẹp như mơ ẩn hiện trong màu hồng của sương mai. Không khí hạnh phúc của người nghệ sĩ sáng tạo đã tới chân lí của nghệ thuật ấy là khi anh tự hỏi: hình như ai đó đã nói rằng cái đẹp chính là đạo đức. Ấy vậy mà khi chiếc thuyền đâm thẳng vào bờ, Phùng đã phải đối mặt với một sự thật cuộc đời đau lòng: tấm thảm kịch gia đình làng chài mà diễn viên và đạo diễn không ai khác chính là người chồng – người cha của gia đình này.
Lão đàn ông làng chài với mái tóc rối bù tổ quạ, cái lưng cong như mui thuyền, những vết chân in trên cát… tất cả toát lên một vẻ hoang sơ, dữ dàn. Lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc dây lưng của lính ngụy vụt tới tấp lên người đàn bà, người vợ của mình. Lão vừa vụt vừa rít lên đầy đau khổ: Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ. Và cũng chính lão chõ lên thuyền như quát: cứ ngồi nguyên đấy động đậy tao giết cả mày đi bây giờ. Tất cả những hành động của lão diễn ra trước con mắt của Phùng. Phẩm chất người lính không chấp nhận bất công ngang trái trong anh đã khiến Phùng lao đến cứu người đàn bà trong tâm thế của người lính cửu nạn. Lần thứ hai, chiếc thuyền lưới vó xuất hiện và tất cả lại diễn ra y như lần trước chỉ có điều, nếu lần trước đứa con trai giằng được chiếc thắt lưng của lão, sau khi chịu đựng hai cái tát thì lần này cậu bé đã thủ sẵn một con dao găm giấu trong cặp quần. Rất may đứa chị gái đã tước lại được con dao. Phùng đã đánh nhau với gã đàn ông làng chài và bị thương nhẹ. Tại chính mảnh đất này, Phùng và đồng đội chiến đấu để giữ gìn từ tay kẻ thù anh đã đổ máu bởi chính những người mà trước đây anh bảo vệ.
Có ai ngờ rằng vùng đầm phá yên tĩnh đến hoang sơ như nơi chốn bị bỏ quên của đất nước lại mang trong nó một sự thật tàn khốc đến như vậy. Không ai khác lão đàn ông là hiện thân của cái ác và nạn nhân không ai khác chính là người vợ, con của lão. Người đàn bà hàng chài âm thầm chịu đựng những trận đòn của chồng và chỉ xin một đặc ân chồng đưa mình lên bờ mà đánh. Những đứa con hằng ngày chứng kiến cảnh bố đánh mẹ đã bị tổn thương nặng nề.
|
Bài làm
Việt Bắc là bài thơ trữ tình cách mạng. Mối tình giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng được Tố Hữu diễn tả như một mối tình riêng. Tố Hữu hình tượng hoá Việt Bắc và người cán bộ cách mạng như một đôi bạn tâm tình. Đôi bạn tâm tình đã chung sống với nhau mười lăm năm “tha thiết, mặn nồng'”, giờ đây họ chia tay nhau vì người cán bộ phải đi làm nhiệm vụ mới. Buổi chia li đầy lưu luyến phảng phất buổi chia tay của những đôi bạn tình trong ca dao hàng nghìn năm nay. Tố Hữu mượn thể hát đối đáp dân tộc, đồng thời cũng mượn luôn cả ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân tộc để thể hiện những tình cảm mới, “nữ” với “mình” dường như chỉ có thể có một đời sống riêng trong ca dao, với Tố Hữu, bỗng lớn dậy, tự nhiên thoải mái đi thẳng vào đời sống chung của dân tộc, ôm trùm lấy những tình cảm lớn của thời đại.
Trong buổi chia tay, người ở lại (Việt Bắc) đặt ra cho bạn mình (người về – cán bộ) những câu hỏi dồn dập, nặng tình, nặng nghĩa, nặng suy nghĩ, bộc lộ yêu thương đồng thời cũng đòi hỏi được yêu thương:
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thải, mái đình cây đa?
Đây là một trong những câu thơ hay nhất của bài Việt Bắc. Linh hồn cùa bài thơ đọng lại ở từ “mình”. Hai chữ “mình” trước ngôi thứ hai đã đành, chữ “mình” sau cũng là ngôi thứ hai. Lạ nhất là đại từ “mình” ngôi thứ hai này. Trong ca dao không gặp từ đổi ngôi như vậy:
Mình đi mình có nhớ mình.
Câu thơ vốn có gốc rễ sâu xa trong ca dao của dân tộc bỗng vụt lớn lên, mới mẻ, hiện đại. Nói nôm na ra là anh đi anh có nhớ anh không? Anh nhớ em và anh còn phải nhớ anh nữa. Anh có thể quên em, nhưng ngay cả anh, anh cũng có thể quên đấy. Câu hỏi thật sâu nặng, nghe mà giật mình. Ca dao chỉ đòi nhớ em thôi. Vậy là Tố Hữu thêm hương thêm sắc cho chữ tình, và chủ đề sâu sắc của bài thơ lộ ra một cách kín đáo, chứ không đợi đến những câu ướm hỏi dè chừng sau này…
“Mình” ở đây trong sáng biết mấy, đẹp đẽ biết mấy, anh hùng biết mấy. “Mình” đã từng gắn bó với những kỉ niệm êm đềm, đã từng đồng cam cộng khổ miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, đã từng chia bùi sẻ ngọt Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng chẳng khác gì tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào {Bình Ngô đại cáo). Cho nên, “mình” để lại trang sử oai hùng, “mình” gắn liền với những di tích lịch sử vô giá Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa. Bây giờ Mình về thành thị xa xôi, rồi nhà cao, phổ đông, sảng đèn… liệu “mình” có thay lòng đổi dạ không? Mười lăm năm trước đây, Tố Hữu như thấy trước những diễn biến tư tưởng trong hoà bình nên đã mượn lời Việt Bắc ướm hỏi một cách xa xôi gợi rất nhiều suy nghĩ.
Tước đi cái vỏ ngoài là cách phô diễn đối đáp, Việt Bắc còn lại nguyên hình là một bài thơ dặn lòng. Lời thơ, tiếng thơ Việt Bắc cứ xao xuyến lên ở cái hương thầm này mà ra. Dặn rằng: Uổng nước nhớ nguồn, “mình” hãy nhớ lấy và trong cuộc chiến đấu mới hãy giữ gìn và phát huy những phẩm chất cao đẹp trong những ngày kháng chiến vô cùng gian khổ này. Đó vừa là đạo lí làm người của dân tộc ta vừa là phẩm chất mới của người cách mạng, về mặt tâm lí cũng sâu sắc. Thực ra người hỏi “có nhớ mình” không? cũng là một dịp nữa để hỏi “có nhớ ta” không? bởi vì mình với ta tuy hai là một. Những trang sử oanh liệt kia, những di tích lịch sử vô giá kia đâu phải chỉ là mình? Cách thể hiện tình cảm ở đây thật kín đáo, tế nhị.
Trước những câu hỏi chân tình, tha thiết của Việt Bắc, người về xuôi đáp lại những câu hỏi chí tình:
Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
Lại gặp từ “mình”, “mình” ngôi thứ nhất, “nhớ mình” ngôi thứ hai. Sử dụng ngôi thứ hai của đại từ như vậy không có gì đặc biệt, nhưng dùng liền ba từ “mình” khiến câu thơ rất quyện và am. Nếu thay “mình” ngôi thứ nhất bằng “ta” thì tình cảm sẽ lạnh và xa xôi hẳn, điều tối kỵ trong những buổi chia li, nhất là đối với người ra đi. Ngược lại, chữ “ta” trong câu thơ sau đây thì rất thích hợp:Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
Trong lời hỏi của Việt Bắc, Tố Hữu dùng ba đại từ ngôi thứ hai. trong lời đáp của người về xuôi, Tố Hữu lại dùng ba đại từ ngôi thứ nhất. Sự chuyển đổi ngôi thứ của đại từ thật là linh hoạt. Cũng có thể nói nôm na: anh về anh vẫn nhớ anh đấy!
Tố Hữu sử dụng rất khéo léo những đại từ “ta”, “mình” trong câu làm giàu thêm ý nghĩa của cầu thơ. Đây là ta với mình trong cảnh chia li:
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
“Mình” và “ta” đứng ở hai đầu câu thơ nhìn nhau đau đáu. Câu thơ gợi cảm xa xôi, hợp với tâm trạng của người ở lại. Trong tâm trạng chia tay, người ở lại cứ muốn nói ra xa, để được đòi thương, đòi yêu, đòi nhớ, để được thêm cớ nghi kị, ghen tuông. Cách cấu trúc câu thơ này chúng ta cũng bắt gặp trong bài thơ Thề non nước của Tản Đà:
Nước non nặng một lời thể Nước đi đi mãi không về cùng non.
Lúc thề nguyện, “nước”, “non” đứng sóng đôi nhau. Khi xa cách “nước”, “non” tách ra đứng ở hai đầu mỗi câu thơ. Xa vời biết mấy. Trong lời của người về, “ta” với “mình” lại gài chặt với nhau:
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau triỉớc mặn mà đinh ninh.
|
Assignment
Viet Bac is a revolutionary lyric poem. The love affair between Viet Bac and the revolutionary cadre was described by To Huu as a private love affair. To Huu visualized Viet Bac and the revolutionary cadre as a pair of confidants. The two confidants have lived together for fifteen years "ardently and passionately", and now they are breaking up because the officer has to go on a new assignment. The farewell was full of nostalgia, reminiscent of the farewell of lovers in folk songs for thousands of years. To Huu borrowed the form of ethnic repartee singing, and also borrowed the language imbued with national colors to express new feelings. "Women" and "I" seem to only be able to have a separate life in life. Folk songs, with To Huu, suddenly grew up, naturally and comfortably entered the common life of the nation, embracing the great emotions of the time.
During the farewell, the person who stayed (Viet Bac) asked his friend (the person who returned - the officer) many questions, heavy with love, heavy with meaning, heavy with thoughts, expressing love and at the same time demanding love:
I miss you when I go
Tan Trao, Hong Thai, banyan tree roof?
This is one of the best verses of Viet Bac. The soul of the poem remains in the word "I". The two words "me" before the second person are okay, the word "me" after is also the second person. The strangest thing is this second person pronoun "I". In folk songs, we do not encounter words like this:
I miss you when I go.
The poem, which had deep roots in the nation's folk songs, suddenly grew up, new and modern. To put it simply, do you miss me when I'm gone? I miss you and I have to miss you too. I can forget you, but even you, you can forget. The question is so profound, it's startling to hear. Folk songs just ask to remember you. So To Huu added flavor and color to the word love, and the profound theme of the poem was revealed discreetly, without waiting for cautious questions later...
"I" here is so pure, so beautiful, so heroic. "I" used to be attached to peaceful memories, used to share oranges plus miserable pieces of rice dipped in salt, had a heavy feud, shared sweets and sweets, loved each other and shared cassava roots/shared half a bowl of rice, blanketed the living. Putting together is no different from a soldier with a father and son's heart, mixing river water and cup of sweet wine {Binh Ngo Dai Cao). Therefore, "I" left behind a heroic page of history, "I" was associated with the priceless historical relics of Tan Trao, Hong Thai, communal house roofs, and banyan trees. Now I'm back in a faraway city, with tall houses, crowded streets, bright lights... will "I" change my mind? Fifteen years ago, To Huu seemed to foresee the ideological developments in peace, so he borrowed Viet Bac's words and asked a distant question that evoked a lot of thoughts.
Stripped of the outer shell of a way to show off and respond, Viet Bac is left with its true form as a poem to the heart. Viet Bac's poetic words and poetic language keep stirring up in this secret fragrance. Advise: When wasting water, remember the source, "you" should remember and in the new fight, preserve and promote the noble qualities in these extremely arduous days of resistance. That is both the human morality of our nation and the new quality of revolutionaries, psychologically profound as well. The person actually asked "do you remember me"? It's also another opportunity to ask "do you remember me"? Because you and I are two but one. Those glorious pages of history, those priceless historical relics, aren't they just me? The way to express feelings here is very discreet and delicate.
In response to Viet Bac's sincere and earnest questions, the returnees responded with sincere questions:
When I leave, I miss myself. The source of so much water, so much love.
Again, we encounter the words "me", "myself" in the first person, "remember me" in the second person. Using the second person pronoun like that is nothing special, but using the three words "myself" in succession makes the poem very harmonious and thoughtful. If you replace the first person "I" with "I", the feelings will be cold and distant, a taboo during farewells, especially for the person leaving. On the contrary, the word "ta" in the following verse is very appropriate: When I return, I miss me
Roof of Hong Thai communal house, Tan Trao banyan tree.
In Viet Bac's question, To Huu used three second-person pronouns. In the person's response, To Huu used three first-person pronouns. The change of pronouns is very flexible. It can also be said simply: when you come back, I still miss you!
To Huu skillfully uses the pronouns "I" and "me" in the sentence to enrich the meaning of the poem. This is me and you in separation:
When I return, I miss you. Those fifteen years were passionate and passionate.
“I” and “I” stand at the two ends of the poem, looking at each other painfully. The poem is sensuous and distant, matching the mood of the person staying behind. In the mood of breaking up, the person who stays wants to say far away, to be loved, to love, to remember, to have more reasons to be suspicious and jealous. We also see this verse structure in Tan Da's poem "The Oath to the Country":
Water is heavy in a word: Water goes away forever and never returns to the mountain.
When making vows, "water" and "mountain" stand side by side. When far away from "water", "mountain" separates and stands at the two ends of each verse. How far away. In the words of the returnee, "I" and "me" are tightly intertwined:
Me with you, you with me
My heart is filled with confidence after the previous salty experience.
|
Bài làm
Trong lịch sử phát triển nhân loại, chữ viết trở thành một phát minh vô cùng quan trọng, nó đã góp phần đưa con người tiến đến văn minh. Những dòng chữ quí báu đó đã được kết tinh trong những trang sách. và có người đã cho rằng: “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”
Ý kiến trên hàm chứa rất nhiều ý nghĩa. “Ngọn đèn sáng bất diệt” là ngọn đèn không bao giờ tắt, không bao giờ lụi tàn. Trong văn học, hình ảnh của ánh sáng, của ánh đèn ngọn lửa còn biểu tượng cho sự soi đường, chỉ lối. Bởi thế, câu nói “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người” đã khẳng định sách là công cụ, là phương tiện giúp con người mở mang trí tuệ, vươn đến sự phát triển. sách đưa chúng ta đến một chân trời mới, cao hơn, xa hơn những lí tưởng cao đẹp của con người.
Từ ngàn xưa, người ta đã biết cách tạo ra những văn tự làm từ thẻ tre, mai rùa hay được khắc trên đá, thân cây hay vách núi…bằng chữ tượng hình. Dần dần qua thời gian, khi kĩ thuật phát triển thì chữ viết được lưu lại trên những trang giấy mỏng và tiện lợi. Nhờ chữ viết và các phương tiện lưu lại chữ viết –ta gọi là “sách”- mà con người đã lưu giữ và truyền lại cho nhau từ đời này sang đời khác, từ nơi này qua nơi khác những hiểu biết của mình về tự nhiên và xã hội. Từ đó, chúng ta có thể tìm trong sách rất nhiều điều: Lịch sử, khoa học tự nhiên và xã hội, vật lý, địa lí, sinh học…ấy là một thế giới thu nhỏ. Đọc sách, ta biết về thưở khai thiêng lập địa của đất nước, từ lịch sử các vua Hùng, Lạc Long Quân, Âu Cơ từng dựng và giữ nước. Đọc sách, ta biế về những lì quan của thế giới, từ những đại dương bao la, những đỉnh núi hùng vĩ cao ngất trời đến những nơi xa xôi sâu thẳm và độc địa mà ta không cần phải đặt chân tới. Đọc sách, ta còn hiểu về những kiến thức khoa học tinh vi như phân tử, lượng tử, hạt nhân,…Sách thực sự là chiếc cửa sổ để chúng ta nhìn ra thế giới.
Chính bởi sách lưu giữ trí tuệ con người nên đó là cơ sở để con người hiểu về thế giới và từ đó khai thác, chinh phục thế giới. Từ những hiểu biết sơ khai về vũ trụ của Bru-nô mà Ga-li-lê đã nghiên cứu rồi khẳng định rằng “Dù sao thì trái đất vẫn quay” và tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn nổi tiếng. Từ những tiêu đề toán học xa xưa mà các nhà toán học Ta-lét, Pi-ta-go..đã chứng minh được những định lí quan trọng,…Đến lượt thế hệ hôm nay, từ kiến thức sách vở của những thế hệ trước để lại, chúng ta phát minh ra tàu siêu tốc, tàu vũ trụ, cách tạo ra năng lượng mặt trời,.Sách quả là thứ ánh sáng kì diệu dẫn dắt trí tuệ con người phát triển, thậm chí bùng nổ!
Nhưng, có phải bất kì loại sách nào cũng là “ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người” không?
Sách có nhiều loại sách. Đa số các loại sách đều ca ngợi đạo đức phẩm chất, phát triển trí tuệ phục vụ đời sống. Nhưng có những loại sách chỉ nhằm phá hoại đạo đức, làm xói mòn tư duy con người. nó dẫn chúng ta đến cuộc sống không lành mạnh, đồi trụy, phản quốc. Có hàng trăm loại sách báo phản động vẫn còn rải rác trên khắp thế giới. Vì vậy, ta cần loại bỏ ngay.
Vậy, chúng ta phải làm thế nào để sách mãi là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ loài người? Đó là một thách thức không nhỏ đối với mỗi con người. Vậy nên, để sách mãi là ngọc đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người, chúng ta cần biết phân loại sách, lựa chọn và loại thải những loại sách xấu. Ngoài ra, chúng ta còn phải biết phát huy những phẩm chất tốt đẹp, biết cảm thụ những cái thâm thúy, tinh hoa và tình cảm tốt đẹp của sách để không phải chỉ đọc suông. Chúng ta phải sáng tạo, sáng tạo không ngừng và làm ra các loại sách có ích, thực tế để cuộc sống ngày một phát triển tốt đẹp hơn.
Ngày nay, có rất nhiều hình thức thông tin hiện đại như in-tơ-net, điện thoại, báo, đài,..nhưng vai trò của sách vẫn rất lớn và câu nói trên vẫn còn nguyên ý nghĩa. Sách có những đặc điểm riêng ưu việt hơn hẳn những hình thức thông tin vừa kể: sách không phụ thuộc vào đối tượng khác –điện, kết nối mạng, đường dây liên lạc,..sách lại nhỏ gọn, đầy đủ rõ xuất xứ, nguồn gốc,..Sách không chỉ đưa chúng ta đến chân trời kiến thức mới mà còn là những thành tựu của loài người đã đúc kết thành kho tang kiến thức của nhân loại và sách cũng trở thành một vũ khí sắc bén để đánh bại sự ngu dốt.
|
Assignment
In the history of human development, writing became an extremely important invention, it contributed to bringing people to civilization. Those precious words have been crystallized in the pages of the book. And some people have said: "Books are the eternal light of human intelligence"
The above opinion contains a lot of meaning. “The everlasting light” is a light that never goes out, never dies. In literature, the image of light and fire also symbolizes illumination and guidance. Therefore, the saying "Books are the eternal lights of human intelligence" affirms that books are tools and means to help people expand their intelligence and reach development. Books take us to a new horizon, higher, farther than the noble ideals of humanity.
Since ancient times, people have known how to create texts made from bamboo cards, turtle shells or carved on rocks, tree trunks or cliffs... using hieroglyphs. Gradually over time, as technology developed, writing was saved on thin and convenient pages. Thanks to writing and the means of preserving writing - we call it "books" - people have preserved and passed on to each other from generation to generation, from place to place, their understanding of nature. natural and social. From there, we can find many things in books: History, natural and social sciences, physics, geography, biology... it is a miniature world. Reading books, we learn about the founding of the country, from the history of Kings Hung, Lac Long Quan, and Au Co who built and defended the country. Reading books, we learn about the hidden landscapes of the world, from the vast oceans, majestic sky-high mountain peaks to remote, deep and poisonous places that we do not need to set foot on. Reading books, we also understand sophisticated scientific knowledge such as molecules, quantum, nuclear, etc. Books are truly windows for us to see the world.
Because books preserve human intelligence, they are the basis for people to understand the world and thereby exploit and conquer the world. From Bruno's early understanding of the universe, Galileo studied and affirmed that "No matter what, the earth still rotates" and found the famous law of universal gravitation. From ancient mathematical titles, mathematicians Taylor, Pythagoras, etc., have proven important theorems... It is the turn of today's generation, from the book knowledge of previous generations. Left behind by the previous generations, we invented speedboats, spaceships, ways to create solar energy, etc. Books are truly a magical light that leads human intelligence to develop, even explode!
But, is any kind of book an "eternal light of human intelligence"?
There are many types of books. Most books praise moral qualities and develop intelligence to serve life. But there are books that only aim to destroy morality and erode human thinking. it leads us to unhealthy, depraved, and treasonous lives. There are hundreds of types of reactionary books and newspapers still scattered around the world. Therefore, we need to remove it immediately.
So, what should we do to keep books forever the eternal light of human intelligence? That is a big challenge for every person. Therefore, in order for books to forever be the eternal shining pearls of human intelligence, we need to know how to classify books, select and eliminate bad books. In addition, we must also know how to promote good qualities, know how to perceive the profound, quintessential and good feelings of books so that we don't just read them. We must be creative, constantly create and create useful and practical books to make life better and better.
Today, there are many modern forms of information such as the internet, telephone, newspapers, radio, etc. but the role of books is still very large and the above statement still has the same meaning. Books have unique characteristics that are superior to the forms of information just mentioned: books do not depend on other objects - electricity, network connections, communication lines, etc. books are compact, fully clear of origin. , origin,...Books not only bring us to new horizons of knowledge but also human achievements have been summarized into a treasury of human knowledge and books have also become a sharp weapon to fight against. defeat ignorance.
|
Bài làm
Trong quá trình tiến hóa lâu dài, con người từ thế giới của những loài thú hoang dã vươn lên trở thành những chủ nhân tương lai của thế giới, của nhân loại. Đó chính là sức mạnh của con người trong công cuộc chinh phục Trái Đất không mệt mỏi này. ” Cái đẹp là cuộc sống” ( Séc – nư – sep – xki). Chính vì vậy, họ muốn khám phá ra những điều hay, những vùng đất mới… hay là những tri thức mà họ muốn khai thác? Con người chúng ta luôn muốn ở một vị trí cao hơn, hướng đến những giá trị hoàn hảo hơn. Một câu cách ngôn La tinh cổ thể hiện rất rõ tinh thần học hỏi và sự tự tin của con người: ” Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”. Đây có phải là một chân lí? Chúng ta cùng tìm hiểu nhé!
Vậy mọi người hiểu câu nói này như thế nào? Theo tôi thì cụm từ ” thuộc về con người” có nghĩa là những giá trị vật chất, những tri thức bổ ích cũng như là những giá trị tinh thần trong cuộc sống của con người. Và để nhận thức được những điều thuộc về con người ấy thật không dễ dàng gì! Thậm chí khó khăn lắm chúng ta mới có thể thực hiện được. “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi” nhưng điều làm nên sự khác biệt giữa mỗi người là cách họ chinh phục những tư tưởng, tình cảm tầm thường và dày công nuôi dưỡng những đức tính tốt đẹp như thế nào.
Có ai trong chúng ta dám nói rằng mình không sống hai mặt không? Đương nhiên là không rồi! Bởi vì hai mặt chính là bản chất của con người. Bạn có thể không tin nhưng bạn phải chấp nhận rằng, đằng sau ánh sáng lúc nào cũng là một vệt bóng trải dài. Và đời là thế đó.
Hãy nhìn thẳng vào vấn đề đi, nhìn thẳng vào xã hội này mà xét rằng, chúng ta ai đã thực sự sống thật với chính bản thân mình?
Bạn nói với tôi rằng, xấu hay tốt là ở cách nhìn nhận hay cách sống của con người. Tôi đồng ý. Có những người tài giỏi thật sự, có những người nỗ lực hết mình, có rất rất nhiều người ngoài kia phải chịu bao cực khổ để đứng trên đôi chân của mình mà bước, mà lập nghiệp, mà dấn thân, để mong mỏi một ngày nào đó họ sẽ thành công,họ sẽ bước tới đỉnh vinh quang. Tôi đề cao họ, tôi ngưỡng mộ họ. Họ thật phi thường, họ thật mạnh mẽ, họ rất tài giỏi. Họ đáng để chúng ta noi theo, lấy đó làm gương. Bởi đời mà, không hẳn là xấu hết, nhưng tốt được bao nhiêu người, thành công như họ được bấy nhiêu người? và một điều nữa tôi muốn hỏi, họ thật sự quang minh từ đầu cuộc đua cho đến khi về đích? Tôi không chỉ trích sự thành công của bất kỳ ai hay ganh tỵ với bất kỳ cá nhân nào. Bởi đời mà,chúng ta chỉ nhìn thấy bề nổi của tất cả sự việc,liệu những gì ẩn sau kia chúng ta biết được bao nhiêu?
Nhận thức được những mối quan hệ tạo nên con người có nhân cách hoặc tốt, hoặc xấu… Đầu tiên, mặt tốt của con người ( môi trường, tính cách, nhận thức) sẽ làm cho chúng ta nghĩ tới trước nhất khi nhận xét một người nào đó hay nói chung hơn là những người dân Việt Nam. Dân ta luôn sống với nhau hòa đồng, thân thiện và vui vẻ với nhau. dân ta luôn biết cách để kéo mọi người lại gần nhau hơn: Hàng xóm hoạn nạn có nhau”. Hay họ luôn biết cách nhanh nhất để tìm được hạnh phúc trong cuộc sống này. Điều đó luôn xuất phát từ trong tâm trí bạn, hãy ngừng tìm kiếm sự hoàn hảo trong cái xã hội méo mó,chai sạn này đi vì bạn chỉ đang chuốc thêm nhiều bế tắc, buồn bực vào bản thân mình mà thôi. tốt nhất là bạn nên ngồi thiền hoặc tập yoga,đi du lịch đây đó để giải phóng những kìm nén trong bản thân ta, tìm kiếm những điều mới lạ, thú vị mà ta có thể chưa bao giờ biết đến. đừng quá gò ép mình trong những khuôn khổ cứng nhắc, hãy thoát ra khỏi các lồng u ám đó đi, thay đổi cách sống, suy nghĩ tích cực lên và tìm kiếm những chân trời mới. đừng ngại thất bại, đừng ngại thay đổi con đường mình đang đi và nếu bạn gặp khó khăn hay bế tắc trong cuộc sống này, đừng làm người thụ động, chỉ có những người yếu ớt,luôn đắm mình trong u sầu mới làm như vậy! Mỗi chúng ta sinh ra đều mang những khả năng đặc biệt, đừng ngại bước tiếp để khai phá sức mạnh tiềm ẩn đó vì có thể khi bạn trở về với cát bụi bạn sẽ cảm thấy hối hận vì đã không sống vui hơn, khỏe hơn,mạnh dạn hơn và chủ động tìm kiếm hạnh phúc hơn một chút. sau mỗi cơn mưa rào cầu vồng lại xuất hiện, sau mỗi thất bại đều ẩn chứa những bài học quý giá. Bởi vậy đừng ngại bước tiếp, hãy dũng cảm đi tìm lấy hạnh phúc, niềm vui của cuộc đời mình vì đơn giản chúng ta chỉ đượcsống có một lần thôi.
Điển hình là vào sáng ngày 22/12 năm vừa rồi, tại ngã ba cầu ở Đồng Nai, theo thông tin ban đầu của người dân có mặt tại hiện trường cho biết, một chiếc xe tải chở bia chưa rõ nguyên nhân tai nạn đã bị đổ nhiều thùng bia ra đường khiến nhiều phương tiện khó di chuyển. Thấy tình hình nhiều lon bia vương vãi trên đường, nhiều người dân cùng lực lượng chức năng đã chung tay dọn dẹp giúp tài xế.
Hay vào 22 giờ 30 phút ngày 1 tháng 10, khi loạt đạn xả xuống đám đông tham dự lễ hội âm nhạc đồng quê ở Las Vegas, có những người anh hùng đã dùng chính thân mình che chở cho bạn bè, người thân hay cả những người xa lạ. Đó là bà mẹ Carlie Krygrier trở thành ” lá chắn sống” cho cô con gái bốn tuổi. Anh Todd Blyleven dù đã thoát ra ngoài nhưng sau đó vẫn quay lại để cứu những nạn nhân khác.
|
Assignment
In the long process of evolution, humans rose from the world of wild animals to become the future owners of the world and of humanity. That is the power of humans in this tireless quest to conquer the Earth. "Beauty is life" (Czech - nu - sep - xki). That's why they want to discover good things, new lands... or is it knowledge that they want to exploit? We humans always want to be in a higher position, aiming for more perfect values. An ancient Latin aphorism clearly expresses the spirit of learning and human confidence: "Nothing human is foreign to me." Is this a truth? Let's find out together!
So how do people understand this statement? In my opinion, the phrase "belongs to humans" means material values, useful knowledge as well as spiritual values in human life. And to perceive the things that belong to that person is not easy! Even with great difficulty, we can do it. “There is nothing human that is strange to me” but what makes the difference between each person is the way they conquer ordinary thoughts and feelings and diligently nurture such good qualities. any.
Can any of us dare say that we don't live a double life? Of course not! Because duality is human nature. You may not believe it, but you have to accept that behind the light is always a long shadow. And that's life.
Let's look straight at the problem, look straight at this society and consider, who of us has really lived true to ourselves?
You tell me that good or bad depends on people's perspective or way of life. I agree. There are truly talented people, there are people who try their best, there are many people out there who have to endure many hardships to stand on their own feet to walk, to establish a career, to commit themselves, to long for a future. One day they will succeed, they will reach the top of glory. I appreciate them, I admire them. They are extraordinary, they are strong, they are talented. They are worth following and taking as an example. Because life is not all bad, but how many people can be good and successful like them? And one more thing I want to ask, are they really bright from the beginning of the race until the finish line? I do not criticize anyone's success or envy any individual. Because in life, we only see the surface of all things, how much do we know about what lies behind?
Be aware of the relationships that create a person's personality, either good or bad... First, the good side of people (environment, personality, perception) will make us think first when commenting. someone or more generally the people of Vietnam. Our people always live together in harmony, are friendly and happy with each other. Our people always know how to bring people closer together: Neighbors in need have each other." Or they always know the fastest way to find happiness in this life. That always comes from your mind, stop looking for perfection in this distorted, calloused society because you are only bringing more deadlock and sadness to yourself. It's best for you to meditate or practice yoga, travel here and there to release your inhibitions, and find new and interesting things that you may have never known. Don't force yourself too much into rigid frameworks, get out of those gloomy cages, change your way of life, think positively and seek new horizons. Don't be afraid to fail, don't be afraid to change the path you're on and if you encounter difficulties or deadlock in this life, don't be passive, only weak people, always immersed in sadness, do that. So! Each of us is born with special abilities, don't be afraid to step forward to explore that hidden power because maybe when you return to dust you will regret not living a happier, healthier life. ,be bolder and proactively seek happiness a little more. After every shower a rainbow appears, after every failure there are valuable lessons. So don't be afraid to move on, be brave to find happiness and joy in your life because we simply only live once.
Typically, on the morning of December 22 last year, at the bridge intersection in Dong Nai, according to initial information from people at the scene, a truck carrying beer with an unknown cause of accident crashed. Many barrels of beer were spilled onto the road, making it difficult for many vehicles to move. Seeing the situation of many beer cans scattered on the road, many people and the authorities joined hands to help the driver clean up.
Or at 10:30 p.m. on October 1, when a series of bullets rained down on the crowd attending a country music festival in Las Vegas, there were heroes who used their bodies to protect friends, relatives or even strangers. That mother Carlie Krygrier became a "human shield" for her four-year-old daughter. Todd Blyleven escaped but later returned to save other victims.
|
Bài làm
“Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim” – Piet. Đây là một nhận định hoàn toàn đúng tuy nhiên khi cuộc sống ngày nay không còn quá vất vả như trước, chỉ cần một cú click chuột bạn có thể biết được chuyện gì xảy ra quanh mình, về những gì đã qua và cả những dự đoán cho tương lai phía trước thì lại phát sinh nhiều tranh giành, tính toán để thu về cho bản thân lợi ích tốt nhất. Tình thương giữa người với người trở nên “khan hiếm”, “đắt đỏ” trong cái thế giới mà công nghệ đang phát triển như huyền thoại. Lẽ nào ta đã quên mất rằng: “Cảm thông là chiếc chìa khóa mở cửa trái tim người khác”-EC Mc Kenzie.
Có bao giờ bạn tự hỏi: “Phải chăng mình đã bỏ quên món quà tốt đẹp mà Thượng Đế ban tặng chỉ để sống với những cỗ máy vô hồn và những toan tính đang làm chính mình mệt mỏi?” Cuộc sống là một bức tranh đa sắc mà mỗi người là một cá thể riêng biệt, không ai giống ai. Như loài chim phân biệt bằng tiếng hót, như loài hoa kiêu hãnh bởi mỗi một hương sắc riêng mình, mỗi người chúng ta sinh ra đều có một trái tim-đó là biểu hiện của sự sống, là nơi kết tinh phẩm chất “người” nhất và là “loại keo” thần kì “kết dính” ta với xã hội. Tình yêu thương đã trở thành bài ca, tiếng hát của cả cộng đòng dân tộc, trở thành tiếng gọi của lương tâm tạo ra sức mạnh đẩy lùi khó khăn, hoạn nạn. Một trái tim biết yêu thương là trái tim mang theo những cảm xúc đẹp, biết nghĩ cho người khác, vui niềm vui của người khác, đau chung nỗi đau của những số phận bất hạnh. Đó chính là sự cảm thông, là thông điệp mà Kenzie muốn truyền tải đến chúng ta: Sự cảm thông xuất phát từ con tim, là ngôn ngữ chung cho toàn thế giới, chính nó tác động lên ý thức, dẫn con người tới hành động, giúp rút ngắn khoảng cách của thời gian, không gian, vượt qua cả sự ngăn trở do bất đồng ngôn ngữ, làm những người xa lạ trở nên gắn bó với nhau, xích lại gần nhau hơn.
“Nơi nào có tình yêu thương thì nơi đó có những điều kì diệu”-Loilla Cather. Trái tim có thể xoa dịu nỗi đau, sự cảm thông có thể xóa tan lòng hận thù, cảm hóa được tâm hồn người khác. Thế mới biết sự cảm thông, yêu thương chân thành là điều vô cùng cần thiết trong cuộc sống, đó chính là hạt giống tốt để từ đó hạnh phúc đơm hoa, kết trái. Thế giới ngày hôm nay trôi đi vội vàng, mỗi con người dường như đang trong tư thế tiến ra đại dương mênh mông với một “cái đầu lạnh” chỉ toàn là tư duy, lí trí. Biển đời lạnh lẽo và tình người cũng vì thế mà đóng băng. Chính những lúc đó, trái tim yêu thương như ánh lửa được thắp lên để mang ấm áp trở về, như ngọn đèn soi sáng tư tưởng, tâm hồn ta. Sự cảm thông ấy giúp ta lắng nghe tiếng ai đó đang than khóc, giúp mắt ta thấy được những số phận éo le cần được nâng đỡ, giúp đôi chân ta chạy đến bên họ và giúp đôi tay ta dang rộng dù không thể ôm trọn cuộc đời này nhưng cũng có thể ôm lấy ai đó đang tuyệt vọng, cho họ một nơi bình yên để dựa vào. Mỗi con người chúng ta không ai có thể sống tách rời cộng đồng, tập thể và chính sự cảm thông, chia sẻ sẽ giúp những kiếp người bất hạnh có thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin vào một ngày mai tươi sáng hơn. Không những vậy, nó còn giúp con người có điểm tựa, sự động viên, giúp đỡ khi vấp ngã, thất bại. Tôi mãi không quên câu chuyện của diễn giả Buscaglia: Trong một lần ông làm giám khảo cuộc thi tìm ra đứa trẻ biết quan tâm người khác nhất, người thắng cuộc là một em bé bốn tuổi; người hàng xóm của em là ông lão vừa mất vợ, nhìn ông khóc em lại gần rồi leo lên ngồi vào lòng ông, em ngồi rất lâu và chỉ ngồi như thế. Đôi khi, sự cảm thông đến từ sự im lặng, đó chính là lắng nghe và thấu hiểu. Dù cậu bé không nói gì nhưng cậu khiến ông lão cảm nhận được vẫn có người sẵn sàng lắng nghe và chia sẻ nỗi mất mát của ông, ông không hề cô độc – cảm thông chính là chiếc chìa khóa mở cửa trái tim người khác. Hay như trong cuốn tiểu thuyết “Me before you” của nhà văn Jojo Moyes, chính tình yêu thương, sự cảm thông đã giúp Will Traynor – một ông chủ trẻ không may gặp tai nạn và phải ngồi xe lăn, sống trong tuyệt vọng đã tìm lại được niềm vui và ý chí sống vượt qua nghịch cảnh. Không chỉ hiện hữu qua những trang sách, trong cuộc sống vẫn tồn tại rất nhiều những trái tim bao la, ấm áp. Dù xa lạ hay thân quen, trong chúng ta đều ít nhất một lần dành những quan tâm, lo lắng cho một ai đó. Tôi muốn nhắc đến đóa hoa hướng dương nở dưới lòng thành phố – bông hoa của nghị lực, của lòng yêu thương – chị Lê Thanh Thúy. Dù bị căn bệnh ung thư xương hành hạ, chị vẫn tha thiết một khát vọng yêu thương và dâng hiến. Chị tham gia công tác xã hội, gây quỹ giúp đỡ trẻ em nghèo mắc bệnh ung thư. Dù giờ đây chị đã đi xa, nhưng tấm lòng của chị vẫn được nuôi dưỡng qua chương trình “Ước mơ của Thúy”. Phải chăng, để có thể thực hiện được điều này, chị cũng như những con người như chị ắt hẳn rất thông hiểu thế nào là tình yêu thương, sự cảm thông thật sự?
Cuộc sống vốn chứa đựng muôn vàn những nỗi bất hạnh, cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự thiếu thốn về vật chất đã là một nỗi đau nhưng nỗi u uất trong tâm hồn mới là điều đáng sợ hơn hết. Bệnh tật về thể xác có thể chữa bằng thuốc nhưng cái gọi là tâm bệnh thì chỉ có thể chữa lành bằng sự quan tâm, cảm thông, chia sẻ chân thành. Vì thế đừng bao giờ nói rằng tôi không có điều kiện để yêu thương ai cả, vì tôi không có tiền, không có vật chất. Bởi lẽ, tình yêu thương, sự cảm thông đơn giản chỉ là một câu thăm hỏi, một cái ôm an ủi ấm áp, một nụ cười động viên chân thành,…Tình yêu thương vốn dĩ cao quý nhưng cũng thật bình dị như vậy đó!
Cuộc sống nếu như biết cho đi thì sẽ được nhận lại. Người biết đồng cảm, chia sẻ sẽ nhận được tình yêu thương, sự quý mến, biết ơn từ chính những người nhận được sự cảm thông, yêu thương; đồng thời còn nhận được sự tin yêu, tôn trọng từ mọi người xung quanh. Hơn hết là niềm hạnh phúc, sự tự hào về chính mình khi đã làm được điều khiến mọi người đều vui vẻ. Cảm thông và chia sẻ giúp mọi người gần gũi nhau hơn, là cầu nối giữa người với người tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp. Có như vậy, gia đình mới êm ấm, hạnh phúc, góp phần hình thành nên xã hội văn minh, tràn ngập tình yêu thương ấm áp tốt đẹp. Khi con người biết yêu thương nhau sẽ phá bỏ những bức tường của đố kỵ, ganh đua, thù hận. Chiến tranh suy cho cùng cũng chỉ vì loài người thiếu một “trái tim biết yêu thương”. Nếu có tình yêu thương ngự trị thì con người có thể sống một cuộc sống hạnh phúc, bình yên, thay vì chỉ có hận thù và chết chóc.
Dẫu thế, cuộc đời vẫn còn đó những trái tim vẫn đập nhưng lạc mất nhịp sống. Đó là con tim vô cảm, dửng dưng với nỗi đau của người khác. Hơn hết, còn có những kẻ đã bán trái tim của mình cho quỷ dữ, vì đồng tiền, vì hư vinh mà đánh mất lương tâm, đạp đổ hạnh phúc của biết bao nhiêu người. Thật đáng lên án những kẻ tham lam, ích kỷ ấy!
|
Bài làm
“Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim” – Piet. Đây là một nhận định hoàn toàn đúng tuy nhiên khi cuộc sống ngày nay không còn quá vất vả như trước, chỉ cần một cú click chuột bạn có thể biết được chuyện gì xảy ra quanh mình, về những gì đã qua và cả những dự đoán cho tương lai phía trước thì lại phát sinh nhiều tranh giành, tính toán để thu về cho bản thân lợi ích tốt nhất. Tình thương giữa người với người trở nên “khan hiếm”, “đắt đỏ” trong cái thế giới mà công nghệ đang phát triển như huyền thoại. Lẽ nào ta đã quên mất rằng: “Cảm thông là chiếc chìa khóa mở cửa trái tim người khác”-EC Mc Kenzie.
Có bao giờ bạn tự hỏi: “Phải chăng mình đã bỏ quên món quà tốt đẹp mà Thượng Đế ban tặng chỉ để sống với những cỗ máy vô hồn và những toan tính đang làm chính mình mệt mỏi?” Cuộc sống là một bức tranh đa sắc mà mỗi người là một cá thể riêng biệt, không ai giống ai. Như loài chim phân biệt bằng tiếng hót, như loài hoa kiêu hãnh bởi mỗi một hương sắc riêng mình, mỗi người chúng ta sinh ra đều có một trái tim-đó là biểu hiện của sự sống, là nơi kết tinh phẩm chất “người” nhất và là “loại keo” thần kì “kết dính” ta với xã hội. Tình yêu thương đã trở thành bài ca, tiếng hát của cả cộng đòng dân tộc, trở thành tiếng gọi của lương tâm tạo ra sức mạnh đẩy lùi khó khăn, hoạn nạn. Một trái tim biết yêu thương là trái tim mang theo những cảm xúc đẹp, biết nghĩ cho người khác, vui niềm vui của người khác, đau chung nỗi đau của những số phận bất hạnh. Đó chính là sự cảm thông, là thông điệp mà Kenzie muốn truyền tải đến chúng ta: Sự cảm thông xuất phát từ con tim, là ngôn ngữ chung cho toàn thế giới, chính nó tác động lên ý thức, dẫn con người tới hành động, giúp rút ngắn khoảng cách của thời gian, không gian, vượt qua cả sự ngăn trở do bất đồng ngôn ngữ, làm những người xa lạ trở nên gắn bó với nhau, xích lại gần nhau hơn.
“Nơi nào có tình yêu thương thì nơi đó có những điều kì diệu”-Loilla Cather. Trái tim có thể xoa dịu nỗi đau, sự cảm thông có thể xóa tan lòng hận thù, cảm hóa được tâm hồn người khác. Thế mới biết sự cảm thông, yêu thương chân thành là điều vô cùng cần thiết trong cuộc sống, đó chính là hạt giống tốt để từ đó hạnh phúc đơm hoa, kết trái. Thế giới ngày hôm nay trôi đi vội vàng, mỗi con người dường như đang trong tư thế tiến ra đại dương mênh mông với một “cái đầu lạnh” chỉ toàn là tư duy, lí trí. Biển đời lạnh lẽo và tình người cũng vì thế mà đóng băng. Chính những lúc đó, trái tim yêu thương như ánh lửa được thắp lên để mang ấm áp trở về, như ngọn đèn soi sáng tư tưởng, tâm hồn ta. Sự cảm thông ấy giúp ta lắng nghe tiếng ai đó đang than khóc, giúp mắt ta thấy được những số phận éo le cần được nâng đỡ, giúp đôi chân ta chạy đến bên họ và giúp đôi tay ta dang rộng dù không thể ôm trọn cuộc đời này nhưng cũng có thể ôm lấy ai đó đang tuyệt vọng, cho họ một nơi bình yên để dựa vào. Mỗi con người chúng ta không ai có thể sống tách rời cộng đồng, tập thể và chính sự cảm thông, chia sẻ sẽ giúp những kiếp người bất hạnh có thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin vào một ngày mai tươi sáng hơn. Không những vậy, nó còn giúp con người có điểm tựa, sự động viên, giúp đỡ khi vấp ngã, thất bại. Tôi mãi không quên câu chuyện của diễn giả Buscaglia: Trong một lần ông làm giám khảo cuộc thi tìm ra đứa trẻ biết quan tâm người khác nhất, người thắng cuộc là một em bé bốn tuổi; người hàng xóm của em là ông lão vừa mất vợ, nhìn ông khóc em lại gần rồi leo lên ngồi vào lòng ông, em ngồi rất lâu và chỉ ngồi như thế. Đôi khi, sự cảm thông đến từ sự im lặng, đó chính là lắng nghe và thấu hiểu. Dù cậu bé không nói gì nhưng cậu khiến ông lão cảm nhận được vẫn có người sẵn sàng lắng nghe và chia sẻ nỗi mất mát của ông, ông không hề cô độc – cảm thông chính là chiếc chìa khóa mở cửa trái tim người khác. Hay như trong cuốn tiểu thuyết “Me before you” của nhà văn Jojo Moyes, chính tình yêu thương, sự cảm thông đã giúp Will Traynor – một ông chủ trẻ không may gặp tai nạn và phải ngồi xe lăn, sống trong tuyệt vọng đã tìm lại được niềm vui và ý chí sống vượt qua nghịch cảnh. Không chỉ hiện hữu qua những trang sách, trong cuộc sống vẫn tồn tại rất nhiều những trái tim bao la, ấm áp. Dù xa lạ hay thân quen, trong chúng ta đều ít nhất một lần dành những quan tâm, lo lắng cho một ai đó. Tôi muốn nhắc đến đóa hoa hướng dương nở dưới lòng thành phố – bông hoa của nghị lực, của lòng yêu thương – chị Lê Thanh Thúy. Dù bị căn bệnh ung thư xương hành hạ, chị vẫn tha thiết một khát vọng yêu thương và dâng hiến. Chị tham gia công tác xã hội, gây quỹ giúp đỡ trẻ em nghèo mắc bệnh ung thư. Dù giờ đây chị đã đi xa, nhưng tấm lòng của chị vẫn được nuôi dưỡng qua chương trình “Ước mơ của Thúy”. Phải chăng, để có thể thực hiện được điều này, chị cũng như những con người như chị ắt hẳn rất thông hiểu thế nào là tình yêu thương, sự cảm thông thật sự?
Cuộc sống vốn chứa đựng muôn vàn những nỗi bất hạnh, cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự thiếu thốn về vật chất đã là một nỗi đau nhưng nỗi u uất trong tâm hồn mới là điều đáng sợ hơn hết. Bệnh tật về thể xác có thể chữa bằng thuốc nhưng cái gọi là tâm bệnh thì chỉ có thể chữa lành bằng sự quan tâm, cảm thông, chia sẻ chân thành. Vì thế đừng bao giờ nói rằng tôi không có điều kiện để yêu thương ai cả, vì tôi không có tiền, không có vật chất. Bởi lẽ, tình yêu thương, sự cảm thông đơn giản chỉ là một câu thăm hỏi, một cái ôm an ủi ấm áp, một nụ cười động viên chân thành,…Tình yêu thương vốn dĩ cao quý nhưng cũng thật bình dị như vậy đó!
Cuộc sống nếu như biết cho đi thì sẽ được nhận lại. Người biết đồng cảm, chia sẻ sẽ nhận được tình yêu thương, sự quý mến, biết ơn từ chính những người nhận được sự cảm thông, yêu thương; đồng thời còn nhận được sự tin yêu, tôn trọng từ mọi người xung quanh. Hơn hết là niềm hạnh phúc, sự tự hào về chính mình khi đã làm được điều khiến mọi người đều vui vẻ. Cảm thông và chia sẻ giúp mọi người gần gũi nhau hơn, là cầu nối giữa người với người tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp. Có như vậy, gia đình mới êm ấm, hạnh phúc, góp phần hình thành nên xã hội văn minh, tràn ngập tình yêu thương ấm áp tốt đẹp. Khi con người biết yêu thương nhau sẽ phá bỏ những bức tường của đố kỵ, ganh đua, thù hận. Chiến tranh suy cho cùng cũng chỉ vì loài người thiếu một “trái tim biết yêu thương”. Nếu có tình yêu thương ngự trị thì con người có thể sống một cuộc sống hạnh phúc, bình yên, thay vì chỉ có hận thù và chết chóc.
Dẫu thế, cuộc đời vẫn còn đó những trái tim vẫn đập nhưng lạc mất nhịp sống. Đó là con tim vô cảm, dửng dưng với nỗi đau của người khác. Hơn hết, còn có những kẻ đã bán trái tim của mình cho quỷ dữ, vì đồng tiền, vì hư vinh mà đánh mất lương tâm, đạp đổ hạnh phúc của biết bao nhiêu người. Thật đáng lên án những kẻ tham lam, ích kỷ ấy!
|
Bài làm
Hoài Thanh nhận xét về văn Huy Cận thật xác đáng: “Người đã nói với ta nỗi buồn của nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ trên non, buồn đêm mưa, buồn xa vắng…”. Có ở đâu lại thấy một anh sinh viên 20 tuổi mà viết lên tác phẩm “buồn thiên thu”, “sầu vạn cổ” như Huy Cận? Có ở đâu mà từ lời đề từ, nhan đề tới từng câu từng chữ nhuốm màu buồn sầu nhân thế như “Tràng giang”? Chỉ độc nhan đề “Tràng giang” – Huy Cận thôi mà ta đã thấy tài năng, phong cách và hồn thơ “ảo não” nhất trong dòng văn học Việt Nam hiện đại.
Huy Cận là nhà thơ giữ vị trí hàng đầu trong phong trào thơ Mới 1930-1945, mang phong cách cái tôi “ảo não”, “buồn” hoài cổ nhất. Bài thơ “Tràng giang được viết năm 1939 in trong tập thơ đầu tay “Lửa thiêng” của Huy Cận.
Bài thơ ra đời sau những lần chàng sinh viên trường Cao đẳng Canh nông Hà Nội dạo chơi bên bến Chèm cạnh sông Hồng. Những gợn sóng chảy trôi dập dềnh cùng nỗi buồn lạc lõng trong cảnh đất nước đô hộ đã gợi cảm hứng cho Huy Cận viết lên bài thơ này. Nhan đề bài thơ đã khái quát nội dung và truyền tải cảm xúc mà toàn bộ tác phẩm thể hiện.
Nhan đề bài thơ lúc đầu có tên là “Chiều trên sông”. Cách nói này rất cụ thể, nó vừa chỉ ra địa điểm, thời gian, không gian vừa ý tứ khơi gợi mạch cảm xúc chung của tác phẩm. Bởi khi nhắc đến thời gian “chiều” và không gian “trên sông” đồng thời đã tạo cảm giác về điều gì đó mênh mông, buồn bã, xa vời, vắng lặng.
Sau đó, Huy Cận đổi tên tác phẩm thành “Tràng giang” tăng cường tính hàm súc, dư ba hơn. “Tràng giang” là từ Hán Việt có nghĩa là sông dài. Đặt nhan đề “tràng giang” thay vì sông dài, nhờ đó mà ý tứ sâu xa hơn, vừa gợi âm hưởng trang trọng, cổ kính vừa tái hiện một không gian khoáng đạt vô cùng vô tận của thiên nhiên vũ trụ. Với cách dùng 2 âm “ang”, con sông được nhắc đến như dài hơn, con sông trong tâm tưởng người đọc rộng hơn, xa hơn và vĩnh viễn hơn. Con sông ấy như dòng cổ thi đã chảy qua hàng ngàn năm lịch sử, hàng ngàn năm văn hóa.
Ngoài ra, cách đặt tên “Tràng giang” có thể tránh hiểu nhầm với con sông “Trường Giang” của Trung Quốc. Khẩu âm “a” cùng với điệp âm “ang” từ nhan đề có sức gợi hình, khiến người đọc vừa thấy một con sông dài bất tận mà còn cảm nhận được chiều rộng mênh mông.
Trước không gian ấy, chân dung người nghệ sĩ tờ mờ hiện hữu. Đó là một mảnh hồn đang lạc lõng, cô đơn tuyệt đối. Đó là cảm xúc riêng nhưng cũng là tình cảnh chung của mọi trí thức bấy giờ mà Tố Hữu đã từng nhắc khi chưa có sự soi đường của lí tưởng Cách mạng Cộng sản:
“Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
Chọn một dòng hay để nước cuốn trôi”
|
Assignment
Hoai Thanh's comment on Huy Can's writing is very accurate: "He told me the sadness of cramped places and high passes, the sadness of long rivers and wide skies, the sadness of travelers on the mountains, the sadness of rainy nights, the sadness of long distances." absent…". Where else can we see a 20-year-old student writing works of "eternal sadness" and "eternal sadness" like Huy Can? Is there anywhere from the preface, the title to every sentence and every word that is tinged with human sadness like "Trang Giang"? Just with the title "Trang Giang" - Huy Can, we can see the most "illusory" talent, style and poetic soul in modern Vietnamese literature.
Huy Can is a poet who holds a leading position in the New poetry movement of 1930-1945, with the most nostalgic, "depressing" and "sad" ego style. The poem "Trang Giang" was written in 1939 and published in Huy Can's first poetry collection "Sacred Fire".
The poem was born after the time the student at Hanoi College of Agriculture roamed the Chem wharf next to the Red River. The flowing ripples and the sadness of being lost in the colonial landscape inspired Huy Can to write this poem. The title of the poem summarizes the content and conveys the emotions expressed by the entire work.
The title of the poem was originally called "Afternoon on the River". This way of speaking is very specific, it both indicates the place, time, and space while also deliberately evoking the overall emotional flow of the work. Because when mentioning the time "afternoon" and the space "on the river" at the same time, it creates a feeling of something vast, sad, distant, and quiet.
After that, Huy Can changed the name of the work to "Trang Giang" to enhance its conciseness and balance. “Trang Giang” is a Sino-Vietnamese word meaning long river. Giving the title "Trang Giang" instead of Long River, thanks to that, the meaning is deeper, both evoking a solemn and ancient sound and recreating an infinite, spacious space of cosmic nature. With the use of the two sounds "ang", the river is mentioned as longer, the river in the reader's mind is wider, farther and more permanent. That river is like an ancient poetic stream that has flowed through thousands of years of history and culture.
In addition, the naming "Zhangjiang" can avoid misunderstanding with China's "Thangjiang" river. The pronunciation "a" along with the alliterative sound "ang" from the title has an evocative power, making the reader not only see an endless river but also feel its immense width.
In front of that space, the artist's portrait vaguely exists. It is a lost soul, absolutely lonely. That is a personal feeling but also a common situation of all intellectuals at that time that To Huu once mentioned when there was no guidance from the ideals of the Communist Revolution:
“Standing wistfully between two streams of water
Choose a good stream and let the water wash away.”
|
Bài làm
Thơ Mới – dàn hợp xướng của những cái “tôi” đỉnh cao. Đọc thơ Mới, tôi ám ảnh nhất là Hàn Mặc Tử. Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn được xây lên bằng máu, lệ ngàn, bằng nỗi dằn vặt thể xác và trăn trở tinh thần. Thế nhưng, những vần thơ ấy được cất lên bằng thanh âm trong trẻo và tinh khiết lạ thường. Điều đó kết tinh trọn vẹn trong khổ đầu tiên của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Nói về Hàn Mặc Tử, đây được coi là một trong ba đỉnh cao thơ Mới, là chủ soái trường thơ loạn. Thi sĩ là hiện tượng kì dị và ám ảnh nhất trong thơ ca hiện đại. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được Hàn Mặc Tử sáng tác năm 1938, sau in trong tập “Thơ điên”. Bài thơ được sáng tác trong quãng thời gian cuối đời của tác giả. Khổ thơ đầu tiên trong bài thơ là không gian thôn Vĩ Dạ trong kí ức, ẩn chứa sau đó là khao khát được trở về “chốn nước non thanh tú”.
Tác giả bắt đầu lời tỏ tình với thôn Vĩ bằng tiếng gọi mời mọc trở về:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Vĩ Dạ là một ngôi làng nhỏ nằm sát thành phố Huế, bên bờ sông Hương thơ mộng. Vĩ Dạ có những ngôi nhà tranh xinh xắn ẩn hiện sau sắc xanh tươi tắn của vườn tược cây trái và những hàng cau. Bức ảnh chụp Vĩ Dạ mà nàng thơ Hoàng Thị Kim Cúc gửi về cho Hàn khi Hàn nằm trên giường bệnh như một lời mời, lời động viên và lời trách cứ nhẹ nhàng. Anh đã quên Vĩ Dạ chăng? Câu thơ đầu tiên đồng thời là câu hỏi tu từ có 6/7 thanh bằng. Nhờ đó lời trách cứ nhẹ hơn, tình tứ hơn.
Với Hàn, về Vĩ Dạ phải là về “chơi” chứ không phải về thăm. Hàn không về thăm hỏi người thân, bạn bè. Hàn về Vĩ Dạ để thưởng thức nét đẹp, để được chạm vào nhành lá, ngọn cây, nắm cát… nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn Hàn suốt những năm tháng tuổi trẻ.
Làm rõ hơn cảnh đẹp đó, Hàn dùng tới 2 câu thơ tả cảnh Vĩ Dạ trong sớm mai:
“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”
Hàn Mặc Tử đã khởi động hành trình tâm tưởng vượt mọi thời gian và không gian để thêm một lần về với Vĩ Dạ. Thứ đầu tiên anh bắt gặp ở đây là nắng. Nắng là hình ảnh nghệ thuật xuất hiện nhiều và có sưc ám ảnh trong thơ Hàn. Nắng luôn tượng trưng cho thế giới đáng sống, thế giới khác với “lòng giếng lạnh” mà Hàn bị giam hãm:
“Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
Tuy nhiên, nắng nơi Vĩ Dạ còn tốn nhiều “tinh lực” của Hàn hơn tất cả. Cùng một dòng thơ có tới hai từ “nắng”. Cũng chỉ là “nắng” thôi, ấy vậy mà anh còn dùng tới 6 tiếng để tả. “Nắng mới” bổ sung cho “nắng hàng cau” và cụ thể hóa bằng màu “mướt” “như ngọc”. Nắng sớm tinh khôi rọi qua những kẽ lá cau tăm tắp, đổ bóng ánh vàng xuống mặt đắt. Nắng tràn trên thân cây cau bóng nhẵn, đổ dài trên mặt đất. Bóng cau dưới mặt đất tựa cây thước khổng lồ đang đo mực nắng. Những tính từ như “mướt quá” hay “xanh như ngọc” càng làm nổi bật hơn bức tranh thiên nhiên mơn mởn, non tơ, rực rỡ, đầy sức sống.
Khổ thơ khép lại bằng hình ảnh con người Vĩ Dạ:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Ta thấy thấp thoáng bóng khuôn mặt chữ điền nào đó đang đứng sau cành trúc. Hình ảnh lá trúc và khuôn mặt chữ điền khá quen thuộc với mảnh đất xứ Huế. Ca dao Huế có câu:
“Anh thương em không thương bạc thương tiền
|
Assignment
New Poetry - a chorus of peak "I"s. Reading New poetry, I am most haunted by Han Mac Tu. The artistic world in Korean poetry is built with blood, tears, physical torment and mental concerns. However, those poems were sung with an unusually clear and pure voice. That is fully crystallized in the first stanza of the poem "This is Vi Da village":
“Why don't you go back and visit Vi village?
New row sun sunny scowling look up
The garden is so lush and green like jade
Horizontal bamboo leaf cover complete typeface"
Talking about Han Mac Tu, this is considered one of the three pinnacles of New poetry, the leader of the chaotic poetry field. Poets are the strangest and most haunting phenomenon in modern poetry. The poem "This Vi Da Village" was composed by Han Mac Tu in 1938, and later published in the collection "Crazy Poetry". The poem was composed during the last period of the author's life. The first stanza in the poem is the space of Vi Da village in memory, hidden behind it is the desire to return to the "delicate mountain land".
The author begins his confession to Vi village with an invitation to return:
“Why don't you go back and visit Vi village?”
Vi Da is a small village located close to Hue city, on the banks of the romantic Perfume River. Vi Da has lovely thatched houses hidden behind the bright green of fruit gardens and areca rows. The photo of Vi Da that muse Hoang Thi Kim Cuc sent to Han when Han was lying in the hospital bed was an invitation, encouragement and gentle rebuke. Have you forgotten Vi Da? The first verse is also a rhetorical question with 6/7 equal tones. Thanks to that, the reprimand is lighter and more affectionate.
For Han, coming to Vi Da is about "playing" and not about visiting. Han did not return to visit relatives and friends. Han comes to Vi Da to enjoy the beauty, to touch the leaves, tree tops, handfuls of sand... the place that nurtured Han's soul throughout his youth.
To further clarify that beautiful scene, Han used two verses to describe the scene of Vi Da in the early morning:
"New row sun sunny scowling look up
The garden is so lush and green like jade."
Han Mac Tu started a mental journey beyond all time and space to return to Vi Da once again. The first thing he encountered here was sunshine. Sunshine is an artistic image that appears often and is haunting in Korean poetry. Sunshine always symbolizes a world worth living in, a world different from the "cold well" in which Han is imprisoned:
“In the smoky sunlight, dreams melt away
Two thatched cottages with scattered yellow"
However, the sunshine in Vi Da consumes more of Han's "energy" than anything else. The same line of poetry has two words "sunshine". It's just "sunshine", but he still spent 6 hours describing it. "New sunshine" complements "areca row sunshine" and is concretized by "smooth" and "jewel-like" colors. The pure morning sunlight shines through the gaps of areca leaves, casting golden shadows on the face. The sunlight poured down on the smooth, glossy trunk of the areca tree, cascading down to the ground. The areca shadow on the ground is like a giant ruler measuring the sunlight level. Adjectives like "so smooth" or "green as jade" further highlight the picture of nature being lush, young, brilliant, and full of vitality.
The poem closes with the image of the man Vi Da:
"Horizontal bamboo leaf cover complete typeface"
We see a glimpse of a square face standing behind a bamboo branch. The image of bamboo leaves and square faces is quite familiar to the land of Hue. Hue folk songs have a saying:
“I love you, not silver or money
|
Bài làm
Để chọn một thi phẩm xuất sắc nhất, tôi không có câu trả lời. Nhưng, để chọn một thi phẩm ấn tượng nhất, tôi xin chọn “Thương vợ” của Tú Xương. “Thương vợ” độc đáo ở chỗ giãi bày tình cảm của một ông chồng có phần “vô công rồi nghề” về người vợ đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh. Bài thơ nhân văn ở chỗ đã ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ, bênh vực họ và lên án chế độ thối nát.
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Tú Xương hay Trần Tế Xương (1870-1907) là người con mảnh đất Nam Định nghèo khó nhưng giàu ý chí nghị lực. Cuộc đời Tú Xương rơi vào bi kịch của một trí sĩ khao khát thành danh nhưng chế độ xã hội bất công phủ nhận tài năng. Ứng thí 8 lần mà chỉ đỗ được tú tài, Tú Xương chán nản trở về quê dạy học và sáng tác. Bài thơ “Thương vợ” ra đời trong hoàn cảnh này. Bài thơ xoay quanh cuộc sống vất vả, chuân chuyên của bà Tú – vợ Tú Xương khi gánh vác trên vai mối lo “cơm áo gạo tiền” của đại gia đình. Qua đó, Tú Xương thể hiện nỗi hổ thẹn và bất lực trước gia cảnh và rộng hơn là trước chế độ xã hội bấy giờ.
Bốn câu thơ đầu bài thơ là những thông tin cơ bản về công việc kiếm sống của bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Ta thấy một chân dung bà Tú đang rơi vào vòng tuần hoàn của công việc. Công việc ấy kéo dài từ ngày tới đêm, từ năm này qua năm khác và từ nơi nơi “quãng vắng” tới chỗ “buổi đò đông”.
Bà Tú như cái bóng đen chới với giữa những “mom sông”, “quãng vắng”, “mặt nước”, đều là nơi đầu sóng ngọn gió, nước vây bủa, chỉ một chút sơ sẩy là có thể sa chân ngã. Bà Tú có khác nào một “thân cò”, một “dải lụa đào”, một “củ ấu gai”… ta từng nghe trong câu ca dao xưa?
Cụ thể hơn về công việc của bà Tú, ta thấy tác giả nhắc đến “buôn bán”. Công việc này đòi hỏi một người phụ nữ “vốn con nhà dòng” như bà Tú phải bon chen nơi có đủ mọi loại người, phức tạp và xô bồ. Ấy vậy mà bà Tú giỏi! Bà Tú có thể “nuôi đủ”, không thừa, không thiếu cả đại gia đình “năm con với một chồng”. Nuôi một đứa con đã là khó, nay nuôi cả thảy năm đứa lớn nhỏ. Vất vả lắm thay! Song, vất vả hơn nữa là, người chồng chí khí thanh khiết kia không những không thể chia sẻ nỗi vất vả mà còn trở thành cái “nợ đời” với bà Tú. Chữ “nuôi đủ” và cách dùng số từ “năm” – “một” cho thấy nỗi hổ thẹn khốn cùng của tác giả trước người vợ của mình.
Bốn câu trong phần sau của bài thơ sau, Tú Xương giải tỏa nỗi bất bình thay cho bà Tú bằng mấy câu cửa miệng:
“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Nói về đặc sắc nghệ thuật, đoạn thơ nổi bật với cách vận dụng sáng tạo thi liệu dân gian. Câu thơ vừa quen vừa lạ được khỏi gợi cảm hứng từ những câu ca dao, dân ca xưa như “Hai sương một nắng”, như “Một duyên, hai nợ, ba tình/Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh”…
|
Assignment
To choose the best poem, I have no answer. But, to choose the most impressive poem, I would choose "Loving Wife" by Tu Xuong. "Love your wife" is unique in that it expresses the feelings of a somewhat "workless" husband about his wife who is diligent, hard-working, and rich in the virtue of sacrifice. The poem is humane in that it praises the beauty of women's souls, defends them and condemns the corrupt regime.
“Trading all year round at Mom River,
Raising five children with one husband.
Diving like a stork in the desert,
The tightness of the water surface during the winter ferry.
One fate, two debts, sad fate,
Five suns, ten rains, dare to take charge.
Parents have bad living habits:
Having an indifferent husband is as good as not having one!”
Tu Xuong or Tran Te Xuong (1870-1907) was a son of the poor but strong-willed land of Nam Dinh. Tu Xuong's life fell into the tragedy of an intellectual who yearned to become famous but an unjust social regime denied his talent. Applying 8 times but only passing the baccalaureate, Tu Xuong was discouraged and returned to his hometown to teach and compose. The poem "Loving Wife" was born in this situation. The poem revolves around the hard and professional life of Mrs. Tu - Tu Xuong's wife when shouldering the worry of "food, clothes and money" for the large family. Thereby, Tu Xuong expressed his shame and helplessness before his family situation and, more broadly, before the social regime at that time.
The first four lines of the poem are basic information about Ms. Tu's job to make a living:
“Trading all year round at Mom River,
Raising five children with one husband.
Diving like a stork in the desert,
The tightness of the water surface in the winter morning."
We see a portrait of Mrs. Tu falling into the cycle of work. That work lasted from day to night, from year to year and from a "deserted" place to a "crowded ferry".
Mrs. Tu is like a dark shadow floating among the "river moms", "empty places", "water surfaces", all of which are places where waves, wind, and water surround, where just a little mistake can lead to a fall. Is Mrs. Tu any different from a "stork's body", a "peach silk strip", a "thorny tuber"... we have heard in old folk songs?
More specifically about Ms. Tu's work, we see the author mention "trading". This job requires a "convent-born" woman like Mrs. Tu to hustle in a place with all kinds of people, in a complicated and chaotic way. Yet Mrs. Tu is good! Mrs. Tu can "raise enough", no excess, no shortage of a large family of "five children and one husband". Raising one child is already difficult, but now raising five children, big and small. It's so hard! However, what is even more difficult is that the pure-minded husband not only cannot share the hardship but also becomes a "life debt" to Mrs. Tu. The word "enough to feed" and the use of numbers from "five" - "one" show the author's miserable shame before his wife.
Four sentences later in the poem, Tu Xuong relieves Mrs. Tu's grievances with a few catchphrases:
"One fate, two debts, I can't help it,
Five suns, ten rains, dare to take charge.
Parents have bad living habits:
Having an indifferent husband is as good as not having one!”
Talking about artistic characteristics, the poem stands out with its creative application of folk poetry. The verses, both familiar and strange, are inspired by old folk songs and folk songs such as "Two dew, one sunshine", like "One fate, two debts, three loves/Dreams lurking beside me for five hours"...
|
Bài làm
Viên Mai từng nói “Làm người thì không nên có cái cái tôi. Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi”. Đúng vậy, nếu như không tìm cho mình một lối đi khác biệt hay một phong cách riêng thì tác phẩm của họ sẽ không thể vượt qua được sự băng hoại của thời gian. Nền thơ Mới lãng mạn 1930-1945 là dàn xướng ca của cái tôi. Ở đó, Xuân Diệu nổi bật với danh hiệu “mới nhất trong các nhà thơ mới”. Người đọc có thể thấy ngay điều này trong vỏn vẹn 4 câu thơ ngắn đầu bài thơ “Vội vàng”:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Xuân Diệu (1916-1985) có bút danh Trảo Nha. là nhà thơ có sự hòa quyện giữa đức tình cần cù, hăng say lao động của quê cha Hà Tình nghèo khó và tâm hồn nồng nàn tha thiết của gió biển Quy Nhơn quê mẹ. Cuộc đời Xuân Diệu sống, lao động và cống hiến hết mình. Xuân Diệu là người yêu đời, ham sống, có nhận thức sâu sắc về giá trị tuổi trẻ và thời gian. Do đó, Xuân Diệu dường như bị rơi vào khủng hoảng khi nhận thức rõ cái tôi cô đơn của trí thức tiểu tư sản trong thời đại đất nước bị thực dân đô hộ. Chỉ với 4 câu thơ ngắn trong bài “Vội vàng”, người đọc sẽ thấy hết những điều đó.
Đoạn thơ đầu trong một bài thơ tự do, Xuân Diệu chọn thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn, xúc tích và bao quát cảm hứng toàn bài. Đoạn thơ có thể coi là ước vọng của cả đời Xuân Diệu, cho dù nó có phần hoang đường, kì lạ.
“Tôi muốn tắt nắng đi”
“Tôi muốn buộc gió lại”
Hau chữ “tôi muốn” như một tuyên ngôn của cái tôi tự tin và đầy tự tôn trước cuộc đời này. Với cách đưa đại từ “tôi” lên đầu tiên kết hợp với từ “muốn”, Xuân Diệu gần như đã lật nhào mọi quy phạm khắc nghiệt của nền thơ ca trung đại trước đó.
Thơ ca trung đại chỉ bàn tới việc nước, việc đại sự liên quan tới tồn vong dân tộc. Có chăng chút phong cách cá nhân cũng chỉ dám nép mình sau chữ “ta” chung. Song, các nhà thơ mới và ngay cả Xuân Diệu, tính phi ngã ấy đã bị phá vỡ hoàn toàn.
Cái tôi ấy bàn tới việc gì lớn lao? Đó là khao khát được “tắt nắng” và “buộc gió”. Thi sĩ như đang vươn mình đoạt quyền năng của tạo hóa, thay đổi mọi quy luật vũ trụ. Đôn-ki-hô-tê xưa còn tưởng mình đánh bại cả quái vật gió nhưng rốt cục đó chỉ là cái “cối xay”. Xuân Diệu cũng vậy, người lại có cái khao khát quá mức hoang đường. Nắng và gió thuộc về trời cao, nó không bị hạn chế hay ngăn cấm băng bất kì một thứ quyền lực nào. Vậy mà thi sĩ muốn “tắt”, “buộc”. Hai động từ mạnh càng như tăng thêm vẻ hăm hở, tự tin của tác giả.
Song, khác với Đôn-ki-hô-tê, nguyên do của khát vọng hoang đường ấy lại hoàn toàn có căn cứ:
“Cho màu đừng nhạt mất”
“Cho hương đừng bay đi”
|
Assignment
Vien Mai once said, "As a human being, you should not have an ego. But writing poetry is impossible without ego." That's right, if they don't find a different path or their own style, their works will not be able to overcome the deterioration of time. The New Romantic poetry of 1930-1945 is the chorus of the ego. There, Xuan Dieu stands out as "the newest of the new poets". Readers can immediately see this in just the first four short verses of the poem "Hurry":
"I want the sun stop shining
Don't let the color fade away
I want to tie the wind back
Let the incense not fly away."
Xuan Dieu (1916-1985) had the pen name Trao Nha. is a poet who blends the diligence and hard work of his poor father's hometown, Ha Tinh, with the passionate soul of his mother's hometown Quy Nhon's sea breeze. Xuan Dieu's life is lived, worked and devoted to his best. Xuan Dieu is a person who loves life, loves to live, and has a deep awareness of the value of youth and time. Therefore, Xuan Dieu seemed to fall into crisis when he clearly realized the lonely ego of petty bourgeois intellectuals in the era of colonial domination. With just 4 short verses in the poem "Hurry", readers will see all of that.
In the first stanza of a free poem, Xuan Dieu chose a pentameter form that is short, concise and covers the entire poem's inspiration. The poem can be considered Xuan Dieu's lifelong wish, even though it is somewhat wild and strange.
"I want the sun stop shining"
“I want to tie the wind back”
The word "I want" is like a declaration of self-confidence and self-respect before this life. By putting the pronoun "I" first in combination with the word "want", Xuan Dieu almost overturned all the harsh norms of previous medieval poetry.
Medieval poetry only discussed state affairs and major matters related to national survival. Even a little bit of personal style only dares to hide behind the common word "we". However, for new poets and even Xuan Dieu, that impersonality has been completely broken.
What big things does that ego discuss? It is the desire to "turn off the sun" and "force the wind". The poet seems to be reaching out to take over the power of creation, changing all the laws of the universe. Don Quixote in the past thought he could defeat the wind monster, but in the end it was just a "mill". Xuan Dieu is the same, he has a desire that is too wild. Sun and wind belong to the sky, they are not limited or prohibited by any power. Yet the poet wants to "turn off" and "force". The two strong verbs seem to increase the author's eagerness and confidence.
However, unlike Don Quixote, the reason for that wild desire is completely well-founded:
"Don't let the color fade away"
"Let the incense not fly away"
|
Bài làm
Khi bắt gặp “Mời trầu”, “Bánh trôi nước”, “Duyên kỳ ngộ, “Tự tình”… người ta bỗng giật mình về một “hiện tượng độc đáo” nhất của thơ ca trung đại – Hồ Xuân Hương. Trong đó, tôi ấn tượng nhất với bài thơ “Tự tình II”. Bài thơ đã thể hiện tâm trạng Hồ Xuân Hương vừa đau thương vừa phóng khoáng, ẩn chứa sức sống tiềm tàng mãnh liệt:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!”
Cuộc đời Hồ Xuân Hương đã khẳng định tính chính xác trong quan niệm “hồng nhan bạc phận” mà Nguyễn Du, Nguyễn Trãi… thường nhắc. Hồ Xuân Hương không chỉ xinh đẹp, xuất thân gia giáo mà còn tính phóng khoáng, giao thiệp rộng, tài văn thơ uyên bác. Hai lần duyên phận lỡ dở, Hồ Xuân Hương thấu hiểu kiếp làm lẽ. Bao nhiêu chất chứa trong lòng, nữ thi sĩ gửi cả vào thi phẩm “Tự tình II”. Bài thơ thể hiện tâm trạng người phụ nữ trong đêm khuya tự thương cho thân phận hẩm hiu của mình.
Hai câu thơ đầu là không gian và tình cảnh hiện tại của con người:
“Canh khuya văng vẳng trống canh đồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.”
Thời gian ở đây là “canh khuya” và không gian là tiếng trống điểm giờ “văng vẳng” mở ra phông nền ảm đạm, u uất. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong dáng dấp “hồng nhan”. Hồng nhan chỉ người phụ nữ đẹp, đẹp cả bề ngoài và tâm hồn. Tuy nhiên, hồng nhan lại gắn với trạng thái “trơ”. Trơ tức là trơ lì, trơ trọi, yên như phỗng, không cảm xúc, không động thái. Thậm chí, theo văn hóa dân gian, trơ còn gắn với sự trơ tráo, trơ trẽn, mang ý tiêu cực. Làm sao một người hồng nhan lại là xấu, là không tốt? Nó thật chẳng khác nào cái nỗi “kỳ oan” mắc phải chỉ vì “nét phong nhã” mà Nguyễn Du đề cập trong “Độc Tiểu Thanh kí”. Như vậy, tâm trạng con người đang ở trạng thái xúc cảm từ bỏ.
Hẳn là có điều gì nén nhịn nhiều lắm, vậy nên nhân vật “mượn rượu giải sầu”:.
“Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.”
Nếu đúng như ý thơ chỉ là đưa ngửi hương rượu, vậy thì con người khó mà say được? Người phụ nữ say điều gì? Tôi đoán… người đang cố tình say, người muốn chìm vào giấc mộng mị dài, quên đi thực tại. Thế nhưng, càng muốn say lại càng tỉnh táo, càng muốn quên thì lại không sao quên. Vầng trăng sáng đoàn viên tri kỉ ngàn đời của các nghệ sĩ nay cũng nhuốm màu tâm trạng nhân vật. Trăng đang ngả dần, khuất bóng. Hẳn rằng trăng cũng qua thời hoàng kim. Hơn nữa, trăng đã “khuyết” lại còn “chưa tròn”. Trăng cũng như thi sĩ, hai lần lỡ dở mà chẳng thấy đươc viên mãn, vậy nên trăng vốn đã khuyết nay còn đợi mãi chẳng được tới ngày “tròn” vẹn.
Đã quá chán trường, người phụ nữ dường như muốn phản kháng:
“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”
Những động từ mạnh “xiên ngang” và “đâm toạc” và ngắt nhịp 4/3 cùng câu thơ toàn thanh trắc thể hiện trạng thái mất kiểm soát. Nhà thơ hóa thân vào loài rêu để vùng dậy “xiên” đất. Nhà thơ hóa thân vào đá để “đâm toạc” tới trời. Nữ thi nhân muốn lật đổ hoàn toàn thứ chế độ trọng nam khinh nữ, nhiều lễ giáo khắt khe kia để tới khoảng trời tự do, thỏa mãn khát vọng.
Đáng tiếc, cuộc “cách mạng” ấy chẳng thành công:
“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
|
Assignment
When encountering "Invite Betel", "Water Floating Cake", "Unexpected Fate", "Self-Love"... people are suddenly startled by the most "unique phenomenon" of medieval poetry - Ho Xuan Huong. Among them, I was most impressed with the poem "Self-love II". The poem shows Ho Xuan Huong's mood, which is both painful and generous, containing intense potential vitality:
“Late at night, drums and drums are heard,
Inert to the beauty of young water.
A cup of fragrant wine brings drunkenness back to consciousness,
The waning moon is not yet full,
Slanting across the ground, moss is in clusters.
Pierced the base of the clouds and kicked a few rocks.
Tired of spring coming back again and again,
Little pieces of love to share!”
Ho Xuan Huong's life has affirmed the accuracy of the concept of "beautiful fate" that Nguyen Du, Nguyen Trai... often mentioned. Ho Xuan Huong is not only beautiful and well-educated, but also generous, sociable, and talented in poetry. Twice fate failed, Ho Xuan Huong understood that life was right. The female poet put so much content in her heart into the poem "Self-love II". The poem expresses the mood of a woman in the dead of night, feeling sorry for her miserable fate.
The first two verses are about space and people's current situation:
“The late night watch drums echo loudly at the watch post,
Inert to the beauty of young water."
The time here is "midnight watch" and the space is the "echoing" sound of drums striking the hour, opening up a gloomy, melancholy background. The lyrical character appears in a "pink" appearance. Pink face refers to a beautiful woman, beautiful both on the outside and in the soul. However, red beauty is associated with a state of "inertness". To be inert means to be inert, inert, as still as a rock, without emotions or movements. Even according to folk culture, indifference is also associated with brazenness, brazenness, and negative connotations. How can a beautiful person be bad or not good? It is no different from the "unfairness" suffered just because of "gentle features" that Nguyen Du mentioned in "Doc Tieu Thanh ky". Thus, the human state of mind is in an emotional state of giving up.
There must have been something he was holding back a lot, so the character "borrowed wine to relieve his sadness":.
"A cup of fragrant wine will bring you back to being drunk,
The moon is late, not yet full."
If it's true that the poem's intention is just to smell the scent of wine, then it's difficult for people to get drunk? What is the woman drunk about? I guess... people are deliberately drunk, people want to fall into a long dream, forget reality. However, the more I want to get drunk, the more I stay awake; the more I want to forget, I can't forget. The bright moon of the artists' eternal reunion is now also tinged with the character's mood. The moon is gradually receding, disappearing. Surely the moon has passed its golden age. Furthermore, the moon was "waning" and still "not yet full". The moon is like a poet, twice failed but never found fulfillment, so the moon, which was already waning, is still waiting forever for the "full" day to come.
Already bored with school, the woman seemed to want to protest:
“Slanting across the ground, moss clumps,
Pierced the base of the clouds, kicked a few rocks.”
The strong verbs "slant" and "pierce" and the 4/3 rhythm along with the all-tone verse express a state of loss of control. The poet incarnated into moss to rise up and "skew" the earth. The poet incarnated into stone to "pierce" the sky. The female poet wants to completely overthrow the regime that favors men and has many strict rituals in order to reach a world of freedom and satisfy her desires.
Unfortunately, that "revolution" was not successful:
"I'm tired of spring, spring comes again,
|
Bài làm
“Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người đọc bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới, về những điều, những việc ai cũng biết cả rồi”, câu nói từ một nhà phê bình văn học nào đó khiến tôi nhớ về bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến. Cũng với thể tài mùa thu cũ kĩ nhưng Nguyễn Khuyến lại thể hiện nội dung bằng những cách rất riêng và những tình cảm rất mới mẻ.
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”
Nguyễn Khuyến (1835-1909) người Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam, nổi tiếng thông minh, giỏi thơ, vè, câu đối. Từng đỗ đầu cả ba kì thi thi Hương, Hội, Đình nên người ta gọi Nguyễn Khuyến là Tam Nguyên Yên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan dưới triều Nguyễn 10 năm cho tới triều đình hèn kém khuất phục trước giặc Pháp, ông đã quyết định cáo quan lui về ở ẩn. Bài thơ “Thu điếu” hay “Câu ác mùa thu” được sáng tác trong thời gian này. Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên màu thu Bắc Bộ đặc trưng và những tâm sự thế sự sâu sắc trong lòng nhà thơ.
Bức tranh mùa thu Bắc Bộ được miêu tả ở điểm nhìn mặt hồ:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.”
Không gian làng quê Bắc Bộ vào thu được mở ra cùng hình ảnh quen thuộc của ao nước, thuyền câu, sóng nước, lá vang rơi…. Quen thuộc, nhưng các chi tiết qua ngòi bút Nguyễn Khuyến thật mới mẻ và sống động. Người ta miêu tả mùa thu nhắm vào vẻ nhẹ nhàng, dềnh dàng, chậm rãi. Còn thơ Nguyễn Khuyến, tác giả gieo vần “eo” để đẩy nhanh tốc độ mọi sự vật, sự việc. Những chữ “”veo”, “tẻo teo”, “tí”, “vèo”, “lạnh lẽo”… làm nên vẻ cô tịch, ít ỏi, nhỏ bé. Để nghe được, thấy được những sự chuyển động “gợn tí”, “khẽ đưa vèo” ắt hẳn thi sĩ đang ở một nơi yên tĩnh lắm. Ao nước thì trong veo, không có chút khuấy đục. Vậy hẳn chiếc thuyền câu cũng bất động rồi. Có sóng đấy, nhưng chỉ “gợn tí” mà thôi. Cứu cánh không gian vắng lặng là tiếng “vèo” của chiếc lá rơi. Thế nhưng, nghe được cả tiếng “vèo” rất khẽ ấy lại càng chứng tỏ không gian đang tịch mịch tới bức bối lòng người. Trong văn học, đây được gọi là bút pháp lấy động tả tĩnh.
Ở những câu thơ sau, Nguyễn Khuyến chuyển điểm nhìn trần thuật tới không gian mới:
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”
Bức tranh vẫn được mô tả bằng những hình ảnh quen thuộc với trời xanh mây trắng, đường ngõ trúc, ao bèo, cá đớp mồi. Không gian có sự mở rộng tuyệt đối với hình ảnh “trời xanh ngắt”. Trên đó, xuất hiện một “tầng mây lơ lửng”. Nói là một tầng mây, nhưng lại chỉ “lơ lửng”. Dường như mây đang bị mắc kẹt, trống rỗng cô độc giữa không gian rộn lớn. Nhìn về “ngõ trúc” – nơi dễ bắt gặp sự sống nhất, tác giả chỉ thấy “vắng teo”. Cũng chẳng khá hơn!
Cuối cùng, tác giả thở dài trở về mặt hồ:
“Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
|
Assignment
“Great literary works attract readers because of new perspectives, new feelings, about things, things everyone already knows,” a quote from a certain literary critic reminds me of the poem. “Collecting Cigarettes” by Nguyen Khuyen. Also with the old autumn genre, Nguyen Khuyen expressed the content in very unique ways and with very new emotions.
"Cold pond water is clear collected,
A tiny fishing boat atrophy.
Blue waves follow the slight ripples,
Yellow leaves gently sway in the wind.
Clouds hang in the blue sky.
The winding bamboo alley is empty of customers.
I can't lean on a pillow or hug for too long,
The fish don't bite under the water duck's feet."
Nguyen Khuyen (1835-1909) from Yen Do, Binh Luc, Ha Nam, was famous for his intelligence and was good at poetry, rhymes, and couplets. Having passed first in all three exams, Huong, Hoi, and Dinh, people called Nguyen Khuyen Tam Nguyen Yen Do. Nguyen Khuyen worked as a mandarin under the Nguyen Dynasty for 10 years until the court cowardly surrendered to the French invaders. He decided to resign and go into hiding. The poem "Autumn Festival" or "Evil Sentences of Autumn" was composed during this time. The poem depicts the typical Northern autumn natural picture and the poet's deep feelings of the world.
The Northern autumn picture is depicted from the lake view point:
"Cold pond water is clear collected,
A tiny fishing boat atrophy.
Blue waves follow the slight ripples,
Yellow leaves gently sway in the wind."
The space of Northern countryside in autumn opens up with familiar images of ponds, fishing boats, water waves, falling leaves... Familiar, but the details through Nguyen Khuyen's pen are new and vivid. People describe autumn as gentle, easy, and slow. In Nguyen Khuyen's poetry, the author rhymes "eo" to speed up all things and events. The words ""veo", "shrunken", "tiny", "whirring", "cold"... create a lonely, meager, small look. To hear and see the "little ripples" and "gently swaying" movements, the poet must be in a very quiet place. The pond water is clear, without any turbidity. So the fishing boat must have been motionless. There are waves, but only "a little ripple". The salvation of the quiet space is the "whoosh" sound of falling leaves. However, hearing that very soft "whoosh" sound even proves that the space is so quiet that it makes people feel uncomfortable. In literature, this is called the static style of writing.
In the following verses, Nguyen Khuyen shifts the narrative point of view to a new space:
“Clouds float in the blue sky.
The winding bamboo alley is empty of customers."
The painting is still depicted with familiar images of blue sky and white clouds, bamboo alleys, duckweed ponds, and fish biting bait. The space has absolute openness with the image of "blue sky". Above it, a "floating layer of clouds" appears. It says it's a layer of clouds, but it's just "floating". It seems like the clouds are trapped, empty and lonely in the middle of a vast space. Looking at the "bamboo alley" - the place where life is easiest to find, the author only sees "emptiness". It's no better!
Finally, the author sighed and returned to the lake:
"I can't lean on a pillow or hug for a long time.
|
Bài làm
Truyện ngắn “Rừng xà nu” ra đời trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt năm 1965. Tác phẩm tựa bản anh hùng ca đậm màu sắc sử thi về con người Tây Nguyên trong kháng chiến. Nguyễn Trung Thành đã dựng lên một vài hình tượng nhân vật tiêu biểu cho các lớp thế hệ dân làng Xô Man. Trong đó, hình tượng nhân vật T’nú là điển hình và được tác giả dụng công xây dựng nhất.
Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhà văn đã có thời gian dài lăn lộn chiến trường chống Pháp ở Liên khu V, do đó đã có những hiểu biết nhất định về Tây Nguyên. Truyện ngắn “Rừng xà nu” lấy bối cảnh của chặng đường cách mạng dân làng Xô Man giữa cánh rừng xà nu đại ngàn để thể hiện. Nhân vật T’nú là một trong những anh hùng nhân dân mang đầy đủ đặc điểm của số phận và phẩm chất con người làng Xô Man.
Thứ nhất, T’nú là người mang số phận đau thương, có cả những nỗi đau thương riêng và nỗi đau chung của dân làng Xô Man. T’nú mang ba mối thù lớn, của bản thân, gia đình và của quê hương. T’nú tựa một cây xà nu trưởng thành giữa đại ngàn xà nu. T’nú chính là hóa thân của những cây xà nu bị đại bác địch rơi trúng “nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Mười đầu ngón tay T’nú bị giặc đốt chính là những “cục máu lớn” ấy. Khi người dân làng Xô Man chịu mất mát đi anh Quyết, anh Xút, bà Nhan… thì T’nú cũng mang nỗi đau chứng kiến người thân, gia đình bị giết hại. “T’nú không cứu được vợ con”, cụ Mết nhấn mạnh nhiều lần nỗi đau ấy. Cuối cùng, T’nú còn mang nỗi đau quê hương. T’nú chứng kiến quê hương bị giày xéo, thiên nhiên bị tàn phá. T’nú cùng con người và cánh rừng xà nu đều “nằm trong tầm đại bác của giặc”. Do đó, T’nú là hội tụ của tất cả nỗi đau thương mảnh đất Tây Nguyên.
|
Assignment
The short story "The Serpent Forest" was born in the context of the fierce resistance war against America in 1965. The work is an epic poem full of epic colors about the people of the Central Highlands during the resistance war. Nguyen Trung Thanh has created a few representative character images for generations of Xo Man villagers. Among them, the image of the character T'nú is typical and has been built by the author the most.
Nguyen Trung Thanh is a writer who grew up during the resistance war against the French. The writer spent a long time on the battlefield against the French in Inter-Region V, so he had certain knowledge about the Central Highlands. The short story "The Snake Forest" is set in the revolutionary journey of Xo Man villagers in the middle of a vast forest of snakes to express. The character T'nú is one of the people's heroes who has all the characteristics of the fate and qualities of the people of Xo Man village.
First, T'nú is a person with a painful fate, with both his own pain and the common pain of the Xo Man villagers. T'nú carries three great hatreds, for himself, his family and his homeland. T'nú is like a mature snakehead tree among thousands of snakeheads. T'nú is the incarnation of the snake plants that were hit by enemy cannons. "The sap oozes out abundantly, fragrant, glistening in the harsh summer sun, then gradually bruises, blackens and thickens into blood clots. big". The ten fingertips of T'nú that were burned by the enemy were those "big clots of blood". When the people of Xo Man village suffered the loss of Mr. Quyet, Mr. Xut, and Mrs. Nhan..., T'nú also bore the pain of witnessing their relatives and family being killed. "T'nú couldn't save his wife and children," Mr. Met emphasized that pain many times. In the end, T'nú still carries the pain of his homeland. T'nú witnessed his homeland being trampled and nature destroyed. T'nú, its people and the snake forest were all "within the enemy's cannon range". Therefore, T'nú is the convergence of all the pain and suffering of the Central Highlands.
|
Áo Vàng
.....Về Yêu Hoa Cúc
- Tuấn Anh ơi, ra đây thêm lần nữa thôi!- Encore? Maman, tụi con chưa xong game mà!- Tuy phàn nàn nhưng con bé cũng chạy ra. Tay vừa xỏ vào áo dài, cổ còn ngoái lại dặn vói vào trong với em:- Thu Thu chờ chị! Không được ăn gian đi trước đó nhe,Tôi ngắm công trình của mình từ sáng sớm, xem cũng tạm đựoc…- Okê, xong rồi đó bé con ơi. Đừng lầu bầu nữa. Đến khi mẹ sửa xong lại đòi mặc suốt ngày cho xem.Con Tuấn Anh nhún vai, đưa tay lên trời tỏ vẽ chán chường, không trả lời mẹ, chạy vội vào phòng chơi đánh cờ tiếp với em.Cũng tội nghiệp con bé, từ lúc thức dậy đến giờ, chưa nghe mẹ nói đến chuyện ăn sáng, đã bị chạy ra chạy vào thử áo đến chóng mặt.Sáng chủ nhật chồng tôi thường thức trễ. Con cái dậy sớm cũng chơi với nhau trong phòng. Từ ngày dọn về nhà mới, hai đứa được phòng riêng với giường hai tầng, con Thu Thu bớt mè nheo đòi ngủ với mẹ mỗi tối, mặc dù đã vào lớp hai tiểu học. Tôi luôn luôn có vài giờ rảnh rỗi cho riêng mình, khi thì nằm dài trong bồn nước lim dim …ngủ tiếp hoặc chạy vài vòng cho khỏe người ở công viên trước nhà.Trời hôm nay không có nắng, tôi lười biếng ra công viên nên ở nhà dọn dẹp áo quần. Đồ đạc từ hôm dọn nhà vẫn chưa xếp ra hết. Đồ mùa hè cất vào, soạn áo ấm cho mùa thu sắp đến….Bất ngờ tôi tìm thấy một bao giấy cũ gói ghém cẩn thận, chẳng biết cái gì trong đó mà sao không nhớ ra. Gở hết băng keo, mở ba lần giấy, ồ, chiếc áo dài nội hóa với những hoa cúc vàng.Ngạc nhiên và thích thú! Chiếc áo dài vàng ngày nào của tôi đây mà!Tôi đã cất giữ rất kỹ ở đâu đó bấy lâu nay rồi hầu như không còn nhớ đến nữa.Ướm áo lên người, ngắm mình trong kiếng, tôi muốn rũ ra cười. Terrible! cả chiếc áo dài không che nổi nữa thân hình! ( thế mới biết mình càng ngày càng phát tướng). Nhưng thấy vải áo cũng còn tốt, tôi chợt nghĩ tại sao mình không sửa lại cho con Tuấn Anh? Nó cũng bắt đằu trổ mã rồi đó. Mười hai tuổi mà con bé đã cao gần bằng mẹ. Thế là bày ra cắt xén, rồi kêu gọi con thử vào thử ra cả chục lần. Thu Thu thấy mẹ lăng xăng với chị cũng vòi cho được phần mình. Tôi liền trấn an con.- Thế nào mẹ cũng may cho con kịp để rước đèn tháng tám mà.Đường kim sợi chỉ đưa tôi ngược thời gian, nhớ lại ‘’chuyện tình tôi thủơ bé, mười sáu tuổi đã yêu, yêu người anh cùng xóm…’’ Nhà anh cách nhà tôi vài mái ngói. Sân thượng nhà anh thì cao, nhà tôi lại có một mảnh vườn sau rất thơ mộng. Bố tôi thường tự hào rằng ở Sàigòn, cao ốc không thiếu, nhưng chẳng dễ gì kiếm được một mảnh vườn “thơ” giữa lòng phố.Sau những giờ tan sở, bố tôi chỉ quanh quẩn trong vườn với mấy khóm hồng , khóm cúc và các bụi tường vi. Tôi lăng xăng theo bố, châm trà rót nước, xem chừng hiếu thảo lắm, thật ra động cơ thúc đẩy là cái bóng người thấp thoáng trên sân thượng xa xa kìa.Bố mẹ tôi khó lắm. Ông theo tây học nhưng tánh tình cổ hủ còn hơn nhà nho. Mẹ thì đúng mẫu người “xuất giá tòng phu” . Nhớ lại hồi chị hai tôi thương anh Lâm, chị khóc biết bao nhiêu nước mắt để xin được lấy anh Lâm mà bố không cho, mẹ cũng đành chịu. Mới nghĩ đến đó tôi đã run rồi, nào đâu dám tính chuyện yêu đương.Thật tình tôi không “hư đốn” lắm đâu. Chỉ vì đối phương tài ba, tấn công tới tấp, quân ta mới lớn chưa biết đề phòng nên mới mười sáu tuổi đã mơ mộng yêu đương!!!Anh lẻo đẽo theo tôi sáng chiều trên đường đến trường. Những ánh mắt nụ cười trao nhau…chẳng biết từ bao giờ, chúng tôi quen nhau… Tôi còn bé quá, tình yêu anh trân quí, để dành, chả dám rủ tôi hẹn hò, trốn học. Anh chỉ được phép nhớ nhung tôi, và vọng nhìn tà áo dài vàng của tôi mỗi ngày, rót nước pha trà cho bố bên khung vườn nhỏ để ca bài anh về yêu hoa cúc…Chờ mãi đến năm vào đại học, tôi được làm người lớn, bố mẹ tôi cho phép có bạn trai.Tôi mới dám hiên ngang đem “người anh cùng xóm” về trình diện gia đình. Anh o bế bố tôi kỷ lắm. Những lúc ở cạnh bố, nhìn anh làm vẻ đạo mạo, hiền ngoan, tôi cười thầm, chắc ông già cho phép làm rể rồi đó.Tháng tư 75, bố mẹ tôi gạt nước mắt đưa hai đứa tôi lên đường tìm tự do. Anh đã hứa với Me anh sẽ yêu thương và bảo bọc tôi suốt đời vì chúng tôi đã yêu nhau từ năm tôi mười sáu..(chúa ơi! Phút cuối ông bà mới vở lẽ…)Ra đi, tôi chỉ gói ghém đem theo được một chiếc áo dài vàng. Chân tình đó giúp chúng tôi vượt qua những đoạn đường thử thách, trưởng thành và tạo dựng tương lai trong sáng...Mười mấy năm qua vèo như nháy mắt. Với thời gian, người yêu ngày xưa của tôi chả còn chút lãng mạn nào như thuở đầu. Nhưng lao động giỏi, thay tả, pha sữa, rửa chén .... thì rất chì. Mặt mũi lúc nào cũng đăm chiêu, tính tính toán toán sao cho đủ tiền để ‘’down’’ một căn nhà nho nhỏ…Mỗi lần vợ chồng cải lẫy nhau, tôi cứ giả vờ ray rức chàng: Biết vậy em chẳng nhận lời anh lúc xưa. Áo vàng! Áo vàng!...Chắc anh hết thương em rồi!- Thôi đi cô Hai, thơ thẩn với ca nhạc, có mà đói. Người ta bận ăn bận làm tối cả mặt, cô Hai cứ nhắc hoài cái thời kỳ bồ bịch, khổ quá đi.Giờ này ông xếp tôi đã thức, bắt đầu la lối.- Trời đất! Mới sáng sớm mà đã nghe may xành xạch, ồn quá…Anh nói hoài với em, anh chúa ghét em may vá lúc anh ngủ.- Còn sớm gì nữa ! Anh ngủ trể quá, mẹ con em đói bụng hết rồi nè!- Xạo quá! Sao em may nãy giờ không kêu đói. Có cà phê cho anh chưa?- Xong rồi, xong rồi.Tôi gói lại chiếc áo dài, định bụng sẽ dành cho chàng một sự ngạc nhiên. Cộng đồng người Việt ở đây mỗi năm đều tổ chức Rước Đèn Trung Thu cho trẻ em. Nhìn đám con nít đang xúm xít sắp hàng hai nối đuôi nhau, tay cầm những chiếc lồng đèn đủ kiểu, tôi cười sung sướng. Chẳng uổng công một buổi sáng miệt mài với chiếc áo cũ cho con. Hôm nay Thu Thu xúng xính trong chiếc áo dài màu đỏ, đẹp không thua gì chị nó.Chợt thấy bàn tay mình âm ấm, anh đang nắm chặt tay tôi tự lúc nào, mắt nhìn theo đám nhỏ….Tôi mỉm cười, có lẽ bây giờ anh mới tìm thấy lại hình ảnh áo vàng của ngày xưa rồi chăng? Áo Vàng.Mùa Thu 89
Mục lục
.....Về Yêu Hoa Cúc
.....Về Yêu Hoa Cúc
Áo VàngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả/ VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 29 tháng 4 năm 2009
|
Yellow shirt
.....About Loving Chrysanthemums
- Tuan Anh, come here one more time!- Encore? Maman, we haven't finished the game yet!- Although she complained, she also ran out. As soon as her hands were put on her ao dai, she looked back and told her to come inside: - Thu Thu, wait for me! Don't cheat before that, I've been looking at my work since early morning, it's okay... - Ok, it's done, baby. Don't gossip anymore. When my mother finished fixing it, she asked me to wear it all day. Tuan Anh shrugged, put his hands in the air to show boredom, didn't answer his mother, and rushed into the room to continue playing chess with his younger brother. Poor girl, too. From the moment I woke up until now, I haven't heard my mother mention breakfast yet. I've been running in and out trying on shirts until I'm dizzy. On Sunday mornings, my husband often stays up late. Children who wake up early also play together in the room. Since moving to the new house, the two of them have had their own room with a two-story bed. Thu Thu has stopped whining about wanting to sleep with her mother every night, even though she has entered the second grade of elementary school. I always have a few hours of free time for myself, sometimes I lie down in the tub of water half asleep... go back to sleep or run a few laps to refresh my body in the park in front of my house. It's not sunny today, I'm lazy to go to the park. You should stay home and clean your clothes. The furniture from the day we moved house still hasn't been sorted out yet. Putting away summer clothes, preparing warm clothes for the upcoming fall... Suddenly I found an old paper bag carefully packed, I don't know what was in it but I couldn't remember. Remove all the tape, open the paper three times, oh, the internal ao dai with yellow chrysanthemums. Surprised and delighted! This is my old yellow ao dai! I've kept it very carefully somewhere for a long time now and almost don't remember it anymore. Dripping the dress on my body, looking at myself in the mirror, I want to laugh out loud. Terrible! Even the ao dai can't cover my body anymore! (That's how I know I'm getting better and better every day). But seeing that the fabric of the shirt was still good, I suddenly thought why don't I fix it for Tuan Anh? It's also starting to show signs of growth. At twelve years old, she is almost as tall as her mother. So I laid it out and cut it out, then asked my child to try going in and out ten times. Thu Thu saw her mother fussing with her sister and asked for her share. I immediately reassured my child. - Mom would have sewn it for me in time for the August lantern parade. The needle and thread took me back in time, remembering "my love story when I was a child, when I was sixteen years old, I fell in love, loved someone." I'm in the same neighborhood...'' Your house is a few roofs away from mine. His terrace is high, while my house has a very romantic backyard. My father is often proud that in Saigon, there is no shortage of high-rise buildings, but it is not easy to find a "poetic" garden in the middle of the city. After work, my father just hangs around the garden with a few rose bushes and chrysanthemums. and wall bushes. I hurriedly followed my father, lighting tea and pouring water, seemingly very filial, but actually the driving force was the shadow of a person looming on the rooftop in the distance. My parents were very difficult. He studied in the West, but his old-fashioned personality was better than that of a Confucian. My mother is exactly the type of person who "follows her husband". Remember when my second sister loved Lam, she cried so many tears to beg to marry Lam but her father wouldn't let her, so her mother had no choice but to accept it. Just thinking about that makes me tremble, I don't dare to think about love. Honestly, I'm not very "naughty". Just because the enemy was talented and attacked quickly, our army was young and didn't know how to take precautions, so at the age of sixteen, he was already dreaming of love!!! He followed me every morning and afternoon on the way to school. The eyes and smiles exchanged... I don't know when we knew each other... I was so young, his love was so precious and reserved, he didn't dare ask me out on a date or skip school. He was only allowed to miss me, and look longingly at my yellow ao dai every day, pouring water to make tea for dad next to the small garden to sing the song he loved about chrysanthemums... Waiting until the year I entered college, I was allowed to work. As an adult, my parents allowed me to have a boyfriend. I dared to proudly bring my "brother from the same neighborhood" to present to my family. He held my father very carefully. Whenever I was next to my father, looking at him acting polite and gentle, I chuckled, perhaps the old man had allowed him to be my son-in-law. In April 75, my parents wiped away their tears and took us two on the road to freedom. He promised Me he would love and protect me for life because we have loved each other since I was sixteen.. (Oh my God! At the last minute, my grandparents told me...) When I left, I just packed up and took with me. received a golden ao dai. That sincerity helps us overcome challenging times, grow and create a bright future... The past ten years have gone by like the blink of an eye. With time, my old lover no longer had any romance like in the beginning. But being good at labor, changing diapers, making milk, washing dishes.... is very difficult. My face was always pensive, calculating how to make enough money to "download" a small house... Every time my husband and I argued, I pretended to beg him: Knowing that, I wouldn't accept. you in the past. Yellow shirt! Yellow shirt!...I guess I've stopped loving you! - Stop it, Ms. Hai, lounging around with music will make you hungry. People are so busy eating that their faces darken. Ms. Hai keeps reminding her of the time when she was cheating on her, it's so miserable. At this time, my boss is already awake and starting to yell. - Oh my god! It's early in the morning and I already hear someone sewing, it's so noisy... I keep telling you, I hate it when you sew while I sleep. - What's so early! I slept too late, my mother and I are both hungry! - How rude! How lucky were you that you didn't say you were hungry? Have you got any coffee yet? - Done, done. I wrapped up the ao dai, planning to give him a surprise. The Vietnamese community here organizes a Mid-Autumn Festival Lantern Procession for children every year. Looking at the group of children huddled in two-by-two rows, holding lanterns of all kinds, I smiled happily. It's not in vain to spend a morning working on an old shirt for your child. Today, Thu Thu is dressed in a red ao dai, as beautiful as her sister. Suddenly I see that my hand is warm, he is holding my hand tightly, his eyes follow the children... I smile, yes. Perhaps now he has rediscovered the image of the yellow shirt from the past? Yellow Shirt.Autumn 89
Table of contents
.....About Loving Chrysanthemums
.....About Loving Chrysanthemums
Yellow Shirt Welcome you to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author/ VNthuquan - Online Library Posted by: Ct.Ly on: April 29, 2009
|
Trương Thái Du
1. Viết là hành lạc
Lý luận văn học cổ điển Á Đông cho rằng “Tâm sinh ngôn”, ngôn viết ra là văn. Nguyễn Du nhận định: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Phê bình tác phẩm nào đó mà nói “không có cái tâm” là nặng lắm, chẳng khác nào sổ toẹt mọi giá trị. Trên cùng chủ thể là người viết, nếu đảo ngược công thức kia sẽ rất lý thú. Rõ ràng văn mài giũa ngôn, gạn đục khơi trong, đẽo đá tìm ngọc. Văn, không cần qua trung gian ngôn, tác động thẳng vào tâm, soi sáng tâm. Tâm nào thì văn ấy. Tuy nhiên văn lại làm được một việc không ngờ là khai tâm. Tâm là ngôi nhà của lương tri. Vậy, viết chính là hành động của lương tri, dù điều này không tuyệt đối đúng trong mọi trường hợp. Lương tri là giá trị của nhân văn. Do đó, tính nhân văn luôn là yếu tố quyết định sự thành công của bất cứ tác phẩm văn học nào. Khai tâm hàm nghĩa mở mang tâm trí. Song khai tâm còn có nghĩa khác rất hay là vui vẻ, khoái lạc. Theo tôi, viết là con đường đi tìm khoái lạc. Đa số người viết đều nhận định “nghề” này khá lao tâm nhọc tứ, rất khổ cực, là trò hành xác đáng sợ. Nhưng từ bỏ viết không dễ chút nào. Rất hiếm thấy một nhà văn, một nhà thơ thực sự tổ chức lễ giải nghệ. Đôi lúc tôi phân vân, không hiểu sự hành lạc kia có giống tự thỏa mãn? Vượt qua khuôn khổ cá nhân người viết, văn chương là con đẻ tinh thần của mối tình si, sinh ra sau những cuộc truy hoan nóng hổi. Nếu khai tâm là tia sáng mặt trời, thì tác phẩm thoát thai là ánh trăng mê hoặc. Như vậy viết, trước tiên là viết cho chính tác giả. Ảo tưởng hay mục đích đồng bóng sẽ vỡ nhanh hơn bọt xà phòng. Kết quả của sự viết, không giống đứa con sinh học, nó trưởng thành ngay khi vừa mở mắt. Nó sẽ có một cuộc đời, một thân phận và một số mệnh biệt lập với cha mẹ. Kẻ sáng tác đừng quá mong chờ được phụng dưỡng, hưởng thụ hiếu nghĩa truyền thống. Hãy đoan lượng con mình chắc chắn phải nếm trải đủ chua cay mặn ngọt, và đôi lúc cần trao gởi hoàn toàn cho thần may mắn. Tào Phi, ngôi sao sáng trong chòm Kiến An Tam Kiệt (Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực), từng viết hai tác phẩm lý luận văn học là Điển Luận và Luận Văn. Ông bảo văn chương là sự nghiệp lớn giữa đất nước, vẻ vang bất hủ, mang sức sống và tuổi thọ dài lâu. Ông cho rằng có mối quan hệ giữa khí chất, tài năng tác giả và tác phẩm. Tuy vậy đến hôm nay, giữa đời sống hiện đại, tinh hoa của họ Tào gần như đã mất tích, nếu không kể mấy vần thơ lác đác trong Tam Quốc Chí. Tư Mã Thiên dựng nên thuyết “Phát phẫn trứ thư” (phẫn uất mà trước tác). Sử Ký của ông đã, đang và sẽ vĩnh viễn song hành cùng văn minh nhân loại. Người viết đích thực của thế kỷ 21 là ai? Họ mang sứ mệnh gì? Tốt nhất dừng nên đặt ra những câu hỏi thừa như vậy. Hãy gõ bàn phím nếu cần. Hãy dấn thân nếu có thể. Hãy hồ hởi đón nhận ân sủng của văn chương. Hãy sảng mê cùng khoái cảm. Đó là cuộc chơi đầy ý nghĩa, hay nói cách khác, là giá trị của sự sống, của người viết. Đà Lạt, tháng 7 âm lịch, năm Giáp Thân …………. Về bản quyền bài này: Nội dung ở đây được sửa chữa từ bản đã xuất hiện trên tạp chí talawas 8.2004.Về bản quyền chung: Tất cả các bài tạp văn kí tên Trương Thái Du dưới 30 ngàn chữ đều được tác giả để ở chế độ bản quyền mở. Mọi cá nhân hoặc tổ chức có thể tải về miễn phí từ vnthuquan.net. Các hình thức sử dụng đuợc chấp nhận rộng rãi: trích dẫn, in trên báo, in thành sách, tái lưu trữ ở các loại “diễn đàn” hoặc kho sách điện tử khác.v.v.. Xin miễn sửa đổi hoặc biên tập thêm. Tác giả chỉ chịu trách nhiệm bản thảo tại kho sách vnthuquan.net với các phiên bản tu chỉnh sau ngày 01.01.2006.
Mục lục
1. Viết là hành lạc
1. Viết là hành lạc
Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Zhang Nguồn: Trương Thái DuĐược bạn: Zhang đưa lên vào ngày: 28 tháng 1 năm 2005
|
Truong Thai Du
1. Writing is a pleasure
Classical Asian literary theory holds that "The mind gives birth to language", and the written language is literature. Nguyen Du commented: "The word heart is equal to the three words talent." Criticizing a certain work and saying "it has no heart" is very serious, it's like losing all value. On the same subject is the writer, if we reverse the formula it would be very interesting. It is clear that writing sharpens language, extracting chisel from clear water, chiseling stone to find pearls. Literature, without the need for the intermediary of language, impacts directly on the mind, illuminating the mind. Whatever the heart, that's the writing. However, writing does something unexpected: it opens the mind. The mind is the house of conscience. So, writing is an act of conscience, although this is not absolutely true in all cases. Conscience is the value of humanity. Therefore, humanity is always a decisive factor in the success of any literary work. Opening the mind means opening the mind. But initiation also has another very good meaning: joy and pleasure. In my opinion, writing is the way to find pleasure. Most writers agree that this "job" is quite laborious, very miserable, and a terrifying torture. But giving up writing is not easy at all. It is very rare to see a writer or a poet actually hold a retirement ceremony. Sometimes I wonder if that pleasure is the same as self-satisfaction? Beyond the writer's personal framework, literature is the spiritual child of love, born after hot orgies. If initiation is the rays of the sun, then the work of birth is the enchanting moonlight. So writing, first of all, is writing for the author himself. Illusions or whimsical intentions will burst faster than soap bubbles. As a result of writing, unlike a biological child, it becomes an adult as soon as it opens its eyes. It will have a life, an identity and a destiny separate from its parents. Creators should not expect too much to be cared for and enjoy traditional filial piety. Be sure that your child will definitely have to experience all the sweet, sour, and salty things, and sometimes they need to completely surrender to the gods of luck. Cao Pi, the bright star in the constellation Kien An Tam Kiet (Cao Cao, Cao Pi, Cao Thuc), once wrote two works of literary theory, Dien Luan and Luan Van. He said literature is a great cause for the country, with immortal glory, vitality and longevity. He believes that there is a relationship between the author's temperament, talent and the work. However, today, in the midst of modern life, the quintessence of the Cao family has almost disappeared, if not counting a few scattered poems in the Romance of the Three Kingdoms. Sima Qian created the theory of "Phat indignation and writing". His Chronicles have been, are and will forever go hand in hand with human civilization. Who is the real writer of the 21st century? What mission do they carry? It's best to stop asking such unnecessary questions. Type on the keyboard if necessary. Get involved if you can. Please welcome the grace of literature. Be delirious with pleasure. It is a meaningful game, or in other words, the value of life and of the writer. Da Lat, 7th lunar month, year of Giap Than …………. About copyright of this article: The content here is edited from the version that appeared in talawas magazine in August 2004. About general copyright: All magazine articles signed by Truong Thai Du under 30 thousand words are kept by the author. Open copyright regime. Any individual or organization can download it for free from vnthuquan.net. Widely accepted forms of use: quoting, printing in newspapers, printing into books, re-archiving in other types of "forums" or e-book repositories, etc. Please do not modify or edit further. The author is only responsible for manuscripts in the vnthuquan.net book store with revised versions after January 1, 2006.
Table of contents
1. Writing is a pleasure
1. Writing is a pleasure
Truong Thai DuWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Zhang Source: Truong Thai Du Posted by friend: Zhang on: January 28, 2005
|
Trương Thái Du
3. Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu
Đa số bản đồ du lịch phổ thông của thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Hoa đều có giới thiệu về Bảo tàng lăng mộ kiểu Tây Hán của Nam Việt Triệu Văn Vương. Đây là một địa chỉ văn hóa cực kỳ phong phú và giá trị trong vùng Hoa Nam. Bảo tàng nằm tại số 867 đường Giải phóng bắc, hơi chếch về bên trái cổng chính công viên Việt Tú nổi tiếng.
Năm 1983, khi san một quả đồi nhỏ để xây dựng các công trình dân sinh, tình cờ một ngôi mộ đá rất xưa, không hề có dấu tích bị xâm phạm, được phát lộ. Ngành khảo cổ học vào cuộc và thật bất ngờ, những di vật tìm được cho thấy đây là nơi yên nghỉ hơn hai ngàn một trăm năm qua của Nam Việt Vương Triệu Hồ. Triệu Hồ có thể là con Trọng Thủy [1], cháu nội Triệu Đà (? – 137 trước CN), ông ở ngôi được 16 năm (từ 137 đến 122 TCN) [2].
Mộ Văn Vương nằm lẹm vào triền đồi, gồm nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành không gian an táng bên trong. Cửa mộ là hai phiến đá được mài đẽo khá vuông vắn. Đà cửa cũng bằng đá, đã gẫy nhưng chưa sập hẳn, có lẽ do không chịu nổi sức nặng của khối đất đỏ bazan bên trên sau nhiều lần thấm đẫm nước mưa suốt hơn hai thiên niên kỷ. Tổng diện tích sàn mộ trên dưới 25 thước vuông, chia làm 6 khu gồm sảnh chính, gian quàn thi thể và 4 phòng chứa đồ tùy táng.
Xác Văn Vương nằm trong quan tài gỗ 2 lớp, được tẩm liệm kín bằng những mảnh ngọc mỏng hình chữ nhật, liên kết với nhau bởi chỉ tơ. Tuy nhiên mọi chất liệu hữu cơ đã bị phân hủy hoàn toàn. Ngay đến bộ xương người nay chỉ hiện hữu vẻn vẹn hai mảnh hàm còn nguyên bộ răng khá hoàn chỉnh.
Năm 1988, một viện bảo tàng đồ sộ được khánh thành trên chính ngọn đồi này. Người ta giữ nguyên hiện trạng hầm mộ, làm vòm che, đường dẫn để khách có thể bước xuống tham quan. Hơn một ngàn hiện vật còn khá nguyên vẹn lấy ra từ mộ được bảo quản và trưng bày trong các gian bảo tàng xây dựng phía sau. Nó phản ánh một cách trung thực, khách quan và rất đầy đủ chi tiết về chính trị, kinh tế và văn hóa của một triều đại nổi bật ở Hoa Nam, vốn không được tín sử Trung Hoa mô tả kỹ lưỡng cũng như xem trọng đúng mức.
Các di vật chính hiện trưng bày: Khá nhiều thao ấn [3] bằng vàng và ngọc khắc chữ triện như Long kim ấn “Văn đế hành tỉ”, Quy kim ấn “Thái tử”, Ngọc ấn “Triệu muội” (Muội có khả năng là tên khác của Triệu Hồ hoặc một danh xưng khiêm tốn của Nam Việt Vương với triều đình Tây Hán); các loại đồ gốm, nồi đồng, búa sắt, rìu sắt, dao, rựa, lò nướng thịt, lưới đánh cá, tiền đồng… Khánh đá, chuông đồng, tù và bằng ngọc bích… Mực tàu, nghiên mực… Thuốc bắc, sừng tê giác, ngọc trai… Bình nước, bình rượu, ly chén đĩa bằng đồng và ngọc, khuy áo vàng bạc đồng, gương đồng, tráp bạc, phù ngọc, chân bình phong đồng, tay nắm cửa đồng, đèn đồng, chân nến ngọc, vật trang sức bằng vàng bạc đồng ngọc bích ngọc trai; tượng mỹ thuật gốm, đá, đồng và ngọc, đỉnh trầm… Áo giáp sắt, giáo, mác, thương đao bằng kim khí, mũi tên đồng, kiếm sắt chuôi nạm ngọc… Tất cả đồ vật nói chung được chế tác ở một trình độ khá tinh xảo, thẩm mỹ cao, hoa văn đẹp nhưng nhỏ bé và giản dị [4].
Xét về quy mô, mộ Nam Việt Văn Vương khá khiêm tốn so với nhiều ngôi mộ cùng thời khác từng phát lộ ở Trung Hoa. Nó cho thấy khu vực Bách Việt nói chung và Nam Việt nói riêng còn kém phát triển ở khía cạnh nào đó, trong bức tranh toàn cảnh từ thời Tây Hán trở về trước.
Dù sao đi nữa, ở thì hiện tại di tích mộ Nam Việt Văn Vương chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá cho các dân tộc Bách Việt xưa kia và người Việt
Nam
hiện đại. Giữa bối cảnh các vùng đất của Nam Việt cũ như Quảng Tây, Quảng Đông đã bị Hán hóa đến tận chân lông kẽ tóc, sự độc lập của Việt Nam ít nhiều sẽ giúp việc nghiên cứu quá khứ khách quan và công bằng hơn. Ví như tên đầy đủ của bảo tàng hiện nay là : Tây Hán Nam Việt Vương mộ bác vật quán; chữ “Tây Hán” được khuyên hiểu là “kỷ Tây Hán, thời Tây Hán, kiểu Tây Hán”. Song tác giả vẫn thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình, trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn Vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt Vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng ấn “Nam Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất.
Tuy còn những bất đồng thuận trong việc nhận định vai trò 5 đời vua Nam Việt giữa dòng lịch sử Việt Nam, song sử gia Việt Nam vẫn nên có những nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ về ngôi mộ này. Chẳng hạn có gì khác nhau giữa bó tên có mũi bằng đồng còn như mới trong viện bảo tàng đã nêu và loại nỏ và tên do Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương chế tạo ra? Nếu truyền thuyết An Dương Vương là có thực, hiển nhiên nhiều di vật trong mộ Triệu Hồ sẽ là vật chứng so sánh có một không hai với những khám phá khảo cổ Việt
Nam
về An Dương Vương và Loa thành trong tương lai.
Quảng Châu nay chính là Phiên Ngung xưa, kinh đô Nam Việt. Nhìn những cao ốc tân kỳ thi nhau vươn lên trời cao, núi đồi bị bạt dần, lòng người không khỏi tiếc nuối. Ngung sơn, nơi có mộ Nam Việt Vương Triệu Đà chắc ở đâu đó trong lòng thành phố [5]. Mong những cọc móng các công trình xây dựng đồ sộ đừng phạm phải hài cốt Triệu Đà. Tuy nhiên chính những khối bê tông muôn hình muôn vẻ kia đang muốn vĩnh viễn che giấu tích xưa, người cũ. Thêm nhiều yếu tố tinh thần của con người và xã hội mới, vô hình chung hiện tại dường như đã đoạn tuyệt với quá khứ, bằng việc gia cố và chôn chặt những mộ phần cổ kính một cách chắc chắn hơn bao giờ hết.
Quảng Châu 3.2004 Chú thích: [1] Nói “có thể” là vì: Các sách sử xưa nay ở VN đều cho rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu vào năm 208 trước CN, năm An Dương Vương bại trận trước Triệu Đà. Như thế ít nhất Triệu Hồ phải sinh ra cùng năm đó. Vậy đến năm 122, khi mất, Triệu Hồ đã 86 tuổi. Xem hàm răng còn nguyên vẹn trong mộ sẽ thấy bất thường. Đại Việt sử ký toàn thư (NXB KHXH – Hà Nội 1993), Ngoại kỷ, Quyển 2 (phần Văn Vương) ghi nhận Triệu Hồ mất năm 52 tuổi có vẻ hợp lý với di cốt nhưng mâu thuẫn với những niên biểu khác trong cùng kỷ ấy. [2] Các niên biểu ở đây đều lấy từ phụ chú của Viện Bảo Tàng Lăng mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu. Có vài khác biệt so với Việt sử. [3] Thao ấn là loại ấn nhỏ để đeo, có dây choàng vào cổ. Tiếng Hán hiện đại đùng từ “Nữu ấn” để chỉ “Thao ấn”. [5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (NXB GD Hà Nội 1998), Tiền biên, Quyển 1, ghi chú : Sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, mô tả Ngung Sơn chỉ cách Huyện lỵ Nam Hải (tức Phiên Ngung) 1 dặm về phía bắc. [4] Theo tôi biết trên mạng có ít nhất hai bài đã viết về lăng mộ này. Một của Trương Quang tại và một của Mai Thế Phú tại hai bài đều mắc những lỗi lớn giống nhau trong mô tả lăng mộ, và có khả năng bài thứ hai là bản “xào” từ bài thứ nhất. Tuy nhiên cũng nhờ thông tin từ hai bài này mà tôi đã tìm đến được Viện bảo tàng. ……………… Về bản quyền bài này: Nội dung ở đây được sửa chữa từ bản đã xuất hiện trên trang web 4.2004.Về bản quyền chung: Tất cả các bài tạp văn kí tên Trương Thái Du dưới 30 ngàn chữ đều được tác giả để ở chế độ bản quyền mở. Mọi cá nhân hoặc tổ chức có thể tải về miễn phí từ vnthuquan.net. Các hình thức sử dụng đuợc chấp nhận rộng rãi: trích dẫn, in trên báo, in thành sách, tái lưu trữ ở các loại “diễn đàn” hoặc kho sách điện tử khác.v.v.. Xin miễn sửa đổi hoặc biên tập thêm. Tác giả chỉ chịu trách nhiệm bản thảo tại kho sách vnthuquan.net với các phiên bản tu chỉnh sau ngày 01.01.2006.
Mục lục
3. Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu
3. Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu
Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giảĐược bạn: đưa lên vào ngày: 28 tháng 1 năm 2005
|
Trương Thái Du
3. Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu
Đa số bản đồ du lịch phổ thông của thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Hoa đều có giới thiệu về Bảo tàng lăng mộ kiểu Tây Hán của Nam Việt Triệu Văn Vương. Đây là một địa chỉ văn hóa cực kỳ phong phú và giá trị trong vùng Hoa Nam. Bảo tàng nằm tại số 867 đường Giải phóng bắc, hơi chếch về bên trái cổng chính công viên Việt Tú nổi tiếng.
Năm 1983, khi san một quả đồi nhỏ để xây dựng các công trình dân sinh, tình cờ một ngôi mộ đá rất xưa, không hề có dấu tích bị xâm phạm, được phát lộ. Ngành khảo cổ học vào cuộc và thật bất ngờ, những di vật tìm được cho thấy đây là nơi yên nghỉ hơn hai ngàn một trăm năm qua của Nam Việt Vương Triệu Hồ. Triệu Hồ có thể là con Trọng Thủy [1], cháu nội Triệu Đà (? – 137 trước CN), ông ở ngôi được 16 năm (từ 137 đến 122 TCN) [2].
Mộ Văn Vương nằm lẹm vào triền đồi, gồm nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành không gian an táng bên trong. Cửa mộ là hai phiến đá được mài đẽo khá vuông vắn. Đà cửa cũng bằng đá, đã gẫy nhưng chưa sập hẳn, có lẽ do không chịu nổi sức nặng của khối đất đỏ bazan bên trên sau nhiều lần thấm đẫm nước mưa suốt hơn hai thiên niên kỷ. Tổng diện tích sàn mộ trên dưới 25 thước vuông, chia làm 6 khu gồm sảnh chính, gian quàn thi thể và 4 phòng chứa đồ tùy táng.
Xác Văn Vương nằm trong quan tài gỗ 2 lớp, được tẩm liệm kín bằng những mảnh ngọc mỏng hình chữ nhật, liên kết với nhau bởi chỉ tơ. Tuy nhiên mọi chất liệu hữu cơ đã bị phân hủy hoàn toàn. Ngay đến bộ xương người nay chỉ hiện hữu vẻn vẹn hai mảnh hàm còn nguyên bộ răng khá hoàn chỉnh.
Năm 1988, một viện bảo tàng đồ sộ được khánh thành trên chính ngọn đồi này. Người ta giữ nguyên hiện trạng hầm mộ, làm vòm che, đường dẫn để khách có thể bước xuống tham quan. Hơn một ngàn hiện vật còn khá nguyên vẹn lấy ra từ mộ được bảo quản và trưng bày trong các gian bảo tàng xây dựng phía sau. Nó phản ánh một cách trung thực, khách quan và rất đầy đủ chi tiết về chính trị, kinh tế và văn hóa của một triều đại nổi bật ở Hoa Nam, vốn không được tín sử Trung Hoa mô tả kỹ lưỡng cũng như xem trọng đúng mức.
Các di vật chính hiện trưng bày: Khá nhiều thao ấn [3] bằng vàng và ngọc khắc chữ triện như Long kim ấn “Văn đế hành tỉ”, Quy kim ấn “Thái tử”, Ngọc ấn “Triệu muội” (Muội có khả năng là tên khác của Triệu Hồ hoặc một danh xưng khiêm tốn của Nam Việt Vương với triều đình Tây Hán); các loại đồ gốm, nồi đồng, búa sắt, rìu sắt, dao, rựa, lò nướng thịt, lưới đánh cá, tiền đồng… Khánh đá, chuông đồng, tù và bằng ngọc bích… Mực tàu, nghiên mực… Thuốc bắc, sừng tê giác, ngọc trai… Bình nước, bình rượu, ly chén đĩa bằng đồng và ngọc, khuy áo vàng bạc đồng, gương đồng, tráp bạc, phù ngọc, chân bình phong đồng, tay nắm cửa đồng, đèn đồng, chân nến ngọc, vật trang sức bằng vàng bạc đồng ngọc bích ngọc trai; tượng mỹ thuật gốm, đá, đồng và ngọc, đỉnh trầm… Áo giáp sắt, giáo, mác, thương đao bằng kim khí, mũi tên đồng, kiếm sắt chuôi nạm ngọc… Tất cả đồ vật nói chung được chế tác ở một trình độ khá tinh xảo, thẩm mỹ cao, hoa văn đẹp nhưng nhỏ bé và giản dị [4].
Xét về quy mô, mộ Nam Việt Văn Vương khá khiêm tốn so với nhiều ngôi mộ cùng thời khác từng phát lộ ở Trung Hoa. Nó cho thấy khu vực Bách Việt nói chung và Nam Việt nói riêng còn kém phát triển ở khía cạnh nào đó, trong bức tranh toàn cảnh từ thời Tây Hán trở về trước.
Dù sao đi nữa, ở thì hiện tại di tích mộ Nam Việt Văn Vương chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá cho các dân tộc Bách Việt xưa kia và người Việt
Nam
hiện đại. Giữa bối cảnh các vùng đất của Nam Việt cũ như Quảng Tây, Quảng Đông đã bị Hán hóa đến tận chân lông kẽ tóc, sự độc lập của Việt Nam ít nhiều sẽ giúp việc nghiên cứu quá khứ khách quan và công bằng hơn. Ví như tên đầy đủ của bảo tàng hiện nay là : Tây Hán Nam Việt Vương mộ bác vật quán; chữ “Tây Hán” được khuyên hiểu là “kỷ Tây Hán, thời Tây Hán, kiểu Tây Hán”. Song tác giả vẫn thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình, trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn Vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt Vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng ấn “Nam Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất.
Tuy còn những bất đồng thuận trong việc nhận định vai trò 5 đời vua Nam Việt giữa dòng lịch sử Việt Nam, song sử gia Việt Nam vẫn nên có những nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ về ngôi mộ này. Chẳng hạn có gì khác nhau giữa bó tên có mũi bằng đồng còn như mới trong viện bảo tàng đã nêu và loại nỏ và tên do Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương chế tạo ra? Nếu truyền thuyết An Dương Vương là có thực, hiển nhiên nhiều di vật trong mộ Triệu Hồ sẽ là vật chứng so sánh có một không hai với những khám phá khảo cổ Việt
Nam
về An Dương Vương và Loa thành trong tương lai.
Quảng Châu nay chính là Phiên Ngung xưa, kinh đô Nam Việt. Nhìn những cao ốc tân kỳ thi nhau vươn lên trời cao, núi đồi bị bạt dần, lòng người không khỏi tiếc nuối. Ngung sơn, nơi có mộ Nam Việt Vương Triệu Đà chắc ở đâu đó trong lòng thành phố [5]. Mong những cọc móng các công trình xây dựng đồ sộ đừng phạm phải hài cốt Triệu Đà. Tuy nhiên chính những khối bê tông muôn hình muôn vẻ kia đang muốn vĩnh viễn che giấu tích xưa, người cũ. Thêm nhiều yếu tố tinh thần của con người và xã hội mới, vô hình chung hiện tại dường như đã đoạn tuyệt với quá khứ, bằng việc gia cố và chôn chặt những mộ phần cổ kính một cách chắc chắn hơn bao giờ hết.
Quảng Châu 3.2004 Chú thích: [1] Nói “có thể” là vì: Các sách sử xưa nay ở VN đều cho rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu vào năm 208 trước CN, năm An Dương Vương bại trận trước Triệu Đà. Như thế ít nhất Triệu Hồ phải sinh ra cùng năm đó. Vậy đến năm 122, khi mất, Triệu Hồ đã 86 tuổi. Xem hàm răng còn nguyên vẹn trong mộ sẽ thấy bất thường. Đại Việt sử ký toàn thư (NXB KHXH – Hà Nội 1993), Ngoại kỷ, Quyển 2 (phần Văn Vương) ghi nhận Triệu Hồ mất năm 52 tuổi có vẻ hợp lý với di cốt nhưng mâu thuẫn với những niên biểu khác trong cùng kỷ ấy. [2] Các niên biểu ở đây đều lấy từ phụ chú của Viện Bảo Tàng Lăng mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu. Có vài khác biệt so với Việt sử. [3] Thao ấn là loại ấn nhỏ để đeo, có dây choàng vào cổ. Tiếng Hán hiện đại đùng từ “Nữu ấn” để chỉ “Thao ấn”. [5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (NXB GD Hà Nội 1998), Tiền biên, Quyển 1, ghi chú : Sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, mô tả Ngung Sơn chỉ cách Huyện lỵ Nam Hải (tức Phiên Ngung) 1 dặm về phía bắc. [4] Theo tôi biết trên mạng có ít nhất hai bài đã viết về lăng mộ này. Một của Trương Quang tại và một của Mai Thế Phú tại hai bài đều mắc những lỗi lớn giống nhau trong mô tả lăng mộ, và có khả năng bài thứ hai là bản “xào” từ bài thứ nhất. Tuy nhiên cũng nhờ thông tin từ hai bài này mà tôi đã tìm đến được Viện bảo tàng. ……………… Về bản quyền bài này: Nội dung ở đây được sửa chữa từ bản đã xuất hiện trên trang web 4.2004.Về bản quyền chung: Tất cả các bài tạp văn kí tên Trương Thái Du dưới 30 ngàn chữ đều được tác giả để ở chế độ bản quyền mở. Mọi cá nhân hoặc tổ chức có thể tải về miễn phí từ vnthuquan.net. Các hình thức sử dụng đuợc chấp nhận rộng rãi: trích dẫn, in trên báo, in thành sách, tái lưu trữ ở các loại “diễn đàn” hoặc kho sách điện tử khác.v.v.. Xin miễn sửa đổi hoặc biên tập thêm. Tác giả chỉ chịu trách nhiệm bản thảo tại kho sách vnthuquan.net với các phiên bản tu chỉnh sau ngày 01.01.2006.
Mục lục
3. Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu
3. Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu
Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giảĐược bạn: đưa lên vào ngày: 28 tháng 1 năm 2005
|
Khuyết Danh
5 Truyện thật ngắn
1 . Nó Ba nó bỏ nó lúc nó còn đõ hỏn . Mẹ và ngọai nuôi nó trong nghèo khó .Dau khổ và cả hạnh phúc . được vài năm , cái đói nghèo cướp mất ngoại . Thiếu hơi bà nó ngằn ngặt khóc đêm. Mẹ chỉ ôm nó vào lòng, để tay lên ngực trái dỗ dành " Ngoại có đi đâu !Ngọai ở đây mà " .Vậy là nó nín . Rồi mẹ cũng theo bà . Hôm tang Mẹ , thấy dì khóc , nó bảo" Mẹ có đi đâu ! Mẹ ỡ đây mà " rồi lấy tay đặc lên ngực , chỗ trái tim . Nó dỗ thế mà Dì chẵng nín , lại ôm nó khóc to hơn .
2 . Vòng Cẫm Thạch . Cha kễ , Cha ước ao tặng Mẹ chiếc vòng Cẫm Thạch . Tay mẹ trắng nõn nà đeo vòng cẫm thạch rất đẹp . Mổi khi Cha định mua , Mẹ tìm cách từ chối , lúc mua sữa , lúc sách vỡ , lúc tiền trường ...Dến lúc tay Mẹ sạm đen , Mẹ vẫn chưa một lần đeo . Chị em hùn tiền mua tặng Mẹ một chiếcthật đẹp . Mẹ cất kỹ , thỉnh thõang lại ngắm nghía cười " Mẹ già rồi , tay run lắm , chĩ nhìn thôi cũng thấy vui " Chị em không ai bão ai , nước mắt rưng rưng .
3 . Qùa sinh nhật .
Trong năm đứa con cũa Má , Chị nghèo nhất . Chồng mất sớm , con đang tuỗi ăn học Gần tới lễ thượng thọ 70 tuổi của Má , cả nhà hộp bàn xem nên chọn nhà hàng nào ,bao nhiêu bàn , mời bao nhiêu người . Chị lặng lẽ đến bên Má " Má ơi , má thèm gì , đễ con nấumá ăn " . Chưa tan tiệc Má xin phép về sớm vì mệt . Ai cũng chặc lưỡi "Sao Má chẵng ăn gì ? " Về nhà , mọi người tìm Má . Dưới bếp , Má đang ăn cơm vối tô canh chua lá mevà đĩa bống kho tiêu Chị mang đến .
4 . Con Nuôi .
Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp, có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình . Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi .Một cô bé nói " Mình biết tất cã về con nuôi đấy " . Một học sinh khác hỏi " Thế con nuôi là gì ? " Cô bé trã lời : Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim Mẹ mình chứ không phải tứ trong bụng ."
5 . Khóc
Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi , trừ tiếng khóc chào đời , chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa . Năm 20 tuổi , qua nhiều khó khăn Anh tìm được Mẹ , nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại , một lần nữa bà đành chối bõ con .. Anh nghạo nghễ ra đi , không rơi một giọt lệ . Hôm nay 40 tuổi , đọc tin Mẹ đăng báo tìm con , Anh chợt khóc . Hỏi tại sao khóc , Anh nói " Tội nghiệp Mẹ , 40 năm qua chắc Mẹ còn khỗ tâm hơn Anh ."
Mục lục
5 Truyện thật ngắn
5 Truyện thật ngắn
Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: DeeCee Nguồn: InternetĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 5 tháng 7 năm 2010
|
Noname
5 Really short stories
first . Her father left her when she was still young. Mother and grandmother raised him in poverty. Pain and happiness. After a few years, poverty took away my grandmother. Missing her breath, it tears the night short break. Mom just held him in her arms, put her hand on her left chest to comfort her, "Grandma isn't going anywhere! She's here." So she kept quiet. And also followed her mother . On the day of his mother's funeral, when he saw his aunt crying, he said, "Mom, I'm not going anywhere! I'm here." Then he put his hand on his chest, where his heart was. He coaxed her but Auntie didn't calm down, she hugged him and cried even harder.
2 . Marble Ring. Dad said, he wanted to give Mom a jade bracelet. Her mother's white hands wore a beautiful jade bracelet. Every time Dad tried to buy it, Mom tried to refuse, when buying milk, when books were broken, when going to school... Until Mom's hands were dark, Mom still never wore them. My sisters pooled their money to buy Mom a beautiful gift. Mom kept it carefully, and occasionally looked at it and smiled, "Mom is old, her hands are shaking, just looking at her makes me feel happy." No one said anything to my sister, tears welled up in her eyes.
3 . Birthday gift.
Of Mother's five children, Sister is the poorest. Her husband passed away early, her children were still in school. As Mother's 70th birthday party approached, the whole family debated which restaurant to choose, how many tables, and how many people to invite. She quietly came to Mom's side, "Mom, what do you want? Let me cook for you to eat." Before the party ended, Mom asked permission to leave early because she was tired. Everyone clicked their tongues, "Why doesn't Mom eat anything?" Back home, everyone looked for Mom. In the kitchen, Mom was eating rice, a bowl of sour soup with tamarind leaves, and a plate of braised pork belly with pepper that she brought.
4 . Adopted child .
The first grade teacher discussed with the class a photo of a boy with different hair color than everyone else in the family. One student thought that the boy in the picture was an adopted child. A girl said, "I know everything about adopted children." Another student asked, "What is an adopted child?" The girl replied: Adopted means that you grow up in your mother's heart, not in your belly.
5 . Cry
As soon as he was born, he entered an orphanage. Except for the sound of his birth cry, my husband never cried again. At the age of 20, through many difficulties, he found his mother, but because of the family's reputation and current happiness, she once again had to deny him. He proudly left without shedding a single tear. Today, at the age of 40, when I read the news that my mother posted in the newspaper looking for her child, I suddenly cried. Asked why he was crying, he said, "Poor Mom, she must have been more miserable over the past 40 years than me."
Table of contents
5 Really short stories
5 Really short stories
AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: DeeCee Source: Internet Uploaded by friend: Thanh Van on: July 5, 2010
|
Trương Thái Du
6. Huyền thoại Hoàn kiếm
Người Việt
Nam
ai cũng nhìn thấy giữa hồ Gươm bàng bạc sương mù quá khứ một câu chuyện nhiều dị bản. Tựu chung là : “Thuở hàn vi, Lê Lợi nhặt được thanh kiếm cổ quý giá có khắc hai chữ triện THUẬN THIÊN. Ông mang nó bên mình suốt cuộc kháng chiến cam go giành độc lập cho dân tộc, cởi bỏ ách đô hộ giặc Minh. Ngày thái bình đến, trong một lần ngồi thuyền rồng du ngoạn giữa hồ Lục Thủy, rùa thần đã nổi lên đòi Lê Lợi trả lại gươm thiêng”.
Nhìn từ nhiều góc độ dân gian, câu chuyện lung linh tầng tầng lớp lớp vẻ đẹp huyền ảo. Những người kinh viện lại diễn tả cực kỳ đa nghĩa : Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán (Hà Nội nghìn xưa, Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 1975, tr.39-40) tìm hiểu rất sâu xa ý nghĩa hồ Hoàn Kiếm
[1]
:
"Sử Lý-Trần hầu như chẳng nói đến hồ Gươm (…).
"Chuyện "Trả gươm thần ", người Hà Nội nghe kể đã nhiều, song ý nghĩa câu chuyện thì chưa mấy ai đào sâu tìm hiểu. Trên đại thể, người ta cho truyền thuyết ấy kể việc Lê Lợi được gươm thần đề chữ "Thuận Thiên" từ nước : ý trời trao sứ mệnh cho người anh hùng đứng lên xướng nghĩa cứu dân, giúp nước, quét giặc ngoại xâm. Mười năm khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, người anh hùng lên làm vua, đi thuyền trên hồ, trời sai Rùa Vàng hiện lên lấy lại thanh gươm. Chủ đề bất tuyệt : "Chiến tranh và Hòa bình"…
"Thực ra đấy là vang bóng của một mẫu đề thần thoại và một lễ tiết cổ xưa. Nếu về mặt chính trị-xã hội, thanh gươm là biểu tượng của quyền uy thì về mặt thần thoại-lễ thức, thanh gươm là biểu tượng của Tia chớp-Lửa. (…) Nhúng gươm xuống nước là nghi lễ biểu thị sự hòa hợp Nước-Lửa, một nghi lễ phồn thực. Lại vì gươm là tượng trưng của chớp lửa nên nghi lễ nhúng gươm xuống nước cũng là một nghi lễ chống lụt (…).
"Sự tích hồ Gươm-gắn liền với một vị anh hùng lịch sử Lê Lợi-là sự diễn tả về mặt thần thoại một lễ nghi cổ xưa chung cho cả vùng Đông Nam Á : nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hài hòa của non nước …".
***
Trước thời Lê, hồ gươm vốn là một khu đầm lầy rộng và không sâu lắm, có cửa thông ra sông Hồng. Có lẽ Lê Lợi đã cho nạo vét, đắp đập, biến đầm lầy thành một cái hồ rồi bắt rùa từ Lam Kinh, Thanh Hoá về thả
[2]
.
Ngược dòng lịch sử ta thấy : Năm 1400, Hồ Quý Ly thoán ngôi họ Trần, đổi tên nước và tiến hành cải cách. Tuy nhiên sự nghiệp của ông không thành. Một mặt quý tộc Trần nổi lên khắp nơi, cầu viện nhà Minh phục quốc. Lẽ nữa là dân Việt mông muội, cứ khư khư thờ vua cũ, không coi họ Hồ ra gì. Năm 1407, nhà Minh triệt được họ Hồ, sát nhập An Nam vào đế quốc Trung Hoa. Năm 1418 Lê Lợi khởi nghiệp. Trong quá trình kháng chiến chống Minh giành lại độc lập ông đã áp dụng nhiều chính sách quân sự, chính trị rất khôn khéo trên cơ sở biết người biết ta. Việc cầu phong cho Trần Cao làm An Nam quốc vương, gửi cống vật và dàn hòa với Minh đế là kế sách nhất thời quan trọng.
Vậy là sau 10 năm đằng đẵng nằm gai nếm mật, Lê Lợi lại ở vào vị thế giống Hồ Quý Ly trước đây. Phải chăng vì vậy mà truyền thuyết “Hoàn kiếm” được thêu dệt ?
Nếu các nghiên cứu về rùa đã dẫn hoàn toàn đúng, rõ ràng Lê Lợi đã ra lệnh hoặc ủng hộ việc ngăn hồ, thả rùa. Do đó không có lý do gì để nghi ngờ Lê Lợi cũng can dự vào cuộc xây dựng màn kịch trả gươm.
Cho dù huyền thoại “hoàn kiếm” ra đời trên bất cứ nền tảng văn hóa nào, mục đích duy nhất và cuối cùng của nó vẫn là hợp thức hóa, chính thống hóa sự ra đời của Lê triều. Hình ảnh rùa thần mang tính chất siêu nhiên, nó là bản sao của “Thăng long” thời Lý Công Uẩn, và xa lạ với khái niệm “thiên tử - con trời” trong triết lý Khổng giáo. Điều này chứng tỏ xã hội Việt
Nam
khi đó vẫn còn hơi hớm thần quyền lạc hậu. Để lấy lòng dân, Lê Lợi phải làm cho họ tin tưởng rằng mình có sự hậu thuẫn của các lực lượng siêu nhiên.
Nếu nhìn nhận lịch sử là sự vận động đa chiều của xã hội, thời điểm ra đời của huyền thoại Hồ gươm chính là bước ngoặt đáng lưu ý. Từ đó về sau, những truyền thuyết hoang đường như vậy vẫn còn xảy ra nhưng ở mức độ cường điệu khá thấp, và tác dụng ngày càng hạn hẹp. Nó chỉ ra chiều hướng thượng của dân trí.
---
Thư tịch:
1. Đại Việt Thông sử - Lê Quý Đôn – 1759
2. Lam Sơn thực lục – Nguyễn Trãi – 1431
3. Keith Taylor – Quyền uy và tính chân chính ở VN thế kỷ 11 – NXB Trẻ, Sài Gòn 2001
……………….
Về bản quyền chung
: Tất cả các bài tạp văn kí tên Trương Thái Du dưới 30 ngàn chữ đều được tác giả để ở chế độ bản quyền mở. Mọi cá nhân hoặc tổ chức có thể tải về miễn phí từ vnthuquan.net. Các hình thức sử dụng đuợc chấp nhận rộng rãi: trích dẫn, in trên báo, in thành sách, tái lưu trữ ở các loại “diễn đàn” hoặc kho sách điện tử khác.v.v.. Xin miễn sửa đổi hoặc biên tập thêm. Tác giả chỉ chịu trách nhiệm bản thảo tại kho sách vnthuquan.net với các phiên bản tu chỉnh sau ngày 01.01.2006.
[1]
Dẫn theo
[2]
Xin đọc thêm :
Mục lục
6. Huyền thoại Hoàn kiếm
6. Huyền thoại Hoàn kiếm
Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giảĐược bạn: đưa lên vào ngày: 28 tháng 1 năm 2005
|
Truong Thai Du
6. Legend of Hoan Kiem
Vietnamese people
Male
Everyone can see a story with many different versions in the misty Sword Lake of the past. The summary is: "In his cold days, Le Loi picked up a precious ancient sword with two words engraved with the seal THUAN THIEN. He carried it with him throughout the arduous resistance war to gain independence for the nation and throw off the yoke of domination by the Ming invaders. The day of peace came, while sitting on a dragon boat traveling in the middle of Luc Thuy lake, the magical turtle emerged demanding that Le Loi return the sacred sword.
Viewed from many folk angles, the story shimmers with layers of magical beauty. The scholastics describe it extremely multifaceted: Tran Quoc Vuong and Vu Tuan San (Hanoi thousands of years ago, Hanoi Department of Culture and Information, 1975, pp. 39-40) deeply understand the meaning of Hoan Lake. Sword
[first]
:
"The Ly-Tran historians hardly mentioned Sword Lake (…).
"The story of "Returning the Magic Sword" has been heard many times by Hanoians, but not many people have delved deeply into the story's meaning. In general, people believe that the legend tells the story of Le Loi receiving the magic sword from him." "Thuan Thien" from water: God's will gives a mission to the hero who stands up to save the people, help the country, and wipe out foreign invaders. Ten years of Lam Son uprising was successful, the hero became king, sailed on the lake , heaven sent the Golden Turtle to take back the sword. The eternal theme: "War and Peace"...
"Actually, it is an echo of a mythological theme and an ancient ritual. If in socio-political terms, the sword is a symbol of authority, then in myth-ritual terms, the sword is a symbol of power. symbol of Lightning and Fire....) Dipping the sword into water is a ritual that represents the harmony of Water and Fire, a fertility ritual a flood protection ritual (…).
"The legend of Hoan Kiem Lake - associated with a historical hero Le Loi - is a mythological description of an ancient ritual common to all of Southeast Asia: the ritual to prevent floods and pray for harmony between the two nations. country...".
***
Before the Le dynasty, Sword Lake was originally a large and not very deep swamp, with a mouth leading to the Red River. Perhaps Le Loi dredged, dammed, turned the swamp into a lake and then caught turtles from Lam Kinh, Thanh Hoa to release.
[2]
.
Going back in history, we see: In 1400, Ho Quy Ly usurped the Tran family, changed the country's name and carried out reforms. However, his career failed. On the one hand, Tran aristocrats emerged everywhere, asking for help from the Ming Dynasty to restore the country. Perhaps the Vietnamese people are ignorant, stubbornly worshiping the old king, and do not regard the Ho family as anything. In 1407, the Ming Dynasty conquered the Ho family and annexed Annam into the Chinese empire. In 1418, Le Loi started his business. During the resistance war against the Ming to regain independence, he applied many very clever military and political policies on the basis of knowing others and knowing others. Praying for Tran Cao to become King of An Nam, sending tribute and making peace with Emperor Minh was an important temporary strategy.
So after 10 long years of suffering, Le Loi is in the same position as Ho Quy Ly before. Is that why the legend "Hoan Kiem" was created?
If the research on turtles is completely correct, it is clear that Le Loi ordered or supported the closure of the lake and the release of turtles. Therefore, there is no reason to suspect that Le Loi was also involved in the construction of the sword return drama.
No matter what cultural basis the legend of "Hoan Sword" was born, its sole and ultimate purpose is still to legitimize and legitimize the birth of the Le Dynasty. The image of the magical turtle is supernatural, it is a copy of "Thang Long" during the reign of Ly Cong Uan, and is foreign to the concept of "heavenly son - son of heaven" in Confucian philosophy. This proves Vietnamese society
Male
At that time, there was still a bit of a backward theocracy. To win the hearts of the people, Le Loi had to make them believe that he had the support of supernatural forces.
If we view history as a multi-dimensional movement of society, the birth of the legendary Sword Lake is a notable turning point. From then on, such wild legends still occurred but at a relatively low level of exaggeration, and with increasingly limited effect. It shows the upward trend of people's intelligence.
---
Bibliography:
1. History of Dai Viet - Le Quy Don - 1759
2. Lam Son Thuc Luc – Nguyen Trai – 1431
3. Keith Taylor – Authority and authenticity in 11th century Vietnam – Tre Publishing House, Saigon 2001
……………….
About general copyright
: All articles signed by Truong Thai Du under 30,000 words are kept by the author in open copyright mode. Any individual or organization can download it for free from vnthuquan.net. Widely accepted forms of use: quoting, printing in newspapers, printing into books, re-archiving in other types of "forums" or e-book repositories, etc. Please do not modify or edit further. The author is only responsible for manuscripts in the vnthuquan.net book store with revised versions after January 1, 2006.
[first]
Go with
[2]
Please read more:
Table of contents
6. Legend of Hoan Kiem
6. Legend of Hoan Kiem
Truong Thai DuWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author Uploaded by: January 28, 2005
|
Trương Thái Du
8. Chuyện bếp núc viết sách: số trang và số chữ
Thi thoảng đây đó trong các bài phỏng vấn, ta vẫn nghe nhiều nhà văn nói: “Tôi đang viết quyển tiểu thuyết cỡ 300 trang…”. “Cuốn sách sắp tới độ năm sáu trăm trang…”. “Tôi sẽ dành 700 trang cho tập hai…”. “Tôi đã viết hai ba tiểu thuyết trên 400 trang…”. Thật mơ hồ, tuy nhiên sự nhập nhoạng ở đây lại nằm trong định nghĩa thế nào là một trang viết. Số chữ trong một trang viết tỉ lệ với khổ giấy và độ lớn của ký tự. Sẽ có người phản bác không phải nhiều chữ là hay. Vâng, tôi chỉ muốn trình bày khía cạnh thuần kỹ thuật.
Tôi không rõ ở Tây người ta có ước lượng độ dài ngắn của 1 quyển sách bằng số chữ hay không. Mới đây, qua bài “Đầu và cuối của tiểu thuyết” [1], Milorad Pavic cho người đọc thấy ông cũng từng đếm chữ.
Người Tàu thì khác. Phần lớn sách xuất bản ở Trung Hoa đều ghi chú số chữ rõ ràng. Hành xử này không chứng minh tác giả Tàu nhận thức cao hơn tác giả Việt, nó là truyền thống lâu đời. Thật vậy, tôi tin muộn nhất người Tàu đã đếm chữ khi sách thẻ trúc ra đời, cách nay trên 2500 năm. Thẩm mỹ đòi hỏi mọi chữ Tàu, bất kể số nét, phải chiếm diện tích như nhau. Tùy chiều dài thẻ trúc, tùy độ lớn của chữ, người ta dễ dàng đếm được số chữ trên một thẻ, nhân với số thẻ sẽ thành số chữ trong tập, lại nhân với số tập thì ra số chữ gần đúng trong quyển sách. Ai chẳng biết Sử Ký Tư Mã Thiên có 520 ngàn chữ. Trước Tư Mã Thiên, Lã Bất Vi từng quảng cáo sách của mình ở cửa chợ Hàm Dương. Ông ta treo giải ngàn vàng cho ai thêm bớt được một chữ trong tổng số hơn hai mươi vạn chữ của Lã Thị Xuân Thu. Sau này có giấy, đếm chữ phức tạp hơn nhưng họ vẫn làm, nên ta mới biết Hồng Lâu Mộng gồm 730 ngàn chữ.
Tôi từng có kinh nghiệm ‘bực bội’ với nhiều quyển sách xuất bản tại Việt
Nam
. Lần nọ trên chuyến xe đò 6 tiếng từ Đà Lạt đến Sài Gòn, tôi đem theo 1 quyển sách 600 trăm trang khổ 13cm x 19cm để tận dụng thời gian. Không may sách dành cho người cận nặng nên chữ to như con bò. Đọc sách không mỏi mắt nhưng mỏi tay vì cứ phải sang trang liên tục. Hậu quả là tôi mất toi 3 tiếng một cách vô vị.
Người Ta ở Tây cũng chẳng khá hơn. Một tác giả sống giữa thủ đô văn hóa Tây dương từng phán: "Tất cả các cuốn Tứ Thư, Ngũ Kinh nếu gộp chung lại tất cả và in thành một cuốn sách thì cũng chỉ vài trăm trang thôi, nghĩa là chỉ bằng một nửa cuốn sách mà các vị đang cầm trong tay thôi. Một người bình thường có thể học một tuần lễ là xong, thế mà các sĩ tử cứ nhai đi nhai lại trong mấy ngàn năm thì hỏi kiến thức có cái gì đáng kể?".
“Ngạc nhiên chưa?” – Tôi mạn phép nhại một lời thoại quảng cáo – Và còn ngạc nhiên hơn nữa khi tôi đem vấn đề “số trang, số chữ” tham khảo người bạn vong niên viết văn. Anh nhíu mày khó chịu và mắng tôi như mắng đứa trẻ con vô lễ: “Thằng dở người! Ai chẳng biết với việc số hóa văn bản hôm nay, nhấn chuột hai lần là có ngay số chữ. Cái khác nhau giữa Ta với Tây và Tàu là bản sắc Việt Nam. Mày muốn tự đồng hóa thì cứ tự nhiên. Đừng bôi bẩn chúng tao!”.
Tôi buồn lắm. Thì ra trên đời này chỉ tồn tại một sự thật duy nhất đó là không có gì là sự thật. Mọi cái khác mang tên gọi sự thật, chỉ là sản phẩm của các mức độ nhận thức. Nhận thức lạc lõng mang nhiều cảm tính hồ đồ của tôi chắc chắn chẳng thay đổi được thói quen của nhiều người.
Chú thích:
[1]
………..
Về bản quyền bài này
: Đây là bản gốc của bài viết đã bị tạp chí evan biên tập không theo ý tác giả tháng 8.2004.
Về bản quyền chung
: Tất cả các bài tạp văn kí tên Trương Thái Du dưới 30 ngàn chữ đều được tác giả để ở chế độ bản quyền mở. Mọi cá nhân hoặc tổ chức có thể tải về miễn phí từ vnthuquan.net. Các hình thức sử dụng đuợc chấp nhận rộng rãi: trích dẫn, in trên báo, in thành sách, tái lưu trữ ở các loại “diễn đàn” hoặc kho sách điện tử khác.v.v.. Xin miễn sửa đổi hoặc biên tập thêm. Tác giả chỉ chịu trách nhiệm bản thảo tại kho sách vnthuquan.net với các phiên bản tu chỉnh sau ngày 01.01.2006.
Mục lục
8. Chuyện bếp núc viết sách: số trang và số chữ
8. Chuyện bếp núc viết sách: số trang và số chữ
Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giảĐược bạn: đưa lên vào ngày: 28 tháng 1 năm 2005
|
Truong Thai Du
8. Cooking story about writing a book: number of pages and number of words
Occasionally in interviews, we still hear many writers say: "I'm writing a 300-page novel...". “The book is about to reach five or six hundred pages…”. “I will spend 700 pages on volume two…”. “I have written two or three novels of over 400 pages…”. It's vague, but the ambiguity here lies in the definition of what a page is. The number of words on a written page is proportional to the paper size and the size of the characters. There will be people who argue that not many words are good. Well, I just want to present the purely technical aspect.
I don't know if in the West people estimate the length of a book by the number of words or not. Recently, through the article "The beginning and end of the novel" [1], Milorad Pavic showed readers that he also used to count words.
Chinese people are different. Most books published in China clearly note the number of words. This behavior does not prove that Chinese authors are more knowledgeable than Vietnamese authors, it is a long-standing tradition. Indeed, I believe the Chinese started counting words at the latest when bamboo card books were born, over 2,500 years ago. Aesthetics require that every Chinese character, regardless of the number of strokes, occupy the same space. Depending on the length of the bamboo card and the size of the words, people can easily count the number of words on a card. Multiplying by the number of cards will create the number of words in the book, and multiplying by the number of the book will give the approximate number of words in the book. Who doesn't know that Sima Qian's History has 520 thousand words. Before Sima Qian, Lu Buwei used to advertise his books at Ham Duong market. He offered a thousand-gold reward to anyone who could add or subtract one word from La Thi Xuan Thu's total of more than twenty thousand words. Later, when paper became available, counting words became more complicated, but they still did it, so we know that Dream of the Red Chamber consists of 730 thousand words.
I have had 'frustrating' experiences with many books published in Vietnam
Male
. One time on a 6-hour bus trip from Da Lat to Saigon, I brought a book with 600 hundred pages, 13cm x 19cm, to take advantage of the time. Unfortunately, the book is for people with severe nearsightedness, so the letters are as big as cows. Reading books doesn't tire your eyes, but your hands get tired because you have to constantly turn pages. As a result, I wasted 3 hours pointlessly.
People in the West are no better. An author living in the heart of the Western cultural capital once said: "If all the Four Books and Five Classics were combined and printed into one book, they would only be a few hundred pages, meaning only half of Just the book you are holding in your hands. A normal person can study it in a week, but scholars keep chewing it over and over again for thousands of years, so what is the significance of knowledge?
"Surprise?" – I took the liberty of parodying an advertising dialogue – And I was even more surprised when I brought up the issue of "number of pages, number of words" with a long-time writer friend. He frowned in annoyance and scolded me like a disrespectful child: "You idiot! Who doesn't know that with today's digitization of documents, clicking twice will instantly get the number of words. The difference between Vietnam and the West and China is Vietnamese identity. If you want to assimilate yourself, feel free. Don't defame us!”.
I am sad. It turns out that there is only one truth in this world: nothing is true. Everything else called truth is just a product of levels of awareness. My out-of-place perception with many confused feelings certainly cannot change the habits of many people.
Note:
[first]
………..
About the copyright of this article
: This is the original version of the article that was edited against the author's will by Evan magazine in August 2004.
About general copyright
: All articles signed by Truong Thai Du under 30,000 words are kept by the author in open copyright mode. Any individual or organization can download it for free from vnthuquan.net. Widely accepted forms of use: quoting, printing in newspapers, printing into books, re-archiving in other types of "forums" or e-book repositories, etc. Please do not modify or edit further. The author is only responsible for manuscripts in the vnthuquan.net book store with revised versions after January 1, 2006.
Table of contents
8. Cooking story about writing a book: number of pages and number of words
8. Cooking story about writing a book: number of pages and number of words
Truong Thai DuWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author Uploaded by: January 28, 2005
|
Y Ban
Ai Chọn Dùm Tôi
Tôi quyết định bán nhà. Căn nhà đã ghi lại bao kỷ niệm buồn đến nỗi tôi không thể sống trong đó. Mỗi vật dụng trong nhà đều đã chứng kiến nỗi khổ đau của tôi. Thậm chí đến không khí trong căn nhà cũng tăng độ ẩm vì nước mắt của tôi. Tôi không mang theo một thứ gì trong căn nhà này. Cái giường, cái tủ còn tốt nên chủ nhà mới xin lại. Cái bát, cái đũa, cái xoong, cái nồi tôi cho bà hàng xóm… Còn lại duy nhất là cái bàn thờ với bát hương thì chưa biết giải quyết bằng cách nào.Cái bàn thờ tôi lập khi mua căn nhà này đi ở riêng. Trên bàn thờ chỉ có duy nhất một bát hương nhưng là nơi để tôi thờ Phật, Thần linh, Thổ địa, Cụ kỵ, Ông bà… Đến khi cha mẹ tôi qua đời thì tôi rất muốn rước cha mẹ tôi về thờ riêng nhưng các anh trai tôi không đồng ý vì phận tôi là gái. Vậy là cái bàn thờ của tôi là nơi tôi thờ tất cả những điều linh thiêng đã nâng đỡ cho tâm hồn tôi chống trọi được với cuộc đời, để sống.Mẹ sinh tôi là gái. Mẹ dạy tôi tam tòng, tứ đức. Đặc biệt mẹ dạy tôi chữ nhẫn. Bài học đầu tiên của chữ nhẫn là năm lên 4 tuổi mẹ đã vót cho tôi một đôi que đan với một cái giỏ đựng đầy sợi gai. Bàn tay vụng dại của tôi nhể từng sợi gai đan thành một mảnh vải kỳ quái bé xíu bằng bàn tay. Lớn lên cha cho tôi đến trường. Tôi học không sáng dạ nhưng bàn tay đan thì khéo léo vô cùng. Khi 18 tuổi tôi đã có nghề kiếm cơm của thiên hạ. Nhưng cái nghề này khiến tôi suốt ngày ru rú ở trong nhà. Mẹ bảo: khéo không nó ế chồng. Cha bảo: mua cho nó căn nhà như cái giỏ để nó đơm một tấm chồng.Năm 19 tuổi tôi đã có căn nhà, có một nghề tốt để kiếm cơm, lo gì không kiếm nổi một tấm chồng. Một tấm chồng tương xứng với tôi. Nhưng tôi lại là một kẻ mơ mộng, với ước vọng cao xa. Tôi phải lòng một anh học trò nghèo. Mặc những khuyên can của cha mẹ, anh em. Mặc những lời đàm tiếu của thiên hạ tôi rước anh học trò nghèo về nhà nhận phần chăm lo cuộc sống trần tục để chàng chăm lo đèn sách mong một ngày "võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Nếu không được kết thúc có hậu như vậy thì cũng là góp phần nuôi dưỡng chất xám. Cái thứ đang bị ngoại bang chăn dắt.Sau 5 năm chăm lo cuộc sống cho chàng đèn sách, lại còn không muốn cho chàng thua kém bạn bè. Tôi đã mua cho chàng xe máy, máy vi tính, điện thoại di động. Còn tôi, tôi nhận về mình bao cay đắng. Chưa một lần tôi được đón tiếp bạn bè của chàng. Chưa một lần tôi được đi chơi cùng chàng giữa thanh thiên bạch nhật. Giữa một rừng lời nói yêu đương hai lần chàng ép buộc tôi đi tháo bỏ thai ra.Thêm 2 năm sau khi tốt nghiệp mà chàng không xin được việc. Chàng khổ đau một thì tôi khổ đau 10. Để làm vui lòng chàng tôi phải ra sức chiều chuộng theo chàng. Giờ chàng có thói quen tắm hiệu, gội đầu hiệu. Một tấm áo len tôi đan mất 2 ngày, tiền công 50 ngàn đồng thì một lần chàng gội đầu hiệu và bo hết 20 ngàn đồng, tiền cà phê 10 ngàn đồng. Còn lại chỉ đủ tiền ăn cho chàng. Tôi bắt chước người Trung Quốc ngậm chiếc tăm vào miệng, sỉa răng trong khi ruột đang đói thắt lại.Chàng được tuyển vào làm việc tại một công ty. Cầm giấy báo trong tay chàng lặng lẽ rời khỏi ngôi nhà của tôi nhưng không quên mang theo xe máy, vi tính, điện thoại di động.7 năm đời con gái của tôi trôi veo. Thế là bài học cha mẹ dạy tôi chỉ áp dụng được ở đời chữ nhẫn.7 năm, cái bàn thờ nhỏ trên tường đã đọng lại bao nhiêu lời cầu khẩn của tôi. Tôi thường khấn Phật giúp chàng đầu sáng láng vượt qua các kỳ thi. Còn tôi Phật giúp mở lòng từ bi vượt qua những cơn khốn khó. Tôi khấn Thần linh cho chàng sáng mắt, sáng lòng nhận ra tấm lòng tôi đối với chàng. Tôi khấn trời làm cho lòng tôi đen lại không yêu chàng nữa. Đau khổ tột cùng tôi cầu cha, mẹ cứu. Không có một điều kỳ diệu nào hiển linh cả, nhưng những điều tôi cầu khấn đã giúp tôi nghị lực sống.Tôi đi hỏi bạn bè cách giải quyết chiếc bàn thờ của tôi. Ai cũng quả quyết rằng: không thể mang chiếc bàn thờ về nhà mới. Đó là điều kiêng kỵ nhất. Mà vứt bỏ vào một xó nào đấy cũng không thể được. Đó cũng phạm vào điều kiêng kỵ. Một người bạn bảo tôi đến nhờ một ông thày cúng. Tôi bèn sắm sính lễ đến. Ông thày cúng vừa thắp hương vừa lẩm bẩm:- Sao mà bây giờ lắm người muốn trầm bát hương thế.Thắp hương xong ông thày cúng quay sang hỏi tôi:- Chắc là cô đã nghe người ta kháo nhau về mẹ con cái bà cờ bạc mà bỗng chốc trở thành mệnh phụ phu nhân rồi hử?- Dạ cháu chưa nghe chuyện nhưng quả là nhà cháu có chuyện phân vân vì chưa biết giải quyết thế nào.- Thế thì nghe cho rõ rồi mà quyết này.Như các cụ nói ngày xưa thì cái nhà ấy là đại vô phúc. Một gia đình trung lưu,ông chồng chết sớm, 3 người con trai đã yên bề gia thất. Còn lại bà mẹ chưa phải là gìa với cô con gái út 20 tuổi. Bỗng đâu cả bà mẹ với cô gái út sa chân vào cờ bạc. Phạm vào cái thói cờ bạc thì đàn bà còn máu mê hơn đàn ông. Mẹ ngồi xới trên, con ngồi xới dưới. Của nả trong nhà cứ thế đội nón ra đi. Của trong nhà hết thì sang nhà các anh con trai. Nay nhà con này mất chiếc vô tuyến, mai nhà con kia bị cầm xe máy. Bọn trẻ con cứ thấy bóng bà nội và cô út đến đầu ngõ là đã hét dinh như còi. Rồi đến cái ngày cái nhà cũng bị xiết nợ. Chẳng con nào chịu cưu mang nữa. Quá bẽ bàng hai mẹ con rủ nhau bỏ đất này ra đi. Còn cái bàn thờ tổ tiên mang đến nhà con trai cả, con trai cả không nhận. Sợ mẹ lấy cớ hương khói quay về rồi nhà lại mất thứ nọ thứ kia. Anh con trai thứ hai cũng không nhận. Nó là cả nó chẳng nhận tôi là thứ sao tôi lại phải nhận. Anh con trai thứ ba lại càng chẳng có cớ gì mà thờ tổ thờ tiên cả. Bà mẹ bèn mang bàn thờ tổ tiên ra sông Hồng, buông sông. Hai mẹ con dắt ríu nhau vào Sài Gòn lê lết kiếm ăn trên vỉa hè. Thế nào mà cô con gái lại lọt vào tầm ngắm của một người đàn ông Đài Loan 60 tuổi. Cô trở thành vợ ông ta. Ông ta có một xưởng sản xuất to với một khách sạn lớn. Một năm sau cô út lại sinh cho ông ta một cậu con trai bụ bẫm. Thế là mẹ con bà nọ trở thành những mệnh phụ phu nhân. Một bước lên xe hơi, hai bước lên xe hơi. Kẻ hầu người hạ tấp nập. Buổi sáng đi đánh te nít, buổi chiều tính số đề. Lại còn biết lấy tiền của chồng làm từ thiện, lên cả ti vi.- Đấy cô đã nghe rõ câu chuyện chưa hử? Nếu cô muốn lấy một ông tây nào nói chung, hay một ông Đài Loan già nói riêng thì cô mang cái bàn thờ ra sông Hồng mà buông sông. Sông Hồng chảy ra biển. Cô sẽ thành mệnh phụ phu nhân… Còn nếu cô chỉ muốn một cuộc sống thanh thản ở đời này thì cô mang bát hương này lên chùa. Rồi cô thành tâm cô khấn. Xong cô mang chân hương đi hoá. Rồi cô để bát hương này lại chùa. Lòng cô sẽ thanh thản. Cô sống thành thì sẽ nhận được quả phúc.Rời nhà ông thày cúng tôi vẫn chưa biết chọn nẻo nào cho mình. Tôi đã sống thành mà có nhận được quả phúc đâu. Còn sông Hồng ư? Liệu có trôi được ra biển không? Hay sẽ mắc vào một gờ đá nào đó rồi vật vờ theo sóng như cái chết của nàng tiên cá. Đến câu chuyện cổ tích mà cũng có cứu được nàng đâu.
Mục lục
Ai Chọn Dùm Tôi
Ai Chọn Dùm Tôi
Y BanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Ngìn xưa văn hiếnĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 3 năm 2005
|
Y Ban
Ai Chọn Dùm Tôi
Tôi quyết định bán nhà. Căn nhà đã ghi lại bao kỷ niệm buồn đến nỗi tôi không thể sống trong đó. Mỗi vật dụng trong nhà đều đã chứng kiến nỗi khổ đau của tôi. Thậm chí đến không khí trong căn nhà cũng tăng độ ẩm vì nước mắt của tôi. Tôi không mang theo một thứ gì trong căn nhà này. Cái giường, cái tủ còn tốt nên chủ nhà mới xin lại. Cái bát, cái đũa, cái xoong, cái nồi tôi cho bà hàng xóm… Còn lại duy nhất là cái bàn thờ với bát hương thì chưa biết giải quyết bằng cách nào.Cái bàn thờ tôi lập khi mua căn nhà này đi ở riêng. Trên bàn thờ chỉ có duy nhất một bát hương nhưng là nơi để tôi thờ Phật, Thần linh, Thổ địa, Cụ kỵ, Ông bà… Đến khi cha mẹ tôi qua đời thì tôi rất muốn rước cha mẹ tôi về thờ riêng nhưng các anh trai tôi không đồng ý vì phận tôi là gái. Vậy là cái bàn thờ của tôi là nơi tôi thờ tất cả những điều linh thiêng đã nâng đỡ cho tâm hồn tôi chống trọi được với cuộc đời, để sống.Mẹ sinh tôi là gái. Mẹ dạy tôi tam tòng, tứ đức. Đặc biệt mẹ dạy tôi chữ nhẫn. Bài học đầu tiên của chữ nhẫn là năm lên 4 tuổi mẹ đã vót cho tôi một đôi que đan với một cái giỏ đựng đầy sợi gai. Bàn tay vụng dại của tôi nhể từng sợi gai đan thành một mảnh vải kỳ quái bé xíu bằng bàn tay. Lớn lên cha cho tôi đến trường. Tôi học không sáng dạ nhưng bàn tay đan thì khéo léo vô cùng. Khi 18 tuổi tôi đã có nghề kiếm cơm của thiên hạ. Nhưng cái nghề này khiến tôi suốt ngày ru rú ở trong nhà. Mẹ bảo: khéo không nó ế chồng. Cha bảo: mua cho nó căn nhà như cái giỏ để nó đơm một tấm chồng.Năm 19 tuổi tôi đã có căn nhà, có một nghề tốt để kiếm cơm, lo gì không kiếm nổi một tấm chồng. Một tấm chồng tương xứng với tôi. Nhưng tôi lại là một kẻ mơ mộng, với ước vọng cao xa. Tôi phải lòng một anh học trò nghèo. Mặc những khuyên can của cha mẹ, anh em. Mặc những lời đàm tiếu của thiên hạ tôi rước anh học trò nghèo về nhà nhận phần chăm lo cuộc sống trần tục để chàng chăm lo đèn sách mong một ngày "võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Nếu không được kết thúc có hậu như vậy thì cũng là góp phần nuôi dưỡng chất xám. Cái thứ đang bị ngoại bang chăn dắt.Sau 5 năm chăm lo cuộc sống cho chàng đèn sách, lại còn không muốn cho chàng thua kém bạn bè. Tôi đã mua cho chàng xe máy, máy vi tính, điện thoại di động. Còn tôi, tôi nhận về mình bao cay đắng. Chưa một lần tôi được đón tiếp bạn bè của chàng. Chưa một lần tôi được đi chơi cùng chàng giữa thanh thiên bạch nhật. Giữa một rừng lời nói yêu đương hai lần chàng ép buộc tôi đi tháo bỏ thai ra.Thêm 2 năm sau khi tốt nghiệp mà chàng không xin được việc. Chàng khổ đau một thì tôi khổ đau 10. Để làm vui lòng chàng tôi phải ra sức chiều chuộng theo chàng. Giờ chàng có thói quen tắm hiệu, gội đầu hiệu. Một tấm áo len tôi đan mất 2 ngày, tiền công 50 ngàn đồng thì một lần chàng gội đầu hiệu và bo hết 20 ngàn đồng, tiền cà phê 10 ngàn đồng. Còn lại chỉ đủ tiền ăn cho chàng. Tôi bắt chước người Trung Quốc ngậm chiếc tăm vào miệng, sỉa răng trong khi ruột đang đói thắt lại.Chàng được tuyển vào làm việc tại một công ty. Cầm giấy báo trong tay chàng lặng lẽ rời khỏi ngôi nhà của tôi nhưng không quên mang theo xe máy, vi tính, điện thoại di động.7 năm đời con gái của tôi trôi veo. Thế là bài học cha mẹ dạy tôi chỉ áp dụng được ở đời chữ nhẫn.7 năm, cái bàn thờ nhỏ trên tường đã đọng lại bao nhiêu lời cầu khẩn của tôi. Tôi thường khấn Phật giúp chàng đầu sáng láng vượt qua các kỳ thi. Còn tôi Phật giúp mở lòng từ bi vượt qua những cơn khốn khó. Tôi khấn Thần linh cho chàng sáng mắt, sáng lòng nhận ra tấm lòng tôi đối với chàng. Tôi khấn trời làm cho lòng tôi đen lại không yêu chàng nữa. Đau khổ tột cùng tôi cầu cha, mẹ cứu. Không có một điều kỳ diệu nào hiển linh cả, nhưng những điều tôi cầu khấn đã giúp tôi nghị lực sống.Tôi đi hỏi bạn bè cách giải quyết chiếc bàn thờ của tôi. Ai cũng quả quyết rằng: không thể mang chiếc bàn thờ về nhà mới. Đó là điều kiêng kỵ nhất. Mà vứt bỏ vào một xó nào đấy cũng không thể được. Đó cũng phạm vào điều kiêng kỵ. Một người bạn bảo tôi đến nhờ một ông thày cúng. Tôi bèn sắm sính lễ đến. Ông thày cúng vừa thắp hương vừa lẩm bẩm:- Sao mà bây giờ lắm người muốn trầm bát hương thế.Thắp hương xong ông thày cúng quay sang hỏi tôi:- Chắc là cô đã nghe người ta kháo nhau về mẹ con cái bà cờ bạc mà bỗng chốc trở thành mệnh phụ phu nhân rồi hử?- Dạ cháu chưa nghe chuyện nhưng quả là nhà cháu có chuyện phân vân vì chưa biết giải quyết thế nào.- Thế thì nghe cho rõ rồi mà quyết này.Như các cụ nói ngày xưa thì cái nhà ấy là đại vô phúc. Một gia đình trung lưu,ông chồng chết sớm, 3 người con trai đã yên bề gia thất. Còn lại bà mẹ chưa phải là gìa với cô con gái út 20 tuổi. Bỗng đâu cả bà mẹ với cô gái út sa chân vào cờ bạc. Phạm vào cái thói cờ bạc thì đàn bà còn máu mê hơn đàn ông. Mẹ ngồi xới trên, con ngồi xới dưới. Của nả trong nhà cứ thế đội nón ra đi. Của trong nhà hết thì sang nhà các anh con trai. Nay nhà con này mất chiếc vô tuyến, mai nhà con kia bị cầm xe máy. Bọn trẻ con cứ thấy bóng bà nội và cô út đến đầu ngõ là đã hét dinh như còi. Rồi đến cái ngày cái nhà cũng bị xiết nợ. Chẳng con nào chịu cưu mang nữa. Quá bẽ bàng hai mẹ con rủ nhau bỏ đất này ra đi. Còn cái bàn thờ tổ tiên mang đến nhà con trai cả, con trai cả không nhận. Sợ mẹ lấy cớ hương khói quay về rồi nhà lại mất thứ nọ thứ kia. Anh con trai thứ hai cũng không nhận. Nó là cả nó chẳng nhận tôi là thứ sao tôi lại phải nhận. Anh con trai thứ ba lại càng chẳng có cớ gì mà thờ tổ thờ tiên cả. Bà mẹ bèn mang bàn thờ tổ tiên ra sông Hồng, buông sông. Hai mẹ con dắt ríu nhau vào Sài Gòn lê lết kiếm ăn trên vỉa hè. Thế nào mà cô con gái lại lọt vào tầm ngắm của một người đàn ông Đài Loan 60 tuổi. Cô trở thành vợ ông ta. Ông ta có một xưởng sản xuất to với một khách sạn lớn. Một năm sau cô út lại sinh cho ông ta một cậu con trai bụ bẫm. Thế là mẹ con bà nọ trở thành những mệnh phụ phu nhân. Một bước lên xe hơi, hai bước lên xe hơi. Kẻ hầu người hạ tấp nập. Buổi sáng đi đánh te nít, buổi chiều tính số đề. Lại còn biết lấy tiền của chồng làm từ thiện, lên cả ti vi.- Đấy cô đã nghe rõ câu chuyện chưa hử? Nếu cô muốn lấy một ông tây nào nói chung, hay một ông Đài Loan già nói riêng thì cô mang cái bàn thờ ra sông Hồng mà buông sông. Sông Hồng chảy ra biển. Cô sẽ thành mệnh phụ phu nhân… Còn nếu cô chỉ muốn một cuộc sống thanh thản ở đời này thì cô mang bát hương này lên chùa. Rồi cô thành tâm cô khấn. Xong cô mang chân hương đi hoá. Rồi cô để bát hương này lại chùa. Lòng cô sẽ thanh thản. Cô sống thành thì sẽ nhận được quả phúc.Rời nhà ông thày cúng tôi vẫn chưa biết chọn nẻo nào cho mình. Tôi đã sống thành mà có nhận được quả phúc đâu. Còn sông Hồng ư? Liệu có trôi được ra biển không? Hay sẽ mắc vào một gờ đá nào đó rồi vật vờ theo sóng như cái chết của nàng tiên cá. Đến câu chuyện cổ tích mà cũng có cứu được nàng đâu.
Mục lục
Ai Chọn Dùm Tôi
Ai Chọn Dùm Tôi
Y BanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Ngìn xưa văn hiếnĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 3 năm 2005
|
Nguyễn Minh
Ai con Rồng, cháu Tiên?
Người Việt Nam ngày nay không ai không thuộc tích "con Rồng cháu Tiên", và cũng không ai lại không rõ Rồng ở đây là Lạc Long Quân, còn Tiên tức Âu Cơ. Đấy dường như là một chân lý mà tất cả các tư liệu về sử học cũng như văn hóa đều khẳng định một cách vững vàng như đinh đóng cột. Việt sử toàn thư của Phạm Văn Sơn, chẳng hạn, viết "Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc có trăm trứng nở ra 100 con trai, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống bể Nam Hải, vì mẹ là giống Tiên, và cha là giống Rồng" (tr. 38). Song le, việc Lạc Long Quân là giống Rồng thì chẳng có gì phải bàn cãi, còn Âu Cơ có thật thuộc giống Tiên chăng? Về Kỷ Họ Hồng Bàng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, các bộ cổ sử nước ta còn lưu giữ được cho đến nay, trừ Đại Việt sử lược, đều chép tương tự nhau, như Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại Kỷ, quyển một, chép về Kinh Dương Vương như sau: "Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua... phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ... Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân" (tr. 3). Về tích trên, truyện họ Hồng Bàng, sách Lĩnh Nam trích quái, cũng ghi: "Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước" (tr. 1). Như vậy, có thể thấy Kinh Dương Vương mang trong mình một nửa dòng máu tiên, vì có mẹ là tiên nữ, do thế nên mới có tài chu du thủy phủ mà cầu hôn con gái của Động Đình Quân Thần Long. Đến Lạc Long Quân thì ngoài dòng máu tiên lại có thêm cả... máu rồng, thừa hưởng từ mẹ. Như vậy, chính Lạc Long Quân đã là "con Rồng cháu Tiên" rồi vậy. Về phần Âu Cơ thì sử sách đều ghi rõ bà là con của Đế Lai, cháu Đế Nghi, mà Đế Nghi thì chẳng phải ai khác, chính là con Đế Minh và anh ruột Kinh Dương Vương. Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư có luận rằng "Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông giám ngoại kỷ nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế chăng?" (tr. 4). Cứ theo như thế thì Âu Cơ chỉ là một công chúa bình thường, dù có theo quan niệm người xưa mà đồng hóa vua với rồng chăng nữa, thì cũng chỉ có thể bảo bà là giống rồng, chứ không có liên hệ gì với tiên cả. Đến đây, sẽ có những ý kiến "biện bác" cho dòng dõi nhà tiên của Âu Cơ, viện lý rằng bản thân Lạc Long Quân cũng công nhận vợ mình là... tiên. Thật vậy, Đại Việt sử ký toàn thư (tr. 3), cũng như các bộ sử về sau như Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều thuật lời của Long Quân nói với Âu Cơ "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Song thiết nghĩ nước ta từ thuở hồng hoang, trải mấy ngàn năm cho đến đời Trần mới có người chép quốc sử, lại sang tới Lê, phần huyền sử đời Hồng Bàng mới được thêm vào, thế thì có nhiều khả năng cái quan niệm sai lầm rằng Âu Cơ là tiên đã phát sinh chính trong "thời kỳ đen tối" ấy. Truyền thuyết truyền miệng, tam sao thất bổn là chuyện không thể tránh; các sử gia có lẽ do không cẩn trọng nên đã "bê" câu "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên" vào sử, góp phần củng cố thêm cho cái sai, trong khi thực tế cụm từ "con Rồng cháu Tiên" được dùng để chỉ về một mình Lạc Long Quân, vốn có mẹ là Rồng (con gái Thần Long) và bà nội là Tiên (con gái Vụ Tiên). Vì Lạc Long Quân được coi là tổ của dân tộc ta, nên người Việt ta cũng được tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên vậy. Nhân đây cũng xin bàn thêm, nói về chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân chia tay, mỗi người mang theo 50 đứa con, chúng ta vẫn thường nghe kể và thường được đọc đại khái rằng 50 người con theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi, trong đó những người đi theo Lạc Long Quân đã lập nên nước Văn Lang. Song, cũng giống như chuyện Âu Cơ là tiên, thiết nghĩ đây cũng lại là một lầm lẫn, vì nếu quả như 50 người con đi theo Long Quân lập nên nước Văn Lang thì hẳn vương quốc này phải nằm dưới... thủy phủ. Dĩ nhiên có những lập luận cho rằng "xuống biển" ở đây là xuống những vùng đồng bằng, duyên hải ven biển, nhưng nếu là như thế sao không nói rõ ra, mà lại mập mờ "xuống biển" đánh lận con đen? Thực ra, theo như đúng truyền thuyết cổ xưa thì nước Văn Lang là do 50 người con đi theo mẹ Âu Cơ lập nên. Lĩnh Nam trích quái, bộ sách sưu tầm các truyền thuyết đất Việt, chép rất rõ "Long Quân nói "...Ta đem năm mươi con về Thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên". Trăm con vâng theo, sau đó từ biệt mà đi. Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang" (tr. 1). Sở dĩ có chuyện "đổi trắng thay đen" là do các sử gia sống trong thời phong kiến phụ hệ đã bóp méo truyền thuyết, như Ngô Thời Sỹ đã chỉ ra trong Việt sử tiêu án, phần chép về Lạc Long Quân: "Trong truyện lại chép: Lạc Long cùng với Âu Cơ chia con ra mỗi bên một nữa, theo cha mẹ lên núi và xuống bể, có việc gì cũng cho nhau biết. Âu Cơ đưa 50 con đến ở Phong Châu, tôn người con trưởng, đời đời gọi là Hùng Vương. Nhà làm sử muốn lấy người theo cha làm chính thống, nên đổi lời văn mà nói rằng: 50 con theo cha ở phía Nam, mà lấy Hùng Vương để đời sau, khiến cho việc mất sự thật, người đọc sách không thể không nghi được, nếu Long Quân không phải là giống Động Đình sinh ra thì không cần biện luận làm gì. Long Quân mà quả là giống Động Đình, thì loài ở dưới nước tất nhiên không thể ở trên bộ được. Những người con theo mẹ ai cũng phải lệ thuộc Long Quân, há có lẽ tất những người theo cha mới có thể được làm vua chúa, mà những người theo mẹ chỉ có thể làm man mọi ư?" (tr. 4). Lời bàn của Ngô Thời Sỹ tưởng rất hữu lý, bởi cứ theo truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam trích quái, Lạc Long Quân sau khi lên ngôi vẫn hay ở dưới Thủy phủ, mỗi khi dân có việc, gọi rằng "Bố ơi! Sao không lại cứu chúng tôi" thì mới lại lên. Đó là do giống Động Đình không sống được lâu trên cạn chăng? Mở đầu cho sự "bóp méo truyền thuyết" có lẽ là Đại Việt sử ký toàn thư với câu"(Lạc Long Quân và Âu Cơ) bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam... phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua", (tr. 4) mở đường cho các sử liệu sau này đi vào đường trái. Rồi thì một số các "hậu bối" vẫn giữ nguyên cái thuyết 50 con theo cha lập quốc mà khẳng định rằng Lạc Long Quân phong con cả làm Hùng Vương, nhưng quên không chỉnh "xuống biển" thành "về Nam", do đó tạo nên một chi tiết quái đản và mâu thuẫn... Trên đây là vài suy nghĩ của chúng tôi về sự tích con Rồng cháu Tiên. Theo thiển ý, những chi tiết vô lý trong tích này, tuy rất đơn giản và dễ nhận ra, nhưng không hiểu vì sao vẫn gây nên sự hiểu lầm qua nhiều thế hệ, và đặc biệt với chi tiết Âu Cơ là tiên, hình như vẫn chưa hề có ai lên tiếng cải chính. Có lẽ là do ít ai để ý đến nên không nhận ra những hạt sạn nhỏ nhặt, hoặc nhiều người đã nhận ra rồi mà cho là nhỏ nên không bận tâm chăng? Vậy xin nêu lên để thỉnh ý các bậc thức giả. Tài liệu trích dẫn: Ngô Sỹ Liên và các tác giả khác,Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH-Hà Nội, 1993 Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, Việt sử tiêu án, NXB Văn Sử, 1991 Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Đại Nam-Hoa Kỳ tái bản không ghi năm Vũ Quỳnh-Kiều Phú, Lĩnh Nam chính quái, NXB Văn Học, 2001
Mục lục
Ai con Rồng, cháu Tiên?
Ai con Rồng, cháu Tiên?
Nguyễn MinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: peupeu Nguồn: Vnthưquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 12 năm 2005
|
Nguyễn Minh
Ai con Rồng, cháu Tiên?
Người Việt Nam ngày nay không ai không thuộc tích "con Rồng cháu Tiên", và cũng không ai lại không rõ Rồng ở đây là Lạc Long Quân, còn Tiên tức Âu Cơ. Đấy dường như là một chân lý mà tất cả các tư liệu về sử học cũng như văn hóa đều khẳng định một cách vững vàng như đinh đóng cột. Việt sử toàn thư của Phạm Văn Sơn, chẳng hạn, viết "Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc có trăm trứng nở ra 100 con trai, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống bể Nam Hải, vì mẹ là giống Tiên, và cha là giống Rồng" (tr. 38). Song le, việc Lạc Long Quân là giống Rồng thì chẳng có gì phải bàn cãi, còn Âu Cơ có thật thuộc giống Tiên chăng? Về Kỷ Họ Hồng Bàng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, các bộ cổ sử nước ta còn lưu giữ được cho đến nay, trừ Đại Việt sử lược, đều chép tương tự nhau, như Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại Kỷ, quyển một, chép về Kinh Dương Vương như sau: "Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua... phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ... Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân" (tr. 3). Về tích trên, truyện họ Hồng Bàng, sách Lĩnh Nam trích quái, cũng ghi: "Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước" (tr. 1). Như vậy, có thể thấy Kinh Dương Vương mang trong mình một nửa dòng máu tiên, vì có mẹ là tiên nữ, do thế nên mới có tài chu du thủy phủ mà cầu hôn con gái của Động Đình Quân Thần Long. Đến Lạc Long Quân thì ngoài dòng máu tiên lại có thêm cả... máu rồng, thừa hưởng từ mẹ. Như vậy, chính Lạc Long Quân đã là "con Rồng cháu Tiên" rồi vậy. Về phần Âu Cơ thì sử sách đều ghi rõ bà là con của Đế Lai, cháu Đế Nghi, mà Đế Nghi thì chẳng phải ai khác, chính là con Đế Minh và anh ruột Kinh Dương Vương. Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư có luận rằng "Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách Thông giám ngoại kỷ nói: Đế Lai là con Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như thế chăng?" (tr. 4). Cứ theo như thế thì Âu Cơ chỉ là một công chúa bình thường, dù có theo quan niệm người xưa mà đồng hóa vua với rồng chăng nữa, thì cũng chỉ có thể bảo bà là giống rồng, chứ không có liên hệ gì với tiên cả. Đến đây, sẽ có những ý kiến "biện bác" cho dòng dõi nhà tiên của Âu Cơ, viện lý rằng bản thân Lạc Long Quân cũng công nhận vợ mình là... tiên. Thật vậy, Đại Việt sử ký toàn thư (tr. 3), cũng như các bộ sử về sau như Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều thuật lời của Long Quân nói với Âu Cơ "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Song thiết nghĩ nước ta từ thuở hồng hoang, trải mấy ngàn năm cho đến đời Trần mới có người chép quốc sử, lại sang tới Lê, phần huyền sử đời Hồng Bàng mới được thêm vào, thế thì có nhiều khả năng cái quan niệm sai lầm rằng Âu Cơ là tiên đã phát sinh chính trong "thời kỳ đen tối" ấy. Truyền thuyết truyền miệng, tam sao thất bổn là chuyện không thể tránh; các sử gia có lẽ do không cẩn trọng nên đã "bê" câu "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên" vào sử, góp phần củng cố thêm cho cái sai, trong khi thực tế cụm từ "con Rồng cháu Tiên" được dùng để chỉ về một mình Lạc Long Quân, vốn có mẹ là Rồng (con gái Thần Long) và bà nội là Tiên (con gái Vụ Tiên). Vì Lạc Long Quân được coi là tổ của dân tộc ta, nên người Việt ta cũng được tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên vậy. Nhân đây cũng xin bàn thêm, nói về chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân chia tay, mỗi người mang theo 50 đứa con, chúng ta vẫn thường nghe kể và thường được đọc đại khái rằng 50 người con theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi, trong đó những người đi theo Lạc Long Quân đã lập nên nước Văn Lang. Song, cũng giống như chuyện Âu Cơ là tiên, thiết nghĩ đây cũng lại là một lầm lẫn, vì nếu quả như 50 người con đi theo Long Quân lập nên nước Văn Lang thì hẳn vương quốc này phải nằm dưới... thủy phủ. Dĩ nhiên có những lập luận cho rằng "xuống biển" ở đây là xuống những vùng đồng bằng, duyên hải ven biển, nhưng nếu là như thế sao không nói rõ ra, mà lại mập mờ "xuống biển" đánh lận con đen? Thực ra, theo như đúng truyền thuyết cổ xưa thì nước Văn Lang là do 50 người con đi theo mẹ Âu Cơ lập nên. Lĩnh Nam trích quái, bộ sách sưu tầm các truyền thuyết đất Việt, chép rất rõ "Long Quân nói "...Ta đem năm mươi con về Thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên". Trăm con vâng theo, sau đó từ biệt mà đi. Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang" (tr. 1). Sở dĩ có chuyện "đổi trắng thay đen" là do các sử gia sống trong thời phong kiến phụ hệ đã bóp méo truyền thuyết, như Ngô Thời Sỹ đã chỉ ra trong Việt sử tiêu án, phần chép về Lạc Long Quân: "Trong truyện lại chép: Lạc Long cùng với Âu Cơ chia con ra mỗi bên một nữa, theo cha mẹ lên núi và xuống bể, có việc gì cũng cho nhau biết. Âu Cơ đưa 50 con đến ở Phong Châu, tôn người con trưởng, đời đời gọi là Hùng Vương. Nhà làm sử muốn lấy người theo cha làm chính thống, nên đổi lời văn mà nói rằng: 50 con theo cha ở phía Nam, mà lấy Hùng Vương để đời sau, khiến cho việc mất sự thật, người đọc sách không thể không nghi được, nếu Long Quân không phải là giống Động Đình sinh ra thì không cần biện luận làm gì. Long Quân mà quả là giống Động Đình, thì loài ở dưới nước tất nhiên không thể ở trên bộ được. Những người con theo mẹ ai cũng phải lệ thuộc Long Quân, há có lẽ tất những người theo cha mới có thể được làm vua chúa, mà những người theo mẹ chỉ có thể làm man mọi ư?" (tr. 4). Lời bàn của Ngô Thời Sỹ tưởng rất hữu lý, bởi cứ theo truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam trích quái, Lạc Long Quân sau khi lên ngôi vẫn hay ở dưới Thủy phủ, mỗi khi dân có việc, gọi rằng "Bố ơi! Sao không lại cứu chúng tôi" thì mới lại lên. Đó là do giống Động Đình không sống được lâu trên cạn chăng? Mở đầu cho sự "bóp méo truyền thuyết" có lẽ là Đại Việt sử ký toàn thư với câu"(Lạc Long Quân và Âu Cơ) bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền Nam... phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua", (tr. 4) mở đường cho các sử liệu sau này đi vào đường trái. Rồi thì một số các "hậu bối" vẫn giữ nguyên cái thuyết 50 con theo cha lập quốc mà khẳng định rằng Lạc Long Quân phong con cả làm Hùng Vương, nhưng quên không chỉnh "xuống biển" thành "về Nam", do đó tạo nên một chi tiết quái đản và mâu thuẫn... Trên đây là vài suy nghĩ của chúng tôi về sự tích con Rồng cháu Tiên. Theo thiển ý, những chi tiết vô lý trong tích này, tuy rất đơn giản và dễ nhận ra, nhưng không hiểu vì sao vẫn gây nên sự hiểu lầm qua nhiều thế hệ, và đặc biệt với chi tiết Âu Cơ là tiên, hình như vẫn chưa hề có ai lên tiếng cải chính. Có lẽ là do ít ai để ý đến nên không nhận ra những hạt sạn nhỏ nhặt, hoặc nhiều người đã nhận ra rồi mà cho là nhỏ nên không bận tâm chăng? Vậy xin nêu lên để thỉnh ý các bậc thức giả. Tài liệu trích dẫn: Ngô Sỹ Liên và các tác giả khác,Đại Việt sử ký toàn thư, NXB KHXH-Hà Nội, 1993 Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ, Việt sử tiêu án, NXB Văn Sử, 1991 Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Đại Nam-Hoa Kỳ tái bản không ghi năm Vũ Quỳnh-Kiều Phú, Lĩnh Nam chính quái, NXB Văn Học, 2001
Mục lục
Ai con Rồng, cháu Tiên?
Ai con Rồng, cháu Tiên?
Nguyễn MinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: peupeu Nguồn: Vnthưquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 12 năm 2005
|
Miêng
Ai Thương
Bây giờ thì tôi thức dậy với cái đánh thức nhẹ nhàng của người đàn bà. Chị thường bảo nhìn tôi ngủ rất dễ thương nhưng chị thấy cô đơn. Chẳng như hồi xưa anh ấy thường đánh thức tôi vũ bảo : Dậy. Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa, sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày. Dậy. Anh dậy sớm mà vẫn không giàu, không say sưa mà chẳng sang chút nào. Ðược cái bảnh trai, mắt ướt môi mọng. Bà chủ thì bảo mặt anh trông điếm. Anh thức ngủ theo giờ giấc loài gà. Ðêm nào muốn thức với nhau, anh phải uống hai ly cà phê đen. Sau mỗi đêm thức, anh thường đòi làm đám cưới, bảo là đã tìm ra người đàn bà đời mình. Nhưng thỉnh thoảng vẫn nhắc đến cô bồ cũ và câu ca dao chín con chưa gọi rằng chồng, rằng anh em như tay chân vợ chồng như quần áo... làm tôi khựng. Chúng tôi sống với nhau như những cành tầm gửi, không đứa nào là thân cây chính. Nhưng xa nhau không nổỉ. Xứ này một năm thời tiết vui vẻ chỉ có ba bốn tháng. Tôi sợ một mình. Hôm tình cờ gặp nhau khu chợ Tàu, cô bồ cũ anh thản nhiên mời tôi vào tiệm ăn trưa. Thản nhiên tới nỗi tôi không dám từ chối. Tôi lúng túng với đôi đũa vì mang mặc cảm mình đang đầm ấm với người xưa của chị, trong khi chị lại thui thủi một mình. Chỉ khi xong bữa ăn, tôi mới hiểu là chị bỏ anh hay những vị đàn ông trước đó vì chán, lại bỏ thêm thằng bồ Tây sau anh cũng vì chán. Như thể chị tìm kiếm hoài mà người đàn ông đời chị cứ trốn chui trốn nhủi xó xỉnh nào hoặc dám chưa ra đời. Tôi thấy chị may mắn sung sướng quá, tha hồ cứ lựa xong lại chán bỏ. Nếu chị không chán hẳn có người mang trầu tươi rượu ngon tới thỉnh về. - Có hạnh phúc không ? Tôi không biết trả lời sao. Có cũng không hẳn đúng mà không cũng chẳng sai. - Ðều đều hai ly cà phê đen không ? Và tìm ra người đàn bà lý tưởng ? Tôi cho như vậy là ác miệng, là muốn phá thối niềm kiêu hãnh của mình, nhưng vẫn cười. Chị nhìn tôi cười thẳng thắn. Người đàn bà này có cái gì làm tôi rất thích. Chả trách anh vẫn còn lưu luyến. Tôi không kể anh nghe buổi gặp gỡ ấy với cái nháy mắt chia tay lúc ra khỏi tiệm ăn. Có cái gì đồng loã ngầm giữa hai đứa quen hơi một thằng đàn ông mà không ghen tị. Sau đó chị thường điện thoại rủ nhau ăn trưa. Không có gì phải khai ra với ai, nhưng sao cứ như lén lút. Rồi anh muốn về Việt Nam vì sở gửi đi. Anh nói sống ở Việt Nam mà ăn lương Tây thì như vua. Em về với anh đi, khỏi phải làm công, mà làm bà. Chỉ cần ở nhà lo cơm nước cho anh. Không chừng cứ ngày ngày ra tiệm kéo ghế vì rẻ, lại ngon. Em vẫn thèm như vậy mà ? Tôi ngần ngại. Chín con chưa gọi rằng chồng mà ! Lại là thời buổi Việt kiều đang có giá, ông nào về cũng được các cô mơn mởn ve vãn. Bà nào cũng bị mất chồng mất bồ dễ hơn mất ví - rồi tôi sẽ ra sao ? Bà chủ khuyên không nên cho anh về. Mà tôi thì quyền hạn gì. Vẫn cứ phân vân. Chỉ có chị là khuyên nên để lủy đi đi, cho yên thân (cứ như thể lủy phiền hà tôi lắm vậy !). Buổi chia tay cũng bịn rịn như những cặp vợ chồng chân chính. Anh hứa khi nào thu xếp xong xuôi bên ấy thì tôi về, ta về ta tắm ao ta. Sở gửi đi chỉ hai năm chớ sau đó có thể gia hạn nếu muốn. Anh hứa thỉnh thoảng trở qua Pháp thăm tôi, người đàn bà đời anh. Tự nhiên tôi thấy có gì không ổn. Chắc chỉ vì mỏi mệt. Hay do những cái mà bà ngoại vẫn gọi là "linh tính" ? Cái thứ con hoang như mày ấy mà, chẳng hy vọng gì được ăn miếng trầu héo uống miếng rượu nhạt đâu. Lớn lên cứ đứa nào nói thương thì theo nó, đừng hòng ai mang trầu rượu. Tôi thường hỏi mẹ con hoang là gì. Mẹ làm thinh giây lâu, xong chỉ tay lên trời, bảo con hoang là con của trăng. Cha tôi thỉnh thoảng mới xuất hiện và chẳng bao giờ về nhà chơi với tôi như cha lũ bạn cùng xóm. Khi tôi giới thiệu cha, tụi nó trầm trồ cha mày sáng trưng, cha mày đẹp quá, mày sung sướng quá, mà sao cha mày ở chi tuốt trên cao vậy, sao không về. Người lớn thì cười. Rồi mẹ một hôm theo cha, cũng không bao giờ về với tôi và ngoại. Tôi hỏi nếu cha là trăng, thì mẹ là cái gì, có ở cạnh cha không. Ngoại lặng người, không trả lời. Rồi ngoại cấm tôi khóc hỏi về mẹ. Và cho đến ngày mất, ngoại vẫn mang trong lòng nỗi thương khắc nghiệt và niềm hận tôi vì sự "dại dột" của mẹ. Lớn lên tôi mới hiểu là ngoại nát cả lòng. Tôi đi theo người đàn ông thứ nhất vượt biên. Tới Pháp, anh bảo em triệt sản đi, anh không muốn có con nữa. Chẳng biết anh nói gì với bịnh viện. Người ta đưa tôi lên bàn mổ rồi hai tuần sau thì thả về. Ba năm sau anh bảo lãnh vợ con qua, may là tôi tìm được chân bán hàng. Rồi tôi gặp anh khách bảnh trai mắt ướt môi mọng. Bà ngoại vẫn bảo đứa nào nói thương thì cứ theo nó, anh nói anh thương, tôi theo... Tháng đầu anh đi, chị và tôi gặp nhau tuần hai lần. Tháng thứ hai, chúng tôi gặp nhau tuần ba lần. Tháng thứ ba anh bắt đầu vắng tin tức, tôi vẫn còn khóc, (không, khóc nhiều hơn chứ, vì biết là đôi mắt ướt đã nhìn đôi mắt khác, cặp môi mọng đã hôn đôi môi khác), chị bắt đầu qua đêm trong căn phòng chật chội của tôi. Ðêm đầu tôi nhường giường cho chị. Ðêm hai chị bảo tôi cùng nằm, âu yếm vuốt tóc tôi. Ðêm ba giữa đêm tôi thức giấc, mơ hồ cảm giác tay anh sờ soạng khắp người. Ðêm tư tôi bẻn lẽn như cô dâu mới về với chồng. Ðêm năm nhớ tới lời ngoại dặn : đứa nào nói thương thì theo nó đi, đừng hòng ai mang trầu rượu... MIÊNG Paris, 02 Janv., 1999.
Mục lục
Ai Thương
Ai Thương
MiêngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: amvcfree.frĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 5 năm 2005
|
Mouth
Ai Thuong
Now I wake up to the woman's gentle awakening. She often said she looked cute when I slept, but she felt lonely. Unlike in the past, he used to wake me up and say: Wake up. The rich don't come from those who take naps, the rich don't come from those who get drunk at night. Get up. He wakes up early but is still not rich, not drunk but not luxurious at all. Looking handsome, with wet eyes and plump lips. The landlady said his face looked like a whore. He wakes up and sleeps according to the chicken's schedule. Every night I want to stay up together, I have to drink two cups of black coffee. After staying up every night, he often asked to get married, saying that he had found the woman of his life. But sometimes I still mention my ex-girlfriend and the folk song that nine children have not been called that husband, that brothers are like hands and feet, husband and wife are like clothes... makes me pause. We live together like mistletoe branches, neither of us is the main trunk. But we can't be apart. This country only has good weather for three or four months a year. I'm afraid of being alone. The day we met by chance at the Chinese market, his ex-girlfriend casually invited me into the restaurant for lunch. So calmly that I didn't dare refuse. I felt awkward with my chopsticks because I felt guilty about being cozy with her ex, while she was alone. Only after finishing the meal did I understand that she left him or the previous men because she was bored, and she left her Western boyfriend after him also because of boredom. It's as if she's been searching forever but the man in her life keeps hiding in some corner or hasn't even been born yet. I see that she is so lucky and happy, she is free to choose and then gets bored of giving up. If you are not bored, someone will bring fresh betel and good wine to invite you home. - Are you happy? I do not know the answer why. Yes is not necessarily right, but no is also not wrong. - Are there two cups of black coffee? And find the ideal woman? I thought it was mean, wanting to destroy my pride, but I still laughed. She looked at me and smiled frankly. There's something about this woman that I really like. No wonder he's still attached. I didn't tell him about that meeting with a farewell wink as I left the restaurant. There is some hidden complicity between two people who know the same man but are not jealous. After that, she often calls to invite us to lunch. There's nothing that needs to be told to anyone, but it seems like it's being sneaky. Then he wanted to return to Vietnam because the department sent him. He said that living in Vietnam and earning a Western salary would be like a king. Come back to me, don't have to be a worker, but be a grandmother. Just stay home and take care of your meals. Maybe I go to the store every day to pull out a chair because it's cheap and delicious. Do you still crave that? I hesitate. I haven't called you husband yet! This is the time when overseas Vietnamese are very valuable, every man who comes home is courted by flirtatious ladies. Every woman loses her husband or boyfriend more easily than losing her wallet - what will happen to me? The landlady advised her not to let him go home. But what rights do I have? Still wondering. Only she advised me to leave her alone and leave her alone (as if she was bothering me that much!). The breakup was as painful as any real couple. He promised that when the arrangements are finished over there, I will return. We will return and we will bathe in our pond. The Department only sends it for two years and can then extend it if desired. He promised to occasionally return to France to visit me, the woman of his life. Suddenly I felt something was wrong. Probably just because of fatigue. Or is it due to what grandmothers call "gut instincts"? A bastard like you has no hope of eating a piece of withered betel and drinking a piece of light wine. When I grow up, whoever says I love you, follow him. Don't let anyone bring you betel and wine. I often ask what a bastard is. The mother remained silent for a long time, then pointed to the sky and said that the bastard was the child of the moon. My father only appeared occasionally and never came home to play with me like the fathers of my neighbors. When I introduced my father, they admired how bright he was, how beautiful he was, how happy he was, and why didn't he come home so high up in the sky. Adults laugh. Then one day my mother followed my father and never returned to me and my grandmother. I asked if father is the moon, then what is mother, is she next to father? Grandma was silent and did not answer. Then my grandmother forbade me to cry and ask about my mother. And until the day she passed away, my grandmother still carried in her heart the harsh pain and hatred for me because of my mother's "foolishness". When I grew up, I realized that my grandmother was heartbroken. I followed the first man across the border. When I go to France, I tell you to sterilize me, I don't want to have children anymore. I don't know what he said to the hospital. They took me to the operating table and two weeks later they released me. Three years later, he sponsored his wife and children to come over. Luckily, I found a job as a salesman. Then I met a handsome customer with wet eyes and plump lips. My grandmother still told me that whoever says I love her, I should follow her. You say you love me, I'll follow... The first month he left, my sister and I met twice a week. The second month, we met three times a week. The third month he started missing news, I was still crying, (no, crying more, because I knew that wet eyes had looked at other eyes, plump lips had kissed other lips), she started spending the night. in my cramped room. The first night I gave my bed to her. That night, the two sisters asked me to lie down together and lovingly stroked my hair. I woke up in the middle of the night, vaguely feeling his hands touching my body. That fourth night I was as shy as a bride who had just returned home to her husband. Last night, I remembered my grandmother's advice: whoever says you love me, follow him, don't let anyone bring you betel and wine... MOUTH Paris, January 2, 1999.
Table of contents
Ai Thuong
Ai Thuong
MiengWelcome to read the titles from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: amvcfree.fr Posted by: Ct.Ly on: May 13, 2005
|
Thanh Tịnh
Am cu ly xe
Mới nghe qua tên am, tôi đã tưởng họ bông đùa.Nhưng không, người kể cho tôi nghe nói với giọng nghiêm chỉnh lắm.Cái am ấy nhỏ bằng vôi đựng trên bờ sông Bồ thuộc về làng Thanh Trúc. Trong am chỉ đặt một bát lư hương và cặp đòn con bằng gỗ tiện. Trước cửa am có che một bức sáo xanh kẻ chữ thọ màu hồng. Cách am năm bước có cái mồ đắp lên cao. Ngôi mả của người cu-ly xe.Chuyện am này ở hai vùng Thanh Lương và Hương Cần ai cũng biết. Họ thường kể cho người lạ nghe với một giọng chắc chắn đáng tin. Ðược dịp kể nhiều nhất là bà bán quán gần am ấy. Và khách qua lại muốn được nghe chuyện chỉ việc uống một bát nước chè hay ăn vài đĩa xôi đậu. Bà quán kể lâu quá thành có duyên và lắm đoạn nghe xuôi như đọc thuộc lòng.Từ ga Văn Xá đến bến đò làng Thanh kể được trên hai cây số. Bên kia sông là huyện Quảng Ðiền. Bến đò ấy ở vào một chỗ hoang vắng vì kế tiếp con sông là cái cồn mồ. ở đó, qua huyện Quảng Ðiền gần hơn quay trở về làng Thanh. Dẫn khách đến ga là nhờ con đường chạy dài trong lối xóm, qua vài cái cầu ngắn bằng gạch và ba bốn khoảng phơi mình giữa đồng cỏ cháy. Con đường ấy được nhiều người đi nhất.Ga Văn Xá làm lễ lạc thành xong thì sau đó hai tuần một người mù đem chiếc xe tay đến đón khách. Ðó là một cái xe thảm khổ nhất. Ruột hai bán độn rơm và trần xe đã thủng nhiều chỗ.Khổ hơn nữa là người kéo xe mù lại già, đầu tóc bạc phơ, người gầy gò và trán hói. Theo đúng đường và biết tránh người đi là nhờ đứa cháu nội lên mười chạy dìu phía trước.Rồi ngày bốn buổi, hai ông cháu lên ga Văn Xá đón khách về huyện Quảng Ðiền. Ðời tuy vất vả nhưng có kẻ thương tình nên cũng đủ sống.Lệ thường cứ mỗi vòng được năm xụ Hai ông cháu ngày nào cũng kiếm được một vài hào đủ tiêu dùng, cơm cháo.Từ ngày có xe lửa, dân mấy vùng quê ai cũng thèm đị Họ cốt đi đẻ mua vui thôi. Vì họ thấy thứ xe lạ và chạy quá nhanh nên họ thích lắm. Thích nhất là được đứng trên tàu gọi tên mấy người quen đang đi trên đường cái quan.Lắm khi họ từ ga này để đến một ga nào, gần đó. Rồi từ ga ấy họ lại mua vé trở về ga làng.Ngày ấy họ chưa kể đến sự tiện lợi đi xe. Họ chỉ biết đến cái thú thôi. Ga Văn Xá nhờ thế ngày nào cũng tấp nập người ra kẻ vào. Và hai ông cháu người kéo xe kiếm được miếng ăn rất dễ. Người đi xe lửa ra khỏi ga họ muốn lên xe tay ngaỵ Họ đã quen với sự nhanh chóng. Ði bộ đối với họ lúc ấylà một chuyện phiền. Nhưng được người kéo xe khoe? mạnh thì chẳng nói gì. Ðằng này lại khác. Bước chân lên xe người mù già, thì người khổ chưa hẳn là người phải kéo xe mà thật ra là người được ngồi. Huống chi ở đây lại phải chịu cái tội trông một đứa trẻ chạy không kịp thở, ngã tới vờn lui , theo bước chân của một ông già yếu đuối. Nên nhiều người thương hại không muốn đi xe.Nhưng lòng nhân đạo càng ban truyền ra, người kéo xe mù lại càng túng thiếu.Rồi sai chỉ những người ốm hay già yếu lắm- thỉnh thoảng có vài người say rượu- mới bước lên xe của hai ông cháu.Lắm người không đi, chỉ gửi vài bao hành lý họ cũng trả tiền hẳn hoi. Nhưng hạng người này hiếm lắm. Ðợi năm sáu chuyến tàu mới gặp được một người.Tối đến, hai ông cháu thường ngủ trong một cái mui thuyền đặt khum khum trên bờ sông. Sáng mai ba giờ đã phải dậy. Vì phải đợi khách bên huyện Quảng qua sông đi chuyến tàu bốn giờ.Tiền bạc làm ra được đều do người cháu giữ. Và người ông cũng không mấy khi hỏi đến. Trừ ra lúc muốn mua một vài cút rượu trắng hay làm ăn được, nhớ lại những ngày kỵ giỗ của gia hương.Ngoài ra, người cháu tuy nhỏ tuổi nhưng sớm khôn, đã lo liệu cho cả. Vì cái quán ở cách đó nửa cây số đã chu cấp cho hai ông cháu đủ các thứ cần, lẽ tự nhiên là phải bỏ tiền ra mua.Mùa đông năm Ngọ, lạnh và mưa luôn ngày luôn đêm.Ðướng từ ga về bến đò đã nhiều nơi bị hư hỏng. Lắm cái cống đất nhỏ bị nước lụt trôi đị Hai ông cháu phải bỏ công chữa lại. Có thế xe mới đi qua được. Và con đường tuycủa chung, nhưng chỉ riêng hai ông cháu để ý và lo ngại hơn cả. Xe độ ấy ế vô cùng. Và gặp cái xe trần thủng, nước tát vào như giội, khác cũng thấy chán không buồn đị Và đêm nào lên ga đợi chuyến tàu suốt chín giờ, hai ông cháy cũng dẫn xe về không.Chất chồng vào cái hại kể trên, chuyến đò làng Thanh không qua lại nữa. Vì hai làng Thanh Lương và Thanh Trúc đang kiện nhau để được độc quyền về nghề chở khách. Dân quanh vùng phải đi ngược lên khá xa mới qua bến đò làng Triệu. Phía ấy, cũng có đường đi lên ga nhưng hẹp lắm. Hai ông cháu đành đưa người đi lại quanh vùng Thanh Trúc và chờ nhà nước xử xong,để chở thêm khách bên huyện Quảng Ðiền.Một đêm trung tuần tháng chạp, chuyến xe suốt lại trễ mất ba giờ. Lúc ấy, vào giữa đêm. Nghe tàu đến, hai ông cháu đã mừng thầm trong bụng. Một lát sau, con tàu đã bắt đầu sục sịch chạy, người kéo xe vẫn chưa nhận thấy có tiếng bước chân nào khỏi gạ ông hỏi cháu nhưng thằng bé đã lẩn đi ngả nào, ông chắc nó đang đứng đón khách ở sân ga nên định bụng chờ. Mấy phút sau, đứa bé trở về, ông già mù cảm thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với giọng run run:- ông ơi, có người lên đó. ông chạy địThế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ, qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh giá. Trong những cánh đồng ngập nước, tiếng ễnh ương đua nhau kêu não nùng như một bản nhạc mùa đông, nghe buồn thấm tuỷ. Hai ông cháu dưới mấy cái mo cau và tàu lá chuối kết lại thay tơi cắm đầu chạy trên quãng đường ướt át.Trời tối đen như mực, nhưng may đứa cháu quen đường và nhờ ánh bùn chiếu lên, nên bánh xe cũng khỏi vấp ngã.Ðến bên đò làng Thanh vào khoảng một giờ khuya. Gió ngoài thổi vào lạnh như cát thịt. Ðứa cháy sắp dắt ông vào mui thuyền thì như nghi ngại điều gì, người kéo xe mù đã cất tiếng hỏi:- Tiền xe mô đưa cho ông?Ðó là một câu hỏi bất ngờ vì mấy lần trước có bao giờ ông hỏi đến đâu. Hay cũng hỏi cho biết số, chứ chưa lúc nào ông định giữ lấy. Ðứa cháu run lẩy bẩy, lúng túng rồi bỗng ôm mặt khóc. Chỉ nghĩ thoáng qua người kéo xe mù đã hiểu ra lẽ thật. Có gì đâu, không thấy khách và muốn ông nó vui lòng, thằng bé đã bê một tảng đã nặng đặt lên nệm xe và dìu ông nó chạy.Trí non nớt của nó có ngờ đâu mấy năm lao khổ trong nghề, ông nó phân biệt rất tinh tường người ngồi và vật đặt khác nhau nhiều lắm.Nhưng ông nó vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hy vọng những chuyện không bao giờ có được.Và biết ra thì thêm khổ. Thấy cháu khóc, ông cũng nức nở theo.Rồi giữa đêm lạnh, phần già yếu, phần đau buồn, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi lăn ra chết ngất.Ðứa bé sợ thất thanh la hét nghe đứt ruột. Nhưng gió của trời thét mạnh hơn và tiếng nó đành chịu rã rời bay lạc giữa đêm mưa tầm tã. Bên kia sông, huyện Quảng Ðiền xa quá. CHỉ còn vài ngọn đèn dầu chập chờn trong xóm quê đen tối. Con đò đã cắt đường qua lại từ lâu, không đem được lòng từ thiện của bến kia qua bao trùm nỗi thảm thương của bờ hoj.Sáng mai đi chợ Thanh Lương, khách qua đường thấy trên bờ sông vắng một đứa trẻ thơ đang ngồi khóc thảm thiết bên cạnh một người già nua đã chết cứng đờ.Dân quanh xóm thương tình, người ít kẻ nhiều dồn nhau lại mua cái hòm mới và chôn cất người kéo xe già tử tế.Về sau đêm nào cũng như đêm nào, vào khoảng mười một giờ khuya, sau chuyến tàu suốt ra Bắc một giờ, những người ở quanh vùng đó đều thấy một cái bóng xe tay loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc. Người làm giữa ruộng dưới đêm trăng, các em mục đồng và cả sư cụ chùa Linh Hải đều nhận thấy nhiều lần. Và giữa đêm mưa lạnh ông từ làng Thanh Trúc còn nghe thấy cả tiếng nhạc xe trước cổng đình nữa...Người ta bàn tán và nói rất nhiều. Lúc ấy, làng Thanh Trúc được kiện nên cho thuyền đưa khách qua lại như cũ. Gặp lúc vui dân làng liền quyên tiền để xây cái am cho người kéo xe "linh hiền".Dân huyện Quảng cũng sốt sắng góp tiền rất nhiều. Con thuyền xưa đã nối lại hai bờ. Lòng từ thiện đã qua sông. Hết
Mục lục
Am cu ly xe
Am cu ly xe
Thanh TịnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Thanh Tịnh
Am cu ly xe
Mới nghe qua tên am, tôi đã tưởng họ bông đùa.Nhưng không, người kể cho tôi nghe nói với giọng nghiêm chỉnh lắm.Cái am ấy nhỏ bằng vôi đựng trên bờ sông Bồ thuộc về làng Thanh Trúc. Trong am chỉ đặt một bát lư hương và cặp đòn con bằng gỗ tiện. Trước cửa am có che một bức sáo xanh kẻ chữ thọ màu hồng. Cách am năm bước có cái mồ đắp lên cao. Ngôi mả của người cu-ly xe.Chuyện am này ở hai vùng Thanh Lương và Hương Cần ai cũng biết. Họ thường kể cho người lạ nghe với một giọng chắc chắn đáng tin. Ðược dịp kể nhiều nhất là bà bán quán gần am ấy. Và khách qua lại muốn được nghe chuyện chỉ việc uống một bát nước chè hay ăn vài đĩa xôi đậu. Bà quán kể lâu quá thành có duyên và lắm đoạn nghe xuôi như đọc thuộc lòng.Từ ga Văn Xá đến bến đò làng Thanh kể được trên hai cây số. Bên kia sông là huyện Quảng Ðiền. Bến đò ấy ở vào một chỗ hoang vắng vì kế tiếp con sông là cái cồn mồ. ở đó, qua huyện Quảng Ðiền gần hơn quay trở về làng Thanh. Dẫn khách đến ga là nhờ con đường chạy dài trong lối xóm, qua vài cái cầu ngắn bằng gạch và ba bốn khoảng phơi mình giữa đồng cỏ cháy. Con đường ấy được nhiều người đi nhất.Ga Văn Xá làm lễ lạc thành xong thì sau đó hai tuần một người mù đem chiếc xe tay đến đón khách. Ðó là một cái xe thảm khổ nhất. Ruột hai bán độn rơm và trần xe đã thủng nhiều chỗ.Khổ hơn nữa là người kéo xe mù lại già, đầu tóc bạc phơ, người gầy gò và trán hói. Theo đúng đường và biết tránh người đi là nhờ đứa cháu nội lên mười chạy dìu phía trước.Rồi ngày bốn buổi, hai ông cháu lên ga Văn Xá đón khách về huyện Quảng Ðiền. Ðời tuy vất vả nhưng có kẻ thương tình nên cũng đủ sống.Lệ thường cứ mỗi vòng được năm xụ Hai ông cháu ngày nào cũng kiếm được một vài hào đủ tiêu dùng, cơm cháo.Từ ngày có xe lửa, dân mấy vùng quê ai cũng thèm đị Họ cốt đi đẻ mua vui thôi. Vì họ thấy thứ xe lạ và chạy quá nhanh nên họ thích lắm. Thích nhất là được đứng trên tàu gọi tên mấy người quen đang đi trên đường cái quan.Lắm khi họ từ ga này để đến một ga nào, gần đó. Rồi từ ga ấy họ lại mua vé trở về ga làng.Ngày ấy họ chưa kể đến sự tiện lợi đi xe. Họ chỉ biết đến cái thú thôi. Ga Văn Xá nhờ thế ngày nào cũng tấp nập người ra kẻ vào. Và hai ông cháu người kéo xe kiếm được miếng ăn rất dễ. Người đi xe lửa ra khỏi ga họ muốn lên xe tay ngaỵ Họ đã quen với sự nhanh chóng. Ði bộ đối với họ lúc ấylà một chuyện phiền. Nhưng được người kéo xe khoe? mạnh thì chẳng nói gì. Ðằng này lại khác. Bước chân lên xe người mù già, thì người khổ chưa hẳn là người phải kéo xe mà thật ra là người được ngồi. Huống chi ở đây lại phải chịu cái tội trông một đứa trẻ chạy không kịp thở, ngã tới vờn lui , theo bước chân của một ông già yếu đuối. Nên nhiều người thương hại không muốn đi xe.Nhưng lòng nhân đạo càng ban truyền ra, người kéo xe mù lại càng túng thiếu.Rồi sai chỉ những người ốm hay già yếu lắm- thỉnh thoảng có vài người say rượu- mới bước lên xe của hai ông cháu.Lắm người không đi, chỉ gửi vài bao hành lý họ cũng trả tiền hẳn hoi. Nhưng hạng người này hiếm lắm. Ðợi năm sáu chuyến tàu mới gặp được một người.Tối đến, hai ông cháu thường ngủ trong một cái mui thuyền đặt khum khum trên bờ sông. Sáng mai ba giờ đã phải dậy. Vì phải đợi khách bên huyện Quảng qua sông đi chuyến tàu bốn giờ.Tiền bạc làm ra được đều do người cháu giữ. Và người ông cũng không mấy khi hỏi đến. Trừ ra lúc muốn mua một vài cút rượu trắng hay làm ăn được, nhớ lại những ngày kỵ giỗ của gia hương.Ngoài ra, người cháu tuy nhỏ tuổi nhưng sớm khôn, đã lo liệu cho cả. Vì cái quán ở cách đó nửa cây số đã chu cấp cho hai ông cháu đủ các thứ cần, lẽ tự nhiên là phải bỏ tiền ra mua.Mùa đông năm Ngọ, lạnh và mưa luôn ngày luôn đêm.Ðướng từ ga về bến đò đã nhiều nơi bị hư hỏng. Lắm cái cống đất nhỏ bị nước lụt trôi đị Hai ông cháu phải bỏ công chữa lại. Có thế xe mới đi qua được. Và con đường tuycủa chung, nhưng chỉ riêng hai ông cháu để ý và lo ngại hơn cả. Xe độ ấy ế vô cùng. Và gặp cái xe trần thủng, nước tát vào như giội, khác cũng thấy chán không buồn đị Và đêm nào lên ga đợi chuyến tàu suốt chín giờ, hai ông cháy cũng dẫn xe về không.Chất chồng vào cái hại kể trên, chuyến đò làng Thanh không qua lại nữa. Vì hai làng Thanh Lương và Thanh Trúc đang kiện nhau để được độc quyền về nghề chở khách. Dân quanh vùng phải đi ngược lên khá xa mới qua bến đò làng Triệu. Phía ấy, cũng có đường đi lên ga nhưng hẹp lắm. Hai ông cháu đành đưa người đi lại quanh vùng Thanh Trúc và chờ nhà nước xử xong,để chở thêm khách bên huyện Quảng Ðiền.Một đêm trung tuần tháng chạp, chuyến xe suốt lại trễ mất ba giờ. Lúc ấy, vào giữa đêm. Nghe tàu đến, hai ông cháu đã mừng thầm trong bụng. Một lát sau, con tàu đã bắt đầu sục sịch chạy, người kéo xe vẫn chưa nhận thấy có tiếng bước chân nào khỏi gạ ông hỏi cháu nhưng thằng bé đã lẩn đi ngả nào, ông chắc nó đang đứng đón khách ở sân ga nên định bụng chờ. Mấy phút sau, đứa bé trở về, ông già mù cảm thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với giọng run run:- ông ơi, có người lên đó. ông chạy địThế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ, qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh giá. Trong những cánh đồng ngập nước, tiếng ễnh ương đua nhau kêu não nùng như một bản nhạc mùa đông, nghe buồn thấm tuỷ. Hai ông cháu dưới mấy cái mo cau và tàu lá chuối kết lại thay tơi cắm đầu chạy trên quãng đường ướt át.Trời tối đen như mực, nhưng may đứa cháu quen đường và nhờ ánh bùn chiếu lên, nên bánh xe cũng khỏi vấp ngã.Ðến bên đò làng Thanh vào khoảng một giờ khuya. Gió ngoài thổi vào lạnh như cát thịt. Ðứa cháy sắp dắt ông vào mui thuyền thì như nghi ngại điều gì, người kéo xe mù đã cất tiếng hỏi:- Tiền xe mô đưa cho ông?Ðó là một câu hỏi bất ngờ vì mấy lần trước có bao giờ ông hỏi đến đâu. Hay cũng hỏi cho biết số, chứ chưa lúc nào ông định giữ lấy. Ðứa cháu run lẩy bẩy, lúng túng rồi bỗng ôm mặt khóc. Chỉ nghĩ thoáng qua người kéo xe mù đã hiểu ra lẽ thật. Có gì đâu, không thấy khách và muốn ông nó vui lòng, thằng bé đã bê một tảng đã nặng đặt lên nệm xe và dìu ông nó chạy.Trí non nớt của nó có ngờ đâu mấy năm lao khổ trong nghề, ông nó phân biệt rất tinh tường người ngồi và vật đặt khác nhau nhiều lắm.Nhưng ông nó vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hy vọng những chuyện không bao giờ có được.Và biết ra thì thêm khổ. Thấy cháu khóc, ông cũng nức nở theo.Rồi giữa đêm lạnh, phần già yếu, phần đau buồn, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi lăn ra chết ngất.Ðứa bé sợ thất thanh la hét nghe đứt ruột. Nhưng gió của trời thét mạnh hơn và tiếng nó đành chịu rã rời bay lạc giữa đêm mưa tầm tã. Bên kia sông, huyện Quảng Ðiền xa quá. CHỉ còn vài ngọn đèn dầu chập chờn trong xóm quê đen tối. Con đò đã cắt đường qua lại từ lâu, không đem được lòng từ thiện của bến kia qua bao trùm nỗi thảm thương của bờ hoj.Sáng mai đi chợ Thanh Lương, khách qua đường thấy trên bờ sông vắng một đứa trẻ thơ đang ngồi khóc thảm thiết bên cạnh một người già nua đã chết cứng đờ.Dân quanh xóm thương tình, người ít kẻ nhiều dồn nhau lại mua cái hòm mới và chôn cất người kéo xe già tử tế.Về sau đêm nào cũng như đêm nào, vào khoảng mười một giờ khuya, sau chuyến tàu suốt ra Bắc một giờ, những người ở quanh vùng đó đều thấy một cái bóng xe tay loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc. Người làm giữa ruộng dưới đêm trăng, các em mục đồng và cả sư cụ chùa Linh Hải đều nhận thấy nhiều lần. Và giữa đêm mưa lạnh ông từ làng Thanh Trúc còn nghe thấy cả tiếng nhạc xe trước cổng đình nữa...Người ta bàn tán và nói rất nhiều. Lúc ấy, làng Thanh Trúc được kiện nên cho thuyền đưa khách qua lại như cũ. Gặp lúc vui dân làng liền quyên tiền để xây cái am cho người kéo xe "linh hiền".Dân huyện Quảng cũng sốt sắng góp tiền rất nhiều. Con thuyền xưa đã nối lại hai bờ. Lòng từ thiện đã qua sông. Hết
Mục lục
Am cu ly xe
Am cu ly xe
Thanh TịnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Mark V. Hansen
Amy Graham
Sau một đêm bay từ Washington D.C., tôi rất mệt mỏi và tôi tới nhà thờ Mile High ở Denver để chỉ đạo 3 dịch vụ và một phân xưởng sao cho phát triển tốt. Khi tôi bước vào, tiến sĩ Fred Vogt hỏi tôi, \"Anh có biết về Tổ chức từ thiện Hãy-Có-Một-Ước-Mơ?\" \"Có,\" tôi trả lời. \"Tốt, Amy Graham được chẩn đoán là bị bệnh bạch cầu giai đoạn cuối. Họ cho cô bé 3 ngày. Cô ấy khát khao được tham dự một buổi nói chuyện của anh.\" Tôi choáng váng. Một cảm giác tự hào nhưng cả sự sợ hãi và nghi ngờ cùng có trong tôi. Tôi không thể tin nổi. Tôi nghĩ rằng những đứa trẻ sắp chết muốn đi chơi Disneyland, hoặc gặp các nhân vật nổi tiếng, những siêu sao. Chắc chắn rằng mấy đứa trẻ đó không muốn dành mấy ngày cuối cùng của cuộc đời để nghe Mark Victor Hansen. Tại sao một đứa trẻ chỉ còn sống vài ngày cuối cùng lại muốn tới nghe một nhà diễn thuyết về động lực tinh thần. Đột ngột, những suy nghĩ của tôi bị cắt đứt... \"Đây là Amy,\" Vogt nói và đặt vào tay tôi bàn tay yếu đuối của cô bé. Trước mắt tôi là một cô bé 17 tuổi choàng một cái khăn màu đỏ và cam trên đầu, che đi toàn bộ mái đầu đã không còn tóc sau những cuộc trị liệu. Thân thể xanh xao của cô bé trông vô cùng yếu đuối. Cô bé nói, \"Cháu có hai mục tiêu là tốt nghiệp phổ thông và tham dự buổi thuyết trình của bác. Các bác sĩ đã không tin rằng cháu có thể thực hiện được. Họ không nghĩ rằng cháu còn có đủ sức. Cháu đã được trả về cho gia đình... Đây là bố và mẹ của cháu.\" Nước mắt trào lên, tôi dường như nghẹt thở. Tôi cảm thấy chao đảo, xúc động. Để lấy lại giọng nói của mình, tôi đằng hắng, mỉm cười và nói \"Cháu và bố mẹ sẽ là khách mời của chúng tôi. Xin cảm ơn vì cháu đã tới tham dự.\" Chúng tôi ôm lấy nhau, lau nước mắt và chia tay. Tôi đã tham gia rất nhiều hội thảo về chữa bệnh tại Hoa Kỳ, Canada, Malaysia, New Zealand và Australia. Tôi đã coi những nhà chữa bệnh giỏi nhất làm việc và tôi đã học, nghiên cứu, nghe, cân nhắc và hỏi điều gì đã hoạt động, tại sao và như thế nào. Vào buổi chiều Chủ nhật đó, tôi điều khiển một hội thảo mà Amy và bố mẹ em tham dự. Cả ngàn khán giả tràn ngập phòng họp, háo hức muốn học, phát triển những khả năng mà trước nay họ không biết đến. Tôi nhẹ nhàng hỏi khán giả xem họ có muốn học một quy trình chữa bệnh mà có thể giúp họ trong cả cuộc đời không. Từ trên bục diễn thuyết tôi có thể thấy mọi người đều giơ cao tay lên trời. Tất cả đều đồng lòng muốn học. Tôi chỉ cho mọi người cách xoa mạnh hai bàn tay vào nhau rồi tách nó ra khoảng 5 cm và cảm nhận được nguồn năng lượng chữa bệnh phát ra từ nó. Tôi bắt cặp từng người lại với nhau để họ có thể cảm nhận được nguồn năng lượng từ người này đến người kia. Tôi nói \"Nếu các bạn muốn chữa bệnh, hãy làm tại đây và ngay bây giờ.\" Khán giả liên kết lại với nhau và đó là một cảm giác ngây ngất tuyệt vời. Tôi giải thích rằng mỗi người đều có một năng lượng chữa bệnh và khả năng chữa bệnh. Năm phần trăm trong số chúng ta có được nó rõ ràng và mạnh mẽ đến mức có thể hành nghề. Tôi nói, \"Sáng hôm nay, tôi vừa được giới thiệu với Amy Graham, một cô gái 17 tuổi, người có ước muốn cuối cùng trong đời là tham dự buổi thuyết trình này. Tôi muốn đưa cô lên trên đây và các bạn hãy gửi những năng lượng chữa bệnh tự nhiên của các bạn lên cho cô. Có lẽ chúng ta giúp được cho cô bé. Cô không yêu cầu điều đó. Tôi chỉ làm điều này một cách tự động vì cảm thấy nó đúng.\" Khán giả hô \"Phải! Phải! Phải! Phải!\" Bố của Amy dắt cô lên trên bục. Cô nhìn thật yếu ớt sau tất cả những cuộc hóa trị liệu pháp, những ngày dài trên giường bệnh và sự thiếu vận động. (Các bác sĩ còn không cho cô đi lại hai tuần trước khi tới tham gia với chúng tôi.) Tôi kêu mọi người làm nóng hai bàn tay, và gửi đến cho cô năng lượng chữa bệnh của họ. Sau đó mọi người đứng dậy vỗ tay hoan hô cô mà ai nấy đều nước mắt lưng tròng. Hai tuần sau đó, cô gọi điện và báo rằng các bác sĩ sau khi kiểm tra sức khỏe cô đã cho cô về và chính cô cũng cảm thấy có sự thuyên giảm đáng kể. Hai năm sau đó cô gọi điện báo tôi biết rằng cô lập gia đình. Tôi rút ra được rằng, không nên coi thường sức mạnh mà tất cả chúng ta đều có. Nó luôn luôn sẵn sàng để dùng cho mục đích cao đẹp nhất. Chúng ta phải nhớ đến việc sử dụng nó.
Mục lục
Amy Graham
Amy Graham
Mark V. HansenChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: hanoicornerĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Mark V. Hansen
Amy Graham
After a night of flying from Washington D.C., I was very tired and I went to Mile High Church in Denver to direct three services and a workshop to develop well. As I walked in, Dr. Fred Vogt asked me, \"Do you know about the Have-A-Dream Charity?\" \"Yes,\" I replied. \"Good, Amy Graham was diagnosed with terminal leukemia. They gave her three days. She's dying to attend one of your talks.\" I was stunned. A feeling of pride but also fear and doubt were present in me. I could not believe it. I think dying kids want to go to Disneyland, or meet famous people, superstars. Surely those kids don't want to spend the last few days of their lives listening to Mark Victor Hansen. Why would a child with only a few days left to live want to go listen to a motivational speaker? Suddenly, my thoughts were interrupted... \"This is Amy,\" Vogt said and placed her frail hand in my hand. Before my eyes was a 17-year-old girl wearing a red and orange scarf on her head, covering her entire head, which was hairless after the treatments. The girl's pale body looked extremely weak. She said, "I have two goals: to graduate high school and to attend your lecture. The doctors didn't believe I could do it. They didn't think I had enough strength. I has been returned to the family... These are my father and mother.\" Tears welled up in my eyes, I seemed to be suffocating. I felt shaken and emotional. To regain my voice, I cleared my throat, smiled and said \"You and your parents will be our guests. Thank you for coming.\" We hugged each other, wiping away the water. eyes and farewell. I have attended many healing workshops in the United States, Canada, Malaysia, New Zealand and Australia. I have watched the best healers at work and I have studied, researched, listened, pondered and asked what worked, why and how. On that Sunday afternoon, I conducted a workshop that Amy and her parents attended. Thousands of spectators filled the meeting room, eager to learn and develop abilities they had never known before. I gently asked the audience if they would like to learn a healing process that could help them throughout their lives. From the podium I could see everyone raising their hands high in the air. Everyone agreed to want to learn. I show people how to vigorously rub their hands together and then separate them about 5 cm and feel the healing energy emanating from it. I paired each person together so they could feel the energy flowing from one to the other. I said \"If you want to heal, do it here and now.\" The audience bonded together and it was a wonderful ecstatic feeling. I explain that each person has a healing energy and healing ability. Five percent of us have it so clear and strong that we can practice. I said, "This morning, I was just introduced to Amy Graham, a 17-year-old girl whose last wish in life was to attend this presentation. I'd like to bring her up here and everyone." Please send your natural healing energies to her. Maybe we can help her. I just did this automatically because it felt right.\" The audience shouted \"Yes! Yes! Yes! Yes!\" Amy's father led her up to the podium. She looked so weak after all the chemotherapy, long days in bed and lack of exercise. (The doctors didn't even let her walk for two weeks before coming to join us.) I asked everyone to warm up their hands, and send her their healing energy. Then everyone stood up and applauded her, everyone with tears in their eyes. Two weeks later, she called and reported that the doctors had sent her home after examining her health and that she herself felt a significant improvement. Two years later she called to tell me that she was getting married. I learned that we should not underestimate the power we all have. It is always ready to be used for the most noble purposes. We must remember to use it.
Table of contents
Amy Graham
Amy Graham
Mark V. HansenWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: hanoicorner Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
|
nhiều tác giả
An Tư Công chúa
An Tư là con gái út vua Trần Thái Tông. Ngày nay không còn ai biết nàng sinh và mất năm nào. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi:"Sai người đưa công chúa An Tư đến cho Thoát Hoan là có ý làm giảm bớt tai họa cho nước vậy".Ngày ấy, khoảng đầu năm Ất Dậu (1285), quân Nguyên đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long. Thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông đã đi thuyền nhỏ ra vùng Tam Trĩ, còn thuyền ngự thì đưa ra vùng Ngọc Sơn để đánh lạc hướng giặc. Nhưng quân Nguyên vẫn phát hiện ra. Ngày 9/3, thủy quân giặc đã bao vây Tam Trĩ suýt bắt được hai vua. Chiến sự buổi đầu bất lợi. Tướng Trần Bình Trọng lại hy sinh dũng cảm ở bờ sông Thiên Mạc. Trước thế giặc mạnh, nhiều tôn thất nhà Trần như Trần Kiện, Trần Lộng kể cả hòang thân Trần ích Tắc đã mang gia quyến chạy sang trại giặc. Trần Khắc Trung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của giặc không có kết quả. Trong lúc đó, cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, tổ chức chiến đấu. Bởi vậy, Trần Thánh Tông bất đắc dĩ phải dùng đến kế mỹ nhân. Vua sai dâng em gái út của mình cho Thoát Hoan. Công chúa còn rất trẻ. Vì nước, An Tư từ bỏ cuộc sống êm ấm, nhung lụa trong cung đình, vĩnh biệt bè bạn để hiến dâng tuổi trẻ, đời con gái, kể cả tính mạng mình. An Tư đã vào trận chỉ có một mình, không một tấc sắt. Hiểu rõ nạn nước, cảnh mình, nàng chấp nhận gian khổ, tủi nhục, kể cả cái chết.An Tư đi sang trại giặc không phải với tư cách đi lấy chồng mà là vật cống nạp, dâng hiến, cũng là một người nội gián. Do vậy, sự hy sinh ấy thật cao cả. ở trại giặc, làm vợ Thoát Hoan, An Tư đã sống ra sao, làm được những gì, không ai biết. Nhưng tháng tư năm ấy quân Trần bắt đầu phản công ở hầu khắp các mặt trận khiến cho quân Nguyên đại bại, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn qua biên giới.Sau chiến thắng các vua Trần làm lễ tế lăng miếu khen thưởng công thần, truy phong các tướng lĩnh. Nhưng không ai nhắc đến An Tư. Vậy, công chúa còn hay mất. Nàng được mang về Trung Quốc hay đã chết trong đám loạn quân. Trong cuốn "An Nam chí lược" của Lý Trắc, một thuộc hạ của Trần Kiện theo chủ chạy sang nhà Nguyên, sống lưu vong ở Trung Quốc có ghi:"Trước, Thái tử (chỉ Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con".Người con gái họ Trần này phải chăng là công chúa An Tư. Chưa có chứng cứ rõ ràng khẳng định điều ấy. Dù triều Trần và sử sách có quên nàng thì các thế hệ đời sau vẫn dành cho nàng sự kính trọng, thương cảm. Khoảng trống lịch sử sẽ được lấp đầy bằng tình cảm của người đời sau.
Mục lục
An Tư Công chúa
An Tư Công chúa
nhiều tác giảChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Minh đưa lên vào ngày: 15 tháng 4 năm 2004
|
many authors
Princess An Tu
An Tu is the youngest daughter of King Tran Thai Tong. Today no one knows what year she was born and died. The book Dai Viet Complete History only records: "Sending people to bring Princess An Tu to Thoat Hoan was intended to reduce disasters for the country". That day, around the beginning of the year At Dau (1285), the Yuan army invaded the country. attacked Gia Lam and besieged Thang Long. Emperor Thanh Tong and King Nhan Tong took a small boat to the Tam Tri area, while the royal boat went to the Ngoc Son area to distract the enemy. But the Yuan army still discovered it. On March 9, the enemy navy surrounded Tam Tri and almost captured the two kings. The first battle was unfavorable. General Tran Binh Trong sacrificed his life bravely on the banks of the Thien Mac River. Faced with a strong enemy, many Tran dynasty nobles such as Tran Kien, Tran Long, including Prince Tran Ich Tac, brought their families and fled to the enemy camp. Tran Khac Trung was sent as an envoy to slow down the enemy's advance to no avail. Meanwhile, it takes time to consolidate forces and organize combat. Therefore, Tran Thanh Tong had no choice but to resort to the beauty trick. The king sent his youngest sister to Thoat Hoan. The princess is very young. For the sake of his country, An Tu gave up his comfortable, luxurious life in the royal court, said goodbye to his friends, and devoted his youth, his daughter's life, and even his life. An Tu entered the battle alone, without an inch of iron. Understanding clearly the situation of the country and her situation, she accepted hardship and humiliation, including death. An Tu went to the enemy camp not as a bride but as a tribute, an offering, and also as a domestic person. cockroach. Therefore, that sacrifice was noble. In the enemy camp, as Thoat Hoan's wife, how An Tu lived and what she did, no one knows. But in April of that year, the Tran army began to counterattack on almost all fronts, causing the Nguyen army to be defeated, Thoat Hoan had to hide in a copper tube and escape across the border. After the victory, the Tran kings held a ceremony to pay homage to the temple to reward their achievements. God, posthumously ordained generals. But no one mentioned An Tu. So, the princess often disappears. She was brought back to China or died in the rebel army. In Ly Trac's book "An Nam's Strategy", a subordinate of Tran Kien followed his master and fled to the Nguyen Dynasty, living in exile in China. It is written: "Before, the Crown Prince (referring to Thoat Hoan) married a daughter of the Tran Dynasty. gave birth to two children." This girl with the Tran family name is probably Princess An Tu. There is no clear evidence to confirm that. Even though the Tran Dynasty and history books have forgotten her, later generations still have respect and sympathy for her. The historical void will be filled with the affection of future generations.
Table of contents
Princess An Tu
Princess An Tu
many authorsWelcome to read books from the book project for mobile devicesSource: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Posted by friend: Minh on: April 15, 2004
|
Love in Buddhism
ANGULIMALA, Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Dịch giả Thích Nguyên Tạng
Thuở xa xưa có một chàng trai con của một vị Bà la môn (giai cấp "tu sĩ" cao nhất ở Ấn Độ) sống dưới triều đại vua Pasenadi, thuộc vương quốc Kosalạ Tên của chàng là Ahimsaka (người thất bại). Chàng được gởi đến thành phố Taxila để học hành. Ahimsaka rất thông minh và biết vâng lời thầy, nên chàng được cả thầy lẫn bà vợ thầy yêu mến. Điều này đã khiến cho các học viên các ganh tỵ với chàng. Vì thế họ tìm đến thầy giáo và vu cáo Ahimsaka có mối quan hệ bất chính trái đạo lý với bà vợ thầy. Thoạt tiên, không thầy không tin họ; nhưng sau khi nghe điều đó nhiều lần, ông nghĩ rằng đó là sự thật và thề sẽ trả thù Ahimsakạ Ông thầy nghĩ rằng việc giết học trò sẽ gây tai tiếng ảnh hưởng xấu cho ông. Cơn giận dữ thúc giục ông đề nghị một việc không thể tưởng tượng nổ đối với chàng thanh niên Ahimsaka trẻ tuổi và ngây thơ kia. Ông ta bảo cậu học trò phải giết một ngàn người và mang về ngón tay cái từng người để trả học phí về việc dạy chàng. Cố nhiên chàng thanh niên không muốn nghĩ đến một việc kinh khủng như vậy. Vì thế chàng đã bị tống cổ ra khỏi nhà thầy và trở về với gia đình cha mẹ.
Khi cha chàng biết được tại sao Ahimsaka đã bị đuổi, ông ta vô cùng tức giận đứa con mình và không chịu nghe lời giải thích lý dọ Cũng chính trong ngày ấy, đang lúc trời đổ mưa xuống như trút nước, người cha ra lệnh Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka chạy đến mẹ chàng và xin lời khuyên. Nhưng bà không thể chống lại quyết định của chồng. Sau đó Ahimsaka tìm đến nhà vị hôn thê của chàng (theo cổ tục hứa hôn từ lâu trước khi đi đến hôn nhân thực sự Ở Ấn Độ). Nhưng khi gia đình này biết lý do Ahimsaka bị đuổi ra khỏi trường, họ cũng xua đuổi chàng. Nỗi ô nhục, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của Ahimsaka đã làm cho chàng điên tiết lên. Trong nỗi đau đớn cùng cực đó, đầu óc của chàng chỉ nhớ lại mệnh lệnh khắc nghiệt của thầy: góp nhặt một ngàn ngón tay người. Và vì thế mà chàng bắt đầu lao vào cuộc chém giết hại như vậy, những ngón tay góp nhặt được chàng treo chúng lên cành cây. Nhưng chúng bị bầy quạ và diếu hâu phá hoại, sau đó chàng đã mang một vòng ngón tay để theo dõi số lượng.Cũng vì điều này mà y dần dần được biết qua cái tên Angulimala (người đeo vòng ngón tay) và trở thành nổi hãi hùng cho vùng nông thôn này. Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt ỵ Khi bà Mantani, mẹ của Ahimsaka, biết được ý định của vua, bà đi vào trong rừng với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu con của bà. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala có một ngón là đủ một ngàn.Đức phật biết được nỗ lực ngăn cản của người mẹ đối với con bà và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp vào thì Angulimala, đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số một ngàn, sẽ gặp mẹ mình và y có thể giết bà. Trong trường hợp đó, y sẽ chịu đau khổ còn lâu dài hơn nữa vì nghiệp ác của mình. Do lòng bi mẫn, Đức Phật đi đến khu rừng kia.Sau nhiều ngày đêm mất ngủ, Angulimala rất mệt và gần như kiệt sức, y rất nôn nóng tìm cách giết người cuối cùng để đủ số lượng một ngàn và hoàn tất phận sự của mình, y quyết giết người đầu tiên mà mình gặp. Khi nhìn xuống từ nơi ẩn mình trong núi, y thấy một người đàn bà trên con đường phía dưới. Y muốn làm trọn lời thề của mình để có đủ một ngàn ngón tay, nhưng khi đến gần, y nhìn thấy người đó chíng là mẹ mình. Lúc ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết chết người du sĩ kia để thay cho mẹ mình. Y liền vung dao bắt đầu đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt ỵ Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên: "Này, khất sĩ kia, hãy đứng lại ! Đứng lại !", và đấng Giác Ngộ trả lời: "Ta đã đứng lại từ lâu, chính ngươi mới là người chưa dừng lại thôi !" Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại hỏi: "Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại còn tôi vẫn chưa dừng ?"Đức Phật đáp: "Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại va đối xử tàn bạo với người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại".Nghe qua những lời này, Angulimala như được nhắc nhở thực tại và suy nghĩ, đây là những lời của một bậc hiền nhân. Vị khất sĩ này hiền thiện và rất mực dũng cảm như thế chắc hẳn vị này là một nhà lãnh đạo các khất sĩ . Quả thực, chính Ngài hẳn là đấng Giác Ngộ rồi đây. Hẳn ngài đến đây chỉ vì mục đích làm cho mình thấy được ánh sáng. Suy nghĩ như vậy, y ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận y vào giáo đoàn khất sĩ, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy.Khi đức vua và quân lính đến bắt Angulimala, họ thấy người ấy đang ở trong Tịnh xá của Đức Phật. Biết rằng Angulimala đã từ bỏ ác đạo của mình và trở thành một vị tỳ kheo, vua và quần thần đều đồng ý để yên vị này. Suốt thời gian Angulimala nhiệt tâm thực hành thiền định.Tôn giả Angulimala vẫn không được an tâm vì ngay cả trong lúc thiền định tĩnh lặng, Tôn giả thường nhớ lại quá khứ cùng với những tiếng gào thét thê thảm của những nạn nhân bất hạnh. Do một quả báo vì ác nghiệp kia, trong lúc đi khất thực trên đường phố, Tôn giả đã trở thành mục tiêu của đủ thứ gậy, đá ném vào và thường trở về Tịnh xá vỡ đầu chảy máu, đầy vết thương bầm tím, rồi lại được Đức Phật nhắc nhở: "Này pháp tử Angulimala, con đã từ bỏ việc ác, hãy kham nhẫn lên. Đây là hậu quả của ác nghiệp mà con đã gây tạo ở đời này. Đáng lẽ ra ác nghiệp sẽ còn làm con khổ đau qua vô lượng kiếp nếu trước đây ta đã không gặp con".Mọt buổi sáng, trong lúc đang trên đường đi khất thực ở thành Savatthi, Tôn giả Angulimala nghe tiếng ai đang kêu khóc đau đớn. Khi Tôn giả biết đó là một thai phụ đang đau vì chuyển dạ và gặp khó khăn lúc sanh con. Tôn giả suy nghĩ tất cả chúng sanh trên thế gian này đều phải chịu đau khổ. Động lòng từ, Tôn giả kể lại với Đức Phật nỗi khổ đau của người phụ nữ đáng thương kia. Ngài đã khuyên Tôn giả nói lên những lời thề chân thật, lời đó về sau này có tên là Anggulimala Paritta (thần chú hộ mệnh Angulimala). Đi đến trước mặt người sản phụ đang chịu đau đớn kia, Tôn giả ngồi xuống cách bà ấy một tấm màn che và phát nguyện những lời sau: " Này chị, từ ngày tôi đắc quả A la hán, Tôi chưa từng cố ý sát hại mạng sống của sinh linh nào. Nhờ sự thật này, cầu cho chị được an lành và đứa bé sắp sanh của chị cũng được an lành".Ngay lập tức người sản phụ liền sanh con một cách dễ dàng. Cả mẹ lẫn con đều được khẻo mạnh. Cho đến nay nhiều người vẫn dùng đến thần chú hộ mệnh này.Tôn giả Angulimala thích sống độc cư và biệt lập. Sau đó Tôn giả viên tịch một cách yên bình. Là một vị A la hán, Tôn giả chứng đắc Vô dư Niết bàn.Các Tỳ kheo thỉnh ý Đức Phật về nơi tôn giả Angulimala tái sanh, và khi Đức Thế Tôn đáp pháp tử Angulimala đã chứng đắc Vô dư Niết bàn, thì chư vị không thể tin điều đó. Vì thế chư vị lại hỏi liều có thể nào một người đã giết quá chứng đắc Niết bàn Vô dư y chăng. Trước câu hỏi này, Đức Phật đáp: "Này các Tỳ kheo, Angulimala đã tạo quá nhiều ác nghiệp, vì vị ấy không có đã tìm được nhiều thiện hữu tri thức và nhờ sự giúp đỡ cũng như lời khuyên tốt mà vị ấy đã trở nên kiên định và chuyên tâm thực hành giáo pháp và thiền định. Như vậy, nghiệp ác của vị ấy đã được thiện nghiệp lấn át che phủ và tâm của vị ấy đã hoàn toàn đoạn trừ cả lậu hoặc. Đức Phật lại nói về tôn giả Angulimala:"Ai dùng các hạnh lànhXoá mờ bao nghiệp ácChiếu sáng cõi đời nàyNhư trăng thoát khỏi mây"Sức mạnh của lòng từ bi bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào. Và đó cũng là điều kiện tuyệt đối để giác ngộ.Thích Nguyên Tạng(dịch từ tập sách Love in Buđhism/Taiwan/1990)Hết
Mục lục
ANGULIMALA, Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
ANGULIMALA, Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Love in BuddhismChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: quangducĐược bạn: TSAH đưa lên vào ngày: 14 tháng 6 năm 2004
|
Love in Buddhism
ANGULIMALA, Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Dịch giả Thích Nguyên Tạng
Thuở xa xưa có một chàng trai con của một vị Bà la môn (giai cấp "tu sĩ" cao nhất ở Ấn Độ) sống dưới triều đại vua Pasenadi, thuộc vương quốc Kosalạ Tên của chàng là Ahimsaka (người thất bại). Chàng được gởi đến thành phố Taxila để học hành. Ahimsaka rất thông minh và biết vâng lời thầy, nên chàng được cả thầy lẫn bà vợ thầy yêu mến. Điều này đã khiến cho các học viên các ganh tỵ với chàng. Vì thế họ tìm đến thầy giáo và vu cáo Ahimsaka có mối quan hệ bất chính trái đạo lý với bà vợ thầy. Thoạt tiên, không thầy không tin họ; nhưng sau khi nghe điều đó nhiều lần, ông nghĩ rằng đó là sự thật và thề sẽ trả thù Ahimsakạ Ông thầy nghĩ rằng việc giết học trò sẽ gây tai tiếng ảnh hưởng xấu cho ông. Cơn giận dữ thúc giục ông đề nghị một việc không thể tưởng tượng nổ đối với chàng thanh niên Ahimsaka trẻ tuổi và ngây thơ kia. Ông ta bảo cậu học trò phải giết một ngàn người và mang về ngón tay cái từng người để trả học phí về việc dạy chàng. Cố nhiên chàng thanh niên không muốn nghĩ đến một việc kinh khủng như vậy. Vì thế chàng đã bị tống cổ ra khỏi nhà thầy và trở về với gia đình cha mẹ.
Khi cha chàng biết được tại sao Ahimsaka đã bị đuổi, ông ta vô cùng tức giận đứa con mình và không chịu nghe lời giải thích lý dọ Cũng chính trong ngày ấy, đang lúc trời đổ mưa xuống như trút nước, người cha ra lệnh Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka phải ra khỏi nhà. Ahimsaka chạy đến mẹ chàng và xin lời khuyên. Nhưng bà không thể chống lại quyết định của chồng. Sau đó Ahimsaka tìm đến nhà vị hôn thê của chàng (theo cổ tục hứa hôn từ lâu trước khi đi đến hôn nhân thực sự Ở Ấn Độ). Nhưng khi gia đình này biết lý do Ahimsaka bị đuổi ra khỏi trường, họ cũng xua đuổi chàng. Nỗi ô nhục, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của Ahimsaka đã làm cho chàng điên tiết lên. Trong nỗi đau đớn cùng cực đó, đầu óc của chàng chỉ nhớ lại mệnh lệnh khắc nghiệt của thầy: góp nhặt một ngàn ngón tay người. Và vì thế mà chàng bắt đầu lao vào cuộc chém giết hại như vậy, những ngón tay góp nhặt được chàng treo chúng lên cành cây. Nhưng chúng bị bầy quạ và diếu hâu phá hoại, sau đó chàng đã mang một vòng ngón tay để theo dõi số lượng.Cũng vì điều này mà y dần dần được biết qua cái tên Angulimala (người đeo vòng ngón tay) và trở thành nổi hãi hùng cho vùng nông thôn này. Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt ỵ Khi bà Mantani, mẹ của Ahimsaka, biết được ý định của vua, bà đi vào trong rừng với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu con của bà. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala có một ngón là đủ một ngàn.Đức phật biết được nỗ lực ngăn cản của người mẹ đối với con bà và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp vào thì Angulimala, đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số một ngàn, sẽ gặp mẹ mình và y có thể giết bà. Trong trường hợp đó, y sẽ chịu đau khổ còn lâu dài hơn nữa vì nghiệp ác của mình. Do lòng bi mẫn, Đức Phật đi đến khu rừng kia.Sau nhiều ngày đêm mất ngủ, Angulimala rất mệt và gần như kiệt sức, y rất nôn nóng tìm cách giết người cuối cùng để đủ số lượng một ngàn và hoàn tất phận sự của mình, y quyết giết người đầu tiên mà mình gặp. Khi nhìn xuống từ nơi ẩn mình trong núi, y thấy một người đàn bà trên con đường phía dưới. Y muốn làm trọn lời thề của mình để có đủ một ngàn ngón tay, nhưng khi đến gần, y nhìn thấy người đó chíng là mẹ mình. Lúc ấy, Đức Phật cũng đang đi tới, và Angulimala liền định thần quyết giết chết người du sĩ kia để thay cho mẹ mình. Y liền vung dao bắt đầu đi theo Đức thế Tôn. Nhưng Đức Phật vẫn di chuyển trước mặt ỵ Angulimala không thể đuổi kịp được Ngài. Cuối cùng, y quát lên: "Này, khất sĩ kia, hãy đứng lại ! Đứng lại !", và đấng Giác Ngộ trả lời: "Ta đã đứng lại từ lâu, chính ngươi mới là người chưa dừng lại thôi !" Angulimala không thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại hỏi: "Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại còn tôi vẫn chưa dừng ?"Đức Phật đáp: "Ta nói rằng ta đã dừng lại vì ta từ bỏ việc giết hại chúng sanh. Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc giết hại va đối xử tàn bạo với người khác cũng như chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại".Nghe qua những lời này, Angulimala như được nhắc nhở thực tại và suy nghĩ, đây là những lời của một bậc hiền nhân. Vị khất sĩ này hiền thiện và rất mực dũng cảm như thế chắc hẳn vị này là một nhà lãnh đạo các khất sĩ . Quả thực, chính Ngài hẳn là đấng Giác Ngộ rồi đây. Hẳn ngài đến đây chỉ vì mục đích làm cho mình thấy được ánh sáng. Suy nghĩ như vậy, y ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận y vào giáo đoàn khất sĩ, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy.Khi đức vua và quân lính đến bắt Angulimala, họ thấy người ấy đang ở trong Tịnh xá của Đức Phật. Biết rằng Angulimala đã từ bỏ ác đạo của mình và trở thành một vị tỳ kheo, vua và quần thần đều đồng ý để yên vị này. Suốt thời gian Angulimala nhiệt tâm thực hành thiền định.Tôn giả Angulimala vẫn không được an tâm vì ngay cả trong lúc thiền định tĩnh lặng, Tôn giả thường nhớ lại quá khứ cùng với những tiếng gào thét thê thảm của những nạn nhân bất hạnh. Do một quả báo vì ác nghiệp kia, trong lúc đi khất thực trên đường phố, Tôn giả đã trở thành mục tiêu của đủ thứ gậy, đá ném vào và thường trở về Tịnh xá vỡ đầu chảy máu, đầy vết thương bầm tím, rồi lại được Đức Phật nhắc nhở: "Này pháp tử Angulimala, con đã từ bỏ việc ác, hãy kham nhẫn lên. Đây là hậu quả của ác nghiệp mà con đã gây tạo ở đời này. Đáng lẽ ra ác nghiệp sẽ còn làm con khổ đau qua vô lượng kiếp nếu trước đây ta đã không gặp con".Mọt buổi sáng, trong lúc đang trên đường đi khất thực ở thành Savatthi, Tôn giả Angulimala nghe tiếng ai đang kêu khóc đau đớn. Khi Tôn giả biết đó là một thai phụ đang đau vì chuyển dạ và gặp khó khăn lúc sanh con. Tôn giả suy nghĩ tất cả chúng sanh trên thế gian này đều phải chịu đau khổ. Động lòng từ, Tôn giả kể lại với Đức Phật nỗi khổ đau của người phụ nữ đáng thương kia. Ngài đã khuyên Tôn giả nói lên những lời thề chân thật, lời đó về sau này có tên là Anggulimala Paritta (thần chú hộ mệnh Angulimala). Đi đến trước mặt người sản phụ đang chịu đau đớn kia, Tôn giả ngồi xuống cách bà ấy một tấm màn che và phát nguyện những lời sau: " Này chị, từ ngày tôi đắc quả A la hán, Tôi chưa từng cố ý sát hại mạng sống của sinh linh nào. Nhờ sự thật này, cầu cho chị được an lành và đứa bé sắp sanh của chị cũng được an lành".Ngay lập tức người sản phụ liền sanh con một cách dễ dàng. Cả mẹ lẫn con đều được khẻo mạnh. Cho đến nay nhiều người vẫn dùng đến thần chú hộ mệnh này.Tôn giả Angulimala thích sống độc cư và biệt lập. Sau đó Tôn giả viên tịch một cách yên bình. Là một vị A la hán, Tôn giả chứng đắc Vô dư Niết bàn.Các Tỳ kheo thỉnh ý Đức Phật về nơi tôn giả Angulimala tái sanh, và khi Đức Thế Tôn đáp pháp tử Angulimala đã chứng đắc Vô dư Niết bàn, thì chư vị không thể tin điều đó. Vì thế chư vị lại hỏi liều có thể nào một người đã giết quá chứng đắc Niết bàn Vô dư y chăng. Trước câu hỏi này, Đức Phật đáp: "Này các Tỳ kheo, Angulimala đã tạo quá nhiều ác nghiệp, vì vị ấy không có đã tìm được nhiều thiện hữu tri thức và nhờ sự giúp đỡ cũng như lời khuyên tốt mà vị ấy đã trở nên kiên định và chuyên tâm thực hành giáo pháp và thiền định. Như vậy, nghiệp ác của vị ấy đã được thiện nghiệp lấn át che phủ và tâm của vị ấy đã hoàn toàn đoạn trừ cả lậu hoặc. Đức Phật lại nói về tôn giả Angulimala:"Ai dùng các hạnh lànhXoá mờ bao nghiệp ácChiếu sáng cõi đời nàyNhư trăng thoát khỏi mây"Sức mạnh của lòng từ bi bao giờ cũng mạnh hơn bất cứ ác nghiệp nào. Và đó cũng là điều kiện tuyệt đối để giác ngộ.Thích Nguyên Tạng(dịch từ tập sách Love in Buđhism/Taiwan/1990)Hết
Mục lục
ANGULIMALA, Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
ANGULIMALA, Một câu chuyện về sức mạnh của lòng từ
Love in BuddhismChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: quangducĐược bạn: TSAH đưa lên vào ngày: 14 tháng 6 năm 2004
|
Anton Pavlovich Tchekhov
Anh béo và anh gầy
Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikôlai có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín . Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam. Còn anh gầy thì mới xuống tàu, hai tay lỉnh kỉnh nào vali, nào hộp, nào túi. Người anh ta toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê . Sau lưng anh ta là một người đàn bà gầy gò, cằm dài – đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu đêu mắt nhíu lại – đó là con trai anh ta. - Porphiri đấy à! – anh béo kêu lên khi vừa nhác thấy anh gầy – Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao đông bao hè chúng mình không gặp nhau rồi! - Trời! – anh gầy sửng sốt – Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế? Hai người bạn ôm hôn nhau đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau . Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị. - Cậu ạ - anh gầy bắt đầu nói sau khi ôm hôn – Mình quả không ngờ! Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Luida, nguyên họ là Vaxenbac, theo đạo Luyte. Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau. Naphanain ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống. - Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! – anh gầy nói tiếp – À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêxôxtrat vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là Ephian vì mình hay mách. Hô hô...Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Naphanain! Con lại gần bác chút nữa nào...Còn đây là vợ mình, nguyên họ là Vaxenbac, theo đạo Luyte... Naphanain suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố. - Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? – anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ - Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ? - Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtalixnap”. Lương lậu chẳng đáng là bao...nhưng mà thôi, thây kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái cơ đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bẩy cũng trong ngành đó thôi...Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không? - Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, - anh béo nói – Mình là viên chức bậc ba rồi...có hai mề đay của Nhà nước. Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh toét miệng cười, mặt mày nhăn nhúm, dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta cũng như co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra, thằng Naphanain thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại... - Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn nghĩa là bạn... từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thế, hì hì hì... - Thôi, cậu đừng nói thế đi! – anh béo cau mặt – Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ, việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế? - Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... – anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn – Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần hàn đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain... và vợ tôi là Luida, theo đạo Luyte đấy ạ... Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn, Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy. Anh gầy nắm ba ngón tay anh béo, cúi gập mình xuống chào và cười lên như một chú tẫu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười, Naphanain kéo chân lại và buông thõng chiếc mũ xuống. Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị. Chú thích: Gêxôtrat - người Hy Lạp, năm 356 trước Công nguyên đã đốt đền Actêmiđa Ephecxcaia để tên mình trở thành bất tử. Ephian – nhà hoạt động chính trị của Aten thời cổ. Năm 480 trước Công nguyên đã phản bội, chỉ cho quân Ba Tư lối đi vòng qua khe Phermôpinxki. Toán dân binh Xpacta ở Hy Lạp bảo vệ khe núi này đã hy sinh một cách anh dũng.
Mục lục
Anh béo và anh gầy
Anh béo và anh gầy
Anton Pavlovich TchekhovChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: nhk1978 đưa lên vào ngày: 10 tháng 6 năm 2004
|
Anton Pavlovich Tchekhov
You're fat and you're skinny
On the platform of the Nikolai railway, two old friends met: one was fat, one was thin. The fat man had just finished eating at the station, his lips were smooth with butter like ripe peaches. He exuded a strong smell of wine and orange blossom water. As for the skinny guy, he just got off the train, his hands were full of suitcases, boxes, and bags. He exuded the smell of marinated meat and coffee grounds. Behind him was a thin woman with a long chin - that was his wife, and a tall, lanky student with narrowed eyes - that was his son. - Is that Porphiri! – the fat guy exclaimed when he saw the skinny guy – Is that really you? Oh, my dear friend! We haven't seen each other for so many years! - God! – he was surprisingly thin – Misa! My childhood friend! Where are you from? The two friends hugged and kissed three times, staring at each other with teary eyes. Both were pleasantly surprised. - Uncle - the skinny guy started to say after hugging and kissing - I didn't expect it! So sudden! Come on, look straight at me! Oh, you still look as handsome as before, still as polite and classy as before! Wow, that's great! Oh, how are you now? Are you rich? Married yet? I already have a wife, you see... Here, my wife, Luida, whose last name is Vaxenbac, is a Lutheran. And this is my son, Naphanain, a third grader. Hey kid, this is dad's childhood friend! Went to high school together. Naphanain hesitated for a moment then took off his soft hat. - I went to high school with my dad! – the skinny guy continued – Hey, do you remember how they teased you? They called him Gesostrat because he used a cigarette to light a library book on fire, and they called me Ephian because he used to tell stories. Ho ho...We were so childish back then! Don't be afraid, Naphanain! Come a little closer to me... And this is my wife, her last name is Vaxenbac, a Luyte... Naphanain thought for a moment and then hid behind his father. - Hey man, how are you living now? - the fat man asked, looking at his friend with joy - Where do you work? Already successful? - Yes, I also go to work, my friend! For the past two years, I have been an eighth-level officer and also received the "Stalixnap" medal. The illegal salary isn't worth much...but never mind! My wife teaches music, and I make wooden pipes. Your pipe is so beautiful! I sell one for one ruble. If someone buys a dozen or more, you know, there's a little discount. Just trying to live through it all. You know, before I worked at the bureau, now I was transferred here, promoted to level seven in the same industry...I will work here. How about you? Probably about the size of a fifth-level official? Right? - No, my friend, it's higher than that, - the fat guy said - I'm a third-class official... I have two medals from the State. The thin man suddenly turned pale and was as stunned as stone, but a moment later he grinned, his face wrinkled, and his eyes seemed to light up. His whole body was contorted, his shoulders hunched and his neck bowed... Even his suitcases, boxes, and bags were also shrinking and grimacing... The wife's long chin seemed to grow longer, boy. Naphanain then pulled his legs in and buttoned up his shirt... - Yes, sir, I... I'm very honored. Friend means friend... since childhood, then suddenly got such a big position, heh heh heh... - Well, don't say that! – the fat man frowned – Why are you raising your voice like that? You and I have been friends since childhood, why are you acting so official? - Yes, sir... What did the big man teach me... - the thin man chuckled, his body cringed even more - The big man's patronage like this is giving thanks to the poor... Your Excellency, this is my son Naphanain... and my wife Luida, who follows the Luyte religion... The fat man was about to reprimand him further, but his thin face radiated respect and lightness. So excited that the fat man felt nauseous. The fat man looked away and waved goodbye to the thin man. The skinny guy held three of the fat guy's fingers, bowed down to greet him and laughed like a boy: "Hehehehe." The wife smiled, Naphanain pulled her legs back and let her hat drop. All three people were pleasantly stunned. Note: Gesotrat - a Greek, in 356 BC burned the temple of Actemida Ephescaia to make his name immortal. Ephian – political activist of ancient Athens. In 480 BC, he betrayed and showed the Persian army the way around the Fermopinsky gap. The Sparta militia group in Greece protecting this ravine sacrificed their lives heroically.
Table of contents
You're fat and you're skinny
You're fat and you're skinny
Anton Pavlovich TchekhovWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: nhk1978 posted on: June 10, 2004
|
Đoàn Thạch Biền
Anh Chàng Có Bộ Mặt Hề
Đánh máy: Phương Nhi
Từ nhỏ đến bây giờ tôi vẫn thích xem những bộ phim của vua hề Charlot, dù là phim đen trắng. Tôi đã học được ở ông cách “tếu tếu” nghiêm trang khi viết truyện. Chỉ tiếc một điều tôi chưa học được cách im lặng mà vẫn khiến người ta bật cười như trong những bộ phim câm của ông. Truyện của tôi còn nhiều đối thoại, còn “nói” quá nhiều . Đấy là một khuyết điểm tôi chưa sửa chữa được. * * *Tôi đang cắm cúi đánh máy bảng kết toán cuối năm để trình giám đốc ký. Chợt có tiếng cười vang của các bạn trong phòng, khiến tôi phải ngẩng mặt nhìn lên. Một thanh niên lạ mặt đứng ngơ ngác ở giữa phòng, tay đang mân mê chiếc mũ nỉ màu nâu đỏ. Khuôn mặt anh có vẻ gì đó tếu tếu khó diễn tả. Bộ râu mép của anh đã cạo sạch, vẫn nổi lên một vệt đen ở dưới mũi trông như râu vua hề Sạclô . Có lẽ thấy tôi nghiêm mặt không cười (tôi vẫn mang tiếng là "bà cụ non"), anh rụt rè bước đến hỏi: - Xin lỗi, đây có phải là phòng kế toán tổng hợp? - Đúng vậy ạ. Tôi chưa kịp mở miệng, ba cô bạn đã đồng thanh trả lời rồi cười vang. Bây giờ tôi mới biết họ cười vì anh đi hai chân "chàng hảng" chữ bát. Tôi hỏi: - Anh cần gặp ai ? - Tôi muốn gặp trưởng phòng. Anh móc túi đưa tôi giấy quyết định bổ nhiệm có chữ ký của giám đốc. Tên anh là Lê Hữu Nghiêm. Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử. Chức vụ: Phó phòng kế toán. Chị trưởng phòng của chúng tôi đi vắng. Tôi mời anh đến ngồi đợi ở chiếc bàn của chị. Tôi vẫy tay gọi cô bạn đến cuối phòng, nói nhỏ: - Phó phòng của tụi mình đó. Lan trợn mắt hỏi: - Mi định "hù" tụi tao hả? Tôi lắc đầu . Nguyệt hỏi: - Chắc anh ta thuộc loại COCC (*) gốc bự, chứ tướng đó xin vào làm nhân viên hợp đồng giám đốc cũng không nhận. - Đừng coi thường. - Tôi nói - Ông ấy tốt nghiệp kỹ sư điện tử đó. Hương bĩu môi: - Bằng "dỏm". Tao nghĩ ông ấy đã tốt nghiệp lớp diễn viên hề. Ba cô bạn lại che miệng cười khúc khích rồi nhỏ to nói chuyện. Tôi trở về bàn ngồi đánh máy tiếp. Thỉnh thoảng nhìn lên, tôi thấy anh vẫn ngồi im như pho tượng ở bàn trưởng phòng. Anh ngồi rất nghiêm trang nhưng trông cũng buồn cười . Một lúc sau, chị Tâm, trưởng phòng đi công tác về. Ba cô bạn vội ngồi vào bàn chăm chỉ làm việc. Hai người trao đổi với nhau điều gì đó, rồi chị Tâm gọi chúng tôi đến giới thiệu với anh chàng có bộ mặt hề. Anh đứng dậy, lễ phép cúi chào từng người khiến ba cô bạn của tôi lại được dịp cười . Chị Tâm nói: - Các em hãy làm quen với anh Nghiêm, phó phòng của chúng ta . Anh tuy biên chế ở phòng, nhưng lại làm việc bên giám đốc. Anh coi máy vi tính của xí nghiệp. Thôi các em về chỗ làm việc. Chị đưa anh Nghiêm đi giới thiệu với các phòng ban khác. Đúng như lời chị Tâm nói . Hằng ngày anh Nghiêm chỉ tạt qua phòng một chút, để chị Tâm thấy mặt chấm công. Sau đó, anh đi đâu mất. Có lần tôi lên phòng giám đốc để trình lý báo cáo sử dụng vật tư trong tháng nhưng không gặp ông. Tôi ngó qua phòng bên cạnh để tìm ông. Trong căn phòng lắp kính, chạy máy lạnh, anh Nghiêm đang ngồi trước một dàn máy có màn hình nổi lên những con số như tivi . Tôi tò mò đứng xem. Anh Nghiêm thấy tôi, vội chạy ra mở cửa, mời vào . - Tuyết muốn hỏi chuyện gì? - Cái máy này là "bộ óc" của xí nghiệp phải không anh? - Đúng vậy . Tuyết thắc mắc điều gì nó sẽ giải đáp ngay . Tôi cười nói, tôi muốn biết tại sao lương của tôi thấp quá vậy ? Anh Nghiêm hỏi tôi vào làm ở xí nghiệp được bao lâu, bậc lương mấy . Anh ngồi xuống máy nhấn nút, những con số hiện ra . Anh trả lời tại cơ chế quan liêu bao cấp cần tinh giảm biên chế mới được hưởng lương cao . Tôi nói như vậy chẳng cần máy tính tôi cũng biết, và để trêu anh, tôi hỏi: - Về chuyện tình yêu, máy có giải đáp được không? - Được chứ. Nếu Tuyết cung cấp đầy đủ dữ kiện về người Tuyết yêu, tôi sẽ cho biết chính xác lương hai người cộng lại đủ nuôi dưỡng tình yêu trong bao lâu . Không biết anh nói đùa hay thật, tôi bỏ đi về phòng. Tôi kể cho ba cô bạn nghe về sự kỳ lạ của máy vi tính. Lan cười nói: - Được rồi, tao sẽ nhờ ông ấy dùng máy vi tính tìm giúp tao một người chồng đúng "kích cỡ". Chiều đó, khi ra về tôi thấy anh Nghiêm đứng lóng ngóng đợi ai ở góc đường. Tôi vừa đi ngang, anh nói: - Tôi muốn thông báo với Tuyết, tôi đã tìm ra người yêu của Tuyết. Tôi chưng hửng: - Ai vậy ? - Qua máy vi tính tôi được biết lương của tôi cộng với lương của Tuyết đủ nuôi dưỡng tình yêu trong một tháng. Tôi phì cười vì anh chàng "mát" này . Nhưng không hiểu sao vẫn nhận lời đi uống nước với anh. Tôi ngượng đỏ mặt khi đi bên anh vào quán đông người . Có người tế nhị che miệng cười nhưng cũng có người cười hô hố nói: - Vua hề Sạclô tái xuất giang hồ. Người ta thường nghĩ vượt qua những giọt nước mắt thật khó khăn, nhưng tôi lại nghĩ vượt qua những nụ cười diễu cợt còn khó khăn hơn. Người ta rất dễ yêu mến một anh hề trên sân khấu, nhưng một anh hề ngoài đời lại bị diễu cợt. Phải chăng vì đời sống đã có quá nhiều trò hề, nên người ta chán một anh chàng có bộ mặt hề? Bây giờ tôi mới hiểu và thông cảm với anh Nghiêm. Anh đã phải chịu đựng nhiều vì bộ mặt hề của mình. Anh cho biết năm nay anh 38 tuổi, vẫn chưa lập gia đình. Vì cô nào nghe anh tỏ tình cũng phì cười, cho anh nói giễu chơi . Người ta khó mà tin được lời nói đứng đắn ở một bộ mặt hề. Tôi nói: - Anh hãy thay đổi cách diễn tả để họ không buồn cười, như viết thư chẳng hạn. - Không phải tại cách diễn tả mà tại quan niệm của tôi về tình yêu . Tôi nghĩ yêu nhau không phải là ngồi dựa lưng vào nhau rồi bốn mắt nhìn về bốn hướng. Yêu nhau là nhìn thẳng vào mắt nhau để giúp nhau lấy những hạt bụi trong mắt. Thú thật, tôi đã phải bậm chặt môi để khỏi bật cười . Không biết có phải máy vi tính đã giúp anh có quan niệm đó? Sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã quyết định nhận lễ hỏi của anh Nghiêm. Mặc cho ba cô bạn cùng phòng khuyên ngăn. Lan nói: - Nhìn bộ mặt ông ấy mà mi tin ông ấy nói thật à? Ông ấy giễu mi đó. Hương nói: - Trên đời này chỉ có tình yêu đứng đắn chứ làm chi có "tình hề". Nguyệt nói: - Hay mi "yêu" chức phó phòng? Tôi đều lắc đầu không trả lời . Con tim có lý lẽ của nó mà tôi không giải thích được. Nhưng anh Nghiêm hỏi tôi, tại sao không từ chối tình yêu của anh. Tôi nói: - Anh có bộ mặt "hề". Em có bộ mặt "bà cụ non". Chúng ta sẽ bổ sung cho nhau . Con cái chúng ta vừa giống cha vừa giống mẹ, chúng sẽ có bộ mặt bình thường. Anh Nghiêm xiết chặt tay tôi, sung sướng mỉm cười . Lần đầu tiên tôi thấy anh cười . Nụ cười trông thật thảm thương. Tôi thầm nghĩ thà anh đừng cười, như vậy còn hay hơn. (*) COCC = con ông cháu cha
Mục lục
Anh Chàng Có Bộ Mặt Hề
Anh Chàng Có Bộ Mặt Hề
Đoàn Thạch BiềnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời Áo TrắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Đoàn Thạch Biền
Anh Chàng Có Bộ Mặt Hề
Đánh máy: Phương Nhi
Từ nhỏ đến bây giờ tôi vẫn thích xem những bộ phim của vua hề Charlot, dù là phim đen trắng. Tôi đã học được ở ông cách “tếu tếu” nghiêm trang khi viết truyện. Chỉ tiếc một điều tôi chưa học được cách im lặng mà vẫn khiến người ta bật cười như trong những bộ phim câm của ông. Truyện của tôi còn nhiều đối thoại, còn “nói” quá nhiều . Đấy là một khuyết điểm tôi chưa sửa chữa được. * * *Tôi đang cắm cúi đánh máy bảng kết toán cuối năm để trình giám đốc ký. Chợt có tiếng cười vang của các bạn trong phòng, khiến tôi phải ngẩng mặt nhìn lên. Một thanh niên lạ mặt đứng ngơ ngác ở giữa phòng, tay đang mân mê chiếc mũ nỉ màu nâu đỏ. Khuôn mặt anh có vẻ gì đó tếu tếu khó diễn tả. Bộ râu mép của anh đã cạo sạch, vẫn nổi lên một vệt đen ở dưới mũi trông như râu vua hề Sạclô . Có lẽ thấy tôi nghiêm mặt không cười (tôi vẫn mang tiếng là "bà cụ non"), anh rụt rè bước đến hỏi: - Xin lỗi, đây có phải là phòng kế toán tổng hợp? - Đúng vậy ạ. Tôi chưa kịp mở miệng, ba cô bạn đã đồng thanh trả lời rồi cười vang. Bây giờ tôi mới biết họ cười vì anh đi hai chân "chàng hảng" chữ bát. Tôi hỏi: - Anh cần gặp ai ? - Tôi muốn gặp trưởng phòng. Anh móc túi đưa tôi giấy quyết định bổ nhiệm có chữ ký của giám đốc. Tên anh là Lê Hữu Nghiêm. Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử. Chức vụ: Phó phòng kế toán. Chị trưởng phòng của chúng tôi đi vắng. Tôi mời anh đến ngồi đợi ở chiếc bàn của chị. Tôi vẫy tay gọi cô bạn đến cuối phòng, nói nhỏ: - Phó phòng của tụi mình đó. Lan trợn mắt hỏi: - Mi định "hù" tụi tao hả? Tôi lắc đầu . Nguyệt hỏi: - Chắc anh ta thuộc loại COCC (*) gốc bự, chứ tướng đó xin vào làm nhân viên hợp đồng giám đốc cũng không nhận. - Đừng coi thường. - Tôi nói - Ông ấy tốt nghiệp kỹ sư điện tử đó. Hương bĩu môi: - Bằng "dỏm". Tao nghĩ ông ấy đã tốt nghiệp lớp diễn viên hề. Ba cô bạn lại che miệng cười khúc khích rồi nhỏ to nói chuyện. Tôi trở về bàn ngồi đánh máy tiếp. Thỉnh thoảng nhìn lên, tôi thấy anh vẫn ngồi im như pho tượng ở bàn trưởng phòng. Anh ngồi rất nghiêm trang nhưng trông cũng buồn cười . Một lúc sau, chị Tâm, trưởng phòng đi công tác về. Ba cô bạn vội ngồi vào bàn chăm chỉ làm việc. Hai người trao đổi với nhau điều gì đó, rồi chị Tâm gọi chúng tôi đến giới thiệu với anh chàng có bộ mặt hề. Anh đứng dậy, lễ phép cúi chào từng người khiến ba cô bạn của tôi lại được dịp cười . Chị Tâm nói: - Các em hãy làm quen với anh Nghiêm, phó phòng của chúng ta . Anh tuy biên chế ở phòng, nhưng lại làm việc bên giám đốc. Anh coi máy vi tính của xí nghiệp. Thôi các em về chỗ làm việc. Chị đưa anh Nghiêm đi giới thiệu với các phòng ban khác. Đúng như lời chị Tâm nói . Hằng ngày anh Nghiêm chỉ tạt qua phòng một chút, để chị Tâm thấy mặt chấm công. Sau đó, anh đi đâu mất. Có lần tôi lên phòng giám đốc để trình lý báo cáo sử dụng vật tư trong tháng nhưng không gặp ông. Tôi ngó qua phòng bên cạnh để tìm ông. Trong căn phòng lắp kính, chạy máy lạnh, anh Nghiêm đang ngồi trước một dàn máy có màn hình nổi lên những con số như tivi . Tôi tò mò đứng xem. Anh Nghiêm thấy tôi, vội chạy ra mở cửa, mời vào . - Tuyết muốn hỏi chuyện gì? - Cái máy này là "bộ óc" của xí nghiệp phải không anh? - Đúng vậy . Tuyết thắc mắc điều gì nó sẽ giải đáp ngay . Tôi cười nói, tôi muốn biết tại sao lương của tôi thấp quá vậy ? Anh Nghiêm hỏi tôi vào làm ở xí nghiệp được bao lâu, bậc lương mấy . Anh ngồi xuống máy nhấn nút, những con số hiện ra . Anh trả lời tại cơ chế quan liêu bao cấp cần tinh giảm biên chế mới được hưởng lương cao . Tôi nói như vậy chẳng cần máy tính tôi cũng biết, và để trêu anh, tôi hỏi: - Về chuyện tình yêu, máy có giải đáp được không? - Được chứ. Nếu Tuyết cung cấp đầy đủ dữ kiện về người Tuyết yêu, tôi sẽ cho biết chính xác lương hai người cộng lại đủ nuôi dưỡng tình yêu trong bao lâu . Không biết anh nói đùa hay thật, tôi bỏ đi về phòng. Tôi kể cho ba cô bạn nghe về sự kỳ lạ của máy vi tính. Lan cười nói: - Được rồi, tao sẽ nhờ ông ấy dùng máy vi tính tìm giúp tao một người chồng đúng "kích cỡ". Chiều đó, khi ra về tôi thấy anh Nghiêm đứng lóng ngóng đợi ai ở góc đường. Tôi vừa đi ngang, anh nói: - Tôi muốn thông báo với Tuyết, tôi đã tìm ra người yêu của Tuyết. Tôi chưng hửng: - Ai vậy ? - Qua máy vi tính tôi được biết lương của tôi cộng với lương của Tuyết đủ nuôi dưỡng tình yêu trong một tháng. Tôi phì cười vì anh chàng "mát" này . Nhưng không hiểu sao vẫn nhận lời đi uống nước với anh. Tôi ngượng đỏ mặt khi đi bên anh vào quán đông người . Có người tế nhị che miệng cười nhưng cũng có người cười hô hố nói: - Vua hề Sạclô tái xuất giang hồ. Người ta thường nghĩ vượt qua những giọt nước mắt thật khó khăn, nhưng tôi lại nghĩ vượt qua những nụ cười diễu cợt còn khó khăn hơn. Người ta rất dễ yêu mến một anh hề trên sân khấu, nhưng một anh hề ngoài đời lại bị diễu cợt. Phải chăng vì đời sống đã có quá nhiều trò hề, nên người ta chán một anh chàng có bộ mặt hề? Bây giờ tôi mới hiểu và thông cảm với anh Nghiêm. Anh đã phải chịu đựng nhiều vì bộ mặt hề của mình. Anh cho biết năm nay anh 38 tuổi, vẫn chưa lập gia đình. Vì cô nào nghe anh tỏ tình cũng phì cười, cho anh nói giễu chơi . Người ta khó mà tin được lời nói đứng đắn ở một bộ mặt hề. Tôi nói: - Anh hãy thay đổi cách diễn tả để họ không buồn cười, như viết thư chẳng hạn. - Không phải tại cách diễn tả mà tại quan niệm của tôi về tình yêu . Tôi nghĩ yêu nhau không phải là ngồi dựa lưng vào nhau rồi bốn mắt nhìn về bốn hướng. Yêu nhau là nhìn thẳng vào mắt nhau để giúp nhau lấy những hạt bụi trong mắt. Thú thật, tôi đã phải bậm chặt môi để khỏi bật cười . Không biết có phải máy vi tính đã giúp anh có quan niệm đó? Sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã quyết định nhận lễ hỏi của anh Nghiêm. Mặc cho ba cô bạn cùng phòng khuyên ngăn. Lan nói: - Nhìn bộ mặt ông ấy mà mi tin ông ấy nói thật à? Ông ấy giễu mi đó. Hương nói: - Trên đời này chỉ có tình yêu đứng đắn chứ làm chi có "tình hề". Nguyệt nói: - Hay mi "yêu" chức phó phòng? Tôi đều lắc đầu không trả lời . Con tim có lý lẽ của nó mà tôi không giải thích được. Nhưng anh Nghiêm hỏi tôi, tại sao không từ chối tình yêu của anh. Tôi nói: - Anh có bộ mặt "hề". Em có bộ mặt "bà cụ non". Chúng ta sẽ bổ sung cho nhau . Con cái chúng ta vừa giống cha vừa giống mẹ, chúng sẽ có bộ mặt bình thường. Anh Nghiêm xiết chặt tay tôi, sung sướng mỉm cười . Lần đầu tiên tôi thấy anh cười . Nụ cười trông thật thảm thương. Tôi thầm nghĩ thà anh đừng cười, như vậy còn hay hơn. (*) COCC = con ông cháu cha
Mục lục
Anh Chàng Có Bộ Mặt Hề
Anh Chàng Có Bộ Mặt Hề
Đoàn Thạch BiềnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời Áo TrắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Vương Tâm
Anh chàng cả nể
Có người nói về Bản rằng, nếu anh ta là con gái thì mỗi tháng thể nào cũng bị chửa hoang một lần. Bản hay tỏ ra e thẹn, ngượng ngùng với những người mới quen, cứ như một thiếu nữ vậy. Ngay cả với ai đã quen lâu thì vẫn rụt rè khi ăn nói và Bản chỉ sợ mất lòng người ta. Nhất là ai nhờ cậy gì cũng “ừ” và thực hiện ngay chẳng ngại ngần gì. Nhiều việc chưa đâu vào đâu mà Bản cũng nhận lời. Ấy là tính cả nể khó thay đổi của anh ta. Có lần Bản đang làm việc ở phòng máy của mình thì cô y sĩ ở phòng y tế của nhà máy hớt hải chạy vào. Chưa kịp chào nhau, cô y sĩ đã xòe ra một cuốn sổ trước mặt Bản rồi hổn hển nói: - Em ơi! Giúp chị với. Ngày mai chị phải báo cáo kết toán những khoản thuốc cho anh em trong nhà máy. Bản cười rồi nhỏ nhẹ nói: - Thế em giúp được gì cho chị nào? - Đây! Quý hóa quá em trai ơi. Em ký vào mấy chỗ trống này. Coi như em đã nhận thuốc trong những lần đi khám trước đây. Bản ngơ ngác: - Em đi khám hôm nào nhỉ? - Thì đấy! Giúp chị mà. Cứ ký vào đây cho đủ mục. Lúc này Bản vẫn còn nghi ngại: - Thế em ký vào mục kê thuốc bệnh gì ạ? Cô y sĩ càng giục cuống lên: - Bệnh tật gì đâu. Không chết người đâu mà sợ. Cứ ký đi! Bản gặng hỏi thêm: - Nhưng mà em cũng phải biết để khi có ai hỏi còn nói cho đúng chứ. Thuốc gì mà những mấy chục hộp hả chị? Cô y sĩ trợn mắt nói: - Bao ô kê! Bản đỏ dừ mặt nói: - Dưng mà em đã có vợ đâu mà nhận nó. Cô y sĩ nói to: - Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch là nghĩa vụ của mọi công dân. Rồi cô ta nói như ra lệnh: - Ký đi! Bản giật mình và ngẫm rằng ký nhận cái món này cũng chẳng chết ai và vội vàng ký vào năm cột trống cho xong chuyện. Cô y sĩ hể hả cười khoái trá. - Thế là xong. Cảm ơn nhé! Bai bai… Thế là suốt một tuần sau, cả nhà máy đồn rầm rĩ lên cái chuyện tay Bản đã dùng tới 1.200 bao cao su trong một năm. Này nhé, năm chứ kỹ của anh ta vào năm cột, một cột là 2 hộp. Vị chi là 10 hộp. Mà ai cũng biết mỗi hộp to lại có mười hộp con. Còn mỗi hộp con có 12 bao cao su. Tính ra chả 1.200 bao cao su là gì. Nhẩm đếm rồi họ cười như nắc nẻ. Riêng đám đàn bà con gái mỗi lần gặp Bản là lại đỏ mặt và rúc rích cười rồi đấm lưng nhau thùm thụp. Bản thì cứ ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Đến khi ban thanh tra mời Bản lên nói rõ mọi chuyện thì anh mới hay rằng mình đã ký nhận một cách tùy tiện vậy. Anh ta cứ ấp úng, đỏ mặt và chỉ biết gãi đầu rồi cười trừ. Ấy vậy mà chữ ký của Bản đã cứu cô y sĩ một bàn thua trông thấy. Nhiều thì nhiều vẫn là một chữ ký có người nhận. Mặc dù có người mách là cô ta đã tuồn ra cửa hàng của người nhà mình. Không những bao cao su mà còn đủ các loại thuốc khác. Hơn nữa, giá bao cao su cũng chẳng là mấy nên mọi người cũng cho qua. Nhưng cái chuyện anh chàng Bản, chưa có vợ, mà dùng tới 1.200 bao cao su trong một năm thì khiếp thật. Còn anh chàng Bản thỉnh thoảng nghĩ tới chuyện những bao cao su thì cũng phì cười rồi lấy tay che miệng lại. Thật rõ là ngượng. Thế rồi, mới đây lại còn chuyện cả nể khác nữa mà Bản bị lâm vào cảnh éo le mà không biết. Ấy là chuyện anh ta nhận lời đóng vai làm chồng cho một cô gái chửa hoang. Cô ta bị người yêu lừa có con rồi bỏ trốn biệt tăm. Hôm ấy, một người em họ đến nhà Bản nhờ cậy. Chị ta tâm sự: - Hoa là bạn em. Nó cả nể mà to bụng. Nó lại hẹn bố mẹ ở nhà quê là sẽ đưa người chồng sắp cưới về trình mặt. Ai dè thằng khốn nạn bỏ chạy. Biết làm sao bây giờ. Hay là anh giúp Hoa cho nó đỡ nhục nhã với bà con làng xóm. Bản nghe chưa hiểu hết mọi chuyện nên hỏi: - Tôi giúp được gì cô ta? - Đóng vai làm chồng và cùng Hoa về trình mặt bố mẹ và bà con ở quê. Chỉ thế thôi. Bản giật mình: - Chết! Lừa mọi người sao được. - Thì cũng như làm phúc cho người thôi mà. Sau một ngày trở lại thành phố, mỗi người lại một ngả. Ai biết đâu. Bản đắn đo một lúc rồi nói: - Để tôi còn suy nghĩ cái đã. Không nhờ người khác được sao. Những người thành thạo hơn, tôi đâu có gia đình mà biết mọi chuyện. Cô em họ cướp lời: - Thế mới hay. Anh lại là người tốt bụng bọn em mới nhờ đến. Làm phúc cho người mà anh. Mấy hôm nay cái Hoa lo lắm đến phát ốm và có lúc còn đòi uống thuốc ngủ để tự tử nữa. Tội quá anh ạ. Nghe đến thế Bản thấy thương cô gái ấy và vội vàng nói: - Ừ thôi thế thì cô dẫn Hoa đến đây xem tôi có thể giúp được gì nào. Và chỉ một ngày thôi đấy nhé. Mà cũng không biết nên nói năng thế nào đây cơ chứ… Cô em họ vui quá ôm chầm lấy Bản cảm ơn, làm anh cứ nóng rực cả hai tai… * * *Mọi chuyện trôi chảy, đúng như hợp đồng đã giao ước. Sau ngày đó, mỗi người một nơi, Bản cảm thấy vui vui vì đã giúp được cô gái đỡ bẽ mặt với làng xóm. Nhưng không hiểu sao bỗng dưng có tin đồn râm ran rằng Bản đã ngầm cưới vợ mà không cho ai hay. Một người trách Bản, hai người trách… rồi tới hàng chục người thân quen và yêu mến Bản đều dồn dập hỏi về chuyện vợ con. Bản thanh minh thế nào cũng không thuyết phục được bạn bè, bởi có người còn nhìn thấy ảnh hẳn hoi, rằng đúng là mặt của Bản chứ không thể lẫn với ai khác ở cặp kính cận tròn xoe. Thì ra, đúng cái hôm Bản về gia đình nhà Hoa, cô em họ lại đi cùng với người bạn trai. Anh ta có máy ảnh và chụp lia lịa cảnh đồng quê làng xóm, kể cả cảnh bà con họ hàng ra đón “đôi vợ chồng trẻ” mà Bản chỉ là một chú rể hờ. Hơn nữa, cô em họ lại không hề dặn dò kỹ lưỡng người bạn trai. Thế là bộ ảnh rất đẹp gồm đến chục kiểu đã được Hoa gửi về để cho gia đình làm kỷ niệm. Và cũng chẳng hiểu tại sao có người ở nhà máy đã được xem ảnh và kháo ầm lên. Thế mới chết. Tuy vậy, mọi người chỉ bán tin bán nghi và cũng chả hiểu chuyện như thế nào nữa. Bản gặp ai cũng phải nói rằng mình chưa lấy vợ. Nhưng mọi chuyện trở nên oái oăm ở chỗ, Yến - người bạn gái thân thiết của Bản suốt ngày âm ỉ thầm khóc. Nghe cô em họ của Bản trần tình mãi, thề sống thề chết mà Yến vẫn còn ấm ức. Bản đành kể rành rẽ mọi chuyện mà cô em họ nhờ đóng vai chú rể để an ủi cô bạn kia. Nghe ra mọi điều, Yến đã thấy nguôi cơn giận, nhưng vẫn bực mình lắm vì chính cái hôm ấy cô cũng dự định bố trí kế hoạch đưa Bản về quê, để ra mắt bố mẹ, anh chị em. Cũng may mà Yến chưa nhắn tin chính thức về gia đình. Nghe chừng thấy cơn hờn ghen của bạn gái chưa nguôi, Bản ngon ngọt: - Thế bây giờ em phạt thế nào anh cũng chấp nhận. Nhưng giận mãi thế này thì anh không thể chịu nổi. Yến vội nhoẻn cười rồi nói: - Đấy là anh nói đấy nhé! Chịu phạt không? - Ừ em tuyên bố đi. Yến tinh nghịch nói vui: - Tuần này về quê. Tới cổng làng là anh phải cõng em về tới tận nhà để gặp bố mẹ nhé. Bản đỏ dừ hai má, ấp úng không biết trả lời thế nào. Nhưng xem chừng, cô ta kiên quyết lắm đấy, trong lòng Bản cũng có vẻ chấp nhận. Nếu phải cõng Yến thật thì sợ gì cơ chứ. Mình cõng vợ tương lai của mình có gì đáng xấu hổ nào. Đúng là cái triết lý của anh chàng cả nể. Không hiểu có phải đúng như thế không mà Bản gật đầu đồng ý liền. Suốt cả tuần, Yến cứ phì cười mỗi khi tưởng tượng ra anh chàng cận lòi mắt kia phải cõng mình suốt đường làng. Nói đùa thế mà anh ta cũng tưởng thật. Đúng là anh chàng cả nể. May mà không phải con gái./.
Mục lục
Anh chàng cả nể
Anh chàng cả nể
Vương TâmChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: Báo CANDĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 6 tháng 7 năm 2006
|
Vương Tâm
Anh chàng cả nể
Có người nói về Bản rằng, nếu anh ta là con gái thì mỗi tháng thể nào cũng bị chửa hoang một lần. Bản hay tỏ ra e thẹn, ngượng ngùng với những người mới quen, cứ như một thiếu nữ vậy. Ngay cả với ai đã quen lâu thì vẫn rụt rè khi ăn nói và Bản chỉ sợ mất lòng người ta. Nhất là ai nhờ cậy gì cũng “ừ” và thực hiện ngay chẳng ngại ngần gì. Nhiều việc chưa đâu vào đâu mà Bản cũng nhận lời. Ấy là tính cả nể khó thay đổi của anh ta. Có lần Bản đang làm việc ở phòng máy của mình thì cô y sĩ ở phòng y tế của nhà máy hớt hải chạy vào. Chưa kịp chào nhau, cô y sĩ đã xòe ra một cuốn sổ trước mặt Bản rồi hổn hển nói: - Em ơi! Giúp chị với. Ngày mai chị phải báo cáo kết toán những khoản thuốc cho anh em trong nhà máy. Bản cười rồi nhỏ nhẹ nói: - Thế em giúp được gì cho chị nào? - Đây! Quý hóa quá em trai ơi. Em ký vào mấy chỗ trống này. Coi như em đã nhận thuốc trong những lần đi khám trước đây. Bản ngơ ngác: - Em đi khám hôm nào nhỉ? - Thì đấy! Giúp chị mà. Cứ ký vào đây cho đủ mục. Lúc này Bản vẫn còn nghi ngại: - Thế em ký vào mục kê thuốc bệnh gì ạ? Cô y sĩ càng giục cuống lên: - Bệnh tật gì đâu. Không chết người đâu mà sợ. Cứ ký đi! Bản gặng hỏi thêm: - Nhưng mà em cũng phải biết để khi có ai hỏi còn nói cho đúng chứ. Thuốc gì mà những mấy chục hộp hả chị? Cô y sĩ trợn mắt nói: - Bao ô kê! Bản đỏ dừ mặt nói: - Dưng mà em đã có vợ đâu mà nhận nó. Cô y sĩ nói to: - Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch là nghĩa vụ của mọi công dân. Rồi cô ta nói như ra lệnh: - Ký đi! Bản giật mình và ngẫm rằng ký nhận cái món này cũng chẳng chết ai và vội vàng ký vào năm cột trống cho xong chuyện. Cô y sĩ hể hả cười khoái trá. - Thế là xong. Cảm ơn nhé! Bai bai… Thế là suốt một tuần sau, cả nhà máy đồn rầm rĩ lên cái chuyện tay Bản đã dùng tới 1.200 bao cao su trong một năm. Này nhé, năm chứ kỹ của anh ta vào năm cột, một cột là 2 hộp. Vị chi là 10 hộp. Mà ai cũng biết mỗi hộp to lại có mười hộp con. Còn mỗi hộp con có 12 bao cao su. Tính ra chả 1.200 bao cao su là gì. Nhẩm đếm rồi họ cười như nắc nẻ. Riêng đám đàn bà con gái mỗi lần gặp Bản là lại đỏ mặt và rúc rích cười rồi đấm lưng nhau thùm thụp. Bản thì cứ ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Đến khi ban thanh tra mời Bản lên nói rõ mọi chuyện thì anh mới hay rằng mình đã ký nhận một cách tùy tiện vậy. Anh ta cứ ấp úng, đỏ mặt và chỉ biết gãi đầu rồi cười trừ. Ấy vậy mà chữ ký của Bản đã cứu cô y sĩ một bàn thua trông thấy. Nhiều thì nhiều vẫn là một chữ ký có người nhận. Mặc dù có người mách là cô ta đã tuồn ra cửa hàng của người nhà mình. Không những bao cao su mà còn đủ các loại thuốc khác. Hơn nữa, giá bao cao su cũng chẳng là mấy nên mọi người cũng cho qua. Nhưng cái chuyện anh chàng Bản, chưa có vợ, mà dùng tới 1.200 bao cao su trong một năm thì khiếp thật. Còn anh chàng Bản thỉnh thoảng nghĩ tới chuyện những bao cao su thì cũng phì cười rồi lấy tay che miệng lại. Thật rõ là ngượng. Thế rồi, mới đây lại còn chuyện cả nể khác nữa mà Bản bị lâm vào cảnh éo le mà không biết. Ấy là chuyện anh ta nhận lời đóng vai làm chồng cho một cô gái chửa hoang. Cô ta bị người yêu lừa có con rồi bỏ trốn biệt tăm. Hôm ấy, một người em họ đến nhà Bản nhờ cậy. Chị ta tâm sự: - Hoa là bạn em. Nó cả nể mà to bụng. Nó lại hẹn bố mẹ ở nhà quê là sẽ đưa người chồng sắp cưới về trình mặt. Ai dè thằng khốn nạn bỏ chạy. Biết làm sao bây giờ. Hay là anh giúp Hoa cho nó đỡ nhục nhã với bà con làng xóm. Bản nghe chưa hiểu hết mọi chuyện nên hỏi: - Tôi giúp được gì cô ta? - Đóng vai làm chồng và cùng Hoa về trình mặt bố mẹ và bà con ở quê. Chỉ thế thôi. Bản giật mình: - Chết! Lừa mọi người sao được. - Thì cũng như làm phúc cho người thôi mà. Sau một ngày trở lại thành phố, mỗi người lại một ngả. Ai biết đâu. Bản đắn đo một lúc rồi nói: - Để tôi còn suy nghĩ cái đã. Không nhờ người khác được sao. Những người thành thạo hơn, tôi đâu có gia đình mà biết mọi chuyện. Cô em họ cướp lời: - Thế mới hay. Anh lại là người tốt bụng bọn em mới nhờ đến. Làm phúc cho người mà anh. Mấy hôm nay cái Hoa lo lắm đến phát ốm và có lúc còn đòi uống thuốc ngủ để tự tử nữa. Tội quá anh ạ. Nghe đến thế Bản thấy thương cô gái ấy và vội vàng nói: - Ừ thôi thế thì cô dẫn Hoa đến đây xem tôi có thể giúp được gì nào. Và chỉ một ngày thôi đấy nhé. Mà cũng không biết nên nói năng thế nào đây cơ chứ… Cô em họ vui quá ôm chầm lấy Bản cảm ơn, làm anh cứ nóng rực cả hai tai… * * *Mọi chuyện trôi chảy, đúng như hợp đồng đã giao ước. Sau ngày đó, mỗi người một nơi, Bản cảm thấy vui vui vì đã giúp được cô gái đỡ bẽ mặt với làng xóm. Nhưng không hiểu sao bỗng dưng có tin đồn râm ran rằng Bản đã ngầm cưới vợ mà không cho ai hay. Một người trách Bản, hai người trách… rồi tới hàng chục người thân quen và yêu mến Bản đều dồn dập hỏi về chuyện vợ con. Bản thanh minh thế nào cũng không thuyết phục được bạn bè, bởi có người còn nhìn thấy ảnh hẳn hoi, rằng đúng là mặt của Bản chứ không thể lẫn với ai khác ở cặp kính cận tròn xoe. Thì ra, đúng cái hôm Bản về gia đình nhà Hoa, cô em họ lại đi cùng với người bạn trai. Anh ta có máy ảnh và chụp lia lịa cảnh đồng quê làng xóm, kể cả cảnh bà con họ hàng ra đón “đôi vợ chồng trẻ” mà Bản chỉ là một chú rể hờ. Hơn nữa, cô em họ lại không hề dặn dò kỹ lưỡng người bạn trai. Thế là bộ ảnh rất đẹp gồm đến chục kiểu đã được Hoa gửi về để cho gia đình làm kỷ niệm. Và cũng chẳng hiểu tại sao có người ở nhà máy đã được xem ảnh và kháo ầm lên. Thế mới chết. Tuy vậy, mọi người chỉ bán tin bán nghi và cũng chả hiểu chuyện như thế nào nữa. Bản gặp ai cũng phải nói rằng mình chưa lấy vợ. Nhưng mọi chuyện trở nên oái oăm ở chỗ, Yến - người bạn gái thân thiết của Bản suốt ngày âm ỉ thầm khóc. Nghe cô em họ của Bản trần tình mãi, thề sống thề chết mà Yến vẫn còn ấm ức. Bản đành kể rành rẽ mọi chuyện mà cô em họ nhờ đóng vai chú rể để an ủi cô bạn kia. Nghe ra mọi điều, Yến đã thấy nguôi cơn giận, nhưng vẫn bực mình lắm vì chính cái hôm ấy cô cũng dự định bố trí kế hoạch đưa Bản về quê, để ra mắt bố mẹ, anh chị em. Cũng may mà Yến chưa nhắn tin chính thức về gia đình. Nghe chừng thấy cơn hờn ghen của bạn gái chưa nguôi, Bản ngon ngọt: - Thế bây giờ em phạt thế nào anh cũng chấp nhận. Nhưng giận mãi thế này thì anh không thể chịu nổi. Yến vội nhoẻn cười rồi nói: - Đấy là anh nói đấy nhé! Chịu phạt không? - Ừ em tuyên bố đi. Yến tinh nghịch nói vui: - Tuần này về quê. Tới cổng làng là anh phải cõng em về tới tận nhà để gặp bố mẹ nhé. Bản đỏ dừ hai má, ấp úng không biết trả lời thế nào. Nhưng xem chừng, cô ta kiên quyết lắm đấy, trong lòng Bản cũng có vẻ chấp nhận. Nếu phải cõng Yến thật thì sợ gì cơ chứ. Mình cõng vợ tương lai của mình có gì đáng xấu hổ nào. Đúng là cái triết lý của anh chàng cả nể. Không hiểu có phải đúng như thế không mà Bản gật đầu đồng ý liền. Suốt cả tuần, Yến cứ phì cười mỗi khi tưởng tượng ra anh chàng cận lòi mắt kia phải cõng mình suốt đường làng. Nói đùa thế mà anh ta cũng tưởng thật. Đúng là anh chàng cả nể. May mà không phải con gái./.
Mục lục
Anh chàng cả nể
Anh chàng cả nể
Vương TâmChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: Báo CANDĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 6 tháng 7 năm 2006
|
Như Quỳnh Phùng
ANH CHỈ GIẢ VỜ GIẬN EM THÔI NHÓC Ạ!
A
i cũng cho rằng anh và nó thật khó để hòa hợp, một người khá ít nói, lạnh lùng, không bao giờ thể hiện cảm xúc và cũng không bao giờ người khác biết anh nghĩ gì. Còn nó, một đứa lúc nào cũng nhí nhảnh như con nít, tính nó hơi bốc đồng, muốn làm việc gì là phải cố sống cố chết để làm bằng được, đôi khi nó còn thiếu suy nghĩ và chẳng cần biết những hành động của nó sẽ gây ra hậu quả gì. Thế mà anh và nó lại yêu nhau, lũ bạn quay ra bảo: đúng là một đôi bù trừ cho nhau quá hợp lí. Nó cười nhìn anh hạnh phúc, có lẽ, nó yêu anh vì anh là anh, vì anh cứ nghiêm nghị, cứ lạnh lùng thế, cứ chẳng bao giờ đồng ý với bất cứ việc gì nó làm… Nó sống vui vẻ với những điều giản dị, nó luôn đem đến cho người đối diện là nụ cười. Nó luôn biết cách làm cho người khác cảm thấy lạc quan và yêu đời hơn, nhưng nó, cũng luôn biết cách…phá hoại một cái gì đó hay là gây ra những hậu quả khó lường. Anh bận rộn với hàng đống công việc, nó rong chơi và lang thang cả ngày không biết chán, nó có thừa thời gian để than vãn chán nản với anh, có thừa thời gian để bày ra hết trò này đến trò nọ trêu chọc anh. Nhưng tất cả đề giống như mọi lần anh đều nói một câu giống y hệt “em làm sai rổi đấy, học cách xin lỗi đi”. Nó khóc, biết bao lần anh làm cho nó khóc. Anh nói xong câu ấy rồi quay đi lạnh lùng, thậm chí một cái ôm cũng không hề có. Anh lúc nào cũng giữ vẻ mặt nghiêm nghị, đôi khi nó thấy anh giống một pho tượng im lìm khó hiểu, và muốn khám phá được bên trong pho tượng đối với nó nhiều khi thật là khó khăn. Nó thích nhắn tin, còn anh chỉ thích gọi điện nói vài câu cho nhanh, nó thích nhắn tin bởi như thế tình cảm và mới đúng là những người yêu nhau hơn. Nhưng anh không thích nhắn tin, bởi anh lúc nào cũng bận rộn. Nhiều lúc nó hụt hẫng khi ngồi cẩn thận soạn tin nhắn cho anh những lời lẽ yêu thương, nhưng nó đợi mãi chẳng thấy tin nhắn trả lời hay nếu có cũng chỉ là những dòng cụt lủn “ok” hay “uhm”. Có lẽ điểm khác biệt quá lớn là nó quá nhõng nhẽo và yêu sách, còn anh lúc nào cũng nghiêm nghị và cứng rắn. Bạn bè nó thích tụ tập vào cuối tuần, lúc nào chúng cũng tha lôi theo người yêu đi cùng. Còn nó, lúc nào cũng lẻ loi đi một mình, nó buồn. Lũ bạn hỏi lúc nào nó cũng phải nói đỡ rằng anh đang bận này bận nọ, thật sự thì anh chẳng thích đi cùng với nó đến những chỗ như thế. Anh không thích ồn ào, anh nói là anh không đến để cho nó và đám bạn cảm thấy thoải mái hơn. Nhưng cái suy nghĩ ấy của anh sai lè, nó tin rằng, nếu có anh, nó sẽ vui hơn, vui hơn rất nhiều. Nó ghét anh lúc nào cũng bận rộn, nó ghét anh lúc nào cũng hờ hững với nó, và nó còn ghét anh sao mà lúc nào cũng coi nó như đứa trẻ con. Nhưng nó biết, anh yêu nó, tình yêu của anh thật lạ, và tình yêu ấy làm cho nó chếnh choáng… Sinh nhật đứa bạn của nó, bạn nó gọi điện mời anh đến, nó hồi hộp, không biết là anh có đến hay không? Và rồi, anh đến, anh không đón nó, nó đi cùng bạn. Nhưng nó cũng cảm thấy vui vì cuối cùng anh cũng không làm nó thất vọng. Nhưng anh đến mang theo quà, ngồi một lúc rồi đứng dậy xin phép ra về, rất hờ hững quay ra bảo nó “em ở lại chơi với bạn nhé, anh bận phải về trước”. Nó không biết phải nói với anh như thế nào, nó đã mặc thật đẹp để tối nay khi anh đến sẽ nhìn thấy nó thật lộng lẫy, nhưng anh cũng chẳng đưa mắt nhìn nó một lần. Nó uống thật nhiều rượu, nó còn không biết nó đã uống bao nhiêu rượu nữa, đầu óc nó chếnh choáng, choán cả tâm trí của nó là hình ảnh của anh. Tại sao nó lại yêu người như anh chứ, tại sao lúc nào anh cũng hững hờ? Nó chẳng thể nào trả lời được câu hỏi ấy, nó chỉ biết men say đang ngấm dần, và tất cả xung quanh nó mờ nhòe, trở thành ảo ảnh…. …… Nó tỉnh dậy, đầu đau như búa bổ. Hai con bạn nó cũng vẫn chưa tỉnh, mùi rượu nồng nặc, nó cảm thấy khó chịu, cổ họng như bị cào xé và bụng nó đau dữ dội có lẽ vì rượu khá mạnh. Nó nhìn điện thoại, đã là 10h sáng. Anh nhắn tin hỏi xem nó đã tỉnh chưa. Trong trí nhớ, nó lờ mờ nhớ ra, hình như người đưa nó từ bữa tiệc sinh nhật chính là anh.Nó nhớ ra trên quãng đường anh đưa nó về, nó đã lải nhải bao nhiêu điều, nó đã trách móc anh, nó đã nói thẳng ra anh thật xấu xa khi từng ngày qua cứ hờ hững với tình yêu của nó. Tự dưng khi nhớ ra mọi điều, nó cảm thấy thật xấu hổ, vì anh đã nhìn thấy nó trong bộ dạng ấy và nó đã nói bao điều không nên nói nữa. Nó lại gây thêm chuyện một lần nữa.... - Em đỡ mệt chưa? - Em…vẫn còn mệt, đầu rất đau, cổ họng, bụng nữa. Nó ấp úng kể lể. - Đã không biết uống rượu rồi còn uống nhiều như thế. - Em… - Người say rượu không bao giờ biết kiểm soát được hành động của mình, lần sau đừng có như thế nữa ! - Anh !!! anh không thèm quan tâm tại sao em lại như thế, anh chỉ biết trách mắng em thôi, anh thôi đi ! - Em trẻ con lắm, chẳng suy nghĩ trước khi làm bất cứ việc gì cả. Lần này anh giận đấy, em hãy tự suy nghĩ xem như thế đúng hay sai. Anh cúp máy, nó biết nói gì hơn, mặc dù nó biết nó sai, nhưng chẳng lẽ anh không hề bao dung hơn cho nó hay sao, anh không dành cho nó một sự quan tâm thay vì trách mắng nó. Mà lí do nó trở nên như thế là bởi anh, anh mới là người đáng trách… Nó khóc, nước mắt có vị mặn chát, nó đau, trái tim nó đau đớn vì anh. Mọi thứ xung quanh mờ nhòe, vụn vỡ. Anh chưa bao giờ dành cho nó một vị trí đúng như là người yêu, liệu nó có thể tiếp tục được nữa không? Không, nó không thể, nó cảm thấy mệt mỏi. Tình yêu và nước mắt, thứ nào có vị xót xa hơn? ….. ….. ….. Nó nói chia tay anh. Cứng rắn, không chút đau đớn trong lời nói. Anh đứng nhìn nó, nó quay đi, nước mắt lại chảy xuống mặt. Anh không đuổi theo nó… Một ngày, hai ngày, ba ngày….Anh vẫn không liên lạc với nó. Ba ngày, bốn ngày….một tuần trôi đi. Điện thoại của nó vẫn không thấy nhạc chuông quen thuộc rung lên. Nó muốn gặp anh, nó muốn nói với anh rằng nó nhớ anh, rất nhiều. Nó biết nó đã sai. Giờ đây, không có ai nhắc nó ăn uống, cũng chẳng có ai đủ kiên nhẫn ngồi lắng nghe những câu chuyện ẩm ương của nó và cũng chẳng một vòng tay thật chặt,một bờ vai thật vững chắc mỗi khi nó mỏi mệt. Hôm nay là sinh nhật anh.Mưa, mưa to,nó đi dưới mưa, mặc kệ nước mưa xối xả. Bước chân nó tự tìm đến nơi quen thuộc, nó nhìn mọi thứ xung quanh. Nó nhớ anh biết bao nhiêu…Nó đã sai thật rồi, nó đã làm bao nhiêu chuyện sai, bao nhiêu chuyện ngốc nghếch nhưng anh đều tha thứ cho nó. Nhưng lần này, có lẽ…Nó sợ lời chia tay… - Xem có ai ngốc như em không? Đi dưới mưa mà chẳng đem theo ô. - Anh…giọng nó run run. - Anh xin lỗi, anh sai rồi. Nó ôm lấy anh, nó khóc, nước mắt vì uất ức, nước mắt vì hạnh phúc. Nó đã nhớ anh biết bao nhiêu. Nó muốn biết anh có còn giận nó nữa không. Nó muốn biết mọi thứ lâu nay nó vẫn thắc mắc… “Anh muốn nói cho em biết rằng, anh yêu em. Nhưng đôi khi anh sợ, anh phải tự nghiêm khắc với em, vì anh muốn em có bản lĩnh hơn và biết suy nghĩ hơn. Anh sợ nếu anh cũng nhu nhược thì tình yêu của chúng ta sẽ mong manh. Đừng khóc nữa nào, anh chỉ giả vờ giận em thôi cưng à” Và một lần nữa, nó biết,tình yêu và nước mắt còn có những dư vị khác. Nó cười, lấp lánh hạnh phúc.
Mục lục
ANH CHỈ GIẢ VỜ GIẬN EM THÔI NHÓC Ạ!
ANH CHỈ GIẢ VỜ GIẬN EM THÔI NHÓC Ạ!
Như Quỳnh PhùngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả/Diễn Đàn vnthuquanĐược bạn: NgụyXưa đưa lên vào ngày: 11 tháng 1 năm 2011
|
Như Quỳnh Phùng
ANH CHỈ GIẢ VỜ GIẬN EM THÔI NHÓC Ạ!
A
i cũng cho rằng anh và nó thật khó để hòa hợp, một người khá ít nói, lạnh lùng, không bao giờ thể hiện cảm xúc và cũng không bao giờ người khác biết anh nghĩ gì. Còn nó, một đứa lúc nào cũng nhí nhảnh như con nít, tính nó hơi bốc đồng, muốn làm việc gì là phải cố sống cố chết để làm bằng được, đôi khi nó còn thiếu suy nghĩ và chẳng cần biết những hành động của nó sẽ gây ra hậu quả gì. Thế mà anh và nó lại yêu nhau, lũ bạn quay ra bảo: đúng là một đôi bù trừ cho nhau quá hợp lí. Nó cười nhìn anh hạnh phúc, có lẽ, nó yêu anh vì anh là anh, vì anh cứ nghiêm nghị, cứ lạnh lùng thế, cứ chẳng bao giờ đồng ý với bất cứ việc gì nó làm… Nó sống vui vẻ với những điều giản dị, nó luôn đem đến cho người đối diện là nụ cười. Nó luôn biết cách làm cho người khác cảm thấy lạc quan và yêu đời hơn, nhưng nó, cũng luôn biết cách…phá hoại một cái gì đó hay là gây ra những hậu quả khó lường. Anh bận rộn với hàng đống công việc, nó rong chơi và lang thang cả ngày không biết chán, nó có thừa thời gian để than vãn chán nản với anh, có thừa thời gian để bày ra hết trò này đến trò nọ trêu chọc anh. Nhưng tất cả đề giống như mọi lần anh đều nói một câu giống y hệt “em làm sai rổi đấy, học cách xin lỗi đi”. Nó khóc, biết bao lần anh làm cho nó khóc. Anh nói xong câu ấy rồi quay đi lạnh lùng, thậm chí một cái ôm cũng không hề có. Anh lúc nào cũng giữ vẻ mặt nghiêm nghị, đôi khi nó thấy anh giống một pho tượng im lìm khó hiểu, và muốn khám phá được bên trong pho tượng đối với nó nhiều khi thật là khó khăn. Nó thích nhắn tin, còn anh chỉ thích gọi điện nói vài câu cho nhanh, nó thích nhắn tin bởi như thế tình cảm và mới đúng là những người yêu nhau hơn. Nhưng anh không thích nhắn tin, bởi anh lúc nào cũng bận rộn. Nhiều lúc nó hụt hẫng khi ngồi cẩn thận soạn tin nhắn cho anh những lời lẽ yêu thương, nhưng nó đợi mãi chẳng thấy tin nhắn trả lời hay nếu có cũng chỉ là những dòng cụt lủn “ok” hay “uhm”. Có lẽ điểm khác biệt quá lớn là nó quá nhõng nhẽo và yêu sách, còn anh lúc nào cũng nghiêm nghị và cứng rắn. Bạn bè nó thích tụ tập vào cuối tuần, lúc nào chúng cũng tha lôi theo người yêu đi cùng. Còn nó, lúc nào cũng lẻ loi đi một mình, nó buồn. Lũ bạn hỏi lúc nào nó cũng phải nói đỡ rằng anh đang bận này bận nọ, thật sự thì anh chẳng thích đi cùng với nó đến những chỗ như thế. Anh không thích ồn ào, anh nói là anh không đến để cho nó và đám bạn cảm thấy thoải mái hơn. Nhưng cái suy nghĩ ấy của anh sai lè, nó tin rằng, nếu có anh, nó sẽ vui hơn, vui hơn rất nhiều. Nó ghét anh lúc nào cũng bận rộn, nó ghét anh lúc nào cũng hờ hững với nó, và nó còn ghét anh sao mà lúc nào cũng coi nó như đứa trẻ con. Nhưng nó biết, anh yêu nó, tình yêu của anh thật lạ, và tình yêu ấy làm cho nó chếnh choáng… Sinh nhật đứa bạn của nó, bạn nó gọi điện mời anh đến, nó hồi hộp, không biết là anh có đến hay không? Và rồi, anh đến, anh không đón nó, nó đi cùng bạn. Nhưng nó cũng cảm thấy vui vì cuối cùng anh cũng không làm nó thất vọng. Nhưng anh đến mang theo quà, ngồi một lúc rồi đứng dậy xin phép ra về, rất hờ hững quay ra bảo nó “em ở lại chơi với bạn nhé, anh bận phải về trước”. Nó không biết phải nói với anh như thế nào, nó đã mặc thật đẹp để tối nay khi anh đến sẽ nhìn thấy nó thật lộng lẫy, nhưng anh cũng chẳng đưa mắt nhìn nó một lần. Nó uống thật nhiều rượu, nó còn không biết nó đã uống bao nhiêu rượu nữa, đầu óc nó chếnh choáng, choán cả tâm trí của nó là hình ảnh của anh. Tại sao nó lại yêu người như anh chứ, tại sao lúc nào anh cũng hững hờ? Nó chẳng thể nào trả lời được câu hỏi ấy, nó chỉ biết men say đang ngấm dần, và tất cả xung quanh nó mờ nhòe, trở thành ảo ảnh…. …… Nó tỉnh dậy, đầu đau như búa bổ. Hai con bạn nó cũng vẫn chưa tỉnh, mùi rượu nồng nặc, nó cảm thấy khó chịu, cổ họng như bị cào xé và bụng nó đau dữ dội có lẽ vì rượu khá mạnh. Nó nhìn điện thoại, đã là 10h sáng. Anh nhắn tin hỏi xem nó đã tỉnh chưa. Trong trí nhớ, nó lờ mờ nhớ ra, hình như người đưa nó từ bữa tiệc sinh nhật chính là anh.Nó nhớ ra trên quãng đường anh đưa nó về, nó đã lải nhải bao nhiêu điều, nó đã trách móc anh, nó đã nói thẳng ra anh thật xấu xa khi từng ngày qua cứ hờ hững với tình yêu của nó. Tự dưng khi nhớ ra mọi điều, nó cảm thấy thật xấu hổ, vì anh đã nhìn thấy nó trong bộ dạng ấy và nó đã nói bao điều không nên nói nữa. Nó lại gây thêm chuyện một lần nữa.... - Em đỡ mệt chưa? - Em…vẫn còn mệt, đầu rất đau, cổ họng, bụng nữa. Nó ấp úng kể lể. - Đã không biết uống rượu rồi còn uống nhiều như thế. - Em… - Người say rượu không bao giờ biết kiểm soát được hành động của mình, lần sau đừng có như thế nữa ! - Anh !!! anh không thèm quan tâm tại sao em lại như thế, anh chỉ biết trách mắng em thôi, anh thôi đi ! - Em trẻ con lắm, chẳng suy nghĩ trước khi làm bất cứ việc gì cả. Lần này anh giận đấy, em hãy tự suy nghĩ xem như thế đúng hay sai. Anh cúp máy, nó biết nói gì hơn, mặc dù nó biết nó sai, nhưng chẳng lẽ anh không hề bao dung hơn cho nó hay sao, anh không dành cho nó một sự quan tâm thay vì trách mắng nó. Mà lí do nó trở nên như thế là bởi anh, anh mới là người đáng trách… Nó khóc, nước mắt có vị mặn chát, nó đau, trái tim nó đau đớn vì anh. Mọi thứ xung quanh mờ nhòe, vụn vỡ. Anh chưa bao giờ dành cho nó một vị trí đúng như là người yêu, liệu nó có thể tiếp tục được nữa không? Không, nó không thể, nó cảm thấy mệt mỏi. Tình yêu và nước mắt, thứ nào có vị xót xa hơn? ….. ….. ….. Nó nói chia tay anh. Cứng rắn, không chút đau đớn trong lời nói. Anh đứng nhìn nó, nó quay đi, nước mắt lại chảy xuống mặt. Anh không đuổi theo nó… Một ngày, hai ngày, ba ngày….Anh vẫn không liên lạc với nó. Ba ngày, bốn ngày….một tuần trôi đi. Điện thoại của nó vẫn không thấy nhạc chuông quen thuộc rung lên. Nó muốn gặp anh, nó muốn nói với anh rằng nó nhớ anh, rất nhiều. Nó biết nó đã sai. Giờ đây, không có ai nhắc nó ăn uống, cũng chẳng có ai đủ kiên nhẫn ngồi lắng nghe những câu chuyện ẩm ương của nó và cũng chẳng một vòng tay thật chặt,một bờ vai thật vững chắc mỗi khi nó mỏi mệt. Hôm nay là sinh nhật anh.Mưa, mưa to,nó đi dưới mưa, mặc kệ nước mưa xối xả. Bước chân nó tự tìm đến nơi quen thuộc, nó nhìn mọi thứ xung quanh. Nó nhớ anh biết bao nhiêu…Nó đã sai thật rồi, nó đã làm bao nhiêu chuyện sai, bao nhiêu chuyện ngốc nghếch nhưng anh đều tha thứ cho nó. Nhưng lần này, có lẽ…Nó sợ lời chia tay… - Xem có ai ngốc như em không? Đi dưới mưa mà chẳng đem theo ô. - Anh…giọng nó run run. - Anh xin lỗi, anh sai rồi. Nó ôm lấy anh, nó khóc, nước mắt vì uất ức, nước mắt vì hạnh phúc. Nó đã nhớ anh biết bao nhiêu. Nó muốn biết anh có còn giận nó nữa không. Nó muốn biết mọi thứ lâu nay nó vẫn thắc mắc… “Anh muốn nói cho em biết rằng, anh yêu em. Nhưng đôi khi anh sợ, anh phải tự nghiêm khắc với em, vì anh muốn em có bản lĩnh hơn và biết suy nghĩ hơn. Anh sợ nếu anh cũng nhu nhược thì tình yêu của chúng ta sẽ mong manh. Đừng khóc nữa nào, anh chỉ giả vờ giận em thôi cưng à” Và một lần nữa, nó biết,tình yêu và nước mắt còn có những dư vị khác. Nó cười, lấp lánh hạnh phúc.
Mục lục
ANH CHỈ GIẢ VỜ GIẬN EM THÔI NHÓC Ạ!
ANH CHỈ GIẢ VỜ GIẬN EM THÔI NHÓC Ạ!
Như Quỳnh PhùngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả/Diễn Đàn vnthuquanĐược bạn: NgụyXưa đưa lên vào ngày: 11 tháng 1 năm 2011
|
Phan Thị Tần
Anh chỉ nhớ em thôi
Nguyên thường có cái thú là ngồi trước màn ảnh truyền hình để xem chương trình thời sự. Chẳng phải anh muốn có thêm kiến thức về tình hình trong tỉnh tuần qua đâu, mà bởi vì trong chương trình thời sự mỗi đêm, người phát thanh viên chẳng ai khác hơn chính là Quy. Thật là thú vị khi có người yêu xuất hiện trên ti vi hàng đêm để ngắm nhìn. Rồi chẳng bao lâu khi Quy trở thành "bà xã của ông Nguyên", Nguyên vẫn không bỏ thói quen ngắm nhìn vợ mình qua màn ảnh nhỏ như thế. Nghề nghiệp của hai người hoàn toàn không giống nhau. Quy tốt nghiệp đại học kinh tế, nhưng có bao nhiêu người có bằng cử nhân kinh tế nên Quy đành phải ở nhà, mỗi buổi sáng ra phụ bán cho shop quần áo của mẹ. Cho đến khi đài truyền hình thi tuyển phát thanh viên, Quy cũng nộp đơn cầu may, nhưng kết quả cuối cùng là đài chỉ tuyển có ba người mà Quy thì đứng... thứ tư. Mặc dù đậu vớt, vận may lại đến với Quy vì có một cô trong tốp ba người nhờ đoạt giải giọng hát hay trên sóng phát thanh truyền hình nên đã xin nghỉ việc để vào TPHCM tìm cơ hội. Thế là Quy có việc làm. Sau này ông Giám đốc vẫn gật gù cái đầu khi nói chuyện với Quy: "Chú không ngờ cháu lại là phát thanh viên giỏi. Suýt tí nữa thì một tài năng bị thất nghiệp". Quy chỉ cười, mỗi lần Quy cười thì hai hạt gạo ở hai bên má cứ rung rung khiến cho khối chàng trai phải ngẩn ngơ. Hôm chính thức trở thành phát thanh viên, Quy đã mời Nguyên đi ăn nhà hàng. Ðó là ngoại lệ, bởi vì từ ngày quen nhau, do phải góp nhặt tiền bạc để làm đám cưới, cả hai chỉ rủ nhau đi ăn vỉa hè. Bà bán thịt vịt ở Cầu Dứa đều quen mặt hai người. Khi thấy họ xuất hiện, ngay tức khắc bà đem ra một đĩa tiết canh, một cái đùi luộc, cổ đầu vịt và một chai bia Sài Gòn, có khi hai người chán ăn thịt vịt, lại chở nhau đến tận quán nhỏ dựa theo dòng sông Cái, kêu nửa con gà luộc. Quen Quy, dần dần Nguyên trở nên nghe lời Quy giống như một cậu học trò luôn luôn tin tưởng tuyệt đối vào những bài giảng của cô giáo. Việc mỗi đêm Quy xuất hiện trên màn ảnh nhỏ đã khiến cho Nguyên "yên bụng" vì chẳng có anh chàng nào "mắt liếc ngược liếc xuôi" tán tỉnh Quy. Lễ cưới được tổ chức sau hai tháng Quy về đài phát thanh truyền hình. Dáng Quy nhỏ xíu, khi mặc áo dài Quy thật mảnh khảnh và trông yếu đuối làm sao. Thời đi học, Quy được bầu làm lớp trưởng, những cậu học trò cùng lớp đã tặng cho Quy một cái tên rất ư là học trò: "Bà lớp trưởng". Mặc dù là con gái, nhưng do bản tính năng động nên bọn con trai trong lớp đều e dè Quy. Quy mang tính cách của một người chỉ huy từ thuở đi học về làm vợ Nguyên. Yêu thương vợ, Nguyên gần như chấp nhận những điều kiện mà Quy đưa ra. - Anh không được tiêu xài không có kế hoạch. Tiền bạc thời buổi này cần phải chắt chiu để mua một căn nhà. Nguyên chống chế: - Nhưng nhà của bố mẹ cho mình mà. Trước sau thì nó cũng thuộc về mình. Mình mua nhà làm gì nữa? Mỗi lần Nguyên phản đối một điều gì, Quy luôn luôn trả lời: - Em nói anh có nghe không? Những cuộc nhậu thời độc thân dần lui vào quá khứ từ ngày có Quy. Bạn bè gọi điện, Quy trả lời rất nhỏ nhẹ: "Em có cấm anh điều gì đâu. Ðó là sự tự nguyện mà". Chiếc điện thoại di động không còn là phương tiện liên lạc hữu ích của thời đại thông tin bùng nổ nữa. Nó trở thành công cụ kiểm soát chồng. Việc ngồi trước ti vi xem vợ lúc đầu là thú vị, khi hết giờ làm việc ở đài, Nguyên mới chở vợ về. Quy rất vu vơ: "Em mặc chiếc áo màu xanh lên ti vi có đẹp không anh?". "Ðố anh biết hôm nay em tô son màu gì?". Ðời sống là những hẹn hò cuống quýt, còn là sự hoàn thiện của cho và nhận. Với Nguyên, anh từng hứa với Quy khi có được Quy bên cạnh cuộc đời mình, Nguyên sẵn sàng nghe theo lời Quy. Anh đã hứa như thế trong một buổi chiều mát mẻ, khi hai người dạo chơi ở ngoại ô, không gian là những đồng lúa đang lên xanh, gió cứ thổi, gợi cho những vạt lúa lao xao như sóng. Sống với nhau rồi quen. Bạn bè kháo nhau: "Thôi đừng có rủ thằng Nguyên đi nhậu nữa, bà chằng Nguyên biết được thì nó ra hè nhà mà ngủ", có người còn đùa cợt với Nguyên: "Này, bà xã của mày làm gì mà mày sợ dữ vậy?". Lúc đầu là đùa, nghe xong cười, bỏ qua. Nguyên còn chống chế: "Tao sợ vợ tao chứ tao sợ vợ mày sao mà nhiều chuyện quá vậy?". Rồi Nguyên bỗng ngạc nhiên, là một tên đàn ông to lớn như mình tại sao bỗng dưng lại sợ một người đàn bà nhỏ xíu như thế? Quả thật cuộc sống là những điều tưởng chừng như vô lý mà thực ra lại có lý. Thời gian trôi biệt giống như những cơn mưa qua, rồi tạnh. Lớp trẻ lớn lên, chúng lại thế chỗ của lớp trước. Trong đài truyền hình của Quy cũng vậy, vừa có thêm một số bạn trẻ tuyển vào để làm phát thanh viên. Quy về nói với Nguyên: - Em sắp được đi Ðà Nẵng học khoá biên tập ba tháng. Anh có mừng không? Nguyên nói đùa: Mừng. - Ừ, không mừng sao được khi mà bạn bè rủ đi nhậu không bị vợ ngăn cản. Hàng đêm không phải ngồi trước ti vi để xem vợ mình nói năng. Chưa hết, rồi mặc sức quăng quần áo tứ tung trong nhà, ngủ không chịu đánh răng, sáng không chịu chải đầu. Anh có ba tháng tự do đó. Sướng chưa? Chuyến xe lửa đêm dừng lại 10 phút. Tay Nguyên vẫy trong bóng đêm Quy không nhìn thấy. Những ngọn đèn đường ngả màu vàng chiếu rọi khiến cho con đường có chút gì đó như một bài thơ. Ba năm sống bên nhau, chưa bao giờ hai vợ chồng xa nhau một bước, chưa bao giờ Nguyên làm điều gì trái ý vợ. Giờ đây anh chỉ có một mình trong lòng thành phố như anh đã từng ao ước là lúc nào đó mình sẽ thật tự do như con chim. Nguyên sẽ không sợ Quy nhăn nhó khi chiếc đồng hồ đã chỉ đúng 9 giờ tối mà anh chưa về, bởi mâm cơm chỉ được dọn ra khi chỉ có hai người. Còn nếu hôm nào Quy trực đêm trên đài, thì bữa cơm lại sớm hơn thường lệ. Nguyên không về nhà vội. Bởi đâu có ai nhắc nhở sự trở về của anh đâu? Ðêm đã đưa Quy đi xa, Quy còn đi xa ba tháng xa lắc nữa kia mà. Quán lẩu nằm nép mình dưới tán cây me lớn. Chủ quán đã chọn cho quán một cái tên cũng rất dễ thương: "Quán cây me". Những Ngạn, Tuy, Hà... đủ những thằng bạn nhậu đều có mặt. Tiếng cười vui ầm ĩ: - Hôm nay thằng Nguyên phải say. Say cho bõ những ngày sợ vợ. Say cho những ngày bị cấm uống. Nguyên uống. Nhưng thói quen uống bia cho say đã mất. Anh nhận ra chốn này không phải chốn của mình. Say để làm gì? Trước mặt anh là những gương mặt đỏ gay vì rượu. Nguyên nói: - Thôi! Tao về. - Vợ mày có nhà đâu mà về? Căn nhà thiếu bóng đàn bà rộng thênh thang. Trên chiếc bàn nhỏ đầu giường là tấm giấy Quy ghi chi tiết những điều Nguyên cần nhớ: "Em đã đặt cơm tháng cho anh. Quần áo dơ, nhà sẽ do chị Kim bên cạnh qua phụ giúp. Anh cứ coi như còn độc thân. Khi nào nhớ em thì anh gọi điện kẻo người ta gọi anh là ông chồng sợ vợ". Anh phì cười. Không biết chiếc điện thoại di động Quy mang theo bên người có mở máy không? Và không biết tàu có vào khu vực có sóng điện thoại? Nguyên nhấn đại vào những con số. Tiếng Quy bên kia: "Làm gì khuya khoắt mà anh gọi điện cho em, bộ anh sợ em kiểm tra hả... ông sợ vợ". Nguyên thì thào trong máy, tiếng anh theo gió đến tận toa tàu của Quy: "Anh đâu có sợ em, anh chỉ nhớ em thôi. Mới có một buổi mà anh buồn quá. Anh đi Ðà Nẵng vào tuần sau nhé". Tiếng Quy cười ròn tan: "Không khéo mấy ông bạn của anh lại nói em bắt anh đi Ðà Nẵng như bắt anh ngồi trước ti vi...".
Mục lục
Anh chỉ nhớ em thôi
Anh chỉ nhớ em thôi
Phan Thị TầnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy : Nguyễn Đình Nguồn: Nguyễn ĐìnhĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 17 tháng 5 năm 2005
|
Phan Thị Tần
Anh chỉ nhớ em thôi
Nguyên thường có cái thú là ngồi trước màn ảnh truyền hình để xem chương trình thời sự. Chẳng phải anh muốn có thêm kiến thức về tình hình trong tỉnh tuần qua đâu, mà bởi vì trong chương trình thời sự mỗi đêm, người phát thanh viên chẳng ai khác hơn chính là Quy. Thật là thú vị khi có người yêu xuất hiện trên ti vi hàng đêm để ngắm nhìn. Rồi chẳng bao lâu khi Quy trở thành "bà xã của ông Nguyên", Nguyên vẫn không bỏ thói quen ngắm nhìn vợ mình qua màn ảnh nhỏ như thế. Nghề nghiệp của hai người hoàn toàn không giống nhau. Quy tốt nghiệp đại học kinh tế, nhưng có bao nhiêu người có bằng cử nhân kinh tế nên Quy đành phải ở nhà, mỗi buổi sáng ra phụ bán cho shop quần áo của mẹ. Cho đến khi đài truyền hình thi tuyển phát thanh viên, Quy cũng nộp đơn cầu may, nhưng kết quả cuối cùng là đài chỉ tuyển có ba người mà Quy thì đứng... thứ tư. Mặc dù đậu vớt, vận may lại đến với Quy vì có một cô trong tốp ba người nhờ đoạt giải giọng hát hay trên sóng phát thanh truyền hình nên đã xin nghỉ việc để vào TPHCM tìm cơ hội. Thế là Quy có việc làm. Sau này ông Giám đốc vẫn gật gù cái đầu khi nói chuyện với Quy: "Chú không ngờ cháu lại là phát thanh viên giỏi. Suýt tí nữa thì một tài năng bị thất nghiệp". Quy chỉ cười, mỗi lần Quy cười thì hai hạt gạo ở hai bên má cứ rung rung khiến cho khối chàng trai phải ngẩn ngơ. Hôm chính thức trở thành phát thanh viên, Quy đã mời Nguyên đi ăn nhà hàng. Ðó là ngoại lệ, bởi vì từ ngày quen nhau, do phải góp nhặt tiền bạc để làm đám cưới, cả hai chỉ rủ nhau đi ăn vỉa hè. Bà bán thịt vịt ở Cầu Dứa đều quen mặt hai người. Khi thấy họ xuất hiện, ngay tức khắc bà đem ra một đĩa tiết canh, một cái đùi luộc, cổ đầu vịt và một chai bia Sài Gòn, có khi hai người chán ăn thịt vịt, lại chở nhau đến tận quán nhỏ dựa theo dòng sông Cái, kêu nửa con gà luộc. Quen Quy, dần dần Nguyên trở nên nghe lời Quy giống như một cậu học trò luôn luôn tin tưởng tuyệt đối vào những bài giảng của cô giáo. Việc mỗi đêm Quy xuất hiện trên màn ảnh nhỏ đã khiến cho Nguyên "yên bụng" vì chẳng có anh chàng nào "mắt liếc ngược liếc xuôi" tán tỉnh Quy. Lễ cưới được tổ chức sau hai tháng Quy về đài phát thanh truyền hình. Dáng Quy nhỏ xíu, khi mặc áo dài Quy thật mảnh khảnh và trông yếu đuối làm sao. Thời đi học, Quy được bầu làm lớp trưởng, những cậu học trò cùng lớp đã tặng cho Quy một cái tên rất ư là học trò: "Bà lớp trưởng". Mặc dù là con gái, nhưng do bản tính năng động nên bọn con trai trong lớp đều e dè Quy. Quy mang tính cách của một người chỉ huy từ thuở đi học về làm vợ Nguyên. Yêu thương vợ, Nguyên gần như chấp nhận những điều kiện mà Quy đưa ra. - Anh không được tiêu xài không có kế hoạch. Tiền bạc thời buổi này cần phải chắt chiu để mua một căn nhà. Nguyên chống chế: - Nhưng nhà của bố mẹ cho mình mà. Trước sau thì nó cũng thuộc về mình. Mình mua nhà làm gì nữa? Mỗi lần Nguyên phản đối một điều gì, Quy luôn luôn trả lời: - Em nói anh có nghe không? Những cuộc nhậu thời độc thân dần lui vào quá khứ từ ngày có Quy. Bạn bè gọi điện, Quy trả lời rất nhỏ nhẹ: "Em có cấm anh điều gì đâu. Ðó là sự tự nguyện mà". Chiếc điện thoại di động không còn là phương tiện liên lạc hữu ích của thời đại thông tin bùng nổ nữa. Nó trở thành công cụ kiểm soát chồng. Việc ngồi trước ti vi xem vợ lúc đầu là thú vị, khi hết giờ làm việc ở đài, Nguyên mới chở vợ về. Quy rất vu vơ: "Em mặc chiếc áo màu xanh lên ti vi có đẹp không anh?". "Ðố anh biết hôm nay em tô son màu gì?". Ðời sống là những hẹn hò cuống quýt, còn là sự hoàn thiện của cho và nhận. Với Nguyên, anh từng hứa với Quy khi có được Quy bên cạnh cuộc đời mình, Nguyên sẵn sàng nghe theo lời Quy. Anh đã hứa như thế trong một buổi chiều mát mẻ, khi hai người dạo chơi ở ngoại ô, không gian là những đồng lúa đang lên xanh, gió cứ thổi, gợi cho những vạt lúa lao xao như sóng. Sống với nhau rồi quen. Bạn bè kháo nhau: "Thôi đừng có rủ thằng Nguyên đi nhậu nữa, bà chằng Nguyên biết được thì nó ra hè nhà mà ngủ", có người còn đùa cợt với Nguyên: "Này, bà xã của mày làm gì mà mày sợ dữ vậy?". Lúc đầu là đùa, nghe xong cười, bỏ qua. Nguyên còn chống chế: "Tao sợ vợ tao chứ tao sợ vợ mày sao mà nhiều chuyện quá vậy?". Rồi Nguyên bỗng ngạc nhiên, là một tên đàn ông to lớn như mình tại sao bỗng dưng lại sợ một người đàn bà nhỏ xíu như thế? Quả thật cuộc sống là những điều tưởng chừng như vô lý mà thực ra lại có lý. Thời gian trôi biệt giống như những cơn mưa qua, rồi tạnh. Lớp trẻ lớn lên, chúng lại thế chỗ của lớp trước. Trong đài truyền hình của Quy cũng vậy, vừa có thêm một số bạn trẻ tuyển vào để làm phát thanh viên. Quy về nói với Nguyên: - Em sắp được đi Ðà Nẵng học khoá biên tập ba tháng. Anh có mừng không? Nguyên nói đùa: Mừng. - Ừ, không mừng sao được khi mà bạn bè rủ đi nhậu không bị vợ ngăn cản. Hàng đêm không phải ngồi trước ti vi để xem vợ mình nói năng. Chưa hết, rồi mặc sức quăng quần áo tứ tung trong nhà, ngủ không chịu đánh răng, sáng không chịu chải đầu. Anh có ba tháng tự do đó. Sướng chưa? Chuyến xe lửa đêm dừng lại 10 phút. Tay Nguyên vẫy trong bóng đêm Quy không nhìn thấy. Những ngọn đèn đường ngả màu vàng chiếu rọi khiến cho con đường có chút gì đó như một bài thơ. Ba năm sống bên nhau, chưa bao giờ hai vợ chồng xa nhau một bước, chưa bao giờ Nguyên làm điều gì trái ý vợ. Giờ đây anh chỉ có một mình trong lòng thành phố như anh đã từng ao ước là lúc nào đó mình sẽ thật tự do như con chim. Nguyên sẽ không sợ Quy nhăn nhó khi chiếc đồng hồ đã chỉ đúng 9 giờ tối mà anh chưa về, bởi mâm cơm chỉ được dọn ra khi chỉ có hai người. Còn nếu hôm nào Quy trực đêm trên đài, thì bữa cơm lại sớm hơn thường lệ. Nguyên không về nhà vội. Bởi đâu có ai nhắc nhở sự trở về của anh đâu? Ðêm đã đưa Quy đi xa, Quy còn đi xa ba tháng xa lắc nữa kia mà. Quán lẩu nằm nép mình dưới tán cây me lớn. Chủ quán đã chọn cho quán một cái tên cũng rất dễ thương: "Quán cây me". Những Ngạn, Tuy, Hà... đủ những thằng bạn nhậu đều có mặt. Tiếng cười vui ầm ĩ: - Hôm nay thằng Nguyên phải say. Say cho bõ những ngày sợ vợ. Say cho những ngày bị cấm uống. Nguyên uống. Nhưng thói quen uống bia cho say đã mất. Anh nhận ra chốn này không phải chốn của mình. Say để làm gì? Trước mặt anh là những gương mặt đỏ gay vì rượu. Nguyên nói: - Thôi! Tao về. - Vợ mày có nhà đâu mà về? Căn nhà thiếu bóng đàn bà rộng thênh thang. Trên chiếc bàn nhỏ đầu giường là tấm giấy Quy ghi chi tiết những điều Nguyên cần nhớ: "Em đã đặt cơm tháng cho anh. Quần áo dơ, nhà sẽ do chị Kim bên cạnh qua phụ giúp. Anh cứ coi như còn độc thân. Khi nào nhớ em thì anh gọi điện kẻo người ta gọi anh là ông chồng sợ vợ". Anh phì cười. Không biết chiếc điện thoại di động Quy mang theo bên người có mở máy không? Và không biết tàu có vào khu vực có sóng điện thoại? Nguyên nhấn đại vào những con số. Tiếng Quy bên kia: "Làm gì khuya khoắt mà anh gọi điện cho em, bộ anh sợ em kiểm tra hả... ông sợ vợ". Nguyên thì thào trong máy, tiếng anh theo gió đến tận toa tàu của Quy: "Anh đâu có sợ em, anh chỉ nhớ em thôi. Mới có một buổi mà anh buồn quá. Anh đi Ðà Nẵng vào tuần sau nhé". Tiếng Quy cười ròn tan: "Không khéo mấy ông bạn của anh lại nói em bắt anh đi Ðà Nẵng như bắt anh ngồi trước ti vi...".
Mục lục
Anh chỉ nhớ em thôi
Anh chỉ nhớ em thôi
Phan Thị TầnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy : Nguyễn Đình Nguồn: Nguyễn ĐìnhĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 17 tháng 5 năm 2005
|
Khuyết Danh
Anh có giúp tôi?
Trần Xuân Hải dịch
Vào năm 1989 tại Armenia có một trận động đất lớn 8,2 độ Richter đã san bằng toàn bộ đất nước và giết hại hơn ba mươi ngàn người trong vòng chưa đầy bốn phút.Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, một người cha chạy vội đến trường học mà con ông đang theo học. Tòa nhà trước kia là trường học nay chỉ còn là đống gạch vụn đổ nát.Sau cơn sốc, ông nhớ lại lời hứa với con mình rằng "Cho dù chuyện gì xảy ra đi nữa, cha sẽ luôn ở bên con!" Và nước mắt ông lại trào ra. Bây giờ mà nhìn vào đống đổ nát mà trước kia là trường học thì không còn hy vọng. Nhưng trong đầu ông luôn nhớ lại lời hứa của mình với cậu con trai.Sau đó ông cố nhớ lại cửa hành lang mà ông vẫn đưa đứa con đi học qua mỗi ngày. Ông nhớ lại rằng phòng học của con trai mình ở phía đằng sau bên tay phải của trường. Ông vội chạy đến đó và bắt đầu đào bới giữa đống gạch vỡ.Những người cha, người mẹ khác cũng chạy đến đó và từ khắp nơi vang lên những tiếng kêu than "Ôi, con trai tôi!", "Ôi, con gái tôi!". Một số người khác với lòng tốt cố kéo ông ra khỏi đống đổ nát và nói đi nói lại:"Đã muộn quá rồi!""Bọn nhỏ đã chết rồi!""Ông không còn giúp được gì cho chúng nữa đâu!""Ông hãy về đi!""Ông đi đi, không còn làm được gì nữa đâu!""Ông chỉ làm cho mọi việc khó khăn thêm thôi!"Với mỗi người, ông chỉ đặt một câu hỏi "Anh có giúp tôi không?" Và sau đó với từng miếng gạch, ông lại tiếp tục đào bới tìm đứa con mình. Đến đó có cả chỉ huy cứu hỏa và ông này cũng cố sức khuyên ông ra khỏi đống đổ nát "Xung quanh đây đều đang cháy và các toà nhà đang sụp đổ. Ông đang ở trong vòng nguy hiểm. Chúng tôi sẽ lo cho mọi việc. Ông hãy về nhà!" Người đàn ông chỉ hỏi lại "Ông có giúp tôi không?"Sau đó là những người cảnh sát và họ cũng cố thuyết phục ông ta "Ông đang xúc động. Đã xong hết rồi. Ông đang gây nguy hiểm cho cả những người còn lại. Ông về đi. Chúng tôi sẽ lo cho mọi việc!" Và với cả họ ông cũng chỉ hỏi "Các anh có giúp tôi không?" Nhưng không ai giúp ông cả. Ông tiếp tục chịu đựng một mình, vì ông phải tự mình tìm ra câu trả lời cho điều day dứt ông: Con trai tôi còn sống hay đã chết?Ông đào tiếp... 12 giờ... 24 giờ... ,sau đó ông lật ngửa một mảng tường lớn và chợt nghe tiếng con trai ông. Ông kêu lớn tên con "Armand!" Ông nghe "Cha ơi?! Con đây, cha! Con nói với các bạn đừng sợ vì nếu cha còn sống cha sẽ cứu con và khi cha cứu con thì các bạn cũng sẽ được cứu. Cha đã hứa với con là dù trường hợp nào cha cũng ở bên con, cha còn nhớ không? Và cha đã làm được, cha ơi!!""Có chuyện gì xảy ra vậy? Ở đó ra sao rồi?" Người cha hỏi."Tụi con còn lại 14 trên tổng số 33, cha ạ. Tụi con sợ lắm. Đói, khát… Nhưng bây giờ tụi con đã có cha ở đây. Khi tòa nhà đổ, ở đây tạo ra một khoảng không nhỏ và thế là tụi con còn sống.""Ra đây đi con!""Khoan đã cha! Để các bạn ra trước, con biết rằng cha không bỏ con. Có chuyện gì xảy ra con biết là cha chắc chắn sẽ không bỏ rơi con!"
Mục lục
Anh có giúp tôi?
Anh có giúp tôi?
Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: NetnamĐược bạn: Latdat đưa lên vào ngày: 26 tháng 4 năm 2004
|
Noname
Can you help me?
Translated by Tran Xuan Hai
In 1989 in Armenia, there was a massive earthquake measuring 8.2 on the Richter scale that leveled the entire country and killed more than thirty thousand people in less than four minutes. Amid that chaotic scene, a father ran to the school where his child is studying. The building that used to be a school is now just a pile of rubble. After the shock, he remembered his promise to his son that "No matter what happens, I will always be with you!" And tears welled up in his eyes again. Now, looking at the ruins that used to be the school, there is no hope. But in his mind he always remembered his promise to his son. Then he tried to remember the hallway that he took his son to school through every day. He recalled that his son's classroom was at the back right-hand side of the school. He quickly ran there and started digging among the piles of broken bricks. Other fathers and mothers also ran there and from everywhere there were cries of "Oh, my son!", "Oh, my daughter." I!". Some other people with kindness tried to pull him out of the rubble and said over and over: "It's too late!" "The children are dead!" "You can't help them anymore!"" Please go home!" "Go away, there's nothing more you can do!" "You'll only make things more difficult!" To each person, he only asked one question "Will you help me?" " And then with each piece of brick, he continued to dig to find his child. There was also the fire chief who also tried to persuade him to get out of the rubble. "All around here are on fire and buildings are collapsing. You are in danger. We will take care of everyone." work. Please go home!" The man just asked again, "Can you help me?" Then came the police and they also tried to convince him, "You're emotional. It's all over. You're endangering the people who are still alive." Come back. We'll take care of everything!" And to all of them he only asked, "Will you help me?" But no one helped him. He continued to suffer alone, because he had to find the answer himself to what tormented him: Is my son alive or dead? He continued digging... 12 hours... 24 hours... , Then he turned over a large part of the wall and suddenly heard his son's voice. He shouted his son's name "Armand!" He heard "Father?! It's me, father! I told you not to be afraid because if you were alive you would save me and when you save me you will also be saved. You promised me that no matter what happens You were always with me, do you remember? And you did it, dad!!" "What happened there?" The father asked. "There are 14 of us left out of 33, father. We are scared. Hungry, thirsty... But now we have you here. When the building collapsed, a void was created here." small and that's why we're still alive." "Come out here, son!" "Wait, dad! Let your friends go first, I know that no matter what happens, I know that you definitely won't leave me drop me!"
Table of contents
Can you help me?
Can you help me?
AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Netnam Posted by friend: Latdat on: April 26, 2004
|
Dương Duy Ngữ
Anh cảnh sát khó ngủ
Chiếc xe tải thùng sắt đã đỗ vào lan can. Phía sau có một vệt phanh gấp cháy đen mặt đường. Tiếp đến là chiếc xe Dream nằm dọc lan can và cạnh chiếc xe máy là cô gái nằm nghiêng nghiêng bị hai bánh sau chiếc xe tải kia chèn ngang qua bụng.Minh phải cái tính cả lo. Hơi một tý là cả đêm mất ngủ trăn trở, thao thức. Mà toàn việc cơ quan cả. Chứ có phải việc nhà cho cam. Việc nhà đã có Hiền, vợ anh đảm đang, lo lắng, thu xếp hết. Nhờ vậy, Minh vẫn được tiếng rảnh tay lo việc nhà nước. Thời buổi kinh tế thị trường vẫn có những cán bộ không hề nghĩ đến việc chân trong chân ngoài, thật quý. Sáng nay đi kiểm tra một chốt trên đoạn đường Pháp Vân - Cầu Giẽ về cho đến tận bây giờ, Minh vẫn cứ bần thần không yên. Hiền biết tính chồng nhưng vẫn không thể không nhắc anh: - Cố chợp mắt lấy một tý đi, sắp sáng rồi. Minh đặt tay nhẹ lên ngực vợ: - Ừ. Anh ngủ đây. Em cũng không ngủ được à. - Anh cứ thở ngắn thở dài, giở mình như cá giãy, ai mà ngủ được. Làm vợ Minh ngót hai chục năm nay, cái điệp khúc ấy diễn đi diễn lại tưởng đã nhàm chán nhưng vẫn luôn mới mẻ. Không khí oi nồng, ngột ngạt quá. Chiếc quạt cây bấm hết số, quay hết cỡ ù ù vù vù, nhức tai nhức óc. Mọi tối vẫn cái quạt ấy, vẫn bấm số ấy, sao Minh ngủ ngon vậy. Còn đêm nay, Minh bực mình, tắt quạt mới được một lát, mồ hôi đã vã ra ướt đẫm chân tóc. Lại bật quạt, lại khó chịu. Hiền nghiêng người, ôm chặt lấy chồng. Minh bảo: - Thôi, em ngủ đi. Đừng làm đầu óc anh rối thêm lên nữa. Hiền nhấm nhẳng: - Ứ ừ. Thấy Minh thao thức gần hết đêm Hiền nói vậy cho qua chứ Hiền thương chồng lắm. Làm anh cảnh sát giao thông thật phức tạp. Công chả thấy đâu, dưới mắt dân, người ta chỉ thấy lỗi, thấy tiêu cực là tít còi rồi giơ dùi cui lên. Là kiểm tra giấy tờ xe cộ. Là giữ xe ôtô, là lập biên bản, bấm lỗ bằng lái. Là giữ xe máy. Nắng như nắng đường cao tốc. Cây cối chả có. Mặt đường nhựa bốc hơi ngùn ngụt, hầm hập. Ai nấy đen cháy. Ăn gì cho lại. Đấy là chưa kể dân phản ứng. Dân chửi bới. Dân chống lại. Mà dân bây giờ cũng phức tạp lắm. Năm bảy loại dân. Thóc lúa có hạng hai, hạng ba, hạng tư thì dân cũng có dân tốt và dân xấu. Cảnh sát giao thông lại thường xuyên đối mặt với dân. ít nhất cũng một hai người trên xe máy vi phạm luật giao thông. Nhiều lúc cả cái xe khách cả mấy chục người, chở hàng lậu. Cảnh sát giao thông phải giữ xe phải khám xe. Dân phải xuống đường. Phải chậm công việc. Nắng ba bảy ba tám độ làm sao dân không bực, không ghét mấy anh áo vàng… Càng nghĩ mông lung, Hiền càng thấy thương chồng, công việc của anh ấy thật vất, thật tội. Hiền ôm lấy chồng, thì thầm: - Nghỉ đi một tý anh. Việc nhà nước. Ngày nay chẳng làm hết, nghĩ hết thì mai làm tiếp, nghĩ thêm. Anh cứ làm như… Làm như thế nào Hiền chả nói tiếp. Một lát sau Minh đã thấy vợ thở nhè nhẹ rồi ngáy đôi ba tiếng. Minh thừa biết, vợ mình ngủ vờ, ngáy vờ cho mình yên tâm mà trăn trở, mà nghĩ suy. Tốc độ! Tốc độ! Hầu hết các vụ tai nạn trên mặt đường đều do tốc độ gây nên. Cái vụ 33 cựu chiến binh chết ở Tây Nguyên. Cái vụ tàu hỏa lật ở đèo Hải Vân. Rồi 46 vụ ở đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ từ khi khai thác, tự mình gây tai nạn cho mình, tự mình gây nên cái chết thương tâm đều do xe máy ôtô chạy quá tốc độ. Sáng qua, Minh chỉ đứng với anh em ở chốt Đại Xuyên trên đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ có vài giờ đồng hồ đã có ngay ba chục chiếc xe ôtô chạy quá tốc độ. Xe tải, xe ca, xe du lịch… đủ hết. Nếu người bắn tốc độ cứ bắn hết tất cả những chiếc xe khả nghi chạy quá tốc độ thì có lẽ không kịp báo vào máy điện thoại, không kịp ghi biên bản, … và ùn tắc giao thông là cái chắc! Đến khi "rửa tay gác kiếm", không, phải đến lúc nhắm mắt xuôi tay, Minh cũng không thể nào quên, cái buổi sáng hôm nay. Anh đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết do xe chạy quá tốc độ gây ra. Mỗi cái chết một vẻ. Mỗi cái chết một trường hợp. Tưởng trái tim người cảnh sát giao thông đã chai lì. Nào ngờ…! Ở phía trên vừa báo có một chiếc xe tải màu trắng, thùng sắt, trông nghênh ngang như loại xe "Bò ma", biển số… chạy quá tốc độ… 04 nghe rõ không trả lời. Đồng chí cầm máy điện thoại vừa đáp lại: "04 nghe rõ" đã nghe tiếng ồn ào ở phía trước. Minh bảo: - Thằng xe tải màu trắng bỏ mẹ ấy gây tai nạn rồi. Anh vội nhảy lên xe máy phóng tới. Chiếc xe tải thùng sắt đã đỗ vào lan can. Phía sau có một vệt phanh gấp cháy đen mặt đường. Tiếp đến là chiếc xe Dream nằm dọc lan can và cạnh chiếc xe máy là cô gái nằm nghiêng nghiêng bị hai bánh sau chiếc xe tải kia chèn ngang qua bụng. Đầu cô gái còn đội mũ bảo hiểm và chiếc khẩu trang bịt mũi, bịt miệng che gần kín khuôn mặt trái xoan. Đôi mắt cô gái còn hé mở nhìn anh như cầu cứu, như trách móc. Nguyên tắc là phải giữ nguyên hiện trạng nên anh chỉ vuốt mắt cho cô gái. Anh thầm thì: "Sao lại đến nông nỗi này cháu ơi!". Cô bé mới hai mươi tuổi. Quê ở Ninh Bình. Đang là học sinh Trường đại học Quân sự. Khi nghe các đồng chí cảnh sát địa phận ra kiểm tra nói vậy, Minh đã nấc lên một tiếng đau buốt tận tim. Anh loạng choạng tưởng như bị đổ gục xuống mặt đường. May mà, một tay ôm ngực, một tay anh vịn được vào thành cái lan can. Đồng chí trung úy đứng cạnh Minh cứ ngỡ anh bị cảm, bị say nắng vội đỡ anh. Minh thầm thì: "Tôi… tôi không việc gì đâu. Cậu tiếp tục làm nhiệm vụ đi". Minh tính vốn kín. Anh chưa một lần kể với vợ mình những tai nạn giao thông anh tận mắt chứng kiến. Nhưng hôm nay, anh cứ tuồn tuột kể hết với vợ. Có lẽ do anh đang còn xúc động quá, nặng nề quá. Vợ anh thương cô bé khóc thút thít vừa lấy tay chùi nước mắt, vừa nói: - Những thằng lái xe chạy ẩu, chạy càn gây ra tai nạn ấy cứ phải bắn hết chúng nó đi thì thằng khác mới sợ. Chứ bỏ tù, phạt nặng, nào có thấm tháp gì với một mạng người. Này, em nói thật, các anh đừng tự ái nhé. - Em cứ nói xem. - Các anh bày trò bấm lỗ bằng lái làm gì. Nó chỉ mất ít tiền là nó lại có bằng mới ngay. - Ơ, cái cô này. - Ơ, ơ cái gì. Anh đặt mình vào hoàn cảnh bố mẹ con bé xem. Nuôi nát da lòi xương mới được đứa con, ăn học tử tế. Vậy mà đánh nhoáng một cái… Hiền nghẹn ngào! Minh nghĩ, nói như Hiền, ai chả nói được. Cái khó của anh cảnh sát giao thông là phải tìm ra nguyên nhân gây tai nạn, gây ách tắc… rồi kiến nghị, bàn bạc với các ngành hữu quan tìm cách khắc phục. Đoạn đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ ấy, chỗ nào chẳng có điểm đen mà ngành giao thông treo những cái biển rõ to, sơn xanh chữ trắng rõ nổi ghi rõ phần đường dành cho các loại xe 80 ki-lô-mét, 60 ki-lô-mét, mô tô hai bánh. Thực chất phần đường dành cho mô tô chỉ là nơi tránh của các loại xe ôtô. Do vậy hay gây ra tai nạn. Như sáng nay đấy. Con bé đã bị ép xe sát tận lan can rồi. Cảnh sát giao thông kiến nghị, ngành giao thông gỡ bỏ cái biển phần đường dành cho môtô. Vậy môtô đi đường nào? Bay trên trời ư? Sao không cấm hẳn môtô. Cho môtô chạy vào đường cũ, đường A1 ấy. Nếu vậy, chắc chắn sinh mạng cô gái hai mươi hai tuổi, học sinh Trường đại học Quân sự đã không bị cướp đi sáng nay. Nếu nó là con mình, mình sẽ nghĩ sao? Sẽ sống ra sao? Tự nhiên nước mắt Minh trào ra ướt đẫm hai gò má. Hiền vẫn chưa ngủ. Nàng sờ tay lên mặt chồng:- Anh khóc đấy à? Im lặng. Hiền hỏi: - Sao thế? - Anh thương con bé quá. - Dễ chỉ mình anh thương. Thôi đừng nghĩ lung tung nữa, ngủ đi. - Ừ ngủ. - Anh cứ cả nghĩ thế này thì… - Thì làm sao?- Thì sang năm con chúng mình học hết lớp mười hai em chả dám cho con thi vào ngành của anh nữa.- Tại sao?- Sợ nó giống tính anh, lại thường xuyên mất ngủ thì khổ vợ nó.- Ơ, cái cô này!Ngoài kia trời đã rạng.Lại nắng to.Mặt đường cao tốc lại ngùn ngụt, bốc nóng./.
Mục lục
Anh cảnh sát khó ngủ
Anh cảnh sát khó ngủ
Dương Duy NgữChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Chuột lắc Nguồn: bạn: conbo2 đưa lên vào ngày: 23 tháng 3 năm 2006
|
Dương Duy Ngữ
Anh cảnh sát khó ngủ
Chiếc xe tải thùng sắt đã đỗ vào lan can. Phía sau có một vệt phanh gấp cháy đen mặt đường. Tiếp đến là chiếc xe Dream nằm dọc lan can và cạnh chiếc xe máy là cô gái nằm nghiêng nghiêng bị hai bánh sau chiếc xe tải kia chèn ngang qua bụng.Minh phải cái tính cả lo. Hơi một tý là cả đêm mất ngủ trăn trở, thao thức. Mà toàn việc cơ quan cả. Chứ có phải việc nhà cho cam. Việc nhà đã có Hiền, vợ anh đảm đang, lo lắng, thu xếp hết. Nhờ vậy, Minh vẫn được tiếng rảnh tay lo việc nhà nước. Thời buổi kinh tế thị trường vẫn có những cán bộ không hề nghĩ đến việc chân trong chân ngoài, thật quý. Sáng nay đi kiểm tra một chốt trên đoạn đường Pháp Vân - Cầu Giẽ về cho đến tận bây giờ, Minh vẫn cứ bần thần không yên. Hiền biết tính chồng nhưng vẫn không thể không nhắc anh: - Cố chợp mắt lấy một tý đi, sắp sáng rồi. Minh đặt tay nhẹ lên ngực vợ: - Ừ. Anh ngủ đây. Em cũng không ngủ được à. - Anh cứ thở ngắn thở dài, giở mình như cá giãy, ai mà ngủ được. Làm vợ Minh ngót hai chục năm nay, cái điệp khúc ấy diễn đi diễn lại tưởng đã nhàm chán nhưng vẫn luôn mới mẻ. Không khí oi nồng, ngột ngạt quá. Chiếc quạt cây bấm hết số, quay hết cỡ ù ù vù vù, nhức tai nhức óc. Mọi tối vẫn cái quạt ấy, vẫn bấm số ấy, sao Minh ngủ ngon vậy. Còn đêm nay, Minh bực mình, tắt quạt mới được một lát, mồ hôi đã vã ra ướt đẫm chân tóc. Lại bật quạt, lại khó chịu. Hiền nghiêng người, ôm chặt lấy chồng. Minh bảo: - Thôi, em ngủ đi. Đừng làm đầu óc anh rối thêm lên nữa. Hiền nhấm nhẳng: - Ứ ừ. Thấy Minh thao thức gần hết đêm Hiền nói vậy cho qua chứ Hiền thương chồng lắm. Làm anh cảnh sát giao thông thật phức tạp. Công chả thấy đâu, dưới mắt dân, người ta chỉ thấy lỗi, thấy tiêu cực là tít còi rồi giơ dùi cui lên. Là kiểm tra giấy tờ xe cộ. Là giữ xe ôtô, là lập biên bản, bấm lỗ bằng lái. Là giữ xe máy. Nắng như nắng đường cao tốc. Cây cối chả có. Mặt đường nhựa bốc hơi ngùn ngụt, hầm hập. Ai nấy đen cháy. Ăn gì cho lại. Đấy là chưa kể dân phản ứng. Dân chửi bới. Dân chống lại. Mà dân bây giờ cũng phức tạp lắm. Năm bảy loại dân. Thóc lúa có hạng hai, hạng ba, hạng tư thì dân cũng có dân tốt và dân xấu. Cảnh sát giao thông lại thường xuyên đối mặt với dân. ít nhất cũng một hai người trên xe máy vi phạm luật giao thông. Nhiều lúc cả cái xe khách cả mấy chục người, chở hàng lậu. Cảnh sát giao thông phải giữ xe phải khám xe. Dân phải xuống đường. Phải chậm công việc. Nắng ba bảy ba tám độ làm sao dân không bực, không ghét mấy anh áo vàng… Càng nghĩ mông lung, Hiền càng thấy thương chồng, công việc của anh ấy thật vất, thật tội. Hiền ôm lấy chồng, thì thầm: - Nghỉ đi một tý anh. Việc nhà nước. Ngày nay chẳng làm hết, nghĩ hết thì mai làm tiếp, nghĩ thêm. Anh cứ làm như… Làm như thế nào Hiền chả nói tiếp. Một lát sau Minh đã thấy vợ thở nhè nhẹ rồi ngáy đôi ba tiếng. Minh thừa biết, vợ mình ngủ vờ, ngáy vờ cho mình yên tâm mà trăn trở, mà nghĩ suy. Tốc độ! Tốc độ! Hầu hết các vụ tai nạn trên mặt đường đều do tốc độ gây nên. Cái vụ 33 cựu chiến binh chết ở Tây Nguyên. Cái vụ tàu hỏa lật ở đèo Hải Vân. Rồi 46 vụ ở đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ từ khi khai thác, tự mình gây tai nạn cho mình, tự mình gây nên cái chết thương tâm đều do xe máy ôtô chạy quá tốc độ. Sáng qua, Minh chỉ đứng với anh em ở chốt Đại Xuyên trên đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ có vài giờ đồng hồ đã có ngay ba chục chiếc xe ôtô chạy quá tốc độ. Xe tải, xe ca, xe du lịch… đủ hết. Nếu người bắn tốc độ cứ bắn hết tất cả những chiếc xe khả nghi chạy quá tốc độ thì có lẽ không kịp báo vào máy điện thoại, không kịp ghi biên bản, … và ùn tắc giao thông là cái chắc! Đến khi "rửa tay gác kiếm", không, phải đến lúc nhắm mắt xuôi tay, Minh cũng không thể nào quên, cái buổi sáng hôm nay. Anh đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết do xe chạy quá tốc độ gây ra. Mỗi cái chết một vẻ. Mỗi cái chết một trường hợp. Tưởng trái tim người cảnh sát giao thông đã chai lì. Nào ngờ…! Ở phía trên vừa báo có một chiếc xe tải màu trắng, thùng sắt, trông nghênh ngang như loại xe "Bò ma", biển số… chạy quá tốc độ… 04 nghe rõ không trả lời. Đồng chí cầm máy điện thoại vừa đáp lại: "04 nghe rõ" đã nghe tiếng ồn ào ở phía trước. Minh bảo: - Thằng xe tải màu trắng bỏ mẹ ấy gây tai nạn rồi. Anh vội nhảy lên xe máy phóng tới. Chiếc xe tải thùng sắt đã đỗ vào lan can. Phía sau có một vệt phanh gấp cháy đen mặt đường. Tiếp đến là chiếc xe Dream nằm dọc lan can và cạnh chiếc xe máy là cô gái nằm nghiêng nghiêng bị hai bánh sau chiếc xe tải kia chèn ngang qua bụng. Đầu cô gái còn đội mũ bảo hiểm và chiếc khẩu trang bịt mũi, bịt miệng che gần kín khuôn mặt trái xoan. Đôi mắt cô gái còn hé mở nhìn anh như cầu cứu, như trách móc. Nguyên tắc là phải giữ nguyên hiện trạng nên anh chỉ vuốt mắt cho cô gái. Anh thầm thì: "Sao lại đến nông nỗi này cháu ơi!". Cô bé mới hai mươi tuổi. Quê ở Ninh Bình. Đang là học sinh Trường đại học Quân sự. Khi nghe các đồng chí cảnh sát địa phận ra kiểm tra nói vậy, Minh đã nấc lên một tiếng đau buốt tận tim. Anh loạng choạng tưởng như bị đổ gục xuống mặt đường. May mà, một tay ôm ngực, một tay anh vịn được vào thành cái lan can. Đồng chí trung úy đứng cạnh Minh cứ ngỡ anh bị cảm, bị say nắng vội đỡ anh. Minh thầm thì: "Tôi… tôi không việc gì đâu. Cậu tiếp tục làm nhiệm vụ đi". Minh tính vốn kín. Anh chưa một lần kể với vợ mình những tai nạn giao thông anh tận mắt chứng kiến. Nhưng hôm nay, anh cứ tuồn tuột kể hết với vợ. Có lẽ do anh đang còn xúc động quá, nặng nề quá. Vợ anh thương cô bé khóc thút thít vừa lấy tay chùi nước mắt, vừa nói: - Những thằng lái xe chạy ẩu, chạy càn gây ra tai nạn ấy cứ phải bắn hết chúng nó đi thì thằng khác mới sợ. Chứ bỏ tù, phạt nặng, nào có thấm tháp gì với một mạng người. Này, em nói thật, các anh đừng tự ái nhé. - Em cứ nói xem. - Các anh bày trò bấm lỗ bằng lái làm gì. Nó chỉ mất ít tiền là nó lại có bằng mới ngay. - Ơ, cái cô này. - Ơ, ơ cái gì. Anh đặt mình vào hoàn cảnh bố mẹ con bé xem. Nuôi nát da lòi xương mới được đứa con, ăn học tử tế. Vậy mà đánh nhoáng một cái… Hiền nghẹn ngào! Minh nghĩ, nói như Hiền, ai chả nói được. Cái khó của anh cảnh sát giao thông là phải tìm ra nguyên nhân gây tai nạn, gây ách tắc… rồi kiến nghị, bàn bạc với các ngành hữu quan tìm cách khắc phục. Đoạn đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ ấy, chỗ nào chẳng có điểm đen mà ngành giao thông treo những cái biển rõ to, sơn xanh chữ trắng rõ nổi ghi rõ phần đường dành cho các loại xe 80 ki-lô-mét, 60 ki-lô-mét, mô tô hai bánh. Thực chất phần đường dành cho mô tô chỉ là nơi tránh của các loại xe ôtô. Do vậy hay gây ra tai nạn. Như sáng nay đấy. Con bé đã bị ép xe sát tận lan can rồi. Cảnh sát giao thông kiến nghị, ngành giao thông gỡ bỏ cái biển phần đường dành cho môtô. Vậy môtô đi đường nào? Bay trên trời ư? Sao không cấm hẳn môtô. Cho môtô chạy vào đường cũ, đường A1 ấy. Nếu vậy, chắc chắn sinh mạng cô gái hai mươi hai tuổi, học sinh Trường đại học Quân sự đã không bị cướp đi sáng nay. Nếu nó là con mình, mình sẽ nghĩ sao? Sẽ sống ra sao? Tự nhiên nước mắt Minh trào ra ướt đẫm hai gò má. Hiền vẫn chưa ngủ. Nàng sờ tay lên mặt chồng:- Anh khóc đấy à? Im lặng. Hiền hỏi: - Sao thế? - Anh thương con bé quá. - Dễ chỉ mình anh thương. Thôi đừng nghĩ lung tung nữa, ngủ đi. - Ừ ngủ. - Anh cứ cả nghĩ thế này thì… - Thì làm sao?- Thì sang năm con chúng mình học hết lớp mười hai em chả dám cho con thi vào ngành của anh nữa.- Tại sao?- Sợ nó giống tính anh, lại thường xuyên mất ngủ thì khổ vợ nó.- Ơ, cái cô này!Ngoài kia trời đã rạng.Lại nắng to.Mặt đường cao tốc lại ngùn ngụt, bốc nóng./.
Mục lục
Anh cảnh sát khó ngủ
Anh cảnh sát khó ngủ
Dương Duy NgữChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Chuột lắc Nguồn: bạn: conbo2 đưa lên vào ngày: 23 tháng 3 năm 2006
|
Nguyễn Thị Thùy Vân
Anh Em
Trời hưng hửng. Một chút sương bụi còn vương vất. Thập thò trước đôi cổng sắt cao nghệu nhà nuôi trẻ mồ côi khép còn kín là hai đứa trẻ gầy còm, rách rưới. Thằng anh áng chừng 10 tuổi, mặt mày lơ láo, sợ sệt. Đứa em nhỏ, khoảng lên hai, đôi mắt lòa lồi hẳn ra như hai viên bi mờ đục.Buổi sớm đường dốc cao, xe qua vùn vụt. Không ai buồn liếc mắt nhìn quanh. Mặc thằng anh nghiêng ngóng, quan sát, đứa em ngồi thụp xuống đất, ủ rũ như chú chó con khát sữa. Thỉnh thoảng đứa em cất tiếng gọi:- Anh Hai ơi!Thằng anh trả lời bằng cái hắng giọng. Biết có anh bên cạnh nó có vẻ an tâm.- Vô đó được ăn no. Được uống sữa, được ăn bánh kẹo. Đủ thứ hết - Anh nó dỗ - Nhớ không được khóc, người ta đánh - thằng anh cẩn thận dặn thêm.Đứa em nó cố níu lấy đôi chân khẳng khiu của anh. Miệng méo xệch, thằng bé muốn khóc nhưng không dám. Giữa hai đứa diễn ra cuộc giằng co thầm lặng.- Biết có tao người ta không nhận mày đâu, thằng anh dọa khẽ.Chỉ còn sự sợ hãi trên khuôn mặt non nớt của đứa bé sắp bị bỏ rơi - Thằng anh cương quyết gạt tay em:- Chừng nào nghe anh huýt sáo thì bò vào, nghe chưa!Dứt câu nó chạy vụt đi.Hai tay chới với giữa khoảng không, thằng em òa khóc. Đôi mắt lồ lộ trắng dã làm nó không biết thằng anh chạy về hướng nào.Xa xa bên kia đường, phía nhà Thờ lớn thằng anh luẩn quẩn lượm bao ny-lon mà mắt vẫn hướng về cánh cổng sắt. Thằng em vẫn còn ngồi đó, gào to, nức nở:-Anh Hai ơi! Anh Hai ơi!Không dám dừng tay, thằng anh cố moi trong đống rác tìm vật gì bán được. Nó miên man nghĩ đến bà mẹ ốm đau để cố quên đi tiếng khóc của đứa em bé bỏng. Nguyện ước duy nhất của mẹ là anh em nó được vào nhà nuôi trẻ mồ côi, bà hy vọng ở đó chúng sẽ sung sướng hơn . Ít ra chúng cũng có cơm ăn, áo mặc. Chúng sẽ được đi học, được dạy dỗ. Lớn lên chúng sẽ có việc làm nuôi thân...Thằng anh không hiểu điều đó đúng hay sai, nhưng vẫn làm theo ý mẹ. Phần nó chưa thể được. Để mẹ yên lòng, trước mắt nó mang thằng em đi.Giờ đây em nó đang ngồi dưới đất, trước cổng nhà nuôi trẻ mồ côi, gào khóc gọi anh.Cổng đã mở. Quên bẵng nhiệm vụ huýt gió cho em vào, thằng anh vờ lom khom bên đống rác đã xới tung nhiều lần. Chẳng còn gì trong đó, mặt quay đi nhưng mắt liếc lại. Nó nhìn thấy có người từ trong đi ra. Em nó vẫn sờ soạng đôi tay tuyệt vọng bám vào thành cổng gọi anh.Không thể để họ nhìn thấy mình. Đó là điều duy nhất thằng anh còn nghĩ được. Nó muốn bỏ chạy thật nhanh, càng xa càng tốt.Cùng lúc, tai nó như bùng vỡ vì tiếng nức nở của đứa em tội nghiệp:-Anh Hai ơi! Anh Hai ơi!Thân nó như bị chẻ đôi. Một nửa quay lại, một nửa bỏ trốn. Mắt nó nhìn thấy đứa em đang co rúm, run rẩy trong tay người lạ. Thằng bé bỗng giẫy giụa, cuống cuồng. Nó không cần cơm, không cần sữa, không cần cả bánh kẹo. Nó chỉ cần anh Hai, nó muốn được về nhà.-Anh cháu đâu? - Người ta hỏi.Bất ngờ thằng anh vụt lao tới. Hổn hển, lơ láo. Bằng tất cả sức mạnh của tình thương, nó giật phắt đứa em trong tay người lạ. Rồi nó bật khóc:-Em của cháu... Em của cháu... Nó lắp bắp.Người ta trả em nó lại cho nó.-Ai bắt em mày đâu mà sợ. Đi mà không lo coi em...Mặc những lời trách, thằng anh xốc vội em lên vai. Thằng em cuống quýt bám chặt cổ anh, đơi chân quắp ngang người, vẫn chưa hết thổn thức.Mắt nhòa lệ, không kịp cảm ơn, thằng anh lầm lũi bước. Lòng trĩu nặng, nó nghĩ đến mẹ và cơ hội vừa bỏ lỡ. Buổi sáng, co ro trong manh chiếu rách, mẹ nó đã khóc nhìn nó dắt em ra đi. Đúng là bà đã mong muốn điều đó, bởi không thể làm gì hơn được cho hai đứa con côi cút. Thế nhưng giờ đây, thốt nhiên thằng anh tin rằng, bà sẽ vui mừng hơn nữa khi thấy chúng lại trở về.
Mục lục
Anh Em
Anh Em
Nguyễn Thị Thùy VânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Khánh Quỳnh & Phong Vân Nguồn: VNthuquan.netĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 5 năm 2008
|
Nguyen Thi Thuy Van
Brothers
The weather is excited. A little mist and dust still lingered. Standing in front of the tall iron gates of the closed orphanage were two skinny, ragged children. The boy was about 10 years old, his face was absent-minded and scared. The little brother, about two years old, had eyes that bulged out like two opaque marbles. Early in the morning, the road was steep and the car passed quickly. No one bothered to glance around. While the older brother stood sideways and watched, the younger brother sat down on the ground, sullen like a puppy thirsty for milk. Occasionally the younger brother calls out: - Hey Hai! The older brother answers by clearing his throat. Knowing you're next to me makes me feel at ease. - Go there and eat your fill. Drink milk and eat candy. Everything - His brother coaxed - Remember not to cry, people will beat you - his brother carefully added. His younger brother tried to hold on to his brother's spindly legs. His mouth was distorted, the boy wanted to cry but didn't dare. A silent struggle took place between the two of them. - If you knew I was around, people wouldn't recognize you, the older brother threatened softly. There was only fear on the young face of the child about to be abandoned - The older brother firmly lied. My brother: - When you hear me whistle, crawl in, do you hear me? After finishing the sentence, he ran away. With his hands dangling in mid-air, his younger brother burst into tears. His eyes were so white that he didn't know which direction his older brother was running towards. Far away on the other side of the street, towards the Cathedral, his older brother was wandering around picking up plastic bags while still looking towards the iron gate. My younger brother was still sitting there, screaming loudly and sobbing: - Hey Hai! Hai! Not daring to stop, he tried to dig through the trash to find something to sell. He kept thinking about his sick mother to try to forget the cry of his baby brother. His mother's only wish was that his brothers could go to a home to raise orphans. She hoped they would be happier there. At least they have food to eat and clothes to wear. They will go to school and be educated. When they grow up, they will have a job to support themselves... The older brother doesn't understand whether that's right or wrong, but he still follows his mother's wishes. Part of it is not yet possible. To reassure his mother, he immediately took his younger brother away. Now his younger brother is sitting on the ground, in front of the orphanage gate, screaming for him. The gate has opened. Forgetting his duty to whistle for his sister to come in, the older brother pretended to crouch next to the pile of trash that had been stirred up many times. There was nothing left in there, his face turned away but his eyes glanced back. He saw someone coming out from inside. She was still groping with her hands desperately clinging to the gate, calling for him. She couldn't let them see her. That was the only thing he could think of. He wanted to run away as quickly as possible, as far away as possible. At the same time, his ears seemed to explode from the sobs of his poor brother: - Hey Hai! Hey Hai! Its body feels like it's been split in half. Half returned, half fled. His eyes saw his younger brother cowering and trembling in the stranger's arms. The boy suddenly struggled and became frantic. It doesn't need rice, it doesn't need milk, it doesn't need candy. He just needs Hai, he wants to go home. -Where is my brother? - People asked. Suddenly his brother rushed forward. Breathless, lethargic. With all the power of love, he snatched his younger brother from the stranger's arms. Then he burst into tears: - My brother... My brother... He stammered. They returned his brother to him. - No matter who took your brother, don't be afraid. Go without worrying about me... Despite the scolding, my brother quickly lifted me onto his shoulder. The younger brother frantically clung tightly to his brother's neck, his legs wrapped around his body, still sobbing. His eyes blurred with tears, without time to thank him, the older brother slowly walked away. With a heavy heart, he thought of his mother and the opportunity he had just missed. In the morning, huddled under a torn mat, his mother cried as she watched him take his younger brother away. It's true that she wanted that, because there was nothing more she could do for her two orphaned children. But now, suddenly the brother believed that she would be even more happy to see them return.
Table of contents
Brothers
Brothers
Nguyen Thi Thuy VanWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Khanh Quynh & Phong Van Source: VNthuquan.net Posted by friend: Ct.Ly on: May 5, 2008
|
Thế Sự
Anh Em Họ Điền
Ngày xưa, có giòng họ Điền, anh em ăn ở với nhau từ đời nọ sang đời kia rất là hòa thuận. Về sau, họ này chỉ còn lại có ba anh em. Ba người vẫn chung sống với nhau vui vẻ tử tế, cho đến khi người thứ hai lấy vợ. Người vợ tính tình ích kỷ, lại hay sinh sự, lắm lời, nên không khí trong gia đình không còn được như xưa. Rồi một hôm người vợ nhất quyết đòi chia gia tài của ba anh em và bắt ép chồng đi ở riêng. Người chồng ban đầu nghĩ tình anh em bấy lâu sum họp mà không nỡ chia lìa, song rồi vì người vợ ngày đêm cằn nhằn khó chịu, kiếm chuyện gây gỗ trong nhà, nên rồi cũng đành phải nghe theo vợ, nói với anh em đi ở riêng. Người anh cả khuyên can không được cũng đành phải chia của cải cha mẹ để lại ra làm ba phần đều nhau. Chỉ còn một cây cổ thụ trước nhà, cành lá sum sê xanh tốt, chưa biết làm cách nào để chia cho đều. Ba anh em cùng nghĩ ngợi, rồi sau cùng quyết định gọi thợ về hạ cây xuống, cưa xẻ thành ván để chia làm ba phần. Đến hôm định hạ cây xuống, buổi sáng ba anh em ra vườn thì thấy cây cổ thụ đã khô héo tự bao giờ. Người anh cả bèn ôm lấy cây mà khóc nức nở. Hai người em thấy vậy mới bảo anh: "Một thân cây khô héo, giá phỏng là bao mà anh phải thương tiếc như thế"? Người anh cả đáp lại rằng: "Có phải anh khóc vì tiếc cây đâu. Song nghĩ vì loài cây cỏ vô tri nghe thấy sắp phải chia lìa mà còn biết buồn phiền khô héo đi, huống gì chúng ta đây là người cùng ruột thịt. Anh thấy cây mà suy đến cảnh ba anh em chúng ta, anh mới phải khóc".Nghe anh nói, hai người em hiểu ý, đưa mắt nhìn nhau rồi cùng òa khóc. Người vợ xúi chồng đi ở riêng nghe thấy vậy, cũng rơm rớm nước mắt, đâm ra hối hận, cúi đầu xin lỗi hai anh em và thề không bao giờ còn tính đến việc chia lìa nhau nữa.Từ hôm đó, ba anh em ở lại với nhau êm ấm, vui vẻ như trước.Cây cổ thụ nọ đã khô héo cũng trở lại xanh tươi như cũ.
Mục lục
Anh Em Họ Điền
Anh Em Họ Điền
Thế SựChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Mây Bốn PhươngĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 6 tháng 1 năm 2005
|
The World
Dien Cousins
In the past, there was a Dien family, brothers lived together from generation to generation very harmoniously. Later, this family only had three brothers left. The three people still lived happily together until the second person got married. The wife has a selfish personality, is often quarrelsome and talkative, so the atmosphere in the family is no longer the same as before. Then one day the wife insisted on dividing the three brothers' inheritance and forced her husband to live separately. The husband initially thought that his brotherly love had reunited for so long and he couldn't bear to separate, but then because his wife was nagging and annoying him day and night, looking for trouble in the house, he had to listen to his wife and talk to his brothers. go live separately. The eldest brother could not dissuade him so he had to divide the wealth left by his parents into three equal parts. There's only one old tree left in front of the house, with lush green branches and leaves, and I don't know how to divide it evenly. The three brothers thought together, then finally decided to call a worker to take down the tree and saw it into planks to divide into three parts. When the day came to take down the tree, in the morning the three brothers went out to the garden and saw that the old tree had already withered. The eldest brother hugged the tree and sobbed. Seeing that, the two younger brothers told him: "A withered tree trunk, what is the price that you have to mourn like that"? The eldest brother replied: "It's not like I'm crying because I feel sorry for the tree. But to think that because the inanimate plants hear that they're about to be separated, they still know how to be sad and wither. What's more, we're the same blood relatives." . I saw the tree and thought of the scene of us three brothers, which made me cry." Listening to him, the two of us understood what he meant, looked at each other and burst into tears. The wife, who urged her husband to go live alone, heard that. She also shed tears and regretted it. She bowed her head to apologize to the two brothers and vowed never to consider separating from each other again. From that day on, the three brothers staying together peacefully and happily as before. The old tree that had withered was also green again as before.
Table of contents
Dien Cousins
Dien Cousins
The SuWelcome you to read the titles from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: May Bon Phuong Uploaded by friend: Ct.Ly on: January 6, 2005
|
Nguyên Đỗ
Anh Khó Tính Ghê Vậy Á!
-- Anh khó tính ghê vậy á!Lần đầu tiên gặp tôi, cô bé đã nhát gừng trách thế bảo sao tôi chẳng ức. Tôi nói lại cho qua:-- Chắc tại người già khó tính? -- Anh mà già à! Còn khuya em mới gọi anh bằng chú! A cô bé đáo để thật, vừa kê tủ đứng ngay lúc gặp, rồi cho tôi uống nước rau má pha đường, nghe xạo xạo sao đó, nhưng trong lòng cũng thinh thích. Gớm người nào chẳng mong mình trẻ mãi không già, nhất là những chú bác anh chị làm thơ, viết văn! Già đến khú đế nhưng nhất định xưng hô anh anh em em cho nó thân mật kiểu những nhà làm văn nghệ chẳng bao giờ già. Tóc đến trắng phau như cụ nhạc sĩ nổi danh từ Bắc vào Nam cũng cứ anh anh em em nghe ngọt xớt. Viết thư qua lại thấy thân mật ơi là thân mật, nghe điện thoại cũng cứ anh anh em em, chao ơi trái tim rung muốn rụng luôn. Đến khi gặp nhau, đôi lúc dở khóc dở cười, anh gì mà đồng hàng, không chừng già hơn cha mẹ nữa, úi chao ơi, thế mới có khổ không.-- Thế Bé năm nay bao nhiêu tuổi? -- Dạ em năm nay mười tám xuân xanh thôi! -- Trời ơi, chú có cháu tuổi còn lớn hơn cháu đó nha. -- Kệ anh chứ! Anh đừng hòng bắt em gọi bằng chú. -- Không bằng chú thì bằng thầy nhé? -- Thầy gì, Professeur Romantique?Cha mẹ ơi, cô bé lại xổ cả tiếng Tây Phờ Răng Căng Xa nữa nè trời. Tôi nhăn mặt giả làm hề:-- Sao lại gọi chú bằng thầy già dịch?Cô bé trả lời lại và nhấn mạnh: -- Đừng giả lãng tai nha anh, em có gọi anh bằng thầy già dịch hồi nào đâu, em chọc anh là professeur romantique, thầy giáo lãng mạn. -- Bé học tiếng Pháp bao lâu rồi? -- Dạ hai năm thôi anh, nhưng em thích làm thơ tiếng Pháp lắm, chẳng là vì người Pháp ai cũng lãng mạn cả. -- Thế chắc bé lãng mạn lắm... -- Còn phải hỏi, chọc quê em đi nha... Không lãng mạn không thể làm thơ, cũng như anh lãng mạn số một vậy đó! -- Chưa chi mà tố cáo chú rồi kìa! Lạ chưa, chú có lãng mạn hồi nào đâu, già cả rồi không yên thân tu tâm dưỡng tánh thiên hạ chửi cho không ngõ nào chạy trốn bây chừ ! -- Dẹp anh ra đi, cứ chú chú hoài ghét quá! -- Nhỏ đáng cháu, thì phải gọi bằng chú xưng cháu chứ chơi leo thế người ta nghe được cười chê cả cháu lẫn chú đó nha cô Tư. -- Chán anh quá, cứ ra vẻ mô phạm dạy đời hoài, khó tánh vừa thôi chứ, ở giá suốt đời đó nha. Thế rồi cô ngoay ngoảy bỏ đi cả tháng trời! Lòng tôi cũng nhơ nhớ tính tinh nghịch của cô nhỏ, nhưng chẳng lẽ mình bấp chấp luật thường đi tìm cô bé, trông sao coi nổi, người ta lại bảo kẻ trộn nôi con ( cradle thief) thì mang tiếng tới ba đời ba họ!Đúng một tháng sau, cô bé trở lại, chớp chớp mắt nhìn tôi lì lợm hỏi:-- Nhớ người ta hôn? Cô bé gốc Huế, giòng dõi hoàng tộc, nhưng lớn lên ở miền Tây lúc pha Huế pha Nam nghe vui vui đến lạ. Tôi chẳng dám nói là nhớ hay không, nói nhớ thì kỳ, nói không chắc cô bé lại bỏ đi cả mấy tháng trời nữa e rằng tôi sẽ nhớ lắm nên chỉ đành cười trừ đánh trống lãng, nhưng cô bé chẳng tha, nói thật nhẹ nhàng và nhõng nhẽo:-- Anh nói đi, có nhớ người ta không dzị?-- Nhỏ hỏi kỳ? Sao chú nói được! Mắc mớ chi mà nhớ chứ!Cô bé nhìn thẳng vào đôi mắt tôi, nắm chắc là tôi có nhớ, mặc dù miệng tôi lúc nào cũng chối lay lảy. Con gái mới lớn sao mà khôn lanh quá đi. Hồi tôi 17, 18 còn đần độn vô cùng. Có bao giờ dám cua ai trong lớp đâu. Cô bé dọa:-- Không mắc mớ chi hở? Vậy bé đi chống lầy, anh không được buồn nhé!Tôi trêu:-- Lêu lêu nhỏ kìa, mới bây lớn mà đòi đi lấy chồng rồi!-- Tại anh nói hổng mắc mớ chi với người ta mờ! Anh trả lời câu bé hỏi đi, có nhớ người ta không dzị?Tôi câu giờ vì khó thú thật quá, ai lại tóc sắp hai màu tới nơi rồi lại nhận mình nhớ cô con gái mới lớn.-- Người ta nào vậy? Thì hẳn trong thiên hạ nhiều, không ít thì nhiều cũng nhớ người này, người nọ chút chút chứ.-- Anh lãng xẹt ghê đi nha, người ta là người ta đó!-- Người ta là người ta đó thì chú biết đâu mà nói!-- Xí, người khó ưa!-- Tại già khó tánh đó!-- Anh đừng nói già với nhỏ nha!-- Vậy nhỏ cũng đừng hỏi những câu khó trả lời, đợi chừng 10 năm nữa đi!-- Thật nhá! Bé chờ anh mười năm, trong mười năm anh đừng để chị nào yêu anh nha! Nhỏ khóc đó! Tôi cười, a, mười năm biết bao nhiêu thay đổi, không chừng năm năm nữa cô bé gởi tôi thiệp hồng cũng có khi. Tôi gật đầu:-- Thì mười năm!Cô bé đưa tay phải ra, cong cong ngón tay trỏ:-- Ngoéo tay nha!-- Rõ con nít chay, ngoéo thì ngoéo! Cái chạm tay lần đầu như một luồng điện giựt mạnh cho cả cô bé lẫn tôi! Mặt cô bé đỏ bừng, tôi cũng luống cuống! Giống như lần đầu tiên nói chuyện trên điện thoại, cô bé nói lí nhí như thì thào nghe tiếng được tiếng không.-- Như... Tuyền nè! Phải.... anh là... anh.... Quang không? Đúng già sinh tật, đang không lại ngoéo tay như là con nít mới lớn. Hồn cũng xao xuyến ghê gớm. Chết thật lỡ mình yêu cô bé thì sao, khó xưng hô và giải thích với mọi người ghê lắm! Không biết lúc đó mọi người còn nghĩ mình là quanh minh chính đại hay là quàng gở nữa. Dù sao mình vẫn là Quang, ánh sáng tự muôn đời, dù ai nói ngược nói xuôi, nói nghiêng nói ngửa gì đi nữa. Mình vĩnh viễn vẫn là Quang, tia sáng của mặt trời xa vời vợi, làm ấm áp cây cỏ và cuộc đời. Cô bé như cánh bướm xinh xinh lượn bay. Gia đình cô bé sống thượng lưu đi nơi này nơi nọ không ai có thể ngờ, lúc sang Tây, lúc sang Nhật, sang Úc... Ôi chao, khó mà biết lúc nào cô bé đang ở đâu nếu cô bé chẳng thông báo trước. Có khi chạy ngang nhà, tôi định ghé vào thăm, thấy cửa đóng then cài là biết cả gia đình đã đi xa. Lòng tôi buồn mênh mang như sa mạc vắng! Những lúc cô bé vắng nhà, hồn tôi như thiếu hẳn sức sống, câu văn, lời thơ như trở thành thừa thãi, không còn hơi sức để dạt dào với nắng, với mưa. Lớp vỏ khô của hồn tôi đã bị sự hồn nhiên trong trắng nhí nhảnh của cô bé thấm nhuần, tước bỏ rồi, cô bé đã chinh phục trái tim tôi không phải một nửa hay ba phần tư mà toàn bộ trái tim tôi, cả hồn tôi rồi. Thỉnh thoảng cô bé gọi, đôi lúc ngay lúc giờ tôi làm việc. Nàng để lại vài câu nói vô tư vô số tội, "Tuyền nè anh, tại Tuyền nhớ anh quá nên gọi để nghe thông điệp của anh! Chúc anh một ngày vui!" Tháng ngày qua đi, vắng mặt cô bé ngày nào là hồn tôi buồn ngày ấy. Tôi chẳng còn băn khoăn rằng mình đang yêu hay không, vì tôi tin chắc là mình đang yêu mà chẳng dám mơ tưởng đòi hỏi gì vì thực sự khi nhớ tới cô bé là tôi đã hạnh phúc rồi, chẳng phải suy nghĩ thế này thế nọ. Đôi lúc tôi thì thầm nói với những tấm ảnh cô bé giao cho tôi ngày nào, những hình nàng chụp lúc nhỏ, khi sang Tây, sang Nhật, sang Úc, sang Anh... mà nàng nói "tặng anh để nhớ lúc nào em cũng nghĩ tới anh dù em ở chân trời nào" Có lẽ nàng là thiên thần, là quan âm bồ tát, là Ly Tao của tôi. Chưa bao giờ tôi nhớ ai bằng nhớ nàng, dù nàng cách xa tôi hơn cả con giáp. Không, tôi không phải yêu nàng chỉ để cho có yêu hay gì gì hết, mà thực sự có lẽ tôi đang sống trong tình yêu vì lúc nào khi ngủ hay khi thức nàng lúc nào cũng hiện diện bên tôi. Tôi có dễ dãi quá không nhỉ? Đôi lúc tôi thèm nghe tiếng nói thỏ thẻ ngọt ngào, mùi hương trầm trên mái tóc đen huyền thả chấm lưng của nàng dẫu chỉ là câu trách móc - Anh khó tánh ghê vậy á! Nguyên Đỗ
Mục lục
Anh Khó Tính Ghê Vậy Á!
Anh Khó Tính Ghê Vậy Á!
Nguyên ĐỗChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả /VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 16 tháng 1 năm 2008
|
Nguyên Đỗ
Anh Khó Tính Ghê Vậy Á!
-- Anh khó tính ghê vậy á!Lần đầu tiên gặp tôi, cô bé đã nhát gừng trách thế bảo sao tôi chẳng ức. Tôi nói lại cho qua:-- Chắc tại người già khó tính? -- Anh mà già à! Còn khuya em mới gọi anh bằng chú! A cô bé đáo để thật, vừa kê tủ đứng ngay lúc gặp, rồi cho tôi uống nước rau má pha đường, nghe xạo xạo sao đó, nhưng trong lòng cũng thinh thích. Gớm người nào chẳng mong mình trẻ mãi không già, nhất là những chú bác anh chị làm thơ, viết văn! Già đến khú đế nhưng nhất định xưng hô anh anh em em cho nó thân mật kiểu những nhà làm văn nghệ chẳng bao giờ già. Tóc đến trắng phau như cụ nhạc sĩ nổi danh từ Bắc vào Nam cũng cứ anh anh em em nghe ngọt xớt. Viết thư qua lại thấy thân mật ơi là thân mật, nghe điện thoại cũng cứ anh anh em em, chao ơi trái tim rung muốn rụng luôn. Đến khi gặp nhau, đôi lúc dở khóc dở cười, anh gì mà đồng hàng, không chừng già hơn cha mẹ nữa, úi chao ơi, thế mới có khổ không.-- Thế Bé năm nay bao nhiêu tuổi? -- Dạ em năm nay mười tám xuân xanh thôi! -- Trời ơi, chú có cháu tuổi còn lớn hơn cháu đó nha. -- Kệ anh chứ! Anh đừng hòng bắt em gọi bằng chú. -- Không bằng chú thì bằng thầy nhé? -- Thầy gì, Professeur Romantique?Cha mẹ ơi, cô bé lại xổ cả tiếng Tây Phờ Răng Căng Xa nữa nè trời. Tôi nhăn mặt giả làm hề:-- Sao lại gọi chú bằng thầy già dịch?Cô bé trả lời lại và nhấn mạnh: -- Đừng giả lãng tai nha anh, em có gọi anh bằng thầy già dịch hồi nào đâu, em chọc anh là professeur romantique, thầy giáo lãng mạn. -- Bé học tiếng Pháp bao lâu rồi? -- Dạ hai năm thôi anh, nhưng em thích làm thơ tiếng Pháp lắm, chẳng là vì người Pháp ai cũng lãng mạn cả. -- Thế chắc bé lãng mạn lắm... -- Còn phải hỏi, chọc quê em đi nha... Không lãng mạn không thể làm thơ, cũng như anh lãng mạn số một vậy đó! -- Chưa chi mà tố cáo chú rồi kìa! Lạ chưa, chú có lãng mạn hồi nào đâu, già cả rồi không yên thân tu tâm dưỡng tánh thiên hạ chửi cho không ngõ nào chạy trốn bây chừ ! -- Dẹp anh ra đi, cứ chú chú hoài ghét quá! -- Nhỏ đáng cháu, thì phải gọi bằng chú xưng cháu chứ chơi leo thế người ta nghe được cười chê cả cháu lẫn chú đó nha cô Tư. -- Chán anh quá, cứ ra vẻ mô phạm dạy đời hoài, khó tánh vừa thôi chứ, ở giá suốt đời đó nha. Thế rồi cô ngoay ngoảy bỏ đi cả tháng trời! Lòng tôi cũng nhơ nhớ tính tinh nghịch của cô nhỏ, nhưng chẳng lẽ mình bấp chấp luật thường đi tìm cô bé, trông sao coi nổi, người ta lại bảo kẻ trộn nôi con ( cradle thief) thì mang tiếng tới ba đời ba họ!Đúng một tháng sau, cô bé trở lại, chớp chớp mắt nhìn tôi lì lợm hỏi:-- Nhớ người ta hôn? Cô bé gốc Huế, giòng dõi hoàng tộc, nhưng lớn lên ở miền Tây lúc pha Huế pha Nam nghe vui vui đến lạ. Tôi chẳng dám nói là nhớ hay không, nói nhớ thì kỳ, nói không chắc cô bé lại bỏ đi cả mấy tháng trời nữa e rằng tôi sẽ nhớ lắm nên chỉ đành cười trừ đánh trống lãng, nhưng cô bé chẳng tha, nói thật nhẹ nhàng và nhõng nhẽo:-- Anh nói đi, có nhớ người ta không dzị?-- Nhỏ hỏi kỳ? Sao chú nói được! Mắc mớ chi mà nhớ chứ!Cô bé nhìn thẳng vào đôi mắt tôi, nắm chắc là tôi có nhớ, mặc dù miệng tôi lúc nào cũng chối lay lảy. Con gái mới lớn sao mà khôn lanh quá đi. Hồi tôi 17, 18 còn đần độn vô cùng. Có bao giờ dám cua ai trong lớp đâu. Cô bé dọa:-- Không mắc mớ chi hở? Vậy bé đi chống lầy, anh không được buồn nhé!Tôi trêu:-- Lêu lêu nhỏ kìa, mới bây lớn mà đòi đi lấy chồng rồi!-- Tại anh nói hổng mắc mớ chi với người ta mờ! Anh trả lời câu bé hỏi đi, có nhớ người ta không dzị?Tôi câu giờ vì khó thú thật quá, ai lại tóc sắp hai màu tới nơi rồi lại nhận mình nhớ cô con gái mới lớn.-- Người ta nào vậy? Thì hẳn trong thiên hạ nhiều, không ít thì nhiều cũng nhớ người này, người nọ chút chút chứ.-- Anh lãng xẹt ghê đi nha, người ta là người ta đó!-- Người ta là người ta đó thì chú biết đâu mà nói!-- Xí, người khó ưa!-- Tại già khó tánh đó!-- Anh đừng nói già với nhỏ nha!-- Vậy nhỏ cũng đừng hỏi những câu khó trả lời, đợi chừng 10 năm nữa đi!-- Thật nhá! Bé chờ anh mười năm, trong mười năm anh đừng để chị nào yêu anh nha! Nhỏ khóc đó! Tôi cười, a, mười năm biết bao nhiêu thay đổi, không chừng năm năm nữa cô bé gởi tôi thiệp hồng cũng có khi. Tôi gật đầu:-- Thì mười năm!Cô bé đưa tay phải ra, cong cong ngón tay trỏ:-- Ngoéo tay nha!-- Rõ con nít chay, ngoéo thì ngoéo! Cái chạm tay lần đầu như một luồng điện giựt mạnh cho cả cô bé lẫn tôi! Mặt cô bé đỏ bừng, tôi cũng luống cuống! Giống như lần đầu tiên nói chuyện trên điện thoại, cô bé nói lí nhí như thì thào nghe tiếng được tiếng không.-- Như... Tuyền nè! Phải.... anh là... anh.... Quang không? Đúng già sinh tật, đang không lại ngoéo tay như là con nít mới lớn. Hồn cũng xao xuyến ghê gớm. Chết thật lỡ mình yêu cô bé thì sao, khó xưng hô và giải thích với mọi người ghê lắm! Không biết lúc đó mọi người còn nghĩ mình là quanh minh chính đại hay là quàng gở nữa. Dù sao mình vẫn là Quang, ánh sáng tự muôn đời, dù ai nói ngược nói xuôi, nói nghiêng nói ngửa gì đi nữa. Mình vĩnh viễn vẫn là Quang, tia sáng của mặt trời xa vời vợi, làm ấm áp cây cỏ và cuộc đời. Cô bé như cánh bướm xinh xinh lượn bay. Gia đình cô bé sống thượng lưu đi nơi này nơi nọ không ai có thể ngờ, lúc sang Tây, lúc sang Nhật, sang Úc... Ôi chao, khó mà biết lúc nào cô bé đang ở đâu nếu cô bé chẳng thông báo trước. Có khi chạy ngang nhà, tôi định ghé vào thăm, thấy cửa đóng then cài là biết cả gia đình đã đi xa. Lòng tôi buồn mênh mang như sa mạc vắng! Những lúc cô bé vắng nhà, hồn tôi như thiếu hẳn sức sống, câu văn, lời thơ như trở thành thừa thãi, không còn hơi sức để dạt dào với nắng, với mưa. Lớp vỏ khô của hồn tôi đã bị sự hồn nhiên trong trắng nhí nhảnh của cô bé thấm nhuần, tước bỏ rồi, cô bé đã chinh phục trái tim tôi không phải một nửa hay ba phần tư mà toàn bộ trái tim tôi, cả hồn tôi rồi. Thỉnh thoảng cô bé gọi, đôi lúc ngay lúc giờ tôi làm việc. Nàng để lại vài câu nói vô tư vô số tội, "Tuyền nè anh, tại Tuyền nhớ anh quá nên gọi để nghe thông điệp của anh! Chúc anh một ngày vui!" Tháng ngày qua đi, vắng mặt cô bé ngày nào là hồn tôi buồn ngày ấy. Tôi chẳng còn băn khoăn rằng mình đang yêu hay không, vì tôi tin chắc là mình đang yêu mà chẳng dám mơ tưởng đòi hỏi gì vì thực sự khi nhớ tới cô bé là tôi đã hạnh phúc rồi, chẳng phải suy nghĩ thế này thế nọ. Đôi lúc tôi thì thầm nói với những tấm ảnh cô bé giao cho tôi ngày nào, những hình nàng chụp lúc nhỏ, khi sang Tây, sang Nhật, sang Úc, sang Anh... mà nàng nói "tặng anh để nhớ lúc nào em cũng nghĩ tới anh dù em ở chân trời nào" Có lẽ nàng là thiên thần, là quan âm bồ tát, là Ly Tao của tôi. Chưa bao giờ tôi nhớ ai bằng nhớ nàng, dù nàng cách xa tôi hơn cả con giáp. Không, tôi không phải yêu nàng chỉ để cho có yêu hay gì gì hết, mà thực sự có lẽ tôi đang sống trong tình yêu vì lúc nào khi ngủ hay khi thức nàng lúc nào cũng hiện diện bên tôi. Tôi có dễ dãi quá không nhỉ? Đôi lúc tôi thèm nghe tiếng nói thỏ thẻ ngọt ngào, mùi hương trầm trên mái tóc đen huyền thả chấm lưng của nàng dẫu chỉ là câu trách móc - Anh khó tánh ghê vậy á! Nguyên Đỗ
Mục lục
Anh Khó Tính Ghê Vậy Á!
Anh Khó Tính Ghê Vậy Á!
Nguyên ĐỗChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả /VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 16 tháng 1 năm 2008
|
Khái Hưng
Anh Phải Sống
Trên đê Yên Phụ, một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Theo dòng nước đỏ lờ lờ, những thân cây, những cành khô trôi từ rừng về, nổi lềnh bềnh, như một dẫy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến. Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ra ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói: - Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân giời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ! Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng đứng dừng lại, hỏi vợ: - Mình đã thổi cơm chưa? Vợ buồn rầu đáp: - Đã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay. Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông: Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ. Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ: - Liều! Vợ lắc đầu, không nói. Chồng hỏi: - Mình đã đến nhà bà Ký chưa? - Đã. - Thế nào? - Không ăn thuạ Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước. - Thế à? Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên bức tường đương xây. Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ: - Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò. - Đã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi. - Nhưng mình về thì vẫn hơn. Cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó. - Vậy thì tôi về... Nhưng mình cũng về, chứ đứng đây làm gì? - Được, cứ về trước đi, tôi về sau. Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ. ooOoo Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng dừng lại ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng. Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đương cùng khóc lóc gọi bụ Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng. Cái Nhớn dỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé: - Mày đi tìm bu về để cho em nó bú. Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu. Chị phó Thức chạy vội lại ẵm con, nói nựng: - Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc. Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước. Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng: - Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú! Một lúc, thằng bé vì mệt quá lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ. Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã quạ Bộ Óc chất phác của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ một cách rành mạch, là chưa bao giờ được thư nhàn, được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có. Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm... Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau. Năm năm ròng, trong gian nhà lụp xụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép về hai cái đời trống rỗng của hai người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con. Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chằn vặt suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con. Bỗng mùa nước năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thãi. Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to. Thì hôm qua, cái ăn, trời đã bắt đầu đưa đến cho gia đình nhà bác. Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì. ooOoo Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu. Gió vẫn to, vù vù, gầm hét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy nhanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời: da trời một màu đen sẫm. Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu bành bạch như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông. Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan. Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại các nút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền, hỏi: - Mình định đi đâu? Thức trừng trừng nhìn vợ, cất tiếng gắt: - Sao không ở nhà với con? Lạc sợ hãi ấp úng: - Con... nó ngủ. - Nhưng mày ra đây làm gì? - Nhưng mình định đem thuyền đi đâu? - Mày hỏi làm gì?... Đi về! Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động: - Sao mình khóc? - Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi. Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ: - Mình không đi được... Nguy hiểm lắm! Lạc cười: - Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi. - Được! Tiếng "được" lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời một lúc một đen. Thức hỏi: - Mình sợ? - Không. ooOoo Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son. Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở. Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi... Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc: - Giời ôi! Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp... Chồng hỏi vợ: - Mình liệu bơi được đến bờ không? Vợ quả quyết: - Được! - Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng! - Được! Mặc em! Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi: - Thế nào? - Được! Mặc em! Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu: - Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa. Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi: - Có bơi được nữa không? - Không biết. Nhưng một mình thì chắc được. - Em buông ra cho mình vào nhé? Chồng cười: - Không! Cùng chết cả. Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi: - Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không? - Không!... Sao? - Không. Thôi đành chết cả đôi. Bỗng Lạc run run khẽ nói: - Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống! Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ. ooOoo Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con. Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng.Rút từ tập truyện ngắn ANH PHẢI SỐNG, Nxb Đời nay, Hà Nội, 1934.Hết
Mục lục
Anh Phải Sống
Anh Phải Sống
Khái HưngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Mọt Sách đưa lên vào ngày: 17 tháng 6 năm 2004
|
Khái Hưng
Anh Phải Sống
Trên đê Yên Phụ, một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Theo dòng nước đỏ lờ lờ, những thân cây, những cành khô trôi từ rừng về, nổi lềnh bềnh, như một dẫy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến. Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ra ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói: - Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân giời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ! Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng đứng dừng lại, hỏi vợ: - Mình đã thổi cơm chưa? Vợ buồn rầu đáp: - Đã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay. Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông: Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ. Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ: - Liều! Vợ lắc đầu, không nói. Chồng hỏi: - Mình đã đến nhà bà Ký chưa? - Đã. - Thế nào? - Không ăn thuạ Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước. - Thế à? Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên bức tường đương xây. Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ: - Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò. - Đã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi. - Nhưng mình về thì vẫn hơn. Cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó. - Vậy thì tôi về... Nhưng mình cũng về, chứ đứng đây làm gì? - Được, cứ về trước đi, tôi về sau. Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ. ooOoo Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng dừng lại ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng. Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đương cùng khóc lóc gọi bụ Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng. Cái Nhớn dỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé: - Mày đi tìm bu về để cho em nó bú. Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu. Chị phó Thức chạy vội lại ẵm con, nói nựng: - Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc. Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước. Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng: - Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú! Một lúc, thằng bé vì mệt quá lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ. Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã quạ Bộ Óc chất phác của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ một cách rành mạch, là chưa bao giờ được thư nhàn, được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có. Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm... Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau. Năm năm ròng, trong gian nhà lụp xụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép về hai cái đời trống rỗng của hai người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con. Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chằn vặt suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con. Bỗng mùa nước năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thãi. Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to. Thì hôm qua, cái ăn, trời đã bắt đầu đưa đến cho gia đình nhà bác. Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì. ooOoo Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu. Gió vẫn to, vù vù, gầm hét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy nhanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời: da trời một màu đen sẫm. Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu bành bạch như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông. Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan. Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại các nút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền, hỏi: - Mình định đi đâu? Thức trừng trừng nhìn vợ, cất tiếng gắt: - Sao không ở nhà với con? Lạc sợ hãi ấp úng: - Con... nó ngủ. - Nhưng mày ra đây làm gì? - Nhưng mình định đem thuyền đi đâu? - Mày hỏi làm gì?... Đi về! Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động: - Sao mình khóc? - Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi. Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ: - Mình không đi được... Nguy hiểm lắm! Lạc cười: - Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi. - Được! Tiếng "được" lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời một lúc một đen. Thức hỏi: - Mình sợ? - Không. ooOoo Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son. Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở. Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi... Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc: - Giời ôi! Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp... Chồng hỏi vợ: - Mình liệu bơi được đến bờ không? Vợ quả quyết: - Được! - Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng! - Được! Mặc em! Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi: - Thế nào? - Được! Mặc em! Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh nàng lại mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ, một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu: - Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa. Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời. Vợ khẽ hỏi: - Có bơi được nữa không? - Không biết. Nhưng một mình thì chắc được. - Em buông ra cho mình vào nhé? Chồng cười: - Không! Cùng chết cả. Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi: - Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không? - Không!... Sao? - Không. Thôi đành chết cả đôi. Bỗng Lạc run run khẽ nói: - Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống! Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ. ooOoo Đèn điện sáng rực suốt bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con. Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng.Rút từ tập truyện ngắn ANH PHẢI SỐNG, Nxb Đời nay, Hà Nội, 1934.Hết
Mục lục
Anh Phải Sống
Anh Phải Sống
Khái HưngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Mọt Sách đưa lên vào ngày: 17 tháng 6 năm 2004
|
nhiều tác giả
Anh Thơ
Vài dòng về tác giả Anh Thơ
Tên thật là Vương Kiều Ân (Vuơng là họ cha, Kiều họ mẹ). Sinh năm 1919 tại Ninh Giang (Bắc Việt). Ông thân sinh là nhà nho, đậu tú tài, làm trợ tá. Vì ông là công chức, thuyên chuyển nay đây mai đó nên con cái thường phaỉ đôỉ trường luôn. Do đó, Anh Thơ thay đôỉ tơí ba trường (Hải Dương, Thái Bình, Bắc Giang) mà vẫn chưa qua bậc tiểu học. Lười học, nhưng rất thích văn chuơng, tập làm thơ từ nhỏ. Thoạt đâù, lâý bút hiệu Hồng Anh, sau mơí đôỉ thành Anh Thơ. Từng đăng thơ trên các tuần báo: Hà Nội báo, Tiểu Thứ Năm, Ngày Nay, Phụ Nữ, Bạn Đường. Được giaỉ thưởng khuyến khích về thơ của Tự Lực Văn Đoàn năm 1939 vơí thi phẩm Bức Tranh Quê. Đã xuất bản: Bức Tranh Quê (Đời Nay 1941); Xưa (hợp tác với Bàng Bá Lân - Sông Thuơng, 1941); Răng Đen, tiêủ thuyết (Nguyễn Du, 1942).
Mục lục
Anh Thơ
Anh Thơ
nhiều tác giảChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Yến VânĐược bạn: đưa lên vào ngày: 5 tháng 10 năm 2004
|
many authors
Anh Tho
A few lines about author Anh Tho
Real name is Vuong Kieu An (Vuong is the father's surname, Kieu is the mother's surname). Born in 1919 in Ninh Giang (North Vietnam). He was born a scholar, passed the baccalaureate, and worked as an assistant. Because he is a civil servant and moves here and there, his children often have to leave school. Therefore, Anh Tho changed to three schools (Hai Duong, Thai Binh, Bac Giang) but still did not pass elementary school. Lazy to study, but loves literature and has practiced writing poetry since childhood. At first, the pen name was Hong Anh, then later changed to Anh Tho. He has published poems in weekly newspapers: Hanoi newspaper, Thu Thuy, Today, Phu Nu, Duong Duong. Received a consolation prize for poetry from Tu Luc Van Doan in 1939 for his poem Painting of the Countryside. Published: Painting of the Countryside (Today 1941); Xua (collaboration with Bang Ba Lan - Song Thuong, 1941); Black Teeth, novel (Nguyen Du, 1942).
Table of contents
Anh Tho
Anh Tho
many authorsWelcome to read books from the book project for mobile devicesSource: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Yen Van Uploaded by friend: October 5, 2004
|
Mầu Hoa Khế
Anh trai và Em gái
T
iếng chuông nhà in ỏi vang lên liên tục , tôi chạy ra mở cửa ngạc nhiên khi thấy Nhị Ca của tôi đứng đó với nét mặt thật vui , anh cho biết hôm nay chị dâu tôi phải đi lên NewYork thăm đứa con trai đang trong thời gian thực tập để trở thành một bác sĩ trong tương lai . Tôi nhìn vào tay anh đang xách hai bịch đồ được mua ở chợ thật lớn . Anh bảo hôm nay anh ở lại làm cho tôi và các con món ăn đặc biệt của người miền trung là con hến xúc với bánh tráng . Tôi sống ở thành phố SanJose trên 20 năm ,rất nhiều nhà hàng đều có trong thực đơn về món ăn nầy . Tôi nói không ngượng miệng , so với Nhị Ca của tôi thì mời đi chỗ khác chơi , làm tôi lại sực nhớ tới có hôm đi ăn phở với anh , bánh thì nặng mùi để lâu ngày , nước phở nêm toàn muối , nếu không phải ở Mỹ thì chắc là đã mang cả cái ruộng muối hột mà đổ vào . Anh tôi chỉ nhấp một miếng đầu tiên thì bật miệng " con bà nó , gươm không bén mà bày đặt ra giang hồ " . Thế là hai anh em bỏ nguyên 2 tô phở đứng lên trả tiền ra về , anh bảo " anh nấu phở dã chiến tụi nó còn phải tới bái sư học đạo " . Tánh anh hiền lành nói chuyện cho vui chứ không chấp nê , chỉ quan tâm đã làm cho em gái không được ngon miệng mà thôi . Tôi là em gái kế của anh nên hai anh em thân nhau từ thuở ấu thơ .Bày biện ăn uống xong , con cái rút hết vào phòng .Phải nói là đã lâu chúng tôi chưa có dịp ngồi riêng rẽ để cùng nhau nhắc về những kỷ niệm xưa . Tôi gọi anh là Nhị Ca vì hay coi truyện kiếm hiệp của Kim Dung và trên anh là Đại Ca của chúng tôi . Trong gia đình giữa tôi với anh có một sự gắn bó thật thân thiết , có lẽ chúng tôi được mạ sinh ra chỉ cách 2 năm , cho nên từ những sở thích cũng giống nhau ,cho tới những chuyện tình cảm riêng tư cũng không ngại để tâm sự cho nhau nghe .Nhiều khi anh muốn đi cua một cô gái nào . Anh làm bộ như tôi là đào của anh , để cho cô gái đó chú ý tới anh . Trong tình cảm tâm lý thật phức tạp . Thấy bên cạnh anh có cô đào xinh , thì cô gái kia sẽ tìm cách chinh phục anh tôi . Chuyện này anh em tôi giữ rất bí mật . Anh em tôi rất hợp rơ , kẻ tung , người hứng , nói theo Kim Dung là " Song Kiếm Hợp Bích " . Cũng đã xảy ra biết bao chuyện cười vui cả tuổi đời khi còn thanh xuân . Dưới ánh đèn vàng vừa đủ tỏa sáng nơi phòng khách , một chai rượu đỏ vẫn chưa vơi .Hai anh em ngồi bên nhau trò chuyện . Hình như trong mắt anh, tôi vẫn là đứa em gái nhỏ bé như ngày nào , anh ngồi quàng qua vai tôi âu yếm , rồi trong đôi mắt mơ màng , anh thả hồn vào vùng ký ức để kể cho tôi nghe thêm những câu chuyện mà mãi tới hôm nay mới biết được . ... Hồi đó em dễ thương lắm , mạ mang em đi thi trẻ em khỏe và đẹp . Em của anh được đứng hạng nhất . Ai nhìn em cũng đưa tay nựng , có người mạnh tay làm cho da em bị sưng tím , anh giận lắm . Con nít mà khen hoài thì bị người khuất mặt quở phạt nên em bị bệnh một trận rất nặng kéo dài gần nửa năm . Cũng may nhờ có ông thầy cúng , ổng đuổi tà ma nên em mới khỏe mạnh lại . Nhưng mà từ đó ở nơi em như có một điều gì rất huyền bí , ví dụ như em hay biết trước những gì sắp xảy ra . Trong nhà đang đứng trước một vấn đề không biết có nên làm hay không , thì em vô tình nói thôi là kết quả không sai một chút nào . Từ đó mạ hay nói " có chi đừng cho nó biết , cái miệng nó linh lắm " . Anh nhớ lúc ba đi lính ở trong Sài Gòn , Đại ca lúc đó mới 12 tuổi , kéo thêm anh , em và Bé Em rũ rê nhau vô Sài Gòn kiếm ba . Bốn anh em trốn trong xe lửa , anh và Đại ca phải núp trong cầu tiêu khi có người đi soát vé . Còn em và Bé Em thì nhỏ xíu lại còn dễ thương nên được mấy người trên xe lửa họ cho ăn uống . Anh nhớ họ cho em cục xôi , em ngắt một nửa lận trong lưng quần để dành cho anh . Trên một chuyến hành trình từ sân ga nhỏ ở Quảng Trị đã đưa 4 anh em vô tới sân ga lớn ở Sài Gòn . Khi 4 anh em nắm tay nhau bước xuống xe lửa , phải nói là hết hồn vì không gian rộng lớn của một nơi gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông .Bốn anh em vừa bụng đói , tiền lại không có . Mà cái quan trọng nhất là không biết ba mình ở đâu để tìm .Đang đứng ngơ ngác trên bến ga thì bỗng nhiên có một người đàn ông mặc đồ lính đến hỏi : _ tụi con sao đứng đây ? , bố mẹ đâu ? Nhị Ca nhanh nhẩu nói : _tụi con đi tìm ba Người đàn ông tròn xoe mắt hỏi tiếp: _ba con ở đâu mà tìm ? _ba tụi cháu đi lính làm chức nha chiến tranh tâm lý Người đàn ông phì cười và biết nơi ba làm việc nên tốt bụng kêu một chiếc xích lô máy cho 4 anh em rồi ông lái xe gắn máy theo sau . Ông đưa 4 anh em tới đúng nơi và ba đã hiện ra với đôi mắt sửng sờ . Ba vội đi đánh giây thép để báo cho mạ nơi quê nhà đang lo lắng đợi chờ tin .Vì khi 4 anh em trốn nhà đi có viết mấy chữ cho mạ là "tụi con đi tìm ba" . Sài Gòn thật rộng lớn nhưng ông trời nhỏ lòng thương cho cảnh con đi tìm cha , nên đã sai thiên sứ xuống trần để giúp cho 4 anh em mình đó . ... Câu chuyện đã làm sống lại tình anh em của chúng tôi vốn đã có lại càng khắn khít hơn thêm . Tôi rất thương Nhị Ca của tôi . Anh có một cái tâm thật hiền lành lại còn hiểu về thuyết nhà Phật rất sâu sắc . Mỗi khi có dịp nghe anh nói chuyện , ai cũng ngồi nghe thật say mê . Tôi nghỉ anh giống như một vị bồ tác bị đọa xuống trần gian để làm cho xong những nhiệm vụ mà ông trời sai bảo . Trong một chuyến vượt biên để đi tìm tự do . Trên đại dương mênh mông , anh đã đứng ra quyết định cho mấy chục số phận đang đi trên chiếc tàu mong manh, bị lạc phương hướng lênh đênh cùng sóng to gió dữ . Con tàu theo sự quyết định dứt khoát của anh đã đi tới bến bờ Hồng Kông an toàn . Sau khi thoát sự nguy hiểm trên biển cả , anh được đưa về định cư ở Mỹ . Mười năm sau anh đánh đổi sự giàu có của mình khi đi đưa một lá số tử vi cho một người thật giỏi coi . Lá số cho biết nếu anh đứng ra lo cho toàn bộ gia đình tới miền đất hứa , thì tài lọc của anh sẽ mất sạch . Và anh đã chọn tình thân . Một người không tin vào bói toán hay đồng bóng, cũng phải nhận biết ra một điều hết sức đơn giản trong cuộc đời . Sự chọn lựa nào cũng phải có cái được , cái mất . Tôi rất tin vào sự công bằng đó . Nhị Ca thương yêu của tôi , nếu như có kiếp sau tôi vẫn muốn làm tiểu muội của anh . Bởi cho tới bây giờ , em gái của anh , con cái đầy nhà ,trên đầu đã lâm râm vài sợi tóc bạc . Miếng ăn ngon anh cũng để dành mang đến cho em , thỉnh thoảng vẫn còn dúi vào tay em vài ba trăm bạc để cho em đi mua sắm , mặc dầu anh biết em gái không thiếu thốn chi cả . Anh bảo suốt cả cuộc đời này anh không bao giờ quên hình ảnh con Bé Chị là tôi ,tuổi vừa lên 4 đứng trước rạp hát bóng , áo đầm hồng ,tóc bím thắt nơ , đưa tay dụi mắt làm bộ khóc để cho người ta dẫn vào rạp coi phim , anh cười nói " em lém và đáng yêu lắm " . I love you Nhị Ca Mầu Hoa Khế Jan 05.2011
Mục lục
Anh trai và Em gái
Anh trai và Em gái
Mầu Hoa KhếChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả/Diễn Đàn vnthuquạnĐược bạn: NgụyXưa đưa lên vào ngày: 11 tháng 1 năm 2011
|
Starflower color
Brother and sister
T
The house bell rang loudly continuously. I ran to open the door and was surprised to see my Second Brother standing there with a very happy expression. He told me that today my sister-in-law had to go to New York to visit her son who was in his period. Internship time to become a doctor in the future. I looked at his hand holding two large bags of groceries bought at the market. He said he would stay today to make me and the children a special dish of the Central region, which is mussels with rice paper. I have lived in San Jose city for over 20 years, many restaurants have this dish on their menu. I said without embarrassment, compared to my Nhi Ca, I invited him to go somewhere else, making me suddenly remember the day I went to eat pho with him, the cake had a strong smell that had been left for a long time, the pho water was seasoned with salt, otherwise In the US, they would have brought a whole salt field and poured it into it. My brother just took the first sip and then burst out saying, "You bastard, the sword is not sharp, so you set yourself up for a crime". So the two brothers put down their 2 bowls of pho, stood up, paid and left. He said, "I cook pho in the field, and they still have to go and pay their respects to the monks." He has a gentle personality and talks for fun, not being mean, just being concerned makes his sister not happy. I am his step-sister, so the two of us have been close since childhood. After finishing the meal, the children all retreated to their room. It must be said that it has been a long time since we had a chance to sit apart and talk about the things together. old memory . I call him Nhi Ca because I often watch Kim Dung's swordplay stories and above him is our Big Brother. In my family, my husband and I have a very close bond, perhaps we were born just 2 years apart, so we don't mind having the same interests, even personal love affairs. to confide in each other. Sometimes I want to go out with a girl. You pretended like I was your peach, so that girl would pay attention to you. Psychology is complicated. Seeing that there is a beautiful girl next to him, that girl will find a way to conquer my brother. My brothers and I kept this a very secret. My brothers and I get along very well, some tossing, some to catch, according to Kim Dung, "Twin Swords Hop Bich". There were also many funny stories that happened throughout my life when I was young. Under the yellow light just enough to shine in the living room, a bottle of red wine was still empty. The two brothers sat together and talked. It seemed that in his eyes, I was still the same little sister as before. He sat and hugged me lovingly, then with his dreamy eyes, he let his soul drift into his memory to tell me more stories. but I didn't know it until today. ... Back then you were so cute, my mother took you to the healthy and beautiful children contest. My brother ranked first. Everyone who looked at her reached out to caress her. Someone used a strong hand to make her skin become purple and swollen. I was very angry. If a child compliments her all the time, people in private will scold her and punish her, so she got very sick and lasted nearly half a year. Fortunately, thanks to the shaman, he chased away evil spirits so I was healthy again. But from then on, it seemed like there was something very mysterious about me, for example, I knew in advance what was about to happen. At home, we were facing a problem and didn't know whether we should do it or not, so I accidentally said that the result was not wrong at all. From then on, my mother often said "don't tell him anything, his mouth is very flexible". I remember when my father was in the army in Saigon, Big Brother was only 12 years old at that time, he dragged me, me and Baby Em to go to Saigon to look for him. The four brothers hid in the train, he and Big Brother had to hide in the toilet when someone went to check the tickets. As for me and Baby Em, we were so small and cute that the people on the train gave us food and drink. I remember they gave me sticky rice, I cut half of it and put it in the back of my pants to save for you. On a journey from a small station in Quang Tri, four brothers arrived at a large station in Saigon. When the four brothers held hands and stepped off the train, it must be said that they were stunned by the vast space of a place called the Pearl of the Far East. The four brothers were both hungry and had no money. But the most important thing is that I don't know where to find my father. While standing bewildered at the station, suddenly a man dressed in a soldier's uniform came and asked: _ Why are we standing here? , where are your parents? Nhi Ca quickly said: _we're going to find dad. The man widened his eyes and continued asking: _where can we find your dad? _Our father went to the army to work as a psychological warfare officer. The man laughed and knew where his father worked, so he kindly ordered a motorized cyclo for the four of us and then followed behind on his motorbike. He brought the four brothers to the right place and their father appeared with startled eyes. Dad quickly went to beat steel wire to inform his mother in his hometown who was anxiously waiting for news. Because when the four brothers ran away from home, he wrote a few words to their mother saying "we are looking for dad". Saigon is so big, but God had compassion for his son looking for his father, so he sent angels to earth to help his four brothers. ... The story has revived the brotherhood we already had and made it even closer. I love my Nhi Ca very much. He has a very gentle mind and also understands Buddhist theory very deeply. Every time I had a chance to listen to him talk, everyone sat and listened passionately. I think of you as a Bodhisattva who fell to earth to complete the tasks that God ordered. On a trip across the border to find freedom. On the vast ocean, he decided for dozens of fates that were traveling on a fragile ship, lost in the direction of the strong waves and winds. The ship, according to his decisive decision, arrived safely at Hong Kong shore. After escaping danger at sea, he was brought back to settle in America. Ten years later he traded his wealth to give a horoscope to a very good reader. The horoscope said that if he took charge of taking care of the entire family to the promised land, his talent would be lost. And he chose friendship. A person who does not believe in fortune telling or psychics must also realize one very simple thing in life. Every choice must have pros and cons. I believe very much in that fairness. My beloved Second Brother, if there is a next life, I still want to be your little sister. Because until now, his sister, the house is full of children, and there are a few gray hairs on her head. I also save up the delicious food to bring to you, and sometimes still put a few hundred silver in your hand to let you go shopping, even though I know my sister is not in need of anything. He said that throughout his life he would never forget the image of Little Sister me, just 4 years old, standing in front of the theater, wearing a pink dress, braided hair with a bow, rubbing her eyes and pretending to cry to show people Taking me to the theater to watch a movie, he smiled and said, "You're so smart and cute." I love you Nhi Ca Mau Hoa Khe Jan 05,2011
Table of contents
Brother and sister
Brother and sister
Mau Hoa KheWelcome you to read the first book from the book project for mobile devices. Source: executive: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author/Vnthuquan Forum Posted by friend: Nguy Xua on: January 11, 2011
|
Phương Thi
Anh Yêu Em
Họ cưới nhau được hai năm. Anh thích văn chương và thường “post” những sáng tác của mình lên mạng, nhưng chẳng mấy ai đọc chúng. Anh cũng thích nhiếp ảnh và hay chụp hình cho người thân, bạn bè. Anh yêu chị. Chị cũng yêu anh. Chị khá bướng bỉnh và luôn “bắt nạt” anh. Còn anh là một người đàn ông nhã nhặn, luôn bỏ qua những lỗi lầm của chị. Hôm nay, chị lại nổi cáu với anh. - Sao anh không chụp hình đám cưới cho nhỏ bạn của em? Nó hứa là sẽ trả tiền mà. - Hôm nay anh không có thời gian. - Hừ! - Gì cơ? - Không có thời gian à? Anh viết ít lại một chút là có thời gian ngay ấy mà. - Anh,… Rồi sẽ có ngày, sẽ có ai đó “nhìn ra” tác phẩm của anh. - Em không quan tâm. Anh phải chụp hình cho nhỏ bạn em. - Không được. - Chỉ lần này thôi. - Không. Sự thương lượng “hạ màn” nhưng lại chưa có kết thúc. Tuy nhiên, chị cũng cố đưa ra lời cảnh báo: “Anh phải đồng ý sau ba ngày, nếu không…”. Ngày thứ nhất. Chị chiếm giữ nhà ăn, phòng tắm, máy vi tính, tủ lạnh, ti vi, và cả máy nghe nhạc… Để tỏ ra “rộng lượng”, chị cho phép anh được vào phòng ngủ. Dĩ nhiên là chị cũng ngủ trên chiếc giường đó. Anh chẳng tỏ vẻ gì bận tâm, ít ra anh cũng còn một ít tiền trong ví. Chị khẽ đưa tay lấy tấm hình. Chị như vừa muốn khóc, vừa muốn cười. Đó là một tấm hình của chị... Ngày thứ hai. Chị quyết tâm làm một cuộc ruồng bố. Chị dốc hết tất cả những gì có trong ví của anh và cảnh báo lần nữa: “Hãy quyết định nhanh, nếu không anh sẽ phải nhận lãnh hậu quả…”. Lúc này thì anh có vẻ bối rối. Đêm. Trên giường. Anh năn nỉ chị hãy mau chóng kết thúc chuyện “quái quỉ” này. Chị không hề lay động. Chị đã nói là sẽ giữ lời, cho đến khi nào anh đồng ý mới thôi. Ngày thứ ba. Đêm. Trên giường. Anh nằm quay mặt qua một phía, chị nằm quay mặt qua một phía. Anh mở lời trước: - Chúng ta cần nói chuyện. - Nếu không phải là về đám cưới thì thôi. - Một chuyện rất quan trọng. Chị im lặng. - Chúng ta ly hôn nhé. Chị như không tin vào tai mình. - Anh mới gặp một cô gái. Chị hoàn toàn giận dữ và muốn lao vào anh. Nhưng chị đã cố bình tĩnh để anh nói hết, mắt ngấn nước. Một cách rất cẩn thận, anh rút ra từ ngực mình một tấm hình. - Cô ấy rất đẹp. Mắt chị đầm đìa nước mắt. - Cô ấy có một nhân cách tốt. Tim chị như vỡ ra từng mảnh, bởi vì anh đã đặt một bóng hình khác nơi “gần trái tim anh”. - Cô ấy nói rằng sẽ ủng hộ sự nghiệp viết lách của anh sau khi kết hôn. Chị cảm thấy ghen với người phụ nữ đó, bởi vì cô ấy đã nói ra điều mà chị cũng đã từng nói với anh trước khi họ kết hôn. - Cô ấy thật lòng yêu anh. Chị ước gì có thể hét lên: “Em thì không à?”. - Nên anh nghĩ, cô ấy sẽ không bao giờ ép anh làm những điều mà anh không muốn làm. Sau khi nghe anh nói như vậy, chị cũng có suy nghĩ, nhưng cơn thịnh nộ vẫn không nguôi được. - Em có muốn xem tấm hình anh đã chụp cho cô ấy không? Chị (…) Anh đưa tấm hình trước mặt chị. Chị hất tay anh ra và tát anh một cái thật mạnh. Anh chỉ còn biết thở dài. Chị thì khóc. Anh cất tấm hình vào túi áo. Chị quấn mình vào chăn. Anh tắt đèn và nhắm mắt. Chị ngồi dậy, bật đèn. Anh ngủ rồi. Chị thì không tài nào chợp mắt nổi. Chị hối hận vì đã có thái độ không phải đối với anh. Chị khóc và nghĩ ngợi lung tung. Chị muốn đánh thức anh dậy và nói chuyện nhẹ nhàng với anh. Chị không muốn cáu gắt với anh nữa. Chị liếc nhìn vào ngực anh. Chị muốn trông xem khuôn mặt cô ấy như thế nào. Chị khẽ đưa tay lấy tấm hình. Chị như vừa muốn khóc, vừa muốn cười. Đó là một tấm hình của chị. Tấm hình mà chính anh đã chụp cho chị. Chị cúi xuống hôn vào má của anh. Anh mỉm cười. Anh chỉ giả vờ ngủ. (Inspirationstories)
Mục lục
Anh Yêu Em
Anh Yêu Em
Phương ThiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Trương Phi Bảo Nguồn: VNTQĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 27 tháng 3 năm 2006
|
Phuong Thi
I love you
They were married for two years. He likes literature and often "posts" his works online, but not many people read them. He also likes photography and often takes pictures for relatives and friends. I love you. I love you too. She is quite stubborn and always "bullies" him. And he is a courteous man who always ignores her mistakes. Today, she got angry at him again. - Why don't you take pictures of my friend's wedding? It promised to pay. - I don't have time today. - Huh! - What? - Don't have time? If you write a little less, you'll have time right away. - You,... One day, someone will "see" your work. - I do not care. I have to take pictures for your little friend. - Impossible. - Just this time. - Are not. Negotiations "come to an end" but have not ended yet. However, she also tried to give a warning: "You must agree after three days, otherwise...". The first day. She occupied the dining room, bathroom, computer, refrigerator, TV, and music player... To show her "generosity", she allowed him to enter the bedroom. Of course, she also slept in that bed. He didn't seem to care at all, at least he had some money left in his wallet. She reached for the picture. She wants to cry as the same time as to laugh. That's a picture of her... Day two. She was determined to abandon her father. She emptied everything in his wallet and warned again: "Decide quickly, otherwise you will have to suffer the consequences...". At this point he seemed confused. Night. In bed. He begged her to end this "monster" matter quickly. She was not moved at all. She said she would keep her word until he agreed. The third day. Night. In bed. He lay facing one side, she lay facing the other side. He spoke first: - We need to talk. - If it's not about the wedding, that's fine. - A very important matter. She was silent. - Let's get a divorce. She couldn't believe her ears. - I just met a girl. She was completely angry and wanted to rush at him. But she tried to calm down and let him finish, her eyes filled with tears. Very carefully, he pulled out a photo from his chest. - She is very beautiful. Her eyes were filled with tears. - She has a good personality. Her heart felt like it was breaking into pieces, because he had placed another figure "close to his heart". - She said she would support his writing career after getting married. She felt jealous of that woman, because she said what she also said to him before they got married. - She truly loves you. She wished she could shout: "Don't you?". - So I think, she will never force me to do things I don't want to do. After hearing him say that, she also had thoughts, but her anger still could not calm down. - Do you want to see the picture I took of her? She (…) He put the photo in front of her. She pushed his hand away and slapped him hard. He could only sigh. She cried. He put the photo in his pocket. She wrapped herself in a blanket. He turned off the light and closed his eyes. She sat up and turned on the light. I'm asleep. She couldn't sleep at all. She regrets having the wrong attitude towards him. She cried and thought hard. She wanted to wake him up and talk softly to him. I don't want to be angry with you anymore. She glanced at his chest. I want to see what her face looks like. She reached for the picture. She wants to cry as the same time as to laugh. That's a picture of her. The photo that he himself took for her. She bent down and kissed his cheek. He smiled. He just pretended to sleep. (Inspirationsstories)
Table of contents
I love you
I love you
Phuong ThiWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for following the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Collected by: Truong Phi Bao Source: VNTQ Uploaded by friend: Ct.Ly on: March 27, 2006
|
Yi Ming
Anh yêu em khác mọi người
Nguyễn Hải Hoành dịch
Em bảo anh: “Xe đạp của em hỏng rồi, em phải đi bộ nửa tiếng đồng hồ mới đến nhà ga”. Em cứ tưởng là anh sẽ tỏ ra quan tâm và nói: Sao em không đi taxi? Em có mệt không? Thế nhưng anh lại bảo: Dù sao thì đường cũng gần thôi, và em cũng có dịp để giảm béo. Em bực mình, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Hôm sau khi ngủ dậy, em thấy trên bàn có chiếc chìa khóa xe đạp của anh và thức ăn bữa sáng thịnh soạn anh đã chuẩn bị sẵn cho em. Bấy giờ em mới phát hiện: Thì ra anh yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì cả - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Em muốn đi thăm Osaka và Hà Lan để thưởng thức biển hoa tươi ở đấy”. Em cứ tưởng anh sẽ tỏ ra quan tâm và nói: Em muốn đi đâu cơ? Nào, chúng mình lên kế hoạch nhé. Dù là anh nói vài câu đãi bôi cũng được. Thế nhưng anh lại bảo: Thật vô vị, bỏ ra một núi tiền đi thăm những nơi chán ngấy ấy để làm gì nhỉ? Em tức lắm, cảm thấy anh không yêu em, không hiểu em. Về sau em thấy các tạp chí du lịch trong nhà mình dù là du lịch trong nước hay ngoài nước, cứ trang nào có giới thiệu về thưởng thức hoa, góc cuối trang ấy đều có vết gấp, trên trang ấy đều có ghi chú của anh. Lúc ấy em mới phát hiện thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Tóc em rụng nhiều quá, thế mà bác sĩ bảo chẳng sao cả. Em thật sợ có ngày em sẽ trở thành một con hói”. Em cứ đinh ninh là anh sẽ an ủi em và nói: Tóc em trông vẫn còn khá nhiều đấy chứ. Nhưng anh lại bảo: Thế đấy, bây giờ mới biết tóc em rụng lung tung khắp nơi, sàn nhà chỗ nào cũng thấy tóc em, bẩn ơi là bẩn. Em thấy đau nhói trong lòng, nghĩ rằng anh chẳng yêu em, chẳng để ý đến em. Về sau, em thấy trên sàn nhà càng ngày càng có ít tóc rụng của mình, em nghĩ là mình hết rụng tóc rồi, vì thế cũng chẳng lo lắng chuyện em sẽ trở thành một con hói nữa. Thế nhưng mấy hôm anh đi công tác vắng, em mới thấy trên sàn nhà có nhiều tóc hơn, trong thùng rác cũng thấy có một đống tóc bọc giấy báo. Bấy giờ em mới phát hiện, thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Hôm nay em đi chơi với mấy đứa bạn, tối nay về muộn đấy”. Cứ tưởng anh sẽ quan tâm hỏi em: Đi chơi với ai thế? Đi đường cẩn thận nhé, nhớ gọi điện về nhà, hoặc về sớm một chút... đại loại những câu như vậy. Thế nhưng anh lại bảo: Tùy em, chỉ cần em vui là tốt rồi. Em rất bực mình, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Đêm hôm ấy em giận dỗi 3 giờ sáng mới về, lúc vào nhà em trông thấy nét mặt buồn ngủ bơ phờ của anh. Bấy giờ em mới phát hiện là anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Đây là cái áo khoác em chọn cho anh, mua từ hồi đổi mùa năm ngoái, cất trong tủ đã một năm. Bây giờ mùa đông mới sắp đến, em tặng anh sự ấm áp này”. Cứ tưởng anh sẽ xúc động trả lời: Cảm ơn em yêu của anh. Đây là sự ấm áp trong một mùa và cũng là kỷ niệm khó quên trong suốt đời anh. Thế nhưng anh lại nói: Chắc là em mua trong dịp các cửa hàng đại hạ giá chứ gì? Em bực mình lắm, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng hiểu em. Về sau khi đến cuối tháng 5, hết rét, mùa xuân bắt đầu trở về, em vẫn thường xuyên trông thấy anh mặc cái em gọi là áo khoác tình yêu, anh cho là áo hạ giá ấy. Em nghĩ đi nghĩ lại, đếm đi đếm lại mới kinh ngạc nhận thấy là hầu như ngày nào anh cũng mặc cái áo ấy đi làm. Bấy giờ em mới phát hiện ra là anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Em thích ăn món mì nguội của nhà hàng ở góc phố bên kia”. Mới đầu em cứ tưởng là anh sẽ nói với em: Thế thì ngày mai chúng mình cùng đi ăn nhé! Thế nhưng anh lại bảo: Suốt ngày chỉ nghĩ chuyện ăn uống, sao em chẳng nghĩ xem hồi này mình có béo ra không. Em xót xa trong lòng, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Về sau em thấy anh hay mua nhiều loại tương vừng, tương lạc, lọ này hộp nọ, pha hết bát tương này đến bát tương khác cho em ăn. Bấy giờ em mới phát hiện, thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Em thật mừng là đã lấy anh, anh đúng là người chồng tốt nhất”. Cứ tưởng anh sẽ vui vẻ đáp: Anh cũng thấy em là người vợ tốt nhất. Thế nhưng anh lại bảo: Lấy nhau rồi chứ nếu chưa lấy thì em sẽ nghĩ thế nào nhỉ? Em tức lắm, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng hiểu em. Về sau em vô tình phát hiện thấy tối nào anh cũng lấy giấy vệ sinh lau chùi tấm ảnh cưới của chúng mình để ở đầu giường, lau xong rồi ngẩn người ra mỉm cười ngắm tấm ảnh ấy khá lâu. Bấy giờ em mới phát hiện thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em nghĩ cuối cùng em đã hiểu ra, dưới vẻ ngoài không quan tâm của anh có một trái tim khó diễn tả bằng lời nói, một trái tim yêu em. Thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Có người nói, khi bạn ra đời thì đã có một mối nhân duyên thiên định sinh ra dành riêng cho bạn. Song biển người mênh mông, thế giới rộng bao la, đời người đau khổ mà ngắn ngủi, làm thế nào mới có thể tìm được mối nhân duyên thiên định dành riêng cho mình ấy? Làm cách nào để có thể tìm được người bạn đời hoàn mỹ đó? Con người hiện đại chẳng bao giờ có thể cố chờ đến cùng mối nhân duyên trời cho ấy, chẳng thể dùng tuổi thanh xuân chóng tàn lụi và tâm trạng lo lắng để nín thở chờ đợi, và thế là anh (chị) thường rất miễn cưỡng chấp nhận chị (anh) theo gió mà bay đến với mình, nhưng sau đó lại luôn luôn so sánh người ấy với người bạn đời hoàn mỹ để rồi thất vọng hết lần này đến lần khác. Họ không biết rằng, thực ra hiểu được cách quý trọng con người ở bên mình và mình đã sở hữu - đấy mới là niềm hạnh phúc lớn nhất, tình yêu chân thật nhất. Nếu có một tình cảm bền vững lâu dài và một tình cảm vẻ ngoài hào nhoáng nhưng lại chóng phai tàn thì bạn muốn lựa chọn tình cảm nào? Thế gian này có vô vàn đàn ông xuất sắc và đàn bà xinh đẹp, song tình cảm thật sự thuộc về bạn lại chỉ có một mà thôi. Dù thế nào đi nữa cũng chớ có vì ánh mắt của người khác mà thay lòng đổi dạ, bỏ mất tình yêu chân thành. Nhất thiết không được sống trong ánh mắt của kẻ khác mà đánh mất chính mình. Cũng mãi mãi đừng có tham lam quá. Tình yêu không phải là giấc mơ, như một truyện hài kể: Nếu ai đó cho rằng trên thế gian này có tình yêu mười phân vẹn mười thì người ấy chẳng phải là nhà thơ thì cũng là kẻ ngớ ngẩn. Cho nên chúng ta hãy để tâm gìn giữ, chăm sóc tình yêu bình thường không có gì là ghê gớm của mình. Các nhà triết học nói: Tình yêu tức là khi bạn biết người ấy không phải là người bạn sùng bái, hơn nữa rõ ràng còn có các khiếm khuyết này nọ, nhưng bạn vẫn cứ chọn người ấy, không vì các khiếm khuyết đó mà chối bỏ toàn bộ con người ấy. Đúng thế, không có một người yêu nào mười phân vẹn mười cả, cũng không có tình cảm nào không có chút tì vết, đó chính là người yêu và tình yêu đích thực. Đến bao giờ ta mới có thể bình tâm suy ngẫm về những lời nói ấy, nghĩ một chút về sự nực cười và ngây thơ của ta năm nào cố công theo đuổi một người tình hoàn mỹ? Nếu có một người mà trong mắt bạn, người ấy không có khiếm khuyết gì hết, bạn kính sợ người đó nhưng lại khát khao muốn được gần gũi người đó, tình cảm ấy không gọi là “tình yêu” mà gọi là “sùng bái”. Khi đã sùng bái thì phải tạo ra một thần tượng, giống như loại tô-tem, một thứ không máu không thịt. Tình yêu không cần thứ đó. Tình yêu là cái rành rành trước mắt có thể lấy tay chạm vào, dùng con tim để lĩnh hội. Yêu là khi biết rõ ràng người ấy ăn mặc luộm thuộm mà bạn vẫn bằng lòng cùng người đó xuất hiện trước đám đông; là khi bạn coi khinh nghề buôn bán mà người ấy lại vẫn cứ là một tiểu thương đáng yêu của bạn; là khi bạn vốn có tính quá ưa sạch sẽ mà lại cam chịu rửa hộp cơm nhầy nhụa mỡ hoặc giặt đôi giày thể thao hôi hám của người ấy. “Anh (em) không phải là người xuất sắc nhất, nhưng em (anh) chỉ yêu một mình anh (em) mà thôi!”. Khi đọc câu ấy, ta có cảm giác như mường tượng thấy một đôi bạn đời từng trải qua muôn vàn sóng gió của cuộc sống đang nắm tay nhau thong thả dạo bước dưới ánh nắng ấm áp, nét mặt tràn trề hạnh phúc ôn lại quãng đời đã qua. Chuyện cũ đã xa rồi mà kỷ niệm xưa vẫn còn đấy mãi mãi... Yi Ming (Trung Quốc) Nguyễn Hải Hoành dịch
Mục lục
Anh yêu em khác mọi người
Anh yêu em khác mọi người
Yi MingChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Dactrung.netĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 11 tháng 8 năm 2006
|
Yi Ming
Anh yêu em khác mọi người
Nguyễn Hải Hoành dịch
Em bảo anh: “Xe đạp của em hỏng rồi, em phải đi bộ nửa tiếng đồng hồ mới đến nhà ga”. Em cứ tưởng là anh sẽ tỏ ra quan tâm và nói: Sao em không đi taxi? Em có mệt không? Thế nhưng anh lại bảo: Dù sao thì đường cũng gần thôi, và em cũng có dịp để giảm béo. Em bực mình, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Hôm sau khi ngủ dậy, em thấy trên bàn có chiếc chìa khóa xe đạp của anh và thức ăn bữa sáng thịnh soạn anh đã chuẩn bị sẵn cho em. Bấy giờ em mới phát hiện: Thì ra anh yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì cả - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Em muốn đi thăm Osaka và Hà Lan để thưởng thức biển hoa tươi ở đấy”. Em cứ tưởng anh sẽ tỏ ra quan tâm và nói: Em muốn đi đâu cơ? Nào, chúng mình lên kế hoạch nhé. Dù là anh nói vài câu đãi bôi cũng được. Thế nhưng anh lại bảo: Thật vô vị, bỏ ra một núi tiền đi thăm những nơi chán ngấy ấy để làm gì nhỉ? Em tức lắm, cảm thấy anh không yêu em, không hiểu em. Về sau em thấy các tạp chí du lịch trong nhà mình dù là du lịch trong nước hay ngoài nước, cứ trang nào có giới thiệu về thưởng thức hoa, góc cuối trang ấy đều có vết gấp, trên trang ấy đều có ghi chú của anh. Lúc ấy em mới phát hiện thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Tóc em rụng nhiều quá, thế mà bác sĩ bảo chẳng sao cả. Em thật sợ có ngày em sẽ trở thành một con hói”. Em cứ đinh ninh là anh sẽ an ủi em và nói: Tóc em trông vẫn còn khá nhiều đấy chứ. Nhưng anh lại bảo: Thế đấy, bây giờ mới biết tóc em rụng lung tung khắp nơi, sàn nhà chỗ nào cũng thấy tóc em, bẩn ơi là bẩn. Em thấy đau nhói trong lòng, nghĩ rằng anh chẳng yêu em, chẳng để ý đến em. Về sau, em thấy trên sàn nhà càng ngày càng có ít tóc rụng của mình, em nghĩ là mình hết rụng tóc rồi, vì thế cũng chẳng lo lắng chuyện em sẽ trở thành một con hói nữa. Thế nhưng mấy hôm anh đi công tác vắng, em mới thấy trên sàn nhà có nhiều tóc hơn, trong thùng rác cũng thấy có một đống tóc bọc giấy báo. Bấy giờ em mới phát hiện, thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Hôm nay em đi chơi với mấy đứa bạn, tối nay về muộn đấy”. Cứ tưởng anh sẽ quan tâm hỏi em: Đi chơi với ai thế? Đi đường cẩn thận nhé, nhớ gọi điện về nhà, hoặc về sớm một chút... đại loại những câu như vậy. Thế nhưng anh lại bảo: Tùy em, chỉ cần em vui là tốt rồi. Em rất bực mình, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Đêm hôm ấy em giận dỗi 3 giờ sáng mới về, lúc vào nhà em trông thấy nét mặt buồn ngủ bơ phờ của anh. Bấy giờ em mới phát hiện là anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Đây là cái áo khoác em chọn cho anh, mua từ hồi đổi mùa năm ngoái, cất trong tủ đã một năm. Bây giờ mùa đông mới sắp đến, em tặng anh sự ấm áp này”. Cứ tưởng anh sẽ xúc động trả lời: Cảm ơn em yêu của anh. Đây là sự ấm áp trong một mùa và cũng là kỷ niệm khó quên trong suốt đời anh. Thế nhưng anh lại nói: Chắc là em mua trong dịp các cửa hàng đại hạ giá chứ gì? Em bực mình lắm, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng hiểu em. Về sau khi đến cuối tháng 5, hết rét, mùa xuân bắt đầu trở về, em vẫn thường xuyên trông thấy anh mặc cái em gọi là áo khoác tình yêu, anh cho là áo hạ giá ấy. Em nghĩ đi nghĩ lại, đếm đi đếm lại mới kinh ngạc nhận thấy là hầu như ngày nào anh cũng mặc cái áo ấy đi làm. Bấy giờ em mới phát hiện ra là anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Em thích ăn món mì nguội của nhà hàng ở góc phố bên kia”. Mới đầu em cứ tưởng là anh sẽ nói với em: Thế thì ngày mai chúng mình cùng đi ăn nhé! Thế nhưng anh lại bảo: Suốt ngày chỉ nghĩ chuyện ăn uống, sao em chẳng nghĩ xem hồi này mình có béo ra không. Em xót xa trong lòng, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng quan tâm em. Về sau em thấy anh hay mua nhiều loại tương vừng, tương lạc, lọ này hộp nọ, pha hết bát tương này đến bát tương khác cho em ăn. Bấy giờ em mới phát hiện, thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em bảo anh: “Em thật mừng là đã lấy anh, anh đúng là người chồng tốt nhất”. Cứ tưởng anh sẽ vui vẻ đáp: Anh cũng thấy em là người vợ tốt nhất. Thế nhưng anh lại bảo: Lấy nhau rồi chứ nếu chưa lấy thì em sẽ nghĩ thế nào nhỉ? Em tức lắm, cảm thấy anh chẳng yêu em, chẳng hiểu em. Về sau em vô tình phát hiện thấy tối nào anh cũng lấy giấy vệ sinh lau chùi tấm ảnh cưới của chúng mình để ở đầu giường, lau xong rồi ngẩn người ra mỉm cười ngắm tấm ảnh ấy khá lâu. Bấy giờ em mới phát hiện thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Em nghĩ cuối cùng em đã hiểu ra, dưới vẻ ngoài không quan tâm của anh có một trái tim khó diễn tả bằng lời nói, một trái tim yêu em. Thì ra anh vẫn yêu em, chỉ có điều anh chẳng nói gì - đây là cách yêu của anh, khác với mọi người. Có người nói, khi bạn ra đời thì đã có một mối nhân duyên thiên định sinh ra dành riêng cho bạn. Song biển người mênh mông, thế giới rộng bao la, đời người đau khổ mà ngắn ngủi, làm thế nào mới có thể tìm được mối nhân duyên thiên định dành riêng cho mình ấy? Làm cách nào để có thể tìm được người bạn đời hoàn mỹ đó? Con người hiện đại chẳng bao giờ có thể cố chờ đến cùng mối nhân duyên trời cho ấy, chẳng thể dùng tuổi thanh xuân chóng tàn lụi và tâm trạng lo lắng để nín thở chờ đợi, và thế là anh (chị) thường rất miễn cưỡng chấp nhận chị (anh) theo gió mà bay đến với mình, nhưng sau đó lại luôn luôn so sánh người ấy với người bạn đời hoàn mỹ để rồi thất vọng hết lần này đến lần khác. Họ không biết rằng, thực ra hiểu được cách quý trọng con người ở bên mình và mình đã sở hữu - đấy mới là niềm hạnh phúc lớn nhất, tình yêu chân thật nhất. Nếu có một tình cảm bền vững lâu dài và một tình cảm vẻ ngoài hào nhoáng nhưng lại chóng phai tàn thì bạn muốn lựa chọn tình cảm nào? Thế gian này có vô vàn đàn ông xuất sắc và đàn bà xinh đẹp, song tình cảm thật sự thuộc về bạn lại chỉ có một mà thôi. Dù thế nào đi nữa cũng chớ có vì ánh mắt của người khác mà thay lòng đổi dạ, bỏ mất tình yêu chân thành. Nhất thiết không được sống trong ánh mắt của kẻ khác mà đánh mất chính mình. Cũng mãi mãi đừng có tham lam quá. Tình yêu không phải là giấc mơ, như một truyện hài kể: Nếu ai đó cho rằng trên thế gian này có tình yêu mười phân vẹn mười thì người ấy chẳng phải là nhà thơ thì cũng là kẻ ngớ ngẩn. Cho nên chúng ta hãy để tâm gìn giữ, chăm sóc tình yêu bình thường không có gì là ghê gớm của mình. Các nhà triết học nói: Tình yêu tức là khi bạn biết người ấy không phải là người bạn sùng bái, hơn nữa rõ ràng còn có các khiếm khuyết này nọ, nhưng bạn vẫn cứ chọn người ấy, không vì các khiếm khuyết đó mà chối bỏ toàn bộ con người ấy. Đúng thế, không có một người yêu nào mười phân vẹn mười cả, cũng không có tình cảm nào không có chút tì vết, đó chính là người yêu và tình yêu đích thực. Đến bao giờ ta mới có thể bình tâm suy ngẫm về những lời nói ấy, nghĩ một chút về sự nực cười và ngây thơ của ta năm nào cố công theo đuổi một người tình hoàn mỹ? Nếu có một người mà trong mắt bạn, người ấy không có khiếm khuyết gì hết, bạn kính sợ người đó nhưng lại khát khao muốn được gần gũi người đó, tình cảm ấy không gọi là “tình yêu” mà gọi là “sùng bái”. Khi đã sùng bái thì phải tạo ra một thần tượng, giống như loại tô-tem, một thứ không máu không thịt. Tình yêu không cần thứ đó. Tình yêu là cái rành rành trước mắt có thể lấy tay chạm vào, dùng con tim để lĩnh hội. Yêu là khi biết rõ ràng người ấy ăn mặc luộm thuộm mà bạn vẫn bằng lòng cùng người đó xuất hiện trước đám đông; là khi bạn coi khinh nghề buôn bán mà người ấy lại vẫn cứ là một tiểu thương đáng yêu của bạn; là khi bạn vốn có tính quá ưa sạch sẽ mà lại cam chịu rửa hộp cơm nhầy nhụa mỡ hoặc giặt đôi giày thể thao hôi hám của người ấy. “Anh (em) không phải là người xuất sắc nhất, nhưng em (anh) chỉ yêu một mình anh (em) mà thôi!”. Khi đọc câu ấy, ta có cảm giác như mường tượng thấy một đôi bạn đời từng trải qua muôn vàn sóng gió của cuộc sống đang nắm tay nhau thong thả dạo bước dưới ánh nắng ấm áp, nét mặt tràn trề hạnh phúc ôn lại quãng đời đã qua. Chuyện cũ đã xa rồi mà kỷ niệm xưa vẫn còn đấy mãi mãi... Yi Ming (Trung Quốc) Nguyễn Hải Hoành dịch
Mục lục
Anh yêu em khác mọi người
Anh yêu em khác mọi người
Yi MingChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Dactrung.netĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 11 tháng 8 năm 2006
|
nhiều tác giả
Anh Đức
Tác giả - tác phẩm
Nhà văn Anh ĐứcTên khai sinh: Bùi Đức Ái, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1935, tại xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, An Giang. Nơi ở hiện nay: 105 Nguyễn Văn Thủ, quận I, thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tốt nghiệp đạii học. Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam (1957).Từ năm 1953 là biên tập viên báo Cứu Quốc Nam Bộ, nhiều năm gắn bó với các công việc làm báo, sáng tác văn học. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là trưởng ngành văn, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ giải phóng; ủy viên Ban thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Đảng đoàn các khóa 2 và 3. Đại biểu quốc hội khóa 7. Hiện nay là ủy viên Ban thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Tổng biên tập tạp chí Văn, ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam khóa 5.Tác phẩm đã xuất bản: Biển động (truyện, 1952); Lão anh hùng dưới hầm bí mật (truyện, 1956); Một truyện chép ở bệnh viện (truyện, 1958); Biển xa (truyện, 1960); Bức thư Cà Mau (truyện, 1965); Giấc mơ ông lão vườn chim (truyện, 1970); Hòn đất (tiểu thuyết, 1966); Đứa con của đất (tiểu thuyết, 1976); miền sóng vỗ (tập truyện, 1985).Giải thưởng văn học: Văn nghệ Cửu Long Nam Bộ (1952), Giải nhất truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ (1958), Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (truyện, 1965)...
Mục lục
Anh Đức
Anh Đức
nhiều tác giảChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Thái Nhi đưa lên vào ngày: 1 tháng 11 năm 2004
|
many authors
Mr. Duc
Author - work
Writer Anh Duc Birth name: Bui Duc Ai, born May 5, 1935, in Binh Hoa commune, Chau Thanh district, An Giang. Current residence: 105 Nguyen Van Thu, District I, Ho Chi Minh City. Member of the Communist Party of Vietnam. Graduated from university. Member of the Vietnam Writers Association (1957). Since 1953, he has been the editor of Cuu Quoc Southern newspaper, and has been involved in journalism and literary creation for many years. During the resistance war against America to save the country, he was the head of the literature department and editor-in-chief of Liberation Arts magazine; Member of the Secretariat of the Vietnam Writers' Association, member of the Party Committee of the 2nd and 3rd terms. Delegate to the 7th National Assembly. Currently a member of the Secretariat of the Ho Chi Minh City Writers' Association, Secretary of the Union Party Committee. Association of Literary and Arts Associations of Ho Chi Minh City, Editor-in-Chief of Van magazine, member of the 5th Executive Committee of the Vietnam Writers' Association. Published works: Rough Sea (story, 1952); The old hero in the secret bunker (story, 1956); A story copied at the hospital (story, 1958); The Far Sea (story, 1960); The Letter from Ca Mau (story, 1965); The Old Man's Dream of the Bird Garden (story, 1970); The Earth (novel, 1966); Child of the Earth (novel, 1976); The Land of Breaking Waves (collection of stories, 1985). Literary awards: Southern Mekong Arts (1952), First prize for short stories of Van Nghe magazine (1958), Nguyen Dinh Chieu Award (stories, 1965).. .
Table of contents
Mr. Duc
Mr. Duc
many authorsWelcome to read books from the book project for mobile devicesSource: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: Thai Nhi posted on: November 1, 2004
|
Áo Vàng
Anh ơi, cùng nhau ta vượt biển....
Trong tuyển tập Chuyện cổ tích Xanh Anh ơi, cùng nhau ta vượt biển....Cái bụng bự thè lè làm cô đứng ngồi không thoải mái...hôm nay phải gặp một thân chủ đang bị sưng mặt vì sâu răng mà không chịu chửa, cả năm trời rồi, giờ này thì còn cứu cái răng gì nỗi nữa, chắc phải nhổ đi thôi...nếu dư tiền và không sợ nha sĩ, bác đã đi lấy chỉ máu răng từ lâu rồi...thiệt là khổ cho bác mà cũng khổ cho cô...nhưng chịu thôi nhe, cô không đủ sức để cầm kềm hôm nay rồi đó. Đã lấy hai tuần nghỉ ngơi trước ngày sanh, phòng mạch có đồng nghiệp làm thế, nhưng chị thư ký réo cô vào, dòm dùm bác một tí...chị còn dọa, bác không chịu gặp ai khác, chờ cô thôi...nè, lỡ bác sưng húp đến con mắt là nguy...cô nói cứng, thì cho bác đi nhà thương...lầu bầu như thế nhưng rồi cô cũng bò ra phòng mạch, vì cô biết bác dám chờ cô thiệt chứ không phải nói chơi đâu...vừa yên tâm và còn đỡ tốn tiền nữa...muốn thảnh thơi sanh đẻ thì giải quyết lẹ cho rồi đi...bắt bác chờ đến hai tháng cũng tội nghiệp.... ...Xong rồi, bác chịu khó uống trụ sinh nhé, đau quá thì lại đây nhổ răng với cậu Vinh nghe bác...(coi vậy chứ răng không đau nữa chắc đến sang năm cô cũng chưa gặp bác lại đâu...) Rồi cái ông khách nào ở ngoài phòng đợi ồn ào thế kia.... A… , anh Hoài, thùng gì mà bự vậy? - Chị dặn Hoài lúc nào có tôm hùm thì lấy cho chị một két đó. - Í dà! Tui sắp đi sanh nay mai, ăn sao hết đây? Cám ơn anh lắm lắm nhe… Cô nhìn cái thùng đầy tôm hùm còn ngọ nguậy mà hỡi ơi….bình thường thì không sao, có người mua dùm cho giá rẻ, cô mừng hết lớn, kêu một tiếng, mấy chị em chạy qua, mỗi nhà chia vài con là hết vèo… Thôi để đó, tối tính sau. Chị thư ký lại gọi vào, có anh Bùi kiếm cô… -Anh Bùi ?... A…….anh Bùi ! - Ti đó hả? Anh đang ở Trái Cam đây...ra uống julep... - Cái gì? Thiệt chơi? Anh qua hồi nào? - Mới vào đến thành phố… - Í da...lâu quá không gặp...anh... khỏe? Làm gì ở đây? Không phải đang du dương sao? - Thì anh đang honeymoon đây... - Í da...vui quá he...bữa trước nhận được thiệp của anh, gửi lời mừng rồi, có nhận được không? - Có, có, hôm nay giới thiệu người đẹp với Ti đây... - Ừa, anh về hotel há? Lấy phòng rồi gọi lại nhe, tối vợ chồng Ti đón anh chị đi ăn tối nha... Thằng nhỏ trong bụng bổng dưng kích cô một phát muốn ngã ngồi...trời đất ơi, đã 4 giờ chiều rồi, biết ông xã đang ở đâu...giờ này ổng bận lắm...không họp thì đi đánh golf với Karl, đằng nào cũng lẹ lẹ phone kiếm chàng cái đã... Anh cô hứa về đúng giờ để thù tiếp bạn của bà xã...cô yên tâm, trang điểm xum xoe đặng tối đi nhà hàng...mà sao cái bụng nó nặng chình chịch thế này...tới chiều tối cô oải quá, không biết có nên hồi chuyện ăn uống hay không, rồi nghĩ, mình mời khách mà bây giờ trốn, coi sao được... Chờ đến khi anh Bùi gọi lại thì cô đã leo lên ghế dài ngã lưng và không còn muốn đi đâu nữa...Đành xin lỗi anh chị, cô báo tin không chừng tối nay đi sanh... - Trời đất! Vậy thì tụi này lại nhà nhé... - No, no...không được anh ơi...nhà đang sửa...không có chổ tiếp khách nữa... Cô chẳng nói xạo đâu, năm đó cô mới mua thêm căn nhà sát vách nên sửa sang tùm lum, đã sắp xếp sau khi sanh về sẽ ở nhà Ngoại vài tháng trong lúc Ngoại qua Paris thăm chị Hai. - Vậy lúc nào gặp được nhau đây? Mai tụi anh sẽ rời khỏi đây rồi... - Thôi thăm anh qua phone vậy...cho Ti nói chuyện với chị đi....hello chị... Ông xã cười bắt quả tang cô...’mình đang không đẹp, không muốn gặp chứ gì ???’ - Đâu phải nà, mệt thiệt... Mà cũng đúng ha, chẳng nên gặp lúc ôm bầu như thế này thiệt. Mình còn thấy xấu ình, huống chi mấy kép cũ và các cây si ngày xưa, chắc sẽ ngậm ngùi....&Cô đang ngon giấc, anh trở mình ôm vợ ...cái gì đây...cưng ơi, đái dầm há? Cô nhích người...ô, nước tuôn như suối nguồn...í, anh ơi, bể bọc nước....hu hu... Cả nhà nhoáng lên, con cái thức giấc vì mẹ la làng lớn quá...nhanh nhanh...phone bác sĩ ...gọi nhà thương...Ngoại ơi, trông dùm tụi nhỏ...cô Sáu, tôm hùm!!ăn dùm...nhắn Nội chị đi sanh đây nha... Tắm rửa thơm tho, mặc đồ đẹp, được anh đưa vào phòng bằng xe lăn.... Bác sĩ sản khoa của cô đã chờ sẳn, hai lần sanh trước bà đều lo cho mẹ con cô vuông tròn, hôm nay bà phải đi tòa làm chứng cho một vụ kiện nên sửa soạn thăm nom cô xong, bà hứa hẹn sẽ về kịp để sanh cho cô.... Í da...cô phải chờ nữa sao? Thằng cu có chịu chờ không đây? Đọc kinh, đọc kinh tiếp... Cô sanh con gái đầu lòng, thích ơi là thích. Cô may vá ,sắm sửa áo quần như cô may đồ cho búp bế ngày xưa...Lần bầu thứ nhì, bác sĩ nghĩ cô sẽ sanh con trai, nhưng lúc đo nhịp tim hôm đi sanh thì biết là con gái, bởi vậy lần này chờ đến giờ cuối bà mới dám chắc ăn, chúc mừng cô... Rồi Bác sĩ hiện ra ở khung cửa, cô mừng hết lớn, thuốc gây tê cột xương sống sắp tan rồi...mau mau đi thôi... -Madame Lee, sanh hai đứa đầu ngon lành rồi, lần này tôi để bà nằm tại giường, theo phương pháp tự nhiên đang được phổ biến thịnh hành, bà có đồng ý không? - O.K. bác sĩ nói sao tôi nghe vậy... Thế là y tá sửa soạn để cô bắt đầu...rặn... Bặm môi trợn mắt...sao chưa ra...lâu quá vậy nè trời...anh nắm chặt tay cô...thở, thở đi cưng...cô nghiến răng thở, há miệng thở...thôi, mệt quá rồi, anh thở tiếp đi !!! Bà bác sĩ la lớn, trời đất, không chịu đi tập thở trước phải không ??? Í, ra rồi, ra rồi...ồ, mắc kẹt cái vai...thở! thở! Cô hết nghe gì cả rồi...mệt lã người...Bác sĩ bắt đầu khẩn trương, thiếu đường muốn leo lên bụng cô để đẩy thằng nhóc ra cho nhanh...tội nghiệp !!! Anh buông tay cô, la lớn mừng rỡ, chạy lại bồng con...’cưng ơi ,con trai’...’con trai hả anh, bồng đến em coi’... cô thở ra nhẹ nhỏm vì biết chuyến vượt cạn đã tới chốn bình an...nhưng rồi cô không nghe anh trả lời...’Anh ơi! Con đâu?’...’đây đây, đang chờ bác sĩ xem trước’...’anh ơi, sao không nghe con khóc?’....’ anh!, có gì không?’...vừa vặn tiếng khóc oe oe nổi lên, tất cả mọi người trong phòng thở phào, có tiếng reo mừng....rồi anh bồng con run run đặt vào tay cô, mắt anh long lanh ướt nhẹp... Lúc mọi người rời phòng chỉ còn anh và cô với bébé, anh kể lại cho cô những giây phút căng thẳng hồi nãy. Cu Vũ, (mẹ đã đặt tên trước khi sanh) vì tư thế nằm ngược trong bụng mẹ, cái đầu thì bự nữa nên mắc kẹt... bác sĩ phải dùng kềm kẹp ra....chỉ chậm có mấy giây thôi mà mặt Vũ xanh lè, nên lúc ra được, bác sĩ chụp ngay thằng nhỏ, cho liền oxygene .Y tá chạy vù vù, ba nó mặt mày tái ngắt, chỉ có mẹ là chẳng biết trời trăng gì cả... Vậy mà bác sĩ phải đét cho mấy phát vào đít, thằng nhỏ mới chịu cất tiếng oe oe...Thiệt tình !!!! Chưa chi mà thấy giống ba nó cái tánh cứng đầu rồi đó.... Áo Vàng
Mục lục
Anh ơi, cùng nhau ta vượt biển....
Anh ơi, cùng nhau ta vượt biển....
Áo VàngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác GiảĐược bạn: NgụyXưa đưa lên vào ngày: 13 tháng 12 năm 2010
|
Yellow shirt
Brother, let's cross the sea together....
In the collection of Green Fairy Tales, Brother, let's cross the sea together.... Her big, hanging belly made her sit and stand uncomfortable... today she had to meet a client whose face was swollen due to tooth decay but couldn't. I've been pregnant, it's been a year, what's the point of saving my tooth now, I'll probably have to have it extracted...if I had enough money and wasn't afraid of the dentist, I would have had my tooth flossed a long time ago...really It's miserable for you but also miserable for you...but bear with it, you don't have enough strength to hold the pliers today. I took two weeks off before giving birth, and the clinic had a colleague who did that, but the secretary invited her in and looked at me a little...she even threatened me, I refused to see anyone else, I just waited for her.. .hey, if your eyes are so swollen that it's dangerous...she said harshly, then let him go to the hospital...so pregnant, but then she crawled out to the doctor's office, because she knew he really dared to wait for her. I'm not joking... it just gives me peace of mind and saves money... If you want to give birth in peace, then solve it quickly and go... making you wait for two months is also pitiful.... .. .It's done, please take the antibiotic. If it hurts too much, come and pull the tooth with Mr. Vinh... (Look, if the tooth doesn't hurt anymore, I probably won't see you again until next year...) Then who is that noisy customer outside the waiting room?... Ah..., Mr. Hoai, what's with that big box? - I told Hoai to bring me a box of lobsters whenever there is lobster. - Hey! I'm about to give birth soon, so how can I finish eating? Thank you so much... She looked at the box full of lobsters still wiggling and oh my... Normally it's fine, someone bought it for me at a cheap price, she was so happy, she shouted, the sisters ran over. , each family shares a few and it's all over... Let's leave it there, figure it out later tonight. The secretary called again, there was Mr. Bui looking for her... -Mr. Bui?... Ah... Mr. Bui! - Is that Ti? I'm in Orange...coming out to drink julep... - What? Really? When did you come over? - Just arrived in the city... - Hey... long time no see... how are you...? What are you doing here? Isn't it melodious? - So I'm on my honeymoon... - Hey... I'm so happy... I received your card the other day, sent my congratulations, did you receive it? - Yes, yes, today I will introduce the beauty to Ti... - Oh, are you going back to the hotel? Get a room and call back. Ti and his wife will pick you up for dinner tonight... The little guy in her stomach suddenly makes her want to fall down... oh my god, it's already 4pm, I know my husband. Where are you...he's very busy right now...if he's not in a meeting, he's going to play golf with Karl. Either way, I'll quickly call and look for him first... Her brother promised to return on time to meet his wife's friend. ..she could rest assured, she put on makeup so she could go to the restaurant that night...but why was her belly so heavy...by the evening she was so tired, she didn't know if she should talk about eating or not, then I thought, I invited guests and now I'm hiding, how can I... By the time Mr. Bui called back, she had already climbed onto the couch and fell down and didn't want to go anywhere anymore... I had to apologize, she said. I can't believe I'm going to be born tonight... - Oh my god! Then let's go back to the house... - No, no...no, honey...the house is being renovated...there's no more room to receive guests... I'm not lying, I just bought it that year. In addition, the house next door should be renovated extensively. It has been arranged that after giving birth, I will stay at Grandma's house for a few months while she goes to Paris to visit Hai's sister. - So when can we meet? We'll leave here tomorrow... - Stop visiting me on the phone...let Ti talk to you....hello sister... My husband laughed and caught her red-handed...'I was It's not beautiful, I don't want to meet you???' - That's not true, I'm really tired... But it's also true, I shouldn't meet you while holding a baby like this. I still feel bad about myself, let alone the old couples and old sycamore trees, I'll probably feel sad....&She's sleeping soundly, he turns over and hugs his wife...what is this...honey, Bedwetting? She moved her body... oh, the water flowed like a stream... oh, brother, the water tank....huhu... The whole house flashed, the children woke up because their mother was screaming so loudly.. .quickly...phone the doctor...call the hospital...Grandma, take care of the kids...Miss Sau, lobster!!eat it...tell Grandma to go give birth... She took a nice shower, put on nice clothes, and was taken into the room by him in a wheelchair... Her obstetrician was waiting. She had taken care of her mother and baby the last two times she gave birth. Today she had to go. The court was testifying in a lawsuit, so after preparing to visit her, she promised to return in time to give birth to her.... Hey...do I have to wait any longer? Boy, are you willing to wait? Read the scriptures, continue reading the prayers... She gave birth to her first daughter, and she loved it. She sewed and prepared clothes like she used to sew clothes for her dolls in the past... The second time she was pregnant, the doctor thought she would give birth to a boy, but when she measured her heart rate on the day of giving birth, she knew it was a girl, so This time, she waited until the last hour to be sure, congratulating her... Then the Doctor appeared in the door frame, she was so happy, the spinal anesthetic was about to wear off... hurry up and go... . -Madame Lee, you gave birth to your first two children, this time I let you lie in bed, following the popular natural method, do you agree? - O.K. What did the doctor say? Why did I hear that... So the nurse prepared for her to start...pushing... Pursing her lips and rolling her eyes...why hasn't it come out yet...it's been taking so long, oh god...I'm holding on Tighten her hand...breathe, breathe baby...she gritted her teeth and breathed, opened her mouth to breathe...stop, I'm so tired, keep breathing!!! The doctor shouted loudly, oh my god, she didn't want to do breathing exercises first, right??? Hey, it's out, it's out...oh, stuck shoulder...breathe! breath! She stopped listening to anything... so tired... The doctor started to panic, wanting to climb onto her stomach to push the boy out quickly... poor thing!!! He let go of her hand, shouted with joy, ran back and picked up the baby...'honey, my son'...'a son, please carry me'... she breathed a sigh of relief because she knew the journey was over. She reached a safe place...but then she didn't hear him answer...'Dear! Where are you?'...'here, waiting for the doctor to see first'...'brother, why don't you hear me cry?'....' brother!, is there anything?'...just right A loud cry arose, everyone in the room breathed a sigh of relief, there were shouts of joy....then he picked up the trembling baby and placed it in her arms, his eyes were sparkling and wet... When everyone left the room only As for him and her and baby, he recounted to her the tense moments earlier. Cu Vu, (whose mother named him before giving birth) because he was lying upside down in his mother's womb and his head was big so he got stuck... the doctor had to use pliers to pry it out....it was only a few seconds late. Vu's face was green, so when he came out, the doctor immediately took a picture of the child and immediately gave him oxygen. The nurse ran quickly, his father's face was pale, only his mother didn't know anything about the sky or the moon... But the doctor The doctor had to spank him a few times before the boy finally started to cry out... Seriously!!!! Not to mention, he already resembles his father in his stubborn nature.... Yellow Shirt
Table of contents
Brother, let's cross the sea together....
Brother, let's cross the sea together....
Yellow Shirt Welcome you to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author Posted by friend: Wei Xua on: December 13, 2010
|
Hà Vân
Anh, Tôi, và Máy Tính
Ngày hẹn gặp nhau, trời không nắng cũng không mưạ Tôi đến sớm nên nhìn thấy anh trước. Tôi nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hy vọng chỉ là ảo giác ... Ngày mới quen nhau, tôi đã nửa đùa nửa thật: "Anh giống hệt chiếc máy vi tính. Đầu là CPU, gương mặt là màn hình, cái miệng là bàn phím, còn trái tim là con chuột". Anh gí ngón tay vào trán tôi, cười to: "Em chỉ khéo tưởng tượng, làm sao giống được, bởi anh biết yêu em. Anh chỉ giống máy vi tính ở chỗ biết xử lý rất nhanh mọi tình huống". Đến lượt tôi phì cười nhớ lại buổi đầu gặp anh, với một kiểu tỏ tình quái lạ chẳng giống aị Hôm ấy, mới nộp đơn xin việc xong, vừa hồi hộp vừa lo, tôi ghé một quán nước gần trường cũ, gọi ly cà phê uống trấn tĩnh. Đang ngồi thẫn thờ, tôi cảm thấy nong nóng sau gáy, quay lại thì bắt gặp một ánh mắt. Chúng tôi nhìn nhau thật lâu, nửa như muốn thi gan, nửa như trêu đùạ Anh đột ngột đứng phắt dậy, tiến đến bàn tôi rồi nói một mạch: "Anh là Minh, kỹ sư tin học. Anh muốn biết tên và địa chỉ của em!". Lúc ấy, như bị thôi miên, tôi ngoan ngoãn xé vội mảnh giấy, ghi tên và số điện thoại rồi đưa cho anh. Tối đó, anh gọi điện đến thật. Nói chuyện với nhau gần hai tiếng đồng hồ, "nấu cháo điện thoại" như tôi hay nói đùạ Ba ngày sau, anh xuất hiện trước cửa nhà tôi, tay ôm một bó hoa hồng ... Bạn bè khen: "Chúng mày đẹp đôi!" và trầm trồ về mối tình lãng mạn, tưởng chỉ có trong phim hay tiểu thuyết. Chẳng ai biết rằng, tôi và anh khác nhau như nước với lửa, như mặt trăng với mặt trờị Anh trầm ngâm ít nói, tôi liến thoắng luôn miệng. Anh có thể ngồi suốt ngày bên cạnh chiếc máy vi tính, cũng như tôi ngồi suốt ngày với mấy quyển sách. Có khi, mấy tuần liền, tôi không thấy mặt anh. Những lời thăm hỏi qua điện thoại, lúc đầu làm tôi vui vui, nhưng sau đó làm tôi thấy tủi thân. Sau nữa là buồn, trống vắng và cuối cùng là cảm giác bực bội, chán nản. Có lần, tôi trách anh chỉ biết sống hết mình cho công việc mà không biết hết mình cho tình yêụ Cho là tôi ích kỷ, anh bảo: "Ghen tị với con người chứ ai lại ghen tị với máy vi tính". Gặp nhau, anh tiếp tục say sưa nói toàn chuyện tin học, kể về những người bạn mới quen được trên mạng. Tôi tập thói quen im lặng bên anh, nghĩ ngợi chuyện văn chương. Đôi khi tôi cũng tự hỏi, phải chăng đó là người mình yêụ Chúng tôi chia tay nhau, sau một lần tôi ốm nặng. Cô bạn thân đến tìm anh báo tin, anh vẫn dán mắt vào màn hình máy tính. Đúng ba hôm sau, anh mới đến bệnh viện với nụ cười hối lỗi vụng về. Ngày chia tay nhau trời không nắng, không mưa, chẳng có mây đen mù mịt, mà cũng chẳng có giông tố đầy trời ... Tóm lại là không lãng mạn chút nàọ Thỉnh thoảng, anh khuấy động tôi bằng những tiếng chuông điện thoạị Lần nào cũng vậy, nhận ra giọng anh, tôi lặng lẽ gác máỵ Bạn bè bảo: "Mày bướng bỉnh, cố chấp quá". Tôi lắc đầu, cười mà ứa nước mắt. Tôi cắt tóc ngắn, trở lại thói quen ngồi quán cà phê một mình, dạo phố lang thang một mình, thức khuya hơn, nhưng đọc sách ít hơn và bắt đầu tin là có số phận. Bạn bè giới thiệu liền mấy chàng để tôi làm quen, nhưng không ai ... giống anh cả. Nga, cô bạn thân đến kéo tôi ra khỏi trạng thái "trầm uất" bằng cách rủ tôi đi học thêm tin học. Tôi đồng ý vì muốn biết nhiều hơn về thế giới của anh, thế giới đã biến anh trở nên y hệt một chiếc computer lạnh lùng, không hồn. Đến lượt tôi suốt ngày ngồi bên máy vi tính. Tôi vào mạng Internet, tìm thêm những thông tin cho nghề nghiệp. Và rồi tôi cũng thấy thinh thích chuyện gẫu với những người bạn không biết mặt. Đang lúc tôi bắt đầu tin trong ký ức con người có phím delete như máy vi tính, thì một người khác xuất hiện. Chúng tôi quen nhau qua mạng Internet. Lúc đầu, tôi bị ấn tượng bởi cái tên rất lạ: Downcome, thế là tán gẫu thử. Trò chuyện mấy lần mới biết anh chàng cũng là một kỹ sư tin học. "Downcome nghĩa là thất bại, sao anh lại chọn tên ấỷ" "Bởi vì tôi thích và vì tôi cũng đã từng thất bạị Còn em sao lại chọn tên Soundless". "Vì hồi trước nói nhiều quá, nên bây giờ muốn im lặng" "Chúng ta có thể là bạn được không?". Tôi thở hắt ra, cảm thấy thời gian dường như trôi ngược lại, bất chấp các định luật vật lý. Tôi trả lời: "yes, sir". Hầu như ngày nào chúng tôi cũng vào mạng trò chuyện với nhaụ Lũ bạn ngạc nhiên: "Mày điên rồi, tìm quên hả?". "ừ thì điên, mà có lẽ cũng sắp quên được rồi". Tôi mạnh miệng, nhưng lại giật mình tự hỏi, quên một con người nhanh chóng không biết là điều tốt hay điều xấụ Downcome bảo: "Nói chuyện với Soundless thật vuị Soundless làm tôi vừa nhớ lại vừa quên một người". "Tôi cũng có cảm giác giống y như vậy". "Nếu ngày xưa tôi được gặp Soundless thì có lẽ tôi không thành Downcome". "Vì không gặp Downcome nên tôi mới thành Soundless". "Vậy thì cho xin địa chỉ nhà nhé!". Tôi chợt rùng mình: "Không, không, chuyện gẫu là đủ, biết nhiều không khéo lại khổ nhiều". "Sao bi quan thế!". "Đó mới là lạc quan". "Đừng bắt chước Hămlet suy tư gặp gỡ hay không gặp gỡ, mà phải bắt chước Juliet hỏi Romeo ai đưa lối cho chàng đến đây". Tôi tập làm Hămlet, suy tư mất mấy ngày liền. Chuông điện thoại lại reo, lần này tôi ngồi im, đếm được mười ba tiếng thì nó im bặt, bỗng thấy nhẹ lòng. Mấy ngày sau, Downcome lại rủ gặp nhaụ Tôi vẫn phân vân: "Gặp nhau biết đâu thêm buồn". "Thì hai người buồn cùng đi tìm một niềm vui". "Triết lý hơi bị xoàng". "Nghề nghiệp có dính đến văn chương phải không?". Tôi chợt run: "Sao anh biết" "Đã từng có một người bạn gái có lẽ cũng giống như Soundless". "Không giữ được à?". "Tuột khỏi tay mất rồi". "Cảm giác thế nàỏ". "Tiếc và buồn. Nhưng đừng nói nữa, để gặp nhau nói nhiều hơn". Tôi tò mò: "ừ thì gặp. Cà phê Văn khoa nhé!". "Có cần ám hiệu gì không? Tôi mặc quần xanh, áo đỏ, đội nón trắng, xách cặp đen ... ". Tôi cười phá lên trước máy vi tính: "Nên mặc đồ đen như Hămlet". "Nói chuyện nghiêm chỉnh đi, làm sao để nhận ra Soundless?". "Tóc ngắn, mắt to, miệng rộng, mũi hếch, quần jean, áo xanh". "Còn tôi cũng tóc ngắn, mắt vừa vừa, miệng rộng, mũi không hếch, quần Jeans, áo sọc xanh. à này, tôi nói một điều rất quan trọng, rất thật lòng: Tôi yêu em". Tôi mở to mắt nhìn dòng chữ trên màn hình, thấy nhói tim. Sao trên đời này có những người giống nhau đến thế. Ngày hẹn gặp nhau trời lại không nắng cũng không mưạ Tôi đến sớm nên nhìn thấy anh trước. Tôi nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hy vọng chỉ là ảo giác, rằng Downcome và anh Minh ngày xưa của tôi không thể cùng là một ngườị Anh tháo kính, đưa tay dụi mắt, rồi đeo kính vào và quả quyết tiến đến bàn tôi ngồị Chúng tôi im lặng, nhìn nhau rất lâu rồi cùng cười phá lên. Bây giờ tôi và anh nói chuyện với nhau bằng điện thoại, bằng mạng máy tính và cả những lần gặp gỡ. Tôi thấy anh bớt giống chiếc máy vi tính. Bạn bè bảo: "Một kết cục có hậụ Hóa ra thời hiện đại vẫn có những chuyện cổ tích dành cho người lớn". Khi tôi thì thầm: "Cám ơn trời cho em gặp lại anh", anh vội ngắt lời: "Em đừng cám ơn trời, em phải cảm ơn máy vi tính". Chúng tôi lại cười và âu yếm nhìn ... chiếc máy vi tính.
Mục lục
Anh, Tôi, và Máy Tính
Anh, Tôi, và Máy Tính
Hà VânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Hà Vân
Anh, Tôi, và Máy Tính
Ngày hẹn gặp nhau, trời không nắng cũng không mưạ Tôi đến sớm nên nhìn thấy anh trước. Tôi nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hy vọng chỉ là ảo giác ... Ngày mới quen nhau, tôi đã nửa đùa nửa thật: "Anh giống hệt chiếc máy vi tính. Đầu là CPU, gương mặt là màn hình, cái miệng là bàn phím, còn trái tim là con chuột". Anh gí ngón tay vào trán tôi, cười to: "Em chỉ khéo tưởng tượng, làm sao giống được, bởi anh biết yêu em. Anh chỉ giống máy vi tính ở chỗ biết xử lý rất nhanh mọi tình huống". Đến lượt tôi phì cười nhớ lại buổi đầu gặp anh, với một kiểu tỏ tình quái lạ chẳng giống aị Hôm ấy, mới nộp đơn xin việc xong, vừa hồi hộp vừa lo, tôi ghé một quán nước gần trường cũ, gọi ly cà phê uống trấn tĩnh. Đang ngồi thẫn thờ, tôi cảm thấy nong nóng sau gáy, quay lại thì bắt gặp một ánh mắt. Chúng tôi nhìn nhau thật lâu, nửa như muốn thi gan, nửa như trêu đùạ Anh đột ngột đứng phắt dậy, tiến đến bàn tôi rồi nói một mạch: "Anh là Minh, kỹ sư tin học. Anh muốn biết tên và địa chỉ của em!". Lúc ấy, như bị thôi miên, tôi ngoan ngoãn xé vội mảnh giấy, ghi tên và số điện thoại rồi đưa cho anh. Tối đó, anh gọi điện đến thật. Nói chuyện với nhau gần hai tiếng đồng hồ, "nấu cháo điện thoại" như tôi hay nói đùạ Ba ngày sau, anh xuất hiện trước cửa nhà tôi, tay ôm một bó hoa hồng ... Bạn bè khen: "Chúng mày đẹp đôi!" và trầm trồ về mối tình lãng mạn, tưởng chỉ có trong phim hay tiểu thuyết. Chẳng ai biết rằng, tôi và anh khác nhau như nước với lửa, như mặt trăng với mặt trờị Anh trầm ngâm ít nói, tôi liến thoắng luôn miệng. Anh có thể ngồi suốt ngày bên cạnh chiếc máy vi tính, cũng như tôi ngồi suốt ngày với mấy quyển sách. Có khi, mấy tuần liền, tôi không thấy mặt anh. Những lời thăm hỏi qua điện thoại, lúc đầu làm tôi vui vui, nhưng sau đó làm tôi thấy tủi thân. Sau nữa là buồn, trống vắng và cuối cùng là cảm giác bực bội, chán nản. Có lần, tôi trách anh chỉ biết sống hết mình cho công việc mà không biết hết mình cho tình yêụ Cho là tôi ích kỷ, anh bảo: "Ghen tị với con người chứ ai lại ghen tị với máy vi tính". Gặp nhau, anh tiếp tục say sưa nói toàn chuyện tin học, kể về những người bạn mới quen được trên mạng. Tôi tập thói quen im lặng bên anh, nghĩ ngợi chuyện văn chương. Đôi khi tôi cũng tự hỏi, phải chăng đó là người mình yêụ Chúng tôi chia tay nhau, sau một lần tôi ốm nặng. Cô bạn thân đến tìm anh báo tin, anh vẫn dán mắt vào màn hình máy tính. Đúng ba hôm sau, anh mới đến bệnh viện với nụ cười hối lỗi vụng về. Ngày chia tay nhau trời không nắng, không mưa, chẳng có mây đen mù mịt, mà cũng chẳng có giông tố đầy trời ... Tóm lại là không lãng mạn chút nàọ Thỉnh thoảng, anh khuấy động tôi bằng những tiếng chuông điện thoạị Lần nào cũng vậy, nhận ra giọng anh, tôi lặng lẽ gác máỵ Bạn bè bảo: "Mày bướng bỉnh, cố chấp quá". Tôi lắc đầu, cười mà ứa nước mắt. Tôi cắt tóc ngắn, trở lại thói quen ngồi quán cà phê một mình, dạo phố lang thang một mình, thức khuya hơn, nhưng đọc sách ít hơn và bắt đầu tin là có số phận. Bạn bè giới thiệu liền mấy chàng để tôi làm quen, nhưng không ai ... giống anh cả. Nga, cô bạn thân đến kéo tôi ra khỏi trạng thái "trầm uất" bằng cách rủ tôi đi học thêm tin học. Tôi đồng ý vì muốn biết nhiều hơn về thế giới của anh, thế giới đã biến anh trở nên y hệt một chiếc computer lạnh lùng, không hồn. Đến lượt tôi suốt ngày ngồi bên máy vi tính. Tôi vào mạng Internet, tìm thêm những thông tin cho nghề nghiệp. Và rồi tôi cũng thấy thinh thích chuyện gẫu với những người bạn không biết mặt. Đang lúc tôi bắt đầu tin trong ký ức con người có phím delete như máy vi tính, thì một người khác xuất hiện. Chúng tôi quen nhau qua mạng Internet. Lúc đầu, tôi bị ấn tượng bởi cái tên rất lạ: Downcome, thế là tán gẫu thử. Trò chuyện mấy lần mới biết anh chàng cũng là một kỹ sư tin học. "Downcome nghĩa là thất bại, sao anh lại chọn tên ấỷ" "Bởi vì tôi thích và vì tôi cũng đã từng thất bạị Còn em sao lại chọn tên Soundless". "Vì hồi trước nói nhiều quá, nên bây giờ muốn im lặng" "Chúng ta có thể là bạn được không?". Tôi thở hắt ra, cảm thấy thời gian dường như trôi ngược lại, bất chấp các định luật vật lý. Tôi trả lời: "yes, sir". Hầu như ngày nào chúng tôi cũng vào mạng trò chuyện với nhaụ Lũ bạn ngạc nhiên: "Mày điên rồi, tìm quên hả?". "ừ thì điên, mà có lẽ cũng sắp quên được rồi". Tôi mạnh miệng, nhưng lại giật mình tự hỏi, quên một con người nhanh chóng không biết là điều tốt hay điều xấụ Downcome bảo: "Nói chuyện với Soundless thật vuị Soundless làm tôi vừa nhớ lại vừa quên một người". "Tôi cũng có cảm giác giống y như vậy". "Nếu ngày xưa tôi được gặp Soundless thì có lẽ tôi không thành Downcome". "Vì không gặp Downcome nên tôi mới thành Soundless". "Vậy thì cho xin địa chỉ nhà nhé!". Tôi chợt rùng mình: "Không, không, chuyện gẫu là đủ, biết nhiều không khéo lại khổ nhiều". "Sao bi quan thế!". "Đó mới là lạc quan". "Đừng bắt chước Hămlet suy tư gặp gỡ hay không gặp gỡ, mà phải bắt chước Juliet hỏi Romeo ai đưa lối cho chàng đến đây". Tôi tập làm Hămlet, suy tư mất mấy ngày liền. Chuông điện thoại lại reo, lần này tôi ngồi im, đếm được mười ba tiếng thì nó im bặt, bỗng thấy nhẹ lòng. Mấy ngày sau, Downcome lại rủ gặp nhaụ Tôi vẫn phân vân: "Gặp nhau biết đâu thêm buồn". "Thì hai người buồn cùng đi tìm một niềm vui". "Triết lý hơi bị xoàng". "Nghề nghiệp có dính đến văn chương phải không?". Tôi chợt run: "Sao anh biết" "Đã từng có một người bạn gái có lẽ cũng giống như Soundless". "Không giữ được à?". "Tuột khỏi tay mất rồi". "Cảm giác thế nàỏ". "Tiếc và buồn. Nhưng đừng nói nữa, để gặp nhau nói nhiều hơn". Tôi tò mò: "ừ thì gặp. Cà phê Văn khoa nhé!". "Có cần ám hiệu gì không? Tôi mặc quần xanh, áo đỏ, đội nón trắng, xách cặp đen ... ". Tôi cười phá lên trước máy vi tính: "Nên mặc đồ đen như Hămlet". "Nói chuyện nghiêm chỉnh đi, làm sao để nhận ra Soundless?". "Tóc ngắn, mắt to, miệng rộng, mũi hếch, quần jean, áo xanh". "Còn tôi cũng tóc ngắn, mắt vừa vừa, miệng rộng, mũi không hếch, quần Jeans, áo sọc xanh. à này, tôi nói một điều rất quan trọng, rất thật lòng: Tôi yêu em". Tôi mở to mắt nhìn dòng chữ trên màn hình, thấy nhói tim. Sao trên đời này có những người giống nhau đến thế. Ngày hẹn gặp nhau trời lại không nắng cũng không mưạ Tôi đến sớm nên nhìn thấy anh trước. Tôi nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hy vọng chỉ là ảo giác, rằng Downcome và anh Minh ngày xưa của tôi không thể cùng là một ngườị Anh tháo kính, đưa tay dụi mắt, rồi đeo kính vào và quả quyết tiến đến bàn tôi ngồị Chúng tôi im lặng, nhìn nhau rất lâu rồi cùng cười phá lên. Bây giờ tôi và anh nói chuyện với nhau bằng điện thoại, bằng mạng máy tính và cả những lần gặp gỡ. Tôi thấy anh bớt giống chiếc máy vi tính. Bạn bè bảo: "Một kết cục có hậụ Hóa ra thời hiện đại vẫn có những chuyện cổ tích dành cho người lớn". Khi tôi thì thầm: "Cám ơn trời cho em gặp lại anh", anh vội ngắt lời: "Em đừng cám ơn trời, em phải cảm ơn máy vi tính". Chúng tôi lại cười và âu yếm nhìn ... chiếc máy vi tính.
Mục lục
Anh, Tôi, và Máy Tính
Anh, Tôi, và Máy Tính
Hà VânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Phan Cao Toại
Ao nhà
Tôi vừa từ trường về nhà đã thấy mẹ tôi đã đứng đợi ở cổng, nét mặt rất vui. Mẹ tôi đau yếu đã mấy năm nay, cả ngày ít khi rời khỏi giường, mặt mày khi nào cũng nặng nề, khó chịu. Thế mà hôm nay bà ra tận cổng chờ con, một tay giấu vật gì sau lưng, miệng cười móm mém. Hình như có tin gì vui. Mẹ tôi nửa úp nửa mở, chơi trò ú tim: - Con có tin vui. Mẹ đố con đoán được tin gì! Tôi cười, nghĩ ngợi một hồi lâu rồi lắc đầu. Tức thì, bàn tay đang dấu sau lưng của bà từ từ đưa ra phía trước. Một tấm thiệp màu hồng! Của ai, tôi không đoán được. Mẹ tôi níu lấy tay tôi: -Chú Bằng vừa dẫn một cô nào đến chơi, giới thiệu là vợ chưa cưới. Biếu mẹ một hộp sâm. Chủ nhật này chú ấy cưới vợ. Tôi cầm tấm thiệp, ngạc nhiên đến sững sờ. Bằng là bạn nối khố của tôi từ hồi học phổ thông. Dạo ấy, học xong lớp mười, tôi đi sư phạm. Bằng vào bộ đội, chiến đấu ở trong Nam. Sau giải phóng, Bằng được phân nhà, chuyển ngành với quân hàm trung tá sang phụ trách một đơn vị làm kinh tế. Cách đây hơn mười năm, Bằng về quê thông báo với tôi gà trống nuôi con. Tôi cố an ủi bạn, chờ cho nguôi ngoai rồi tìm người chắp nối. Bằng nói, buồn lắm, chẳng thiết lấy ai nữa, ở vậy nuôi con. Tôi bảo, trẻ chưa qua, già chưa tới, cố kiếm lấy một người bạn, sau này già cả mà nhờ nhau. Bẵng đi một thời gian khá lâu, tụi tôi không gặp nhau, chỉ nghe phong phanh dạo này Bằng làm ăn khấm khá nhưng vẫn phòng không. Thế mà hôm nay, hắn cưới vợ! Nghe kể với mẹ tôi, vợ ở quê. Nhà tôi cách nhà Bằng hơn hai mươi cây số, tôi lại chỉ có một chiếc xe đạp cọc cạch, chứ không tôi đã tìm đến ngay, xem hắn sẽ cưới ai. Theo giờ giấc ghi trên tấm thiệp, ngày chủ nhật tôi vận com lê, cà vạt chỉnh tề, lại mượn được chiếc Honda của người bạn xuống nhà Bằng dự lễ cưới. Trời đã sang thu. Buổi sáng lâng trong niềm hạnh phúc của Bằng. Chọn mùa thu cưới vợ thật là tuyệt. Tuyệt hơnnữa là hắn chọn được một cô trẻ hơn mình dễ chừng hai mươi tuổi. Tôi mừng cho Bằng và ghen với hạnh phúc của hắn. Ðã ngoài năm mươi mà cưới được vợ trẻ thì chẳng khác gì mèo mù vớ được cá rán. Ðang mông lung với những ý nghĩ không đâu, chiếc xe Honda bỗng khựng lại, không chạy được nữa. Tôi dừng xe, kiểm tra lại xăng, dập tiếp mấy lần nữa cũng không nổ. Chết thật! Không khéo khi đến nhà Bằng, họ nhà gái đã đưa dâu. Giữa lúc đang hoang mang, một đoàn xe du lịch sang trọng vút qua. Tôi lúi húi chữa xe, không nhìn thấy cô dâu chú rể, chỉ loáng thoáng chiếc xe đi đầu hoa, kính xe có dán hai chữ song hỉ màu đỏ. Ðoàn xe đi từ phía thị xã, cùng chiều với tôi. Tôi càng sốt ruột. Hay đó là đoàn xe đưa dâu đang xuống nhà Bằng? Nhưng rồi, tôi tự trả lời. Hắn tìm hiểu ai, lấy ai ở cái đất thị xã nhỏ bé như chiếc khăn mùi soa này mà tôi lại không biết. Thông tấn xã vỉa hè có đầy đủ phóng viên săn tin hàng ngày. Giấu thế đếch nào được. Có lẽ hôm nay tốt ngày, nhiều người làm đám cưới và đoàn xe kia là của một đôi cô dâu chú rể khác. Ì ạch mãi rồi xe cũng nổ. Tôi đến nơi thì hai họ đã vào mâm. Trong một khoảng sân rộng có che rạp phía trên, đám cưới của Bằng thật linh đình. Xe hơi đậu thành hai dãy từ ngoài đường cái. Xe gắn máy san sát bên nhau. Người ra kẻ vào đông nghịt. Vợ chồng Bằng đang sánh vai nhau đi đến từng bàn chào quan khách. Bằng không nhìn thấy tôi vì vợ chồng hắn quay lưng, cụng ly với một tốp thanh niên đang hò reo chúc mừng hạnh phúc đôi bạn. Tôi ngồi chung mâm với mấy người đến sau. Cỗ bàn ở nông thôn chẳng khác gì thành phố. Giò lụa, chả quế, gà quay, vịt tần, bia lon Tiger. Ðủ thứ. Thật đúng là đám cưới của một nhà doanh nghiệp giàu có. Nhạc từ hai chiếc loa vặn quá cỡ, tiếng nói cười, tiếng la hét trăm phần trăm dô! của đám thanh niên làm cho không khí hội hôn thật náo nhiệt. Tôi uống hết cốc này sang cốc khác, chếnh choáng trong hơi men hạnh phúc của thằng bạn nối khố. Giữa lúc ngà ngà say, vợ chồng Bằng bước đến trước bàn của chúng tôi. Bằng mặc comlê màu xám nhạt, tóc nhuộm đen, khuôn mặt hồng hào rạng rỡ trông trẻ ra cả chục tuổi. Cô dâu còn trẻ, xoarê trắng, đầu đội vương miện, tay ôm bó lay ơn đỏ thắm mỉm cười chào khách. Tôi móc túi tìm phong bì rồi đứng dậy bắt tay chào đôi bạn, lúc đó Bằng mới nhận ra sự có mặt của tôi. Cô dâu cũng hiện rõ trong tầm mắt. Tôi tái mặt, ngực rung lên, trán vã mồ hôi. Ðó chẳng phải ai xa lạ mà chính là cô Tầm trên thị xã. Cô Tầm cũng nhận ra tôi, mặt cúi xuống, nụ cười trên môi lịm tắt. Bằng đang mải cụng ly với mấy người trong mâm, không để ý đến vẻ thất thần, biến sắc của tôi và khuôn mặt thảm hại của cô Tầm. Nhưng rồi, không khí hội hôn kéo tôi về với thực tại. Tôi đang dự đám cưới của Bằng, giữa ngày vui nhất của bạn, tôi không thể mang một khuôn mặt buồn rầu, vội đứng lên, cố làm ra vẻ tươi cười, nâng cốc: -Tao chúc mày hạnh phúc. Có chút quà nhỏ mừng hai đứa. Cô Tầm nhìn tôi, khuôn mặt đã bớt sượng sùng, đưa bàn tay đeo găng vải màu trắng đỡ chiếc phong bì của tôi, lí nhí cảm ơn. Vợ chồng Bằng lại sang bàn khác. Cô Tầm quay lại nhìn tôi với đôi mắt thoáng buồn, như muốn cầu cứu tôi điều gì. Tôi thấy thương Bằng quá. Lặn lội về quê lấy vợ, những tưởng sẽ tìm được nơi tử tế. Lần gặp trước đây, Bằng tâm sự: Từ ngày vợ mình mất, cũng có nhiều đám con nhà gia giáo. Nhưng có lẽ mình sẽ lấy vợ ở quê. Gì bằng ta về ta tắm ao ta. Hôm nay Bằng cưới vợ, không biết ai mối lái mà vớ phải cô Tầm. Thế mới đau chứ! Ai chứ cô Tầm tôi chẳng lạ. Một thời làm gái trên thị xã. Hoàn cảnh nhà cô cũng rất đáng thương.Bống hiện rượu, mẹ đau dạ dày,một đàn em lít nhít. Có thể cô phải làm một việc gì đó để cứu gia đình nhưng chọn con đường ấy là không thể chấp nhận. Dù cô hành nghề rất kín đáo nhưng cánh đàn ông tụi tôi việc gì xẩy ra trong thị xã này mà không biết. Một thời gian cô vắng bóng. Nghe nói cô đi học may. Bố cô đã qua đời, mấy đứa em đã lớn, đã đỡ đần được công việc cho mẹ. Cô mượn vốn liếng, mở một tiệm may trên đường chính của thị xã. Cô may khéo, khách đông và đã trở nên giàu có nhưng mãi mà chẳng lấy được chồng. Dân thị xã ai người ta lấy cô. Thành ra cái nhan sắc mặn mòi của cô thành vô duyên. Trong tâm trí tôi, cô Tầm vẫn mang một vết đen trong lý lịch, một thời làm điếm. Thôi sự đã rồi, Bằng ơi! Tao không thể nói với mày về quá khứ của Tầm. Cầu mong cho mày hạnh phúc và đừng bao giờ biết gì về quá khứ của vợ mày...Tôi tự nhủ mình và tiếp tục cụng ly với mấy người trong mâm. Ba tháng sau, tôi nhận được thưBằng. Trong thưBằng viết ... Tao báo với mày một tin vui, súng của tao đã bắn trúng điểm mười. Tầm đã có bầu. Nàng thật sự là một người vợ hiền, thương yêu chiều chuộng tao hết mực. Tụi tao thật sự hạnh phúc. Song, mày hãy tha thứ cho tao, khi cưới Tầm, tao không trao đổi gì với mày - thằng bạn nối khố của tao. Tao biết rõ quá khứ của Tầm và nếu trao đổi, mày chẳng bao giờ cho tao cưới một người như vậy. Càng biết, càng hiểu, tao càng thương Tầm. Tầm đã chôn chặt quá khứ đau lòng ấy dưới lớp lớp thời gian và không lẽ với định kiến của người dân quê mình, Tầm cứ phải ở thế một mình...? Tôi thở phào nhẹ nhõm. Trong nhà, vợ tôi đang ru thằng cháu ngoại lên hai trên võng. Tiếng ru khe khẽ vọng ra: À ơi... Ta về ta tắm ao ta...! Hà Tĩnh 1999
Mục lục
Ao nhà
Ao nhà
Phan Cao ToạiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Tieuboingoan : sưu tầm Nguồn: Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2001 Trong tập truyện ngắn Ao NhàĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 9 năm 2005
|
Phan Cao Toại
Ao nhà
Tôi vừa từ trường về nhà đã thấy mẹ tôi đã đứng đợi ở cổng, nét mặt rất vui. Mẹ tôi đau yếu đã mấy năm nay, cả ngày ít khi rời khỏi giường, mặt mày khi nào cũng nặng nề, khó chịu. Thế mà hôm nay bà ra tận cổng chờ con, một tay giấu vật gì sau lưng, miệng cười móm mém. Hình như có tin gì vui. Mẹ tôi nửa úp nửa mở, chơi trò ú tim: - Con có tin vui. Mẹ đố con đoán được tin gì! Tôi cười, nghĩ ngợi một hồi lâu rồi lắc đầu. Tức thì, bàn tay đang dấu sau lưng của bà từ từ đưa ra phía trước. Một tấm thiệp màu hồng! Của ai, tôi không đoán được. Mẹ tôi níu lấy tay tôi: -Chú Bằng vừa dẫn một cô nào đến chơi, giới thiệu là vợ chưa cưới. Biếu mẹ một hộp sâm. Chủ nhật này chú ấy cưới vợ. Tôi cầm tấm thiệp, ngạc nhiên đến sững sờ. Bằng là bạn nối khố của tôi từ hồi học phổ thông. Dạo ấy, học xong lớp mười, tôi đi sư phạm. Bằng vào bộ đội, chiến đấu ở trong Nam. Sau giải phóng, Bằng được phân nhà, chuyển ngành với quân hàm trung tá sang phụ trách một đơn vị làm kinh tế. Cách đây hơn mười năm, Bằng về quê thông báo với tôi gà trống nuôi con. Tôi cố an ủi bạn, chờ cho nguôi ngoai rồi tìm người chắp nối. Bằng nói, buồn lắm, chẳng thiết lấy ai nữa, ở vậy nuôi con. Tôi bảo, trẻ chưa qua, già chưa tới, cố kiếm lấy một người bạn, sau này già cả mà nhờ nhau. Bẵng đi một thời gian khá lâu, tụi tôi không gặp nhau, chỉ nghe phong phanh dạo này Bằng làm ăn khấm khá nhưng vẫn phòng không. Thế mà hôm nay, hắn cưới vợ! Nghe kể với mẹ tôi, vợ ở quê. Nhà tôi cách nhà Bằng hơn hai mươi cây số, tôi lại chỉ có một chiếc xe đạp cọc cạch, chứ không tôi đã tìm đến ngay, xem hắn sẽ cưới ai. Theo giờ giấc ghi trên tấm thiệp, ngày chủ nhật tôi vận com lê, cà vạt chỉnh tề, lại mượn được chiếc Honda của người bạn xuống nhà Bằng dự lễ cưới. Trời đã sang thu. Buổi sáng lâng trong niềm hạnh phúc của Bằng. Chọn mùa thu cưới vợ thật là tuyệt. Tuyệt hơnnữa là hắn chọn được một cô trẻ hơn mình dễ chừng hai mươi tuổi. Tôi mừng cho Bằng và ghen với hạnh phúc của hắn. Ðã ngoài năm mươi mà cưới được vợ trẻ thì chẳng khác gì mèo mù vớ được cá rán. Ðang mông lung với những ý nghĩ không đâu, chiếc xe Honda bỗng khựng lại, không chạy được nữa. Tôi dừng xe, kiểm tra lại xăng, dập tiếp mấy lần nữa cũng không nổ. Chết thật! Không khéo khi đến nhà Bằng, họ nhà gái đã đưa dâu. Giữa lúc đang hoang mang, một đoàn xe du lịch sang trọng vút qua. Tôi lúi húi chữa xe, không nhìn thấy cô dâu chú rể, chỉ loáng thoáng chiếc xe đi đầu hoa, kính xe có dán hai chữ song hỉ màu đỏ. Ðoàn xe đi từ phía thị xã, cùng chiều với tôi. Tôi càng sốt ruột. Hay đó là đoàn xe đưa dâu đang xuống nhà Bằng? Nhưng rồi, tôi tự trả lời. Hắn tìm hiểu ai, lấy ai ở cái đất thị xã nhỏ bé như chiếc khăn mùi soa này mà tôi lại không biết. Thông tấn xã vỉa hè có đầy đủ phóng viên săn tin hàng ngày. Giấu thế đếch nào được. Có lẽ hôm nay tốt ngày, nhiều người làm đám cưới và đoàn xe kia là của một đôi cô dâu chú rể khác. Ì ạch mãi rồi xe cũng nổ. Tôi đến nơi thì hai họ đã vào mâm. Trong một khoảng sân rộng có che rạp phía trên, đám cưới của Bằng thật linh đình. Xe hơi đậu thành hai dãy từ ngoài đường cái. Xe gắn máy san sát bên nhau. Người ra kẻ vào đông nghịt. Vợ chồng Bằng đang sánh vai nhau đi đến từng bàn chào quan khách. Bằng không nhìn thấy tôi vì vợ chồng hắn quay lưng, cụng ly với một tốp thanh niên đang hò reo chúc mừng hạnh phúc đôi bạn. Tôi ngồi chung mâm với mấy người đến sau. Cỗ bàn ở nông thôn chẳng khác gì thành phố. Giò lụa, chả quế, gà quay, vịt tần, bia lon Tiger. Ðủ thứ. Thật đúng là đám cưới của một nhà doanh nghiệp giàu có. Nhạc từ hai chiếc loa vặn quá cỡ, tiếng nói cười, tiếng la hét trăm phần trăm dô! của đám thanh niên làm cho không khí hội hôn thật náo nhiệt. Tôi uống hết cốc này sang cốc khác, chếnh choáng trong hơi men hạnh phúc của thằng bạn nối khố. Giữa lúc ngà ngà say, vợ chồng Bằng bước đến trước bàn của chúng tôi. Bằng mặc comlê màu xám nhạt, tóc nhuộm đen, khuôn mặt hồng hào rạng rỡ trông trẻ ra cả chục tuổi. Cô dâu còn trẻ, xoarê trắng, đầu đội vương miện, tay ôm bó lay ơn đỏ thắm mỉm cười chào khách. Tôi móc túi tìm phong bì rồi đứng dậy bắt tay chào đôi bạn, lúc đó Bằng mới nhận ra sự có mặt của tôi. Cô dâu cũng hiện rõ trong tầm mắt. Tôi tái mặt, ngực rung lên, trán vã mồ hôi. Ðó chẳng phải ai xa lạ mà chính là cô Tầm trên thị xã. Cô Tầm cũng nhận ra tôi, mặt cúi xuống, nụ cười trên môi lịm tắt. Bằng đang mải cụng ly với mấy người trong mâm, không để ý đến vẻ thất thần, biến sắc của tôi và khuôn mặt thảm hại của cô Tầm. Nhưng rồi, không khí hội hôn kéo tôi về với thực tại. Tôi đang dự đám cưới của Bằng, giữa ngày vui nhất của bạn, tôi không thể mang một khuôn mặt buồn rầu, vội đứng lên, cố làm ra vẻ tươi cười, nâng cốc: -Tao chúc mày hạnh phúc. Có chút quà nhỏ mừng hai đứa. Cô Tầm nhìn tôi, khuôn mặt đã bớt sượng sùng, đưa bàn tay đeo găng vải màu trắng đỡ chiếc phong bì của tôi, lí nhí cảm ơn. Vợ chồng Bằng lại sang bàn khác. Cô Tầm quay lại nhìn tôi với đôi mắt thoáng buồn, như muốn cầu cứu tôi điều gì. Tôi thấy thương Bằng quá. Lặn lội về quê lấy vợ, những tưởng sẽ tìm được nơi tử tế. Lần gặp trước đây, Bằng tâm sự: Từ ngày vợ mình mất, cũng có nhiều đám con nhà gia giáo. Nhưng có lẽ mình sẽ lấy vợ ở quê. Gì bằng ta về ta tắm ao ta. Hôm nay Bằng cưới vợ, không biết ai mối lái mà vớ phải cô Tầm. Thế mới đau chứ! Ai chứ cô Tầm tôi chẳng lạ. Một thời làm gái trên thị xã. Hoàn cảnh nhà cô cũng rất đáng thương.Bống hiện rượu, mẹ đau dạ dày,một đàn em lít nhít. Có thể cô phải làm một việc gì đó để cứu gia đình nhưng chọn con đường ấy là không thể chấp nhận. Dù cô hành nghề rất kín đáo nhưng cánh đàn ông tụi tôi việc gì xẩy ra trong thị xã này mà không biết. Một thời gian cô vắng bóng. Nghe nói cô đi học may. Bố cô đã qua đời, mấy đứa em đã lớn, đã đỡ đần được công việc cho mẹ. Cô mượn vốn liếng, mở một tiệm may trên đường chính của thị xã. Cô may khéo, khách đông và đã trở nên giàu có nhưng mãi mà chẳng lấy được chồng. Dân thị xã ai người ta lấy cô. Thành ra cái nhan sắc mặn mòi của cô thành vô duyên. Trong tâm trí tôi, cô Tầm vẫn mang một vết đen trong lý lịch, một thời làm điếm. Thôi sự đã rồi, Bằng ơi! Tao không thể nói với mày về quá khứ của Tầm. Cầu mong cho mày hạnh phúc và đừng bao giờ biết gì về quá khứ của vợ mày...Tôi tự nhủ mình và tiếp tục cụng ly với mấy người trong mâm. Ba tháng sau, tôi nhận được thưBằng. Trong thưBằng viết ... Tao báo với mày một tin vui, súng của tao đã bắn trúng điểm mười. Tầm đã có bầu. Nàng thật sự là một người vợ hiền, thương yêu chiều chuộng tao hết mực. Tụi tao thật sự hạnh phúc. Song, mày hãy tha thứ cho tao, khi cưới Tầm, tao không trao đổi gì với mày - thằng bạn nối khố của tao. Tao biết rõ quá khứ của Tầm và nếu trao đổi, mày chẳng bao giờ cho tao cưới một người như vậy. Càng biết, càng hiểu, tao càng thương Tầm. Tầm đã chôn chặt quá khứ đau lòng ấy dưới lớp lớp thời gian và không lẽ với định kiến của người dân quê mình, Tầm cứ phải ở thế một mình...? Tôi thở phào nhẹ nhõm. Trong nhà, vợ tôi đang ru thằng cháu ngoại lên hai trên võng. Tiếng ru khe khẽ vọng ra: À ơi... Ta về ta tắm ao ta...! Hà Tĩnh 1999
Mục lục
Ao nhà
Ao nhà
Phan Cao ToạiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Tieuboingoan : sưu tầm Nguồn: Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2001 Trong tập truyện ngắn Ao NhàĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 9 năm 2005
|
Khuyết Danh
Ba Bà Hoàng Hậu
Ngày xửa, ngày xưa, có một ông vua trẻ. Ðức vua cai trị một vương quốc giàu có, xinh đẹp, nhưng đẹp nhất có lẽ là ba bà hoàng hậu của đức vua. Ba vị hoàng hậu này vừa có sắc lẫn có tài, nên cả ba đều được đức vua sủng ái như nhau, " Mỗi người một vẻ, mười phần vẹn mười". Cho đến một hôm, nhà vua bỗng nảy ra một ý nghĩ: Trong ba mỹ nhân này thế nào cũng có một người tuyệt diễm hơn hai người kia, nhưng ta không tài nào nhận ra được, có lẽ vì mình nhìn mãi nó quen mắt đi chăng? Hay là ta hỏi ý kiến bọn cung phi vậy". Ðức vua bèn mở cuộc trưng cầu dân ý tại hậu cung để tìm xem trong ba mỹ nhân ai là người đẹp nhất. Kết quả cũng không lấy gì làm sáng sủa cho lắm, vì ai cũng cho rằng cả ba vị hoàng hậu đều đẹp ngang nhau. Kẻ tám lạng, người nửa cân vậy. Nhà vua lại đem nội vụ ra bàn với đình thần. Kết quả cũng tương tợ như trên. Quan tể tướng khuyên đức vua nên dừng cuộc giảo nghiệm lại, vì e nó chẳng ích lợi gì mà đôi khi mang đến hậu họa khó lường được. Thay vì nghe lời khuyên sáng suốt của vị trung thần lão thành ấy thì đức vua của chúng ta lại nổi cơn thịnh nộ, truyền lịnh cho quan tể tướng phải giải quyết cho xong công việc trong vòng ba hôm. Sau một lúc im lặng, quan tể tướng kính cẩn tâu: - Muôn tâu bệ hạ, thần trộm nghĩ rằng, bọn hạ thần chỉ sở trường về chuyện cung kiếm văn thơ, còn chuyện đẹp xấu tướng hảo ra sao thì chắc phải nhường cho các vị bốc sư nổi tiếng. Hay là bệ hạ cho vời y vào, y sẽ phân biệt rõ ràng hơn không? Nhà vua nguôi giận. Một ông thầy bói được lập tức triệu vào cung để chiêm ngưỡng dung nhan ba người đẹp. Vị bốc sư không chịu cho biết kết quả ngay mà xin khất lại ngày hôm sau để về "tra tự điển" lại. Lão bốc sư đi rồi, quan tể tướng bèn tâu nhỏ với đức vua: - Muôn tâu thánh thượng! Hạ thần trộm nghĩ rằng qúi đức bà, mỗi người có một vẽ đẹp riêng, tùy theo nhãn quan và sở thích của từng người. Ý kiến của chúng thần có thể bất đồng nhau, nhưng vì sợ uy quyền của quí đức bà, nên bọn hạ thần không dám nói lên ý kiến của mình mà chỉ kết luận chung chung rằng, cả ba đức bà đều tài sắc như nhau. Nếu thần không lầm thì lão bốc sư này cũng lâm vào một tình thế khó xử như bọn hạ thần, nên lão mới xin khất lại vào ngày mai đó thôi. - Thế thì khanh giải quyết bằng cách nào? - Muôn tâu! Ngu thần có một kế mọn là bệ hạ giả mạo bức thư, ký tên của ba đức bà, hẹn lão ấy đến ba địa điểm riêng. Nếu y đến địa điểm nào thì đức bà ấy sẽ là người đẹp nhất. - Hay lắm, khanh hãy thi hành ngay cho trẩm. Ba bức thư tức tốc được gởi đi và lão bốc sư đi đến chỗ hẹn với bà hoàng đẹp nhất. Ðức vua truyền lệnh chém đầu lão thầy bói ... Và từ đó ngài đặc biệt sủng ái vị hoàng hậu vào chung kết nầy. Hai bà hoàng hậu còn lại vô cùng tức tối, họ âm mưu với nhau dùng độc dược giết chết bà hoàng hậu đẹp nhất. Chuyện bại lộ, đức vua truyền lệnh xử tử luôn hai bà hoàng hậu còn lại. Ba vị hoàng hậu xinh đẹp nhất nước đều chết hết, đức vua còn lại một mình để thấy hoàng cung sao mà trống trải lạnh lẽo, bất kể Xuân Hạ Thu Ðông. Lời bàn: Các bạn thân mến! Vạn pháp trên thế gian này, mỗi pháp đều có một đặc tính riêng, nhưng khi chúng ta bắt đầu "ưu tiên một" cho pháp nào, tức là để tâm vào nó, thì sự việc bắt đầu trở nên rắc rối. Có lẽ vì vậy mà đức Phật thường khuyên chúng ta là hãy để yên cho các pháp trụ ở bản vị của nó. Chớ xen vào phân biệt để tự chuốc khổ cho mình và làm di hoạ cho người chung quanh. Cũng thế, trong cuộc tương giao với bạn bè lân cận, mỗi người bạn của chúng ta đều mang một cái tính riêng biệt, chiếm một vị trí, cách thế khác nhau, chẳng ai giống ai. Và chúng ta cũng khó mà kết luận rằng ai quan trọng hơn ai. Mùa Xuân có hoa lan, mùa Thu có hoa cúc, mỗi loài hoa đều có hương sắc riêng của nó, không thể nào bắt loại hoa này phải bắt chước hoa kia được. Em có thấy rằng số phần rủi ro luôn luôn đến với người mà chúng ta đặc biệt ưu ái hay không? Vậy thì, ta có nên ngu muội đem cái ý thức phân biệt của mình xen vào các mối tương giao ấy, để cảm thấy cuộc đời này sao mà lạnh lẽo bất kể bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông hay không?
Mục lục
Ba Bà Hoàng Hậu
Ba Bà Hoàng Hậu
Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: TieuboingoanĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 5 năm 2005
|
Noname
Three Queens
Once upon a time, long ago, there was a young king. The king rules a rich and beautiful kingdom, but the most beautiful are probably his three queens. These three queens are both beautiful and talented, so all three are equally favored by the king, "Each has her own look, ten to one". Until one day, the king suddenly had a thought: Among these three beauties, there must be one more beautiful than the other two, but I can't recognize it, maybe because I'm used to seeing it. go? Or should I ask the concubines for their opinion?" The king then opened a referendum at the harem to find out who was the most beautiful among the three beauties. The results were not very bright, because Everyone thought that all three queens were equally beautiful. One was eight ounces, the other was half a pound. The king discussed the matter with the court. The result was the same as above Stop the test, because I'm afraid it won't do anything but sometimes bring unpredictable consequences. Instead of listening to the wise advice of that veteran loyalist, our king will get angry. He ordered the prime minister to complete the job within three days. After a moment of silence, the prime minister respectfully replied: - Your Majesty, I think that you are only good at matters. The matter of beauty and ugliness must be left to the famous masters. Or should His Majesty invite him in? Will he be able to distinguish more clearly? The fortune teller was immediately summoned to the palace to admire the faces of the three beauties. The fortune teller refused to give the results right away but asked to beg the next day to go back and "check the dictionary" again. After the old monk left, the prime minister whispered to the king: - Your Majesty! I secretly think that ladies and gentlemen, each person has their own beauty, depending on each person's perspective and preferences. Our opinions may differ, but because we are afraid of the authority of the ladies, we do not dare to voice our opinions and only generally conclude that all three ladies are equally talented and beautiful. . If I'm not mistaken, this old fortune teller is also in the same awkward situation as you guys, so he'll just ask to beg again tomorrow. - So how do you solve it? - Dear! The foolish man had a petty plan: His Majesty forged a letter, signed it with the names of the three noble ladies, and invited him to three separate locations. If he goes to any place, she will be the most beautiful. - Very good, please do it immediately for me. Three letters were promptly sent and the old fortune teller went to the meeting place with the most beautiful queen. The king ordered the fortune teller to be beheaded... And from then on, he especially favored this final queen. The two remaining queens were extremely angry, they conspired together to use poison to kill the most beautiful queen. When the story was revealed, the king ordered the execution of the remaining two queens. The three most beautiful queens in the country all died, and the king was left alone to see how empty and cold the palace was, regardless of Spring, Summer, Fall, and Winter. Comment: Dear friends! Every dharma in this world has its own characteristics, but when we start to "prioritise" any dharma, that is, pay attention to it, things start to get complicated. Perhaps that is why the Buddha often advises us to let the dharmas stay in their original state. Do not intervene in discrimination to bring suffering to yourself and bring disaster to those around you. Likewise, in interactions with neighboring friends, each of our friends has a unique personality, occupies a different position and style, no one is the same. And it is difficult for us to conclude who is more important than whom. In spring there are orchids, in autumn there are chrysanthemums, each flower has its own scent, it is impossible to force this type of flower to imitate the other. Do you see that misfortune always comes to those we especially favor? So, should we foolishly bring our sense of discrimination into those relationships, to feel that this life is cold regardless of the four seasons of Spring, Summer, Fall, and Winter?
Table of contents
Three Queens
Three Queens
AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Tieuboingoan Uploaded by friend: Ct.Ly on: May 13, 2005
|
Nguyễn Ngọc Tư
Ba bé Ngoan về
Bé Ngoan tháng nào cũng nhận được thư của ba nó. Nhất là tháng nầy, nó nhận được hai lá thư liền, thư trước hỏi tình hình học tập, nó viết gửi đi, rằng năm nay nó được học sinh tiên tiến, lẽ ra phải xuất sắc kia, nhưng thi môn văn chỉ được điểm bốn thôi. Môn văn bốn điểm là tại vì học kỳ nầy cô giáo ra đề biểu tả "ba em và công việc hàng ngày", "mà con đâu có biết mặt ba, đâu có biết hàng ngày ba làm gì đâu", trong dòng chữ nguệch ngoạc dường như giận dỗi. Thư đi thư lại ba nó viết: "Chừng nào bé Ngoan đúng 10 tuổi sẽ được gặp ba". Nó nôn nao chờ đợi cái ngày đó quá trời Bé luôn luôn chờ đợi cái ngày ba về. Có ba rồi, sẽ có người đánh bé khi bé lì, có người khen bé khi bé được điểm mười. Ba sẽ dạy bé cách làm cho mẹ vui để mẹ không khóc một mình nữa, bé Ngoan luôn luôn nghĩ vậy. Bé Ngoan dễ thương y như tên của nó. Năm giờ sáng, Ngoan đi chợ mua giá, mua bánh lọt về cho má bán điểm tâm sáng. Tánh sợ ma, chuyến đi bé toàn chạy chuyến về, trời sáng nắng vẫn chạy lụi đụi vì sợ trễ giờ má dọn hàng. Buổi sáng, bé Ngoan vừa bưng bê tiếp má vừa học bài. Buổi chiều đi học về tới nhà là xách cái thùng cũ mèm tí teo xuống nhà ăn huyện đội xin cặn heo. Ngoan không bao giờ vòi vĩnh má đòi đồ chơi, đòi keo bánh. Bé chỉ đòi được gặp ba thôi. Bạn bé ai cũng có ba hết, thiệt đó. Hồi lớn lên tới giờ, bé Ngoan chưa hề gặp ba. Má kể, ba đi làm ăn lâu lắm, khi nào Ngoan lớn ba sẽ về. Nghe nói vậy, bé chạy lại coi kiếng, bé hỏi má, "Con giống ba phải hôn, má?". Ngoan mặt vuông, nhìn vào thấy ngay đôi mày rậm như hai con sâu róm đậu im lìm, đen như mực tàu. Hai con sau chỉ lọ mọ bò khi bé cười. Bé cũng không giống mẹ ở cái cổ, cái cổ bé ngắn còn cổ của mẹ thì trắng và cao. "Mình nhât" đinh giống ba", Ngoan quả quyết. Tư khi về nhà, má cất cái quán bên chân cầu, đằng trước huyện đội nên có nhiều chú bộ đội vào uống café. Ngoan thân nhất là chú Quang. Chú Quang còn trẻ nhưng để hàng rau rậm ơi là rậm cộng với nước da đen bóng nên trông hơi già. Ngoan học toán thì hơi đi...tệ, chú Quang kem cho khá lên. Ngoan học văn cũng không giỏi, chú Quang mua sách biểu Ngoan đọc. Bé Ngoan siêng học nhưng lại không sáng dạ lắm. Có bữa chú Quang đi công tác về, không thấy bé Ngoan nhảy ra lúng tứng, hai vẫy dịu quặt, miệng hò reo như mỗi lần chú bước chân qua cửa. Chú lạ quá, hỏi bé Ngoan đi đâu rùi cà, má chỉ trong buồng. Bé Ngoan đang ngồi khóc. Chú Quang cười, "Con trai ai mà khóc?", Be Ngoan nói trong từng tiếng nất ngắn: -Thầy con nói năm nay con học yếu hơn năm rồi. Con sợ quá hà. Ba con mà hay được chắc hỏng thương con nữa. Chú Quang bật cười: -Sao lại không? Bé Ngoan cúi mặt giấu đôi mắt ướt nhẹp: - Thiệt mà, chú. - Bậy - Chú Quang bảo - không có đâu mà. Làm con trai phải mạnh mẽ, thiệt là mạnh mẽ cho má nương tựa chớ, ai mà khóc. Vài hôm sau, bé Ngoan nhân được thư ba, ba viết dù Ngoan có học thế nào thì ba cũng thương, nhưng ba lúc nào cũng mong con học giỏi, học giỏi mới thành tài, mới giúp ích cho nhiều người. Bé Ngoan cươi hơn hớn chạy di khoe thư ba với má, với chú Quang. Má nhìn chú Quang. Chú Quang vỗ đâu Ngoan cười. Có thể má cũng cười nhưng má hay cười một mình cũng như hay khóc một mình, má giấu không cho Ngoan biết. Ngoan không thíc vậy, Ngoan thích như chú Quang hơn, phải cười vang như vậy người khác mới biết chớ. Chú Quang hay đi công tác lâu ngày, những lúc như vậy bé Ngoan mới thấy mình thương chú lắm. Thương mới nhớ chớ. Lúc chú về, bé Ngoan biểu chú mai mốt đừng có đi nữa. Chú bảo đâu có được, chú có nhiệm vụ mà. Bé Ngoan bày ra nói với chú bao nhiêu là chuyẹn, bé muốn chũng câu chuyện ấy sẽ giúp chú đừng đi đâu xa nữa. Trong muôn vàn câu chuyện đó, có chuyện rằm tháng hai này, khi Ngoan tròn 12 tuổi, ba Ngoan sẽ trở về. Bé kể chuyện đó xong, thấy chú Quang buồn, Ngoan ôm cổ chú, lúc lắc cái đầu chú: -Chú đừng có buồn, dù ba con về, con cũng thương chú như vầy luôn, thương hoài thương huỷ. Bé Ngoan chờ tới cái ngày đó dữ lắm. Bé lav( ghế trèo lên lột lịch hoài. Bữa nay mùng mười, mười một, mười hai... ban đêm, bé ra ngoài sân ngó lên trời, đinh ninh rằng, "Ba sẽ về trong cái đêm trăng tròn ủm giống y cái tô". Bây giờ trăng vẫn con méo xẹo. Mẹ nói mẹ sẽ làm sinh nhật cho bé Ngoan, sinh nhật giống y trong phim vậy, có cắt bánh, có thổi đèn, có hái bài ca sinh nhật (nếu không ai thuộc thì có thể bỏ khoản này). Bé chờ tới mức nằm mơ luôn. Chiêm bao cũng thấy bánh, thấy ba, mà khong, chỉ thấy cái lưng ba thôi thì đã giật mình thức dậy, tiếc thiệt. Tiếc thêm một chuyện nữa, chú Quang lại đi công tác, chú nói không biết kịp về ngày sinh nhat bé ngoan không. Nhưng dù về trễ, thế nào chú cũng tặng Ngoan một món quà đặc biệt. Bé Ngoan hơi buồn một chút rồi thôi, mai nữa là đã rằm. Sinh nhật bé vui thật là vui, má cho Ngoan mặc bộ đồ mới mặt có một lần hôm tết. Má mời đám trẻ cùng xóm về, tụi nó không hát, không múa, chỉ giỡn với ăn. Nhưng cũng vui. Mấy chú bộ đội xuống, tăng cho Ngoan nào là xe hơi, súng lục (tất nhiên là bằng nhựa) bảnh phải biết. Tiệc tan, mấy chú về, bạn bé Ngoan cũng về. Khuya rồi, phải về nhà ngủ chớ. Má nói: "Chắc bữa nay chú Quang không về đâu". Ngoan không chịu cho má đóng cửa, "Con chờ ba, má. Ba biên thư nói đúng hôm nay sẽ về. Má đóng cửa, ba vô nhà hỏng được rồi sao?". Lần đầu tiên má bật khóc trước mặt Ngoan, má nghĩ chắc phải nói thật với Ngoan rằng, ba sẽ không bao giờ về được nữa đâu... Ngoan lạ lắm, ba sắp về, má không mừng, không cười thì thôi làm gì phải khóc. Người lớn mà khóc gì. Ngoan chờ mãi, chờ hoài. Khuya thật là khuya, trăng đã lên ngay trên đỉnh đầu bé, trăng tròn ơi là tròn, sáng ơi là sáng nhưng ba vẫn chưa về. Lúc Ngoan quay lưng vào Ngoan nghe thấy tiếng chân người gấp rãi chạy trên cầu. Rồi bóng chú Quang hiện ra cửa, giày chú đầy bụi, quần chú quệt vào đám cỏ loằn ngoằn nhửng vệt nước. Chú ôm bé Ngoan vào lòng, nâng bé lên bằng đôi tay rắng rỏi, quay bé mấy vòng thiếu điều chóng mặt luon, chú nói to:"Con có thích gọi chú bằng ba không. Ba về rồi nè". Ngoan dụi mũi vào mái tóc dầy, to ấm của chú, mũi nó ướt mù sương. Sau nầy, nó sẽ không bao giờ nhớ tới ba nữa, ba không giữ lời, nó chỉ thương chú Quang thôi. Ngoan khẽ gọi: -Ba, ba Quang. -Gì-Chú Quang lật ngửa nó ra-Con vừa nói gì đó, nói lại nghe. -Ba ơi! Ba! Ngoan vừa nói vừa cười khanh khách. Chú Quang lại các dốc ngửa Ngoan trên vai quay mòng mòng. Trong cái nhìn chỏng ngược, Ngoan thấy má đứng chổ góc nhà, má cười mà nước mắt má rơi. Ngoan thíc má như vậy hơn, như vậy mới giống chú Quang. Ngoan kêu lớn: - Má ơi! Ba ơi! Vậy là mình có gia đình rồi, Ngoan thầm reo lên trong lòng, hồi học lớp hai, cô giáo dạy, nhà có ba, có má, có mình là thành một gia đình. Ô vui quá!
Mục lục
Ba bé Ngoan về
Ba bé Ngoan về
Nguyễn Ngọc TưChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: mickey đưa lên vào ngày: 9 tháng 4 năm 2004
|
Nguyen Ngoc Tu
Ngoan's father returned
Baby Ngoan receives letters from his father every month. Especially this month, he received two letters in a row, the first letter asked about his studies, he wrote to say that this year he was an advanced student, should have been excellent, but only got a score in the literature exam. just four. Literature subject got four points because this semester the teacher gave a topic describing "my father and his daily work", "but I don't know my father's face, I don't know what he does every day", in the scribbled text. Squirrel seems angry. Lettering back and forth, his father wrote: "When Ngoan is exactly 10 years old, he will meet his father." He was eagerly waiting for that day. He was always waiting for the day his father would come home. Having three, someone will beat the child when he is stubborn, someone will praise him when he gets ten points. Dad will teach her how to make her mother happy so she won't cry alone anymore, little Ngoan always thinks so. Baby Ngoan is as cute as his name. At five o'clock in the morning, Ngoan went to the market to buy prices and bought banh loc for his mother to sell for breakfast. Because of his fear of ghosts, he always runs on the return trip on trips, and when it's bright and sunny, he still runs late because he's afraid his mother will be late to clean up the goods. In the morning, little Ngoan carried the baby's milk to his mother while studying. In the afternoon, when I get home from school, I carry a tiny old bucket down to the district restaurant to ask for pig residue. Ngoan never begged his mother for toys or cakes. The baby just wanted to see dad. Everyone has a father, really. Since growing up, little Ngoan has never met his father. Mom said, Dad went to work for a long time, when Ngoan grew up, he would come back. Hearing that, the baby ran to look at the mirror and asked his mother, "I have to kiss you like you, Mom?". With a square face, you can immediately see thick eyebrows like two caterpillars parked silently, black as ink. The latter two just crawled when the baby laughed. The baby also does not resemble the mother in the neck. The baby's neck is short while the mother's neck is white and tall. "I'm just like my dad," Ngoan affirmed. When he returned home, his mother kept a shop next to the bridge, in front of the district team, so many soldiers came to drink coffee. Ngoan's closest friend was Uncle Quang. Uncle Quang also Young, but with thick vegetables and shiny black skin, Ngon's math skills are a bit bad. Uncle Quang is not good at studying literature. Uncle Quang buys textbooks Ngoan reads. Baby Ngoan studies diligently but is not very bright. One day, when Uncle Quang came home from work, Ngoan suddenly jumped out, waving his arms and shouting like every time he walked through the door It's so strange, when I asked baby Ngoan where he was going, his mother pointed to the room. Baby Ngoan was sitting and crying. Uncle Quang laughed, "Who's a boy crying?", Be Ngoan said in short sobs: - Your teacher said this year. I've been studying worse than a year ago. I'm so scared. If my father finds out, he'll probably hurt me too. Uncle Quang laughed: - Why not? Baby Ngoan lowered his face and hid his wet eyes. No - Uncle Quang said - no, being a son has to be strong, really strong for my mother to rely on, who would cry. A few days later, Ngoan Nhan received a letter from his father. He wrote that no matter how Ngoan studied, he still loved him, but he always wanted him to study well. If he studied well, he would become talented and help many people. Little Ngoan smiled happily and ran away to show off his father to his mother and Uncle Quang. Mom looked at Uncle Quang. Uncle Quang patted Ngoan and smiled. Mom may also smile, but she often laughs alone and often cries alone, which she hides from Ngoan. Ngoan doesn't like that, Ngoan prefers to be like Uncle Quang, he has to laugh loudly like that for others to know. Uncle Quang often goes on business trips for a long time, and at times like that, little Ngoan feels that he loves him very much. Love makes you remember. When he returned, Ngoan told him not to go again tomorrow. You said you can't, you have a duty. Little Ngoan told him so many stories, she wanted those stories to help him not go any further. Among those countless stories, there is one that on the full moon day of February, when Ngoan turns 12 years old, Ngoan's father will return. After he finished telling the story, seeing Uncle Quang sad, Ngoan hugged his neck and shook his head: - Don't be sad, even if your father comes back, I will always love you like this, love you forever. Baby Ngoan waited so hard for that day. The little boy climbed up on the chair and peeled off the calendar. Today, on the tenth, eleventh, twelfth... at night, he went out into the yard and looked up at the sky, thinking, "Dad will return on the night of the full moon like you." bowl". Now the moon is still crooked. Mom said she will make Ngoan's birthday, a birthday just like in the movie, with cake cutting, blowing lights, and picking the birthday song (if no one knows it). You can skip this part.) The baby waited until he was dreaming. He also saw cake and saw his father, but when he didn't, he woke up startled by just seeing his back. What a pity. Uncle Quang was on a business trip again. He said he didn't know if he was going to be good on his birthday, but even though he was late, he still gave Ngoan a special gift, which was a bit sad It was a happy birthday. Mom let Ngoan wear a new outfit for Tet. She invited the children from the neighborhood to come home. They didn't sing or dance, but they just played and ate The soldiers came down and gave Ngoan a car and a pistol (of course made of plastic). The party ended, the guys went home, and Ngoan's friend also came home. It's late, I have to go home and sleep. Mom said: "Maybe Uncle Quang won't come home today." Ngoan refused to let Mom close the door, "I'm waiting for you, Mom. Dad wrote in the letter that he was right that he would come home today. Mom, if you close the door, is it okay for Dad to come in?". The first time Mom burst into tears in front of Ngoan, she thought she had to tell Ngoan the truth that Dad would never come home again... Ngoai was very strange, Dad was coming home, if Mom wasn't happy or smiling, then why bother? have to cry. Why do adults cry? Patiently waiting forever, waiting forever. It was really late, the moon was right above the baby's head, the moon was so full, so bright, so bright, but dad still hadn't come home. When Ngoan turned his back to Ngoan, he heard the sound of people running quickly on the bridge. Then Uncle Quang's shadow appeared at the door, his shoes full of dust, his pants scraping against the zigzag grass with water stains. He held baby Ngoan in his arms, lifted him up with his strong arms, spun him around a few times without feeling dizzy, and said loudly: "Do you like calling me dad? Dad's home." Obediently rubbed his nose into his uncle's thick, warm hair, his nose was wet and misty. After this, he will never remember his father again, his father did not keep his word, he only loves Uncle Quang. Ngoan softly called: -Dad, dad Quang. -What-Uncle Quang turned it over-You just said something, say it again. -Daddy! Father! Ngoan spoke and laughed. Uncle Quang turned Ngoan's back slopes on his shoulders. In his upside down look, Ngoan saw his mother standing in the corner of the house, smiling and tears falling. It's better to be obedient to your mother like that, so you'll be more like Uncle Quang. Ngoan shouted loudly: - Mom! Daddy! So I have a family, Ngoan secretly shouted in his heart, when I was in second grade, my teacher taught me, my family had my father, my mother, and me, making it a family. Oh so much fun!
Table of contents
Ngoan's father returned
Ngoan's father returned
Nguyen Ngoc TuWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: mickey posted on: April 9, 2004
|
Marius Kriatkovski
Ba chuyện về tình yêu
Dịch giả :Vũ Đình Bình
I. Ông kế toán trưởng đến chơi nhà bạn bè và làm quen được với một cô gái trẻ trung xinh đẹp. "Kể ra mình đáng tuổi bố cô ta ấy chứ! - Ông tự tranh cãi với bản thân – Nhưng nhất định cô ta phải là vợ mình ". Nói thật lòng, có khi ông còn ngang tuổi với ông nội ông ngoại của cô gái là khác. Do vậy ông càng sung sướng, khi trong buổi gặp gỡ riêng đầu tiên - nhân dịp này ông có tặng cô một chiếc nhẫn lớn có gắn kim cương - ông đã nhận thấy cả cô gái cũng không hề lãnh đạm với ông. Chẳng bao lâu, họ chung sống với nhau. Ông kế toán trưởng làm việc nhiều hơn và hầu như ngày nào đi làm về cũng mang theo một thứ gì đó. Ông đem về khi thì một chiếc ô tô nhãn hiệu “DKV – Junior”, khi thì một chiếc áo măng tô lông rái cá, khi thì một chuỗi hạt kim cương, khi thì một món đồ trang sức nhỏ.- Tiền làm ngoài giờ của anh đấy! - Ông tuyên bố – Vì em, em yêu, anh luôn cố gắng. Cô gái mừng rỡ như một đứa trẻ:- Nhưng anh phải giữ gìn sức khỏe nhé! - Cô nói và áp chặt chiếc áo lông rái cá vào ngực -Tại vì em rất yêu anh, yêu anh lắm lắm! Cô sắc cho ông uống các thứ thuốc thảo dược và đôi lúc trìu mến gọi ông là “bố”. Cứ thế, họ sống êm ả và hạnh phúc cho tới khi ông kế toán trưởng dốc các khoản tiền tiết kiệm kếch sù ra xây một tòa biệt thự tuyệt đẹp có vườn cây và bể bơi. Vào một ngày không vui, gần tối vẫn không thấy ông về mà lại xuất hiện mấy viên cảnh sát. Họ niêm phong cả ô tô, cả áo măng tô lông, cả các thứ khác.- Ông ta đã tham ô hơn một trăm triệu - Họ thông báo vắn tắt.- Trời! - Cô gái đang yêu tội nghiệp bật khóc - Thế mà tôi chẳng nhận thấy gì cả!Chả là tình yêu mù quáng mà lại.II . Người đàn ông mà tôi sắp kể với các bạn đây có cô vợ rất xinh đẹp. Và rất yêu chồng. Cô yêu chồng mãnh liệt tới mức dù ở đâu, dù đi đâu, cô cũng chỉ toàn nói về chồng. Ngay cả khi hoàn toàn tình cờ quen biết với Nikodem (đáng lẽ đi taxi, cô lại lên chiếc xe “Fiat – 1100” của anh chàng này) cô vợ yêu chồng tha thiết ấy cũng luôn luôn nói về chồng.- Anh chở tôi đi đâu thế này?! – Bỗng cô kêu lên – Tôi ở đầu đằng kia của thành phố cơ mà. Dudus chồng tôi sẽ lo lắng đấy. Anh ấy bao giờ cũng sốt ruột bồn chồn nếu tôi về muộn. Chà, giá mà anh biết tôi yêu Dudus đến mức nào và anh ấy dễ thương đến mức nào!… Sau đó, khi đến nhà Nikodem để xem qua bộ sưu tập các tẩu thuốc của anh ta, cô nói:- Không biết Dudus của tôi bây giờ đang làm gì nhỉ? Chắc anh ấy chờ đợi tôi lắm và lo lắng lắm. Chà Nikodem, nếu anh biết em yêu Dudus của em đến mức nào! Anh ấy tuyệt diệu lắm cơ. Vài tuần sau, cô nói với Nikodem ở trong toa ngủ trên tàu hỏa:- Chắc hẳn Dudus đã bắt đầu nhớ em rồi đấy. Dudus yêu quý! Này, Nikodem, anh thậm chí không thể hiểu nổi em yêu anh ấy đến mức nào đâu!… Đoàn tàu chở họ chạy mỗi lúc một nhanh đưa họ vượt biên giới trong chuyến đi ra nước ngoài. Chả là tình yêu không có giới hạn nào hết, không có biên giới nào hết mà lại.III . Nữ nhân vật thứ ba của tôi cũng trẻ trung, xinh đẹp và rất yêu chồng. Ngày tháng của cô trôi đi êm ả và hạnh phúc. Cô ngủ rất ngon (thường là đến tận giữa trưa), sau đó cô đến quán cà phê hoặc hiệu thời trang tóc, rồi cô đi dạo. Khi chồng đi làm về, cô ríu rít trò chuyện và âu yếm vuốt ve chồng mãi.- Hôm nay anh mua gì cho em đấy? Anh có nhớ tới cô vợ bé bỏng của anh không? Anh không bao giờ quên cô. Họ yêu nhau thắm thiết. Một ngày nọ, anh bị đuổi việc. Thoạt tiên, anh buộc phải bán xe ôtô. Nhưng anh bông đùa:- Bây giờ anh sẽ ghi tên tham gia khóa học để trở thành hành khách xe bus và tàu điện…Sau đó, anh không đem quà cáp về nữa. Và anh nói đùa:- Anh yêu em, vợ yêu quý của anh, nhưng tình yêu của anh là tình yêu tinh thần… Còn cô, cô rất đau khổ về tất cả những chuyện đó. Cô yêu anh mãnh liệt đến mức cô không muốn mình là gánh nặng cho anh.“Anh yêu - cô nghĩ với một tình cảm dịu dàng – Em sẽ không chịu đựng nổi khi trông thấy anh dằn vặt khổ sở đâu. Anh Leshek có ô tô, có biệt thự, mỗi năm đi nghỉ ở nước ngoài một lần… Hãy để anh ấy phải chịu dằn vặt khổ sở”. Và cô đến với Leshek. Chả là tình yêu có thể khiến người ta sẵn sàng hy sinh những thứ cực kỳ lớn lao mà lại.
Mục lục
Ba chuyện về tình yêu
Ba chuyện về tình yêu
Marius KriatkovskiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh Máy : Chân Trời Tím Nguồn: Vnthuquan - Thư viện onlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 4 năm 2008
|
Marius Kriatkovski
Three stories about love
Translator: Vu Dinh Binh
I. The chief accountant visited a friend's house and met a beautiful young girl. "I'm old enough to be her father! - He argued with himself - But she must be my wife." To be honest, he was probably the same age as the girl's grandfather. Therefore, he was even happier, when during their first private meeting - on this occasion he gave her a large ring with a diamond - he realized that even the girl was not indifferent to him. Before long, they were living together. The chief accountant worked more and brought something with him almost every day when he came home from work. Sometimes he brings home a car branded "DKV - Junior", sometimes an otter fur coat, sometimes a diamond necklace, sometimes a small piece of jewelry. - Overtime pay it's yours! - He declared – For you, honey, I always try. The girl was as happy as a child: - But you have to take care of your health! - She said and pressed her otter fur coat tightly to her chest - Because I love you so much, I love you so much! She made herbal medicines for him and sometimes affectionately called him "Dad". Just like that, they lived peacefully and happily until the chief accountant used his huge savings to build a beautiful villa with a garden and swimming pool. One unhappy day, near evening, he still didn't come home, but a few police officers appeared. They sealed up cars, fur coats, and other things. - He embezzled more than a hundred million - They briefly announced. - Oh my God! - The poor girl in love burst into tears - But I didn't notice anything! It's not like love is blind. II . The man I'm about to tell you about has a very beautiful wife. And love my husband very much. She loves her husband so strongly that no matter where she is, no matter where she goes, she only talks about him. Even when she met Nikodem completely by chance (when she was supposed to take a taxi, she instead got into this guy's "Fiat - 1100"), the wife who loved her husband dearly always talked about him. - He drove me. Where are you going?! – Suddenly she exclaimed – I'm at the other end of the city. My husband Dudus will be worried. He is always impatient and restless if I come home late. Well, if only you knew how much I love Dudus and how cute he is!… Later, when she went to Nikodem's house to look through his collection of pipes, she said:- Don't know Dudus of What am I doing now? He must have been waiting for me and was very worried. Well Nikodem, if you only knew how much I love my Dudus! He's so wonderful. A few weeks later, she said to Nikodem in the sleeping compartment of the train: - Dudus must have started to miss you. Dear Dudus! Hey, Nikodem, you can't even understand how much I love him!… The train carrying them ran faster and faster, taking them across the border on their trip abroad. It's not like love has no limits, no boundaries.III. My third female character is also young, beautiful and loves her husband very much. Her days passed smoothly and happily. She sleeps very well (usually until noon), then she goes to a cafe or hair salon, then she goes for a walk. When her husband came home from work, she chatted and lovingly caressed him forever. - What did you buy for me today? Do you remember your little wife? He never forgot her. They love each other dearly. One day, he was fired from his job. At first, he was forced to sell his car. But he joked: - Now I will enroll in the course to become a bus and train passenger... After that, I won't bring gifts home anymore. And he joked: - I love you, my beloved wife, but my love is spiritual love... As for her, she was very miserable about all of that. She loved him so strongly that she didn't want to be a burden to him. "Darling - she thought with tender affection - I won't be able to bear to see you suffering. Mr. Leshek has a car, a villa, and goes on vacation abroad once a year... Let him suffer." And she came to Leshek. It's not like love can make people willing to sacrifice extremely great things.
Table of contents
Three stories about love
Three stories about love
Marius KriatkovskiWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: executive: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Purple Horizon Source: Vnthuquan - Online library Uploaded by friend: Ct.Ly on: April 4, 2008
|
Khuyết Danh
Ba chúc con đủ
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình lại mất nhiều thời gian của cuộc đời mình ở các sân bay đến thế .Tôi vừa thích lại vừa ghét việc đó!?!! Tôi thích được ngắm nhiều người. Nhưng đó cũng là lý do tôi ghét :phải nhìn mọi người "chào" và "tạm biệt". Nó làm tôi xúc đông đến phát mệt.Cho nên, mỗi khi gặp 1 thử thách trong cuộc sống, tôi vẫn thường ra sân bay thành phố nhìn mọi người "tạm biệt". Để tôi thấy rằng mình vẫn hạnh phúc khi không phải nói lời chia tay với những người thân yêu của mình. Nhìn mọi người cố níu kéo nhau, khóc... tôi cảm thấy mình còn rất nhiều điều quý giá khác. Những gia đình, những người yêu nhau cuối cùng cũng phải xa cách, nhìn họ sải rộng cánh tay để nắm tay nhau, cho đến khi chỉ còn 2 đầu ngón tay của 2 người chạm vào nhau... đó là những hình ảnh mãi mãi nằm trong tâm trí tôi. Và tôi cũng học được nhiều điều từ những giây phút "tạm biệt " đấy.Có 1 lần, tôi nghe loáng thoáng tiếng 2 cha con đang bên nhau trong những phút giây cuối cùng. Họ ôm nhau và người cha nói: "Ba yêu con, ba chúc con đủ". Rồi cô gái đáp lại: "Con cũng yêu ba rất nhiều và chúc ba đủ".Và cô gái quay đi, tôi thấy người cha cứ đứng nhìn theo, thấy ông ấy muốn và cần khóc. Tôi lại gần, nhưng lại không muốn xen vào giây phút riêng tư của ông ấy nên không nói gì. Bỗng ông quay lại chào tôi và: - Đã bao giờ anh nói lời tạm biệt với 1 người, và biết rằng mãi mãi không gặp nữa? - Xin ông cho tôi hỏi, có phải ông vừa vĩnh biệt với con gái ông? Tại sao vậy?-Tôi già rồi, mà con tôi sống cách tôi đến nửa vòng trái đất - Người cha nói - Thực tế, tôi biết lần sau con tôi quay về đây nhưng lúc đó có thể tôi đã mất. - Khi tạm biệt con gái ông, tôi nghe ông nói: "Ba chúc con đủ". Tôi có thể biết điều đó có ý nghĩa gì không? Người cha già mỉm cười: - Đó là lời chúc gia truyền của gia đình tôi, đã qua nhiều thế hệ rồi - Nói đoạn ông dừng lại, ngước nhìn lên cao như thể cố nhớ lại từng chi tiết, và ông cười tươi hơn - Khi tôi nói: "Ba chúc con đủ", tôi muốn chúc con gái tôi có cuộc sống đủ những điều tốt đẹp và duy trì được nó. Rồi ông lẩm nhẩm đọc:"Ba chúc con đủ ánh sáng mặt trời để giữ cho tâm hồn con trong sáng. Ba chúc con đủ hạnh phúc để giữ cho tinh thần con luôn sống. Ba chúc con đủ những nỗi đau để biết yêu quý cả những niềm vui nhỏ nhất. Ba chúc con đủ những gì con muốn để con hài lòng. Ba chúc con đủ mất mát để con yêu quý những gì con có. Và ba chúc con đủ lời chào để có thể vượt qua được lời "tạm biệt" cuối cùng. Ông khóc và quay lưng bưóc đi.Tôi nói với theo "Thưa ông, tôi chúc ông đủ"Và các bạn, khi các bạn đã đọc xong mẩu chuyện này, tôi cũng chúc các bạn như vậy. Chúc chúng ta đủ.
Mục lục
Ba chúc con đủ
Ba chúc con đủ
Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Latdat đưa lên vào ngày: 22 tháng 4 năm 2004
|
Noname
Dad wishes you enough
I never thought I would spend so much of my life in airports. I both love and hate it!?!! I like to watch people. But that's also the reason I hate it: having to see people say "hello" and "goodbye". It makes me tired of shoveling. So, every time I encounter a challenge in life, I often go to the city airport to see everyone say "goodbye". Let me see that I am still happy without having to say goodbye to my loved ones. Looking at everyone trying to hold each other, crying... I feel like I still have many other precious things. Families and lovers who are finally separated, watching them spread their arms wide to hold each other's hands, until only their fingertips touch each other... those are images that will last forever. forever in my mind. And I also learned many things from those "goodbye" moments. One time, I vaguely heard the sound of father and son being together in their last moments. They hugged each other and the father said: "I love you, I wish you well." Then the girl replied: "I also love you very much and wish you all the best." And the girl turned away, I saw the father standing and watching, seeing that he wanted and needed to cry. I approached him, but I didn't want to intrude on his private moment, so I didn't say anything. Suddenly he turned around to greet me and: - Have you ever said goodbye to someone, and knew that you would never see them again? - Please tell me, did you just say goodbye to your daughter? Why is that? - I'm old, but my child lives half a world away from me - The father said - In fact, I know the next time my child comes back here, but by then I may be gone. - When saying goodbye to his daughter, I heard him say: "I wish you well." May I know what that means? The old father smiled: - That is a wish passed down from my family, for many generations - Then he stopped, looked up as if trying to remember every detail, and he smiled brighter - When I say: "I wish you enough", I want to wish my daughter a life full of good things and maintain it. Then he recited: "I wish you enough sunlight to keep your soul pure. I wish you enough happiness to keep your spirit alive. I wish you enough pain to love you." even the smallest joys. I wish you enough of what you want to be satisfied. I wish you enough loss to make you love what you have. And I wish you enough greetings to be able to overcome it. goodbye" at last. He cried and turned away. I said after him, "Sir, I wish you enough." And guys, when you have finished reading this story, I wish you the same. Best wishes. we are enough.
Table of contents
Dad wishes you enough
Dad wishes you enough
AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy.
Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Posted by friend: Latdat on: April 22, 2004
|
Hà Phương Hoài
Ba Con Yến Nhỏ
Kính tặng Nhà thơ Phùng Trần
Mai đây dư ảnh vương trần thế,Thì chốn non bồng có Yến Nhi !
Từ một chân trời xa xôi ngoài biển đông, Yến Thanh, Yến Hồng và Yến Nhi bay vào đất liền. Họ gặp nhau tại một vườn hoa muôn sắc. Ánh nắng của những ngày đầu xuân dịu mát lôi kéo biết bao nhiêu là tài tử giai nhân. Người ta dìu nhau đi trong hương thơm ngào ngạt của ngàn hoa khoe sắc thắm, chập chờn ong bướm lả lơi. Như một đoàn hùng binh diễn hành trên đại lộ, các nàng Tulip trong đội ngũ thẳng tắp lôi cuốn hầu hết những vương tôn công tử đến chiêm ngưỡng. Xa xa bên bờ hồ nước trong xanh với tia nước ngọc ngà tuôn vút tận trời cao là các nàng Iris xinh tươi đua nhau nhảy múa theo làn gió xuân, làm tăng thêm nét yêu kiều diễm lệ. Xung quanh các nàng là các kỳ hoa dị thảo khác từ khắp năm châu bốn bể châu về nhập cuộc chơi với các nàng.Yến Thanh có nhiều kinh nghiệm với đời cho nên không muốn tham gia với làn sóng xô bồ và vui nhộn đó, nàng nói:- Này các em à, chúng mình nên kiếm một nơi nào đó có những loài hoa bình dị, như hoa phấn, hoa tường vi hay hoa chuối của quê nhà để chúng mình hàn huyên tâm sự, tự do nô đùa chẳng ai dòm ngó!- Mình đã lặn lội từ xa, xa lắm đến được đây, tại sao mình không nhập cuộc với mọi người để thưởng thức cái vui và cái khoái cảm của con người mà lại chui vào cái nơi chỉ có những đàn bướm, đàn ong khờ dại. Chúng ta qua đó đi các chị à! Yến Hồng đề nghị.- Chị không phải không muốn đến với họ. Em đã quên rằng chúng ta chỉ là loài yến nhỏ bé, sống ở biển khơi, sống ở nơi đồng không mông quạnh, thì làm gì thích hợp với thú vui của loài cầm phố thị. Yến Thanh nhìn Yến Hồng dịu dàng nói.- Không sao chị ạ, chúng mình là chúng mình, họ là họ. Trên đời nầy có cuộc vui nào mà chẳng có đông người, đông kẻ lạ. Qua những ngày tháng đến đây, chúng mình dù không thân thiện với thế giới xung quanh ta nhưng cũng chưa đến nỗi là kẻ thù của nhau. Yến Hồng cố gắng thuyết phục người chị lớn.- Chị biết từ lâu nay em vẫn thích những chỗ đông người, thích những gì sôi động. Yến Hồng không để cho người chị lão đời, luôn dè dặt nói thêm nên đã chận lời :- Chỗ đông người mới có nhiều trò chơi lạ. Họ vui theo họ, ta đùa nô theo cách của ta. Chị thì lúc nào vẫn giữ nét cổ kính của một bà cụ non. Thấy người bạn trẻ ham chơi và không biết dè dặt sợ sệt là gì tiếp :- Em biết rằng giữa ta và họ luôn luôn có nhiều dị biệt. Những dị biệt đó không thể nào xóa bỏ đi được. Ngôn ngữ giữa ta và họ chẳng quá khác nhau hay sao! Một đàng thì đầy nhạc tính, một đàng cộc lốc khô khan. Một đàng thì thanh âm dài thườn thượt, một đàng ngắn gọn dễ thương. Hãy xem đàn bồ câu đã muôn đời gần gũi với họ. Họ cho ăn ngày ngày, nhưng thịt của bồ câu chẳng là món ăn ngon trong nhiều cao lầu, tửu điếm hay sao ?Yên Hồng không muốn so đo hơn thua với người chị đáng kính cho nên đã cáo từ đi riêng một mình. Yến Thanh và Yến Nhi dõi mắt trông theo lắc đầu. Hai người yên lặng rất lâu. Không biết lâu bao lâu nữa, cho đến khi có tiếng nổ của động cơ gần đâu đó làm cho hai người giật mình bay bổng. Hai chị em sánh vai nhau trên tầng mây, sung sướng nhìn trời mây bát ngát. Yến Nhi quay sang người chị có tuổi nói :- Ước gì chúng cứ bay mãi như thế nầy thì sướng biết là dường nào!- Bộ em không ăn không ngủ hay sao ? Yến Thanh nhắc nhở.- Em biết chuyện đó chứ. Nhưng giấc mơ là giấc mơ. Chúng ta là loài ở biển, tổ tiên chúng ta sống nơi có nước, có núi đẹp trời cao. Thế mà rồi vì thế thời đưa đẩy, chúng ta và gia đình của chúng ta đã chẳng lưu lạc đến chân trời xa lạ nầy. Chị thì luôn giữ lấy cái đẹp của cha ông, còn chị Yến Hồng lại thích đổi thay ồn ào nghiệt ngã.- Từ sáng giờ chẳng thấy em nói câu nào sao bây giờ em lại lý sự dữ dằn quá vậy? Yến Thanh quay qua con yến nhỏ âu yếm hỏi.- Em nào có lý sự gì đâu. Em là em, chị là chị. Mỗi sinh vật đều có bản năng và suy tư riêng của nó. Chị cố gắng áp đặt trên ý nguyện của kẻ khác bằng suy tư của chị thì làm sao họ chịu được. Từ sáng tới giờ, em đã chẳng bình chân như vại không nói một lời nào sao? Tại sao? Tại vì em tôn trọng chị, em tôn trọng chị Yến Hồng. Thật ra các chị đã chẳng bao giờ coi đứa em nhỏ nầy ra gì cho nên chẳng hề hỏi ý kiến của em trong cuộc chơi! Yến Nhi trách nhẹ.- Ừ nhỉ, hai chị thật là vô vị thật. Mỗi chị đều bị cùm bởi cái ngã nặng nề và cứng ngắt. Chị xin lỗi em. Vậy em có thể cho chị biết em thích đi chơi đâu? Yến Thanh giật mình dỗ dành Yến Nhi.- Em không dám đâu! Chị làm vậy em tổn thọ chết!Yến Thanh cướp lời Yến Nhi:- Thôi chị lấy lại lời xin lỗi đó được chưa? Hai chị em cùng phá lên cười. Họ sánh vai bay qua từng cụm mây nhỏ, mây to, mây hồng mây nhạt. Bỗng Yến Nhi nhìn xuống thấy một vườn hồng muôn hoa khoe sắc thắm, yên lặng như tờ mới quay qua Yến Thanh nói:- Kìa chị xem phía bên phải của chúng ta, hướng hai giờ, một vườn Hồng mầu hoa chói rạng. Chị em mình có chỗ chơi rồi đó. Thật là cảnh bồng lai. Mình xuống đó đi chị.Chẳng chờ cho Yến Thanh chấp thuận hay không, Yến nhỏ nghiêng mình một cái đã bỏ xa Yến Thanh tiếp tục bay về phía trước. Yến Nhi sà cánh ngay trên bụi tường vi trắng bạch. Vì đáp quá gấp cho nên không chọn đúng cành tường vi khả dĩ chịu đựng được sức nặng của người nàng. Yến Nhi mất thăng bằng chao người xuống bụi hoa đầy gai nhọn. Một chiếc gai nhọn rất nhỏ đã đâm vào người của nàng, phần gai gẫy ghim lại trong xác thịt của Yến Nhỏ. Yến Nhỏ thét lên một tiếng vỗ cánh muốn bay thoát khỏi gai góc, nhưng càng vẫy vùng, nhứng chiếc gai nhỏ bé khác xỉa xói vào da thịt nàng. Vũng vẫy một lúc sau Yến Nhi mới thoát được tai họa, bay bổng lên cao. Trong lúc đó Yến Thanh cũng vừa quay trở lại, thấy thế đuổi theo Yến Nhi. - Em vừa rủ chị xuống vườn hồng chơi sao lại chạy trốn như thế? Yến Thanh hỏi Yến Nhi với hơi thở dâp dồn. Yến Nhi vừa bay vút lên cao vừa la thất thanh, chẳng để ý đến lời thăm hỏi của Yến Thanh. Yến Thanh lo lắng cho Yến Nhi. Nàng nghĩ rằng Yến Nhi chắc đã gặp chuyện chẳng lành. - Em có sao không?- Chắc em bị gai ghim vào cánh. Đau lắm! Ta hãy về nhà nhờ chị gỡ hộ em.Yến nhi tiếp tục bay nhanh. Dù đường bay có hơi chao đảo. Chẳng mấy chốc, hai Yến bay về tới nơi cư trú. Yến Nhi nằm vật lên giường, hơi thở yếu dần. Yến Thanh hỏi:- Em đau ở chỗ nào. Chị xoa dầu cho em nhé.Yến Nhi nói trong hơi thở yếu ớt:Em bây giờ chẳng biết đau ở đâu nữa, khi thì đau ở cánh trái, khi thì ở cánh phải, ở bụng, không bây giờ ở tim, ôi đau quá! đau quá!La được mấy tiếng đó rồi ngất lịm.Yến Thanh quýnh quáng, lấy dầu nóng xoa khắp người của yến Nh. Một lúc lâu, Yến Nhi tỉnh lại than thở:Chắc em không xong rồi chị Thanh ơi! Ước gì em được trở lại với quê mình, được thấy lại Hòn Yến, được rong chơi trên sông Hàn. Được nghe sóng biển rạt rào vào những ngày cuối thu. Được nghe tiếng sáo diều của mục tử. Được ăn những món ngon ngọt của quê hương mình. Cơn gió xuân bắt đầu đổi hướng thành gió hạ, như hơi nước bốc thành hơi, những ước mơ của yến tan biến theo sức tàn của con yến nhỏ. Đôi cánh sệ xuống, mắt nhắm nghiền. Hơi thở yếu dần. Yến nhỏ nấc lên một tiếng rồi ngoẹo đầu sang một bên. Xác Yến nhỏ bất động. Hồn nàng bay bổng rất cao. Nàng đang thong dong bay về với cỏ nội mây ngàn. Yến em đã về với Sông Hàn, Núi Yến....Yến Nhỏ Đi Rồi, Ôi Yến NhiKính tặng Nhà thơ Phùng TrầnYến Nhi hề, Xuân Yến phi,Yến phi lưu lại cảnh nồi kê,Sân chơi còn đó người đâu tá ?Yến nhỏ đi rồi, ôi Yến Nhi !Yến Nhi hề, Xuân Yến phi,Khi hoa vừa nụ đã sinh ly,Khi thơ chửa trọn câu tình ý,Yến nhỏ đi rồi, ôi Yến Nhi !Yến Nhi hề, ôi Yến Nhi !Tình cha nghĩa mẹ chửa đền chi,Sách đèn trang dở chưa nhìn hết,Yến nhỏ đi rồi, ôi Yến Nhi !Dũ sạch nợ trần ấy tử qui,Khăn sô nặng trĩu lúc sinh thì.Cành xanh lá rụng trêu phần số !Tóc bạc lệ tràn bỡn tái tê.Thương giọt sương mai chưa trọn nắng,Hận duyên sinh hóa giữa xuân thì.Mai đây dư ảnh vương trần thế,Thì chốn non bồng có Yến Nhi !Hà Phương Hoài, hè 01
Mục lục
Ba Con Yến Nhỏ
Ba Con Yến Nhỏ
Hà Phương HoàiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Hà Phương HoàiĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 4 năm 2007
|
Hà Phương Hoài
Ba Con Yến Nhỏ
Kính tặng Nhà thơ Phùng Trần
Mai đây dư ảnh vương trần thế,Thì chốn non bồng có Yến Nhi !
Từ một chân trời xa xôi ngoài biển đông, Yến Thanh, Yến Hồng và Yến Nhi bay vào đất liền. Họ gặp nhau tại một vườn hoa muôn sắc. Ánh nắng của những ngày đầu xuân dịu mát lôi kéo biết bao nhiêu là tài tử giai nhân. Người ta dìu nhau đi trong hương thơm ngào ngạt của ngàn hoa khoe sắc thắm, chập chờn ong bướm lả lơi. Như một đoàn hùng binh diễn hành trên đại lộ, các nàng Tulip trong đội ngũ thẳng tắp lôi cuốn hầu hết những vương tôn công tử đến chiêm ngưỡng. Xa xa bên bờ hồ nước trong xanh với tia nước ngọc ngà tuôn vút tận trời cao là các nàng Iris xinh tươi đua nhau nhảy múa theo làn gió xuân, làm tăng thêm nét yêu kiều diễm lệ. Xung quanh các nàng là các kỳ hoa dị thảo khác từ khắp năm châu bốn bể châu về nhập cuộc chơi với các nàng.Yến Thanh có nhiều kinh nghiệm với đời cho nên không muốn tham gia với làn sóng xô bồ và vui nhộn đó, nàng nói:- Này các em à, chúng mình nên kiếm một nơi nào đó có những loài hoa bình dị, như hoa phấn, hoa tường vi hay hoa chuối của quê nhà để chúng mình hàn huyên tâm sự, tự do nô đùa chẳng ai dòm ngó!- Mình đã lặn lội từ xa, xa lắm đến được đây, tại sao mình không nhập cuộc với mọi người để thưởng thức cái vui và cái khoái cảm của con người mà lại chui vào cái nơi chỉ có những đàn bướm, đàn ong khờ dại. Chúng ta qua đó đi các chị à! Yến Hồng đề nghị.- Chị không phải không muốn đến với họ. Em đã quên rằng chúng ta chỉ là loài yến nhỏ bé, sống ở biển khơi, sống ở nơi đồng không mông quạnh, thì làm gì thích hợp với thú vui của loài cầm phố thị. Yến Thanh nhìn Yến Hồng dịu dàng nói.- Không sao chị ạ, chúng mình là chúng mình, họ là họ. Trên đời nầy có cuộc vui nào mà chẳng có đông người, đông kẻ lạ. Qua những ngày tháng đến đây, chúng mình dù không thân thiện với thế giới xung quanh ta nhưng cũng chưa đến nỗi là kẻ thù của nhau. Yến Hồng cố gắng thuyết phục người chị lớn.- Chị biết từ lâu nay em vẫn thích những chỗ đông người, thích những gì sôi động. Yến Hồng không để cho người chị lão đời, luôn dè dặt nói thêm nên đã chận lời :- Chỗ đông người mới có nhiều trò chơi lạ. Họ vui theo họ, ta đùa nô theo cách của ta. Chị thì lúc nào vẫn giữ nét cổ kính của một bà cụ non. Thấy người bạn trẻ ham chơi và không biết dè dặt sợ sệt là gì tiếp :- Em biết rằng giữa ta và họ luôn luôn có nhiều dị biệt. Những dị biệt đó không thể nào xóa bỏ đi được. Ngôn ngữ giữa ta và họ chẳng quá khác nhau hay sao! Một đàng thì đầy nhạc tính, một đàng cộc lốc khô khan. Một đàng thì thanh âm dài thườn thượt, một đàng ngắn gọn dễ thương. Hãy xem đàn bồ câu đã muôn đời gần gũi với họ. Họ cho ăn ngày ngày, nhưng thịt của bồ câu chẳng là món ăn ngon trong nhiều cao lầu, tửu điếm hay sao ?Yên Hồng không muốn so đo hơn thua với người chị đáng kính cho nên đã cáo từ đi riêng một mình. Yến Thanh và Yến Nhi dõi mắt trông theo lắc đầu. Hai người yên lặng rất lâu. Không biết lâu bao lâu nữa, cho đến khi có tiếng nổ của động cơ gần đâu đó làm cho hai người giật mình bay bổng. Hai chị em sánh vai nhau trên tầng mây, sung sướng nhìn trời mây bát ngát. Yến Nhi quay sang người chị có tuổi nói :- Ước gì chúng cứ bay mãi như thế nầy thì sướng biết là dường nào!- Bộ em không ăn không ngủ hay sao ? Yến Thanh nhắc nhở.- Em biết chuyện đó chứ. Nhưng giấc mơ là giấc mơ. Chúng ta là loài ở biển, tổ tiên chúng ta sống nơi có nước, có núi đẹp trời cao. Thế mà rồi vì thế thời đưa đẩy, chúng ta và gia đình của chúng ta đã chẳng lưu lạc đến chân trời xa lạ nầy. Chị thì luôn giữ lấy cái đẹp của cha ông, còn chị Yến Hồng lại thích đổi thay ồn ào nghiệt ngã.- Từ sáng giờ chẳng thấy em nói câu nào sao bây giờ em lại lý sự dữ dằn quá vậy? Yến Thanh quay qua con yến nhỏ âu yếm hỏi.- Em nào có lý sự gì đâu. Em là em, chị là chị. Mỗi sinh vật đều có bản năng và suy tư riêng của nó. Chị cố gắng áp đặt trên ý nguyện của kẻ khác bằng suy tư của chị thì làm sao họ chịu được. Từ sáng tới giờ, em đã chẳng bình chân như vại không nói một lời nào sao? Tại sao? Tại vì em tôn trọng chị, em tôn trọng chị Yến Hồng. Thật ra các chị đã chẳng bao giờ coi đứa em nhỏ nầy ra gì cho nên chẳng hề hỏi ý kiến của em trong cuộc chơi! Yến Nhi trách nhẹ.- Ừ nhỉ, hai chị thật là vô vị thật. Mỗi chị đều bị cùm bởi cái ngã nặng nề và cứng ngắt. Chị xin lỗi em. Vậy em có thể cho chị biết em thích đi chơi đâu? Yến Thanh giật mình dỗ dành Yến Nhi.- Em không dám đâu! Chị làm vậy em tổn thọ chết!Yến Thanh cướp lời Yến Nhi:- Thôi chị lấy lại lời xin lỗi đó được chưa? Hai chị em cùng phá lên cười. Họ sánh vai bay qua từng cụm mây nhỏ, mây to, mây hồng mây nhạt. Bỗng Yến Nhi nhìn xuống thấy một vườn hồng muôn hoa khoe sắc thắm, yên lặng như tờ mới quay qua Yến Thanh nói:- Kìa chị xem phía bên phải của chúng ta, hướng hai giờ, một vườn Hồng mầu hoa chói rạng. Chị em mình có chỗ chơi rồi đó. Thật là cảnh bồng lai. Mình xuống đó đi chị.Chẳng chờ cho Yến Thanh chấp thuận hay không, Yến nhỏ nghiêng mình một cái đã bỏ xa Yến Thanh tiếp tục bay về phía trước. Yến Nhi sà cánh ngay trên bụi tường vi trắng bạch. Vì đáp quá gấp cho nên không chọn đúng cành tường vi khả dĩ chịu đựng được sức nặng của người nàng. Yến Nhi mất thăng bằng chao người xuống bụi hoa đầy gai nhọn. Một chiếc gai nhọn rất nhỏ đã đâm vào người của nàng, phần gai gẫy ghim lại trong xác thịt của Yến Nhỏ. Yến Nhỏ thét lên một tiếng vỗ cánh muốn bay thoát khỏi gai góc, nhưng càng vẫy vùng, nhứng chiếc gai nhỏ bé khác xỉa xói vào da thịt nàng. Vũng vẫy một lúc sau Yến Nhi mới thoát được tai họa, bay bổng lên cao. Trong lúc đó Yến Thanh cũng vừa quay trở lại, thấy thế đuổi theo Yến Nhi. - Em vừa rủ chị xuống vườn hồng chơi sao lại chạy trốn như thế? Yến Thanh hỏi Yến Nhi với hơi thở dâp dồn. Yến Nhi vừa bay vút lên cao vừa la thất thanh, chẳng để ý đến lời thăm hỏi của Yến Thanh. Yến Thanh lo lắng cho Yến Nhi. Nàng nghĩ rằng Yến Nhi chắc đã gặp chuyện chẳng lành. - Em có sao không?- Chắc em bị gai ghim vào cánh. Đau lắm! Ta hãy về nhà nhờ chị gỡ hộ em.Yến nhi tiếp tục bay nhanh. Dù đường bay có hơi chao đảo. Chẳng mấy chốc, hai Yến bay về tới nơi cư trú. Yến Nhi nằm vật lên giường, hơi thở yếu dần. Yến Thanh hỏi:- Em đau ở chỗ nào. Chị xoa dầu cho em nhé.Yến Nhi nói trong hơi thở yếu ớt:Em bây giờ chẳng biết đau ở đâu nữa, khi thì đau ở cánh trái, khi thì ở cánh phải, ở bụng, không bây giờ ở tim, ôi đau quá! đau quá!La được mấy tiếng đó rồi ngất lịm.Yến Thanh quýnh quáng, lấy dầu nóng xoa khắp người của yến Nh. Một lúc lâu, Yến Nhi tỉnh lại than thở:Chắc em không xong rồi chị Thanh ơi! Ước gì em được trở lại với quê mình, được thấy lại Hòn Yến, được rong chơi trên sông Hàn. Được nghe sóng biển rạt rào vào những ngày cuối thu. Được nghe tiếng sáo diều của mục tử. Được ăn những món ngon ngọt của quê hương mình. Cơn gió xuân bắt đầu đổi hướng thành gió hạ, như hơi nước bốc thành hơi, những ước mơ của yến tan biến theo sức tàn của con yến nhỏ. Đôi cánh sệ xuống, mắt nhắm nghiền. Hơi thở yếu dần. Yến nhỏ nấc lên một tiếng rồi ngoẹo đầu sang một bên. Xác Yến nhỏ bất động. Hồn nàng bay bổng rất cao. Nàng đang thong dong bay về với cỏ nội mây ngàn. Yến em đã về với Sông Hàn, Núi Yến....Yến Nhỏ Đi Rồi, Ôi Yến NhiKính tặng Nhà thơ Phùng TrầnYến Nhi hề, Xuân Yến phi,Yến phi lưu lại cảnh nồi kê,Sân chơi còn đó người đâu tá ?Yến nhỏ đi rồi, ôi Yến Nhi !Yến Nhi hề, Xuân Yến phi,Khi hoa vừa nụ đã sinh ly,Khi thơ chửa trọn câu tình ý,Yến nhỏ đi rồi, ôi Yến Nhi !Yến Nhi hề, ôi Yến Nhi !Tình cha nghĩa mẹ chửa đền chi,Sách đèn trang dở chưa nhìn hết,Yến nhỏ đi rồi, ôi Yến Nhi !Dũ sạch nợ trần ấy tử qui,Khăn sô nặng trĩu lúc sinh thì.Cành xanh lá rụng trêu phần số !Tóc bạc lệ tràn bỡn tái tê.Thương giọt sương mai chưa trọn nắng,Hận duyên sinh hóa giữa xuân thì.Mai đây dư ảnh vương trần thế,Thì chốn non bồng có Yến Nhi !Hà Phương Hoài, hè 01
Mục lục
Ba Con Yến Nhỏ
Ba Con Yến Nhỏ
Hà Phương HoàiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Hà Phương HoàiĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 4 năm 2007
|
Lep Ton-xtoi
Ba Câu Hỏi
Thích Nhất Hạnh dịch
Ðó là chuyện ba câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại. Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là: 1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc? 2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng? 3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện? Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó. Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau. Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ. Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết. Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất. Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia. Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo. Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển. Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc ? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả ? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên ?" Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo: "Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà". Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt: "Xin bệ hạ tha tội cho thần". "Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?" "Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa". "Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần". Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh. Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà". Vua hỏi: "trả lời bao giờ đâu nào ?" "Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống. (Trích từ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức - TNH )
Mục lục
Ba Câu Hỏi
Ba Câu Hỏi
Lep Ton-xtoiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: DacTrungĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Lep Ton-xtoi
Ba Câu Hỏi
Thích Nhất Hạnh dịch
Ðó là chuyện ba câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại. Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là: 1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc? 2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng? 3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện? Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó. Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau. Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ. Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết. Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất. Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia. Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo. Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển. Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc ? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả ? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên ?" Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo: "Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà". Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt: "Xin bệ hạ tha tội cho thần". "Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?" "Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa". "Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần". Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh. Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà". Vua hỏi: "trả lời bao giờ đâu nào ?" "Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống. (Trích từ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức - TNH )
Mục lục
Ba Câu Hỏi
Ba Câu Hỏi
Lep Ton-xtoiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: DacTrungĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Đinh lê vũ
Ba Ngày
Tiên nói qua phone, giọng hồ hởi: "Tuần sau, em sẽ ra Đà Nẵng thăm anh". Tôi gật đầu ậm ừ: "Thế thì hay quá!", trong bụng có cảm giác không buồn không vui, tự hỏi sao mình lại kỳ lạ thế này. Tôi đã hằng mong Tiên ra Đà Nẵng chơi, để tôi có dịp đưa Tiên đi đây đi đó nơi thành phố tôi sống và ít nhất, đã hơn một lần tôi chèo kéo mời Tiên. Tiên lần lữa hoài, bẵng đi một thời gian lâu tránh không nói đến chuyện này để rồi hôm nay, bất ngờ phone cho tôi . Có lẽ Tiên muốn dành cho tôi một ngạc nhiên. Tôi ngồi thừ người, tự lý giải : có phải chăng, sự chờ đợi đã làm mình mệt mỏi ... Sáng sớm, khi tôi ghé cơ quan xin nghĩ phép cho đến hết tuần để đi chơi với Tiên, anh Mạnh đã nheo mắt nhìn tôi đầy ý nghĩa: "Chúc mày một weekend vui vẻ !". Tôi cười chống chế: "Đã weekend đâu anh, hôm nay mới là Thứ Năm". Anh Mạnh lại vỗ vai tôi: "Đi chơi với bồ, đối với tao, ngày nào cũng vui như weekend cả. Thôi về chuẩn bị đi đón nàng đi". Tôi bước ra cổng, chợt nghĩ: Tiên mà nghe được ai gọi Tiên là "nàng", chắc la làng phải biết ... Rồi chuyến tàu chở Tiên cũng đến sân ga, trễ gần một tiếng đồng hồ, do trục trặc kỹ thuật gì đó, một lý do vô cùng chung chung được dùng để giải thích cho những chuyến tàu đến muộn. Tiên xuất hiện ở cửa sân ga, mồ hôi bết trán, miệng cười tươi rói, tay xách nặng ì. Tôi đưa tay đỡ lấy cái xách, Tiên giải thích: "Toàn là quà cho anh không đó", rồi đưa tay quệt lau mồ hôi, than thở: "Trời ơi, đi đường mệt quá hà", với một vẻ ngúng nguẩy rất dễ làm người khác mềm lòng, như một thói quen xưa nay vẫn vậy . Tôi đưa cho Tiên chiếc khăn mù xoa trong túi, Tiên gạt đi, chu môi: "Thôi, em có khăn của em". Tôi chợt nhớ là Tiên rất kỹ tính, mọi khi tôi thấy không sao, bây giờ như là một cái nhói người . Tôi đưa Tiên ghé vào một quán nước gần ga, cũng tỏ ra mừng rỡ, hỏi han đủ thứ chuyện ở quê của Tiên, rồi thấy như thể mình đang làm một chuyện rất không thật lòng. Hình như Tiên không nhận thấy ... Buổi chiều đầu tiên, tôi chở Tiên đi loanh quanh phố xá. Đà Nẵng đông người, hai con đường Bạch Đằng và Trần Phú chạy dọc bờ sông, những đoàn xe cộ đi hóng mát cứ chạy xuôi xuôi, nối đuôi nhau, lòng vòng. Tiên ôm choàng ngang hông tôi, vẻ âu yếm, mãn nguyện. Gió chiều mơn man mái tóc dài của Tiên phả lòa xòa vào má tôi, nghe nhồn nhột. Tiên kể đủ thứ chuyện ở quê, bất chợt nói : "Con gái ở đây ăn mặc hấp dẫn ghê !", rồi giả lả dò xét, giọng nửa đùa nửa thật: "Anh mà quen với cô nào ở đây, chết với em". Tôi muốn chọc Tiên một chút, giả bộ ngơ ngác: "Anh thì quen với nhiều cô lắm, riêng ở cơ quan, anh cũng đã làm chung với cả chục cô". Tiên giãy nảy: "Không phải, em nói quen là quen kiểu khác kìa . Anh giả đò vừa vừa". Rồi Tiên hùng hồn kết luận: "Mấy ông con trai ăn nói kiểu như anh là ghê lắm; không tin được". Tự nhiên, tôi thấy buồn buồn. Ngày xưa, Tiên không có cách nói chuyện giống như bây giờ ... Lần đi chơi đầu tiên sau mấy tháng trời không gặp nhau hình như có chút gì gượng gạo, chẳng hề giống như tôi hình dung. Tiên có vẻ như than thở về cuộc sống dưới quê, rồi so sách: "Con gái thành phố đẹp hơn con gái ở quê nhiều, hèn gì ... " Tôi hỏi vặn : "Em cứ nói tiếp đi!". Tiên lấp lửng lẩn tránh: "Em chỉ nói vậy thôi, chứ không có gì đâu". Tôi gắt gỏng: "Anh ghét kiểu nói chuyện lưng chừng như vậy". Tiên rơm rớm dằm dỗi: "Em biết ngay mà, anh ghét em rồi phải không ?", ngúng nguẩy làm mặt giận. Tôi im lặng, có một chút mệt mỏi chợt dậy trong lòng, chợt nhớ : Tiên lặn lội ở quê ra đây thăm mình, rồi làm ra vẻ thành khẩn biết lỗi, dỗ dành. Rốt cuộc, Tiên cũng tươi tỉnh lại, đưa tay dí tráng tôi: "Anh đừng làm em buồn như vậy nữa nha !" như mọi lần giận nhau rồi huề, Tiên vẫn nói với tôi như vậy . Tự nhiên, tôi thấy mình với Tiên như đang ở trong một vở bi hài kịch, có màu mè gì thì cuối cùng phải theo một lối mòn cứ thế mà dẫm lên, không khác đi được. Buổi sáng ngày thứ nhì ở lại Đà Nẵng, Tiên đòi tôi chở đi thăm bà dì họ bên Quận Ba . Dì của Tiên dáng người thấp đậm giống như Tiên, vui vẻ, xởi lởi với thằng cháu rể tương lai hết mực. Bà hô hào bắt gà làm thịt, giữ Tiên với tôi ở lại ăn cơm trưa . Tiên có vẻ tự hào ra mặt, luôn miệng kheo anh Hào của con làm việc oai thế này, quan trọng thế kia, toàn làm việc với khách nước ngoài không hà ... Bà dì của Tiên nhìn tôi trầm trồ, rồi nói vẻ cầu tài : "Hôm nào con Út của gì ra trường, dì dẫm em sang nhờ cháu xin việc làm nghe". Không để cho tôi kịp nói gì, Tiên mau mắn: "Dạ, dì cần chi cứ nói anh Hào của con một tiếng, anh lo cho". Tôi nghẹn họng, nhân viên quèn cỡ tôi, ai sai đâu thì đánh đó, biết có lo ổn được cho cái thân mình chưa mà nói chuyện giúp đỡ với ai khác ... Bữa cơm trưa rồi cũng qua. Tiên muốn đi leo núi Non Nước. Buổi chiều, đường đi Non Nước ngược gió, bụi tung mù mịt. Mấy đứa con nít bán đồ lưu niệm cứ bu theo chúng tôi gạ mua nhang để lúc xuống hang thắp cầu duyên. Tôi muốn nói chuyện nghiêm túc với Tiên vì lời hứa ẩu với bà dì của Tiên nhưng rồi lại không mở miệng ra được. Tiên xuống hang, đứng trước Đền Cầu Duyên lâm râm khấn, dáng điệu thành kính lạ thường. Tôi suýt phá lên cười, thảng thốt tự hỏi sao tự nhiên mình lại trở nên báng bổ quá như vậy . Tôi liếc nhìn Tiên, may mà Tiên không biết. Chuyện leo núi làm chúng tôi mệt đừ. Còn một buổi tối cuối cùng Tiên ở lại Đà Nẵng, tôi chở Tiên lòng vòng quanh phố rồi ghé vào quá café vắng người . Dưới những lùm cây phía cuối khu vườn, vài cặp tình nhân đang ngồi lặng lẽ.Tiên hỏi tôi : "Anh hay ghé chỗ này lắm hả ?". Tôi thành thực lắc đầu : "Chưa, hôm nay là lần đầu, mấy đứa bạn chỉ anh". Hình như tôi trả lời thế này, có vẻ hơi phân trần giải thích nhiều thì phải . Tiên tỏ ý nghi ngờ : "Sao anh có vẻ rành quá vậy ?". Tôi chợt thấy buồn bã ghê gớm, chẳng lẽ tôi chỉ mới đi làm xa có một thời gian ngắn mà đã hết tin nhau đến thế này ? Tôi hỏi : "Sao lúc trưa em hứa với dì chắc quá vậy ?". Tiên hồn nhiên : "Thì mình hứa vậy thôi, mất mát gì mà anh sợ. Sau này không giúp được thì thiếu gì cách nói". Tôi với tay lấy điếu thuốc lập bập đốt, cố giấu đi cảm xúc của mình. Mắt Tiên bây giờ có hơi tô đen một chút, môi kẻ đỏ bầm, hoa tay vòng xuyến đầy người . Ngày xưa, đã có lần tôi nói với Tiên là tôi không thích con gái chải chuốt nhiều, không biết Tiên còn nhớ. Rồi hoang mang tự hỏi : Không biết có phải mình đang thay đổi mà mình không biết, mình có cầu toàn quá không ? Tôi đưa Tiên ra ga về quê . Buổi sáng, đúng giờ đi làm, người xe đi lại tấp nập. Gặp Phụng đang chạy xe ngược chiều, váy ngắn, tóc chải bồng. Phụng gọi giật ngược tôi lại, nhìn Tiên cười cười : "Anh Hào ghê nha, chị Tiên ra chơi mà không dắt tới cơ quan trình diện". Rồi Phụng đưa ra nắm đấm: "Hôm nào anh đi làm lại, liệu thần hồn với em". Tôi nhìn sang Tiên, Tiên đang cau mặt, ngó lơ bên kia đường. Phụng nheo mắt, thầm thì: "Nàng của anh Hào có vẻ khó tính". Tiên rất ghét ai gọi mình là "nàng", Tiên nói là gọi như vậy không có đàng hoàng, tỏ ý khó chịu ra mặt, đưa tay xem đồng hồ, nhíu mày . Phụng đưa tay lên vẫy vẫy: "Bye nhe !" rồi đi . Phụng là cô em út ở cơ quan tôi, tính tình tự nhiên, gặp ai cũng đùa, cũng nhõng nhẽo được. Tôi giải thích mãi, Tiên vẫn khăng khăng: "Nhất định cổ có tình ý với anh". Rồi Tiên lại bắt đầu cái điệp khúc bất hủ: "Con gái thành phố đẹp thế, ai biết đâu được". Tiên leo lên tàu ngồi, mặt buồn xo. Tôi đã không dỗ dành, xin lỗi Tiên như mọi lần. Đành rằng tôi có hơi bất nhẫn, dù gì Tiên chỉ còn mấy phút đồng hồ ngồi ở ga nữa mà thôi. Tôi chợt nghĩ đến Phụng, trước đây tôi chưa từng nghĩ đến bao giờ, đau lòng nhận ra rằng, tôi sắp được nhẹ nhõm rồi, ba ngày vừa trôi qua giống như một chịu đựng, ngọt ngào nhưng xa xót ...
Mục lục
Ba Ngày
Ba Ngày
Đinh lê vũChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Nguyễn ĐìnhĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 7 năm 2005
|
Đinh lê vũ
Ba Ngày
Tiên nói qua phone, giọng hồ hởi: "Tuần sau, em sẽ ra Đà Nẵng thăm anh". Tôi gật đầu ậm ừ: "Thế thì hay quá!", trong bụng có cảm giác không buồn không vui, tự hỏi sao mình lại kỳ lạ thế này. Tôi đã hằng mong Tiên ra Đà Nẵng chơi, để tôi có dịp đưa Tiên đi đây đi đó nơi thành phố tôi sống và ít nhất, đã hơn một lần tôi chèo kéo mời Tiên. Tiên lần lữa hoài, bẵng đi một thời gian lâu tránh không nói đến chuyện này để rồi hôm nay, bất ngờ phone cho tôi . Có lẽ Tiên muốn dành cho tôi một ngạc nhiên. Tôi ngồi thừ người, tự lý giải : có phải chăng, sự chờ đợi đã làm mình mệt mỏi ... Sáng sớm, khi tôi ghé cơ quan xin nghĩ phép cho đến hết tuần để đi chơi với Tiên, anh Mạnh đã nheo mắt nhìn tôi đầy ý nghĩa: "Chúc mày một weekend vui vẻ !". Tôi cười chống chế: "Đã weekend đâu anh, hôm nay mới là Thứ Năm". Anh Mạnh lại vỗ vai tôi: "Đi chơi với bồ, đối với tao, ngày nào cũng vui như weekend cả. Thôi về chuẩn bị đi đón nàng đi". Tôi bước ra cổng, chợt nghĩ: Tiên mà nghe được ai gọi Tiên là "nàng", chắc la làng phải biết ... Rồi chuyến tàu chở Tiên cũng đến sân ga, trễ gần một tiếng đồng hồ, do trục trặc kỹ thuật gì đó, một lý do vô cùng chung chung được dùng để giải thích cho những chuyến tàu đến muộn. Tiên xuất hiện ở cửa sân ga, mồ hôi bết trán, miệng cười tươi rói, tay xách nặng ì. Tôi đưa tay đỡ lấy cái xách, Tiên giải thích: "Toàn là quà cho anh không đó", rồi đưa tay quệt lau mồ hôi, than thở: "Trời ơi, đi đường mệt quá hà", với một vẻ ngúng nguẩy rất dễ làm người khác mềm lòng, như một thói quen xưa nay vẫn vậy . Tôi đưa cho Tiên chiếc khăn mù xoa trong túi, Tiên gạt đi, chu môi: "Thôi, em có khăn của em". Tôi chợt nhớ là Tiên rất kỹ tính, mọi khi tôi thấy không sao, bây giờ như là một cái nhói người . Tôi đưa Tiên ghé vào một quán nước gần ga, cũng tỏ ra mừng rỡ, hỏi han đủ thứ chuyện ở quê của Tiên, rồi thấy như thể mình đang làm một chuyện rất không thật lòng. Hình như Tiên không nhận thấy ... Buổi chiều đầu tiên, tôi chở Tiên đi loanh quanh phố xá. Đà Nẵng đông người, hai con đường Bạch Đằng và Trần Phú chạy dọc bờ sông, những đoàn xe cộ đi hóng mát cứ chạy xuôi xuôi, nối đuôi nhau, lòng vòng. Tiên ôm choàng ngang hông tôi, vẻ âu yếm, mãn nguyện. Gió chiều mơn man mái tóc dài của Tiên phả lòa xòa vào má tôi, nghe nhồn nhột. Tiên kể đủ thứ chuyện ở quê, bất chợt nói : "Con gái ở đây ăn mặc hấp dẫn ghê !", rồi giả lả dò xét, giọng nửa đùa nửa thật: "Anh mà quen với cô nào ở đây, chết với em". Tôi muốn chọc Tiên một chút, giả bộ ngơ ngác: "Anh thì quen với nhiều cô lắm, riêng ở cơ quan, anh cũng đã làm chung với cả chục cô". Tiên giãy nảy: "Không phải, em nói quen là quen kiểu khác kìa . Anh giả đò vừa vừa". Rồi Tiên hùng hồn kết luận: "Mấy ông con trai ăn nói kiểu như anh là ghê lắm; không tin được". Tự nhiên, tôi thấy buồn buồn. Ngày xưa, Tiên không có cách nói chuyện giống như bây giờ ... Lần đi chơi đầu tiên sau mấy tháng trời không gặp nhau hình như có chút gì gượng gạo, chẳng hề giống như tôi hình dung. Tiên có vẻ như than thở về cuộc sống dưới quê, rồi so sách: "Con gái thành phố đẹp hơn con gái ở quê nhiều, hèn gì ... " Tôi hỏi vặn : "Em cứ nói tiếp đi!". Tiên lấp lửng lẩn tránh: "Em chỉ nói vậy thôi, chứ không có gì đâu". Tôi gắt gỏng: "Anh ghét kiểu nói chuyện lưng chừng như vậy". Tiên rơm rớm dằm dỗi: "Em biết ngay mà, anh ghét em rồi phải không ?", ngúng nguẩy làm mặt giận. Tôi im lặng, có một chút mệt mỏi chợt dậy trong lòng, chợt nhớ : Tiên lặn lội ở quê ra đây thăm mình, rồi làm ra vẻ thành khẩn biết lỗi, dỗ dành. Rốt cuộc, Tiên cũng tươi tỉnh lại, đưa tay dí tráng tôi: "Anh đừng làm em buồn như vậy nữa nha !" như mọi lần giận nhau rồi huề, Tiên vẫn nói với tôi như vậy . Tự nhiên, tôi thấy mình với Tiên như đang ở trong một vở bi hài kịch, có màu mè gì thì cuối cùng phải theo một lối mòn cứ thế mà dẫm lên, không khác đi được. Buổi sáng ngày thứ nhì ở lại Đà Nẵng, Tiên đòi tôi chở đi thăm bà dì họ bên Quận Ba . Dì của Tiên dáng người thấp đậm giống như Tiên, vui vẻ, xởi lởi với thằng cháu rể tương lai hết mực. Bà hô hào bắt gà làm thịt, giữ Tiên với tôi ở lại ăn cơm trưa . Tiên có vẻ tự hào ra mặt, luôn miệng kheo anh Hào của con làm việc oai thế này, quan trọng thế kia, toàn làm việc với khách nước ngoài không hà ... Bà dì của Tiên nhìn tôi trầm trồ, rồi nói vẻ cầu tài : "Hôm nào con Út của gì ra trường, dì dẫm em sang nhờ cháu xin việc làm nghe". Không để cho tôi kịp nói gì, Tiên mau mắn: "Dạ, dì cần chi cứ nói anh Hào của con một tiếng, anh lo cho". Tôi nghẹn họng, nhân viên quèn cỡ tôi, ai sai đâu thì đánh đó, biết có lo ổn được cho cái thân mình chưa mà nói chuyện giúp đỡ với ai khác ... Bữa cơm trưa rồi cũng qua. Tiên muốn đi leo núi Non Nước. Buổi chiều, đường đi Non Nước ngược gió, bụi tung mù mịt. Mấy đứa con nít bán đồ lưu niệm cứ bu theo chúng tôi gạ mua nhang để lúc xuống hang thắp cầu duyên. Tôi muốn nói chuyện nghiêm túc với Tiên vì lời hứa ẩu với bà dì của Tiên nhưng rồi lại không mở miệng ra được. Tiên xuống hang, đứng trước Đền Cầu Duyên lâm râm khấn, dáng điệu thành kính lạ thường. Tôi suýt phá lên cười, thảng thốt tự hỏi sao tự nhiên mình lại trở nên báng bổ quá như vậy . Tôi liếc nhìn Tiên, may mà Tiên không biết. Chuyện leo núi làm chúng tôi mệt đừ. Còn một buổi tối cuối cùng Tiên ở lại Đà Nẵng, tôi chở Tiên lòng vòng quanh phố rồi ghé vào quá café vắng người . Dưới những lùm cây phía cuối khu vườn, vài cặp tình nhân đang ngồi lặng lẽ.Tiên hỏi tôi : "Anh hay ghé chỗ này lắm hả ?". Tôi thành thực lắc đầu : "Chưa, hôm nay là lần đầu, mấy đứa bạn chỉ anh". Hình như tôi trả lời thế này, có vẻ hơi phân trần giải thích nhiều thì phải . Tiên tỏ ý nghi ngờ : "Sao anh có vẻ rành quá vậy ?". Tôi chợt thấy buồn bã ghê gớm, chẳng lẽ tôi chỉ mới đi làm xa có một thời gian ngắn mà đã hết tin nhau đến thế này ? Tôi hỏi : "Sao lúc trưa em hứa với dì chắc quá vậy ?". Tiên hồn nhiên : "Thì mình hứa vậy thôi, mất mát gì mà anh sợ. Sau này không giúp được thì thiếu gì cách nói". Tôi với tay lấy điếu thuốc lập bập đốt, cố giấu đi cảm xúc của mình. Mắt Tiên bây giờ có hơi tô đen một chút, môi kẻ đỏ bầm, hoa tay vòng xuyến đầy người . Ngày xưa, đã có lần tôi nói với Tiên là tôi không thích con gái chải chuốt nhiều, không biết Tiên còn nhớ. Rồi hoang mang tự hỏi : Không biết có phải mình đang thay đổi mà mình không biết, mình có cầu toàn quá không ? Tôi đưa Tiên ra ga về quê . Buổi sáng, đúng giờ đi làm, người xe đi lại tấp nập. Gặp Phụng đang chạy xe ngược chiều, váy ngắn, tóc chải bồng. Phụng gọi giật ngược tôi lại, nhìn Tiên cười cười : "Anh Hào ghê nha, chị Tiên ra chơi mà không dắt tới cơ quan trình diện". Rồi Phụng đưa ra nắm đấm: "Hôm nào anh đi làm lại, liệu thần hồn với em". Tôi nhìn sang Tiên, Tiên đang cau mặt, ngó lơ bên kia đường. Phụng nheo mắt, thầm thì: "Nàng của anh Hào có vẻ khó tính". Tiên rất ghét ai gọi mình là "nàng", Tiên nói là gọi như vậy không có đàng hoàng, tỏ ý khó chịu ra mặt, đưa tay xem đồng hồ, nhíu mày . Phụng đưa tay lên vẫy vẫy: "Bye nhe !" rồi đi . Phụng là cô em út ở cơ quan tôi, tính tình tự nhiên, gặp ai cũng đùa, cũng nhõng nhẽo được. Tôi giải thích mãi, Tiên vẫn khăng khăng: "Nhất định cổ có tình ý với anh". Rồi Tiên lại bắt đầu cái điệp khúc bất hủ: "Con gái thành phố đẹp thế, ai biết đâu được". Tiên leo lên tàu ngồi, mặt buồn xo. Tôi đã không dỗ dành, xin lỗi Tiên như mọi lần. Đành rằng tôi có hơi bất nhẫn, dù gì Tiên chỉ còn mấy phút đồng hồ ngồi ở ga nữa mà thôi. Tôi chợt nghĩ đến Phụng, trước đây tôi chưa từng nghĩ đến bao giờ, đau lòng nhận ra rằng, tôi sắp được nhẹ nhõm rồi, ba ngày vừa trôi qua giống như một chịu đựng, ngọt ngào nhưng xa xót ...
Mục lục
Ba Ngày
Ba Ngày
Đinh lê vũChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Nguyễn ĐìnhĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 7 năm 2005
|
Nguyễn Quang Huy
Ba người
Có lẽ gần chín giờ tối. Người đàn bà vẫn rấm rứt khóc. Người đàn ông: - Anh không ngờ rằng nó lại đổ đốn ra như vậy! Hồi mới ở Viện Điều dưỡng về, nó có thế đâu! - Vâng... Chỉ từ khi đứa bé chết... anh ấy đâm ra rượu chè... Mà lúc không uống, thì cứ như dở người... - Em tính... vợ chồng mãi mới có một mụn con, thì lại như thế. Nó buồn, bệnh cũ tái phát là phải. Thôi được... Em cứ về đi, mai anh sẽ bảo nó! Người đàn bà hốt hoảng: - Đừng... Anh đừng! Không được đâu! - Sao không? - Anh ấy không còn coi anh như... như trước nữa! - Ra thế...! Em nói đi! Đừng giấu anh điều gì! Im lặng nặng nề. Giọng người đàn bà khó nhọc. - ... Đứa bé chết. Anh ấy chửi mắng em thậm tệ. Bảo là em hư đốn, thích chơi bời lăng nhăng, không muốn có nó, nên cố tình để nó chết. Và ... anh ấy còn nói do anh với em... với nhau nên đứa bé mới bị thế. Người đàn bà nói một hơi, như thể nếu dừng lại thì sẽ không đủ can đảm nói tiếp. Khi chợt nhìn thấy người đàn ông trắng bệch trong cơn giận dữ tột độ, cô bỗng im bặt. Anh bấu tay vào mép bàn, mười đầu ngón tay cũng trắng bệch, hàm nghiến chặt, cằm bạnh ra, cả người rùng rùng như sắp lên cơn động kinh. - Thằng đốn mạt! Thôi thì... nó nghĩ về anh thế nào cũng được, nhưng ai cho phép nó nghĩ về em như thế? Người đàn bà nghẹn ngào: - Em khổ lắm! Em thấy có tội với anh... Người đàn ông đau đớn nhìn vào mặt người đàn bà, thay lời hỏi. Cô vội vã nói tiếp. - ... Là vì anh ấy như thế! - Anh cấm em không được nghĩ như vậy! Nó hành hạ em chưa đủ hay sao? Giá mà anh có thể chịu thay cho em được! Thôi... khuya rồi, em về đi. Để từ giờ đến sáng mai, anh nghĩ xem còn cách gì không. Người đàn bà ngập ngừng. - Em... em không về được! Và cô lại òa khóc. - Nó đánh em à? - Không... chẳng thà anh ấy đánh... Người đàn ông thở dài, đứng dậy, đến bên người đàn bà, đặt bàn tay nặng nề lên đầu cô. - Thật khốn nạn thân em! Thôi, đừng khóc nữa! Từ nay, hễ nó đuổi, thì em cứ đến đây! Còn mặc xác nó, nó muốn nghĩ gì thì nghĩ! Anh giúi vào tay người đàn bà một nắm tiền. Người đàn bà ngập ngừng. - Còn anh... Anh không sợ...? - Sợ gì? Anh chỉ sợ em nghĩ quẩn! - Em không thể làm cái chuyện kia được, nên liều tìm đến anh. Nhưng... anh cũng nghèo lấy đâu ra? Và cô lại sụt sùi. Người đàn ông gắt: - Anh sẽ có cách! Nhưng dứt khoát, em không được làm liều. Em phải đến đây! Nhớ chưa? Còn bây giờ thì em về đi.** * Người đàn bà vừa khóc, vừa lê bước về nhà. Cô gọi cửa. Người đàn ông lè nhè sau cánh cửa vọng ra: - Tiền đâu? - Anh mở cửa cho em! Em xin anh! - Tiền đâu đã! Đưa đây! Đút qua khe cửa ấy! Cô vừa đút tiền qua khe cửa, vừa khóc. Then cửa lạch xạch. Chồng cô vẫn một tay cầm chai rượu, một tay vơ nắm tiền. Chai rượu vẫn còn đầy, nhưng mặt mũi anh ta đã đỏ gay, nước mắt nước mũi dàn dụa. Anh ta đưa tay áo bạc quệt ngang mặt, hỏi vợ, giọng méo xệch. - Tiền của nó phải không? Người đàn bà nín lặng. Người đàn ông nhìn mắt vợ sưng húp, làm như không biết. - Tôi biết ngay mà! Cô chỉ có đến đấy thôi! Nhưng nó không thèm ngủ với cô à, mà về sớm thế??? Người đàn bà chắp tay, mếu máo: - Em xin anh! Anh đừng nghĩ thế cho em, phải tội! Còn anh ấy cũng không phải là người như thế! Anh ấy là bạn anh... - Hừm! Bạn bè gì? Tin bợm mất bò... Nhưng giọng anh đã dịu xuống. Anh bỏ mặc vợ, lại bàn, ngồi xuống ghế và lại lặng lẽ tu rượu. Người đàn bà không thể chịu được dáng ngồi của chồng, gương mặt hốc hác, khắc khổ, tóc hai bên thái dương đã bạc trắng, cái đầu hơi cúi xuống. Chị nhẹ nhàng đến bên chồng: - Anh đừng uống rượu nữa! Anh thương em... Anh đang bệnh tật thế kia... - Thì mới uống cho chết mẹ nó đi!... Mà ai cho phép cô dạy khôn tôi? Cút! Và anh lại tu rượu. Khuya... Người đàn bà mắc màn. Một tiếng dằn chai "cạch": - Từ nay tôi ngủ dưới đất! Tôi không thể ngủ chung với cô được. Người đàn bà đứng thần mặt ra. Cô thở dài, trải chiếu, mắc thêm một cái màn dưới nền nhà, rồi chui vào. - Thôi, để em ngủ dưới này! Người đàn ông gầm lên: - Đã bảo là tao ngủ dưới đất! Tao cũng sắp về với đất rồi! Lên trên kia, không nói nhiều! Người đàn bà lại lặng lẽ chui lên giường. Giát giường run lên theo tiếng nức nở âm thầm của cô. Người đàn ông vẫn ngồi uống. Cái đầu cúi thấp hơn nữa.** * Một buổi sáng, anh bảo cô: - Cô gọi thằng bạn của tôi đến đây! Tôi có chuyện muốn nói với nó! Bảo là tôi sắp chết rồi, thế nào nó cũng phải đến! Nhanh lên! Cô tất tưởi chạy đi. Nhìn vẻ mặt cô, người đàn ông hỏi: - Sao? Nó nguy lắm rồi phải không? Người đàn bà bật khóc: - Vâng... Anh ấy bảo em đến gọi anh! Em xin anh... anh đừng giận anh ấy...! Người đàn ông quát: - Cô có im đi không? Xin xỏ gì! Đi! Anh đẩy vội cô ra, khóa cửa, vớ lấy chiếc xe, đạp hối hả. Anh ào vào nhà, ôm lấy bạn bật khóc hu hu: - Mày đừng bỏ tao... Người bệnh mặt nhợt nhạt, cười hiền lành: - Mày cũng biết khóc cơ à? Tao còn có chuyện muốn nói với mày đây! Mà chưa nói được, thì tao chưa chết! Nói vậy thôi, cũng sắp rồi đấy... Vừa lúc, người vợ bước vào. Người bệnh xua tay: - Cô ra ngoài! Đã bảo ra! Đàn bà con gái, biết gì mà nghe... Chờ vợ ra khỏi, anh bảo: - Mày mang cái ba-lô trên nóc tủ xuống đây!... ở đáy... có tờ giấy..., đúng nó đấy..., mày đọc đi... Người bạn cắm cúi đọc. Một lượt. Hai lượt. Đấy là tờ giấy anh cam kết với bệnh viện, đồng ý hủy đứa bé, vì nó là một quái thai. Người bạn khóc: - Sao mày không cho nó biết? - Không! ích gì! Nó đẻ khó, phải mổ... lúc ấy đang mê. Chỉ có tao, với bác sĩ bệnh viện trưởng, với ca trực hộ sinh. Tao yêu cầu họ đừng cho nó biết, chỉ bảo là thai bị chết lưu... Nó tỉnh, chỉ khóc... - Đã vậy, sao mày còn hắt hủi nó? Thằng khốn kiếp! Mày còn nghĩ ra được trò gì dã man hơn thế nữa không? Cái giọng trách móc, chứ không giận. Người bệnh cười yếu ớt. - Có thế, thì nó mới dám đến với mày! Và... để mày đừng vội đi lấy vợ... Còn tao, sau khi nhìn thấy đứa trẻ, thì tao hiểu kể như đời tao đã xong. Nhưng còn nó... con vợ tao ấy... là một người đàn bà tử tế! Tao không muốn nó sẽ gặp phải một thằng đểu. Mà mày... là một thằng bạn tốt! Bàn tay khỏe mạnh ấm áp nắm chặt bàn tay xương xẩu, giá lạnh... - Tao không ngờ mày lại đến nông nỗi này... Mày đừng giận tao, đã bỏ mặc mày... - Đừng nói chuyện ấy nữa... Sau khi mày ra bắc, tao bị một trận bom dập. Chúng nó tóm được tao, với mấy đứa nữa. Chúng tao bị giam trong một cái kho chứa chất độc. Mày tính, sáu tháng trời, gì mà chẳng ngấm... Im lặng. Như thể trời sắp bão. - ... Tao đã định làm một liều thuốc... nhưng nghĩ vậy thì hèn quá! Mà sống đến giờ, cũng là dai lắm rồi... - Mày đừng nói nữa... - Mày sợ à?... ờ mà thôi, nói cái chuyện chó đẻ ấy làm gì... Đứng lên đem cái hòm lại đây cho tao! Đấy, cái hòm ấy!... Hòm bị khóa, nắp hòm có trổ một khe nhỏ. - Mày phá khóa ra! Tao vứt mẹ nó chìa đi rồi... Bạn anh phá khóa. Trong hòm là tiền. - Tiền của ai đây? - Của mày! Mấy năm nay, mày đưa cho nó, mày không nhớ à? - Trời ơi! Thằng này điên thật rồi! Mày bày ra cái trò này làm gì? - Để gả nó cho mày, sau khi tao ngoẻo! Hai đứa còn có cái mà tiêu... Im lặng. Người bạn khóc không thành tiếng. Còn anh nhắm mắt vì quá mệt. Bàn tay gầy guộc của anh quờ tìm tay bạn. Một lúc lâu, anh mới nói, giọng đứt quãng: - Hồi ở chiến trường, tao có thể chết cho mày sống... Và mày cũng vậy! Song thời ấy còn bom đạn, nếu tao có chết, thì chắc gì mày đã được sống! Còn bây giờ, tao chắc là chết rồi, mày chắc là sống rồi. Nhưng còn nó, con vợ tao ấy, nó cũng đáng được sống cho tử tế. Bây giờ thì mày hiểu ý tao chưa? Người bạn lặng lẽ gật đầu, nước mắt vẫn ròng ròng trên khuôn mặt đã méo xệch đi vì đau đớn và bất lực. Rồi anh mệt mỏi thiếp đi. Gương mặt anh bình tĩnh và thanh thản lạ lùng. Đó là gương mặt mà thần chết chờ đợi ở những con bệnh hiểm nghèo.
Mục lục
Ba người
Ba người
Nguyễn Quang HuyChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Nguyễn Quang Huy
Ba người
Có lẽ gần chín giờ tối. Người đàn bà vẫn rấm rứt khóc. Người đàn ông: - Anh không ngờ rằng nó lại đổ đốn ra như vậy! Hồi mới ở Viện Điều dưỡng về, nó có thế đâu! - Vâng... Chỉ từ khi đứa bé chết... anh ấy đâm ra rượu chè... Mà lúc không uống, thì cứ như dở người... - Em tính... vợ chồng mãi mới có một mụn con, thì lại như thế. Nó buồn, bệnh cũ tái phát là phải. Thôi được... Em cứ về đi, mai anh sẽ bảo nó! Người đàn bà hốt hoảng: - Đừng... Anh đừng! Không được đâu! - Sao không? - Anh ấy không còn coi anh như... như trước nữa! - Ra thế...! Em nói đi! Đừng giấu anh điều gì! Im lặng nặng nề. Giọng người đàn bà khó nhọc. - ... Đứa bé chết. Anh ấy chửi mắng em thậm tệ. Bảo là em hư đốn, thích chơi bời lăng nhăng, không muốn có nó, nên cố tình để nó chết. Và ... anh ấy còn nói do anh với em... với nhau nên đứa bé mới bị thế. Người đàn bà nói một hơi, như thể nếu dừng lại thì sẽ không đủ can đảm nói tiếp. Khi chợt nhìn thấy người đàn ông trắng bệch trong cơn giận dữ tột độ, cô bỗng im bặt. Anh bấu tay vào mép bàn, mười đầu ngón tay cũng trắng bệch, hàm nghiến chặt, cằm bạnh ra, cả người rùng rùng như sắp lên cơn động kinh. - Thằng đốn mạt! Thôi thì... nó nghĩ về anh thế nào cũng được, nhưng ai cho phép nó nghĩ về em như thế? Người đàn bà nghẹn ngào: - Em khổ lắm! Em thấy có tội với anh... Người đàn ông đau đớn nhìn vào mặt người đàn bà, thay lời hỏi. Cô vội vã nói tiếp. - ... Là vì anh ấy như thế! - Anh cấm em không được nghĩ như vậy! Nó hành hạ em chưa đủ hay sao? Giá mà anh có thể chịu thay cho em được! Thôi... khuya rồi, em về đi. Để từ giờ đến sáng mai, anh nghĩ xem còn cách gì không. Người đàn bà ngập ngừng. - Em... em không về được! Và cô lại òa khóc. - Nó đánh em à? - Không... chẳng thà anh ấy đánh... Người đàn ông thở dài, đứng dậy, đến bên người đàn bà, đặt bàn tay nặng nề lên đầu cô. - Thật khốn nạn thân em! Thôi, đừng khóc nữa! Từ nay, hễ nó đuổi, thì em cứ đến đây! Còn mặc xác nó, nó muốn nghĩ gì thì nghĩ! Anh giúi vào tay người đàn bà một nắm tiền. Người đàn bà ngập ngừng. - Còn anh... Anh không sợ...? - Sợ gì? Anh chỉ sợ em nghĩ quẩn! - Em không thể làm cái chuyện kia được, nên liều tìm đến anh. Nhưng... anh cũng nghèo lấy đâu ra? Và cô lại sụt sùi. Người đàn ông gắt: - Anh sẽ có cách! Nhưng dứt khoát, em không được làm liều. Em phải đến đây! Nhớ chưa? Còn bây giờ thì em về đi.** * Người đàn bà vừa khóc, vừa lê bước về nhà. Cô gọi cửa. Người đàn ông lè nhè sau cánh cửa vọng ra: - Tiền đâu? - Anh mở cửa cho em! Em xin anh! - Tiền đâu đã! Đưa đây! Đút qua khe cửa ấy! Cô vừa đút tiền qua khe cửa, vừa khóc. Then cửa lạch xạch. Chồng cô vẫn một tay cầm chai rượu, một tay vơ nắm tiền. Chai rượu vẫn còn đầy, nhưng mặt mũi anh ta đã đỏ gay, nước mắt nước mũi dàn dụa. Anh ta đưa tay áo bạc quệt ngang mặt, hỏi vợ, giọng méo xệch. - Tiền của nó phải không? Người đàn bà nín lặng. Người đàn ông nhìn mắt vợ sưng húp, làm như không biết. - Tôi biết ngay mà! Cô chỉ có đến đấy thôi! Nhưng nó không thèm ngủ với cô à, mà về sớm thế??? Người đàn bà chắp tay, mếu máo: - Em xin anh! Anh đừng nghĩ thế cho em, phải tội! Còn anh ấy cũng không phải là người như thế! Anh ấy là bạn anh... - Hừm! Bạn bè gì? Tin bợm mất bò... Nhưng giọng anh đã dịu xuống. Anh bỏ mặc vợ, lại bàn, ngồi xuống ghế và lại lặng lẽ tu rượu. Người đàn bà không thể chịu được dáng ngồi của chồng, gương mặt hốc hác, khắc khổ, tóc hai bên thái dương đã bạc trắng, cái đầu hơi cúi xuống. Chị nhẹ nhàng đến bên chồng: - Anh đừng uống rượu nữa! Anh thương em... Anh đang bệnh tật thế kia... - Thì mới uống cho chết mẹ nó đi!... Mà ai cho phép cô dạy khôn tôi? Cút! Và anh lại tu rượu. Khuya... Người đàn bà mắc màn. Một tiếng dằn chai "cạch": - Từ nay tôi ngủ dưới đất! Tôi không thể ngủ chung với cô được. Người đàn bà đứng thần mặt ra. Cô thở dài, trải chiếu, mắc thêm một cái màn dưới nền nhà, rồi chui vào. - Thôi, để em ngủ dưới này! Người đàn ông gầm lên: - Đã bảo là tao ngủ dưới đất! Tao cũng sắp về với đất rồi! Lên trên kia, không nói nhiều! Người đàn bà lại lặng lẽ chui lên giường. Giát giường run lên theo tiếng nức nở âm thầm của cô. Người đàn ông vẫn ngồi uống. Cái đầu cúi thấp hơn nữa.** * Một buổi sáng, anh bảo cô: - Cô gọi thằng bạn của tôi đến đây! Tôi có chuyện muốn nói với nó! Bảo là tôi sắp chết rồi, thế nào nó cũng phải đến! Nhanh lên! Cô tất tưởi chạy đi. Nhìn vẻ mặt cô, người đàn ông hỏi: - Sao? Nó nguy lắm rồi phải không? Người đàn bà bật khóc: - Vâng... Anh ấy bảo em đến gọi anh! Em xin anh... anh đừng giận anh ấy...! Người đàn ông quát: - Cô có im đi không? Xin xỏ gì! Đi! Anh đẩy vội cô ra, khóa cửa, vớ lấy chiếc xe, đạp hối hả. Anh ào vào nhà, ôm lấy bạn bật khóc hu hu: - Mày đừng bỏ tao... Người bệnh mặt nhợt nhạt, cười hiền lành: - Mày cũng biết khóc cơ à? Tao còn có chuyện muốn nói với mày đây! Mà chưa nói được, thì tao chưa chết! Nói vậy thôi, cũng sắp rồi đấy... Vừa lúc, người vợ bước vào. Người bệnh xua tay: - Cô ra ngoài! Đã bảo ra! Đàn bà con gái, biết gì mà nghe... Chờ vợ ra khỏi, anh bảo: - Mày mang cái ba-lô trên nóc tủ xuống đây!... ở đáy... có tờ giấy..., đúng nó đấy..., mày đọc đi... Người bạn cắm cúi đọc. Một lượt. Hai lượt. Đấy là tờ giấy anh cam kết với bệnh viện, đồng ý hủy đứa bé, vì nó là một quái thai. Người bạn khóc: - Sao mày không cho nó biết? - Không! ích gì! Nó đẻ khó, phải mổ... lúc ấy đang mê. Chỉ có tao, với bác sĩ bệnh viện trưởng, với ca trực hộ sinh. Tao yêu cầu họ đừng cho nó biết, chỉ bảo là thai bị chết lưu... Nó tỉnh, chỉ khóc... - Đã vậy, sao mày còn hắt hủi nó? Thằng khốn kiếp! Mày còn nghĩ ra được trò gì dã man hơn thế nữa không? Cái giọng trách móc, chứ không giận. Người bệnh cười yếu ớt. - Có thế, thì nó mới dám đến với mày! Và... để mày đừng vội đi lấy vợ... Còn tao, sau khi nhìn thấy đứa trẻ, thì tao hiểu kể như đời tao đã xong. Nhưng còn nó... con vợ tao ấy... là một người đàn bà tử tế! Tao không muốn nó sẽ gặp phải một thằng đểu. Mà mày... là một thằng bạn tốt! Bàn tay khỏe mạnh ấm áp nắm chặt bàn tay xương xẩu, giá lạnh... - Tao không ngờ mày lại đến nông nỗi này... Mày đừng giận tao, đã bỏ mặc mày... - Đừng nói chuyện ấy nữa... Sau khi mày ra bắc, tao bị một trận bom dập. Chúng nó tóm được tao, với mấy đứa nữa. Chúng tao bị giam trong một cái kho chứa chất độc. Mày tính, sáu tháng trời, gì mà chẳng ngấm... Im lặng. Như thể trời sắp bão. - ... Tao đã định làm một liều thuốc... nhưng nghĩ vậy thì hèn quá! Mà sống đến giờ, cũng là dai lắm rồi... - Mày đừng nói nữa... - Mày sợ à?... ờ mà thôi, nói cái chuyện chó đẻ ấy làm gì... Đứng lên đem cái hòm lại đây cho tao! Đấy, cái hòm ấy!... Hòm bị khóa, nắp hòm có trổ một khe nhỏ. - Mày phá khóa ra! Tao vứt mẹ nó chìa đi rồi... Bạn anh phá khóa. Trong hòm là tiền. - Tiền của ai đây? - Của mày! Mấy năm nay, mày đưa cho nó, mày không nhớ à? - Trời ơi! Thằng này điên thật rồi! Mày bày ra cái trò này làm gì? - Để gả nó cho mày, sau khi tao ngoẻo! Hai đứa còn có cái mà tiêu... Im lặng. Người bạn khóc không thành tiếng. Còn anh nhắm mắt vì quá mệt. Bàn tay gầy guộc của anh quờ tìm tay bạn. Một lúc lâu, anh mới nói, giọng đứt quãng: - Hồi ở chiến trường, tao có thể chết cho mày sống... Và mày cũng vậy! Song thời ấy còn bom đạn, nếu tao có chết, thì chắc gì mày đã được sống! Còn bây giờ, tao chắc là chết rồi, mày chắc là sống rồi. Nhưng còn nó, con vợ tao ấy, nó cũng đáng được sống cho tử tế. Bây giờ thì mày hiểu ý tao chưa? Người bạn lặng lẽ gật đầu, nước mắt vẫn ròng ròng trên khuôn mặt đã méo xệch đi vì đau đớn và bất lực. Rồi anh mệt mỏi thiếp đi. Gương mặt anh bình tĩnh và thanh thản lạ lùng. Đó là gương mặt mà thần chết chờ đợi ở những con bệnh hiểm nghèo.
Mục lục
Ba người
Ba người
Nguyễn Quang HuyChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.