vi
stringlengths
846
10.5k
en
stringlengths
799
10.5k
Chí Linh Bầu trời đầy sao Thuở nhỏ trong không gian nóng bức của những đêm hè miền trung, được nằm ngủ ngoài sân, tôi thường nhìn lên bầu trời rải rác sao đêm để đếm sao và dỗ giấc ngủ :“một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…”dần dần tôi thiếp đi trong giấc ngủ an lành của tuổi thơ. Lớn lên, phải đi học xa nhà, vào tận đất Sàigòn thủ đô hoa lệ, đầy dẫy ánh đèn màu nhưng tôi vẫn có thói quen ngắm đèn trời lấp lánh để tìm những vì sao hiếm hoi của thời thơ ấu. Sống trong cư xá sinh viên, từ phòng tôi nhìn xuống sân sau của một ngôi nhà bên cạnh, mỗi ngày chứng kiến cảnh gia đình hàng xóm quây quần bên mâm cơm, tôi không khỏi xót xa nhớ đến ba mẹ, các em, nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ không khí ấm cúng của gia đình, nhớ hình bóng thân thương của mẹ…Nỗi nhớ dày vò tôi, đôi khi làm tôi ngẩn ngơ, thẩn thờ không màng đến sách vở… Một hôm giữa cơn cô đơn lạc lỏng đó, tình cờ nhìn lên trời tôi thấy một ngôi sao sáng, nổi bật giữa bầu trời rải rác vài chấm sáng yếu ớt của những vì sao xa vời. Tôi thầm nghĩ đây là ngôi sao Hôm trong những câu chuyện Mẹ kể ngày xưa; ngôi sao sáng dẫn đường cho những lữ khách về đêm. Bất chợt lòng tôi dâng lên một cảm giác ấm áp khi nghĩ rằng giờ này nếu ở xa, mẹ cũng đang nhìn thấy vì sao hôm này thì mắt tôi đã gặp ánh mắt dịu dàng của mẹ vì hai mẹ con tuy ở xa vạn dặm nhưng đang cùng nhìn thấy một sự vật. Thế là không gian như đang thu gần lại trong lòng tôi. Ý nghĩ thơ ngây đó cho tôi một cảm giác được vỗ về, an ủi, như tôi đang được mẹ ôm ấp và trìu mến. Từ đó đối với tôi, Sao là Mẹ, Mẹ là Sao. Mỗi lần nhớ Mẹ, tôi lại tìm Sao… Cách đây vài năm, cũng một đêm Hè trên vùng Laurentides ở Quebec, bạn tôi dục dã rối rít gọi chúng tôi ra sân xem sao. Vừa bước ra nhìn trời, tôi há hóc mồm kinh ngạc trước một cảnh tượng bày ra trước mắt : trên đầu chúng tôi là một biển sao sáng, chi chít bao phủ cả một bầu trời mênh mông, vô tận. Tôi có cảm giác như đang bơi trong một đại dương “chè bột bán”. Thật là tuyệt diệu. Phải nói là độc nhất vô nhị, tôi được nhìn thấy một bức tranh tuyệt vời như thế, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng,vừa thần tiên, trải dài đến vô tận…Chính lúc đó, lần đầu tiên trong đời, tôi mới cảm nhận được ý niệm thế nào là “hằng hà sa số”, thế nào là vô cùng vô tận của vũ trụ. Bây giờ tôi không còn là một cô bé thích nằm đếm sao để tìm giấc ngủ, cũng hết là một cô học trò thích nhìn sao để đỡ nhớ mẹ nhưng tôi vẫn còn thói quen nhìn sao để tìm niềm an ủi, xoa dịu lòng nhớ thương con ở xa và thầm hy vọng con tôi cũng đang thấy cùng một vì sao với tôi.Tuổi đời càng chồng chất theo thời gian, ý niệm về sao trên trời còn cho tôi thêm một cảm giác xót xa khi nhớ đến mẫu đối thoại giữa một vị thầy giáo và cô học trò của ông trong một chuyện phim tôi đã xem : Trên trời có hằng hà sa số vì sao, mỗi vì sao là một giọt nước mắt của cha mẹ đã nhỏ xuống vì con cái.-Nhưng đêm nay trời đâu có trăng, cũng đâu có sao…-Những vì sao luôn hiện diện trong bầu trời, nhưng con không nhìn thấy đó thôi. Cũng như cha mẹ, luôn luôn thương yêu và lo lắng cho con, nhưng không bao giờ muốn con thấy được nội tâm lo âu của mình. Bởi thế cha mẹ luôn dấu kín nỗi lòng của họ đó con ạ. Người xưa thường nói, người lo buồn nhiều thì tóc chóng bạc. Lần này nếu con không về thăm mẹ, đợi đến lần sau thì tóc của mẹ sẽ bạc trắng hết thôi. Lúc đó thì đã quá muộn rồi!!Sao trên trời qua cái nhìn của một người mẹ, như tôi bây giờ, nặng trĩu tình cảm.Tôi mong rằng một ngày kia các con tôi cũng sẽ nhận thức được tình thương của cha mẹ, như tôi đã thấu hiểu khi nhìn lên sao trời.Hết Mục lục Bầu trời đầy sao Bầu trời đầy sao Chí LinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Áo Vàng Nguồn: Dactrung.netĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 2 tháng 4 năm 2009
Chi Linh Sky full of stars As a child, in the hot summer nights of the Central region, sleeping outside in the yard, I often looked up at the sky scattered with stars at night to count the stars and soothe myself to sleep: "One bright star, two bright stars, three bright stars." bright star..." Gradually I fell asleep in the peaceful sleep of childhood. Growing up, I had to go to school far from home, to the magnificent capital city of Saigon, full of colored lights, but I still had the habit of looking at the twinkling sky lights to find the rare stars of my childhood. Living in a student dormitory, from my room looking down at the backyard of a neighboring house, every day witnessing the neighbors' families gathering around a tray of rice, I couldn't help but sadly remember my parents, my siblings, and my siblings. home, missing the door, missing the cozy atmosphere of the family, missing the loving figure of my mother... Nostalgia torments me, sometimes making me dazed, absent-minded, not caring about books... One day in the midst of loneliness. Suddenly, looking up at the sky, I saw a bright star, standing out in the sky scattered with a few weak dots of distant stars. I thought to myself that this was the Day star in the stories Mother told in the past; The bright star guides nocturnal travelers. Suddenly my heart felt a warm feeling when I thought that even if I were far away at this time, my mother would also see why today my eyes would have met her gentle eyes because even though we were thousands of miles away, are seeing the same thing. So the space seems to be shrinking closer in my heart. That innocent thought gave me a feeling of being comforted and comforted, like I was being hugged and loved by my mother. From then on for me, Stars are Mother, Mother is Stars. Every time I miss Mom, I look for Stars... A few years ago, on a summer night in the Laurentides region in Quebec, my friend frantically called us to go out to the yard to see what was going on. As soon as I stepped out to look at the sky, I gasped in surprise at the scene before my eyes: above our heads was a sea of ​​bright, dense stars covering a vast, endless sky. I feel like I'm swimming in an ocean of "sold powdered tea". It's amazing. I must say it was unique, I was able to see such a wonderful picture, both majestic, poetic, magical, stretching endlessly... It was at that moment, for the first time in my life, that I feel the concept of "myriad numbers" and the infinity of the universe. Now I am no longer a little girl who likes to lie down and count the stars to find sleep, nor am I a student who likes to look at the stars to help miss her mother, but I still have the habit of looking at the stars to find comfort and ease my longing. I love my child from afar and secretly hope that my child is also seeing the same star as me. As the ages pile up over time, the idea of ​​stars in the sky gives me an additional feeling of sadness when remembering the dialogue. between a teacher and his student in a movie I watched: There are countless stars in the sky, each star is a tear of parents shed for their children. - But at night Today there is no moon, no stars... -Stars are always present in the sky, but you just can't see them. Just like parents, they always love and worry about their children, but never want them to see their inner worries. That's why parents always keep their feelings hidden, my child. Ancient people often said that people who worry and feel sad more quickly have gray hair. If you don't come visit me this time, wait until next time and my hair will turn white. At that time, it was too late!! The stars in the sky through the eyes of a mother, like me now, are heavy with emotions. I hope that one day my children will also be aware of their parents' love. like I understood when I looked up at the stars. End Table of contents Sky full of stars Sky full of stars Chi LinhWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: Yellow Shirt Source: Dactrung.net Uploaded by friend: Thanh Van on: April 2, 2009
Nguyễn Ngọc Khánh Bầy chim trở về Năm ấy, lũ chim không về làm tổ ở khu vườn.Bà ngoại tôi ngồi ở bậc thềm, nhìn vào khoảng không hun hút trước mắt. Trời không mưa không nắng, xám xịt một màu chì. Tôi không biết bà tôi nghĩ gì, nhưng chắc chắn là đang nghĩ. Dáng ngồi như thế, tấm lưng còn tựa vào cửa cũ, nửa như lơ đễnh, nửa như coi cánh cửa ấy là một điểm tựa.Đúng rồi, cái cánh cửa là điểm tựa của bà. Bà ngồi như thế lâu rồi, từ ngày tháng năm này qua ngày tháng năm khác. Bà tựa vào tiếng răng của lũ mọt, hình như là hoài nhớ về những ngày đã qua nhiều hơn là nghĩ đến ngày mai.Tôi ôm con mèo cái già có bộ lông màu xám tro vào lòng, vuốt ve nó. Nó chừng như cũng đã mệt mỏi vì quãng đời có tuổi của mình mà không chờn vờn đôi bàn tay thô kệch của tôi, bộ ria mép chỉ hơi khẽ động đậy.Nó lim dim đôi mắt. Tôi thấy thái độ của nó giống bà tôi quá. So với lũ mèo, nó cũng có tuổi, nó cũng đã là một con mèo già. Mà già rồi thì hay mệt mỏi. Chắc lúc này ở trong tay tôi, nó cũng đang suy nghĩ, suy nghĩ theo kiểu loài mèo. Nó nghĩ gì thì chỉ có trời mới biết được (có khi loài mèo biết?). Nhưng tôi thầm nghĩ, biết đâu nó cũng như bà tôi, tức là đang hoài nhớ về cái thời đã qua thì sao?Tuổi thơ tôi là một chuỗi những ngày tháng không tên. Cứ lặng lờ lặng lờ, chẳng có gì sôi nổi. Tôi ở với bà từ ngày còn nhỏ. Ngày xưa dì Mân cũng ở với bà, nhưng dì Mân vì lý do nào đó tác động đến mà sinh mất trí, bỏ nhà đi lâu rồi. Đi, rồi từ đấy không về. Và cũng chẳng có tin tức gì, không biết còn sống hay đã chết. Thỉnh thoảng, tôi ngây ngô nhắc đến gì như một lẽ bình thường, bà tôi lại chảy nước mắt. Ông Hân, hàng xóm nhà tôi bảo: "Bà cháu đã mất hai anh con cả trong cuộc chiến. Mất cả mẹ cháu, bây giờ lại mất cô con gái ngay giữa thời bình....". Ông Hân nói thế rồi đi về nhà. Nhưng ông đã thức dậy trong tôi hình ảnh một người đàn bà bỏ con lại cho mẹ già, đi biền biệt. Người ấy là mẹ tôi, tôi chưa biết mặt mẹ bao giờ!Suốt những năm tháng hiện diện ở bên bà, tôi ít khi thấy bà tôi cười, hay đúng hơn là chưa bao giờ thấy bà tôi cười dù chỉ khe khẽ. Và tôi như nhánh mạ non mọc trên cánh đồng bà ngoại, cánh đồng ấy là vô cùng. Tôi cũng ít cười, ít khóc. Tôi là cái gì thì lẳng lặng làm theo ý mình. Làm xong rồi mới nhớ đến việc phải hỏi bà: "Bà thấy cháu làm cái này, (hay cái kia) thế nào? Có được không?". Những lúc ấy bà im lặng gật đầu và nhìn đi đâu. Hay cũng có khi bà mải vào bếp, dáng đi lệch đầy vẻ cam chịu, mà quên cả câu trả lời dành cho tôi.Mấy hôm nay con mèo cái gì có bộ lông màu xám tro bỏ đi đâu, không thấy về nhà.Bà tôi vẫn ngồi ở bậc thềm, nhìn vào khoảng không hun hút trước mặt. Trời không nắng, nhưng hưng hửng hơn một chút. Tôi không có con mèo để ôm nó vào lòng vuốt ve như mọi bữa, quay ra bẻ cọng rơm chổi nghịch đĩa cơm bà để phần nhỡ nó có về thì ăn. Nghịch chán, tôi ngồi tì tay lên má nhìn đàn kiến đen hành quân. Lũ kiến thì nhỏ nhoi nhưng hạt cơm thì kềnh càng, thế mà chúng cũng tha cho được. Tôi nghĩ vớ vẩn, bây giờ cho tôi cái giò mà to hơn người tôi một chút, không biết tôi có tha nổi không? Nhưng rồi tôi lại nghĩ đến những người thợ thuyền. Nghĩ đến bà. Nỗi buồn bà mang làm gì có ranh giới. Rồi tôi lại lắc đầu. Chịu, không sao lý giải nổi.Đêm. Trời nổi gió, nhưng mà không mưa. Tôi nằm bên bà, mắt thao láo nhìn lên những kèo, cột, giằng nhà. Bà hờ hững phe phẩy cái quạt nan, chẳng vào đâu, tôi không được mát, bà cũng không được mát! Chợt có tiếng động trên mái, tôi tập trung nhìn lên đó nhưng không thấy gì. Rồi có tiếng của con mèo già nhà tôi với tiếng của những con mèo lạ. Chúng chạy rầm rập trên mái, gào lên gọi nhau bằng những âm thanh nghe ghê rợn. Tôi dựng tóc gáy nép sát vào bên bà. Tôi nhớ ngày xưa đã có lần bà giải thích cho tôi rằng, mùa này là mùa lũ mèo tìm nhau. Loài mèo thuỷ chung lắm! Nhưng nghe tiếng kêu của chúng, tôi vẫn sợ. Tôi im lặng, nem nép, mắt mở trừng trừng. Chợt tôi nghe tiếng bà thở dài. Giữa lúc tiếng con mèo đực nào đó với tiếng con mèo cái già nhà tôi đáp lại nhau. Sau đó thì lặng im, chúng bỏ đi đâu mất...Qua thời gian đấy, con mèo cái già trở về nhà. Nó nằm trên bậc thêm sưởi nắng. Tôi thấy người nó to hơn, và có vẻ nặng nề, bữa ăn không hết đĩa cơm. Nó trở nên lười biếng, chỉ suốt ngày cuộn mình nằm ngủ. Bà tôi ngồi tựa cửa, nhìn sang nó, thở dài. Tôi không biết bà đang nghĩ gì, chắc vẫn chỉ có thế thôi!Có tin của cô tôi ở tỉnh nào đấy xa xa. Một buổi chiều, ông bưu điện tìm đến đưa cho bà tôi cái phong bì màu xanh xanh hồng hồng, thơm thơm mùi nước hoa. Tôi cầm nó xăm xoi. Từ bé tôi mới nhìn thấy cái phong bì đẹp như thế, cứ y như... Tây.Tối, ông Hân sang chơi, bà tôi đưa cái thư cho ông đọc. Đọc xong ông Hân với bà tôi ngồi nói chuyện, tôi nằm ê a hát mấy bài hát trẻ con cũ rích, và ngủ quên từ lúc nào.Hôm sau ông Hân đi đâu đấy, không ở nhà. Ba hôm sau nữa....Cho đến lúc trời xâm xẩm tối, ông Hân đeo lỉnh kỉnh những cái túi ở đâu đó về thẳng nhà tôi. Uống ngụm nước bà tôi đưa, còn dở dang, ông Hân đứng lên dốc ngược mấy cái túi, các thứ lăn ra giường. Tôi ngạc nhiên giương mắt nhìn. Ông Hân cầm con búp bê tóc vàng: "Con búp bê này, dì Mân gửi cho cháu. Cầm lấy mà chơi!". Tôi ôm em bé búp bê, ngỡ như là trong tưởng tượng.Lần đầu tiên, tôi thấy bà tôi cười. Ông Hân phá bụi mây ngăn giữa hai nhà, tôi chạy loăng quăng như con loi choi mà ngồi chơi với em bé búp bê của mình: "Cháu sẽ gọi là ông ngoại".Ông Hân nghỉ tay vào thềm ngồi hút thuốc, bà tôi ngồi bên cạnh rót nước chè cho ông. Tôi nghĩ, ông Hân như cái cột lắp cánh cửa sắp rơi ra của nhà tôi, là chỗ cho bà tôi tựa.Năm ấy tôi mười tuổi. Năm ấy con mèo cái già có bộ lông màu xám tro đẻ được ba con. Hai con khoang và một con tam thể.Năm ấy bầy chim lại tìm về làm tổ, hót vang ở khu vườn.Nguyễn Ngọc Khánh Mục lục Bầy chim trở về Bầy chim trở về Nguyễn Ngọc KhánhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Nguyen Ngoc Khanh The birds return That year, the birds did not come to nest in the garden. My grandmother sat on the steps, looking into the empty space before her eyes. The weather was neither rainy nor sunny, a leaden gray. I don't know what my grandmother was thinking, but she was definitely thinking. Sitting like that, her back was still leaning against the old door, half absentmindedly, half as if she considered the door a fulcrum. That's right, the door was her fulcrum. She sat like that for a long time, day after day, year after year. She leaned against the sound of the beetles' teeth, seemingly remembering the past days more than thinking about tomorrow. I held the old female cat with ash gray fur in my arms and caressed it. It seemed to be tired from its old age without playing with my rough hands, its mustache only slightly moving. It closed its eyes. I think his attitude is very similar to my grandmother's. Compared to cats, it is also old, it is also an old cat. When you get old, you get tired. Probably right now in my hands, it is also thinking, thinking like a cat. Only heaven knows what it thinks (maybe cats know?). But I thought to myself, maybe he is like my grandmother, that is, he is nostalgic for the past? My childhood was a series of nameless days. It's just quiet, nothing exciting. I have been with my grandmother since I was a child. In the past, Aunt Man also lived with her grandmother, but for some reason, Aunt Man lost her mind and left home a long time ago. Go, then don't come back from there. And there's no news, I don't know if he's alive or dead. Occasionally, when I innocently mention something as is normal, my grandmother sheds tears. Mr. Han, my neighbor, said: "My grandmother lost her two eldest brothers and children in the war. She also lost her mother, and now she has lost her daughter right in the middle of peacetime...". Mr. Han said so and then went home. But he awakened in me the image of a woman leaving her child with her elderly mother and going away. That person is my mother, I have never known her face! During the years I was with her, I rarely saw my grandmother smile, or rather, I never saw my grandmother smile even slightly. And I am like a young seedling growing in my grandmother's field, that field is infinite. I also laugh less and cry less. Whatever I am, I quietly do what I want. After finishing it, I remembered to ask her: "How do you think I did this, (or that)? Is it okay?". At those times, she silently nodded and looked away. Or sometimes she was busy in the kitchen, her gait tilted with resignation, and forgot to answer me. These past few days, the cat with ash-gray fur had disappeared somewhere, never coming home. Grandma I still sat on the steps, looking into the empty space in front of me. It's not sunny, but a little more cheerful. I don't have a cat to hold it in my arms and caress it like every other day. I turn to break the broom straw and play with my grandmother's rice plate so that if it comes back, I can eat it. Bored with playing, I sat with my hand on my cheek and watched the black ants march. The ants are small but the grain of rice is bulky, yet they tolerate it. I thought nonsense, now give me a leg that's a little bigger than my body, I wonder if I can handle it? But then I thought about the boatmen. Think of her. The sadness she feels has no boundaries. Then I shook my head again. I can't explain it. Night. It was windy, but not raining. I lay next to her, my eyes restlessly looking up at the rafters, columns, and braces of the house. She nonchalantly waved her bamboo fan, it didn't work, I couldn't stay cool, she couldn't stay cool either! Suddenly there was a noise on the roof, I focused my eyes on it but didn't see anything. Then there was the sound of my old cat and the sounds of strange cats. They ran loudly on the roof, screaming for each other with terrifying sounds. My hair stood up and I leaned close to her. I remember a time when my grandmother explained to me that this season is the season when cats find each other. Cats are very loyal! But hearing their screams, I'm still scared. I was silent, curled up, eyes wide open. Suddenly I heard her sigh. While the sound of a certain male cat and the sound of my old female cat responded to each other. After that, it was quiet, they went away... After that time, the old female cat returned home. It is located on additional sun-heated steps. I saw that his body was bigger, and seemed heavy, the meal didn't finish the entire plate of rice. It became lazy and just curled up and slept all day. My grandmother sat against the door, looked over at it, and sighed. I don't know what she's thinking, it's probably just that! There's news from my aunt in some far away province. One afternoon, the postman came to give my grandmother a green, blue, pink, and pink envelope, fragrant with perfume. I held it and examined it. Since I was a child, I have only seen such a beautiful envelope, just like... Western. In the evening, Mr. Han came to visit, and my grandmother gave him a letter to read. After reading, Mr. Han and my grandmother sat and talked. I lay down and sang some old children's songs, and fell asleep at some point. The next day, Mr. Han went somewhere, not at home. Three days later... Until it was dark, Mr. Han carried bags from somewhere and came straight to my house. Taking a sip of water that my grandmother gave him, unfinished, Mr. Han stood up, turned the bags upside down, and rolled everything onto the bed. I looked up in surprise. Mr. Han held the blonde doll: "This doll, Aunt Man sent me. Take it and play!". I held the baby doll, as if in my imagination. For the first time, I saw my grandmother smile. Mr. Han broke through the clouds between the two houses. I ran around like a rat and sat and played with my baby doll: "I'll call you grandpa." Mr. Han took a break on the porch and sat smoking, my grandmother. sat next to him and poured him tea. I thought, Mr. Han was like a pillar holding the door of my house that was about to fall off, a place for my grandmother to lean on. That year I was ten years old. That year, an old female cat with ash-gray fur gave birth to three kittens. Two robins and a calico. That year, the birds returned to nest and sing loudly in the garden. Nguyen Ngoc Khanh Table of contents The birds return The birds return Nguyen Ngoc KhanhWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Hung Posted by friend: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Hoàng Công Danh Bầy én mùa Xuân Ai đã từng sinh ra và lớn lên ở một làng quê hẳn sẽ không thể quên cái trò bẫy én vào mỗi độ xuân về. Ngày xưa tôi là một đứa bé mê chim chóc, mê đến nỗi bây chừ thèm mình là con chim én ấy, để được bay về cánh đồng quê hương và tình nguyện mắc vào một cái bẫy ai đó đã đặt chờ đợi. Con nít làng tôi lớn lên như thế! Lớn lên từ cánh đồng mỗi mùa ban tặng một thứ sản vật, có cái cầm được có cái không, nhưng tất cả đều đáng yêu đáng nhớ. Mùa hạ cho thóc trảy vỏ bóc ra gạo trắng. Mùa thu toóc rạ đốt lên khói đồng xoáy vào mắt, cay! Mùa đông có lũ cá lội ngược nước chảy vào những chiếc nơm đặt ở cống. Còn mùa xuân thung thăng bầy én về, thung thăng lũ trẻ đi bẫy én... Dường như mùa xuân, cánh đồng dành riêng cho lũ con nít thì phải? Làng tôi là khuông đất nhỏ, không sông không biển, được bao quanh bởi ba làng khác; chính vì thế mà ngày nhỏ tôi lọt giữa những ngọn lúa bờ đê và không định vị được phương hướng. Đến một hôm mặt trời chỉ cho tôi hướng đông hướng tây ứng với chân trời nó mọc và lặn. Mùa xuân năm ấy bầy chim én bay về giúp tôi biết được hướng bắc hướng nam theo chiều bay của chúng. Tôi cảm ơn loài chim mùa xuân này, én đã dạy cho tôi bài học về sự định hướng quê nhà, để đi xa tôi không đánh mất mình giữa bốn chiều quỹ đạo mông lung. Cũng nhờ cái hướng đàn chim đó mà tôi nhận ra làng mình như một cái bẫy dang tay đón lấy mùa xuân, ôm chặt những đứa con tha hương trở về, như tôi hôm nay. Nhà tôi hướng ngõ về phương nam và quay lưng về phương bắc. Vào một ngày xuân thuở trước, tôi nghe sau lưng nhà những tiếng sột soạt vờn gió, chạy lui xem thì thấy mấy cánh én nhỏ về đậu trên bờ ruộng. Rồi chúng bay vút theo hướng nam sà xuống cánh đồng trước mặt nhà. Mấy tấm ruộng ngày giêng đang xanh thắm hệt một tấm áo choàng, bỗng nhiên được đơm thêm những chiếc cúc đen nhỏ. Và những chiếc cúc én ấy như muốn báo với người làng một mùa ấm êm sắp tới. Én đầu mùa bạo dạn, chúng dừng lại rất lâu trên đồng làng, vỗ cánh lượn đi lượn lại trên đám lúa non. Lúc đầu một vài con, sau là từng đàn, cứ thế chúng kéo nhau về làm dạ hội chính giữa đồng làng. Mắt lũ trẻ rói lên theo nắng xuân để chuẩn bị chơi một trò mới mà chỉ độ này mới có. Cái bẫy én rất đơn giản, đứa nào cũng có thể tự làm được. Lấy đoạn tre ngắn, một đầu chẻ ra rồi nêm vào giữa nét chẻ một hòn đá để tạo thành cái nạng chãng ba. Dùng sợi chỉ buộc qua một cái vòng thòng lọng. Mồi bẫy én là ruồi, ruồi đen nhỏ hoặc ruồi xanh càng tốt. Bắt ruồi xong thì cột vào giữa cái vòng dây chỉ thòng lọng đó. Nhớ là phải dùng chỉ mảnh để én không phát hiện ra. Cắm bẫy giữa đồng, để cái chặng mồi cao hơn ngọn lúa chừng một gang tay. Én về ngang đồng thường bay sà sà thấp ngang mặt ngọn lúa để tìm mồi, thế nên phải đặt bẫy sao cho đánh lừa được chúng. Giữa một cánh đồng mênh mang lúa xanh, tự dưng nổi lên chấm đen con ruồi mồi, lũ én tranh nhau bay đến đớp và cái dây thòng lọng thắt lại. Hôm thằng Cưng làm bẫy, mấy đứa tôi ngồi quanh xem nó vót tre buộc chỉ, rồi về nhà làm theo. Con nít làng tôi chơi với nhau và học nhau là chính, tất cả những trò chơi hay kinh nghiệm làm đồng đều thế cả, một đứa biết thì tất cả biết, không giữ riêng mình làm gì. Làm xong bẫy và nơm mồi ruồi, chúng tôi mỗi đứa cầm theo độ dăm cái bẫy ra đồng, chia nhau vùng ruộng và cắm bẫy. Cắm xong thì kéo nhau vào trong ngõ đứng chờ. Nắng rói mấy tia hồng hồng xuyên qua lớp sương mai, đàn chim én bay ngang qua, lượn đi lượn lại trên những chiếc bẫy. Khi một con én mắc vào chiếc bẫy nào đó là cả lũ con nít lại réo toáng lên cùng nhau chạy ra xem. Chúng tôi lấy bẫy én làm trò để chơi cho vui là chính. Thế nên mỗi khi có én mắc bẫy thì gỡ ra, chuyền tay nhau mỗi đứa nắm giữ một lúc như cầm lấy cái may mắn đầu năm, xong rồi thả ra cho chúng bay đi. Cánh én được trả tự do vút thẳng lên bay lượn mấy vòng mừng rỡ. Cũng nhờ sự độ lượng nhân ái ấy mà năm nào vào mùa xuân én cũng về nhiều; bởi chúng quý con nít làng tôi, chúng biết lũ trẻ sẽ không nhẫn tâm giết hại nên chẳng ngại ngần lấy mình ra làm trò cùng vui. Những thằng Cưng, thằng Hụ, thằng Tí, con Xíu và tôi ngày ấy giờ lớn cả rồi. Bầy én năm xưa chắc cũng ít về lại, có con đã chết và con nào còn sống chắc cũng già lắm. Nhưng mùa xuân thì cứ trẻ mãi, mỗi năm đúng hẹn lại về. Trong cái miên man suy tưởng ấy, ai như tôi đang khóc! Có một cánh én vừa vút ra từ ngực tôi, vượt muôn ngàn dặm trở về làng. Và tôi nghe từ phía cánh đồng trước nhà mình những tiếng reo vui của lũ con nít. Minsk 12.2008 HOÀNG CÔNG DANH Mục lục Bầy én mùa Xuân Bầy én mùa Xuân Hoàng Công DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 18 tháng 2 năm 2009
Hoang Cong Danh Spring swallows Anyone who was born and raised in a village will never forget the game of trapping swallows every spring. Once upon a time, I was a child who loved birds, so much so that now I wished I was that swallow, so that I could fly back to my hometown and voluntarily get caught in a trap that someone had set in wait. The children of my village grew up like that! Growing up in the fields, each season bestows a product, some you can hold, some you can't, but all are lovely and memorable. In the summer, the rice is peeled and peeled to produce white rice. In the fall, the stubble burns up copper smoke that swirls into the eyes, stinging! In winter, fish swim upstream into the traps placed in the drain. And in the spring, the swallows come home in the valley, and in the valley the children go out to trap swallows... It seems like in the spring, the fields are reserved for children, right? My village is a small plot of land, without rivers or seas, surrounded by three other villages; That's why when I was young, I fell between the rice fields on the dike and couldn't find my direction. One day the sun showed me the east and west directions corresponding to the horizon where it rises and sets. In the spring of that year, the swallows flew back to help me know the direction of their flight from north to south. I thank this spring bird, the swallow, for teaching me a lesson about orientation to my homeland, so that when I go far away I don't lose myself in the four dimensions of a vague orbit. Thanks to the direction of that flock of birds, I realized that my village was like a trap that opened its arms to welcome spring, tightly embracing the returning exiled children, like me today. My house faces the alley to the south and its back to the north. One spring day long ago, I heard rustling sounds behind the house, and when I ran back to look, I saw a few small swallows landing on the edge of the field. Then they flew south and swooped down on the field in front of the house. The fields, which were green like a cloak on the first day, were suddenly stained with small black buttons. And those swallow chrysanthemums seemed to want to warn the villagers of a warm and cozy season to come. The swallows are bold at the beginning of the season. They stop for a long time in the village fields, flapping their wings and gliding back and forth over the young rice fields. At first a few children, then in flocks, they flocked together to have a party in the middle of the village. The children's eyes lit up in the spring sunlight, preparing to play a new game that only exists during this time. The swallow trap is very simple, anyone can do it themselves. Take a short piece of bamboo, split one end and then wedge a stone in the middle of the split to create a three-way crutch. Use the thread to tie it through a loop. The bait to trap swallows is flies, preferably small black flies or green flies. After catching the fly, tie it to the middle of that noose loop. Remember to use thin thread so the swallows don't detect it. Set the trap in the middle of the field, leaving the bait stage about an inch above the rice top. Swallows crossing the fields often fly low across the rice tops looking for prey, so traps must be set to deceive them. In the middle of a vast field of green rice, a black dot of a bait fly suddenly appeared, the swallows scrambled to grab it and the noose tightened. The day Cung made the trap, the rest of us sat around watching him sharpen bamboo and tie the thread, then went home to do the same. The children in my village mainly play together and learn from each other. All games and experiences are the same. If one child knows, everyone knows, there is no point keeping them to themselves. After making traps and baiting flies, each of us took a few traps to the fields, divided the fields and set traps. After plugging in, we pulled each other into the alley to wait. The sun shined a few pink rays through the morning dew, flocks of swallows flew by, gliding back and forth over the traps. When a swallow gets caught in a trap, all the children scream and run out to see. We use the swallow trap as a game to play mainly for fun. So every time a swallow gets caught in a trap, they remove it, pass it around, and each child holds it for a while as if holding on to good luck at the beginning of the year, then releases it and lets them fly away. The swallow's wings were freed and they soared straight up and flew around in joyous circles. Thanks to that generosity, every year many swallows return in spring; Because they love the children of my village, they know that the children will not cruelly kill them, so they do not hesitate to use themselves as entertainment. Cuong, Hu, Ti, Xiu and I are all grown up now. The old swallows probably rarely return, some have died and those still alive are probably very old. But spring is forever young, returning on time every year. In that endless thought, someone like me is crying! A swallow just soared from my chest, traveling thousands of miles back to the village. And I heard the happy cries of children from the field in front of my house. Minsk December 2008 HOANG CONG DANH Table of contents Spring swallows Spring swallows Hoang Cong DanhWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author / VNthuquan - Online Library Posted by: Ct.Ly on: February 18, 2009
Đồng Sa Băng Bẫy Chim Tháng Chín (trời Quảng Ngãi) thường có những cơn mưa phùn, những hạt mưa li ti bay nghiêng nghiêng theo chiều gió, nhìn xa xa như những sợi tơ trời buông lững lơ trên khắp cánh đồng. Bầu trời dường như thấp lại, và mang theo những luồng mây màu xám tro bao trùm lên những chồi cây trên gò Đồn. Những cây lúa cao nghêu nghễu trên cánh đồng đang run rẫy trước cơn gió Bấc, làm cho cánh đồng gợn thành sóng; Và năm ba con trâu đang cắm đầu gặm những ngọn cỏ, cùn và xơ xác trên gò Đồn. Hai bóng người nhỏ bé cở chín, mười tuổi, mang trên vai hai chiếc áo tơi rộng lỏng le, vừa đuổi đàn chìm Chà Chiện từ gò Đồn dưới bay về; Ngồi núp bên cạnh gò mã, ngước đầu nhìn chằm chặp vào cái cần cong vòng của chiếc bẫy lồng vừa đặt trên miếng đất mới to bằng miệng cái nón lá. Mưa vẫn bay bay, và cơn gió Bấc thổi nhẹ vào hai chiếc áo tơi làm kêu thành tiếng lật bật. Hai chiếc áo tơi nằm rạp xuống mặt đất và bốn con mắt cắm chặt vào chiếc bẫy. Rặc một cái, cần bẫy bật ngược lại, giựt tung chiếc bẫy lên khỏi mặt đất. Hai bóng người lẹ như chớp, bật người dậy, cắm đầu chạy về chiếc bẫy: - A! Dính một con! - Con này của em nhe. - Hứ, em cái gì. Để đó, lát nữa đem về nhà đả. - Anh ăn hiếp em hoài, về mắc cha đó. - Ăn hiếp hồi nào, không cho đi theo nữa bây giờ. - Đó, ăn hiếp đó. Em đi hái hoa rừng chơi, không thèm đi theo anh nữa. - Ừ, đi đi. Coi chừng con rắn mái gầm trong rẫy đó. Nó nhớ có một lần đứa em gái này -Búm, kể lại: một hôm trời trăng sao, Búm chạy nhảy trên con đường trước nhà để lên ngôi trường làng chơi cùng đám bạn; Búm đang tung tăng dưới ánh trăng bất thình lình đụng phải con rắn roi đang bò qua đường, con rắn nhỏ tí bị chạm vào thân nó liền quấn lên cổ chân cô bé xong vuột ra chạy biến mất vào bờ rào. Cái lạnh rợn người từ thân loài bò sát áp vào chân Búm quá đột ngột làm cho nó hoảng sợ đến bấn loạn. Cái cảm giác lạnh rợn tóc gáy đã nhanh chóng ấn sâu vào tâm não của đứa bé ngay khi con rắn vừa rút ra khỏi chân nó, và từ đó, dấu ấn sợ rắn đã nằm vĩnh viễn trong khối óc của Búm. Và cũng sau ngày ấy Búm sợ hết những loài bò sát, kể cả thằng lằn, rắn mối, mà nhất là rắn nó sợ còn hơn sợ cọp! Ngay nghe anh nó nhắc đến rắn nó ghét cay ghét đắng. Nó nói: - Bang ngày làm gì có rắn ở đây! - Hôm nọ anh thấy con rắn đen thui, to bằng cổ chưn bò từ đầu rẫy này đến đầu rẫy kia đó. - Á! Ghê quá, sao ác quá vậy. Đưa chim đây em cầm. - Nề. Cầm cho cẩn thận nghe hong. Em đi kiếm bãi phân trâu khô đào con sùng đi. - Còn anh? - Anh phải lên khu kia làm đất mới để đặt lại chiếc bẫy. - Nhở gặp rắn mái gầm rồi làm sao. Em không đi một mình đâu, em đi với anh. - Phải làm lẹ lên chứ lát nữa trời hết mưa giông đâu còn chim đi ăn. - Ai biểu nhát em chi. Đứa anh không ngờ lời nhát vừa rồi lại hại chính nó. Nó nói lẩm bẩm những gì trong miệng và không muốn cho đứa em gái biết rằng: con rắn nó thấy hôm nọ là sự thật. Con rắn đã cắn con trâu đang rúc lá bên bờ rẫy đến nhảy nhõm! Hai chiếc bóng cứ chạy lăng xăng trên gò Đồn trên, lật ngược những bãi phân trâu khô để tìm những con sùng con. Rồi mang chiếc bẫy lồng đến khu đất trống, dùng khúc cây khô bươi đất lên, lấy sạch cỏ bỏ qua một bên, khoải đất bằng phẳng, cắm hai chưn chiếc bẫy lên miếng đất mới. Nó mở nắp bửng chiếc bẫy ra, cột con sùng vào cái chốt mồi nhỏ, xong hoằng cần xuống móc sợi dây giựt cần vào chốt mồi giữ cần cong lại. Hai sợi dây nhỏ còn lại trên đầu cần nó buột vào hai bên nắp bửng được mở ra nằm trên mặt đất. Hai chiếc bóng lấy tay khoải một lớp đất mỏng lên nắp bửng, thế là xong. Bây giờ nó phải đi tìm chim! Bầy chim lúc nãy bị bẫy đập mất một con nó hoảng sợ bay đi đâu mất rồi! Hai chiếc bóng lại chạy ra cánh đồng, chạy vòng bọc lên đâu trên gò Đồn chạy vô. Đàn chim Chà Chiện khoảng trên mười con đang đi tìm thức ăn, chạy lăng tăng dưới hạt mưa. Hai chiếc bóng tách ra hình cánh cung và đi chầm chậm, đưa cái nón lá lên đuổi bầy chim cho bay về hướng chiếc bẫy. Những con chim khi bay trên cao nhìn xuống thấy khu đất nào mới nó sẽ hạ xuộng kiếm ăn. Nhưng nhiều khi nó cũng làm lơ bay qua luôn. Và lần này cũng vậy, bầy chim không đáp xuống miếng đất nó bươi sẳn mà lượn một vòng rồi bay về gò Đồn dưới. Vậy là hai anh em nó lại chạy theo về gò Đồn dưới tìm chim đuổi cho bay về khu nó đặt bẫy. Nó đuổi hoài mà chim không chịu đậu ăn bên bẫy mà cứ bay vòng về gò Đồn dưới, bực bội nó cùng đứa em mang bẫy về gò Đồn dưới, làm đất mới rồi đặt bẫy, thì bầy chim lại bay về gò Đồn trên! Hai anh em lại chạy về gò Đồn trên đuổi chim bay về gò Đồn dưới. Cứ như thế hai thân hình nhỏ bé trong hai chiếc áo tơi rộng thình thoàng chạy theo bầy chim Chà Chiện đuổi suốt buổi chiều. Dường như cái đam mê, sự thử thách và lòng bướng bỉnh của những con chim cứng đầu kia đã làm tăng sự chịu đựng của hai con người nhỏ bé dưới cơn mưa phùn. Rồi buổi chiều cũng qua đi, hai chiếc bóng trải dài trên mặt đất. Đồi bàn chân đã mỏi mệt. Anh em nó ngồi xuống bên bìa gò Đồn: - Đưa con chim anh xem thử. Đứa em nhìn vào lồng chim. - Ý cha! Nó chết rồi! Đứa em buồn thiu, đôi mắt gần như ướm lệ. - Sao em làm nó chết vậy? - Em có làm gì đâu, em xách nó trong lồng chạy theo anh thôi mà. - Em lắc mạnh quá con chim chết rồi. - Bi giờ làm sao? Hồi nãy anh không chịu cho em bi giờ nó chết rồi, em mắc đền anh đó. Rồi giọt nước mắt chạy dài trên gò má người con gái ngây thơ. - Thồi nín đi. Ngày mai anh gài con khác đền cho. - …. - Mà em nhồi nó chết chứ có phải tại anh đâu mà khóc. Búm lấy con chim trong lồng ra đặt trên bàn tay: - … Em muốn …giử nó nuôi …mà …nó chết rồi, bây giờ làm sao. Miệng mếu máo với tiếng thút thít, Búm đưa tay lên quẹt ngan con mắt. Anh nó thấy vậy cũng buồn, và nói: - Mình đem chôn con chim này đi rồi hôm nào anh bắt con khác cho. Hai anh em đào một cái lỗ nhỏ, đặt con chim xuống, lấy lá cây đắp lên rồi lấp đất lại. Và hạt mưa, vẫn còn mưa bay. Mục lục Bẫy Chim Bẫy Chim Đồng Sa BăngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Đồng Sa Băng Nguồn: Đồng Sa BăngĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 18 tháng 9 năm 2007
Dong Sa Bang Bird Trap September (Quang Ngai's sky) often has drizzle, tiny raindrops flying tilted in the wind, looking from afar like threads of sky floating across the fields. The sky seemed to get lower, and brought with it ash-gray clouds that covered the tree buds on Don mound. The tall rice plants in the field are trembling before the North wind, causing the field to ripple; And five or three buffaloes were munching on the blunt and ragged blades of grass on Don mound. Two small figures about nine or ten years old, carrying two loose, loose shirts on their shoulders, had just chased a herd of Cha Chien from the Don mound below; Sitting next to the horse mound, he raised his head and stared at the curved handle of the cage trap that had just been placed on the new piece of land as big as the mouth of a conical hat. The rain was still blowing, and the North wind blew lightly on the two clothes, making a flipping sound. Two clothes lay on the ground and four eyes were fixed firmly on the trap. With a click, the trap lever bounced back, yanking the trap off the ground. Two figures, quick as lightning, jumped up and ran towards the trap: - Ah! Stick to one! - This one is mine. - Huh, what are you? Leave it there, bring it home later. - You bully me all the time, you'll have to pay for it. - When you bullied me, I won't let you follow me anymore. - That's bullying. I went to pick wild flowers to play, and didn't want to follow you anymore. - Yes, go. Watch out for the female snake roaring in that field. He remembered a time when this younger sister - Búm, recounted: One day under the moon and stars, Búm ran and jumped on the road in front of the house to go to the village school to play with his friends; Bump, who was running around in the moonlight, suddenly encountered a whip snake crawling across the road. The tiny snake touched its body and immediately wrapped itself around her ankle, then slipped out and ran away, disappearing into the fence. The chilling coldness from the reptile's body pressed against Bum's leg so suddenly that it panicked and panicked. The chilling cold feeling quickly penetrated deep into the baby's brain as soon as the snake pulled out of its leg, and from then on, the fear of snakes was permanently imprinted in Bum's brain. And after that day Bum was afraid of all reptiles, including lizards and snakes, but especially snakes he was more afraid of than tigers! As soon as he heard his brother mention snakes, he hated them. It said: - Bang, there are no snakes here! - The other day I saw a black snake, as big as a cow's neck, crawling from one end of the field to the other. - ASIAN! So horrible, so evil. Give me the bird, I'll hold it. - Nah. Hold it carefully, listen. I'll go look for a patch of dried buffalo dung to dig up a lizard. - And you? - I have to go to the other area to make new land to put the trap again. - I remember seeing a snake roaring and what to do. I'm not going alone, I'm going with you. - We have to do it quickly because soon the storm will stop and the birds won't be able to eat. - Who said you're shy? The older brother did not expect that his cowardly words would harm himself. He mumbled what was in his mouth and did not want his younger sister to know that the snake he saw the other day was true. The snake bit the buffalo that was hiding in the leaves on the edge of the field and jumped in relief! The two shadows kept running around on the Don mound above, overturning the dry buffalo dung to look for baby lizards. Then bring the cage trap to the empty land, use a dry log to dig up the soil, remove all the grass and put it aside, make the land flat, and place twenty traps on the new land. He opened the lid of the trap, tied the snake to the small bait pin, then spread the rod down and hooked the string to the bait pin to keep the rod bent. The remaining two small ropes on the top of the lever are tied to both sides of the open lid lying on the ground. The two balls used their hands to spread a thin layer of soil onto the lid, and that was it. Now he has to go find the bird! One of the birds was caught in a trap and it flew away in fright! The two shadows ran out into the field again, circled somewhere on Don mound and ran in. A flock of about ten Cha Chien birds are looking for food, running around under the raindrops. The two shadows separated into a bow shape and walked slowly, raising their conical hats to chase away the birds and fly them towards the trap. When birds fly high above, they look down and see a new area of ​​land, they will descend to look for food. But sometimes it just ignores it and flies by. And this time too, the birds did not land on the ground they had already dug up, but circled around and flew back to the lower Don mound. So the two brothers ran back to Don hill below to find birds and chase them back to the area where they set traps. He kept chasing them, but the birds refused to land and eat by the trap, but kept flying around to the lower Don mound. Frustrated, he and his younger brother brought the trap to the lower Don mound, prepared new land and set the trap, then the birds flew back to the upper Don mound! The two brothers ran back to the upper Don mound to chase the birds back to the lower Don mound. Just like that, two small bodies in two loose clothes ran after the flock of Cha Chien birds all afternoon. It seemed that the passion, challenge and stubbornness of those stubborn birds increased the endurance of the two little people in the drizzle. Then the afternoon passed, two shadows stretched across the ground. The feet are tired. The brothers sat down on the edge of Don mound: - Let me see the bird. The younger brother looked into the birdcage. - Dad's idea! It's dead! The younger brother was sad, his eyes almost filled with tears. - Why did you make it die? - I didn't do anything, I just carried it in the cage and ran after you. - I shook it too hard and the bird died. - What to do now? You didn't let me know just now that he's dead, so I owe you that. Then tears ran down the innocent girl's cheeks. - Shut up. Tomorrow I'll get another one to pay for it. - …. - But I stuffed it to death, it's not your fault that I'm crying. Take the bird out of the cage and put it in your hand: - ... I want to... keep it and raise it... but... it's dead, what now? With a sobbing mouth, Bum raised his hand and wiped his eyes. His brother felt sad when he saw that, and said: - Let's bury this bird and someday I'll get another one for you. The two brothers dug a small hole, put the bird down, covered it with leaves and then covered it with soil. And the raindrops, still raining. Table of contents Bird Trap Bird Trap Dong Sa BangWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Dong Sa Bang Source: Dong Sa Bang Uploaded by friend: Ct.Ly on: September 18, 2007
Đồng Sa Băng Bắn Chim (Mến tặng Diễn, Hùng và linh hồn của một người anh.) Một buổi trưa hè nóng cháy trên gò Rú, bốn đứa bé, đầu trần, mặt quần xà lỏn, chân không mang dép, lăng xăng chạy từ gốc cây gòn này đến gốc cây gòn khác trong vườn ông Trì. Trên tay bốn chiếc bóng cầm sẳn cái ná, và tám con mắt lức láo nhìn lên ngọn cây gòn: - À! Nó kia kìa. - Đâu, đâu chỉ coi. - Trên cành kia kìa. Một đứa vừa nói vừa chỉ tay lên cây gòn. - Có thấy chỗ nào đâu. Ba cái đầu nhỏ, cở bảy tám tuổi, chụm lại nhìn theo ngón tay của đứa kia. - Không phải trên đầu ngón tay tao đâu! Nó đứng trên cành cây kìa, thấy chưa. - À! thấy rồi, để yên, đừng la lớn tiếng. Rồi bốn đứa bé rón rén như mèo rình chuột, cùng dương ná lên bắn … một con cu … đất … mới vừa biết bay. Hụt. Con cu đất hoảng sợ liền chuyền qua cây gòn khác. Gò Rú, một ngọn đồi thấp, nhỏ, chỉ có những bụi cây lòi còi và nhiều nhất là gai mắt mèo và sỏi đá. Gò Rú nằm dưới chân núi Vàng, cách ngôi làng bằng một cánh đồng, con đường cái quan và cái mương Dân. Đó là phía trước gò Rú, còn phía sau gò Rú một bên tiếp xúc với đồng Sa Băng sâu thẳm và trên đồi gò Rú trãi dài đến tận núi Đuôi Chuột. Càng vào sâu trong gò Rú là những lùm tre ngà um tùm. Chen kẻ những lùm tre ngà có nhiều hầm hố được đào lên thời chống Pháp. Những hầm hố này một thời dùng để trốn bom đạn và là công sự chiến đấu của dân làng chống lại thực dân Pháp. Càng đi sâu vô nữa sẽ đến con truông và đèo Mướp, đường dẫn vô Đồng Ngỗ. Những buổi chiều khi mặt trời quá xế, con đường trong truông trở nên âm u cô tịch, không một bóng người lai vãng. Nơi đây chỉ còn lại tiếng kêu la của loài cầm thú, và một số người bí ẩn. Ngày xưa người ta làm nhà và sinh sống trong gò Rú. Bây giờ những căn nhà vẫn còn đó nhưng người thì đã vắng bóng. Nó nhớ có ba khu vườn trong gò Rú, nhưng thường chỉ vào chơi trong vườn ông Trì, vì ông Trì có thằng con tên Một, bạn bắn bi của nó. Ngày nay ông Trì và những người kia đều phải dọn nhà vào ở bên trong bờ rào ấp chiến lược, để đêm đêm khỏi bị người ta đến bắt đóng góp lúa gạo, ngũ cốc. Vườn ông Trì rộng và trồng nhiều cây gòn. Những trái gòn to, dài, treo lũng lẳng trên cành cây như những trái cà tím, có điều là trái gòn có màu xanh và lớn hơn. Khi trái gòn khô thì nức ra, để lộ những sợi bông gòn trắng phếu. Một cơn gió bay qua, vài sợi bông trắng rời khỏi trái gòn, bay phất phơ trong gió. Trong vườn ông Trì còn có nhiều cây xoài và những hàng tre cao vút. Hằng gầy ông Trì và một ít người vô đây trồng trọt và trông nom khu vườn. Nhưng hầu hết khu vườn ông Trì luôn vắng bóng người, nên chim chóc về đây làm tổ, sinh nở nhiều hơn. Từ đường cái quan băng qua một khu ruộng lúa là đến gò Rú. Những ngày đi học ở trường làng, nó thường rũ những đứa bạn băng qua cánh đồng vào gò Rú bắn chim và hái chùm chày, mẫn khiểng. Hôm nay ngôi trường làng đóng cửa nghĩ hè. Bốn đứa bé lại rũ nhau đi vào vườn ông Trì. - Dở thiệt! Gần xịt mà cũng bắn hụt. Một đứa lẩm bẩm, hối tiếc nhìn con chim cu bay qua cây gòn khác. Rồi bốn đứa lại chạy theo con chim đến cây gòn bên cạnh. Nhìn con chim cu mới vừa ra ràng, ngây thơ, đang chập chững tập bay vào đời, nên bay không xa. Bốn đứa bé bao vây chung quanh dưới gốc cây, rón rén rình bắn con chim cu. Đôi cánh chim non mới chập chững vào đời mà gặp ngay phải mấy đứa bé sát sinh làm con chim con run rẫy. Nó lay quay trên cành cây, mắt lức láo nhìn xuống mấy đứa bé mà tâm tư dường như đang lay động, mong ngóng đôi cánh che chở của mẹ hiền. Con chim đi qua, đi lại trên cành cây nhỏ bé, nó muốn bay thật xa cho khỏi tầm tay của những đứa bé tinh nghịch, nhưng đôi cánh, đôi cánh của nó yếu ớt quá! Bốn đứa bé bắn hụt con chim, chim bay, nó liền chạy theo như hình với bóng. Nhìn thấy chim con đang đậu trên đầu, ngon quá, nó muốn lập một chiến công hiển hách để đem về khoe cùng đám bạn. Không muốn để hụt kỳ này nữa, nên một đứa trèo lên cây gòn cho gần con chim hơn. Miệng đứa bé ngậm cái ná, nó trèo lên khi cách con chim chừng năm sáu thước, nó nằm dài trên nhánh cây, thò tay trong túi lấy ra một hòn đá bỏ vào bao ná. Con chim con nghe tiếng rọt rẹt, nó quay lại nhìn thằng bé, chân nhúc nhích và đầu gật lên gật xuống, như muốn năng nỉ điều gì. Thằng bé từ từ dương ná lên, và bao nhiêu con mắt dưới gốc cây đang hồi hộp nhìn lên. Đứa bé trên cây thầm nói: - “Kỳ này cho mầy chết.” Nó nheo mắt lại, nhắm thật kỷ, thả ngón tay trên bao ná ra, rặc một cái, nó đưa mắt nhìn theo con chim. Hụt! Con chim cu lại bay đến cây gòn khác, và lần này nó bay hơi xa hơn lần trước. Thằng bé trên cây nhìn theo con chim mà lòng tức tối, nó lật đật tuột xuống đất. Ba đứa bé dưới gốc cây dõi mắt nhìn theo con cu và lật đật chạy về cây gòn con chim cu vừa bay đến. Miệng xì xào chê đứa bé kia bắn dở quá. Rồi ba đứa nó đưa tay ra đánh hoảnh-tù-tì. Đứa thắng lại trèo lên cây gòn. Con chim cu đậu mút ngoài đầu cành cây gòn. Đứa bé rón rén trèo lên được một khúc, nó sợ con chim phát hiện rồi bay nữa nên nó nằm úp lên nhánh cây, và dương ná ra, bắn. Hòn đá bay ra đụng vào cành cây kêu cái bụp, con chim cu hoảng hồn liền bay đi. Hụt nữa! Và một lần nữa, con chim cu lại bay qua cây gòn khác. Cứ thế, bôn đứa bé lại chạy theo chim con, leo lên cây gòn đuổi bắn nó. Và bốn đứa bé lại cứ bắn hụt! Mỗi lần thoát khỏi tử thần, chim con lại bay xa hơn lần trước. Và càng lúc nó bay càng giỏi hơn. Cuối cùng chim con đã bay đậu tận ngọn tre. Bốn đứa bé chỉ còn biết đứng dươi gốc cây nhìn lên, rồi cũng dương ná lên bắn. Nhưng những hòn đá rời khỏi những bàn tay yếu ớt bay vào không gian, lạc lõng. Khi mặt trời đứng bóng, bốn đứa bé mặt mày nhể nhại mồ hôi, và bước chân đã mỏi. Nó quay gót rời khỏi vườn ông Trì, bước xuống mương Dân. Nó lội qua cánh đồng lúa ra về; Nhìn lên ngọn tre, con chin con vẫn còn đó. Và trong tiếng gió, có tiếng nói nho nhỏ: “Tức cái mình.” Mục lục Bắn Chim Bắn Chim Đồng Sa BăngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Đồng Sa Băng Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 31 tháng 10 năm 2007
Dong Sa Bang Gamebird (Love to Dien, Hung and the soul of a brother.) One hot summer afternoon on Ru hill, four children, bareheaded, wearing shorts, and without sandals, ran from one tree to another in Mr. Tri's garden. In their hands, four shadows held slingshots, and eight eyes looked up at the top of the tree: - Ah! There it is. - No, don't just watch. - It's on that branch over there. One of them said while pointing at the cotton tree. - I can't see it anywhere. Three small heads, about seven or eight years old, gathered together to look at the other child's finger. - Not on my fingertips! It's standing on a tree branch, see? - Ah! If you see, leave it alone, don't shout loudly. Then the four children crept up like a cat watching a mouse, and together with their slingshots, they shot... a cuckoo... on earth... that had just learned to fly. Deficit. The cuckoo got scared and immediately jumped to another tree. Go Ru, a low, small hill, has only stunted bushes and mostly cat's eye thorns and rocks. Go Ru is located at the foot of Vang Mountain, separated from the village by a field, a mandarin road and a Dan ditch. That is in front of Mound Ru, and behind Mound Ru, one side is in contact with the deep Sa Bang field and on the hill, Mound Ru stretches all the way to Mouse Tail Mountain. Deeper into Ru mound are luxuriant bamboo groves. Between the bamboo groves there are many pits dug up during the resistance against the French. These bunkers were once used to hide from bombs and were fortifications for villagers fighting against the French colonialists. The further you go, you will reach Trauong and Muut Pass, the road leading to Dong Ngo. In the afternoons when the sun is too late, the clear road becomes dark and lonely, without a single person passing by. Here, only the screams of animals and some mysterious people remain. In the past, people built houses and lived in Ru mound. Now the houses are still there but the people are gone. He remembered there were three gardens in Ru hill, but he usually only went to play in Mr. Tri's garden, because Mr. Tri had a son named Mot, his marble shooting partner. Nowadays, Mr. Tri and the others have to move their house inside the fence of the strategic hamlet, to avoid being asked to contribute rice and grain at night. Mr. Tri's garden is large and planted with many cotton trees. The fruits are big, long, hanging on tree branches like eggplants, except that the fruits are green and larger. When the fruit dries, it bursts, revealing white cotton fibers. A gust of wind blew past, a few white cotton strands left the cotton, fluttering in the wind. In Mr. Tri's garden there are also many mango trees and rows of tall bamboo. Hang, Mr. Tri and a few people come here to cultivate and take care of the garden. But most of Mr. Tri's garden is always empty of people, so more birds come here to nest and give birth. From the main road, cross a rice field to reach Mount Ru. During his school days at the village school, he often led his friends across the fields to Ru mound to shoot birds and pick bunches of pestles, diligently. Today the village school is closed for the summer. The four children walked together into Mr. Tri's garden. - This is so bad! Almost shot but missed. One of them muttered, regretfully watching the cuckoo fly over to another tree. Then the four of them ran after the bird to the next tree. Look at the cuckoo bird that just came out, innocent, just learning to fly into life, so it doesn't fly far. Four children gathered around under the tree, gingerly waiting to shoot the cuckoo. The young bird's wings were just starting to enter the world, but they immediately encountered some killing babies, making the baby bird tremble. It swayed on the tree branch, its eyes looked down at the children whose thoughts seemed to be shaking, looking forward to their mother's protective wings. The bird passed by, walking on the small tree branch, it wanted to fly far away from the reach of mischievous children, but its wings, its wings were so weak! The four children missed the bird, the bird flew away, it immediately ran after it like a shadow. Seeing the baby bird sitting on its head, it was so delicious, it wanted to make a glorious victory to show off to its friends. Not wanting to miss this chance again, one of them climbed a cotton tree to get closer to the bird. The child's mouth held the slingshot, he climbed up when he was about five or six meters away from the bird, he lay down on a tree branch, reached into his pocket, took out a stone and put it in the sling bag. The baby bird heard the rustling sound, it turned to look at the boy, its legs moved and its head nodded up and down, as if it wanted to plead for something. The boy slowly raised his head, and many eyes under the tree were looking up nervously. The child on the tree silently said: - "This time I will let you die." He squinted his eyes, closed them carefully, released his fingers on the slingshot, and with a click, he looked after the bird. Deficit! The cuckoo flew to another tree, and this time it flew a little farther than before. The boy on the tree looked at the bird and felt angry, he quickly fell to the ground. The three children under the tree watched the cuckoo and hurriedly ran back to the tree where the cuckoo had just flown. People were whispering that the kid was a bad shot. Then the three of them raised their hands to hit the horns. The winner climbed up the tree again. The cuckoo perched on the tip of a cotton tree branch. The child gingerly climbed up a section. He was afraid that the bird would find him and fly away again, so he lay face down on the branch, and the poplar slung out and shot. The stone flew out and hit the tree branch with a thud, the cuckoo was frightened and immediately flew away. Miss again! And once again, the cuckoo flew over another tree. Just like that, four children ran after the baby bird, climbed up a tree to chase and shoot it. And the four kids kept missing! Each time they escape death, the baby bird flies further than the last time. And every time it flies better and better. Finally, the baby bird flew to the top of the bamboo. The four children could only stand under the tree and look up, then also raised their slingshots to shoot. But the stones left the weak hands and flew into space, lost. When the sun stood still, the four children's faces were sweaty, and their steps were tired. He turned on his heel and left Mr. Tri's garden and walked down the Dan ditch. It waded through the rice fields and left; Looking up at the bamboo top, the baby chin is still there. And in the sound of the wind, there was a small voice: "That's me." Table of contents Gamebird Gamebird Dong Sa BangWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Dong Sa Bang Source: Author / VNthuquan - Online Library Uploaded by friend: Ct.Ly on: October 31 2007
Lưu Quang Minh Bắp xào ơi ! Từ thuở bé, tôi đã thích ăn bắp xào. Từng hạt bắp vàng rộn thấm bơ với mỡ hành nóng hôi hổi, ăn đến đâu ứa nước miếng đến ấy, cứ nghĩ đến thôi bụng đã không khỏi cồn cào. Mỗi lần có khách, mẹ tôi bắc chảo lên bếp ga mini, cho ít dầu, đợi sôi. Rồi hạt bắp non tẽ sẵn mẹ thả vào chảo, đảo nhanh, tiếng lép bép. Đợi xíu lại cho ít bơ - cái loại magarine hộp vàng của Tường An, thơm phức. Mẹ đảo đều tay, tôi nghe nức mũi, thèm nhỏ dãi. Nào đường, nào muối, nào hành, nào tôm khô, thêm tí bột ớt, mỗi cái một hai muỗng, đảo cho thật đều. Đến khi bắp chín tới, bóng lưỡn, mùi gia vị quyện vào nhau, mẹ đổ ra hộp giấy liền tay.“Ba nghìn, cháu ạ!”Đưa tiền xong, chị học sinh mở hộp, ăn ngay.Đi học về, tôi cùng mẹ đẩy xe bắp xào ra đây đứng bán. Mẹ chỉ bán tầm ban tối, khoảng ấy người ta mới ra nhiều. Trừ những hôm mưa to, bình thường khi nào cũng có khách. Họ ra ngồi hóng gió, tâm sự, dắt trẻ con chơi đùa…. Hồ Con Rùa nổi tiếng mát nhất Sài Gòn. Có hôm xe máy dựng quanh hồ chật ních, người ra đông quá, chẳng còn chỗ thở mà hồ chỉ bớt mát đi chút ít. Nhưng là dịp cho mấy xe hàng của mẹ con tôi làm ăn. Mẹ đảo bắp mỏi tay, khách cứ thúc: “Nhanh lên chị, hai hộp nữa…”. Có những hôm trời trở lạnh, khách cầm hộp bắp trên tay, vừa nhai vừa xuýt xoa.Vòng quanh hồ ít nhất 4 5 xe hàng. Người mực khô. Kẻ nước ngọt. Kẹo bông, bong bóng. Cả những xe bắp khác. Mẹ còn bán bắp luộc, bắp nướng. Mọi thể loại bắp là thế, bán chạy nhất lại chỉ có bắp xào. Dù bắp luộc bùi bùi ngọt ngọt, bắp nướng mỡ hành dòn dòn thơm thơm, mỗi cái một vẻ riêng.Mồ hôi mẹ ẵm đầy trên trán, thấm cả hai vai. Hôm nay đắt hàng. Mẹ nhận tờ 5 nghìn nhàu nhĩ, rút trong túi 2 nghìn, đưa lại người ta. Anh thanh niên cầm hộp bắp chạy vội ra ghế đá, có cô người yêu đang chờ. Cả hai nói cười vui vẻ, hòa cùng tiếng trẻ khóc văng vẳng từ xa. Thì ra thằng bé té, bố nó sững sờ: “Chạy chi cho lắm hả con!”. Hai bố con dắt díu nhau hóng gió, thằng bé hiếu động cứ trực chạy lon ton. “Phụt”. Hồ bắt đầu phun nước. Từng tia nước vun cao rồi hạ xuống tạo thành nhiều vòng cung long lanh trong suốt phản chiếu ánh đèn đường vàng nhạt. Tôi ngắm mãi không chán.“ Hai cái bắp nướng, lẹ coi!”Tôi rút vội hai trái bắp nướng sẵn, để lên bếp than, quay đều. Vừa quay vừa quạt than. Bắp nóng rồi mới xối mỡ hành lên trên. Thấy đôi mắt vị khách hau háu nuốt nước miếng ừng ực, mẹ tôi hối: “Nhanh con, khách chờ”. Tôi học mẹ cái kỹ tính, không làm thì thôi, nướng phải nóng giòn ăn mới thích, nhưng cũng không để lâu, bắp bị khét hết, mất ngon. Chảo mỡ hành mẹ làm sẵn, nêm nếm chút mặn ngọt, tôi lấy thìa trét đều lên bắp. Bắp nướng đã sỏ sẵn cây đũa tre dưới gốc, khách chỉ việc cầm ăn.Thành phẩm tôi làm được ngấu nghiến ngon lành. Hai cậu choai choai khoái khẩu: “Ái chà, mỡ hành béo ta!”. Phải nói món mỡ hành mẹ tôi làm rất vừa, ngoạm một miếng rồi chỉ muốn xơi thêm.Trời về đêm, không khí se lạnh, xe cộ tấp nập ồn ào thưa vắng dần. Chỉ còn lại ánh đèn vàng, vài ba người nán lại chưa đành lòng về nhà đắp chăn. Mẹ và tôi thu dọn. Bếp than hồng đã tàn, hơi ấm yếu ớt. Tôi ngáp dài một tràng. Mai đi học sớm rồi. Cất cuốn vở vào cặp, tôi phụ mẹ đẩy xe về.“Học có khó không con?”“Dạ, cũng hơi khó…”Mẹ xoa đầu tôi:“Ráng mà học, con ơi!”Câu nói ấy theo tôi mãi đến tận về sau, khi đã là một cô giáo cầm phấn đứng trên bục giảng bài cho học sinh nghe.Có những chiều mưa bay lất phất, trên đường về ngang qua một xe bắp xào bắp nướng, chảo đặt trên bếp ga mini, cái quạt phe phẩy bên bếp than hồng, tôi không khỏi xao lòng.Và hôm nay đi cùng người thương xuống phố, ghé Hồ Con Rùa, ngồi ghế đá nhìn ra xe bắp xào ngày ấy, gió se lạnh, tôi càng nhớ, nhớ da diết. Người thương tôi từa tựa chàng thanh niên khi xưa, chiều chuộng dỗ dành, rồi vội vã chạy đi mua một hộp bắp xào.Lần đầu nhận lời đi chơi, anh hỏi:“Em thích ăn gì nhất?”“Bắp xào!” – Tôi đáp không phải đắn đo suy nghĩ.Tinh ý, từ đó đi với nhau anh đều không quên mua bắp xào. Hai đứa nhâm nhi từng hạt vàng rộn nóng hổi, ngắm những tia nước vun cao rồi hạ xuống, long lanh trong ánh đèn vàng cùng tiếng ồn ào người qua kẻ lại, xe cộ bon chen.Ghế đá này đã chứng kiến bao nhiêu tình yêu đôi lứa, và bao nhiêu những giọt mồ hôi của mẹ, bên xe bắp xào…?* * *Đi cùng anh về khuya, gần sân bay, lại bắt gặp một đoàn xe bán bắp. Không phải loại xe đẩy như của mẹ con tôi, mà là xe “tự chế” tận dụng tối đa khả năng của chiếc xe đạp hai bánh. Bếp ga đặt đằng trước đầu xe, bếp than đặt phía yên sau. Bắp xào có bắp xào, bắp nướng có bắp nướng.Mấy lần anh gắt:“Bắp, bắp. Có gì hay ho mà em lúc nào cũng cứ bắp mãi thế?”Anh đâu biết không có bắp, mẹ con tôi đã chẳng thể nào dựa vào nhau mà sống, vượt qua những cơn gió đêm lạnh như dao cắt.Tôi lên lớp, ra đề tập làm văn cho học sinh. Hôm sau gọi vài em đứng lên đọc một đoạn. Em Lan đọc:“Ba con bán bột chiên, mỗi ngày lời được nhiêu về đưa má giữ hết…”Cả lớp cười ầm. Tôi nghiêm mặt, có gì đáng cười ở đây? Tiếng rủ rỉ rù rì: êu êu, đi bán bột chiên mà cũng khoe…Trời đất quanh tôi như tối sầm. Mới về trường nhận công tác chưa bao lâu nên còn nhiều bỡ ngỡ, cả trong cách giảng dạy. Tôi thấy sai, hẹn gặp riêng Lan. Cho cô xin lỗi, đáng lý cô không bắt các em đọc to cho cả lớp.Lan lúc lắc đầu. Không cô ơi, con lúc nào cũng tự hào về ba con hết.Tôi lặng người, phút sau cười, xoa đầu cô học trò bé nhỏ:“Ráng học cho thật giỏi, Lan nhé. Nhất định ba con cũng rất tự hào về con!”Đề bài tôi giao các em là: “Hãy tả cảnh sinh hoạt của gia đình em.”* * *Cuối tuần, anh lại chở tôi đi chơi. Anh bảo: ra mắt bố mẹ nhé! Tôi không nói gì, chỉ tự hỏi: mình có yêu anh không nhỉ?Tôi nhớ đã cùng mẹ chứng kiến nhiều cuộc chia tay nước mắt ngay tại đây, từ xe bắp nhìn ra ghế đá Hồ Con Rùa. Anh thanh niên hay mua bắp của mẹ con tôi nói như hét:“Chịu cô rồi, chia tay đi!”“Tôi chịu đựng anh nhiều mới đúng!”. Nàng dứt lời ngồi khóc hu hu.Thế nhưng mấy hôm sau lại thấy họ đi chung, anh thanh niên vui vẻ ra mua bắp như thường.Rồi cứ thế, thêm mấy lần chia tay nước mắt.Vài năm sau họ dắt theo thằng cu con ra hồ hóng mát.Mẹ bảo tôi:“Con gái, tìm được tấm chồng tốt mới khó.”Tôi nghe mẹ nói mà nghẹn họng. Biền biệt bao năm trôi qua đã bao giờ tôi được nhìn mặt bố một lần. Bố sẽ về, sớm thôi, con à. Mẹ ôm tôi, nằm ngủ trên chiếc giường ọp ẹp. Một đêm tôi trở mình, nhận ra mẹ đang quay mặt vào tường. Tôi quàng tay qua, hai mẹ con dụi vào nhau, rưng rức…“Con không lấy chồng đâu, ở vậy nuôi mẹ thôi!”“Kìa con, hoa có độ gái có thì…”* * *Ngày nhà giáo Việt Nam, tôi lặn ngụp trong những lời chúc bó hoa của học trò. Lan nắm tay ba đến gặp tôi.“Cảm ơn cô giáo đã dạy dỗ, các cháu nên người đều nhờ công lao thầy cô cả.”Người đàn ông có mái tóc màu muối tiêu, gương mặt khắc khổ hằn lên trăm mối bộn bề. Tôi hình dung ra trong những đêm khuya khoắt, xe bột chiên vẫn đều đặn lăn những vòng quay trên con đường mòn. Chiếc xe nặng nề oằn lên vai người đẩy những gánh gồng cực nhọc, gánh cả những ước mơ của đứa con gái nhỏ, đang còn thức ngóng ba ở nhà. Mồ hôi nhễ nhại, nhưng thoáng nghĩ nụ cười tươi như hoa của con gái, đôi chân mỏi nhừ bỗng dưng thêm chút sức lực, nhanh nhẹn hơn, vội vã hơn.Chúc cô 20/11 thật nhiều niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống.Từng nét chữ được Lan nắn nót trên tấm thiệp tặng kèm bó hoa.“Cô cảm ơn con. Lan này, con thích ăn gì nhất?”“Dạ…”Câu trả lời bị át đi bởi chương trình văn nghệ đã bắt đầu, tiếng nhạc rộn ràng cả sân trường: “Một bông hồng em dành tặng cô…”Mười mấy năm nữa, cô học trò nhỏ sẽ lớn lên. Nhiều thứ em sẽ quên, có lẽ, kể cả tôi. Nhưng con chớ quên…Mẹ ơi, bắp xào ơi! ./.Lưu Quang Minh – 10/2008 Mục lục Bắp xào ơi ! Bắp xào ơi ! Lưu Quang MinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: senandbom Nguồn: bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 7 tháng 12 năm 2008
Lưu Quang Minh Bắp xào ơi ! Từ thuở bé, tôi đã thích ăn bắp xào. Từng hạt bắp vàng rộn thấm bơ với mỡ hành nóng hôi hổi, ăn đến đâu ứa nước miếng đến ấy, cứ nghĩ đến thôi bụng đã không khỏi cồn cào. Mỗi lần có khách, mẹ tôi bắc chảo lên bếp ga mini, cho ít dầu, đợi sôi. Rồi hạt bắp non tẽ sẵn mẹ thả vào chảo, đảo nhanh, tiếng lép bép. Đợi xíu lại cho ít bơ - cái loại magarine hộp vàng của Tường An, thơm phức. Mẹ đảo đều tay, tôi nghe nức mũi, thèm nhỏ dãi. Nào đường, nào muối, nào hành, nào tôm khô, thêm tí bột ớt, mỗi cái một hai muỗng, đảo cho thật đều. Đến khi bắp chín tới, bóng lưỡn, mùi gia vị quyện vào nhau, mẹ đổ ra hộp giấy liền tay.“Ba nghìn, cháu ạ!”Đưa tiền xong, chị học sinh mở hộp, ăn ngay.Đi học về, tôi cùng mẹ đẩy xe bắp xào ra đây đứng bán. Mẹ chỉ bán tầm ban tối, khoảng ấy người ta mới ra nhiều. Trừ những hôm mưa to, bình thường khi nào cũng có khách. Họ ra ngồi hóng gió, tâm sự, dắt trẻ con chơi đùa…. Hồ Con Rùa nổi tiếng mát nhất Sài Gòn. Có hôm xe máy dựng quanh hồ chật ních, người ra đông quá, chẳng còn chỗ thở mà hồ chỉ bớt mát đi chút ít. Nhưng là dịp cho mấy xe hàng của mẹ con tôi làm ăn. Mẹ đảo bắp mỏi tay, khách cứ thúc: “Nhanh lên chị, hai hộp nữa…”. Có những hôm trời trở lạnh, khách cầm hộp bắp trên tay, vừa nhai vừa xuýt xoa.Vòng quanh hồ ít nhất 4 5 xe hàng. Người mực khô. Kẻ nước ngọt. Kẹo bông, bong bóng. Cả những xe bắp khác. Mẹ còn bán bắp luộc, bắp nướng. Mọi thể loại bắp là thế, bán chạy nhất lại chỉ có bắp xào. Dù bắp luộc bùi bùi ngọt ngọt, bắp nướng mỡ hành dòn dòn thơm thơm, mỗi cái một vẻ riêng.Mồ hôi mẹ ẵm đầy trên trán, thấm cả hai vai. Hôm nay đắt hàng. Mẹ nhận tờ 5 nghìn nhàu nhĩ, rút trong túi 2 nghìn, đưa lại người ta. Anh thanh niên cầm hộp bắp chạy vội ra ghế đá, có cô người yêu đang chờ. Cả hai nói cười vui vẻ, hòa cùng tiếng trẻ khóc văng vẳng từ xa. Thì ra thằng bé té, bố nó sững sờ: “Chạy chi cho lắm hả con!”. Hai bố con dắt díu nhau hóng gió, thằng bé hiếu động cứ trực chạy lon ton. “Phụt”. Hồ bắt đầu phun nước. Từng tia nước vun cao rồi hạ xuống tạo thành nhiều vòng cung long lanh trong suốt phản chiếu ánh đèn đường vàng nhạt. Tôi ngắm mãi không chán.“ Hai cái bắp nướng, lẹ coi!”Tôi rút vội hai trái bắp nướng sẵn, để lên bếp than, quay đều. Vừa quay vừa quạt than. Bắp nóng rồi mới xối mỡ hành lên trên. Thấy đôi mắt vị khách hau háu nuốt nước miếng ừng ực, mẹ tôi hối: “Nhanh con, khách chờ”. Tôi học mẹ cái kỹ tính, không làm thì thôi, nướng phải nóng giòn ăn mới thích, nhưng cũng không để lâu, bắp bị khét hết, mất ngon. Chảo mỡ hành mẹ làm sẵn, nêm nếm chút mặn ngọt, tôi lấy thìa trét đều lên bắp. Bắp nướng đã sỏ sẵn cây đũa tre dưới gốc, khách chỉ việc cầm ăn.Thành phẩm tôi làm được ngấu nghiến ngon lành. Hai cậu choai choai khoái khẩu: “Ái chà, mỡ hành béo ta!”. Phải nói món mỡ hành mẹ tôi làm rất vừa, ngoạm một miếng rồi chỉ muốn xơi thêm.Trời về đêm, không khí se lạnh, xe cộ tấp nập ồn ào thưa vắng dần. Chỉ còn lại ánh đèn vàng, vài ba người nán lại chưa đành lòng về nhà đắp chăn. Mẹ và tôi thu dọn. Bếp than hồng đã tàn, hơi ấm yếu ớt. Tôi ngáp dài một tràng. Mai đi học sớm rồi. Cất cuốn vở vào cặp, tôi phụ mẹ đẩy xe về.“Học có khó không con?”“Dạ, cũng hơi khó…”Mẹ xoa đầu tôi:“Ráng mà học, con ơi!”Câu nói ấy theo tôi mãi đến tận về sau, khi đã là một cô giáo cầm phấn đứng trên bục giảng bài cho học sinh nghe.Có những chiều mưa bay lất phất, trên đường về ngang qua một xe bắp xào bắp nướng, chảo đặt trên bếp ga mini, cái quạt phe phẩy bên bếp than hồng, tôi không khỏi xao lòng.Và hôm nay đi cùng người thương xuống phố, ghé Hồ Con Rùa, ngồi ghế đá nhìn ra xe bắp xào ngày ấy, gió se lạnh, tôi càng nhớ, nhớ da diết. Người thương tôi từa tựa chàng thanh niên khi xưa, chiều chuộng dỗ dành, rồi vội vã chạy đi mua một hộp bắp xào.Lần đầu nhận lời đi chơi, anh hỏi:“Em thích ăn gì nhất?”“Bắp xào!” – Tôi đáp không phải đắn đo suy nghĩ.Tinh ý, từ đó đi với nhau anh đều không quên mua bắp xào. Hai đứa nhâm nhi từng hạt vàng rộn nóng hổi, ngắm những tia nước vun cao rồi hạ xuống, long lanh trong ánh đèn vàng cùng tiếng ồn ào người qua kẻ lại, xe cộ bon chen.Ghế đá này đã chứng kiến bao nhiêu tình yêu đôi lứa, và bao nhiêu những giọt mồ hôi của mẹ, bên xe bắp xào…?* * *Đi cùng anh về khuya, gần sân bay, lại bắt gặp một đoàn xe bán bắp. Không phải loại xe đẩy như của mẹ con tôi, mà là xe “tự chế” tận dụng tối đa khả năng của chiếc xe đạp hai bánh. Bếp ga đặt đằng trước đầu xe, bếp than đặt phía yên sau. Bắp xào có bắp xào, bắp nướng có bắp nướng.Mấy lần anh gắt:“Bắp, bắp. Có gì hay ho mà em lúc nào cũng cứ bắp mãi thế?”Anh đâu biết không có bắp, mẹ con tôi đã chẳng thể nào dựa vào nhau mà sống, vượt qua những cơn gió đêm lạnh như dao cắt.Tôi lên lớp, ra đề tập làm văn cho học sinh. Hôm sau gọi vài em đứng lên đọc một đoạn. Em Lan đọc:“Ba con bán bột chiên, mỗi ngày lời được nhiêu về đưa má giữ hết…”Cả lớp cười ầm. Tôi nghiêm mặt, có gì đáng cười ở đây? Tiếng rủ rỉ rù rì: êu êu, đi bán bột chiên mà cũng khoe…Trời đất quanh tôi như tối sầm. Mới về trường nhận công tác chưa bao lâu nên còn nhiều bỡ ngỡ, cả trong cách giảng dạy. Tôi thấy sai, hẹn gặp riêng Lan. Cho cô xin lỗi, đáng lý cô không bắt các em đọc to cho cả lớp.Lan lúc lắc đầu. Không cô ơi, con lúc nào cũng tự hào về ba con hết.Tôi lặng người, phút sau cười, xoa đầu cô học trò bé nhỏ:“Ráng học cho thật giỏi, Lan nhé. Nhất định ba con cũng rất tự hào về con!”Đề bài tôi giao các em là: “Hãy tả cảnh sinh hoạt của gia đình em.”* * *Cuối tuần, anh lại chở tôi đi chơi. Anh bảo: ra mắt bố mẹ nhé! Tôi không nói gì, chỉ tự hỏi: mình có yêu anh không nhỉ?Tôi nhớ đã cùng mẹ chứng kiến nhiều cuộc chia tay nước mắt ngay tại đây, từ xe bắp nhìn ra ghế đá Hồ Con Rùa. Anh thanh niên hay mua bắp của mẹ con tôi nói như hét:“Chịu cô rồi, chia tay đi!”“Tôi chịu đựng anh nhiều mới đúng!”. Nàng dứt lời ngồi khóc hu hu.Thế nhưng mấy hôm sau lại thấy họ đi chung, anh thanh niên vui vẻ ra mua bắp như thường.Rồi cứ thế, thêm mấy lần chia tay nước mắt.Vài năm sau họ dắt theo thằng cu con ra hồ hóng mát.Mẹ bảo tôi:“Con gái, tìm được tấm chồng tốt mới khó.”Tôi nghe mẹ nói mà nghẹn họng. Biền biệt bao năm trôi qua đã bao giờ tôi được nhìn mặt bố một lần. Bố sẽ về, sớm thôi, con à. Mẹ ôm tôi, nằm ngủ trên chiếc giường ọp ẹp. Một đêm tôi trở mình, nhận ra mẹ đang quay mặt vào tường. Tôi quàng tay qua, hai mẹ con dụi vào nhau, rưng rức…“Con không lấy chồng đâu, ở vậy nuôi mẹ thôi!”“Kìa con, hoa có độ gái có thì…”* * *Ngày nhà giáo Việt Nam, tôi lặn ngụp trong những lời chúc bó hoa của học trò. Lan nắm tay ba đến gặp tôi.“Cảm ơn cô giáo đã dạy dỗ, các cháu nên người đều nhờ công lao thầy cô cả.”Người đàn ông có mái tóc màu muối tiêu, gương mặt khắc khổ hằn lên trăm mối bộn bề. Tôi hình dung ra trong những đêm khuya khoắt, xe bột chiên vẫn đều đặn lăn những vòng quay trên con đường mòn. Chiếc xe nặng nề oằn lên vai người đẩy những gánh gồng cực nhọc, gánh cả những ước mơ của đứa con gái nhỏ, đang còn thức ngóng ba ở nhà. Mồ hôi nhễ nhại, nhưng thoáng nghĩ nụ cười tươi như hoa của con gái, đôi chân mỏi nhừ bỗng dưng thêm chút sức lực, nhanh nhẹn hơn, vội vã hơn.Chúc cô 20/11 thật nhiều niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống.Từng nét chữ được Lan nắn nót trên tấm thiệp tặng kèm bó hoa.“Cô cảm ơn con. Lan này, con thích ăn gì nhất?”“Dạ…”Câu trả lời bị át đi bởi chương trình văn nghệ đã bắt đầu, tiếng nhạc rộn ràng cả sân trường: “Một bông hồng em dành tặng cô…”Mười mấy năm nữa, cô học trò nhỏ sẽ lớn lên. Nhiều thứ em sẽ quên, có lẽ, kể cả tôi. Nhưng con chớ quên…Mẹ ơi, bắp xào ơi! ./.Lưu Quang Minh – 10/2008 Mục lục Bắp xào ơi ! Bắp xào ơi ! Lưu Quang MinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: senandbom Nguồn: bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 7 tháng 12 năm 2008
Nguyễn Khải Bắt đầu từ một câu nói Tháng chín năm 1996.Đầu tháng 5 năm 75 tôi vào Sài gòn vừa được giải phóng sau đó mấy ngày. Ngay trong tuần đầu, nhờ một may mắn rất tình cờ, tôi đã tìm được nơi ở của bố mẹ già. Lúc từ biệt bố mẹ, tôi chỉ là thằng trẻ con mới 15 tuổi, nay gặp lại đã là một trung niên vừa bằng tuổi ông già ngày tôi ra đi. Ba chục năm, hai cuộc kháng chiến, bao nhiêu đổi thay trọng đại của một đất nước, một đời người.Là một nhà văn được sống, được chứng kiến cái khoảnh khắc sáng chói nhất của lịch sử dân tộc trong gần hai thế kỷ quả là một ân huậ vô song. Huống chi trong cái chuyển đổi mênh mông của lịch sử lại có cái đại gia đình mình trong đó, như cái lăng kính hội tụ những yếu tố khó nắm bắt thành những tình huống, những con người, những câu chuyện có tầm vóc nhỏ hơn nhưng cô đọng hơn; cái có thể hiểu bằng lý trí, bằng phân tích thành những mối quan hệ gia đình, quan hộ tình cảm khiến mình dễ hoà tan trong những xúc động mới lạ, đột ngột. Và chỉ những vui buồn riêng, cái tâm sự riêng với bao nhiêu nỗi niềm chất chứa, dồi nén từ nhiều chục năm mới có cơ hội hoá thân thành Nghệ thuật. Nói thế nhưng mà khó. Trong mấy năm tôi đã thu thập được rất nhiều tư liệu quí hiếm, đã hiểu thêm nhiều người nhiều việc nhưng cái giây phút hoá thân để có thể bắt đầu lia ngòi bút lên trang giấy vẫn chưa tới. Cái giây phút thiêng liêng để một người phàm tục thành một nghệ sĩ, cái nhìn u u minh minh bỗng chốc được chiếu sáng để thấu rõ cái lẽ huyền vi của mọi sự ở đời. Chắc là đạo quả còn non, công tu còn thấp nên chưa tới được cái Ngộ chăng? Không có cái Ngộ nếu cố viết cũng chỉ là một đống tư liệu được tãi ra, rối rắm, mờ mịt, chỉ là người phàm tục kể lể dông dài những chuyện vô nghĩa của đời thường, làm sao tác động tới cái phần bí ẩn, thiêng liêng của bạn đọc. Không có giây phút sáng tạo nhiệm màu ấy thì sẽ không biết bắt đầu từ đâu. Bắt đầu từ chuyện chị Hoàng chăng? Nhưng cách vào chuyện sẽ phải như thế nào, cái lõi, cái hồn của nó là ở đâu? Chịu! Bắt đầu tờ chuyện vợ chồng bà Đại chăng? không thể phát triển được, sẽ bị cuốn tròn trong cái luẩn quẫn. Hoặc từ chính gia đình của tôi chăng? Ôi! Cũ kỹ lắm, thiên hạ viết chuyện gia đình cũng hơi nhiều, rất khó tránh sự lặp lại ở mức độ thấp. Vẫn liều viết. Viết rồi xoá. Nản quá. Hết sức nản. Tài hèn mộng lớn là khổ! Miếng ngon kề miệng mà nuốt không trôi là thế. Mình thì cố nuốt chứ bạn đọc sẽ nhanh chóng nhè ra. Tôi tần thần, vật vã cũng đến mấy năm, viết kịch, viết ký sự, viết truyện ngắn thì được nhưng đặt bút viết cuốn tiểu thuyết mong đợi chỉ được một hai chương là phải bỏ. Chả đâu vào đâu, người và việc cứ rời ra trong sự gắn bó ép buộc, giả tạo. Đến câu văn cũng hẫng hụt vì hình ảnh không gọi nhau, chữ nghĩa không gọi nhau.Mãi cho đến một chiều rất buồn và hơi lạnh của tháng cuối năm, tôi ngồi gẫu với một bà chị cũng rất thích tán là chị Hoàng, trong cái phòng khách tồi tàn, ngổn ngang như sắp dọn. Chị hơn tôi 16 tuổi, sinh con từ năm 17 nên con trai lớn của chị là tiến sĩ Luật đang sống ở Pháp chỉ kém tôi có một tuổi. Hai chị em đã nói đủ thứ chuyện, cũng là nhắc lại chuyện cũ thôi thì chị chợt bảo:- Các cậu đừng tưởng có thể thắng được bọn mình hoàn toàn, đừng tưởng chúng tôi rồi cũng phải chịu chung sống với các anh. Tao không chấp nhận, tao sẽ có cách phản đối của tao. Một cách chống đối chỉ có thắng chứ không có thua.Tôi tủm tỉm cườj, hỏi lại:- Bà có bản lãnh lớn đến vậy sao?Chị cười khẩy:- Đã muốn làm là làm được. Chỉ chưa muốn mà thôi.Tôi vẫn cười, hỏi tiếp:- Có thể nói nhỏ với em cái cách chống trả của chị không hay phải giữ bí mật?Chị cũng cười:- Một âm mưu có thể nói công khai mà không sợ bọn mày còng tay nhốt khám Chí Hoà.- Khó hiểu nhỉ!Thấy vẻ mặt căng thẳng của tôi chị phì cười:- Mày nghĩ thế nào được, để tao nói cho. Chỉ một vỉ thuốc ngủ thôi, chiến trận diễn ra trong vài giờ, sau đó là kết thúc. Và tao sẽ thắng.Tôi cười to:- Sao nà không làm, làm luôn từ năm 75 ấy.Chị ngồi thừ mặt một lúc lâu rồi nói nhỏ hẳn:- Vì tao cũng sợ. Tao không sợ cái chết nhưng tao sợ cái xác chết của chính tao.Chị nói thế là thật lắm, vì chị có tính nhát, đặc biệt là nhát ma. Thuở còn con gái, chị thích nằm một mình nhưng không bao giờ dám quay lưng ra khoảng trống phía ngoài. Lỡ có một cái mặt quái dị nào đó đang cúi xuống nhòm mình lúc ngủ thì sao? hoặc lại đập nhẹ lên lưng thì sao? Cho nên luôn luôn phải có một vú già hay một vú em trải chiếu nằm dưới để lấp kín cái khoảng trống đáng sợ đó. Chị rất thương bố tôi, khi ông cậu mất, chị có mặt ngay lúc ông già vừa tắt thở nhưng chỉ dám đứng ở phòng ngoài liếc nhìn vào trong mà khóc. Bà cụ sinh ra chị mất, chị cũng không dàm lạ gần nhìn mặt mẹ lần cuối, cứ đứng sau lưng các em khóc, vì nhìn mặt người chết thì sợ lắm. Người khác chết còn sợ huống hồ chính mình bỗng chốc biến thành xác chết. Nên đành phải sống vậy. Tôi cường ha há, cười đau cả bụng vì cái âm mưu quyên sinh cùng với nỗi sợ quái gở của chị, cứ như một trò đùa, và bất chơt một vệt sách lóe lên, trong cái ánh sáng hư ảo ấy một hình người, chính là chị Hoàng chít khăn vành dây, mặc áo gấm, đi hài nhung với cặp mắt trống rỗng và nụ cười ngớ ngẩn của người đã chết thấp thoáng bước qua. Lịch sử, đời người, thời gian như cùng một lúc hiện lên với bước chân bập bềnh, trôi nổi của chị. Và nghe rõ cả tiếng cười giễu cợt, hả hê của Con Tạo tiễn đưa một lớp người vào quá khứ. Tất cả hiện ra rõ rệt một cách lạ lùng trong khoảng khắc. Hình như tôi đã ngồi yên lặng khá lâu, mắt nhìn vào vô định, miệng hơi há ra, ngây ngô, thất thần như người bị trúng gió nên chị Hoàng phải hét lên:- Khải, mày làm sao thế? Cái mặt của mày nhìn ghê quá, nhợt trắng ra kìa!Tôi còn ngồi lại một lúc lâu nhưng không nói thêm gì rồi lặng lẽ đứng dậy đạp xe về nhà. Ngay đêm đó trong vài giờ tôi đã viết xong được mấy trang đầu của cuốn tiểu thuyết tôi hằng mong đợi, chính là cuốn Gặp gỡ cuối năm hay gặp gỡ sau ba mươi năm mà nhiều bạn đã có dịp đọc. Mục lục Bắt đầu từ một câu nói Bắt đầu từ một câu nói Nguyễn KhảiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Học Nguồn: Nguyễn Học VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 29 tháng 6 năm 2006
Nguyen Khai Start with a sentence September 1996. In early May 75, I went to Saigon, which had just been liberated a few days later. Right in the first week, thanks to a very random stroke of luck, I found a place to live with my elderly parents. When I said goodbye to my parents, I was just a 15-year-old child. Now when I see them again, I am a middle-aged man, just the same age as the old man when I left. Thirty years, two resistance wars, so many important changes in a country and a human life. As a writer, I was able to live and witness the brightest moment of the nation's history in nearly two centuries. What an unparalleled blessing. What's more, in the vast transformation of history, there is a big family in it, like a prism converging elusive elements into situations, people, and stories of a smaller scale. but more condensed; What can be understood by reason, by analyzing family relationships and emotional relationships makes it easy to dissolve in new and sudden emotions. And only private joys and sorrows, private confides with so many emotions stored up and suppressed for decades have the opportunity to transform into Art. That said, it's difficult. Over the years I have collected a lot of rare documents, understood many people and things, but the moment of transformation to be able to start moving my pen to paper has not yet come. The sacred moment for an ordinary person to become an artist, his dark and clear vision is suddenly illuminated to clearly understand the mysterious truth of everything in life. Perhaps the path and fruition are still young and the practice is still low, so Enlightenment has not yet been reached? Without Enlightenment, if you try to write, you will just be a pile of documents spread out, confused, obscure, just ordinary people reciting meaningless stories of everyday life, how can you affect the mysterious part? , sacred to readers. Without that magical moment of creativity, we wouldn't know where to start. Should we start with Ms. Hoang's story? But what should the way to enter the story be, where is its core, its soul? Bear! Should we start telling the story of Mrs. Dai and her husband? Unable to develop, will be entangled in chaos. Or from my own family? Oh! It's very old, people write a lot of family stories, so it's difficult to avoid low-level repetition. Still daring to write. Write then delete. So disheartened. Extremely frustrated. Poor talent and big dreams are suffering! It's like having a delicious piece of food in your mouth that you can't swallow. I try to swallow it, but readers will quickly spit it out. I worked hard and struggled for several years. I wrote plays, memoirs, and short stories, but I started writing a novel, expecting to only get a chapter or two before I had to give up. Nothing goes anywhere, people and things keep falling apart in a forced, fake bond. Even the sentences were disappointing because the images didn't call each other, the words didn't call each other. Until one very sad and cold afternoon in the last month of the year, I sat chatting with a sister who also liked to flirt, Ms. Hoang, in The living room was shabby and messy as if it was about to be cleaned. She is 16 years older than me, and gave birth at 17, so her eldest son, a doctor of law living in France, is only one year younger than me. The two sisters talked about all sorts of things, just repeating old stories, when she suddenly said: - Don't think you can completely defeat us, don't think we will have to live with you. I don't accept it, I will have my own way of protesting. A way to resist can only win, not lose. I smiled and asked again: - Do you have such great ability? She smirked: - If you want to do it, you can do it. I just don't want to. I still smiled and continued to ask: - Can I tell you in a whisper about your way of fighting back or do you have to keep it a secret? She also smiled: - A conspiracy that can be talked about publicly without fear of criminals. You handcuffed and locked me up to search Chi Hoa. - It's hard to understand! Seeing my tense face, she laughed: - What do you think, let me tell you. Just one pack of sleeping pills, the battle lasted for a few hours, then it was over. And I will win. I laughed loudly: - Why don't you do it, do it since 1975. She sat with a blank face for a long time and then said quietly: - Because I'm scared too. I'm not afraid of death, but I'm afraid of my own dead body. What she said is very true, because she has a shy personality, especially a shy person. When she was a girl, she liked to lie alone but never dared to turn her back to the empty space outside. What if there's a strange face looking down at me while I sleep? Or how about a light tap on the back? So there always has to be an old nanny or a nanny lying down on a mat to fill that scary gap. She loved my father very much. When his uncle passed away, she was present right when the old man died but only dared to stand in the outside room, glance inside and cry. The old woman who gave birth to me passed away, and I did not dare to look at my mother's face for the last time. I just stood behind my brothers and cried, because looking at the face of a dead person is very scary. It's scary for someone else to die, let alone suddenly turning into a corpse. So I have to live like that. I was so excited, my stomach hurt from laughing because of her suicide plot and strange fear, it was like a joke, and suddenly a book flashed, in that illusory light a human figure, It was Ms. Hoang wearing a turban, brocade shirt, and velvet shoes with empty eyes and the silly smile of a dead person passing by. History, human life, and time seemed to appear at the same time with her swaying, floating steps. And clearly hear the mocking, gloating laughter of the Creator sending a class of people into the past. Everything appeared strangely clear in an instant. It seemed like I had been sitting quietly for a long time, my eyes looking aimlessly, my mouth slightly open, naive and absent-minded like someone caught in the wind, so Ms. Hoang had to shout: - Khai, what's wrong with you? Your face looks so terrible, it's so pale! I sat there for a while but didn't say anything, then quietly stood up and cycled home. That night, in a few hours, I finished writing the first few pages of the novel I had been waiting for, the book Year-End Meeting or Meeting After Thirty Years that many of you have had the opportunity to read. Table of contents Start with a sentence Start with a sentence Nguyen KhaiWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Nguyen Hoc Source: Nguyen Hoc VNthuquan - Online Library Uploaded by friend: Ct.Ly on: June 29, 2006
Pham Thanh Chương Bằng Lăng truyện ngắn Bằng Lăng thấy mình cũng hơi... vô lý, nhưng dù sao thì cũng tại sự xuất hiện không đúng lúc của anh chàng để Quỳnh Anh bỏ đi với lòng đầy nghi vấn. Bằng Lăng biết rồi thế nào Quỳnh Anh cũng sẽ gây lắm chuyện phiền phức cho mình. Bằng Lăng đứng dưới hiên bưu điện chờ cơn mưa tạnh. Sài Gòn vào mùa này thường có những cơn mưa bất chợt, mưa hối hả, đột ngột nhưng tạnh cũng rất mau. - Ê, nhỏ! Bằng Lăng quay lại thì cũng vừa vặn lãnh một cái “cốc” vào đầu. Quỳnh Anh cười hích hích. - Hết đường chối rồi nghe nhỏ! Chờ ai? Khai thiệt ta sẽ “khoan hồng”. Bằng Lăng đưa tay xoa xoa lên chỗ bị đau. - Tao chờ... mưa tạnh. - Đừng có xạo! - Xạo mày làm quái gì. - Không lẽ ở nhà ra đây để đụt mưa? - Tao đi bỏ thư. - Bỏ thư? Bộ mày hồi âm cho cái anh chàng khỉ gió đó à? - Mày nói ai vậy? - Đừng có giả vờ, không phải cái anh chàng “lôm côm” đó thì còn ai nữa? Bằng Lăng đổ quạu: - Trông mặt mũi mày cũng... sáng sủa mà sao hay đặt điều chi vậy? Quỳnh Anh cười hích hích. - Biết ngay mà! - Biết cái gì? - Nhìn “điệu bộ” của mày là tao biết ngay, quả thật y chang. Chờ thì cứ bảo là chờ, còn bày đặt lòng vòng. Tao đi guốc trong bụng mày đó nhỏ. Bằng Lăng nghe tức cành hông nhưng cô bé chỉ biết tức để mà... tức. Quỳnh Anh được trớn. - Đụt mưa mà đứng khép nép, e lệ. Xí...! Bằng Lăng không muốn đôi chối một chuyện lãng nhách như vậy nên lẳng lặng đứng nhìn mưa. Mưa rơi trắng xóa trên những cành me, mưa lanh canh trên mái ngói, mưa rửa sạch bụi bặm trên lá hoa. - Nè, nhỏ. Vẫn cái giọng đáng ghét của Quỳnh Anh, Bằng Lăng quyết không thèm nhìn cái bản mặt của nó. - Mày đi bỏ thư thực à? - Ừ. - Thư đâu? - Bỏ rồi, ở trong thùng. - Xạo, thư của mày kìa! Trời đất! Cái anh chàng khỉ gió đó lại lù lù xuất hiện không biết anh ta ở dưới đất chun lên hay từ trên trời rơi xuống. Bằng Lăng nghe điếng người. Lại cái giọng “chết tiệt” của Quỳnh Anh. - Thôi tao về, chúc mày đi “bỏ thư” vui vẻ. Quỳnh Anh vừa đi vừa cười hích hích, làm như được đi dưới mưa là một điều sung sướng lắm. Bằng Lăng cố kềm chế để bớt run, mặc dầu trong lòng cô bé như có một tảng đá ập vào. Bằng Lăng tự nhủ, can cớ gì mà sợ, mình phải tỏ ra “bản lãnh” để coi thử anh chàng giở trò gì cho biết. Bằng Lăng giả vờ như chẳng hề hay biết có anh chàng đang đi về phía mình, mắt cô bé mở tròn nhìn những hạt mưa đan chéo trên tàn me. - Chào nhỏ. - Dạ. Bằng Lăng nghe giọng mình lí nhí trong cổ, anh chàng nhướng đôi mắt vốn đã cận thị: - Trời đất! Làm sao Bằng Lăng ướt hết thế này. Bằng Lăng nghe lòng tưng tức: - Mưa ở ngoài kia, tui đứng trong này làm sao mà ướt? Anh không thấy thì thôi... - Thấy nhỏ run anh tưởng là bị ướt. Cho anh xin lỗi. - Ai bảo với anh là tôi run? - Có ai bảo đâu, điều này thì anh... thấy. - Mưa gió dĩ nhiên phải lạnh, lạnh thì người ta run, có gì lạ đâu mà nói. Anh chàng đưa tay vuốt tóc. - Thì chẳng qua anh thấy sao nói vậy, nhỏ tức làm gì cho mệt. Bằng Lăng nghĩ bụng, ngày này đúng là cái ngày xúi quấy, gặp toàn những chuyện đâu đâu chưa hết bực vì nhỏ Quỳnh Anh thì đụng phải cái anh chàng khỉ gió này. Bằng Lăng nổi cáu: - Tui tức rồi sao? Sao anh nói chuyện toàn là tưởng tượng không vậy? - Nhỏ không tức thì thôi, có chuyện gì đâu mà “ầm ĩ”. Giọng cô bé đầy ấm ức: - Anh có biết anh vừa gây rắc rối cho tui hay không? Anh chàng chưng hửng. - Làm gì có cái chuyện kỳ cục vậy? Bằng Lăng ôm chiếc cặp vào ngực, mắt nhìn lên cành me. - Anh đấy! Anh gieo gió tất có ngày gặp bão. - Eo ơi! Bằng Lăng nói cái gì ngộ vậy? Rồi anh chàng phân bua. - Nói thiệt, nếu anh mà đi gieo... gieo cái gì Bằng Lăng nói đó thì cho Thiên lôi đánh anh gãy cổ, u đầu. - Gãy cổ chết queo rồi còn thêm u đầu làm chi cho rắc rối? - Nhưng... - Anh đúng là người lẻo mép. Anh chàng nở nụ cười tươi rói. - Cám ơn nhỏ. Bằng Lăng nghe trong ruột nhồn nhột như có kiến bò. - Tự dưng lại đi cám ơn người ta, sao anh vô duyên vậy? Anh chàng gãi đầu. - Tại Bằng Lăng không biết, ai cũng chê anh là đứa lù đù, chỉ có Bằng Lăng là khen anh lẻo mép. Bằng Lăng không nhịn cười được nữa. - Lẻo mép mà anh bảo là khen, anh đúng là đứa... lù đù. - Đối với anh những điều đó đâu có gì quan trọng. Anh chàng đứng thừ ra trông thật tội nghiệp. Mưa nhỏ dần, Bằng Lăng dợm bước đi, anh chàng đưa mắt nhìn mung lung vào bầu trời đầy gió. - Nhỏ biết không? Bằng Lăng là một loài hoa màu tím, khi ngắt xuống nó mau héo vô cùng. - Điều anh nói thì có liên quan gì đến tui? Bằng Lăng hấp tấp bước đi như chạy. Người con trai đứng lại ngơ ngác nhìn theo. Bằng Lăng nghe tiếng ai gọi mình trong quán nước, vừa dừng xe lại Bằng Lăng thoáng thấy Quỳnh Anh, cô bé định đạp xe chạy thẳng nhưng không kịp. - Vào đây, nhỏ. Bằng Lăng dựng xe, nghĩ bụng, quái thật sao đi đâu cũng gặp “nhỏ chằn” này. Quỳnh Anh giục: - Vào đây uống nước. - Tao không khát. - Không uống thì ngồi nhìn... tao uống. Quỳnh Anh cầm chiếc muỗng khuấy khuấy ly nước mía. - Mày sao vậy, bịnh à? - Ai bảo mày tao bịnh? - Nhìn qua thì biết, cần gì ai nói. Trông mặt mũi lờ đờ như gà nuốt dây thun. - Mày định nói gì vậy? Tánh tao chúa ghét ba cái chuyện “lôm côm”. Quỳnh Anh lại cười hích hích, cái giọng cười chẳng có chút gì con gái. - Biết đâu có những chuyện “lôm côm” mà suốt một đời không quên nổi. - Với tao thì mấy cái chuyện đó tao quên dễ ợt. Quỳnh Anh nhìn Bằng Lăng chằm chặp. - Bây giờ tao hỏi “nghiêm túc”, mối tình của mày đã đến đâu rồi? - “Mối tình!” Mày nói cái gì mà ghê gớm thế? - Nếu không gọi vậy thì kêu bằng cái quái gì? - Theo mày, tình yêu là thế nào? Chẳng lẽ gặp nhau, nói năm ba câu thì gọi là tình yêu sao? - Có thể lắm chứ, nếu mày bị “tiếng sét tình yêu” đánh vào đầu. - Mày đúng là đứa... lù đù không hiểu chi cả. Bằng Lăng dí dí ngón tay xuống mặt bàn. - Mày đã bị “tiếng sét tình yêu” chưa mà coi bộ kinh nghiệm vậy? Quỳnh Anh đáp gọn lỏn. - Chưa! Bằng Lăng cười nắc nẻ. Quỳnh Anh hỏi. - Mày cười cái gì? - Tao tưởng... Thế mà cũng bày đặt lên giọng thầy đời, mày đúng là... - Là gì? - Là đứa... lù đù. Trên đường đi học về, Bằng Lăng đạp xe chầm chậm dưới hàng me. Sau những cơn mưa cây lá như khoác lên mình màu áo mới. Bầu trời cao hơn và ánh nắng cũng đã bắt đầu dịu lại. Khi ngang qua bưu điện, Bằng Lăng nhìn vào mái hiên, chỗ ngày nào mình đứng trú mưa. Phố xá vẫn đông, thiên hạ vẫn tấp nập như mọi buổi chiều, Bằng Lăng cảm thấy nhơ nhớ một cái gì không rõ lắm. Một cái gì gần gũi nhưng đã xa. Mong manh như một nỗi buồn. Mục lục Bằng Lăng Bằng Lăng Pham Thanh ChươngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.đánh máy Ct.Ly Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 10 năm 2004
Pham Thanh Chuong Lagerstroemia short story Bang Lang found himself a bit... unreasonable, but anyway, it was because of the guy's untimely appearance that Quynh Anh left with a heart full of doubts. Bang Lang knew that Quynh Anh would cause a lot of trouble for him. Bang Lang stood under the porch of the post office waiting for the rain to stop. Saigon in this season often has sudden, hurried, sudden rains but stops very quickly. - Hey, little one! Bang Lang turned around and just happened to receive a "cup" on the head. Quynh Anh laughed heartily. - There's no way to deny it, listen up! Waiting for who? Tell the truth and we will be "lenient". Bang Lang raised his hand and rubbed the sore spot. - I'm waiting... for the rain to stop. - Don't lie! - What the hell are you doing? - Should I stay at home and come out here to beat the rain? - I'm going to drop off the mail. - Drop the letter? Did you reply to that damn guy? - Who are you talking about? - Don't pretend, if not that "lazy" guy, then who else? Bang Lang was upset: - Your face looks... bright, so why do you always say something like that? Quynh Anh laughed heartily. - Knew it! - Know what? - I knew right away when I saw your "gesture", it was exactly the same. Just keep saying you're waiting, but keep lying about it. I'm walking in your stomach, little one. Bang Lang felt angry, but she only knew how to be angry... angry. Quynh Anh was flattered. - Standing in the rain, shy and shy. Xi...! Bang Lang didn't want to deny such a frivolous matter, so he stood quietly and watched the rain. The rain falls white on the tamarind branches, the rain tinkles on the tile roof, the rain washes away the dust from the flower leaves. - Hey, little one. Still with Quynh Anh's obnoxious voice, Bang Lang decided not to look at his face. - Are you going to leave real mail? - YES. - Where's the letter? - It's gone, it's in the box. - Bullshit, there's your letter! Oh my God! That damn guy appeared again, I don't know if he was on the ground or falling from the sky. Bang Lang was stunned. Quynh Anh's "damn" voice again. - Well, I'm going home, have a good time "mailing". Quynh Anh walked and laughed happily, as if walking in the rain was a very happy thing. Bang Lang tried to control her trembling, even though her heart felt like a rock had hit her. Bang Lang thought to himself, why should I be afraid? I have to show my "command" to see what tricks the guy is up to. Bang Lang pretended not to know that a guy was walking towards her. Her eyes opened wide to look at the raindrops crisscrossing the tamarind tree. - Hello little one. - Yes. Bang Lang heard his voice whispering in his throat. He raised his already nearsighted eyes: - Oh my god! How come Bang Lang is so wet? Bang Lang felt angry: - It's raining outside, how can I get wet standing in here? If you don't see it then that's all... - Seeing her shaking, I thought she was wet. Please forgive me. - Who told you I was shaking? - No one told me, I... saw this. - Of course, rain and wind must be cold, cold makes people shiver, there's nothing strange about that. The guy ran his hand through his hair. - It's just that you don't see why you say that, why are you so angry? Bang Lang thought to himself, this day is truly a day of trouble, encountering all kinds of things and not being angry because little Quynh Anh ran into this damn guy. Bang Lang got angry: - Am I angry? Why are you talking all about imagination? - She's not angry right away, there's nothing "noisy" about. Her voice was full of resentment: - Do you know you just caused me trouble? The guy was confused. - Why is such a strange thing happening? Bang Lang hugged his briefcase to his chest, looking up at the tamarind branch. - There you are! If you sow the wind, one day you will encounter a storm. - Oh my! What did Bang Lang say? Then the guy explained. - To be honest, if you sow... whatever Bang Lang said, Heaven's Thunder will hit you, break your neck, and give you a headache. - Why bother with a broken neck and a head tumor? - But... - You're such a gossip. The guy smiled brightly. - Thank you, little one. Bang Lang felt a tickle in his intestines as if there were ants crawling. - Suddenly thanking people, why are you so ungrateful? The guy scratched his head. - Because Bang Lang doesn't know, everyone criticizes me for being lazy, only Bang Lang praises me for being rude. Bang Lang couldn't hold back his laughter anymore. - You say it's a compliment when you say it's a compliment, you're such a... stupid person. - To me, those things are not important. The guy stood there looking so pitiful. The rain gradually subsided, Bang Lang started to walk, he looked idly at the windy sky. - Do you know? Bang Lang is a purple flower that wilts extremely quickly when plucked. - What does what you say have to do with me? Bang Lang hurriedly walked like he was running. The boy stopped and looked bewildered. Bang Lang heard someone calling him in the cafe. As soon as he stopped the bike, Bang Lang caught a glimpse of Quynh Anh. The girl wanted to ride her bike straight but couldn't make it in time. - Come here, little one. Bang Lang parked the car and thought, what the heck, I always see this "little guy" everywhere I go. Quynh Anh urged: - Come here and drink water. - I'm not thirsty. - If you don't drink, sit and watch... I'll drink. Quynh Anh held a spoon and stirred a glass of sugarcane juice. - What's wrong, are you sick? - Who told you I was sick? - You can see it at a glance, no need for anyone to say it. His face looked as dull as a chicken swallowing a rubber band. - What are you going to say? My personality hates "sloppy" things. Quynh Anh laughed again, her laugh was not at all girly. - Who knows, there might be some "rogue" stories that you won't be able to forget for the rest of your life. - For me, I forget those things easily. Quynh Anh stared at Bang Lang. - Now I ask "seriously", how is your relationship going? - "Love!" What did you say that was so terrible? - If you don't call it that, then what the hell do you call it? - In your opinion, what is love? Is it true that when we meet and say five or three sentences, we call it love? - It's very possible, if you get hit in the head by "love at first sight". - You're such a... dumb kid who doesn't understand anything. Bang Lang pressed his finger down on the table. - Have you ever been "struck by love at first sight" and you seem so experienced? Quynh Anh replied briefly. - Not yet! Bang Lang burst into laughter. Quynh Anh asked. - What are you laughing at? - I thought... But you put it in the teacher's voice, you really are... - What is it? - He's a... dumb kid. On the way home from school, Bang Lang rode his bike slowly under the tamarind trees. After the rain, the leaves seem to take on new colors. The sky is higher and the sunlight has begun to soften. When passing the post office, Bang Lang looked at the porch, where he used to stand to take shelter from the rain. The streets were still crowded, people were still as busy as every afternoon, Bang Lang felt like he missed something that was not very clear. Something close but far away. Fragile like sadness. Table of contents Lagerstroemia Lagerstroemia Pham Thanh ChuongWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. typed by Ct.Ly Source: Uploaded by friend: Ct.Ly on: October 8, 2004
Bắc Thôn Bến Hoa Hồng Thành phố tôi ở có lưu truyền một câu chuyện. Thoạt nghe không ai tin nhưng mà là chuyện có thật một trăm phần trăm. Đã hai năm nay, cứ đến ngày lễ Valentin (Ngày lễ Tình Yêu), tại nhà chờ xe trong ngõ Tam Nguyên thuộc tuyến xe buýt số mười tám, xuất hiện một người ôm một bó hoa hồng đứng đó. Cứ mỗi đôi tình nhân đứng chờ xe đều được tặng một bông hồng. Thành thử, ngày hôm đó, rất nhiều cặp uyên ương đến nhà chờ ở bến xe này để được tặng hoa lấy may, cầu mong cho tình yêu của mình được bền chặt. Người ở cửa hàng bán hoa cho biết, họ được một người thuê đến đây làm việc đó vào ngày lễ Tình Yêu. Ai cũng biết hoa hồng vào ngày Valentin thường không đủ cung cấp cho người dân thành phố. Rẻ ra thì mỗi bông cũng trên mười đồng. Cả ngày, thường tặng hoa cũng mất hơn chục ngàn đồng. Tuy vậy, không ai biết người đã thuê cửa hàng hoa ấy là ai và vì sao người ấy lại làm như vậy. Nhà văn Lưu Lực Sơn là học trò cũ của tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện đó. Tôi cũng đã mấy lần kể lại cho bạn bè nghe câu chuyện này. Thế rồi từ miệng người này đến tai người kia, câu chuyện cứ truyền lan đi khắp nơi thu hút sự chú ý của người dân thành phố. Một hôm, chuông điện thoại nhà tôi réo liên hồi như giục giã. Người gọi điện thoại cho tôi là Lưu Lực Sơn. Cậu ta báo cho tôi biết đã tìm được người có hành động nghĩa hiệp và kỳ lạ ấy. Người ấy là một cô gái giầu có. Cô buôn bán rèm cửa ở Tô Châu. Cô gái này có tới sáu, bảy cửa hàng khá lớn. Lưu Lực Sơn đã có lần phỏng vấn cô gái này trong hội nghị các doanh nghiệp trẻ. Cô buôn bán rất phát đạt. Chỉ chưa đến nửa năm mà cô đã làm chủ toàn bộ thị trường ở vùng này. Nhưng càng thành đạt trong kinh doanh bao nhiêu thì đời cô càng rủi do bấy nhiêu. Cô mắc bệnh hiểm nghèo vô phương cứu chữa. Cô năm nay ba mươi hai tuổi. Bệnh ung thư ở cô đã chuyển sang giai đoạn cuối, đã di căn khắp cơ thể. Các bác sỹ điều trị cho biết cô chỉ có thể sống được hai tuần lễ nữa là cùng. Chúng tôi đến bệnh viện thăm cô. Bệnh viện này nằm trong thành phố, mới được xây dựng. Không gian ở đây thật sáng sủa, rộng rãi. Những ngôi nhà ba tầng xinh xắn, cực kỳ yên tĩnh, sân của bệnh viện người ta trồng những thảm cỏ mịn như nhung. Nghe đâu cỏ toàn nhập từ nước ngoài về. Toàn cảnh bệnh viện trông như một bức tranh. Thật ưu nhã... Bước vào phòng bệnh, tôi thấy một cô gái nằm bất động, lọt thỏm trong một màu trắng xoá. Cô gấy yếu, nhợt nhạt không còn sinh lực. Sắc mặt tái nhợt và cắm vào mặt cô là mấy thứ ống truyền dịch khiến gương mặt cô trông giống như một con bạch tuộc. Chỉ có đôi mắt là vẫn mở to. Gặp Lưu Lực Sơn, người cô đã quen biết, cô tâm sự với anh. Giọng yếu ớt: -"Cha mẹ đẻ của tôi đã mất từ khi tôi còn nhỏ. Ở đây tôi không có ai là người thân chỉ có cha mẹ nuôi. Lúc này tôi muốn có một người để giãi bày nỗi lòng. Khi làm ăn, buôn bán thì thân ít sơ nhiều, chẳng biết giãi bày cùng ai. Tôi cần một người bạn thật sự. Tôi rất tin anh, mong anh đừng khách khí, hãy coi tôi như một người thân sắp đi vào cõi vĩnh hằng mà cùng tôi tâm sự" Cô vừa nói vừa thở. Lời nói của cô bị đứt đoạn liên tục nhưng tôi vẫn nghe được những lời cô nói. Cô vừa nói với tôi lại như vừa nói với chính mình. Nghe cô nói, tôi sửng sốt thấy câu chuyện của cô vượt hẳn ra ngoài trí tưởng tượng của một nhà văn như tôi. Câu chuyện ly kỳ nhưng lại rất đơn giản. Cô nói tiếp: - "Tôi sống ở thành phố này từ nhỏ. Bố mẹ nuôi tôi là những người rất tốt. Họ rất chiều chuộng tôi nên tôi có điều kiện sống thoải mái tự do có phần buông thả. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi không theo sự phân công công tác của nhà trường mà tự mình xin làm cho một công ty liên doanh với nước ngoài. Khi còn học đại học năm thứ ba, tôi đã có bạn trai. Anh ấy sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học thì không thi đại học mà đi làm trong một nhà máy. Làm được hai năm thì bị đuổi vì anh ấy đánh nhau với giám đốc . Thế là anh ấy đi bụi đời cùng với một lũ đàn em lang thang trên đường phố. Anh ấy khá đẹp trai, sống phóng khoáng, rất ga lăng nen rất hấp dẫn bọn trẻ". Nghỉ một lát, cô nói tiếp: -"Lần ấy, anh cùng với mấy tên đàn em đến trường tôi khiêu vũ. Một tên đàn em ăn cắp túi xách tay của tôi bị bắt vào phòng bảo vệ. Anh ấy đứng ra bênh vực tên đàn em. Thế là cả hai bị dẫn lên đồn cảnh sát. Lúc bị giải đi anh ấy liếc mắt nhìn tôi một lát. Tôi có cảm giác anh ấy là con người bướng bỉnh và bất cần đời. Tuy vây, tôi vẫn đọc ra được từ ánh mắt của anh ấy có điều gì đau buồn lắm khiến tôi không thể nào quên được anh ấy". Cô nhìn tôi một lát rồi kể tiếp: -"Về sau, chúng tôi quen nhau. Biết quan hệ giữa tôi và anh, ai cũng can ngăn kể cả ông cậu ruột của anh ấy. Tôi cũng không hiểu sao ở trong anh có ma lực gì mà hút hồn tôi mạnh mẽ đến như vậy. Dần dần bất chấp tất cả, tôi yêu anh... ANh ấy là người rất ít nói, luôn tỏ ra bất cần, nhưng tình yêu của anh với tôi thì vô cùng sâu sắc và cháy bỏng. Anh yêu tôi rất chân chân tình. Tôi cũng hết lòng yêu thương anh nên anh từ bỏ con đường bụi đời. Thậm chí , anh còn tự học chương trình đại học ngành điện máy. Anh bảo anh rất thích ngành này. Tôi vô cùng mừng cho anh và càng yêu anh hơn..." Cô im lặng một lát rồi kể: -"Ở công ty tôi, công việc bận ngập đầu. Tôi thường phải làm thêm ngoài giờ, rất nhiều hôm phải về khuya. Vì công ty đóng ở ngoại thành nên chúng tôi chỉ đi tuyến xe buýt số mười tám. Tuyến xe này chạy suốt ngày đêm. Hai năm làm việc ở công ty, dù là bão giông, rét mướt hay nóng nực, lúc tôi tan tầm, anh đều đến nhà chờ của bến xe ở ngõ Tam Nguyên đón tôi. Anh có dáng đứng không lẫn vào đâu được. Mỗi lần xe về bến, cứ nhìn cài dáng đứng nghiêng nghiêng là tôi nhận ra anh ngay". -"Cha me nuôi tôi phản đối kịch liệt khi chúng tôi ngỏ ý muốn làm lễ thành hôn. Các cụ chỉ yêu cầu anh phải có việc làm ổn định. Sau này, anh xin được làm một chân thủ kho cho một cửa hàng. Chúng tôi bắt đầu suy nghĩ và lo liệu cho cuộc sống của mình..." "Hôm ấy, tôi phải làm thêm nên về rất muộn. Trời bỗng đổ mưa như trút nước. Tôi nghĩ thế nào anh cũng mang ô ra bến xe đón tôi như mọi khi. Nhưng không, anh đã không đến. Tôi đợi khá lâu và cuối cùng, tôi phải đội mưa về nhà... "Hôm sau, tôi mới biết, anh bị tai nạn ôtô và đã qua đời ngay trên đường ra bến xe đón tôi tối hôm qua. Chỗ anh bị tai nạn chỉ cách nhà chờ của bến xe có mười bước. Khi chết, tay anh còn cầm hai cái ô. Người cậu của anh nói:"Khi cơn mưa ập xuống, anh đã chạy về nhà lấy ô và chạy đi ngay, miệng chỉ kịp nói với người cậu "sợ không kịp"...". Cô rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào nói: -"Lúc ấy tôi không sao khóc được. Cha mẹ nuôi tôi sợ tôi bị điên nên cú giục tôi khóc. Tôi không tin đó là sự thật. Hai ngày sau, tôi mới khóc ra nước mắt. Tôi không tin đó là sự thật. Tôi xin nghỉ không làm ở công ty đó nữa. Bởi vì, mỗi lần đi qua nhà chờ của bến xe tôi vẫn như nhìn thấy anh đang đứng đó, dáng đứng nghiêng nghiêng, vẻ mặt phớt đời lặng lẽ nhìn tôi. Tôi đã quen có anh. Tôi không chịu nổi cảnh sống thiếu anh. Trước đây mỗi khi đi làm về khuya, xuống xe, tôi sà ngay vào vong tay âu yếm của anh. Bây giờ, không còn anh nữa...Tôi cũng đã cố gắng bằng cách xuống trước một bến xem sao nhưng tôi vẫn không chịu được. Về sau, tôi chuyển đi khỏi thành phố đó". "Tôi không sao quên được cái bến xe ấy. Khi kinh doanh phát đạt, có tiền tôi muốn được cầu chúc cho tất cả những người đang yêu nhau gặp nhiều may mắn và hạnh phúc...". * * * Trên đường ra về, tôi hỏi Lưu Lực Sơn: - Em có định viết câu chuyện này không? Lưu Lực Sơn lắc đầu. Tôi rất buồn. Chẳng lẽ Lễ VaLentin sắp tới ở bến xe này lại không có hoa hồng nữa sao ! Hằng ngày, khi đi xe qua bến này, tôi nhìn vào nhà chờ xe đó. Và kìa! Vẫn có một người ôm bó hoa hồng đứng đó và tặng hoa cho các cặp tình nhân. Lấy làm lạ, tôi bảo với Lưu Lực Sơn. Cậu ta điền tĩnh nói: - Em đã mua một trăm bông hoa hồng và nhờ người ở cửa hàng bán hoa ra đứng tặng hoa ở đây đấy thầy ạ! Tôi nghĩ: "Có nên viết câu chuyện này ra hay không và tôi đoán rằng khi câu chuyện này đến với bạn đọc thì ở bến xe này vào Ngày lễ Tình Yêu sẽ đầy hoa hồng...". Mục lục Bến Hoa Hồng Bến Hoa Hồng Bắc ThônChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 18 tháng 8 năm 2005
Bắc Thôn Bến Hoa Hồng Thành phố tôi ở có lưu truyền một câu chuyện. Thoạt nghe không ai tin nhưng mà là chuyện có thật một trăm phần trăm. Đã hai năm nay, cứ đến ngày lễ Valentin (Ngày lễ Tình Yêu), tại nhà chờ xe trong ngõ Tam Nguyên thuộc tuyến xe buýt số mười tám, xuất hiện một người ôm một bó hoa hồng đứng đó. Cứ mỗi đôi tình nhân đứng chờ xe đều được tặng một bông hồng. Thành thử, ngày hôm đó, rất nhiều cặp uyên ương đến nhà chờ ở bến xe này để được tặng hoa lấy may, cầu mong cho tình yêu của mình được bền chặt. Người ở cửa hàng bán hoa cho biết, họ được một người thuê đến đây làm việc đó vào ngày lễ Tình Yêu. Ai cũng biết hoa hồng vào ngày Valentin thường không đủ cung cấp cho người dân thành phố. Rẻ ra thì mỗi bông cũng trên mười đồng. Cả ngày, thường tặng hoa cũng mất hơn chục ngàn đồng. Tuy vậy, không ai biết người đã thuê cửa hàng hoa ấy là ai và vì sao người ấy lại làm như vậy. Nhà văn Lưu Lực Sơn là học trò cũ của tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện đó. Tôi cũng đã mấy lần kể lại cho bạn bè nghe câu chuyện này. Thế rồi từ miệng người này đến tai người kia, câu chuyện cứ truyền lan đi khắp nơi thu hút sự chú ý của người dân thành phố. Một hôm, chuông điện thoại nhà tôi réo liên hồi như giục giã. Người gọi điện thoại cho tôi là Lưu Lực Sơn. Cậu ta báo cho tôi biết đã tìm được người có hành động nghĩa hiệp và kỳ lạ ấy. Người ấy là một cô gái giầu có. Cô buôn bán rèm cửa ở Tô Châu. Cô gái này có tới sáu, bảy cửa hàng khá lớn. Lưu Lực Sơn đã có lần phỏng vấn cô gái này trong hội nghị các doanh nghiệp trẻ. Cô buôn bán rất phát đạt. Chỉ chưa đến nửa năm mà cô đã làm chủ toàn bộ thị trường ở vùng này. Nhưng càng thành đạt trong kinh doanh bao nhiêu thì đời cô càng rủi do bấy nhiêu. Cô mắc bệnh hiểm nghèo vô phương cứu chữa. Cô năm nay ba mươi hai tuổi. Bệnh ung thư ở cô đã chuyển sang giai đoạn cuối, đã di căn khắp cơ thể. Các bác sỹ điều trị cho biết cô chỉ có thể sống được hai tuần lễ nữa là cùng. Chúng tôi đến bệnh viện thăm cô. Bệnh viện này nằm trong thành phố, mới được xây dựng. Không gian ở đây thật sáng sủa, rộng rãi. Những ngôi nhà ba tầng xinh xắn, cực kỳ yên tĩnh, sân của bệnh viện người ta trồng những thảm cỏ mịn như nhung. Nghe đâu cỏ toàn nhập từ nước ngoài về. Toàn cảnh bệnh viện trông như một bức tranh. Thật ưu nhã... Bước vào phòng bệnh, tôi thấy một cô gái nằm bất động, lọt thỏm trong một màu trắng xoá. Cô gấy yếu, nhợt nhạt không còn sinh lực. Sắc mặt tái nhợt và cắm vào mặt cô là mấy thứ ống truyền dịch khiến gương mặt cô trông giống như một con bạch tuộc. Chỉ có đôi mắt là vẫn mở to. Gặp Lưu Lực Sơn, người cô đã quen biết, cô tâm sự với anh. Giọng yếu ớt: -"Cha mẹ đẻ của tôi đã mất từ khi tôi còn nhỏ. Ở đây tôi không có ai là người thân chỉ có cha mẹ nuôi. Lúc này tôi muốn có một người để giãi bày nỗi lòng. Khi làm ăn, buôn bán thì thân ít sơ nhiều, chẳng biết giãi bày cùng ai. Tôi cần một người bạn thật sự. Tôi rất tin anh, mong anh đừng khách khí, hãy coi tôi như một người thân sắp đi vào cõi vĩnh hằng mà cùng tôi tâm sự" Cô vừa nói vừa thở. Lời nói của cô bị đứt đoạn liên tục nhưng tôi vẫn nghe được những lời cô nói. Cô vừa nói với tôi lại như vừa nói với chính mình. Nghe cô nói, tôi sửng sốt thấy câu chuyện của cô vượt hẳn ra ngoài trí tưởng tượng của một nhà văn như tôi. Câu chuyện ly kỳ nhưng lại rất đơn giản. Cô nói tiếp: - "Tôi sống ở thành phố này từ nhỏ. Bố mẹ nuôi tôi là những người rất tốt. Họ rất chiều chuộng tôi nên tôi có điều kiện sống thoải mái tự do có phần buông thả. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi không theo sự phân công công tác của nhà trường mà tự mình xin làm cho một công ty liên doanh với nước ngoài. Khi còn học đại học năm thứ ba, tôi đã có bạn trai. Anh ấy sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học thì không thi đại học mà đi làm trong một nhà máy. Làm được hai năm thì bị đuổi vì anh ấy đánh nhau với giám đốc . Thế là anh ấy đi bụi đời cùng với một lũ đàn em lang thang trên đường phố. Anh ấy khá đẹp trai, sống phóng khoáng, rất ga lăng nen rất hấp dẫn bọn trẻ". Nghỉ một lát, cô nói tiếp: -"Lần ấy, anh cùng với mấy tên đàn em đến trường tôi khiêu vũ. Một tên đàn em ăn cắp túi xách tay của tôi bị bắt vào phòng bảo vệ. Anh ấy đứng ra bênh vực tên đàn em. Thế là cả hai bị dẫn lên đồn cảnh sát. Lúc bị giải đi anh ấy liếc mắt nhìn tôi một lát. Tôi có cảm giác anh ấy là con người bướng bỉnh và bất cần đời. Tuy vây, tôi vẫn đọc ra được từ ánh mắt của anh ấy có điều gì đau buồn lắm khiến tôi không thể nào quên được anh ấy". Cô nhìn tôi một lát rồi kể tiếp: -"Về sau, chúng tôi quen nhau. Biết quan hệ giữa tôi và anh, ai cũng can ngăn kể cả ông cậu ruột của anh ấy. Tôi cũng không hiểu sao ở trong anh có ma lực gì mà hút hồn tôi mạnh mẽ đến như vậy. Dần dần bất chấp tất cả, tôi yêu anh... ANh ấy là người rất ít nói, luôn tỏ ra bất cần, nhưng tình yêu của anh với tôi thì vô cùng sâu sắc và cháy bỏng. Anh yêu tôi rất chân chân tình. Tôi cũng hết lòng yêu thương anh nên anh từ bỏ con đường bụi đời. Thậm chí , anh còn tự học chương trình đại học ngành điện máy. Anh bảo anh rất thích ngành này. Tôi vô cùng mừng cho anh và càng yêu anh hơn..." Cô im lặng một lát rồi kể: -"Ở công ty tôi, công việc bận ngập đầu. Tôi thường phải làm thêm ngoài giờ, rất nhiều hôm phải về khuya. Vì công ty đóng ở ngoại thành nên chúng tôi chỉ đi tuyến xe buýt số mười tám. Tuyến xe này chạy suốt ngày đêm. Hai năm làm việc ở công ty, dù là bão giông, rét mướt hay nóng nực, lúc tôi tan tầm, anh đều đến nhà chờ của bến xe ở ngõ Tam Nguyên đón tôi. Anh có dáng đứng không lẫn vào đâu được. Mỗi lần xe về bến, cứ nhìn cài dáng đứng nghiêng nghiêng là tôi nhận ra anh ngay". -"Cha me nuôi tôi phản đối kịch liệt khi chúng tôi ngỏ ý muốn làm lễ thành hôn. Các cụ chỉ yêu cầu anh phải có việc làm ổn định. Sau này, anh xin được làm một chân thủ kho cho một cửa hàng. Chúng tôi bắt đầu suy nghĩ và lo liệu cho cuộc sống của mình..." "Hôm ấy, tôi phải làm thêm nên về rất muộn. Trời bỗng đổ mưa như trút nước. Tôi nghĩ thế nào anh cũng mang ô ra bến xe đón tôi như mọi khi. Nhưng không, anh đã không đến. Tôi đợi khá lâu và cuối cùng, tôi phải đội mưa về nhà... "Hôm sau, tôi mới biết, anh bị tai nạn ôtô và đã qua đời ngay trên đường ra bến xe đón tôi tối hôm qua. Chỗ anh bị tai nạn chỉ cách nhà chờ của bến xe có mười bước. Khi chết, tay anh còn cầm hai cái ô. Người cậu của anh nói:"Khi cơn mưa ập xuống, anh đã chạy về nhà lấy ô và chạy đi ngay, miệng chỉ kịp nói với người cậu "sợ không kịp"...". Cô rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào nói: -"Lúc ấy tôi không sao khóc được. Cha mẹ nuôi tôi sợ tôi bị điên nên cú giục tôi khóc. Tôi không tin đó là sự thật. Hai ngày sau, tôi mới khóc ra nước mắt. Tôi không tin đó là sự thật. Tôi xin nghỉ không làm ở công ty đó nữa. Bởi vì, mỗi lần đi qua nhà chờ của bến xe tôi vẫn như nhìn thấy anh đang đứng đó, dáng đứng nghiêng nghiêng, vẻ mặt phớt đời lặng lẽ nhìn tôi. Tôi đã quen có anh. Tôi không chịu nổi cảnh sống thiếu anh. Trước đây mỗi khi đi làm về khuya, xuống xe, tôi sà ngay vào vong tay âu yếm của anh. Bây giờ, không còn anh nữa...Tôi cũng đã cố gắng bằng cách xuống trước một bến xem sao nhưng tôi vẫn không chịu được. Về sau, tôi chuyển đi khỏi thành phố đó". "Tôi không sao quên được cái bến xe ấy. Khi kinh doanh phát đạt, có tiền tôi muốn được cầu chúc cho tất cả những người đang yêu nhau gặp nhiều may mắn và hạnh phúc...". * * * Trên đường ra về, tôi hỏi Lưu Lực Sơn: - Em có định viết câu chuyện này không? Lưu Lực Sơn lắc đầu. Tôi rất buồn. Chẳng lẽ Lễ VaLentin sắp tới ở bến xe này lại không có hoa hồng nữa sao ! Hằng ngày, khi đi xe qua bến này, tôi nhìn vào nhà chờ xe đó. Và kìa! Vẫn có một người ôm bó hoa hồng đứng đó và tặng hoa cho các cặp tình nhân. Lấy làm lạ, tôi bảo với Lưu Lực Sơn. Cậu ta điền tĩnh nói: - Em đã mua một trăm bông hoa hồng và nhờ người ở cửa hàng bán hoa ra đứng tặng hoa ở đây đấy thầy ạ! Tôi nghĩ: "Có nên viết câu chuyện này ra hay không và tôi đoán rằng khi câu chuyện này đến với bạn đọc thì ở bến xe này vào Ngày lễ Tình Yêu sẽ đầy hoa hồng...". Mục lục Bến Hoa Hồng Bến Hoa Hồng Bắc ThônChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 18 tháng 8 năm 2005
Phương Anh Bến Hồi Ngạn Làng ven sông ấy được gọi là bến Hồi Ngạn. Gọi như vậy vì dường như ai sinh ra ở bến sông này, dù có đi đâu cũng chẳng được bao lâu đã phải quay lại đó. Mấy chị lên thành phố học, học chưa xong đã ôm cái bụng to mà về. Những đứa trẻ sinh ra, con trai đi làm chốn khác, được dăm ba năm cũng quay lại, còn con gái, đứa nào ở làng không sao, chứ hễ bước chân lên đò sang bờ bên kia, rồi lại giống mẹ nó, ôm cái bụng mà về mảnh đất này sinh con. Đến nỗi, chửa hoang là chuyện bình thường ở đây, nhà nào cũng có gái chửa hoang. Dân số trong làng thì ngày một đông lên. Chỉ trừ nhà ông Tư, có mỗi hai ông cháu. Ông và đứa cháu ngoại tên Linh. Người làng đồn rằng, đấy là cha đẻ của Linh, chứ không phải ông ngoại. Ông Tư không phải người làng này. Cách đây 18 năm, có người đàn bà chửa hoang tới làng này sinh con, người làng thương tình mà góp cơm góp cháo nuôi hai mẹ con. Đứa bé được 3 tháng, bà mẹ bỏ đi thì ông Tư đến, rồi nuôi đứa nhỏ suốt ngần ấy năm. Sáng, ông sang bên sông buôn gạo, rồi đi vào làng làm mộc thuê cho người ta. Vài ba năm sau, ông dành tiền mở hẳn xưởng mộc riêng, Rồi đến năm Linh lên 13 tuổi, ông đã có đủ tiền mở được hẳn một cửa hàng bán đồ nội thất. Ông kiếm ra tiền, ít nhất cũng là giàu nhất bến Hồi Ngạn, là đủ tiền cho Linh được ăn diện, cho Linh học trường chuyên của tỉnh. Ấy thế mà ông không chuyển đi, cứ sống cùng Linh trên cái mảnh đất buồn rầu ấy. - Sao mình không chuyển nhà sang bên kia sông hả ông?- Ở đó nguy hiểm! - Nguy hiểm gì đâu ông? Bên đó hiện đại, giao tiếp nhiều mới khôn. Ở đây toàn người ít học, với lại, cái tiếng của làng này nó…- Biết thế nào là khôn, là dại. Đây là mảnh đất của cháu, hãy nhớ rằng nếu không có nó, cháu đã không được chào đời ! - ông giận dữ quát Linh. Linh không dám nói gì nữa. Ông ngoại nói đúng. Không có bến Hồi Ngạn này, mẹ Linh đã chết sau khi bị hiếp dâm tập thể. Bà không cả biết bố của Linh là ai. Vậy mà xã hội độc ác, thay vì thương và bao bọc, lại dè bỉu, khinh thường bà. Bà đứng trên sông Cầu, nhảy xuống nhưng không chết. Bà được một tiểu thương cứu. Là ông Tư. Sau khi kể lại sự tình, ông Tư kêu bà đến làng Hồi Ngạn, ông phải đi công tác vài tháng, sau đó ông sẽ tới. Theo hẹn, ông đến. Bà bỏ đi, để lại Linh cho ông. Ông nuôi Linh tới tận bây giờ. Nhưng ông chỉ kể, vì có làng Hồi Ngạn mới cưu mang Linh, chứ không bao giờ kể cho Linh nghe sự thật.Linh hỏi mẹ đâu. Ông bảo chết rồi. Chết rồi chôn ở đâu? Chết đuối. Nghe đâu chết ở tận Thái Nguyên. Xác trôi về Bắc Ninh, Bắc Giang rồi cũng nên. Sao ông không đi tìm xác mẹ? Biết nơi nào mà tìm, hay mày để ông tự tử theo dòng sông này nhé, rồi đoàn tụ với mẹ mày trong dòng nước cùng mẹ? Linh im lặng, vì ông ngoại là người thân còn lại duy nhất của nó. Bất giác Linh sợ. Ngày nào ông ngoại cũng phải đi qua sông. Linh cũng thế, trường học ở tận bờ bên kia. Nhỡ đâu… dòng nước… chết đuối… Rồi nó khóc, khóc hu hu như một đứa trẻ. Ông ngoại bắt gặp, kêu Linh là "Cháu lấy chồng đi! - Lấy ai.- Thằng hàng xóm này này, ông trông nó yêu cháu lắm mà. Nhà ta lại giàu có hơn, nó sẽ sẵn sàng lấy cháu. Mai ông sẽ qua nhà nó hỏi. - Không, cháu không lấy chồng bây giờ. - Vậy tính bao giờ? - Cháu không biết, khi nào có người yêu. - Yêu là cái thứ rằng mô ni chứ? Lấy chồng đi! - 18 tuổi đã bắt cháu lấy chồng, thế ông nuôi cháu tử tế thế này làm gì cho phí công?". Ông Tư chiều Linh hết mực. Khi cô vào tuổi dậy thì, nghe ai nói cái gì tốt cho da, cho tóc… ông cũng mua về bắt cô cháu gái ăn. Linh xinh, da trắng, môi đỏ, người thon thả, dong dỏng cao, tóc dài và mượt. Ông cho Linh học trường chuyên, trả cả tiền giá cao cho gia sư về dạy riêng cho Linh. Cho nên, Linh luôn đứng trong top 5 của trường. Họp phụ huynh, ông hãnh diện lắm. Tháng tư, thi thử đại học, Linh đạt 29 điểm, cao nhất trường. Thi tốt nghiệp, đạt thủ khoa, 58 điểm. Vậy mà giờ ông bắt Linh lấy chồng sao? - Ông không cho cháu thi đại học à ? - Lấy chồng rồi thi. Con gái đẹp mà lấy chồng muộn thì thể nào cũng khổ. Cháu cứ lấy chồng cho nó ám hơi đã, rồi lên HN mà học. Tết thì về thăm chồng và ông. Linh khóc nức nở, không nghe. Lúc chiều ông Tư đi xem bói, người ta nói bây giờ Linh không lấy chồng thì sẽ bạc mệnh. Ông Tư lo con bé ra thành phố học sẽ bị cám dỗ, nhỡ lại ôm bụng về làng, nên bắt cháu cưới chồng để coi như mình yên phận rồi, chỉ chú tâm vào học hành thôi. Linh không chịu, bỏ nhà ra đi, gọi đò sang sông. Linh vào công viên thành phố khóc nức nở. Là Vũ, Vũ học cùng trường nhưng không quen biết. Bức xúc, và sợ hãi, Linh kể lại mọi việc. Vũ đưa Linh về nhà, bảo Linh ở đó vài hôm cho bình tâm đã. Vũ đi thưa chuyện với ông bà nội, ông bà đồng ý cho Linh ở lại và sẽ nói khó với bố mẹ Vũ. Buổi tối, bố mẹ về và đồng thuận. Linh yên tâm ở đó học thi.Gần tới ngày thi đại học, Linh mới dám về. Ông Tư không có nhà, Linh vào lấy đồ đạc và giấy tờ để chuẩn bị lên HN thi. Anh hàng xóm chạy qua, Linh toan hỏi thăm về ông ngoại thì anh ta ôm chầm lấy Linh. Cô chống cự nhưng không được, hắn bịt chặt miệng cô lại, rồi giật cúc áo cô ra. Từng chiếc cúc áo rơi xuống nền nhà. Tanh tách. Đau xót. Anh ta chợt dừng lại. Quành tay ra đằng sau, toan dứt chiếc áo con của Linh ra thì Vũ xuất hiện, đánh cho hắn ngất đi. Rồi ôm chặt Linh, giúp cô mặc lại áo, rồi cùng Linh vụt chạy. Tới bến sông, ông Tư đã đứng sẵn ở đó. Ông đưa cho Linh chiếc thẻ ATM "ông đặt trong đó một khoản tiền khá lớn rồi, con lên thành phố, đừng về đây nữa. Nhớ ông thì điện thoại về, ông lên thăm. Hàng tháng, ông sẽ đều đặn gửi tiền vào tài khoản cho con. Nhớ là đừng bao giờ về lại đây nữa". Vài tháng sau, Linh đỗ đại học, thừa 3 điểm. Linh hạnh phúc gọi điện thoại cho ông, ông chúc mừng và dặn Linh tìm chỗ trọ. Nhưng Vũ thì trượt đại học, ở lại quê ôn tiếp. Linh cứ thế ở Hà Nội, chăm chỉ học hành, rất ít tiếp xúc với những người xung quanh. Gần thi học kỳ, Vũ tới thăm, và dặn Linh ra rút hết tiền ở thẻ ATM, rồi đưa cho Linh chiếc thẻ mới, bảo đừng dùng thẻ cũ nữa. Cảm thấy có điều gì không hay, Linh gặng hỏi nhưng Vũ không trả lời. Linh gọi điện về cho ông ngoại mà không được. Linh bỏ thi, trốn về quê tìm ông, mới được tin dữ rằng ông Tư là trùm ma tuý đã bao nhiêu năm rồi. Ông mới bị bắt, và đã tự tử trên đường đến trại giam. Linh đôn đáo khắp nơi xem xác ông được chôn ở đâu nhưng bế tắc. Linh nhìn sang đường, gã hàng xóm ở bến Hồi Ngạn đứng đó. Linh hoảng hốt bỏ chạy, chiếc xe lao tới sắp đâm sầm vào Linh, Vũ ào người ra cứu cô. Linh thoát chết, nhưng chiếc xe ô tô đã đè ngang người Vũ. Linh gào thét bên xác anh.Đám ma Vũ, Linh ngất lên ngất xuống. Gia đình Vũ đổ tội cho Linh. Cũng phải, tất cả là tại Linh. Nhìn những nắm đất ném lên nắp quan tài, Linh cũng muốn nhảy xuống đó mà bị cản lại. Hôm ý là 23 tháng Chạp, mưa, rét, ướt, lạnh. Linh trở lại thành phố, trả cho chủ nhà một khoản tiền để cô được đón Tết trong phòng trọ. Tết ra, Linh lên phòng đào tạo đóng tiền thi lại. Lúc về, bất giác cô bị ngất đi ở bến xe bus. Tỉnh dậy, cô thấy mình đang trong bệnh viện. Bác sĩ kể cô đã nằm đây hơn 1 tuần rồi, và công an đang bảo vệ cô. - Gì cơ? Công an ư?- Vâng, họ tìm thấy cô trong nhà nghỉ. Người đàn ông ấy đã chết.Linh không hiểu chuyện gì đã diễn ra, cô hoảng loạn, hét ầm ĩ. Người ta chuyển cô tới đến khoa thần kinh. Công an chỉ đi sau khi họ đã chứng minh được người đàn ông kia tự tử. Linh nhìn hình ảnh nạn nhân: là gã hàng xóm. Linh khóc thét lên. Bác sĩ kết luận sau khi bị hãm hiếp, cô đã không còn được là người bình thường. Linh trở về làng Hồi Ngạn, chỉ duy nhất ở nơi ấy, cái bụng lùm lùm này mới không bị dè bỉu là chửa hoang, và sắp tới, sẽ lại có một đứa trẻ ra đời trên cái bến ấy. Mục lục Bến Hồi Ngạn Bến Hồi Ngạn Phương AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: eVanĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 13 tháng 12 năm 2008
Phương Anh Bến Hồi Ngạn Làng ven sông ấy được gọi là bến Hồi Ngạn. Gọi như vậy vì dường như ai sinh ra ở bến sông này, dù có đi đâu cũng chẳng được bao lâu đã phải quay lại đó. Mấy chị lên thành phố học, học chưa xong đã ôm cái bụng to mà về. Những đứa trẻ sinh ra, con trai đi làm chốn khác, được dăm ba năm cũng quay lại, còn con gái, đứa nào ở làng không sao, chứ hễ bước chân lên đò sang bờ bên kia, rồi lại giống mẹ nó, ôm cái bụng mà về mảnh đất này sinh con. Đến nỗi, chửa hoang là chuyện bình thường ở đây, nhà nào cũng có gái chửa hoang. Dân số trong làng thì ngày một đông lên. Chỉ trừ nhà ông Tư, có mỗi hai ông cháu. Ông và đứa cháu ngoại tên Linh. Người làng đồn rằng, đấy là cha đẻ của Linh, chứ không phải ông ngoại. Ông Tư không phải người làng này. Cách đây 18 năm, có người đàn bà chửa hoang tới làng này sinh con, người làng thương tình mà góp cơm góp cháo nuôi hai mẹ con. Đứa bé được 3 tháng, bà mẹ bỏ đi thì ông Tư đến, rồi nuôi đứa nhỏ suốt ngần ấy năm. Sáng, ông sang bên sông buôn gạo, rồi đi vào làng làm mộc thuê cho người ta. Vài ba năm sau, ông dành tiền mở hẳn xưởng mộc riêng, Rồi đến năm Linh lên 13 tuổi, ông đã có đủ tiền mở được hẳn một cửa hàng bán đồ nội thất. Ông kiếm ra tiền, ít nhất cũng là giàu nhất bến Hồi Ngạn, là đủ tiền cho Linh được ăn diện, cho Linh học trường chuyên của tỉnh. Ấy thế mà ông không chuyển đi, cứ sống cùng Linh trên cái mảnh đất buồn rầu ấy. - Sao mình không chuyển nhà sang bên kia sông hả ông?- Ở đó nguy hiểm! - Nguy hiểm gì đâu ông? Bên đó hiện đại, giao tiếp nhiều mới khôn. Ở đây toàn người ít học, với lại, cái tiếng của làng này nó…- Biết thế nào là khôn, là dại. Đây là mảnh đất của cháu, hãy nhớ rằng nếu không có nó, cháu đã không được chào đời ! - ông giận dữ quát Linh. Linh không dám nói gì nữa. Ông ngoại nói đúng. Không có bến Hồi Ngạn này, mẹ Linh đã chết sau khi bị hiếp dâm tập thể. Bà không cả biết bố của Linh là ai. Vậy mà xã hội độc ác, thay vì thương và bao bọc, lại dè bỉu, khinh thường bà. Bà đứng trên sông Cầu, nhảy xuống nhưng không chết. Bà được một tiểu thương cứu. Là ông Tư. Sau khi kể lại sự tình, ông Tư kêu bà đến làng Hồi Ngạn, ông phải đi công tác vài tháng, sau đó ông sẽ tới. Theo hẹn, ông đến. Bà bỏ đi, để lại Linh cho ông. Ông nuôi Linh tới tận bây giờ. Nhưng ông chỉ kể, vì có làng Hồi Ngạn mới cưu mang Linh, chứ không bao giờ kể cho Linh nghe sự thật.Linh hỏi mẹ đâu. Ông bảo chết rồi. Chết rồi chôn ở đâu? Chết đuối. Nghe đâu chết ở tận Thái Nguyên. Xác trôi về Bắc Ninh, Bắc Giang rồi cũng nên. Sao ông không đi tìm xác mẹ? Biết nơi nào mà tìm, hay mày để ông tự tử theo dòng sông này nhé, rồi đoàn tụ với mẹ mày trong dòng nước cùng mẹ? Linh im lặng, vì ông ngoại là người thân còn lại duy nhất của nó. Bất giác Linh sợ. Ngày nào ông ngoại cũng phải đi qua sông. Linh cũng thế, trường học ở tận bờ bên kia. Nhỡ đâu… dòng nước… chết đuối… Rồi nó khóc, khóc hu hu như một đứa trẻ. Ông ngoại bắt gặp, kêu Linh là "Cháu lấy chồng đi! - Lấy ai.- Thằng hàng xóm này này, ông trông nó yêu cháu lắm mà. Nhà ta lại giàu có hơn, nó sẽ sẵn sàng lấy cháu. Mai ông sẽ qua nhà nó hỏi. - Không, cháu không lấy chồng bây giờ. - Vậy tính bao giờ? - Cháu không biết, khi nào có người yêu. - Yêu là cái thứ rằng mô ni chứ? Lấy chồng đi! - 18 tuổi đã bắt cháu lấy chồng, thế ông nuôi cháu tử tế thế này làm gì cho phí công?". Ông Tư chiều Linh hết mực. Khi cô vào tuổi dậy thì, nghe ai nói cái gì tốt cho da, cho tóc… ông cũng mua về bắt cô cháu gái ăn. Linh xinh, da trắng, môi đỏ, người thon thả, dong dỏng cao, tóc dài và mượt. Ông cho Linh học trường chuyên, trả cả tiền giá cao cho gia sư về dạy riêng cho Linh. Cho nên, Linh luôn đứng trong top 5 của trường. Họp phụ huynh, ông hãnh diện lắm. Tháng tư, thi thử đại học, Linh đạt 29 điểm, cao nhất trường. Thi tốt nghiệp, đạt thủ khoa, 58 điểm. Vậy mà giờ ông bắt Linh lấy chồng sao? - Ông không cho cháu thi đại học à ? - Lấy chồng rồi thi. Con gái đẹp mà lấy chồng muộn thì thể nào cũng khổ. Cháu cứ lấy chồng cho nó ám hơi đã, rồi lên HN mà học. Tết thì về thăm chồng và ông. Linh khóc nức nở, không nghe. Lúc chiều ông Tư đi xem bói, người ta nói bây giờ Linh không lấy chồng thì sẽ bạc mệnh. Ông Tư lo con bé ra thành phố học sẽ bị cám dỗ, nhỡ lại ôm bụng về làng, nên bắt cháu cưới chồng để coi như mình yên phận rồi, chỉ chú tâm vào học hành thôi. Linh không chịu, bỏ nhà ra đi, gọi đò sang sông. Linh vào công viên thành phố khóc nức nở. Là Vũ, Vũ học cùng trường nhưng không quen biết. Bức xúc, và sợ hãi, Linh kể lại mọi việc. Vũ đưa Linh về nhà, bảo Linh ở đó vài hôm cho bình tâm đã. Vũ đi thưa chuyện với ông bà nội, ông bà đồng ý cho Linh ở lại và sẽ nói khó với bố mẹ Vũ. Buổi tối, bố mẹ về và đồng thuận. Linh yên tâm ở đó học thi.Gần tới ngày thi đại học, Linh mới dám về. Ông Tư không có nhà, Linh vào lấy đồ đạc và giấy tờ để chuẩn bị lên HN thi. Anh hàng xóm chạy qua, Linh toan hỏi thăm về ông ngoại thì anh ta ôm chầm lấy Linh. Cô chống cự nhưng không được, hắn bịt chặt miệng cô lại, rồi giật cúc áo cô ra. Từng chiếc cúc áo rơi xuống nền nhà. Tanh tách. Đau xót. Anh ta chợt dừng lại. Quành tay ra đằng sau, toan dứt chiếc áo con của Linh ra thì Vũ xuất hiện, đánh cho hắn ngất đi. Rồi ôm chặt Linh, giúp cô mặc lại áo, rồi cùng Linh vụt chạy. Tới bến sông, ông Tư đã đứng sẵn ở đó. Ông đưa cho Linh chiếc thẻ ATM "ông đặt trong đó một khoản tiền khá lớn rồi, con lên thành phố, đừng về đây nữa. Nhớ ông thì điện thoại về, ông lên thăm. Hàng tháng, ông sẽ đều đặn gửi tiền vào tài khoản cho con. Nhớ là đừng bao giờ về lại đây nữa". Vài tháng sau, Linh đỗ đại học, thừa 3 điểm. Linh hạnh phúc gọi điện thoại cho ông, ông chúc mừng và dặn Linh tìm chỗ trọ. Nhưng Vũ thì trượt đại học, ở lại quê ôn tiếp. Linh cứ thế ở Hà Nội, chăm chỉ học hành, rất ít tiếp xúc với những người xung quanh. Gần thi học kỳ, Vũ tới thăm, và dặn Linh ra rút hết tiền ở thẻ ATM, rồi đưa cho Linh chiếc thẻ mới, bảo đừng dùng thẻ cũ nữa. Cảm thấy có điều gì không hay, Linh gặng hỏi nhưng Vũ không trả lời. Linh gọi điện về cho ông ngoại mà không được. Linh bỏ thi, trốn về quê tìm ông, mới được tin dữ rằng ông Tư là trùm ma tuý đã bao nhiêu năm rồi. Ông mới bị bắt, và đã tự tử trên đường đến trại giam. Linh đôn đáo khắp nơi xem xác ông được chôn ở đâu nhưng bế tắc. Linh nhìn sang đường, gã hàng xóm ở bến Hồi Ngạn đứng đó. Linh hoảng hốt bỏ chạy, chiếc xe lao tới sắp đâm sầm vào Linh, Vũ ào người ra cứu cô. Linh thoát chết, nhưng chiếc xe ô tô đã đè ngang người Vũ. Linh gào thét bên xác anh.Đám ma Vũ, Linh ngất lên ngất xuống. Gia đình Vũ đổ tội cho Linh. Cũng phải, tất cả là tại Linh. Nhìn những nắm đất ném lên nắp quan tài, Linh cũng muốn nhảy xuống đó mà bị cản lại. Hôm ý là 23 tháng Chạp, mưa, rét, ướt, lạnh. Linh trở lại thành phố, trả cho chủ nhà một khoản tiền để cô được đón Tết trong phòng trọ. Tết ra, Linh lên phòng đào tạo đóng tiền thi lại. Lúc về, bất giác cô bị ngất đi ở bến xe bus. Tỉnh dậy, cô thấy mình đang trong bệnh viện. Bác sĩ kể cô đã nằm đây hơn 1 tuần rồi, và công an đang bảo vệ cô. - Gì cơ? Công an ư?- Vâng, họ tìm thấy cô trong nhà nghỉ. Người đàn ông ấy đã chết.Linh không hiểu chuyện gì đã diễn ra, cô hoảng loạn, hét ầm ĩ. Người ta chuyển cô tới đến khoa thần kinh. Công an chỉ đi sau khi họ đã chứng minh được người đàn ông kia tự tử. Linh nhìn hình ảnh nạn nhân: là gã hàng xóm. Linh khóc thét lên. Bác sĩ kết luận sau khi bị hãm hiếp, cô đã không còn được là người bình thường. Linh trở về làng Hồi Ngạn, chỉ duy nhất ở nơi ấy, cái bụng lùm lùm này mới không bị dè bỉu là chửa hoang, và sắp tới, sẽ lại có một đứa trẻ ra đời trên cái bến ấy. Mục lục Bến Hồi Ngạn Bến Hồi Ngạn Phương AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: eVanĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 13 tháng 12 năm 2008
Áo Vàng Bến Mơ (truyện ngắn cuối cùng của tuyển tập Những Người Đàn Bà Tuổi Thìn) Sáng nay là ngày đầu tiên Thy đến với Hội Các Bà Mẹ bị Ung Thư. Từ ngày về hưu, Thy tự thảo cho mình một thời khóa biểu thật bận rộn, để thấy ngày bớt dài và thật ra để khỏi phải ở nhà lẩn quẩn với chồng. Cả hai đều cần những khoảng không gian riêng tư trong ngày. Ông xã của Thy ít đi ra ngoài, chỉ thích liên lạc trao đổi với các bạn bè cũ qua Net, và thỉnh thoảng làm vài bài thơ góp mặt với Hội tương tế trường xưa. Laura làm cùng hãng với Thy ngày trước, có người chị qua đời vì ung thư vú, từ đó cô bắt đầu hăng say tham gia vào các chương trình gây quỷ của hội này. Phần Thy cũng mới vừa mất một người bạn thân bởi căn bệnh ung thư quái ác này , và Thy muốn làm một cái gì đó để tưởng niệm người bạn mình... Hội tổ chức một buổi văn nghệ trưa thứ bảy, Laura sắp xếp cho Thy lo phần đưa mỗi tiết mục lên sân khấu. Cô nàng báo trước, Thy sẽ gặp một cô người Việt nam, mà Laura chắc chắn lúc làm việc với cô, Thy sẽ hài lòng... Sợ làm mất giấc ngủ của chồng nên Thy rón rén thay áo quần, trang điễm qua loa, viết vài chữ để lại trên bàn cho Quân, dặn dò hâm thức ăn cho buổi trưa, rồi vội vã rời nhà. Thy cần lên sớm để Laura chỉ dẫn công việc sẽ làm. Cuối tuần, xe buýt thưa thớt nên phải mất gần cả tiếng đồng hồ mới đến nơi, nhìn quang cảnh rộn ràng, người tới lui tấp nập,Thy cũng nôn nao... Laura mừng rỡ vẫy tay chào Thy, rồi quay mặt vào trong kêu: Ann nè, Kathy đến rồi... Một khuôn mặt ló ra từ sau cánh màn sân khấu, trả lời vội vã: - Chờ cho chút nhé. Phải đặt chiếc bàn này đúng chổ cái đã... Thế nhưng nữa giây sau, cô ta đã nhảy xuống từ sân khấu đi về phía Laura đang chờ... Một điều bất ngờ, oan gia gặp lại nhau đây sao? Thy trầm tĩnh chờ Laura giới thiệu mình với Ann, như chưa hề quen biết. Một cái bắt tay lịch sự, rồi Laura bàn giao nàng lại cho Ann. Một chút lúng túng trôi đi, hai người đàn bà trở về với thực tại...Hoàng Anh mỉm cười thăm hỏi : - Chị khỏe không? Đi vào đây, mình bắt đầu... Thy gật đầu, nối bước theo cô. Giờ mở màn sắp đến, Anh và Thy bận rộn sắp xếp các màn trinh diễn và kiểm điểm mỗi tiết mục theo thứ tự của chương trình. oOo Thời giờ trôi qua nhanh. Hai đứa làm việc với nhau nhịp nhàng cho đến tiết mục cuối cùng của phần đầu chương trình. Khán giả được nghỉ giải lao mười lăm phút. Thy bối rối không biết có nên vào toilette cho qua thời giờ, quay đầu lại thì Hoàng Anh đã biến mất sau khung cửa....Chợt nghe có tiếng lí nhí chào bác sau lưng, cô con gái cao gần bằng mình, nét mặt tròn trịa... - Ồ ! phải Vân Anh đây không con? Lớn quá vậy nè ? Thy nắm tay nó rất thân thiết, - Có nhìn ra bác không? - Dạ... Vừa lúc đó Hoàng Anh trở lại với một cô bé nhỏ con hơn, tóc dài, bện thành nhiều sợi trên đầu, có kẹp những cánh nơ bươm bướm. Rất tự nhiên, Thy mở rộng vòng tay.... - Mỹ Anh !! Cô bé bước đến gần Thy, dáng mừng rở, như nhận ra một khuôn mặt thân quen.... - Con chào bác Thy đi, còn nhớ bác không?, hồi xưa bác vẫn hay bế con đi công viên, rồi hay làm bánh flan cho con ăn đó, nhớ chưa Mỹ Anh? Nó không nói gì, mặc cho Thy ôm vào lòng với nụ cười tươi, rạng rở.... Nhờ sự có mặt của hai đứa nhỏ, không khí như ấm áp hơn... Thy hỏi thăm việc học hành, nhắc nhở những chuyện cũ, Mỹ Anh có còn mút tay không, Vân Anh bớt quạu với em chưa...Thy nhớ lại hình ảnh của tụi nhỏ ngày xưa, và nhìn thấy đâu đây những khuôn mặt cháu nội cháu ngoại của mình trong vài năm nữa... Trở về với phần hai của chương trình văn nghệ. Cả hai đều có vẻ thoải mái hơn. Thỉnh thoảng Thy bắt gặp ánh mắt của Hoàng Anh hướng về Thy...đôi lúc nhìn ra sân khấu, thấy bầy trẻ đang trình diễn với tất cả sự cố gắng, Thy mỉm cười đồng cảm với cô ta...nhưng đầu Thy đang suy nghĩ... Thy tự nhủ, ráng bình tĩnh chịu đựng cho xong buổi văn nghệ hôm nay đi nhé...rồi mình sẽ chẳng gặp lại nhau đâu...đừng tạo ân oán, đừng để tâm tình mình tổn thương thêm.... Tiếng vỗ tay vang rân ngoài trước làm Thy bừng tỉnh... Kết thúc chương trình rồi sao? Vừa nghe ai đó gọi tên mình, và có người đẩy Thy ra sân khấu... - Kính thưa quí vị, buổi trình diễn hôm nay được thành công là nhờ vào công sức của hai nhân vật sau cánh gà, xin thưa, chăn một bầy con nít gần bốn chục đứa, thưa quí vị...không phải là dễ.... Những tràng pháo tay lại nổi lên...Thy như mộng du...chào khán giả, đưa cao tay vẩy vẩy...cúi rạp người...dưới ánh đèn chói chan... Thế là xong một buổi văn nghệ... Thy đi vào lấy áo khoác sửa soạn ra về. Thôi, chào nhau lần cuối... Hoàng Anh ngập ngừng...mời Thy đi uống cà phê.Vân Anh sẽ đưa em về nhà trước. oOo Thế rồi hai đứa đang ngồi đây...im lặng thưởng thức mùi hương hạnh nhân của tách cà phê Second Cup, trong một buổi chiều cuối tuần như những buổi chiều thứ bảy bình thường khác... Phố xá vẫn đông đúc, người đi chen chúc trên lề đường... Hoàng Anh bắt đầu kể cho Thy nghe cuộc sống của cô trong sáu năm qua... Sáu năm trước, Thy và Hoàng Anh là đôi bạn thân, thương nhau như chị em, buồn vui đều chia sẻ. Vợ chồng Thy và vợ chồng Hoàng Anh hùn vốn làm ăn chung với nhau rất thuận hòa. Nhưng rồi không biết từ lúc nào, quan hệ giữa chồng Thy và cô bạn đã qua khỏi giới hạn của bạn bè. Chồng của Hoàng Anh phát giác và làm lớn chuyện nên Thy quyết định hủy bỏ công việc hùn hạp với vợ chồng bạn. Sau khi chia tay với Thy, gia đình Anh cũng không tránh được đổ vỡ, Hoàng Anh sau đó chung sống với một người tình mới, những tưởng tri kỷ tương phùng nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu... Rồi căn bệnh thời đại đánh vào đời cô, cô trải qua những năm dài vất vả, từ sinh kế cho đến sức khỏe, và nuôi con dại một mình...Giờ đây, Hoàng Anh đang yên ổn vì cơn bệnh đã ngưng hoành hành sau đợt trị liệu chimio, cô lấy việc thiện nguyện làm vui và đang tham dự lớp hội họa về tĩnh vật để thư giãn. Cô hạnh phúc nhìn các con lớn khôn và tự an ủi về già sẽ không cô đơn... Còn Thy...biết kể gì cho bạn nghe bây giờ? Sau những tai tiếng giữa Hoàng Anh và Quân, cả hai gia đình đều bị tổn thất chứ có riêng gì ai...Thy cũng thất vọng vô cùng, cuộc sống vợ chồng trở nên lạnh lẽo, tưởng chừng như mùa đông muôn kiếp... Thật tình, không biết Quân có mảy may hối hận hay không. Vợ chồng Thy vẫn sống thản nhiên như không có gì xảy ra. Đôi khi Thy tự hỏi phải chăng mình quá ư hèn nhát nên không dám đương đầu với sự thật, chỉ trông chờ chồng thú tội và sẽ nói những lời ăn năn hối lỗi... Thật sự, Thy là người luôn luôn muốn duy trì mái gia đình yên ấm cho con cháu, bởi vậy Thy chọn giữ thái độ thụ động... Có lẽ Quân cũng cảm thấy không khí gia đình nặng nề nên tìm cách làm ăn xa, đi đi về về Việt Nam, và như vậy, cũng tốt, để tạm thời tránh đỗ vỡ. Nếu không có lần giải phẩu ruột dư bất ngờ của Quân mấy năm trước, có thể Quân đã trở về sống luôn tại Saigon, âu cũng là ý Trời sắp đặt. Và rồi vợ chồng Thy dần tìm lại được những ngày tháng bằng an ... Nghe Hoàng Anh tâm sự, nhìn nét mặt tích cực và ánh mắt sáng ngời khi kể chuyện, Thy biết rằng cô nàng đã vượt qua gần hết thử thách trong đời rồi đó...Thy mừng cho người bạn mình, người mà mình vẫn luôn thương như em gái... Chuông nhà thờ cuối đường vừa buông bốn tiếng...chiều sắp xuống rồi...Thy phải về, đã đến giờ làm cơm tối cho chồng. Trời bổng chợt đổ mưa lớn...Từ giã Hoàng Anh và hẹn một ngày rảnh rỗi hai đứa sẽ đi ăn trưa với nhau. Sửa soạn băng qua đường để đón xe buýt, tiếng Hoàng Anh vói theo: - Bác Thy... nhớ gọi phone cho em nhé, nhớ nghe !!! Thy rảo bước, gật đầu để trả lời nhưng không quay nhìn lại, và vẩy tay từ giã lần nữa, nàng đang có cảm tưởng mắt mình ướt nhòe, không biết vì lệ trào hay vì nước mưa rơi... Hết Áo Vàng tháng hai, 2010 Mục lục Bến Mơ Bến Mơ Áo VàngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả: VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 3 năm 2010
Áo Vàng Bến Mơ (truyện ngắn cuối cùng của tuyển tập Những Người Đàn Bà Tuổi Thìn) Sáng nay là ngày đầu tiên Thy đến với Hội Các Bà Mẹ bị Ung Thư. Từ ngày về hưu, Thy tự thảo cho mình một thời khóa biểu thật bận rộn, để thấy ngày bớt dài và thật ra để khỏi phải ở nhà lẩn quẩn với chồng. Cả hai đều cần những khoảng không gian riêng tư trong ngày. Ông xã của Thy ít đi ra ngoài, chỉ thích liên lạc trao đổi với các bạn bè cũ qua Net, và thỉnh thoảng làm vài bài thơ góp mặt với Hội tương tế trường xưa. Laura làm cùng hãng với Thy ngày trước, có người chị qua đời vì ung thư vú, từ đó cô bắt đầu hăng say tham gia vào các chương trình gây quỷ của hội này. Phần Thy cũng mới vừa mất một người bạn thân bởi căn bệnh ung thư quái ác này , và Thy muốn làm một cái gì đó để tưởng niệm người bạn mình... Hội tổ chức một buổi văn nghệ trưa thứ bảy, Laura sắp xếp cho Thy lo phần đưa mỗi tiết mục lên sân khấu. Cô nàng báo trước, Thy sẽ gặp một cô người Việt nam, mà Laura chắc chắn lúc làm việc với cô, Thy sẽ hài lòng... Sợ làm mất giấc ngủ của chồng nên Thy rón rén thay áo quần, trang điễm qua loa, viết vài chữ để lại trên bàn cho Quân, dặn dò hâm thức ăn cho buổi trưa, rồi vội vã rời nhà. Thy cần lên sớm để Laura chỉ dẫn công việc sẽ làm. Cuối tuần, xe buýt thưa thớt nên phải mất gần cả tiếng đồng hồ mới đến nơi, nhìn quang cảnh rộn ràng, người tới lui tấp nập,Thy cũng nôn nao... Laura mừng rỡ vẫy tay chào Thy, rồi quay mặt vào trong kêu: Ann nè, Kathy đến rồi... Một khuôn mặt ló ra từ sau cánh màn sân khấu, trả lời vội vã: - Chờ cho chút nhé. Phải đặt chiếc bàn này đúng chổ cái đã... Thế nhưng nữa giây sau, cô ta đã nhảy xuống từ sân khấu đi về phía Laura đang chờ... Một điều bất ngờ, oan gia gặp lại nhau đây sao? Thy trầm tĩnh chờ Laura giới thiệu mình với Ann, như chưa hề quen biết. Một cái bắt tay lịch sự, rồi Laura bàn giao nàng lại cho Ann. Một chút lúng túng trôi đi, hai người đàn bà trở về với thực tại...Hoàng Anh mỉm cười thăm hỏi : - Chị khỏe không? Đi vào đây, mình bắt đầu... Thy gật đầu, nối bước theo cô. Giờ mở màn sắp đến, Anh và Thy bận rộn sắp xếp các màn trinh diễn và kiểm điểm mỗi tiết mục theo thứ tự của chương trình. oOo Thời giờ trôi qua nhanh. Hai đứa làm việc với nhau nhịp nhàng cho đến tiết mục cuối cùng của phần đầu chương trình. Khán giả được nghỉ giải lao mười lăm phút. Thy bối rối không biết có nên vào toilette cho qua thời giờ, quay đầu lại thì Hoàng Anh đã biến mất sau khung cửa....Chợt nghe có tiếng lí nhí chào bác sau lưng, cô con gái cao gần bằng mình, nét mặt tròn trịa... - Ồ ! phải Vân Anh đây không con? Lớn quá vậy nè ? Thy nắm tay nó rất thân thiết, - Có nhìn ra bác không? - Dạ... Vừa lúc đó Hoàng Anh trở lại với một cô bé nhỏ con hơn, tóc dài, bện thành nhiều sợi trên đầu, có kẹp những cánh nơ bươm bướm. Rất tự nhiên, Thy mở rộng vòng tay.... - Mỹ Anh !! Cô bé bước đến gần Thy, dáng mừng rở, như nhận ra một khuôn mặt thân quen.... - Con chào bác Thy đi, còn nhớ bác không?, hồi xưa bác vẫn hay bế con đi công viên, rồi hay làm bánh flan cho con ăn đó, nhớ chưa Mỹ Anh? Nó không nói gì, mặc cho Thy ôm vào lòng với nụ cười tươi, rạng rở.... Nhờ sự có mặt của hai đứa nhỏ, không khí như ấm áp hơn... Thy hỏi thăm việc học hành, nhắc nhở những chuyện cũ, Mỹ Anh có còn mút tay không, Vân Anh bớt quạu với em chưa...Thy nhớ lại hình ảnh của tụi nhỏ ngày xưa, và nhìn thấy đâu đây những khuôn mặt cháu nội cháu ngoại của mình trong vài năm nữa... Trở về với phần hai của chương trình văn nghệ. Cả hai đều có vẻ thoải mái hơn. Thỉnh thoảng Thy bắt gặp ánh mắt của Hoàng Anh hướng về Thy...đôi lúc nhìn ra sân khấu, thấy bầy trẻ đang trình diễn với tất cả sự cố gắng, Thy mỉm cười đồng cảm với cô ta...nhưng đầu Thy đang suy nghĩ... Thy tự nhủ, ráng bình tĩnh chịu đựng cho xong buổi văn nghệ hôm nay đi nhé...rồi mình sẽ chẳng gặp lại nhau đâu...đừng tạo ân oán, đừng để tâm tình mình tổn thương thêm.... Tiếng vỗ tay vang rân ngoài trước làm Thy bừng tỉnh... Kết thúc chương trình rồi sao? Vừa nghe ai đó gọi tên mình, và có người đẩy Thy ra sân khấu... - Kính thưa quí vị, buổi trình diễn hôm nay được thành công là nhờ vào công sức của hai nhân vật sau cánh gà, xin thưa, chăn một bầy con nít gần bốn chục đứa, thưa quí vị...không phải là dễ.... Những tràng pháo tay lại nổi lên...Thy như mộng du...chào khán giả, đưa cao tay vẩy vẩy...cúi rạp người...dưới ánh đèn chói chan... Thế là xong một buổi văn nghệ... Thy đi vào lấy áo khoác sửa soạn ra về. Thôi, chào nhau lần cuối... Hoàng Anh ngập ngừng...mời Thy đi uống cà phê.Vân Anh sẽ đưa em về nhà trước. oOo Thế rồi hai đứa đang ngồi đây...im lặng thưởng thức mùi hương hạnh nhân của tách cà phê Second Cup, trong một buổi chiều cuối tuần như những buổi chiều thứ bảy bình thường khác... Phố xá vẫn đông đúc, người đi chen chúc trên lề đường... Hoàng Anh bắt đầu kể cho Thy nghe cuộc sống của cô trong sáu năm qua... Sáu năm trước, Thy và Hoàng Anh là đôi bạn thân, thương nhau như chị em, buồn vui đều chia sẻ. Vợ chồng Thy và vợ chồng Hoàng Anh hùn vốn làm ăn chung với nhau rất thuận hòa. Nhưng rồi không biết từ lúc nào, quan hệ giữa chồng Thy và cô bạn đã qua khỏi giới hạn của bạn bè. Chồng của Hoàng Anh phát giác và làm lớn chuyện nên Thy quyết định hủy bỏ công việc hùn hạp với vợ chồng bạn. Sau khi chia tay với Thy, gia đình Anh cũng không tránh được đổ vỡ, Hoàng Anh sau đó chung sống với một người tình mới, những tưởng tri kỷ tương phùng nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu... Rồi căn bệnh thời đại đánh vào đời cô, cô trải qua những năm dài vất vả, từ sinh kế cho đến sức khỏe, và nuôi con dại một mình...Giờ đây, Hoàng Anh đang yên ổn vì cơn bệnh đã ngưng hoành hành sau đợt trị liệu chimio, cô lấy việc thiện nguyện làm vui và đang tham dự lớp hội họa về tĩnh vật để thư giãn. Cô hạnh phúc nhìn các con lớn khôn và tự an ủi về già sẽ không cô đơn... Còn Thy...biết kể gì cho bạn nghe bây giờ? Sau những tai tiếng giữa Hoàng Anh và Quân, cả hai gia đình đều bị tổn thất chứ có riêng gì ai...Thy cũng thất vọng vô cùng, cuộc sống vợ chồng trở nên lạnh lẽo, tưởng chừng như mùa đông muôn kiếp... Thật tình, không biết Quân có mảy may hối hận hay không. Vợ chồng Thy vẫn sống thản nhiên như không có gì xảy ra. Đôi khi Thy tự hỏi phải chăng mình quá ư hèn nhát nên không dám đương đầu với sự thật, chỉ trông chờ chồng thú tội và sẽ nói những lời ăn năn hối lỗi... Thật sự, Thy là người luôn luôn muốn duy trì mái gia đình yên ấm cho con cháu, bởi vậy Thy chọn giữ thái độ thụ động... Có lẽ Quân cũng cảm thấy không khí gia đình nặng nề nên tìm cách làm ăn xa, đi đi về về Việt Nam, và như vậy, cũng tốt, để tạm thời tránh đỗ vỡ. Nếu không có lần giải phẩu ruột dư bất ngờ của Quân mấy năm trước, có thể Quân đã trở về sống luôn tại Saigon, âu cũng là ý Trời sắp đặt. Và rồi vợ chồng Thy dần tìm lại được những ngày tháng bằng an ... Nghe Hoàng Anh tâm sự, nhìn nét mặt tích cực và ánh mắt sáng ngời khi kể chuyện, Thy biết rằng cô nàng đã vượt qua gần hết thử thách trong đời rồi đó...Thy mừng cho người bạn mình, người mà mình vẫn luôn thương như em gái... Chuông nhà thờ cuối đường vừa buông bốn tiếng...chiều sắp xuống rồi...Thy phải về, đã đến giờ làm cơm tối cho chồng. Trời bổng chợt đổ mưa lớn...Từ giã Hoàng Anh và hẹn một ngày rảnh rỗi hai đứa sẽ đi ăn trưa với nhau. Sửa soạn băng qua đường để đón xe buýt, tiếng Hoàng Anh vói theo: - Bác Thy... nhớ gọi phone cho em nhé, nhớ nghe !!! Thy rảo bước, gật đầu để trả lời nhưng không quay nhìn lại, và vẩy tay từ giã lần nữa, nàng đang có cảm tưởng mắt mình ướt nhòe, không biết vì lệ trào hay vì nước mưa rơi... Hết Áo Vàng tháng hai, 2010 Mục lục Bến Mơ Bến Mơ Áo VàngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả: VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 3 năm 2010
Thanh Tịnh Bến Nứa Xóm chợ lá làng Thiên. Trời mưa tầm tã. Trước khi cho thuyền rời khỏi bến, cô lái Phương còn nhìn lên bờ hỏi lớn:- Ai về Viễn Trình thì xuống mà về.Tiếng cô lạc mất trong tiếng mưa rì rào của buổi chiều tàn buồn bã. Hôm ấy thuyền cô vắng khách. Cô đã cho thuyền đậu thêm một giờ nữa, nhưng người về vẫn không thấy một ai.Cô lái đò bèn nhổ sào gác trên mui rồi từ từ cho thuyền quay lái. Ngay lúc ấy một cụ già hấp tấp chạy xuống bờ sông đưa chiếc dù lên cao gọi lớn:- Cô Phương ghé thuyền cho tôi về với.Phương kéo nghiêng chiếc nón lá, nhìn lên bờ qua những dòng mưa chi chít:- Cụ Uẩn đấy à? Cháu tưởng cụ chiều mai mới về.Vừa nói Phương vừa cho thuyền quay mũi vào bờ. Cụ Uẩn xách đôi guốc trên tay, lội ra khỏi bờ chừng năm bước. Lúc thấy mũi thuyền gần cụm vào bờ, cụ đưa một tay giữ lại. Đoạn cụ bước lên thuyền rồi chui vào trong mui.Tiếng cô Phương đằng sau lái nói:- Cụ cởi áo ướt vắt trên đây. Để nước mưa thấm vào người độc lắm.Tiếng nước mưa xối mạnh trên mui làm át cả tiếng Phương. Cụ Uẩn không nghe rõ nên nhìn ra sau lái hỏi:- Cô Phương hỏi gì thế?Phương nhìn vào mui thấy cụ Uẩn cởi áo ra rồi nên nói tiếp:- Cụ xem giùm thằng Nghển của cháu nó đã ngủ chưa?Tiếng cụ Uẩn trong mui đáp ra:- Rồi.Phương lẳng lặng đưa mái chèo đẩy đều đều trên mặt nước. Thỉnh thoảng cô lại đưa tay vuốt mấy dòng mưa chảy tràn trên mặt. Phương vừa chèo vừa nhìn lên hai bên bờ hy vọng vài người khách chậm chạp còn đuổi theo thuyền cô. Nhưng sau lũy tre cao ngọn, cô chỉ nom thấy vài ngọn đèn xanh đang rung rinh trong bóng nhạt.Trước đây hơn một năm, Phương cùng chồng làm nghề chở khách từ chợ làng Thiên đến làng Viễn Trình. Hai làng cách xa nhau trên bốn mươi cây số. Lệ thường cứ chiều nhổ sào, thì sáng mai vào khoảng tám giờ thuyền đã về đến Viễn Trình. Làng Viễn Trình ờ gần biển, nên dân trong làng thường đem tôm cá ra chợ Thiên bán.Tất cả gia tài của hai vợ chồng Phương là một chiếc thuyền rộng ba mũi, và đâu được bốn chục bạc. Lấy nhau được một năm thì Phương sinh thằng Nghển. Mỗi lần ẵm Nghển trên tay, chồng Phương thường tươi cười nói với vợ:- Thằng Nghển là cục vàng biết nói của tôi đấy mợ ạ.Phương nhìn con, nhìn chồng, rồi một giọng ngây thơ nói rõ:- Cậu nói làm tôi nhớ hồi còn đi học, thầy giáo có bắt tôi học bài: Gà đẻ trứng vàng.Chồng Phương âu yếm nhìn vợ rồi tự nhiên cười sung sướng.Qua mùa đông năm sau, chồng Phương mang bệnh thương hàn rồi từ trần. Nghển lúc ấy mới hơn hai tuổi.Theo nghề xưa của chồng, Phương lại một mình đưa thuyền qua ngày tháng.Trời xẩm tối, thuyền của Phương đến đầu làng Mỹ Lý thì trời tạnh mưa. Xa xa bên kia chân đồng làng Duyên Hải, đám mây đen dày đặc đã nứt nở ra dần để lọt một thứ ánh sáng xanh rờn của mảnh trăng cuối thu.Phương vừa chèo vừa cất giọng hò lanh lảnh: Đi đâu cho thiếp theo cùng.Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. Phương tự nhiên cảm thấy lòng lạnh lẽo và buồn man mác. Cụ Uẩn ngồi trong mui, với một giọng ngái ngủ hỏi sẽ:- Cô Phương ơi! Thuyền đã đến đâu rồi cô nhỉ?Phương nhìn lên đám lách um tùm hai bên bờ sông rồi đáp:- Đến làng Đồng Yên rồi cụ ạ.- Thật cô chèo mau quá.Nghển nghe có tiếng động tự nhiên lồm cồm ngồi dậy khóc, cụ Uẩn dỗ ngon dỗ ngọt một hồi lâu cũng không được. Cụ liền mặt thêm áo rồi bước ra sau lái nói với Phương:- Thôi cô vào ẵm cháu ngủ đi. Để tôi chèo cho.Phương còn dùng dằng chưa chịu nghe.- Ai lại để cụ chèo.Trong mui tiếng Nghển lại khóc thét lên.Cụ Uẩn giục:- Cô đưa tay chèo cho tôi. Tôi tuy già nhưng chưa chắc trai tráng đã chèo kịp tôi.Phương từ chối cũng không được, nên đưa chèo cho cụ Uẩn.Nghển thấy bóng mẹ đi vào thì khóc già hơn trước. Phương ẵm con trong lòng nói sẽ:- Thôi con ngủ đi, về đến làng Viễn Trình mợ sẽ mua kẹo cho con.Nghển được thể quay đầu vào ngực mẹ khóc lớn:- Con không ăn kẹo.Phương đưa tay vỗ nhẹ vào lưng con:- Thế con muốn gì?Nghển mếu máo:- Thầy con đâu?Rồi như mọi ngày, lúc nghe con hỏi đến cha Phương lại nói dối:- Thầy qua chợ Sinh mua áo đẹp cho con.Nghển lại vùng vằng đầu nũng nịu:- Con không cần áo đẹp. Thầy con đâu?Lệ thường đến lúc này, túng lắm Phương mượn một ngưới khách trong thuyền vờ làm "thầy" để dối con. Lúc ấy Nghển mới chịu ngủ yên bên người cha giả. Nhưng hôm ấy thuyền vắng khách, quanh quẩn chỉ có một mình cụ Uẩn và Phương. Phương đang lúng túng chưa biết tìm kế gì thì Nghển đã khóc lớn:- Thầy con đâu?Phương kiên nhẫn dỗ con:-Con nín đi. Mợ gọi thầy về đây.Đưa đầu ra ngoài mui, Phương gọi lớn:- Thầy nó đã về chưa, mau xuống thuyền chẳng thằng Nghển không chịu ngủ.Trong bóng tối của lũy tre xanh chạy dài theo Bến Nứa, tự nhiên xa xa có tiếng người đáp:-Tôi về đây. Ghé thuyền cho tôi về với.Phương đang phân vân chưa biết người ta nói đùa hay nói thật, thì cụ Uẩn đã từ từ cho quay mũi vào bến.Một người vận âu phục, nhanh nhẹn xách va-ly bước xuống thuyền.- Đâu, Nghển của tôi đâu? Sao nó lại không chịu ngủ.Phương thấy người khách thì giật mình bẽn lẽn:- Cậu Thảo đi đâu mà về khuya thế?Thảo cũng vừa thấy Phương, nên cúi đầu ấp úng:- Đò của cô mà tôi tưởng của ai.Nghĩ một lát, Thảo tiếp:- Tôi vừa xuống ga Mỹ Lâm về đây. Tôi về thăm thầy mẹ tôi.Cụ Uẩn thong thả cho thuyền dời khỏi bờ rồi chèo xuôi theo dòng nước. Mảnh trăng hạ tuần giây bụi vàng trên quãng đồng lúa ruộng. Phương ẵm con ra ngồi trước mũi, gương mặt tự nhiên ửng hồng và đẹp một cách hiền hậu.Tiếng nước reo hai bên mạn thuyền nghe nhẹ và êm. Nghển ngước mắt nhìn Thảo một hồi khá lâu rồi thỏ thẻ:- Đây là thầy phải không mợ?Phương nhìn ra sông đáp sẽ, giọng ngượng ngập:- Vâng.Nghển đưa mắt trân tráo nhìn Thảo nói tiếp:- Thế sao thầy không ẵm con?Không để Nghển nói hết câu, Thảo đưa hai tay cất Nghển lên rồi vụng về ẵm vào lòng.Nghển sung sướng reo lên:- Thầy mua kẹo cho con đâu?Thảo cúi xuống mở va-ly rồi đưa cho Nghể một gói kẹo Tây:- Kẹo cho con đấy.Lúc nói đến chữ "con" lòng Thảo tự nhiên nghe êm êm một cách lạ. Phương nói lảng qua chuyện khác:-Độ này thầy làm ở đâu?Thảo quay lại đáp:- Tôi làm ở Sở Hỏa Xa. Hôm nay được mấy ngày nghỉ nên định về thăm nhà.Nghển vừa ăn kẹo vừa nhìn đàn đom đóm bay lập lòe hai bên bờ sông.Phương đứng dậy quay đầu nhìn phía lái hỏi:- Cụ Uẩn đã nhọc chưa, để cháu ra chèo thay cụ.Nghển đưa tay nắm chéo áo mẹ nân nỉ:- Mẹ đừng ra chèo. Mẹ ngồi với thầy với con.Phương cúi đầu nhìn xuống sàn thuyền, hai má đỏ như gấc. Dưới ánh trăng, gương mặt của Phương trông hồng hồng tươi xinh như bằng sáp. Lòng Thảo hồi hộp sẽ như cánh bướm.Đằng lái tiếng cụ Uẩn đáp lên:- Nước chảy xuôi nên chèo không mỏi. Lúc nào cháu Nghển ngủ sẽ hay.Nghển nhìn về phía sau lái hí hửng:- Tiếng ai đấy mợ.Phương xoa đầu con:- Tiếng cụ Uẩn.Nghển ngước mắt đăm đăm nhìn Thảo:- Con sợ cụ Uẩn lắm.Thảo tươi cười:- Tại sao... con sợ?Nghển nói nhanh không suy nghĩ:- Vì cụ ấy có râu.Thảo nhìn Phương mỉm cười.Tuy người giả vờ làm thầy Nghển mỗi ngày mỗi khác, nhưng Nghển chỉ hơi ngạc nhiên một chút rồi quen ngay. Vì những người ấy, người nào cũng vuốt ve Nghển và nhất là cho Nghển quà bánh. Trước kia Nghển hỏi đến thầy là vì nhớ. Chứ lâu nay, Nghển hỏi đến thầy là cốt để hỏi quà bánh thôi. Nghển thấy Thảo ăn mặc sang lại vui vẻ nên thích lắm.Con thuyền từ từ lướt nhẹ trên mặt nước, êm dềm như cái bóng. Thấy thuyền đến, vài con ngan đang lội trên sông bỗng đập cánh bay thẳng vào trong mấy hàng cây đen tối. Nước ngập xuống như mưa.Thảo cầm bàn tay xinh xắn của Nghển trong tay mình rồi mỉm cười nhìn Nghển đang cố gắng rút tay ra.Phương chống cằm vơ vẫn nhìn mấy thửa ruộng chạy dài hai bên bờ sông, lòng hơi thổn thức. Phương cũng không hiểu tại sao tối hôm nay lòng Phương lại rạo rực tê mê như đống tro tàn men hơi lửa.Mặt trăng lúc ấy đã lẫn hình trong đám mây đen.Màu xanh bạc của màn sương bụi tỏa hai bên bờ sông đã biến ra màu xanh lam. Bầu trời có vẻ nặng nề hơn trước.Nghển tự nhiên nắm tay mẹ rồi từ từ kéo mạnh. Một lát sau, Phương cảm thấy Nghển đang đặt tay mình trên da tay một người khác. Phương rùng mình, toàn người rung sẽ, hơi thở mạnh và không đều.Phương không dám quay mình lại, Nghển nói lớn:- Đây mợ mở dùm ngón tay của thầy con để con kéo tay con ra.Thảo cảm phải hơi lạnh ở da tay Phương truyền qua tay mình, nên toàn người nóng bừng, tay chân rung nhẹ. Thảo như người bị thôi miên. Thảo thả bàn tay Nghển ra rồi nắm bàn tay nhẹ mát của Phương. Phương cúi đầu nhìn xuống mặt nước, hai má đỏ bừng. Nghển trùm hai bàn tay nhỏ xíu của mình ngoài bàn tay Thảo rồi nói lớn:- Thầy giữ chặt lấy. Đừng thả ra.Thảo sợ cụ Uẩn nghe được nên quay lại hỏi:- Tiếng chuông chùa nào đấy cụ Uẩn?Thảo vừa nói dứt lời, một tiếng chuông chùa đã dìu dặt giữa không trung, một tiếng ngân dài não ruột.Cụ Uẩn che tay ngang trán nhìn mông ra xa rồi đáp:- Tiếng chuông chùa Đồng Tâm.Phương quay lại nhìn Thảo, hai người nhìn nhau mỉm cười rồi cùng đưa mắt nhìn dòng sông sắp uốn mình trước mặt.Nâm qua, ngày tháng qua. Nghển đã khôn lớn và không hỏi thầy như trước nữa. Nhưng giữa đêm khuya, mỗi lần chèo thuyền qua Bến Nứa, Phương lại cất tiếng hõi:- Ai về Viễn Trình thì xuống mà về.Nhưng đêm nào cũng như đêm nào, đáp lời Phương chỉ có tiếng chuông chùa Dồng Tâm ngân dài trên mặt nước. Mục lục Bến Nứa Bến Nứa Thanh TịnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: violet2007 Nguồn: Thư viện toàn cầuĐược bạn: Thành viên VNTQ.net đưa lên vào ngày: 19 tháng 2 năm 2008
Thanh Tịnh Bến Nứa Xóm chợ lá làng Thiên. Trời mưa tầm tã. Trước khi cho thuyền rời khỏi bến, cô lái Phương còn nhìn lên bờ hỏi lớn:- Ai về Viễn Trình thì xuống mà về.Tiếng cô lạc mất trong tiếng mưa rì rào của buổi chiều tàn buồn bã. Hôm ấy thuyền cô vắng khách. Cô đã cho thuyền đậu thêm một giờ nữa, nhưng người về vẫn không thấy một ai.Cô lái đò bèn nhổ sào gác trên mui rồi từ từ cho thuyền quay lái. Ngay lúc ấy một cụ già hấp tấp chạy xuống bờ sông đưa chiếc dù lên cao gọi lớn:- Cô Phương ghé thuyền cho tôi về với.Phương kéo nghiêng chiếc nón lá, nhìn lên bờ qua những dòng mưa chi chít:- Cụ Uẩn đấy à? Cháu tưởng cụ chiều mai mới về.Vừa nói Phương vừa cho thuyền quay mũi vào bờ. Cụ Uẩn xách đôi guốc trên tay, lội ra khỏi bờ chừng năm bước. Lúc thấy mũi thuyền gần cụm vào bờ, cụ đưa một tay giữ lại. Đoạn cụ bước lên thuyền rồi chui vào trong mui.Tiếng cô Phương đằng sau lái nói:- Cụ cởi áo ướt vắt trên đây. Để nước mưa thấm vào người độc lắm.Tiếng nước mưa xối mạnh trên mui làm át cả tiếng Phương. Cụ Uẩn không nghe rõ nên nhìn ra sau lái hỏi:- Cô Phương hỏi gì thế?Phương nhìn vào mui thấy cụ Uẩn cởi áo ra rồi nên nói tiếp:- Cụ xem giùm thằng Nghển của cháu nó đã ngủ chưa?Tiếng cụ Uẩn trong mui đáp ra:- Rồi.Phương lẳng lặng đưa mái chèo đẩy đều đều trên mặt nước. Thỉnh thoảng cô lại đưa tay vuốt mấy dòng mưa chảy tràn trên mặt. Phương vừa chèo vừa nhìn lên hai bên bờ hy vọng vài người khách chậm chạp còn đuổi theo thuyền cô. Nhưng sau lũy tre cao ngọn, cô chỉ nom thấy vài ngọn đèn xanh đang rung rinh trong bóng nhạt.Trước đây hơn một năm, Phương cùng chồng làm nghề chở khách từ chợ làng Thiên đến làng Viễn Trình. Hai làng cách xa nhau trên bốn mươi cây số. Lệ thường cứ chiều nhổ sào, thì sáng mai vào khoảng tám giờ thuyền đã về đến Viễn Trình. Làng Viễn Trình ờ gần biển, nên dân trong làng thường đem tôm cá ra chợ Thiên bán.Tất cả gia tài của hai vợ chồng Phương là một chiếc thuyền rộng ba mũi, và đâu được bốn chục bạc. Lấy nhau được một năm thì Phương sinh thằng Nghển. Mỗi lần ẵm Nghển trên tay, chồng Phương thường tươi cười nói với vợ:- Thằng Nghển là cục vàng biết nói của tôi đấy mợ ạ.Phương nhìn con, nhìn chồng, rồi một giọng ngây thơ nói rõ:- Cậu nói làm tôi nhớ hồi còn đi học, thầy giáo có bắt tôi học bài: Gà đẻ trứng vàng.Chồng Phương âu yếm nhìn vợ rồi tự nhiên cười sung sướng.Qua mùa đông năm sau, chồng Phương mang bệnh thương hàn rồi từ trần. Nghển lúc ấy mới hơn hai tuổi.Theo nghề xưa của chồng, Phương lại một mình đưa thuyền qua ngày tháng.Trời xẩm tối, thuyền của Phương đến đầu làng Mỹ Lý thì trời tạnh mưa. Xa xa bên kia chân đồng làng Duyên Hải, đám mây đen dày đặc đã nứt nở ra dần để lọt một thứ ánh sáng xanh rờn của mảnh trăng cuối thu.Phương vừa chèo vừa cất giọng hò lanh lảnh: Đi đâu cho thiếp theo cùng.Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. Phương tự nhiên cảm thấy lòng lạnh lẽo và buồn man mác. Cụ Uẩn ngồi trong mui, với một giọng ngái ngủ hỏi sẽ:- Cô Phương ơi! Thuyền đã đến đâu rồi cô nhỉ?Phương nhìn lên đám lách um tùm hai bên bờ sông rồi đáp:- Đến làng Đồng Yên rồi cụ ạ.- Thật cô chèo mau quá.Nghển nghe có tiếng động tự nhiên lồm cồm ngồi dậy khóc, cụ Uẩn dỗ ngon dỗ ngọt một hồi lâu cũng không được. Cụ liền mặt thêm áo rồi bước ra sau lái nói với Phương:- Thôi cô vào ẵm cháu ngủ đi. Để tôi chèo cho.Phương còn dùng dằng chưa chịu nghe.- Ai lại để cụ chèo.Trong mui tiếng Nghển lại khóc thét lên.Cụ Uẩn giục:- Cô đưa tay chèo cho tôi. Tôi tuy già nhưng chưa chắc trai tráng đã chèo kịp tôi.Phương từ chối cũng không được, nên đưa chèo cho cụ Uẩn.Nghển thấy bóng mẹ đi vào thì khóc già hơn trước. Phương ẵm con trong lòng nói sẽ:- Thôi con ngủ đi, về đến làng Viễn Trình mợ sẽ mua kẹo cho con.Nghển được thể quay đầu vào ngực mẹ khóc lớn:- Con không ăn kẹo.Phương đưa tay vỗ nhẹ vào lưng con:- Thế con muốn gì?Nghển mếu máo:- Thầy con đâu?Rồi như mọi ngày, lúc nghe con hỏi đến cha Phương lại nói dối:- Thầy qua chợ Sinh mua áo đẹp cho con.Nghển lại vùng vằng đầu nũng nịu:- Con không cần áo đẹp. Thầy con đâu?Lệ thường đến lúc này, túng lắm Phương mượn một ngưới khách trong thuyền vờ làm "thầy" để dối con. Lúc ấy Nghển mới chịu ngủ yên bên người cha giả. Nhưng hôm ấy thuyền vắng khách, quanh quẩn chỉ có một mình cụ Uẩn và Phương. Phương đang lúng túng chưa biết tìm kế gì thì Nghển đã khóc lớn:- Thầy con đâu?Phương kiên nhẫn dỗ con:-Con nín đi. Mợ gọi thầy về đây.Đưa đầu ra ngoài mui, Phương gọi lớn:- Thầy nó đã về chưa, mau xuống thuyền chẳng thằng Nghển không chịu ngủ.Trong bóng tối của lũy tre xanh chạy dài theo Bến Nứa, tự nhiên xa xa có tiếng người đáp:-Tôi về đây. Ghé thuyền cho tôi về với.Phương đang phân vân chưa biết người ta nói đùa hay nói thật, thì cụ Uẩn đã từ từ cho quay mũi vào bến.Một người vận âu phục, nhanh nhẹn xách va-ly bước xuống thuyền.- Đâu, Nghển của tôi đâu? Sao nó lại không chịu ngủ.Phương thấy người khách thì giật mình bẽn lẽn:- Cậu Thảo đi đâu mà về khuya thế?Thảo cũng vừa thấy Phương, nên cúi đầu ấp úng:- Đò của cô mà tôi tưởng của ai.Nghĩ một lát, Thảo tiếp:- Tôi vừa xuống ga Mỹ Lâm về đây. Tôi về thăm thầy mẹ tôi.Cụ Uẩn thong thả cho thuyền dời khỏi bờ rồi chèo xuôi theo dòng nước. Mảnh trăng hạ tuần giây bụi vàng trên quãng đồng lúa ruộng. Phương ẵm con ra ngồi trước mũi, gương mặt tự nhiên ửng hồng và đẹp một cách hiền hậu.Tiếng nước reo hai bên mạn thuyền nghe nhẹ và êm. Nghển ngước mắt nhìn Thảo một hồi khá lâu rồi thỏ thẻ:- Đây là thầy phải không mợ?Phương nhìn ra sông đáp sẽ, giọng ngượng ngập:- Vâng.Nghển đưa mắt trân tráo nhìn Thảo nói tiếp:- Thế sao thầy không ẵm con?Không để Nghển nói hết câu, Thảo đưa hai tay cất Nghển lên rồi vụng về ẵm vào lòng.Nghển sung sướng reo lên:- Thầy mua kẹo cho con đâu?Thảo cúi xuống mở va-ly rồi đưa cho Nghể một gói kẹo Tây:- Kẹo cho con đấy.Lúc nói đến chữ "con" lòng Thảo tự nhiên nghe êm êm một cách lạ. Phương nói lảng qua chuyện khác:-Độ này thầy làm ở đâu?Thảo quay lại đáp:- Tôi làm ở Sở Hỏa Xa. Hôm nay được mấy ngày nghỉ nên định về thăm nhà.Nghển vừa ăn kẹo vừa nhìn đàn đom đóm bay lập lòe hai bên bờ sông.Phương đứng dậy quay đầu nhìn phía lái hỏi:- Cụ Uẩn đã nhọc chưa, để cháu ra chèo thay cụ.Nghển đưa tay nắm chéo áo mẹ nân nỉ:- Mẹ đừng ra chèo. Mẹ ngồi với thầy với con.Phương cúi đầu nhìn xuống sàn thuyền, hai má đỏ như gấc. Dưới ánh trăng, gương mặt của Phương trông hồng hồng tươi xinh như bằng sáp. Lòng Thảo hồi hộp sẽ như cánh bướm.Đằng lái tiếng cụ Uẩn đáp lên:- Nước chảy xuôi nên chèo không mỏi. Lúc nào cháu Nghển ngủ sẽ hay.Nghển nhìn về phía sau lái hí hửng:- Tiếng ai đấy mợ.Phương xoa đầu con:- Tiếng cụ Uẩn.Nghển ngước mắt đăm đăm nhìn Thảo:- Con sợ cụ Uẩn lắm.Thảo tươi cười:- Tại sao... con sợ?Nghển nói nhanh không suy nghĩ:- Vì cụ ấy có râu.Thảo nhìn Phương mỉm cười.Tuy người giả vờ làm thầy Nghển mỗi ngày mỗi khác, nhưng Nghển chỉ hơi ngạc nhiên một chút rồi quen ngay. Vì những người ấy, người nào cũng vuốt ve Nghển và nhất là cho Nghển quà bánh. Trước kia Nghển hỏi đến thầy là vì nhớ. Chứ lâu nay, Nghển hỏi đến thầy là cốt để hỏi quà bánh thôi. Nghển thấy Thảo ăn mặc sang lại vui vẻ nên thích lắm.Con thuyền từ từ lướt nhẹ trên mặt nước, êm dềm như cái bóng. Thấy thuyền đến, vài con ngan đang lội trên sông bỗng đập cánh bay thẳng vào trong mấy hàng cây đen tối. Nước ngập xuống như mưa.Thảo cầm bàn tay xinh xắn của Nghển trong tay mình rồi mỉm cười nhìn Nghển đang cố gắng rút tay ra.Phương chống cằm vơ vẫn nhìn mấy thửa ruộng chạy dài hai bên bờ sông, lòng hơi thổn thức. Phương cũng không hiểu tại sao tối hôm nay lòng Phương lại rạo rực tê mê như đống tro tàn men hơi lửa.Mặt trăng lúc ấy đã lẫn hình trong đám mây đen.Màu xanh bạc của màn sương bụi tỏa hai bên bờ sông đã biến ra màu xanh lam. Bầu trời có vẻ nặng nề hơn trước.Nghển tự nhiên nắm tay mẹ rồi từ từ kéo mạnh. Một lát sau, Phương cảm thấy Nghển đang đặt tay mình trên da tay một người khác. Phương rùng mình, toàn người rung sẽ, hơi thở mạnh và không đều.Phương không dám quay mình lại, Nghển nói lớn:- Đây mợ mở dùm ngón tay của thầy con để con kéo tay con ra.Thảo cảm phải hơi lạnh ở da tay Phương truyền qua tay mình, nên toàn người nóng bừng, tay chân rung nhẹ. Thảo như người bị thôi miên. Thảo thả bàn tay Nghển ra rồi nắm bàn tay nhẹ mát của Phương. Phương cúi đầu nhìn xuống mặt nước, hai má đỏ bừng. Nghển trùm hai bàn tay nhỏ xíu của mình ngoài bàn tay Thảo rồi nói lớn:- Thầy giữ chặt lấy. Đừng thả ra.Thảo sợ cụ Uẩn nghe được nên quay lại hỏi:- Tiếng chuông chùa nào đấy cụ Uẩn?Thảo vừa nói dứt lời, một tiếng chuông chùa đã dìu dặt giữa không trung, một tiếng ngân dài não ruột.Cụ Uẩn che tay ngang trán nhìn mông ra xa rồi đáp:- Tiếng chuông chùa Đồng Tâm.Phương quay lại nhìn Thảo, hai người nhìn nhau mỉm cười rồi cùng đưa mắt nhìn dòng sông sắp uốn mình trước mặt.Nâm qua, ngày tháng qua. Nghển đã khôn lớn và không hỏi thầy như trước nữa. Nhưng giữa đêm khuya, mỗi lần chèo thuyền qua Bến Nứa, Phương lại cất tiếng hõi:- Ai về Viễn Trình thì xuống mà về.Nhưng đêm nào cũng như đêm nào, đáp lời Phương chỉ có tiếng chuông chùa Dồng Tâm ngân dài trên mặt nước. Mục lục Bến Nứa Bến Nứa Thanh TịnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: violet2007 Nguồn: Thư viện toàn cầuĐược bạn: Thành viên VNTQ.net đưa lên vào ngày: 19 tháng 2 năm 2008
Tạ Duy Anh Bến Thời Gian Bà Hảo bị mù cả hai mắt từ khi tôi chưa ra đời. Tôi và cháu nội bà - cái Hoa - cùng sinh một năm. Bà Hảo đón cái Hoa về nuôi mà không chịu ra thị trấn với bố mẹ nó. Thế là cái Hoa trở thành bạn thân thuở bé của tôi. Chúng tôi quấn quýt với nhau như hai anh em ruột. Hàng ngày tôi đều sang với cái Hoa và hai đứa thường bí mật bày ra đủ trò tinh quái. Bà Hảo ngồi ở bờ hiên và bà luôn luôn tìm được việc gì đó vừa làm vừa canh chừng chúng tôi. Bà biết khi nào chúng tôi đang ở gần bờ ao, gióng lên một câu thật nghiêm:- Cả hai đứa quay vào! Cấm chỉ ra bờ ao.Tôi và cái Hoa chỉ còn biết lấm lét nhìn nhau phục tài bà. Có lần chúng tôi vờ im lặng đến cạnh bà. Đang yên trí là bà Hảo không biết thì tiếng bà thản nhiên cất lên:- Giận gì nhau mà im như thóc thế?Chúng tôi phá lên cười. Bà Hảo mắng yêu:- A, gớm cái quân này, định trêu bà phỏng. Chúng mày có độn thổ bà vẫn biết để moi lên như moi khoai ấy.Chúng tôi bèn mỗi đứa một bên áp vào ngực bà:- Làm sao bà trông thấy chúng cháu?- Lớn lên khắc biết - bà Hảo chớp chớp cặp mắt - người ta chẳng ai chỉ toàn gặp rủi đâu.Chúng tôi chỉ cảm nhận từ lời nói của bà một điều gì đó mơ hồ mà thiêng liêng. Điều chắc chắn là bà Hảo không thể nhìn thấy chúng tôi nếu bà không yêu chúng tôi như những báu vật.Lớn lên, đứa trước, đứa sau cả tôi và cái Hoa cùng ra thị trấn, cách làng đúng một ngày xe ngựa.Thời gian đầu chưa quen môi trường mới, cả hai đứa thường xin bố mẹ về làng thăm bà. Khi bác xà ích vui tính và tốt bụng ghìm con ngựa để tôi và cái Hoa nhảy xuống, đã thấy bà Hảo chống gậy chờ sẵn ở đó. Chúng tôi, mỗi đứa một bên dìu bà về nhà. Bà Hảo bảo bà đã nghe thấy tiếng lọc cọc, lọc cọc của chiếc xe ngựa từ trong giấc mơ của bà những đêm trước. Sau này tôi mới biết, chiều nào bà cũng đợi chúng tôi lại nơi chiếc xe ngựa dừng trả khách ở điểm cuối cùng.Những chuyến thăm bà Hảo của chúng tôi thưa dần. Cả tôi và cái Hoa đều có lũ bạn mới và con đường về làng, vẫn chỉ một ngày xe ngựa, trở nên xa mù mịt. Thảng hoặc có giỗ, tết… chỉ mình cái Hoa theo bố mẹ về. Nhưng nó lại đi ngay. Nó bảo bà Hảo rất nhớ tôi và mong tôi học hành cẩn thận. Ban đầu tôi đón nhận điều đó với một chút ân hận vì không về thăm bà. Nhưng rồi tôi quên dần nhiều thứ trong đó có cái làng hẻo lánh của mình, nơi bà Hảo vẫn ngày đêm nghe tiếng lọc cọc của xe ngựa.Tôi và cái Hoa cùng đỗ đại học và ra thành phố. Giờ đây nơi chúng tôi trở về hàng tuần, hàng tháng là cái thị trấn nhỏ ồn ào và bụi bặm. Làng nhỏ của tuổi thơ dường như biến mất trong ký ức tôi. Thảng hoặc nhớ về nó, tôi cười bởi một ý nghĩ ngạo mạn rằng, khốn khổ cho tuổi thơ tôi sinh ra ở một rẻo đất tối tăm, nghèo khó làm vậy. Ngay cả cái Hoa cũng không đủ kiên nhẫn khi có lần nó bảo tôi: "Bà tớ lẩn thẩn rồi. Lúc nào bà cũng coi hai đứa mình chỉ bằng củ khoai ấy".Tôi nhếch mép như muốn bảo: "Người già mà".… Không ngờ còn có ngày tôi thất thểu trở về làng nhỏ. Dường như khi vấp ngã trên đường đời người ta mới thấy hết niềm hạnh phúc lớn lao của những năm tháng sống trong sự đùm bọc của người khác. Với tôi có lẽ không chỉ có thế. Một cái gì còn sâu xa hơn cả sự che chở. Đó là hành trình đi tìm lại chính mình.Vẫn bác xà ích năm xưa, thêm vào quãng thời gian hơn 10 năm nhuộm lên mái tóc và chòm râu của bác. Duy cặp mắt bác là vẫn linh hoạt, thấu hiểu và hóm hỉnh như ngày nào. Chỉ thoáng qua bác đã biết tôi đang trong tâm trạng của kẻ vừa nếm thất bại. Bác cười khà khà:- Cái cậu bé tuấn tú, nhanh nhẹn và đa cảm của tôi ngày xưa đâu rồi nhỉ? Sau hơn 10 năm cậu ta cứng cáp thế này sao?- Thưa bác - tôi nói nhỏ - xin bác cho xe chạy chầm chậm một chút được không ạ…- Cũng chả thể nhanh được nếu so với ô tô, máy bay… cậu cứ yên trí. Rồi cậu xem, có những thứ càng nhanh càng hỏng!Câu nói đầy ẩn ý của bác xà ích càng làm tôi buồn. Chiếc xe lọc cọc lăn bánh, đều đặn như tiếng gõ nhịp thời gian, vang lên một cách da diết. Lạ kỳ thay, y hệt như cậu bé chìm dần vào giấc ngủ bởi lời ru ngọt ngào, lòng tôi cứ dần yên tĩnh trở lại. Tôi hơi khép mắt để cảm nhận được cả mầu thời gian trong suốt, bị khuấy động bởi những đốm nắng tinh nghịch. Tôi đã trở về được với thời gian của ký ức. Sau rất nhiều năm, bầu trời trong xanh trước mắt tôi lại trở nên bí ẩn, đầy vẫy gọi.Xen vào tiếng lọc cọc, là lời bác xà ích già:- Tôi chỉ chờ nốt cái ngày này để đưa cậu về. Sau đây tôi xong việc. Tôi muốn dành ra ít thời gian để đếm lại những ngày tháng mình bỏ sau lưng.Tôi choàng tỉnh.Vậy ra tôi là người khách cuối cùng trong cuộc đời xà ích của bác. Điều này như đã được định trước khi tôi chợt nhớ ra, có biết bao người vĩnh viễn tôi không gặp lại. Nếu họ không còn lại như một vệt sáng trong ký ức tôi, điều đó nghĩa là tôi thêm một lần cô đơn trước cuộc đời.- Cậu làm được nhiều việc chứ? - Bà xà ích đột ngột cất tiếng.- Chả biết thế nào mà nói bác ạ - Tôi đáp.- Ừ, chả biết thế nào. Phải cơn u mê thì càng làm càng gieo tai hoạ cho người khác. Có những người sống chỉ vì một việc không thể bỏ dở khiến họ phải sống đến cùng - bác xà ích cười khà khà - tôi ít chữ, cậu bỏ qua.Bác xà ích đột ngột ghìm cương ngựa. Tôi cũng đột ngột nhận ra cái bến nhỏ năm nào. Giờ đây nó trở nên hiu quạnh vì hầu như người ta không còn thích đi xe ngựa. Tiếng ô tô, xe máy… đã gầm réo không chỉ trên những con đường làng gầy giơ xương, mà cả trong niềm khắc khoải của những con người suốt đời tự đóng kín mình, như là tín hiệu của một nền văn minh vừa hấp dẫn, vừa đáng sợ.Tôi uể oải xuống xe. Bác xà ích nhanh chóng tháo ách xe khỏi vai con ngựa già rồi trịnh trọng tuyên bố:- Từ hôm nay mày được tự do. Có oán hận gì tạo thì xuống âm phủ tính sổ sòng phẳng.Bác quay sang tôi:- Cậu giúp tôi một tay.Tôi làm theo yêu cầu của bác xà ích, cùng đẩy chiếc xe vào một khu vườn. Bác nói vui:- Tôi sẽ sửa lại làm cỗ xe chở linh hồn mình về Tây Trúc.Gần như ngay lúc ấy, tôi nghe thấy một âm thanh rất lạ. Ban đầu nó còn mơ hồ. Càng về sau càng rõ dần để thành tiếng khua gậy tìm đường của ai đó. Bác xà ích cũng dỏng tai rồi cười hồn nhiên:- Bà cụ lại chậm hơn hôm qua rồi.- Bác nói ai? - Tôi hỏi cuống cuồng.- Bà cụ mù. Hôm nào cụ cũng khua gậy ra đây đứng đúng vào lúc xe của tôi dừng bánh. Độ gần một năm nay cụ yếu dần nên mỗi hôm lại chậm một chút.Tôi lại dỏng tai đón nhận thứ âm thanh giống như dao động tắt dần của quả lắc đồng hồ. Lát sau thì bà Hảo hiện ra ở lối rẽ. Bà dò đường một cách chật vật, toàn bộ tinh lực hướng về bến xe ngựa. Không cầm được, tôi lao như tên bắn về phía bà:- Bà! - Tôi nghẹn ngào - cháu bị người ta phản bội rồi…Bà Hảo lần lần từ đầu đến vai tôi như thể xem bà có đang mơ không rồi cười một cách mãn nguyện:- Bố mày, lớn thế còn khóc như con nít ấy. Dễ thường suôn sẻ cả có khi nó chả thèm biết bà sống hay chết.- Làm sao bà biết điều đó? - Tôi hỏi bà bằng nỗi sợ hãi.- Lớn lên khắc biết - bà Hảo vẫn trả lời tôi như từng trả lời hồi tôi còn bé.Tôi có cảm giác bà Hảo cũng thuộc số người quyết sống chỉ để làm việc không thể bỏ dở. Bởi vì ngay sau đó bà bảo tôi:- Từ ngày mai bà có thể chết mà không luyến tiếc điều gì.Tôi đứng chết lặng, cảm thấy vang lên trong lồng ngực tiếng gõ da diết và tàn nhẫn của thời gian. Trước mắt tôi giờ đây là những bến thời gian trắng xoá mà tôi sẽ phải một mình vượt qua…/. Mục lục Bến Thời Gian Bến Thời Gian Tạ Duy AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Vovnew. orgĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 25 tháng 1 năm 2005
Tạ Duy Anh Bến Thời Gian Bà Hảo bị mù cả hai mắt từ khi tôi chưa ra đời. Tôi và cháu nội bà - cái Hoa - cùng sinh một năm. Bà Hảo đón cái Hoa về nuôi mà không chịu ra thị trấn với bố mẹ nó. Thế là cái Hoa trở thành bạn thân thuở bé của tôi. Chúng tôi quấn quýt với nhau như hai anh em ruột. Hàng ngày tôi đều sang với cái Hoa và hai đứa thường bí mật bày ra đủ trò tinh quái. Bà Hảo ngồi ở bờ hiên và bà luôn luôn tìm được việc gì đó vừa làm vừa canh chừng chúng tôi. Bà biết khi nào chúng tôi đang ở gần bờ ao, gióng lên một câu thật nghiêm:- Cả hai đứa quay vào! Cấm chỉ ra bờ ao.Tôi và cái Hoa chỉ còn biết lấm lét nhìn nhau phục tài bà. Có lần chúng tôi vờ im lặng đến cạnh bà. Đang yên trí là bà Hảo không biết thì tiếng bà thản nhiên cất lên:- Giận gì nhau mà im như thóc thế?Chúng tôi phá lên cười. Bà Hảo mắng yêu:- A, gớm cái quân này, định trêu bà phỏng. Chúng mày có độn thổ bà vẫn biết để moi lên như moi khoai ấy.Chúng tôi bèn mỗi đứa một bên áp vào ngực bà:- Làm sao bà trông thấy chúng cháu?- Lớn lên khắc biết - bà Hảo chớp chớp cặp mắt - người ta chẳng ai chỉ toàn gặp rủi đâu.Chúng tôi chỉ cảm nhận từ lời nói của bà một điều gì đó mơ hồ mà thiêng liêng. Điều chắc chắn là bà Hảo không thể nhìn thấy chúng tôi nếu bà không yêu chúng tôi như những báu vật.Lớn lên, đứa trước, đứa sau cả tôi và cái Hoa cùng ra thị trấn, cách làng đúng một ngày xe ngựa.Thời gian đầu chưa quen môi trường mới, cả hai đứa thường xin bố mẹ về làng thăm bà. Khi bác xà ích vui tính và tốt bụng ghìm con ngựa để tôi và cái Hoa nhảy xuống, đã thấy bà Hảo chống gậy chờ sẵn ở đó. Chúng tôi, mỗi đứa một bên dìu bà về nhà. Bà Hảo bảo bà đã nghe thấy tiếng lọc cọc, lọc cọc của chiếc xe ngựa từ trong giấc mơ của bà những đêm trước. Sau này tôi mới biết, chiều nào bà cũng đợi chúng tôi lại nơi chiếc xe ngựa dừng trả khách ở điểm cuối cùng.Những chuyến thăm bà Hảo của chúng tôi thưa dần. Cả tôi và cái Hoa đều có lũ bạn mới và con đường về làng, vẫn chỉ một ngày xe ngựa, trở nên xa mù mịt. Thảng hoặc có giỗ, tết… chỉ mình cái Hoa theo bố mẹ về. Nhưng nó lại đi ngay. Nó bảo bà Hảo rất nhớ tôi và mong tôi học hành cẩn thận. Ban đầu tôi đón nhận điều đó với một chút ân hận vì không về thăm bà. Nhưng rồi tôi quên dần nhiều thứ trong đó có cái làng hẻo lánh của mình, nơi bà Hảo vẫn ngày đêm nghe tiếng lọc cọc của xe ngựa.Tôi và cái Hoa cùng đỗ đại học và ra thành phố. Giờ đây nơi chúng tôi trở về hàng tuần, hàng tháng là cái thị trấn nhỏ ồn ào và bụi bặm. Làng nhỏ của tuổi thơ dường như biến mất trong ký ức tôi. Thảng hoặc nhớ về nó, tôi cười bởi một ý nghĩ ngạo mạn rằng, khốn khổ cho tuổi thơ tôi sinh ra ở một rẻo đất tối tăm, nghèo khó làm vậy. Ngay cả cái Hoa cũng không đủ kiên nhẫn khi có lần nó bảo tôi: "Bà tớ lẩn thẩn rồi. Lúc nào bà cũng coi hai đứa mình chỉ bằng củ khoai ấy".Tôi nhếch mép như muốn bảo: "Người già mà".… Không ngờ còn có ngày tôi thất thểu trở về làng nhỏ. Dường như khi vấp ngã trên đường đời người ta mới thấy hết niềm hạnh phúc lớn lao của những năm tháng sống trong sự đùm bọc của người khác. Với tôi có lẽ không chỉ có thế. Một cái gì còn sâu xa hơn cả sự che chở. Đó là hành trình đi tìm lại chính mình.Vẫn bác xà ích năm xưa, thêm vào quãng thời gian hơn 10 năm nhuộm lên mái tóc và chòm râu của bác. Duy cặp mắt bác là vẫn linh hoạt, thấu hiểu và hóm hỉnh như ngày nào. Chỉ thoáng qua bác đã biết tôi đang trong tâm trạng của kẻ vừa nếm thất bại. Bác cười khà khà:- Cái cậu bé tuấn tú, nhanh nhẹn và đa cảm của tôi ngày xưa đâu rồi nhỉ? Sau hơn 10 năm cậu ta cứng cáp thế này sao?- Thưa bác - tôi nói nhỏ - xin bác cho xe chạy chầm chậm một chút được không ạ…- Cũng chả thể nhanh được nếu so với ô tô, máy bay… cậu cứ yên trí. Rồi cậu xem, có những thứ càng nhanh càng hỏng!Câu nói đầy ẩn ý của bác xà ích càng làm tôi buồn. Chiếc xe lọc cọc lăn bánh, đều đặn như tiếng gõ nhịp thời gian, vang lên một cách da diết. Lạ kỳ thay, y hệt như cậu bé chìm dần vào giấc ngủ bởi lời ru ngọt ngào, lòng tôi cứ dần yên tĩnh trở lại. Tôi hơi khép mắt để cảm nhận được cả mầu thời gian trong suốt, bị khuấy động bởi những đốm nắng tinh nghịch. Tôi đã trở về được với thời gian của ký ức. Sau rất nhiều năm, bầu trời trong xanh trước mắt tôi lại trở nên bí ẩn, đầy vẫy gọi.Xen vào tiếng lọc cọc, là lời bác xà ích già:- Tôi chỉ chờ nốt cái ngày này để đưa cậu về. Sau đây tôi xong việc. Tôi muốn dành ra ít thời gian để đếm lại những ngày tháng mình bỏ sau lưng.Tôi choàng tỉnh.Vậy ra tôi là người khách cuối cùng trong cuộc đời xà ích của bác. Điều này như đã được định trước khi tôi chợt nhớ ra, có biết bao người vĩnh viễn tôi không gặp lại. Nếu họ không còn lại như một vệt sáng trong ký ức tôi, điều đó nghĩa là tôi thêm một lần cô đơn trước cuộc đời.- Cậu làm được nhiều việc chứ? - Bà xà ích đột ngột cất tiếng.- Chả biết thế nào mà nói bác ạ - Tôi đáp.- Ừ, chả biết thế nào. Phải cơn u mê thì càng làm càng gieo tai hoạ cho người khác. Có những người sống chỉ vì một việc không thể bỏ dở khiến họ phải sống đến cùng - bác xà ích cười khà khà - tôi ít chữ, cậu bỏ qua.Bác xà ích đột ngột ghìm cương ngựa. Tôi cũng đột ngột nhận ra cái bến nhỏ năm nào. Giờ đây nó trở nên hiu quạnh vì hầu như người ta không còn thích đi xe ngựa. Tiếng ô tô, xe máy… đã gầm réo không chỉ trên những con đường làng gầy giơ xương, mà cả trong niềm khắc khoải của những con người suốt đời tự đóng kín mình, như là tín hiệu của một nền văn minh vừa hấp dẫn, vừa đáng sợ.Tôi uể oải xuống xe. Bác xà ích nhanh chóng tháo ách xe khỏi vai con ngựa già rồi trịnh trọng tuyên bố:- Từ hôm nay mày được tự do. Có oán hận gì tạo thì xuống âm phủ tính sổ sòng phẳng.Bác quay sang tôi:- Cậu giúp tôi một tay.Tôi làm theo yêu cầu của bác xà ích, cùng đẩy chiếc xe vào một khu vườn. Bác nói vui:- Tôi sẽ sửa lại làm cỗ xe chở linh hồn mình về Tây Trúc.Gần như ngay lúc ấy, tôi nghe thấy một âm thanh rất lạ. Ban đầu nó còn mơ hồ. Càng về sau càng rõ dần để thành tiếng khua gậy tìm đường của ai đó. Bác xà ích cũng dỏng tai rồi cười hồn nhiên:- Bà cụ lại chậm hơn hôm qua rồi.- Bác nói ai? - Tôi hỏi cuống cuồng.- Bà cụ mù. Hôm nào cụ cũng khua gậy ra đây đứng đúng vào lúc xe của tôi dừng bánh. Độ gần một năm nay cụ yếu dần nên mỗi hôm lại chậm một chút.Tôi lại dỏng tai đón nhận thứ âm thanh giống như dao động tắt dần của quả lắc đồng hồ. Lát sau thì bà Hảo hiện ra ở lối rẽ. Bà dò đường một cách chật vật, toàn bộ tinh lực hướng về bến xe ngựa. Không cầm được, tôi lao như tên bắn về phía bà:- Bà! - Tôi nghẹn ngào - cháu bị người ta phản bội rồi…Bà Hảo lần lần từ đầu đến vai tôi như thể xem bà có đang mơ không rồi cười một cách mãn nguyện:- Bố mày, lớn thế còn khóc như con nít ấy. Dễ thường suôn sẻ cả có khi nó chả thèm biết bà sống hay chết.- Làm sao bà biết điều đó? - Tôi hỏi bà bằng nỗi sợ hãi.- Lớn lên khắc biết - bà Hảo vẫn trả lời tôi như từng trả lời hồi tôi còn bé.Tôi có cảm giác bà Hảo cũng thuộc số người quyết sống chỉ để làm việc không thể bỏ dở. Bởi vì ngay sau đó bà bảo tôi:- Từ ngày mai bà có thể chết mà không luyến tiếc điều gì.Tôi đứng chết lặng, cảm thấy vang lên trong lồng ngực tiếng gõ da diết và tàn nhẫn của thời gian. Trước mắt tôi giờ đây là những bến thời gian trắng xoá mà tôi sẽ phải một mình vượt qua…/. Mục lục Bến Thời Gian Bến Thời Gian Tạ Duy AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Vovnew. orgĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 25 tháng 1 năm 2005
Vũ Thị Minh Nguyệt Bến Đục V ài năm trước nhân đợt vào miền Nam công tác Lan Anh kéo bạn đến một Câu lạc Bộ Thơ. Hai đứa cùng học trong đội tuyển thi học sinh giỏi Văn của tỉnh nên lần nào gặp nhau Lan Anh cũng rủ Bình đến đó. Và Bình gặp An, dáng thư sinh, trắng trẻo giọng nói mềm mỏng của dân trí thức khiến cô rất thiện cảm với người bạn mới quen. Hôm đó An đọc bài thơ rất hay của Xuân Quỳnh, nhà thơ nữ tài hoa, xinh đẹp mà cả hai cô đều ngưỡng mộ. Hoa cỏ may Cát vàng, sông đầy cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa Tên mình ai gọi sau vòm lá Lối cũ em về nay đã thu Mây trắng bay đi cùng với gió Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ Đắng cay gửi lại bao mùa cũ Thơ viết đôi dòng theo gió xa Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may áo em sơ ý cỏ găm đầy Lời yêu mỏng mảnh như màu khói Ai biết lòng anh có đổi thay? An bình thơ rất hay lại có giọng nói truyền cảm khiến Bình chăm chú nghe anh từ đầu đến cuối với vẻ ngưỡng mộ lộ liễu. Khi mọi người vỗ tay rào rào cũng là lúc An đến bên cạnh cô và Lan Anh: - Trông chị rất giống Xuân Quỳnh, tôi đọc thơ mà cứ như thấy nhà thơ trước mặt! Vậy là ba người quen nhau. An kể anh đã từng học ở Mockva về, ba người bàn luận về thi ca Nga say sưa cả buổi thật tâm đầu ý hợp. Thú vị hơn là sau buổi nói chuyện hai người phát hiện ra cùng quen biết Minh một người bạn cùng lớp với cô cũng học ở Liên Xô thời đó. Chẳng có gì vui hơn khi xa nhà hàng ngàn cây số gặp được một người bạn cùng sở thích lại cùng có chung một người bạn cũ . Chưa kể Minh đã từng là thần tượng đầu đời của cô. Bình hỏi thăm rất nhiều về anh, về những những kỷ niệm của thời Liên Xô cũ. Những ngày sau đó rất vui, An đưa cô đi chơi khắp Sài gòn, thao thao bất tuyệt về đủ mọi thứ mà Bình tỏ ra lạ lẫm trong thành phố ồn ào náo nhiệt này. Hết chuyến công tác phải nói Bình vui lắm. Công việc trôi chảy cộng thêm một người bạn mới dễ chịu. * * * * * Minh là lớp phó phụ trách học tập. Minh giỏi Toán, cái môn mà chỉ nghe đến Bình đã thấy sợ. Đứa con trai lù khù như ông cụ nhưng ánh mắt nhìn cứ trong veo. Hắn học giỏi, thâm trầm và ít nói. Thỉnh thoảng đi trong sân trường Bình vẫn có cảm giác nhột nhột sau gáy và nếu bất chợt quay lại là ánh nhìn kia…nhưng cũng chỉ có vậy. Rồi cũng qua ba mùa phượng vĩ . Tiếng ve lanh lảnh lúc chia xa nghe như xé lòng. Cô nắn nót viết vào trong cuốn sổ tay câu thơ của ai đó : Có những người con trai Yêu mà không dám nói Có những người con gái Yêu chỉ biết nhìn thôi! Giá mà vẽ được Bình sẽ vẽ bức tranh Buổi Sáng với những tia Bình Minh ấm áp, nồng nàn. Không sao hai chữ Bình Minh đã kẻ bóng, lồng vào nhau với những bông hoa nhỏ li ti viền theo dưới bài thơ. Đêm cuối cùng trước ngày đi nước ngoài là một đêm thứ Bảy, Minh đã đến tìm cô ở ký túc xá. Lúc đó Bình đang tung tăng trong một cuộc hò hẹn của một đôi khác mà không biết rằng mình đang là kẻ vô duyên trong cả cuộc hẹn của đôi kia cũng như duyên số của chính mình. Rồi Bình lấy chồng có con, Minh cũng trải qua vài cuộc tình. Tưởng rồi đã quên, vậy mà khi nghe tiếng Minh trong điện thoại, giọng nói của Bình vẫn lạc đi…Trống ngực vẫn phập phồng, người đàn bà bây giờ và cô bé ngày xưa có gì khác? * * * * * Càng lớn tuổi thì Bình càng tin vào một sức mạnh siêu nhiên nào đó. Cô năng đi chùa chiền hơn. Vào dịp lễ hội đầu năm thế nào Bình cũng đi chùa Hương, nhưng năm nay thì bận chưa đi được. Chả hiểu sao cứ mỗi lần đến nơi thiêng liêng huyền bí này cô luôn cảm thấy thanh thản lạ lùng. Phần vì leo núi hít thở không khí trong lành. Phần vì phong cảnh dọc đường sơn thủy hữu tình lại mang một tâm niệm về nơi đất Phật khiến Bình như khỏe hơn, chân bước cứ phăm phăm. Bẵng đi lâu lâu kể từ lần gặp An, một buổi tối tháng 5 Bình nhận được cuộc điện thọai của An. Anh đang ở Hà nội, ngày thứ Hai phải họp tiếp mà Chủ nhật chưa biết đi đâu. - Em có rảnh không ? Hay mai mình rủ Minh đi chùa Hương, lâu lắm không gặp Minh và anh chưa có dịp đến Hương Tích bao giờ! Có lẽ tại năm nay Bình chưa đi chùa Hương. Có lẽ cái tên Minh trong lời rủ rê của An cũng gây chút nào ấn tượng. Có lẽ tự nhiên Bình không có đủ can đảm hẹn gặp Minh, sau từng ấy năm. Anh có hiểu rằng tình yêu của một người đàn bà và tình yêu của một thiếu nữ cũng vẫn chỉ là tình yêu? Bài thơ Lá mùa Thu của cô giáo trẻ Nguyễn Thị Thanh Vân, gián đoạn suy nghĩ của Bình : Mình quen nhau trong một mùa thu lá vàng lung linh như cái nhìn tha thiết em 18 ngây ngô nên cứ ước anh là lá vàng bay suốt cuộc đời em.... Là chiếc lá kia đang khe khẽ bay nghiêng hay chiêc lá còn ở trên cây đó hay chiếc lá rụng rồi nằm trên cỏ còn xạc xào, trăn trở mãi không yên,... Dẫu mấy tình yêu đi qua một con tim ai quen được với niềm đau chia cắt có một ngày.... lá vàng rơi như là nước mắt lặng lẽ một mình, em khóc với mùa thu. Anh có vợ rồi, đâu còn nhớ ngày xưa em cũng có chồng mà mỗi mùa lá rụng bàn chân cứ tìm về nơi xưa hò hẹn để thấy lá vàng từ thu ấy vẫn bay... Cô đang rất nhớ Minh! - Vâng em sẽ đặt xe còn anh hẹn Minh nhé! - Ừ mai cho xe đến đón anh và Minh ở Khách sạn. Hôm sau Bình đến sớm và An đã chờ sẵn ở tiền sảnh khách sạn nhưng không có Minh. Trả lời ánh mắt dò hỏi của Bình là An không liên lạc được với anh. Thôi bọn mình đành đi mà không có anh ấy vậy, An cười rất tươi. Môi vẫn đỏ như môi con gái. - Đi chùa Hương hôm nay nóng lắm hay mình đi chỗ khác chơi đi. - Không được chùa Hương thiêng lắm nếu nói đi mà không đi là có tội. Bình kiên quyết. - Em mê tín quá! - Em không đùa đâu, vì suối Yến nông phèo, lội chỉ tới tai mà vẫn có người chết đuối. Nghe đâu người này đã báng bổ điều gì trước cửa Phật. - Ôi dào, Phật thì phải từ bi chứ. An cười cười và Bình chả muốn cãi thêm. Đến bến Đục hai người thuê một chiếc thuyền gỗ vào chùa. Không phải mùa lễ hội nên lưa thưa khách. Bến Đục cũng trong hơn mọi khi. Mà cũng lạ, con suối Yến ngắn tèo mà ở bến Đục thì đục ngầu còn vào đến đền Trình thì nước lại trong vắt. Nhìn thấy cả rong rêu dưới đáy, Bình thò chân xuống mát lạnh. Cảm giác thích thú như trẻ nhỏ. Cô nhớ đến câu chuyện ai đó kể 99 con voi trong dãy núi Voi phục quay đầu về đất Phật chỉ một con đầu đàn ngang ngược quay lại đã bị Bồ Tát giận phạt cho một roi sụt cả một bên mông. Những câu chuyện huyền bí về Nam Thiên đệ nhất động được truyền miệng từ người này đến người khác. Chiếc thuyền gỗ chở hai người nhẹ tênh lướt đi, Bình đọc lướt câu thơ ghi trên tấm vé tham quan: Đường vào Hương Tích lượn quanh Nước non gấm dệt, mầu xanh phủ màn Người Niệm Phật, khách tham quan, Suối thanh tịnh rửa nhẹ nhàng trần duyên... Đến bến Trò cùng với lác đác vài người khách, hai người lên đền Trình. Tuổi trung niên nhưng Bình vẫn giữ được dáng vẻ thể thao trong chiếc quần zin và áo thun bó sát. Đôi giầy thể thao khiến cô trẻ hơn cả chục tuổi. Cô đã chuẩn bị leo núi trước khi đi nhưng An bảo đi cáp treo cho đỡ mệt. Lâu nay khách nước ngoài yêu thích du lịch chùa Hương chỉ vì vừa được đi thăm Nam thiên Đệ Nhất động vừa được đi dã ngoại để hít thở không khí trong lành của miền sơn cước mà chả hiểu sao cái anh Du lịch Hà Tây lại cho cáp treo vào. Rõ chán!. Phải công nhận đi cáp treo thật tiện, loáng một cái đã gần vào đến Động. Cái nhà cáp treo trông hoành tráng lắm nhưng ngồi trong ca bin nhìn ra phía dưới nhà thì bẩn quá, túi ni lông, rác xây dựng đủ cả. Thật cụt cả hứng để ngắm cảnh từ trên cao xuống. Vào động An đứng sát người Bình lúc đang thắp hương và cười cười: ”em khấn gì cho anh khấn theo với”. Cô nghĩ An là chủ thầu xây dựng dạn dĩ với phụ nữ quen rồi nên không nói gì. Bình bắt đầu nói cho An về Cây Bạc, Cây Vàng, về nơi xin Cô, xin Cậu và Bầu Sữa Mẹ: - Đây là Bầu Sữa Mẹ, các bà mẹ trẻ thường đến đây hứng sữa ( những giọt nước tí tách chảy từ nhũ thạch xuống) xoa vào ngực để nuôi con cho dễ. Bất ngờ vì từ phía sau vòng tay ôm chặt lấy cô nơi ngực và An nói trong ngột ngạt: - Thế còn bầu sữa của em ? Kinh hoàng vì đang đứng nơi cửa Phật, kinh hoàng vì quá bất ngờ, Bình đẩy tay An ra và đi nhanh ra phía ngoài động. Trên đường về cả hai đều im lặng! Nghe nói bến Trò thiêng lắm, ai có oan ức gì đến đó rửa tay rửa mặt sẽ gột sạch nhơ nhớp, oan khiên. Trong lúc chờ lái đò quay trở ra Bình đã cố chà mãi chà mãi hai bàn tay của mình. Đỏ lựng! * * * * *Vài hôm sau, Lan Anh nhắn : "An đang nằm viện. Trên đường đi làm về gặp bọn đua xe máy tông vào, gãy nát tay phải may không bị vào não đang phải bó bột nằm bất động. Chiều nay mình sẽ vào thăm An!". Bình nghe tin ấy như đã biết trước, cô lãng đãng nghĩ đến những câu chuyện huyền thoại về bến Đục. Mục lục Bến Đục Bến Đục Vũ Thị Minh NguyệtChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy:Vũ Thị Minh Nguyệt Nguồn: bạn: TTL đưa lên vào ngày: 7 tháng 9 năm 2006
Vũ Thị Minh Nguyệt Bến Đục V ài năm trước nhân đợt vào miền Nam công tác Lan Anh kéo bạn đến một Câu lạc Bộ Thơ. Hai đứa cùng học trong đội tuyển thi học sinh giỏi Văn của tỉnh nên lần nào gặp nhau Lan Anh cũng rủ Bình đến đó. Và Bình gặp An, dáng thư sinh, trắng trẻo giọng nói mềm mỏng của dân trí thức khiến cô rất thiện cảm với người bạn mới quen. Hôm đó An đọc bài thơ rất hay của Xuân Quỳnh, nhà thơ nữ tài hoa, xinh đẹp mà cả hai cô đều ngưỡng mộ. Hoa cỏ may Cát vàng, sông đầy cây ngẩn ngơ Không gian xao xuyến chuyển sang mùa Tên mình ai gọi sau vòm lá Lối cũ em về nay đã thu Mây trắng bay đi cùng với gió Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ Đắng cay gửi lại bao mùa cũ Thơ viết đôi dòng theo gió xa Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may áo em sơ ý cỏ găm đầy Lời yêu mỏng mảnh như màu khói Ai biết lòng anh có đổi thay? An bình thơ rất hay lại có giọng nói truyền cảm khiến Bình chăm chú nghe anh từ đầu đến cuối với vẻ ngưỡng mộ lộ liễu. Khi mọi người vỗ tay rào rào cũng là lúc An đến bên cạnh cô và Lan Anh: - Trông chị rất giống Xuân Quỳnh, tôi đọc thơ mà cứ như thấy nhà thơ trước mặt! Vậy là ba người quen nhau. An kể anh đã từng học ở Mockva về, ba người bàn luận về thi ca Nga say sưa cả buổi thật tâm đầu ý hợp. Thú vị hơn là sau buổi nói chuyện hai người phát hiện ra cùng quen biết Minh một người bạn cùng lớp với cô cũng học ở Liên Xô thời đó. Chẳng có gì vui hơn khi xa nhà hàng ngàn cây số gặp được một người bạn cùng sở thích lại cùng có chung một người bạn cũ . Chưa kể Minh đã từng là thần tượng đầu đời của cô. Bình hỏi thăm rất nhiều về anh, về những những kỷ niệm của thời Liên Xô cũ. Những ngày sau đó rất vui, An đưa cô đi chơi khắp Sài gòn, thao thao bất tuyệt về đủ mọi thứ mà Bình tỏ ra lạ lẫm trong thành phố ồn ào náo nhiệt này. Hết chuyến công tác phải nói Bình vui lắm. Công việc trôi chảy cộng thêm một người bạn mới dễ chịu. * * * * * Minh là lớp phó phụ trách học tập. Minh giỏi Toán, cái môn mà chỉ nghe đến Bình đã thấy sợ. Đứa con trai lù khù như ông cụ nhưng ánh mắt nhìn cứ trong veo. Hắn học giỏi, thâm trầm và ít nói. Thỉnh thoảng đi trong sân trường Bình vẫn có cảm giác nhột nhột sau gáy và nếu bất chợt quay lại là ánh nhìn kia…nhưng cũng chỉ có vậy. Rồi cũng qua ba mùa phượng vĩ . Tiếng ve lanh lảnh lúc chia xa nghe như xé lòng. Cô nắn nót viết vào trong cuốn sổ tay câu thơ của ai đó : Có những người con trai Yêu mà không dám nói Có những người con gái Yêu chỉ biết nhìn thôi! Giá mà vẽ được Bình sẽ vẽ bức tranh Buổi Sáng với những tia Bình Minh ấm áp, nồng nàn. Không sao hai chữ Bình Minh đã kẻ bóng, lồng vào nhau với những bông hoa nhỏ li ti viền theo dưới bài thơ. Đêm cuối cùng trước ngày đi nước ngoài là một đêm thứ Bảy, Minh đã đến tìm cô ở ký túc xá. Lúc đó Bình đang tung tăng trong một cuộc hò hẹn của một đôi khác mà không biết rằng mình đang là kẻ vô duyên trong cả cuộc hẹn của đôi kia cũng như duyên số của chính mình. Rồi Bình lấy chồng có con, Minh cũng trải qua vài cuộc tình. Tưởng rồi đã quên, vậy mà khi nghe tiếng Minh trong điện thoại, giọng nói của Bình vẫn lạc đi…Trống ngực vẫn phập phồng, người đàn bà bây giờ và cô bé ngày xưa có gì khác? * * * * * Càng lớn tuổi thì Bình càng tin vào một sức mạnh siêu nhiên nào đó. Cô năng đi chùa chiền hơn. Vào dịp lễ hội đầu năm thế nào Bình cũng đi chùa Hương, nhưng năm nay thì bận chưa đi được. Chả hiểu sao cứ mỗi lần đến nơi thiêng liêng huyền bí này cô luôn cảm thấy thanh thản lạ lùng. Phần vì leo núi hít thở không khí trong lành. Phần vì phong cảnh dọc đường sơn thủy hữu tình lại mang một tâm niệm về nơi đất Phật khiến Bình như khỏe hơn, chân bước cứ phăm phăm. Bẵng đi lâu lâu kể từ lần gặp An, một buổi tối tháng 5 Bình nhận được cuộc điện thọai của An. Anh đang ở Hà nội, ngày thứ Hai phải họp tiếp mà Chủ nhật chưa biết đi đâu. - Em có rảnh không ? Hay mai mình rủ Minh đi chùa Hương, lâu lắm không gặp Minh và anh chưa có dịp đến Hương Tích bao giờ! Có lẽ tại năm nay Bình chưa đi chùa Hương. Có lẽ cái tên Minh trong lời rủ rê của An cũng gây chút nào ấn tượng. Có lẽ tự nhiên Bình không có đủ can đảm hẹn gặp Minh, sau từng ấy năm. Anh có hiểu rằng tình yêu của một người đàn bà và tình yêu của một thiếu nữ cũng vẫn chỉ là tình yêu? Bài thơ Lá mùa Thu của cô giáo trẻ Nguyễn Thị Thanh Vân, gián đoạn suy nghĩ của Bình : Mình quen nhau trong một mùa thu lá vàng lung linh như cái nhìn tha thiết em 18 ngây ngô nên cứ ước anh là lá vàng bay suốt cuộc đời em.... Là chiếc lá kia đang khe khẽ bay nghiêng hay chiêc lá còn ở trên cây đó hay chiếc lá rụng rồi nằm trên cỏ còn xạc xào, trăn trở mãi không yên,... Dẫu mấy tình yêu đi qua một con tim ai quen được với niềm đau chia cắt có một ngày.... lá vàng rơi như là nước mắt lặng lẽ một mình, em khóc với mùa thu. Anh có vợ rồi, đâu còn nhớ ngày xưa em cũng có chồng mà mỗi mùa lá rụng bàn chân cứ tìm về nơi xưa hò hẹn để thấy lá vàng từ thu ấy vẫn bay... Cô đang rất nhớ Minh! - Vâng em sẽ đặt xe còn anh hẹn Minh nhé! - Ừ mai cho xe đến đón anh và Minh ở Khách sạn. Hôm sau Bình đến sớm và An đã chờ sẵn ở tiền sảnh khách sạn nhưng không có Minh. Trả lời ánh mắt dò hỏi của Bình là An không liên lạc được với anh. Thôi bọn mình đành đi mà không có anh ấy vậy, An cười rất tươi. Môi vẫn đỏ như môi con gái. - Đi chùa Hương hôm nay nóng lắm hay mình đi chỗ khác chơi đi. - Không được chùa Hương thiêng lắm nếu nói đi mà không đi là có tội. Bình kiên quyết. - Em mê tín quá! - Em không đùa đâu, vì suối Yến nông phèo, lội chỉ tới tai mà vẫn có người chết đuối. Nghe đâu người này đã báng bổ điều gì trước cửa Phật. - Ôi dào, Phật thì phải từ bi chứ. An cười cười và Bình chả muốn cãi thêm. Đến bến Đục hai người thuê một chiếc thuyền gỗ vào chùa. Không phải mùa lễ hội nên lưa thưa khách. Bến Đục cũng trong hơn mọi khi. Mà cũng lạ, con suối Yến ngắn tèo mà ở bến Đục thì đục ngầu còn vào đến đền Trình thì nước lại trong vắt. Nhìn thấy cả rong rêu dưới đáy, Bình thò chân xuống mát lạnh. Cảm giác thích thú như trẻ nhỏ. Cô nhớ đến câu chuyện ai đó kể 99 con voi trong dãy núi Voi phục quay đầu về đất Phật chỉ một con đầu đàn ngang ngược quay lại đã bị Bồ Tát giận phạt cho một roi sụt cả một bên mông. Những câu chuyện huyền bí về Nam Thiên đệ nhất động được truyền miệng từ người này đến người khác. Chiếc thuyền gỗ chở hai người nhẹ tênh lướt đi, Bình đọc lướt câu thơ ghi trên tấm vé tham quan: Đường vào Hương Tích lượn quanh Nước non gấm dệt, mầu xanh phủ màn Người Niệm Phật, khách tham quan, Suối thanh tịnh rửa nhẹ nhàng trần duyên... Đến bến Trò cùng với lác đác vài người khách, hai người lên đền Trình. Tuổi trung niên nhưng Bình vẫn giữ được dáng vẻ thể thao trong chiếc quần zin và áo thun bó sát. Đôi giầy thể thao khiến cô trẻ hơn cả chục tuổi. Cô đã chuẩn bị leo núi trước khi đi nhưng An bảo đi cáp treo cho đỡ mệt. Lâu nay khách nước ngoài yêu thích du lịch chùa Hương chỉ vì vừa được đi thăm Nam thiên Đệ Nhất động vừa được đi dã ngoại để hít thở không khí trong lành của miền sơn cước mà chả hiểu sao cái anh Du lịch Hà Tây lại cho cáp treo vào. Rõ chán!. Phải công nhận đi cáp treo thật tiện, loáng một cái đã gần vào đến Động. Cái nhà cáp treo trông hoành tráng lắm nhưng ngồi trong ca bin nhìn ra phía dưới nhà thì bẩn quá, túi ni lông, rác xây dựng đủ cả. Thật cụt cả hứng để ngắm cảnh từ trên cao xuống. Vào động An đứng sát người Bình lúc đang thắp hương và cười cười: ”em khấn gì cho anh khấn theo với”. Cô nghĩ An là chủ thầu xây dựng dạn dĩ với phụ nữ quen rồi nên không nói gì. Bình bắt đầu nói cho An về Cây Bạc, Cây Vàng, về nơi xin Cô, xin Cậu và Bầu Sữa Mẹ: - Đây là Bầu Sữa Mẹ, các bà mẹ trẻ thường đến đây hứng sữa ( những giọt nước tí tách chảy từ nhũ thạch xuống) xoa vào ngực để nuôi con cho dễ. Bất ngờ vì từ phía sau vòng tay ôm chặt lấy cô nơi ngực và An nói trong ngột ngạt: - Thế còn bầu sữa của em ? Kinh hoàng vì đang đứng nơi cửa Phật, kinh hoàng vì quá bất ngờ, Bình đẩy tay An ra và đi nhanh ra phía ngoài động. Trên đường về cả hai đều im lặng! Nghe nói bến Trò thiêng lắm, ai có oan ức gì đến đó rửa tay rửa mặt sẽ gột sạch nhơ nhớp, oan khiên. Trong lúc chờ lái đò quay trở ra Bình đã cố chà mãi chà mãi hai bàn tay của mình. Đỏ lựng! * * * * *Vài hôm sau, Lan Anh nhắn : "An đang nằm viện. Trên đường đi làm về gặp bọn đua xe máy tông vào, gãy nát tay phải may không bị vào não đang phải bó bột nằm bất động. Chiều nay mình sẽ vào thăm An!". Bình nghe tin ấy như đã biết trước, cô lãng đãng nghĩ đến những câu chuyện huyền thoại về bến Đục. Mục lục Bến Đục Bến Đục Vũ Thị Minh NguyệtChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy:Vũ Thị Minh Nguyệt Nguồn: bạn: TTL đưa lên vào ngày: 7 tháng 9 năm 2006
Long Nguyễn Bệ Thượng Rằng ngày xưa có 1 ông dzua . Khỏi nói các bạn cũng biết dzua ngày xưa sướng như thế nào . Về mặt tình cảm thì dzua khỏi cần mần thơ, viết văn như Hellomy9, Huyennguyen … cũng chẳng cần tương tư gì ráo trọi, muốn lấy ai làm vợ thì lấy, khỏi tán tỉnh lôi thôi . Về mặt ăn uống thì quá thể là bày vẽ . Muốn ăn thịt gà thì cũng gà nuôi bằng gạo trộn nhân sâm, muốn ăn cá thì cũng loại cá hiếm, câu được cách xa hàng ngàn cây số . Cơm no bò cưỡi sung sướng quá . Sướng quá sanh tật . Ông dzua 1 hôm thèm ăn cám là thức ăn của lợn . Đêm hôm ấy, ông dzua mò xuống ngự trù phòng lục cám lợn ăn . Ngon lắm, bữa nào các bạn... ăn thử coi . Mải mê ăn, ông dzua không biết có 1 viên quan đại thần nom thấy nên ních đầy 1 bụng cám lợn . Tạm đặt tên cho quan lớn đại thần này là Morph đi . Vốn tánh mỏ nhọn, cụ Morph về nhà sinh ngứa mồm . Nói ông dzua ăn cám thì vừa mất thể diện quốc gia vừa mất đầu mà không nói thì ngứa mồm chịu không nổi . Sau hai ngày đi tới đi lui, quan đại thần Morph chờ đêm xuống đi vào rừng . Đó là khu rừng già toàn những gốc cổ thụ hàng trăm năm . Tìm được 1 cây có cái hốc vừa tầm người,(chỗ cây lõm vào vì khuyết tật gì đó), cụ cúi xuống la to : - Ông dzua ăn cám. Lạ lắm bạn ơi, cả khu rừng vọng lại tiếng :"Ông dzua ăn cám" . Hoảng sợ, những tưởng nó vọng mãi không ngớt, quan lớn nhà ta định bỏ chạy kẻo ai thấy . Rất may, tiếng vọng cũng lập lại 3 tiếng rồi thôi . Thoát nạn, cụ yên chí ra về . Cái uất ức không được nói giờ đây đã được giải tỏa, chỉ 1 mẻ sợ mất mật . Câu chuyện ông dzua ăn cám chìm dần vào quên lãng. Bỗng một hôm khắp bàn dân thiên hạ xôn xao vì những cái trống kỳ lạ. Nhà cụ lớn Morph ở gần bên 1 khu rừng già. Bên kia khu rừng là của 1 xóm nghệ nhân chuyên sản xuất trống . Rừng ngay đó dùng để làm khung trống, một bộ phận trong làng chuyên nuôi bò lấy da làm mặt trống . Họ có thể sống nhàn hạ với nghề nghiệp của họ vì không lệ thuộc làng khác về thiếu hụt nguyên liệu . Không nhớ từ lúc nào, trống làng này khi gõ thay vì tiếng :"Thùng, thùng" thì lại vang lên những tiếng :"Ông dzua ăn cám" . Nhưng có nơi người ta nghe khác . Người ta nghe:"Ông dzua ăn cơm" hay "Ông dzua ăn... cứt" nữa . Họ không nghe giống nhau . Tạm gọi ông dzua này là Bệ Thuợng nheng . Sở dĩ gọi là bệ thượng là vì ông dzua thấy rằng gọi mình là bệ hạ nghe thường quá . Tánh ông Bệ Thượng khoái nịnh . Một sớm mai tuyệt vời có đủ những thứ rất thơ ta thường đọc về non nước hữu tình, có mây giăng đầu núi, có chim hót véo von và mặt người rạng rỡ, một đoàn quân kiểu CIA từ hoàng thành túa ra mọi ngả . Chiếu chỉ rằng tổ quốc lâm nguy, mọi cái trống phản động phải được truy tầm và phá hủy, kể cả những cái trống kêu :"ông dzua ăn cơm" . Trống này khó đoán lắm . Tùy theo người đánh trống, nó có thể đổi chữ "cơm" thành chữ gì đó rất khó nghe . Kẻ một lòng trung quân ái quốc thì trống kêu khác, người đem lòng oán ghét dzua, nó kêu khác . Chỉ trong vòng một tháng, cả 1 miền đất nước gấm hoa chẳng chỗ nào có trống cả . Những ban nhạc từ xoàng cho đến nổi tiếng đều phải lật ngược nồi niêu làm trống . Đất nước thiếu hẳn nghề làm trống nhưng bù lại, nồi niêu ngày càng có giá . Cái làng sinh quán của cụ đại thần Morph chuyển sang làm nồi niêu cả . Người ta gọi hiện tượng kinh tế này là thị trường tự do có định hướng xã hội chủ nghĩa . Những tưởng tàn dư phản động đã hết, ông Bệ Thuợng mừng lắm, sắc lịnh toàn quốc mở hội hoa đăng đánh dấu ngày tổ quốc hết lâm nguy . Nào ngờ giữa lúc mặt rồng hớn hở, ngay cổng ngọ môn bỗng xôn xao náo động . Người ta giải giao 1 ông cụ tay cầm cái trống, vào bệ kiến hoàng thượng . - Lão già kia tại sao không giao nạp cái trống? Có biết tội khi quân không? Ông Bệ Thượng vỗ bàn thét . Quên nữa, thường thì trên ngai cửu trùng không có bàn, cụ đại thần Morph có bổn phận quỳ trước mặt dzua mỗi khi thiết triều để lúc nào nổi giận, dzua vỗ vào đầu thay cho vỗ bàn . Hóa cho nên cụ quan đại thần Morph sói đầu trước tuổi . Mới ngoài 30 chẳng còn sợi tóc nào hết . Phủ phục trước ngai vàng, ông cụ từ từ ngẩng mặt : - Muôn tâu bệ thượng. Bệ thượng hãy nhìn vào mắt kẻ thảo dân này . Ý ông cụ định bắt chước Phương Thanh :"Hãy nhìn vào đôi mắt thơ ngây, sẽ nhìn được trong trái tim này", mà quýnh quá ông cụ quên mất . Ông cụ tiếp : - Phải mắt của kẻ thảo dân này mù không? Mất đi một giác quan mà không có cơ cứu vãn mới thấy cái thiết yếu của nó . Kẻ thảo dân này không thấy được từ lúc bẩm sinh mà còn tiếc rằng tại sao mình không có mắt . Tròng mắt ông cụ trắng đục như hai cái hột nhãn gặm nham nhở . Ông bệ thượng lại vỗ đầu cụ Morph, lần này bàn tay có kèm theo cái đùi gà : - Nói lẹ lên . Rồi sao nữa? - Muôn tâu bệ thượng . Ngũ quan là ân sủng Thượng Đế ban cho . Chẳng ai tự dưng cắt lưỡi, bịt tai hay chọc mù mắt để không thấy không nghe những điều mình không muốn . Bệ thượng được Trời cho thêm 1 giác quan thứ sáu, đó là cái trống . Nó làm cho bệ thượng thấu được tâm tư của những thần dân mà vì bản tính con người luôn e dè sự thật, ngài nỡ nhẫn tâm phế bỏ cái giác quan ấy. Kẻ thảo dân này lấy làm tiếc. Ông bệ thượng vuốt râu suy nghĩ. Nghĩ lâu lắm. Bỗng ông truyền lệnh : - Các quan từ nhớn chí bé xếp hàng một, mỗi thằng lên gõ trống cho dzua nghe thử . Không phải khoe tài nhưng cụ đại thần Morph nổi tiếng là nịnh thần . Lưng cụ khom bất trị . Bác sĩ Vũ Ban của thẩm mỹ viện Bích Ngọc có lần lấy 2 tấm ván ép, túm hai đầu, kẹp cụ Morph vào trong mà đến lúc tháo ván ra, lưng cụ vẫn cong như thường . Các cụ xưa kể rằng cụ Morph hồi đó đẻ khó vì đưa cái lưng ra trước . Cái nôi cho bé Morph phải đặc chế hình chữ V . Ngày thôi nôi, người ta để chung quanh Morph 1 cuốn sách, cây bút, cây kiếm để nếu Morph cầm thứ nào thì đoán được sau này Morph sẽ làm nghề đó . Ấy là người ta cố tình không bày biện nhiều thứ tầm thường như chén cơm, rau cỏ sợ thằng bé sau này làm ruộng . Bé Morph chả thiết gì những thứ ấy, mặc bao con mắt hồi hộp theo dõi, nó cứ đưa tay nghịch... chim . Không biết tại ngứa hay điềm giời . Thầy bói Phù Du xủ quẻ nói rằng : - Vậy là thằng này nâng bi . Lớn lên chắc chắn nó nịnh giỏi lắm. Thật vậy, con đường danh vọng cụ Morph ngày càng phất . Từ 1 nhà dân dã, chỉ vài năm cụ Morph leo đến chức nhất phẩm triều đình nhờ cái lưng cong và cái mồm lẻo lự . Lần này, cụ đại thần Morph được đánh trống trước nhất . Cụ vén tay áo thẳng cánh dộng xuống mặt trống : - Ông dzua ăn cám. Khom lưng kính cẩn trao lại dùi trống lên chín bệ, cụ Morph nở một nụ cười e ấp . Cụ không có răng cửa nên dù là hàm tiếu, ta chỉ sánh với quái nhân, kỳ vật nào đó trong cổ tích, báo trước một thiên tai. Mục lục Bệ Thượng Bệ Thượng Long NguyễnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Long ( Meta) Nguồn: Vnthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 12 năm 2005
Long Nguyễn Bệ Thượng Rằng ngày xưa có 1 ông dzua . Khỏi nói các bạn cũng biết dzua ngày xưa sướng như thế nào . Về mặt tình cảm thì dzua khỏi cần mần thơ, viết văn như Hellomy9, Huyennguyen … cũng chẳng cần tương tư gì ráo trọi, muốn lấy ai làm vợ thì lấy, khỏi tán tỉnh lôi thôi . Về mặt ăn uống thì quá thể là bày vẽ . Muốn ăn thịt gà thì cũng gà nuôi bằng gạo trộn nhân sâm, muốn ăn cá thì cũng loại cá hiếm, câu được cách xa hàng ngàn cây số . Cơm no bò cưỡi sung sướng quá . Sướng quá sanh tật . Ông dzua 1 hôm thèm ăn cám là thức ăn của lợn . Đêm hôm ấy, ông dzua mò xuống ngự trù phòng lục cám lợn ăn . Ngon lắm, bữa nào các bạn... ăn thử coi . Mải mê ăn, ông dzua không biết có 1 viên quan đại thần nom thấy nên ních đầy 1 bụng cám lợn . Tạm đặt tên cho quan lớn đại thần này là Morph đi . Vốn tánh mỏ nhọn, cụ Morph về nhà sinh ngứa mồm . Nói ông dzua ăn cám thì vừa mất thể diện quốc gia vừa mất đầu mà không nói thì ngứa mồm chịu không nổi . Sau hai ngày đi tới đi lui, quan đại thần Morph chờ đêm xuống đi vào rừng . Đó là khu rừng già toàn những gốc cổ thụ hàng trăm năm . Tìm được 1 cây có cái hốc vừa tầm người,(chỗ cây lõm vào vì khuyết tật gì đó), cụ cúi xuống la to : - Ông dzua ăn cám. Lạ lắm bạn ơi, cả khu rừng vọng lại tiếng :"Ông dzua ăn cám" . Hoảng sợ, những tưởng nó vọng mãi không ngớt, quan lớn nhà ta định bỏ chạy kẻo ai thấy . Rất may, tiếng vọng cũng lập lại 3 tiếng rồi thôi . Thoát nạn, cụ yên chí ra về . Cái uất ức không được nói giờ đây đã được giải tỏa, chỉ 1 mẻ sợ mất mật . Câu chuyện ông dzua ăn cám chìm dần vào quên lãng. Bỗng một hôm khắp bàn dân thiên hạ xôn xao vì những cái trống kỳ lạ. Nhà cụ lớn Morph ở gần bên 1 khu rừng già. Bên kia khu rừng là của 1 xóm nghệ nhân chuyên sản xuất trống . Rừng ngay đó dùng để làm khung trống, một bộ phận trong làng chuyên nuôi bò lấy da làm mặt trống . Họ có thể sống nhàn hạ với nghề nghiệp của họ vì không lệ thuộc làng khác về thiếu hụt nguyên liệu . Không nhớ từ lúc nào, trống làng này khi gõ thay vì tiếng :"Thùng, thùng" thì lại vang lên những tiếng :"Ông dzua ăn cám" . Nhưng có nơi người ta nghe khác . Người ta nghe:"Ông dzua ăn cơm" hay "Ông dzua ăn... cứt" nữa . Họ không nghe giống nhau . Tạm gọi ông dzua này là Bệ Thuợng nheng . Sở dĩ gọi là bệ thượng là vì ông dzua thấy rằng gọi mình là bệ hạ nghe thường quá . Tánh ông Bệ Thượng khoái nịnh . Một sớm mai tuyệt vời có đủ những thứ rất thơ ta thường đọc về non nước hữu tình, có mây giăng đầu núi, có chim hót véo von và mặt người rạng rỡ, một đoàn quân kiểu CIA từ hoàng thành túa ra mọi ngả . Chiếu chỉ rằng tổ quốc lâm nguy, mọi cái trống phản động phải được truy tầm và phá hủy, kể cả những cái trống kêu :"ông dzua ăn cơm" . Trống này khó đoán lắm . Tùy theo người đánh trống, nó có thể đổi chữ "cơm" thành chữ gì đó rất khó nghe . Kẻ một lòng trung quân ái quốc thì trống kêu khác, người đem lòng oán ghét dzua, nó kêu khác . Chỉ trong vòng một tháng, cả 1 miền đất nước gấm hoa chẳng chỗ nào có trống cả . Những ban nhạc từ xoàng cho đến nổi tiếng đều phải lật ngược nồi niêu làm trống . Đất nước thiếu hẳn nghề làm trống nhưng bù lại, nồi niêu ngày càng có giá . Cái làng sinh quán của cụ đại thần Morph chuyển sang làm nồi niêu cả . Người ta gọi hiện tượng kinh tế này là thị trường tự do có định hướng xã hội chủ nghĩa . Những tưởng tàn dư phản động đã hết, ông Bệ Thuợng mừng lắm, sắc lịnh toàn quốc mở hội hoa đăng đánh dấu ngày tổ quốc hết lâm nguy . Nào ngờ giữa lúc mặt rồng hớn hở, ngay cổng ngọ môn bỗng xôn xao náo động . Người ta giải giao 1 ông cụ tay cầm cái trống, vào bệ kiến hoàng thượng . - Lão già kia tại sao không giao nạp cái trống? Có biết tội khi quân không? Ông Bệ Thượng vỗ bàn thét . Quên nữa, thường thì trên ngai cửu trùng không có bàn, cụ đại thần Morph có bổn phận quỳ trước mặt dzua mỗi khi thiết triều để lúc nào nổi giận, dzua vỗ vào đầu thay cho vỗ bàn . Hóa cho nên cụ quan đại thần Morph sói đầu trước tuổi . Mới ngoài 30 chẳng còn sợi tóc nào hết . Phủ phục trước ngai vàng, ông cụ từ từ ngẩng mặt : - Muôn tâu bệ thượng. Bệ thượng hãy nhìn vào mắt kẻ thảo dân này . Ý ông cụ định bắt chước Phương Thanh :"Hãy nhìn vào đôi mắt thơ ngây, sẽ nhìn được trong trái tim này", mà quýnh quá ông cụ quên mất . Ông cụ tiếp : - Phải mắt của kẻ thảo dân này mù không? Mất đi một giác quan mà không có cơ cứu vãn mới thấy cái thiết yếu của nó . Kẻ thảo dân này không thấy được từ lúc bẩm sinh mà còn tiếc rằng tại sao mình không có mắt . Tròng mắt ông cụ trắng đục như hai cái hột nhãn gặm nham nhở . Ông bệ thượng lại vỗ đầu cụ Morph, lần này bàn tay có kèm theo cái đùi gà : - Nói lẹ lên . Rồi sao nữa? - Muôn tâu bệ thượng . Ngũ quan là ân sủng Thượng Đế ban cho . Chẳng ai tự dưng cắt lưỡi, bịt tai hay chọc mù mắt để không thấy không nghe những điều mình không muốn . Bệ thượng được Trời cho thêm 1 giác quan thứ sáu, đó là cái trống . Nó làm cho bệ thượng thấu được tâm tư của những thần dân mà vì bản tính con người luôn e dè sự thật, ngài nỡ nhẫn tâm phế bỏ cái giác quan ấy. Kẻ thảo dân này lấy làm tiếc. Ông bệ thượng vuốt râu suy nghĩ. Nghĩ lâu lắm. Bỗng ông truyền lệnh : - Các quan từ nhớn chí bé xếp hàng một, mỗi thằng lên gõ trống cho dzua nghe thử . Không phải khoe tài nhưng cụ đại thần Morph nổi tiếng là nịnh thần . Lưng cụ khom bất trị . Bác sĩ Vũ Ban của thẩm mỹ viện Bích Ngọc có lần lấy 2 tấm ván ép, túm hai đầu, kẹp cụ Morph vào trong mà đến lúc tháo ván ra, lưng cụ vẫn cong như thường . Các cụ xưa kể rằng cụ Morph hồi đó đẻ khó vì đưa cái lưng ra trước . Cái nôi cho bé Morph phải đặc chế hình chữ V . Ngày thôi nôi, người ta để chung quanh Morph 1 cuốn sách, cây bút, cây kiếm để nếu Morph cầm thứ nào thì đoán được sau này Morph sẽ làm nghề đó . Ấy là người ta cố tình không bày biện nhiều thứ tầm thường như chén cơm, rau cỏ sợ thằng bé sau này làm ruộng . Bé Morph chả thiết gì những thứ ấy, mặc bao con mắt hồi hộp theo dõi, nó cứ đưa tay nghịch... chim . Không biết tại ngứa hay điềm giời . Thầy bói Phù Du xủ quẻ nói rằng : - Vậy là thằng này nâng bi . Lớn lên chắc chắn nó nịnh giỏi lắm. Thật vậy, con đường danh vọng cụ Morph ngày càng phất . Từ 1 nhà dân dã, chỉ vài năm cụ Morph leo đến chức nhất phẩm triều đình nhờ cái lưng cong và cái mồm lẻo lự . Lần này, cụ đại thần Morph được đánh trống trước nhất . Cụ vén tay áo thẳng cánh dộng xuống mặt trống : - Ông dzua ăn cám. Khom lưng kính cẩn trao lại dùi trống lên chín bệ, cụ Morph nở một nụ cười e ấp . Cụ không có răng cửa nên dù là hàm tiếu, ta chỉ sánh với quái nhân, kỳ vật nào đó trong cổ tích, báo trước một thiên tai. Mục lục Bệ Thượng Bệ Thượng Long NguyễnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Long ( Meta) Nguồn: Vnthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 12 năm 2005
Vũ Trọng Phụng Bệnh Lao chữa bằng mồm Chữa khoán bệnh lao, 10 ngày khỏi hẳn , cái giòng chữ đỏ trên vải trắng này trước cửa 1 hiệu thuốc mà các ngài đã biết, chắc hẳn cho đến chết, tôi cũng không quên.Là vì nhờ đó, tôi đã được đi 1 chầu hát che tàn ba chục bạc. Tiền chi là của thầy lang bất hủ ấy, mà người có công ... chơi sỏ thầy lang, là bạn tôi, anh chàng Cờ.Ở trọ trên gác nhà thầy lang ấy, Cờ đã vẫn phải chịu cái khổ hình hàng ngày nghe những lời khoác lác bịp khách bệnh của thầy lang. Một hôm Cò nói với anh em: Tức quá, nhà nước sao lại không đánh thuế bằng cách bán vé chợ hay treo môn bài vào mồm những thằng nói phét! Bọn mình không nên bỏ qua mối lợi ấy. Ít ra, nó cũng phải nộp thuế cho anh em chúng mình. Chúng tôi nhất loạt vỗ tay khen. Cờ, đắc chí, thêm: Hèn đến đâu nữa thì nó cũng phải nộp mình chầu hst mới được! Câu nói ba hoa trong 1 phủ hoá dại, ai dám ngờ Cờ làm thành bằng được ra sự thật mới nghe.Tối hôm ấy, Cờ lại tìm anh em chúng tôi, bảo: Nào, bọn mình anh nao muốn được đi hát thì cứ việc nghe theo cẩm nang của tôi . Sau, anh ta ghé tai tôi thì thào năm phút.Nửa giờ sau, khi anh Cờ về nhà rồi, hai chúng tôi từ một chiếc xe hơi (xe tắc xi đấy thôi ạ) bước xuống, mạnh bạo tiến thẳng vào hiệu thuốc. Tôi trỏ anh Quyền, giới thiệu với thầy lang:- Thưa ngài, vì vẫn đi lại với ông Cờ ở trên gác nên tôi rõ cái tài chữa bệnh của ngài. Đây xin giới thiệu với Ngài, ông Tế, thư kí riêng của quan chánh sở liêm phóng.Thày lang vừa kịp cúi đầu bắt tay kêu Hân hạnh thì Quyền đã hấp tấp:- Rõ phúc quá Ngài lại có nhà, xin mời ngài ra xe hơi ngay cho.- Bẩm để đi đâu có việc gì?- Cô đầm con gái nhà quan chánh tôi mắc bệnh lao, đôsc tờ tây cũng chịu, thật là Thập tử nhất sinh rồi, mời Ngài đến thăm ngay.Thầy lang tái hẳn mặt, ấp úng:- Vâng vâng. Xin để chúng tôi dặn 1 việc với người nhà đã.Thế là thầy lang chạy vội lên gác, phòng anh Cờ. Ngồi chờ dưới, chúng tôi lắng nghe giọng anh Cờ với thầy lang thế này:- Thế kia à? Thôi thì nhà lang gặp vận tấy rồi! Mề đay kim khánh tới nơi rồi! Giầu to tới nơi rồi! Còn gì bằng được ông Chánh mật thám gọi đến chữa cho con gái nữa.- Nưng mà ...- Đi đi thôi- Nhưng mà ...- Đi ngay đi chứ còn chờ gì!- Nhưng mà ...- Lại còn nhưng mà cái gì?- Nhưng mà ... Nói bác tha cho, chữa làm sao được mà dám đi!- Ô lạ! Thế cái quảng cáo to hơn cái mẹt treo ở cửa hiệu...- Thì bác cũng thừa biết, nhà buôn phải quảng cáo ... phải nói quá...- Đã đành. Cứ đi xem sao.- Chết! Đi thế nào được!- Ô! Thế thì tù rồi! Cạo đầu đến nơi rồi!- Lạy bác ...- Hỏng rồi!! Cơm vôi, sàn lim đến nơi rồi!- Bác làm ơn, lạy bác...- Ít nhất ba tháng rồi!- Lạy bác, bác làm ơn nghĩ có cách nào không ...Một lúc im lặng khá lâu, xong lại thấy tiếng anh Cờ:- Cũng không khó gì. Cái bọn ấy thì cứ tiền thì êm. Đành chịu thiệt vài chục vậy.Tiếng giầy xuống gác. Loảng soảng, thìa khoá va nhau trước cái két bạc rồi anh Cờ ra.- Thưa ngài, nói ngài tha thứ,quảng cáo vẫn phải thế chứ ...Anh Quyền đứng phắt lên:- Ấy chết!- Chính thế ạ. Ngài về thưa với quan trên cho là ông chủ chúng tôi đi chữa bệnh tỉnh xa ba hôm nữa mới về.- Ooi, ngài làm như là ...- Thôi, phiền ngài, chúng tôi xin có chút vi thiềng gọi là trả ngài tiền xe.Quyền, còn ngần ngừ mãi mới trông trước nhìn sau, rồi bỏ túi cuốn giấy bạc.Tôi không cần thuật lại bao nhiêu cái khoản khoái lạc chúng tôi đã hưởng ở xóm ả đào. Nhưng phải thuật lại 1 chuyện xảy ra ngay hôm sau tại nhà thầy lang thì các ngài mới biết thầy là bất hủ thật.Chúng tôi muốn ngắm nghía cái bộ mặt tán tài ấy xem nó có những biến chứng ra sao hay không.Hôm sau, tấm vải quảng cáo bệnh lao đã không thấy treo ra nữa. Nhưng khi vào hiệu, tôi thấy mấy ông già với 1 người trẻ tuổi mặt xanh nhợt xem ý là bọn trọc phú nhà quê.Cặp kính tắng nghiêm trang trên sống mũi, cái hình thù thì lùn tịt, lắt choắ, thầy lang đi lại trong hiệu, nện gót giầy lộp cộp mà thuyết khách 1 cách oai hùng.Các ngài có dám đóan thầy lang ấy nói những gì? Đây:- Các cụ phải biết. Số tiền ấy không to đâu. Mệnh người là trọng.Người làm ra của chứ chẳng phải của làm ra người. Kém 1 đồng cũng không được. Cứ xin các cụ đúng một trăm. Đó là giá đặc biệt cho đồng bào An Nam ta đấy thôi, chứ người Tây, dưới ba trăm tôi không nhận chữa. Không tin các cụ lại hỏi ngay quan chánh mật thám mà xem.! Hôm qua cho gọi tôi mà dưới ba trăm nên tôi không đến chữa cái bệnh lao cho con gái ngài đấy.Rõ thật khốn khổ thay cho anh Cờ. Bỗng không, được hưởng chầu hát ba chục bạc mà vẫn chưa được hả.Thiên Hư - Vũ Trọng PhụngTruyện này được đăng trên báo Loa số ngày 25-10-1934 - Xin các bác đọc bài Những tác phẩm mới tìm thấy của nhà văn Vũ Trọng Phụng - Lại Nguyên Ân - trên Tạp chí Thế giới Mới số 375 ngày 28-02-2000 để biết thêm chi tiết. Mục lục Bệnh Lao chữa bằng mồm Bệnh Lao chữa bằng mồm Vũ Trọng PhụngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: traitimvietnamonlineĐược bạn: Mọt Sách đưa lên vào ngày: 6 tháng 2 năm 2004
Vu Trong Phung Tuberculosis is cured by mouth Tuberculosis treatment, completely cured in 10 days, this line of red letters on a white cloth in front of a pharmacy that you all know about, surely until I die, I will not forget. Because thanks to that, I was able to go to 1 Adoration and singing cover the ash thirty silver. The money belonged to that immortal healer, and the person who was instrumental in playing tricks on the healer was my friend, Co. Staying upstairs in that healer's house, Co had to endure the torture every day. the boastful words of traditional healers to deceive patients. One day Co told his brothers: So angry, why doesn't the government impose taxes by selling market tickets or hanging business licenses on the mouths of those who lie! We should not ignore that benefit. At least, he must pay taxes to our brothers. We applauded in unison. Che, proud, added: No matter how cowardly he is, he still has to surrender himself to the hst! Who would have thought that Co's blathering words in a government would turn out to be true? That night, Co found us brothers again and said: Come on, if you want to sing with us, just go ahead and sing. Listening to my guide. After that, he whispered in my ear for five minutes. Half an hour later, when Mr. Co returned home, the two of us got out of a car (it was just a taxi) and boldly walked straight into the pharmacy. I pointed to Mr. Quyen and introduced him to the healer: - Sir, because I still hang out with Mr. Co upstairs, I know your talent for healing. Here I would like to introduce to you, Mr. Te, the personal secretary of the honest and generous chief officer. The healer had just bowed his head and shook his hand to say "Honourable", when Quyen hurriedly said: - How blessed you are to have a home again, please come out. I'll give you a car right away. - Where are you going? - My daughter-in-law has tuberculosis, the Western newspaper also accepts it, she's truly the deadliest, please come visit immediately. The doctor is pale. His face turned pale, he stammered: - Yes, yes. Please let us tell the family one thing first. So the healer rushed upstairs to Mr. Co's room. Sitting and waiting below, we listened to Mr. Co's voice to the medicine man like this: - Is that so? Well, the Lang family is out of luck! Kim Khanh locket has arrived! Great wealth is here! There's nothing better than having the Chief of Detectives call you to treat your daughter.- But...- Let's go- But...- Go now, what are you waiting for!- But...- And there's more. But what? - But... Tell me to forgive you, how can I fix it? - Oh strange! So the advertisement is bigger than the one hanging in the store...- Well, you know that the merchant has to advertise... it's an exaggeration...- It can't be helped. Just go and see. - Die! How can I go!- Oh! Then it's prison! I've shaved my head!- Dear uncle...- It's a failure!! Lime rice, ironwood floors are here! - Please, please...- At least three months! - Please, please think of any way...There was a long silence, then stopped. Seeing English: - It's not difficult. Those guys are fine as long as they have money. I can't help but lose a few dozen. The sound of shoes coming down the stairs. There was a clatter, the keys and keys collided in front of the safe and then Mr. Co came out. - Sir, if you say you forgive me, advertising should still be like that... Mr. Quyen stood up: - That's it! - That's it. He went back and told the mandarin that our boss was going to a far away province for medical treatment and would not be back for three more days. - Ooi, you act as if... - Well, if you don't mind, we will pay you back for a little meditation. Car fare. Quyen, still hesitant, looked first, then pocketed the roll of bills. I don't need to recount how many pleasures we enjoyed in A Dao hamlet. But we have to recount an incident that happened the next day at the medicine man's house, then they will know that he is truly immortal. We want to look at that talented face to see if there are any complications or not. The next day , the tuberculosis advertising banner was no longer displayed. But when I entered the shop, I saw a few old men and a young man with pale faces who looked like they were rich countrymen. A pair of serious white glasses on the bridge of their noses, a short, shabby appearance, the traditional healer walked around. In the shop, he stomped his heels and spoke majestically to customers. Do you dare to guess what the doctor said? Here:- You must know. That amount of money is not big. People's lives are important. People make things, not things make people. Even 1 dong less is not enough. Just ask them for exactly one hundred. That's a special price for our An Nam compatriots, but for Westerners, I won't accept treatment under three hundred. If you don't believe it, ask the chief secret police officer right away! Yesterday you called me but it was less than three hundred, so I didn't come to treat your daughter's tuberculosis. It's really miserable for Mr. Co. Suddenly, you can enjoy singing and singing for thirty dollars and still not get it. Thien Hu - Vu Trong Phung This story was published in Loa newspaper on October 25, 1934 - Please read the article Newly discovered works of the writer Vu Trong Phung - Lai Nguyen An - in New World Magazine Không. 375 dated February 28, 2000 for more details. Table of contents Tuberculosis is cured by mouth Tuberculosis is cured by mouth Vu Trong PhungWelcome to read the titles from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: traitimvietnamonline Uploaded by friend: Bookworm on: February 6, 2004
Phạm Thị Thu Thủy BỆNH NHIỄM SẮC TỐ SẮT MÔ Bệnh nhiễm sắc tố sắt mô là rối loạn di truyền thường gặp nhất ảnh hưởng đến hơn một triệu người Mỹ do mang trong người cả hai gen bất thường. Người ta ước tính có khoảng 10% dân số mang một gen của bệnh nhiễm sắc tố sắt mô. Nhiều trong hợp không chẩn đoán ra vì cả cha mẹ và thầy thuốc không biết về bệnh này. Yếu tố quyết định để giúp cho việc chẩn đoán được thực hiện dễ dàng là nâng cao kiểu biết về bệnh cho thầy thuốc và cha mẹ. Đó là một vấn đề vô cùng quan trọng vì việc chẩn đoán dễ dàng và việc điều trị sớm có thể ngăn ngừa tất cả các biến chứng lâu dài của bệnh. Ai là người có nhiều khả năng bị bệnh nhiễm sắc tố sắt mô nhất? Gen qui định bệnh nhiễm sắc tố sắt mô , được gọi là HFE, đã được phát hiện từ năm 1996 và được truyền từ cả bố lẫn mẹ. Bệnh phần lớn thường được chẩn đoán ở những người có thể hiện triệu chứng và ở lứa tuổi 40-50. Ở những phụ nữ bị mất sắt do kinh nguyệt, thai nghén và cho con bú thường thể hiện ở tuổi lớn hơn nam giới. Bất cứ ai có quan hệ huyết thống với người mang bệnh nhiễm sắc tố sắt mô cần phải được kiểm tra, thậm chí khi không có triệu chứng. Triệu chứng như thế nào?Nhiều người không có triệu chứng, ngay cả trong các trường hợp nặng. Những người mắc bệnh bệnh nhiễm sắc tố sắt mô thường có các triệu chứng như sau: Mệt mỏi Yếu Đau bụng Đau các khớp Tăng các men gan nhẹ Da sạm màu đồng hoặc xám Liệt dương Có xét nghiệm đặc biệt nào đển nhận biết sự quá tải sắt không? Các xét nghiệm về sắt huyết thanh và lượng sắt kết hợp toàn phần (total iron binding capacity-TIBC) hoặc transferrin là các xét nghiệm sàng lọc tốt nhất. Tỉ lệ sắt huyết thanh hoặc transferrin hoặc TIBC bình thường vào khoảng 0,3 (30%). Con số trên vượt vượt quá 50% (cho thấy quá tải sắt) hoặc dưới 15% (thiếu hụt sắt) cần phải theo dõi. Ngoài ra có một xét nghiệm có giá trị là chỉ số ferritin huyết thanh, chỉ số này tăng lên khi bị bệnh nhiễm sắc tố sắt mô. Nếu chỉ số này tăng cao dai dẳng thì cần phải làm thêm một số xét nghiệm về di truyền học để phát hiện những đột biến của gen HFE. Xét nghiệm di truyền học là một xét nghiệm thương mại có bán saün, giá khoảng 175 USD. Tuỳ vào có tổn thương gan hay không mà nên thực hiện sinh thiết gan để đánh giá mức độ tổn thương gan. Ở những bệnh nhân bị bệnh về gan do rượu viêm gan siêu vi mãn tính cũng thường bị dư sắt. Với những bệnh nhân này thì kết quả sinh thiết gan là quyết định sau cùng để chẩn đoán. Bệnh nhiễm sắc tố sắt mô có thể điều trị như thế nào?Điều trị bằng phương pháp trích huyết tĩnh mạch (phlebotomy): trích bỏ từ 1 đến 3 pint máu (1 pint = 0,56 lít ) mỗi tuần cho đến khi chỉ số sắt dự trữ trở về mức bình thường (trong henmoglobin của hồng cầu có chứa sắt). Với phương pháp này mất chừng vài tháng đến vài năm để loại bỏ tất cả lượng sắt dư thừa. Sau khi lượng sắt dự trữ trở về mức bình thường, thủ thuật trích huyết tĩnh mạch vẫn phải duy trì mỗi 2 đến 4 tháng cho đến cuối đời để ngăn ngừa tái ứ đọng sắt. Tương lai của những bệnh nhân này ra sao?Với những bệnh nhân được điều trị sớm có thể có một cuộc sống hoàn toàn bình thường. Khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn xơ gan thì rất ít khả năng điều trị, 30% trong số những bệnh nhân này có thể bị ung thư gan. Tổn thương của tuyến tụy do dư thừa sắt có thể dẫn đến bệnh đái tháo đường. Tổn thương ở các cơ quan khác có thể gây viêm khớp, rụng tóc, bệnh tim, giảm ham muốn tình dục (ở nam) và liệt dương. Vào giai đoạn sau của bệnh, bệnh nhân có thể bị gan to (hepatomegaly), xơ gan (gan bị hóa sẹo) và lách to (splenomegaly). Có phải bệnh nhân bị thiếu máu thì không bị quá tải sắt? Không. Có nhiều dạng thiếu máu, và một bệnh nhân có thể bị cả thiếu máu lẫn thừa sắt. Rượu có tác động gì đến bệnh nhiễm sắc tố sắt mô?Nên tránh uống những thức uống có cồn. Rượu có thể làm tăng tổn thương gan ở những bệnh nhân bị bệnh nhiễm sắc tố sắt mô. Có mối liên hệ gì giữa chế độ ăn với thừa sắt không?Bệnh nhiễm sắc tố sắt mô không có liên quan tới chế độ ăn. Hiếm người có vấn đề về dự trữ sắt sau khi uống một lượng lớn thuốc hoặc thuốc bổ chứa sắt trong một thời gian dài. Tuy nhiên không nên uống thuốc bổ sung sắt mà không có chỉ định của thầy thuốc. Bất cứ người nào bị quá tải sắt cũng nên tránh dùng các thuốc hoặc thuốc bổ có chứa sắt. Chế độ ăn có giúp đỡ gì không? Người ta khuyến cáo nên có một chế độ ăn cân đối với các thực phẩm ít sắt nếu bị bệnh nhiễm sắc tố sắt mô. Nên giới hạn dùng các thức ăn có nhiều sắt, ví dụ như c1c thực phẩm có màu đỏ. Tránh ăn gan, một thực phẩm có chứa nhiều chất sắt, vì nó có thể làm tăng hấp thụ sắt từ máu. Cần đọc kỹ nhãn của các loại thực phẩm vì có nhiều thực phẩm, ví dụ như các loại ngũ cốc, thường được thêm sắt vào. Những bệnh nhân bệnh nhiễm sắc tố sắt mô được xem như là có nguy cơ cao với vi khuẩn vibrio vulnificus, có trong sò hến, tôm cua. Do vậy, nên tránh ăn sò sống và trai sò. Nếu có tổn thương ở các cơ quan khác thì nên thực hiện các khuyến cáo về chế độ dinh dưỡng như: Tổn thương tụy chủ yếu nên tránh thức ăn có nhiều chất ngọt. Nên có chế độ ăn có nhiều chất xơ để có thể kiểm soát mức độ đường trong máu. Nếu có vấn đề về tim mạch thì nên hạn chế muối. Nếu bị bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch có liên quan đến béo phì thì cần phải giảm cân, chế độ ăn ít chất béo. Bệnh nhân bị xơ gan cần thiết phải hạn chế muối. Ghép gan và bệnh nhiễm sắc tố sắt môNhững bệnh nhân phải ghép gan do bị bệnh nhiễm sắc tố sắt mô thường có tỉ lệ còn sống trung bình sau 1 năm phẩu thuật là 50%, thấp hơn 30% so với các bệnh nhân ghép gan do các nguyên nhân khác. Tỉ lệ thấp hơn này là do biến chứng nhiễm trùng và tim mạch. Tỉ lệ sống sót cũng rất thấp đối với những bệnh nhân bệnh nhiễm sắc tố sắt mô được ghép gan do những nguyên nhân khác trong khi bệnh nhiễm sắc tố sắt mô không được chẩn đoán trước khi ghép gan. Mục lục BỆNH NHIỄM SẮC TỐ SẮT MÔ BỆNH NHIỄM SẮC TỐ SẮT MÔ Phạm Thị Thu ThủyChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: mickey đưa lên vào ngày: 28 tháng 11 năm 2004
Pham Thi Thu Thuy HEMORRHOGENIC TISSUE DISEASE Hemochromatosis is the most common genetic disorder affecting more than one million Americans due to carrying both abnormal genes. It is estimated that about 10% of the population carries a gene for hemochromatosis. In many cases, the diagnosis is not made because neither parents nor doctors know about the disease. The decisive factor to facilitate diagnosis is to increase knowledge about the disease for physicians and parents. It is an extremely important issue because diagnosis is easy and early treatment can prevent all long-term complications of the disease. Who is most likely to get hemochromatosis? The gene for hemochromatosis, called HFE, was discovered in 1996 and is passed down from both parents. The disease is most often diagnosed in people who show symptoms and are between the ages of 40 and 50. In women, iron loss due to menstruation, pregnancy and breastfeeding often manifests itself at an older age than in men. Anyone who is related to a carrier of hemochromatosis should be tested, even if there are no symptoms. What are the symptoms? Many people have no symptoms, even in severe cases. People with hemochromatosis often have the following symptoms: Fatigue Weakness Abdominal pain Joint pain Mild increase in liver enzymes Bronze or gray skin Impotence Is there any special test to identify the condition? load iron? Serum iron and total iron binding capacity (TIBC) or transferrin tests are the best screening tests. Normal serum iron or transferrin or TIBC ratios are approximately 0.3 (30%). Numbers above 50% (indicating iron overload) or below 15% (iron deficiency) require monitoring. In addition, there is a valuable test, the serum ferritin index, which increases when suffering from hemochromatosis. If this index is persistently high, it is necessary to do some additional genetic tests to detect mutations in the HFE gene. Genetic testing is a commercially available test, costing about $175. Depending on whether there is liver damage or not, a liver biopsy should be performed to assess the extent of liver damage. Patients with alcoholic liver disease and chronic viral hepatitis also often have iron overload. For these patients, the liver biopsy results are the final decision for diagnosis. How can hemochromatosis be treated? Treatment is by phlebotomy: removing 1 to 3 pints of blood (1 pint = 0.56 liters) per week until only Iron reserves return to normal levels (henmoglobin of red blood cells contains iron). With this method it takes several months to several years to remove all excess iron. After iron stores return to normal levels, phlebotomy must be continued every 2 to 4 months for the rest of life to prevent iron retention. What is the future of these patients? With early treatment, patients can have a completely normal life. When the disease has progressed to the cirrhosis stage, there is little possibility of treatment, 30% of these patients may develop liver cancer. Damage to the pancreas due to excess iron can lead to diabetes. Damage to other organs can cause arthritis, hair loss, heart disease, decreased sex drive (in men) and impotence. In the later stages of the disease, patients may develop an enlarged liver (hepatomegaly), cirrhosis (scarring of the liver) and an enlarged spleen (splenomegaly). Do patients with anemia not have iron overload? Are not. There are many types of anemia, and a patient can have both anemia and iron overload. What effect does alcohol have on hemochromatosis? Avoid drinking alcoholic beverages. Alcohol may increase liver damage in patients with hemochromatosis. Is there any relationship between diet and iron overload? Hemochromatosis is not related to diet. Rare people have problems with iron storage after taking large amounts of iron-containing medications or supplements over a long period of time. However, you should not take iron supplements without a doctor's prescription. Anyone with iron overload should avoid taking iron-containing medications or supplements. Does diet help? It is recommended to have a balanced diet with foods low in iron if you have hemochromatosis. You should limit your intake of foods high in iron, such as red foods. Avoid eating liver, a food high in iron, as it can increase iron absorption from the blood. It's important to read food labels carefully because many foods, such as cereals, often have iron added to them. Patients with hemochromatosis are considered to be at high risk for the bacteria Vibrio vulnificus, found in shellfish, shrimp and crab. Therefore, you should avoid eating raw oysters and mussels. If there is damage to other organs, nutritional recommendations should be followed such as: Pancreatic damage should mainly avoid foods with a lot of sweeteners. You should have a diet high in fiber to control blood sugar levels. If you have heart problems, you should limit salt. If you have diabetes and cardiovascular disease related to obesity, you need to lose weight and follow a low-fat diet. Patients with cirrhosis need to limit salt. Liver transplant and hemochromatosis Patients undergoing liver transplant due to hemochromatosis often have an average survival rate of 50% after 1 year of surgery, 30% lower than liver transplant patients. due to other causes. This lower rate is due to infectious and cardiovascular complications. Survival rates are also very low for hemochromatosis patients who undergo liver transplantation for other causes when hemochromatosis is not diagnosed before liver transplantation. Table of contents HEMORRHOGENIC TISSUE DISEASE HEMORRHOGENIC TISSUE DISEASE Pham Thi Thu ThuyWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: mickey posted on: November 28, 2004
Võ Thị Hạnh Thuỷ Bệnh nhân số 13 Ngày mai nông trường sẽ họp kỷ luật em. Tôi là người quyết định kỷ luật. Lúc chiều em đi ngang qua tôi, không một lời nói, không một nụ cười, không một cái nhìn đằm thắm, không một ánh mắt hờn giận, không một khoé môi mỉa mai. Em vô cảm. Gương mặt ấy của em làm tôi hoảng sợ. Hai hôm trước mẹ em lên. Qua khe cửa tôi thấy em quỳ xuống, quỳ mãi trước mặt mẹ. Bà tát em, bà xỉ vả em, bà dúi em vào góc nhà. Em không khóc. Chỉ có bà khóc. Bà khóc rồi ôm lấy em, vùi em vào ngực mình. Lúc này tôi mới nhìn thấy em khóc, những giọt nước mắt lăn dài trên má, bết vào mái tóc dày mịn của em. Mái tóc mà bao đêm khuya tôi vùi mặt vào, mát rượi. Tôi nhìn bầu trời qua mái tóc em, những kẻ sao lung linh, những niềm vui lấp lánh. Em để mặc tôi chảy trôi với những đam mê cuồng dại trên cơ thể ngọt ngào của em. Ngày mai tôi sẽ kỷ luật em. Tôi sẽ tra hỏi: "Cái bào thai trong bụng cô là ai?". Tôi sẽ gằn giọng "là của ai?" như tôi từng lục vấn bao nhiêu người con gái khác ở nông trường này. Lúc ấy em sẽ làm gì, sẽ nói gì? Em sẽ bị bủa vây trước 160 con mắt. Trong đó có những người từng trải qua - họ sẽ cảm thông với em - số ấy quá ít ỏi so với những người ganh ghét em. Họ sẽ xé nát em, băm vằm em bằng con mắt của họ. Lúc ấy em ra sao? Có giữ gương mặt vô cảm như đi ngang qua tôi không? Ba năm trước, lúc em vừa mới lên, đêm nào tôi cũng thấy em ngồi lặng lẽ một mình trên mỏm đá, xoã tóc ngắm trăng. Hương tóc em bay toả vào không gian, quyện chặt vào tâm hồn tôi, da thịt tôi. Con gái nông trường phần lớn đều là thanh niên xung phong về, một đời họ trinh tiết, trinh tiết cả khi mái tóc điểm hoa râm. Tóc họ gần như rụng hết, trơ cả mảng da đầu. Chỉ có em mái tóc ken dày, mượt như lụa, mùa hè mát như nước khe, mùa đông ấm như lửa củi. Tôi không biết em đã giữ mái tóc ấy như thế nào trong những ngày tháng bom dày đạn xéo ấy. Em vừa lên nông trường người ta tụm năm tụm ba, moi móc lý lịch của em. Người ta vừa thương, vừa thích chí khi biết em bị phụ bạc. Chàng trai em yêu không đủ sức khoẻ để đi bộ đội nhưng đủ sức khoẻ để ở nhà làm một người chồng. Người ta đã cướp chồng của em khi em đang nằm trong rừng lửa. Em vừa thương vừa giận con người đó: - Cô tưởng ở hậu phương bọn tôi sống sướng hơn cô ở chiến trường sao? Cô đối mặt với súng đạn, với cái chết từ bên ngoài. Bọn tôi ở nhà đối mặt với cái chết gặm nhấm từ bên trong. Cô tưởng… Em lặng lẽ bỏ đi. Người đàn bà kia bỏ lửng câu nói, ngơ ngác nhìn theo cái dáng xiêu vẹo của em. Em lên nông trường. Đàn bà ở đây lấy nỗi đau của em để xoa dịu nỗi đau của họ. Họ chưa được nếm trải tình yêu. Họ thấy em từng được yêu họ ghét, thấy em bị phụ tình họ vui. Em đã tìm được tôi để sẻ chia, dựa dẫm. Đêm đêm trên cỏ ướt hương chè thoảng bay, em vùi mặt vào cánh tay tôi thắc mắc: - Các anh chị nông trường mình định sống cô độc đến suốt đời sao anh? Rồi như chợt nghĩ lại mình, em khóc. Nước mắt chảy xuống vai tôi lạnh buốt. Tôi ghì chặt lấy em, cố bao bọc chở che cho em trong vòng tay của mình. Nhưng trái tim em rộng lớn, tôi chẳng thể nào che chở nổi. - Em có lỗi với vợ anh. Một mình ở quê chắc chị ấy buồn lắm! Hay anh chuyển về quê công tác cho gần gia đình. Tôi im lặng, chẳng tìm được câu trả lời cho em. Đi bộ đội về, mẹ đã chọn cho tôi một cô vợ đảm đang, tôi không thể từ chối. Một tay vất vả nuôi con, tôi mang ơn cô ấy. Tôi lên nông trường hy vọng tìm kiếm tình yêu trong công việc, đúng hơn, kiếm được danh vọng trong sự nghiệp. Tôi không có tình yêu, tôi nghĩ mình phải có được một cái gì khác. Nhưng khi gặp em tôi hiểu tôi đã có tình yêu, tôi đã tìm được nửa kia của tâm hồn mình. Em không như những người đàn bà khác, em không xui tôi bỏ vợ. Em âm thầm nhận đau khổ về mình. Mà thú thật em có xui tôi cũng không bỏ được. Tôi còn mẹ già, tôi còn hai con thơ. Vợ tôi nuôi mẹ cho tôi, nuôi con cho tôi. Vợ tôi một mình gánh hết hai thế hệ. Tôi còn công danh sự nghiệp. Cái ghế giám đốc đang chờ tới tay. Vả lại những người đàn bà khác ở nông trường họ còn sống buồn tủi hơn em. Ngày họ làm quần quật, đêm họ co ro ôm gối, hết nhìn 10 ngón chân cáu bẩn, ngả màu, xỉn lại, rồi lại đưa chiếc lược sừng ra chải đi chải lại mái tóc thưa. Đến khuya họ chui vào màn nằm vật vã. Họ cũng thèm được như đội 3. Mười hai chị bỗng dưng có 12 đứa con, mỗi đứa ra đời vào một thời điểm khác nhau, nhưng đều giống nhau như đúc khuôn. Họ lần lượt bị kỷ luật, bêu rếu. Họ sống câm lặng, bao bọc nhau bằng đồng lương ít ỏi của mình. Mà những ai bêu rếu đội 3 - chính họ. Những người đàn bà nông trường không có hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ. Những người đàn bà bất hạnh, ngày đêm chỉ biết mài sắc lưỡi dao cay độc của mình. Đối diện với dãy nhà lụp xụp của đội 3 là dãy nhà ở của gia đình. Có mười lăm hộ thì có tám hộ là gia đình thương binh. Chồng hoặc cụt tay, hoặc cụt chân. Nhưng những bà vợ thì giữ rịt lấy chồng, xoè mình ra như nhím để giữ chồng. Mỗi lần em đi ngang qua khu nhà ấy em cũng sợ, em không dám liếc mắt vào. Em mỏng manh như giọt nước. Ngày mai tôi sợ em sẽ bị tan biến, sẽ chìm vào đất. Ngày em hớn hở khoe mình có thai tôi vã mồ hôi, rụng rời cả tay chân. Tôi lo sợ cho cả tôi, cả em. Ngày mai… Còn mấy canh giờ nữa thôi, lúc này em đang làm gì? Tháng trước tôi đã cắt phép cho em, khuyên em đi giải quyết. Em hốt hoảng nhìn tôi, ngỡ ngàng như nhìn thấy một người khác, như vừa khám phá ra tôi là kẻ độc ác, tôi là kẻ nhẫn tâm, tôi không phải là người em từng ôm ấp yêu thương. Tôi chạy theo em, van nài em chuyển công tác. Đã hết thời hạn ở nông trường, em có quyền chuyển về xuôi. Nhưng giống như những người đàn bà khác ở nông trường em lắc đầu từ chối, Em xem tôi như là người dưng từ dạo đó. Ngày mai… Còn hai canh giờ nữa trời sẽ sáng. Hội đồng sẽ kỷ luật em. Tôi sẽ ngồi trên ghế cao, dõng dạc tra khảo, dõng dạc tuyên án em. Tôi muốn biết gương mặt em lúc ấy sẽ thế nào? Tôi cố hình dung ra em. Đầu tôi ong lên. Thần kinh tôi như sợi dây đàn căng, chỉ cần ai gẩy nhẹ nó sẽ đứt, cây đàn cũng nứt toác ra. *** - Cái thai trong bụng cô là của ai? Tôi dằn giọng. Em im lặng. Tôi cố kiên nhẫn: - Cô khai ra, cô sẽ được giảm án kỷ luật, đứa con của cô cũng sẽ được nông trường bao bọc một phần. Em im lặng. Tôi quát lên: - Tôi đang hỏi cô. Cô điếc hay câm sao? Nghe cả tiếng con ruồi bay vù vù từ mép bàn vào góc tường trái. Tôi đứng bật dậy, đấm nắm tay xuống bàn, gào lên giận dữ: - Cô muốn chết hay sao mà không khai ra? Tôi sẽ thay mặt nông trường kỷ luật cô về quê. Tôi trực tiếp lấy ý kiến tập thể. Ai đồng ý kỷ luật đồng chí Lan về quê thì giơ tay lên. Một phút, hai phút, ba phút… Lác đác vài cánh tay giơ lên. Vẫn im lặng. Một con ong vo ve bay về tổ ngay trên trần nhà Lan đứng. Con ong vòng đi vòng lại mấy vòng rồi chui tọt vào trong tổ, mất dạng. Tôi rướn cổ hỏi lại: - Ai đồng ý để cô Lan chịu kỷ luật về quê thì giơ tay lên. Không một cánh tay nào giơ thêm cả, mấy cánh tay giơ lên trước đó trở lên lạc lõng, ngọng nghịu, họ rụt rè bỏ xuống. Một phút, hai phút, ba phút… Một người trong đội 3 bước ra, hai người, ba người, bốn người, năm người, sáu người, bảy người… Họ thành dòng lặng lẽ ra về. Tôi chết lặng. Ngước mắt nhìn về phía Lan, mặt em đầm đìa nước mắt. Tôi muốn lao xuống ôm ghì lấy em. Nhưng tôi nhấc chân không nổi. Tôi ngã nhào, mặt đập xuống bàn lim, máu nhoe nhoét. Tôi kêu rống lên như bị chọc tiết. Tỉnh dậy, tôi sờ tay vào mặt mình. Chẳng có máu, chỉ có mồ hôi đang vã ra như tắm. Đã năm giờ sáng nhưng trời vẫn tối sầm. Trời đang chuẩn bị một cơn giông. *** Tôi lục tìm được câu chuyện này dưới đáy ba lô của bệnh nhân số 13. Tôi đọc, ngắm nhìn khuôn mặt hốc hác của anh ta mà khóc. Suốt đêm ấy tôi không ngủ, đôi mắt dại dại của anh ta bây giờ, đôi mắt trong trẻo của cô Lan trong truyện ám ảnh tôi. Sáng ra tôi xin nghỉ phép về quê. Một đêm không ngủ tôi như kẻ mất hồn. Vợ tôi ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi đưa câu chuyện của bệnh nhân số 13 cho vợ tôi đọc. Vợ tôi khóc… Vợ tôi cũng từ nông trường về. Vợ tôi bảo: - Anh nên đưa đăng báo đi. Biết đâu… Vợ tôi bỏ lửng câu nói, mắt nhìn xa xăm. Quen với những trăn trở của chồng về bệnh nhân, tôi biết vợ tôi đang cầu mong một điều kỳ diệu sẽ đến với bệnh nhân số 13./. Mục lục Bệnh nhân số 13 Bệnh nhân số 13 Võ Thị Hạnh ThuỷChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Conbo2 Nguồn: VOV. ORGĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 10 năm 2005
Võ Thị Hạnh Thuỷ Bệnh nhân số 13 Ngày mai nông trường sẽ họp kỷ luật em. Tôi là người quyết định kỷ luật. Lúc chiều em đi ngang qua tôi, không một lời nói, không một nụ cười, không một cái nhìn đằm thắm, không một ánh mắt hờn giận, không một khoé môi mỉa mai. Em vô cảm. Gương mặt ấy của em làm tôi hoảng sợ. Hai hôm trước mẹ em lên. Qua khe cửa tôi thấy em quỳ xuống, quỳ mãi trước mặt mẹ. Bà tát em, bà xỉ vả em, bà dúi em vào góc nhà. Em không khóc. Chỉ có bà khóc. Bà khóc rồi ôm lấy em, vùi em vào ngực mình. Lúc này tôi mới nhìn thấy em khóc, những giọt nước mắt lăn dài trên má, bết vào mái tóc dày mịn của em. Mái tóc mà bao đêm khuya tôi vùi mặt vào, mát rượi. Tôi nhìn bầu trời qua mái tóc em, những kẻ sao lung linh, những niềm vui lấp lánh. Em để mặc tôi chảy trôi với những đam mê cuồng dại trên cơ thể ngọt ngào của em. Ngày mai tôi sẽ kỷ luật em. Tôi sẽ tra hỏi: "Cái bào thai trong bụng cô là ai?". Tôi sẽ gằn giọng "là của ai?" như tôi từng lục vấn bao nhiêu người con gái khác ở nông trường này. Lúc ấy em sẽ làm gì, sẽ nói gì? Em sẽ bị bủa vây trước 160 con mắt. Trong đó có những người từng trải qua - họ sẽ cảm thông với em - số ấy quá ít ỏi so với những người ganh ghét em. Họ sẽ xé nát em, băm vằm em bằng con mắt của họ. Lúc ấy em ra sao? Có giữ gương mặt vô cảm như đi ngang qua tôi không? Ba năm trước, lúc em vừa mới lên, đêm nào tôi cũng thấy em ngồi lặng lẽ một mình trên mỏm đá, xoã tóc ngắm trăng. Hương tóc em bay toả vào không gian, quyện chặt vào tâm hồn tôi, da thịt tôi. Con gái nông trường phần lớn đều là thanh niên xung phong về, một đời họ trinh tiết, trinh tiết cả khi mái tóc điểm hoa râm. Tóc họ gần như rụng hết, trơ cả mảng da đầu. Chỉ có em mái tóc ken dày, mượt như lụa, mùa hè mát như nước khe, mùa đông ấm như lửa củi. Tôi không biết em đã giữ mái tóc ấy như thế nào trong những ngày tháng bom dày đạn xéo ấy. Em vừa lên nông trường người ta tụm năm tụm ba, moi móc lý lịch của em. Người ta vừa thương, vừa thích chí khi biết em bị phụ bạc. Chàng trai em yêu không đủ sức khoẻ để đi bộ đội nhưng đủ sức khoẻ để ở nhà làm một người chồng. Người ta đã cướp chồng của em khi em đang nằm trong rừng lửa. Em vừa thương vừa giận con người đó: - Cô tưởng ở hậu phương bọn tôi sống sướng hơn cô ở chiến trường sao? Cô đối mặt với súng đạn, với cái chết từ bên ngoài. Bọn tôi ở nhà đối mặt với cái chết gặm nhấm từ bên trong. Cô tưởng… Em lặng lẽ bỏ đi. Người đàn bà kia bỏ lửng câu nói, ngơ ngác nhìn theo cái dáng xiêu vẹo của em. Em lên nông trường. Đàn bà ở đây lấy nỗi đau của em để xoa dịu nỗi đau của họ. Họ chưa được nếm trải tình yêu. Họ thấy em từng được yêu họ ghét, thấy em bị phụ tình họ vui. Em đã tìm được tôi để sẻ chia, dựa dẫm. Đêm đêm trên cỏ ướt hương chè thoảng bay, em vùi mặt vào cánh tay tôi thắc mắc: - Các anh chị nông trường mình định sống cô độc đến suốt đời sao anh? Rồi như chợt nghĩ lại mình, em khóc. Nước mắt chảy xuống vai tôi lạnh buốt. Tôi ghì chặt lấy em, cố bao bọc chở che cho em trong vòng tay của mình. Nhưng trái tim em rộng lớn, tôi chẳng thể nào che chở nổi. - Em có lỗi với vợ anh. Một mình ở quê chắc chị ấy buồn lắm! Hay anh chuyển về quê công tác cho gần gia đình. Tôi im lặng, chẳng tìm được câu trả lời cho em. Đi bộ đội về, mẹ đã chọn cho tôi một cô vợ đảm đang, tôi không thể từ chối. Một tay vất vả nuôi con, tôi mang ơn cô ấy. Tôi lên nông trường hy vọng tìm kiếm tình yêu trong công việc, đúng hơn, kiếm được danh vọng trong sự nghiệp. Tôi không có tình yêu, tôi nghĩ mình phải có được một cái gì khác. Nhưng khi gặp em tôi hiểu tôi đã có tình yêu, tôi đã tìm được nửa kia của tâm hồn mình. Em không như những người đàn bà khác, em không xui tôi bỏ vợ. Em âm thầm nhận đau khổ về mình. Mà thú thật em có xui tôi cũng không bỏ được. Tôi còn mẹ già, tôi còn hai con thơ. Vợ tôi nuôi mẹ cho tôi, nuôi con cho tôi. Vợ tôi một mình gánh hết hai thế hệ. Tôi còn công danh sự nghiệp. Cái ghế giám đốc đang chờ tới tay. Vả lại những người đàn bà khác ở nông trường họ còn sống buồn tủi hơn em. Ngày họ làm quần quật, đêm họ co ro ôm gối, hết nhìn 10 ngón chân cáu bẩn, ngả màu, xỉn lại, rồi lại đưa chiếc lược sừng ra chải đi chải lại mái tóc thưa. Đến khuya họ chui vào màn nằm vật vã. Họ cũng thèm được như đội 3. Mười hai chị bỗng dưng có 12 đứa con, mỗi đứa ra đời vào một thời điểm khác nhau, nhưng đều giống nhau như đúc khuôn. Họ lần lượt bị kỷ luật, bêu rếu. Họ sống câm lặng, bao bọc nhau bằng đồng lương ít ỏi của mình. Mà những ai bêu rếu đội 3 - chính họ. Những người đàn bà nông trường không có hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ. Những người đàn bà bất hạnh, ngày đêm chỉ biết mài sắc lưỡi dao cay độc của mình. Đối diện với dãy nhà lụp xụp của đội 3 là dãy nhà ở của gia đình. Có mười lăm hộ thì có tám hộ là gia đình thương binh. Chồng hoặc cụt tay, hoặc cụt chân. Nhưng những bà vợ thì giữ rịt lấy chồng, xoè mình ra như nhím để giữ chồng. Mỗi lần em đi ngang qua khu nhà ấy em cũng sợ, em không dám liếc mắt vào. Em mỏng manh như giọt nước. Ngày mai tôi sợ em sẽ bị tan biến, sẽ chìm vào đất. Ngày em hớn hở khoe mình có thai tôi vã mồ hôi, rụng rời cả tay chân. Tôi lo sợ cho cả tôi, cả em. Ngày mai… Còn mấy canh giờ nữa thôi, lúc này em đang làm gì? Tháng trước tôi đã cắt phép cho em, khuyên em đi giải quyết. Em hốt hoảng nhìn tôi, ngỡ ngàng như nhìn thấy một người khác, như vừa khám phá ra tôi là kẻ độc ác, tôi là kẻ nhẫn tâm, tôi không phải là người em từng ôm ấp yêu thương. Tôi chạy theo em, van nài em chuyển công tác. Đã hết thời hạn ở nông trường, em có quyền chuyển về xuôi. Nhưng giống như những người đàn bà khác ở nông trường em lắc đầu từ chối, Em xem tôi như là người dưng từ dạo đó. Ngày mai… Còn hai canh giờ nữa trời sẽ sáng. Hội đồng sẽ kỷ luật em. Tôi sẽ ngồi trên ghế cao, dõng dạc tra khảo, dõng dạc tuyên án em. Tôi muốn biết gương mặt em lúc ấy sẽ thế nào? Tôi cố hình dung ra em. Đầu tôi ong lên. Thần kinh tôi như sợi dây đàn căng, chỉ cần ai gẩy nhẹ nó sẽ đứt, cây đàn cũng nứt toác ra. *** - Cái thai trong bụng cô là của ai? Tôi dằn giọng. Em im lặng. Tôi cố kiên nhẫn: - Cô khai ra, cô sẽ được giảm án kỷ luật, đứa con của cô cũng sẽ được nông trường bao bọc một phần. Em im lặng. Tôi quát lên: - Tôi đang hỏi cô. Cô điếc hay câm sao? Nghe cả tiếng con ruồi bay vù vù từ mép bàn vào góc tường trái. Tôi đứng bật dậy, đấm nắm tay xuống bàn, gào lên giận dữ: - Cô muốn chết hay sao mà không khai ra? Tôi sẽ thay mặt nông trường kỷ luật cô về quê. Tôi trực tiếp lấy ý kiến tập thể. Ai đồng ý kỷ luật đồng chí Lan về quê thì giơ tay lên. Một phút, hai phút, ba phút… Lác đác vài cánh tay giơ lên. Vẫn im lặng. Một con ong vo ve bay về tổ ngay trên trần nhà Lan đứng. Con ong vòng đi vòng lại mấy vòng rồi chui tọt vào trong tổ, mất dạng. Tôi rướn cổ hỏi lại: - Ai đồng ý để cô Lan chịu kỷ luật về quê thì giơ tay lên. Không một cánh tay nào giơ thêm cả, mấy cánh tay giơ lên trước đó trở lên lạc lõng, ngọng nghịu, họ rụt rè bỏ xuống. Một phút, hai phút, ba phút… Một người trong đội 3 bước ra, hai người, ba người, bốn người, năm người, sáu người, bảy người… Họ thành dòng lặng lẽ ra về. Tôi chết lặng. Ngước mắt nhìn về phía Lan, mặt em đầm đìa nước mắt. Tôi muốn lao xuống ôm ghì lấy em. Nhưng tôi nhấc chân không nổi. Tôi ngã nhào, mặt đập xuống bàn lim, máu nhoe nhoét. Tôi kêu rống lên như bị chọc tiết. Tỉnh dậy, tôi sờ tay vào mặt mình. Chẳng có máu, chỉ có mồ hôi đang vã ra như tắm. Đã năm giờ sáng nhưng trời vẫn tối sầm. Trời đang chuẩn bị một cơn giông. *** Tôi lục tìm được câu chuyện này dưới đáy ba lô của bệnh nhân số 13. Tôi đọc, ngắm nhìn khuôn mặt hốc hác của anh ta mà khóc. Suốt đêm ấy tôi không ngủ, đôi mắt dại dại của anh ta bây giờ, đôi mắt trong trẻo của cô Lan trong truyện ám ảnh tôi. Sáng ra tôi xin nghỉ phép về quê. Một đêm không ngủ tôi như kẻ mất hồn. Vợ tôi ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi đưa câu chuyện của bệnh nhân số 13 cho vợ tôi đọc. Vợ tôi khóc… Vợ tôi cũng từ nông trường về. Vợ tôi bảo: - Anh nên đưa đăng báo đi. Biết đâu… Vợ tôi bỏ lửng câu nói, mắt nhìn xa xăm. Quen với những trăn trở của chồng về bệnh nhân, tôi biết vợ tôi đang cầu mong một điều kỳ diệu sẽ đến với bệnh nhân số 13./. Mục lục Bệnh nhân số 13 Bệnh nhân số 13 Võ Thị Hạnh ThuỷChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Conbo2 Nguồn: VOV. ORGĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 10 năm 2005
Khuyết Danh Bố mất tích trước ngày khai giảng của con Ngày 4/9 trôi qua như một cơn ác mộng đối với bác sĩ Watson. 1 giờ sáng đã có ca tự tử bằng thuốc ngủ cực mạnh. Sau đó là ba nạn nhân của một vụ hoả hoạn, tính mạng của họ rất mong manh. Rạng sáng, khi bác sĩ lê bước về nhà thì người phụ nữ hàng xóm, cùng hai đứa con nhỏ đã chờ sẵn ở cửa, bà ta chìa ra một chiếc áo sơ mi trắng rồi mếu máo thuật lại sự việc...Bác sĩ Watson chạy vào phòng ngủ của Sherlock Holmes và lôi thám tử ra khỏi giường: - Dậy nhanh lên, có người mất tích. Holmes thong thả vươn vai càu nhàu:- Watson, tôi đã nói với anh không biết bao nhiêu lần, điều tra không giống như cứu hoả, cần dùng cái đầu hơn đôi chân. - Vụ này rất bi thảm, một người đàn ông mất tích, hiện trường chỉ còn lại một chiếc áo sơ mi.Thám tử cầm chiếc áo lên, xem xét bằng chiếc kính một mắt cũ kỹ của mình rồi thở dài: - Chỉ cần động não chút xíu là biết ngay nạn nhân, nếu có thể gọi như vậy, đang ở đâu.- Dựa vào cái gì mà anh phát biểu thế? - Cái áo này, hãy quan sát cho kỹ, đây là một chiếc áo mua chứ không phải may. Những áo bán thường được gấp, gút bằng kim, lỗ kim ở lưng và ở tay tuy nhỏ vẫn còn đó. Vì những chiếc áo đời mới đều găm bằng nẹp nhựa, nên có thể kết luận áo này được mua lâu rồi. Không thèm để ý đến bác sĩ đang há hốc miệng nghe, thám tử trầm ngâm nói tiếp: - Chiếc áo này của một người đàn bà mua tặng cho thân chủ, vì hai cái cúc dự trữ ở vạt dưới đã bị cắt đi. Chỉ có cô vợ mới cẩn thận như vậy, bồ không bao giờ làm thế vì hai người không thường xuyên ở cùng nhà. Hai vợ chồng này đã từng có tiền, vì trước đây áo được giặt bằng máy nên nó bạc đều. Thời gian vừa qua họ đã túng thiếu phải bán máy và giặt tay. Ta biết điều ấy dễ dàng vì loại vải này nếu vắt máy là khô, còn vắt tay sẽ phải phơi trên dây thép, gỉ sét ở dây in một đường rất nhỏ ở lưng trong của áo, xin mời bác sĩ quan sát. Watson kêu to: - Sao anh có thể đọc chiếc áo như đọc một cuốn sách vậy. Holmes thản nhiên: - Vợ chồng họ đã có hai đứa con, người đàn ông hay bế con bằng tay trái để tay phải làm việc khác. Đặt đứa bé tựa trên vai, miệng nó thường há ra nên sữa trong miệng thấm vào vải. Giữa chất nhuộm áo và sữa lâu ngày có một phản ứng hoá học làm cho nó bị biến màu. Vai trái có hai chỗ biến màu như thế nghĩa là có hai đứa bé...- Tôi thấy chỗ này chưa chắc. - Bác sĩ nghi ngờ nói xen vào.- Chắc, nếu anh xét tới các yếu tố bổ sung. Áo sơ mi thường bỏ trong quần, nên phần dưới mới hơn phần trên. Chỗ khoá thắt lưng do nạn nhân cử động nhiều nên để lại trên áo vệt trầy. Có hai vết chứng tỏ đã hai lần siết lại cỡ dây lưng, phù hợp với hoàn cảnh hai đứa con ra đời, ông bố nghèo nào cũng phải thắt lưng buộc bụng. Watson không nói gì được nữa, Holmes tiếp tục: - Hai đứa bé ấy bây giờ khoảng sáu và bảy tuổi nếu cậu nhìn hai bên ống tay. Tuổi đó muốn đưa con đi chơi thì phải dắt vì bế không nổi nữa. Hai đứa níu hai bên, nên tay áo có hai khoảng bị dãn, và căn cứ vào số áo thì người cha cao khoảng 1,65 m, căn cứ vào chiều cao từ đất đến chỗ dãn ta có thể biết được chiều cao của hai đứa bé, với tiêu chuẩn hiện nay thì chúng có số tuổi đó là thích hợp nhất.- Tôi hơi nghi ngờ đấy. - Watson lại lắc đầu.Holmes cười: - Nghi ngờ là một thói quen rất tốt để điều tra tội phạm, nó giúp ta tìm kiếm những chứng cứ bổ sung. Hãy xem đây: nách áo bị bục chỉ, chứng tỏ cánh tay đã vươn ra rất mạnh. Chỉ có chìa tay đâm đơn cho con đi học mới căng thẳng đến thế này, và chỉ có trường điểm mới phải xin, cho nên có thể kết luận là hai đứa bé học giỏi.Watson rên rỉ: - Anh là thánh chắc? - Tôi là Serlock Holmes. Về việc có con học giỏi, nếu nhìn vào phía trước chiếc áo cũng biết vì cúc trên cùng bong ra, chứng tỏ người mặc hay ưỡn ngực. Một người bố không cao lớn, không giàu, thì chỉ ưỡn ngực vì con học giỏi thôi. - Sao anh khẳng định nạn nhân không giàu? - Vì một số chứng cứ tôi đã nói rồi, và vì cái cổ áo bị bẹp, nó chứng tỏ người mặc phải rụt cổ lại rất sâu. Chỉ có ông bố nghèo, lúc nghe kêu gọi đóng tiền học mới so vai, rụt cổ như thế. Thời điểm này, các khoản chi như vậy đang kéo tới hành hạ ông ta đây.Bác sĩ giơ hai tay lên trời làm cử chỉ đầu hàng. Giọng Serlock Holmes bỗng trở nên hồi hộp như sắp vào hang ổ của thủ phạm: - Chiếc áo vừa được trải ra sàn nhà, vì lưng áo có vệt bụi khô trong khi mặt trước không hề có. Hãy quan sát những vệt phấn mờ trong áo, chứng tỏ nạn nhân đặt một chiếu áo nhỏ hơn bên trong rồi vẽ lên. Nạn nhân rõ ràng định cắt áo của mình cho bé lại. Để làm gì? Lúc này, ai đang cần một chiếc áo trắng nhỏ? Chỉ có những ông bố lo đồng phục cho con mới cần. Ông bố này đang rất túng tiền, xin bác sĩ hãy quan sát túi áo, nó bị đứt chỉ ở mép chứng tỏ chủ nhân thường thọc tay rất sâu. Và ông bố này đang ở chợ đồ cũ, tìm mua một chiếc áo đồng phục giá rẻ, anh không tin cứ chạy ra đấy mà coi...Bác sĩ Watson lúc này còn đang hì hục dùng tay nắn cho quai hàm của mình trở về vị trí cũ. Mục lục Bố mất tích trước ngày khai giảng của con Bố mất tích trước ngày khai giảng của con Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tuổi Trẻ CườiĐược bạn: MS đưa lên vào ngày: 16 tháng 1 năm 2004 Poly_ShowTopBanner(); RSS Trang nhất RSS Ebank Việc làm   Game thủ   Số hóa   Ngôi sao   0123.888.0123(HN) - 0129.233.3555(TP.HCM)       Xã hội Giáo dục Nhịp điệu trẻ Du lịch Du học Thế giới Cuộc sống đó đây Ảnh Người Việt 5 châu Phân tích Tư liệu Australia trong tôi Kinh doanh Ebank Chứng khoán Bất động sản Nhà đẹp Doanh nhân Quốc tế Mua sắm Doanh nghiệp viết Văn hóa Hoa hậu Nghệ sỹ Âm nhạc Thời trang Điện ảnh Mỹ thuật Văn học Thể thao Bóng đá Tennis Chân dung Ảnh - Video Pháp luật Hình sự Ký sự Tư vấn Đời sống Gia đình Sức khỏe Ẩm thực Làm đẹp Cửa sổ Blog Khoa học Môi trường Thiên nhiên Ảnh Công nghệ mới Vi tính Sản phẩm mới Kinh nghiệm Giải trí Hỏi đáp Hacker & Virus Ôtô - Xe máy Tư vấn Bạn đọc viết Khoa học Đời sống Pháp luật Xã hội Kinh doanh Thể thao Văn hoá Thế giới Tâm sự Rao vặt Ebank Việc làm   Game thủ   Số hóa   Ngôi sao   Cười Video Tiểu phẩm Không tìm thấy đường dẫn này   Bạn có thể truy cập vào trang chủ hoặc sử dụng ô dưới đây để tìm kiếm. VnExpress | Google     function ChangeTo(to) { if (to == "0") { if = "ns") { 70, 119)"; 134, 174)"; } = "gg" != '' && != 'Từ khóa tìm kiếm') { SearchNew(); } else { alert('Hãy nhập từ khóa tìm kiếm.'); } } if (to == "1") { if = "gg") { 134, 174)"; 70, 119)"; } = "ns" != '' && != 'Từ khóa tìm kiếm') { SearchNew(); } else { alert('Hãy nhập từ khóa tìm kiếm.'); } } } function SearchNew() { if == "gg") { = + return false; } else { return 1); } } Poly_ShowFooterBanner(); Đặt làm trang chủ   Liên hệ tòa soạn   Liên hệ quảng cáo   Đường dây nóng: 0123.888.0123 (HN) - 0129.233.3555 (TP HCM)   VnExpress tuyển dụng Trang ShowPopupUnder(); 1997-2011 VnExpress.net, All rights reserved Contact us - Thông tin Tòa soạn giữ bản quyền nội dung trên website này. var strHr = || || document.write(''); } var SERVER_ID = 6;
Khuyết Danh Bố mất tích trước ngày khai giảng của con Ngày 4/9 trôi qua như một cơn ác mộng đối với bác sĩ Watson. 1 giờ sáng đã có ca tự tử bằng thuốc ngủ cực mạnh. Sau đó là ba nạn nhân của một vụ hoả hoạn, tính mạng của họ rất mong manh. Rạng sáng, khi bác sĩ lê bước về nhà thì người phụ nữ hàng xóm, cùng hai đứa con nhỏ đã chờ sẵn ở cửa, bà ta chìa ra một chiếc áo sơ mi trắng rồi mếu máo thuật lại sự việc...Bác sĩ Watson chạy vào phòng ngủ của Sherlock Holmes và lôi thám tử ra khỏi giường: - Dậy nhanh lên, có người mất tích. Holmes thong thả vươn vai càu nhàu:- Watson, tôi đã nói với anh không biết bao nhiêu lần, điều tra không giống như cứu hoả, cần dùng cái đầu hơn đôi chân. - Vụ này rất bi thảm, một người đàn ông mất tích, hiện trường chỉ còn lại một chiếc áo sơ mi.Thám tử cầm chiếc áo lên, xem xét bằng chiếc kính một mắt cũ kỹ của mình rồi thở dài: - Chỉ cần động não chút xíu là biết ngay nạn nhân, nếu có thể gọi như vậy, đang ở đâu.- Dựa vào cái gì mà anh phát biểu thế? - Cái áo này, hãy quan sát cho kỹ, đây là một chiếc áo mua chứ không phải may. Những áo bán thường được gấp, gút bằng kim, lỗ kim ở lưng và ở tay tuy nhỏ vẫn còn đó. Vì những chiếc áo đời mới đều găm bằng nẹp nhựa, nên có thể kết luận áo này được mua lâu rồi. Không thèm để ý đến bác sĩ đang há hốc miệng nghe, thám tử trầm ngâm nói tiếp: - Chiếc áo này của một người đàn bà mua tặng cho thân chủ, vì hai cái cúc dự trữ ở vạt dưới đã bị cắt đi. Chỉ có cô vợ mới cẩn thận như vậy, bồ không bao giờ làm thế vì hai người không thường xuyên ở cùng nhà. Hai vợ chồng này đã từng có tiền, vì trước đây áo được giặt bằng máy nên nó bạc đều. Thời gian vừa qua họ đã túng thiếu phải bán máy và giặt tay. Ta biết điều ấy dễ dàng vì loại vải này nếu vắt máy là khô, còn vắt tay sẽ phải phơi trên dây thép, gỉ sét ở dây in một đường rất nhỏ ở lưng trong của áo, xin mời bác sĩ quan sát. Watson kêu to: - Sao anh có thể đọc chiếc áo như đọc một cuốn sách vậy. Holmes thản nhiên: - Vợ chồng họ đã có hai đứa con, người đàn ông hay bế con bằng tay trái để tay phải làm việc khác. Đặt đứa bé tựa trên vai, miệng nó thường há ra nên sữa trong miệng thấm vào vải. Giữa chất nhuộm áo và sữa lâu ngày có một phản ứng hoá học làm cho nó bị biến màu. Vai trái có hai chỗ biến màu như thế nghĩa là có hai đứa bé...- Tôi thấy chỗ này chưa chắc. - Bác sĩ nghi ngờ nói xen vào.- Chắc, nếu anh xét tới các yếu tố bổ sung. Áo sơ mi thường bỏ trong quần, nên phần dưới mới hơn phần trên. Chỗ khoá thắt lưng do nạn nhân cử động nhiều nên để lại trên áo vệt trầy. Có hai vết chứng tỏ đã hai lần siết lại cỡ dây lưng, phù hợp với hoàn cảnh hai đứa con ra đời, ông bố nghèo nào cũng phải thắt lưng buộc bụng. Watson không nói gì được nữa, Holmes tiếp tục: - Hai đứa bé ấy bây giờ khoảng sáu và bảy tuổi nếu cậu nhìn hai bên ống tay. Tuổi đó muốn đưa con đi chơi thì phải dắt vì bế không nổi nữa. Hai đứa níu hai bên, nên tay áo có hai khoảng bị dãn, và căn cứ vào số áo thì người cha cao khoảng 1,65 m, căn cứ vào chiều cao từ đất đến chỗ dãn ta có thể biết được chiều cao của hai đứa bé, với tiêu chuẩn hiện nay thì chúng có số tuổi đó là thích hợp nhất.- Tôi hơi nghi ngờ đấy. - Watson lại lắc đầu.Holmes cười: - Nghi ngờ là một thói quen rất tốt để điều tra tội phạm, nó giúp ta tìm kiếm những chứng cứ bổ sung. Hãy xem đây: nách áo bị bục chỉ, chứng tỏ cánh tay đã vươn ra rất mạnh. Chỉ có chìa tay đâm đơn cho con đi học mới căng thẳng đến thế này, và chỉ có trường điểm mới phải xin, cho nên có thể kết luận là hai đứa bé học giỏi.Watson rên rỉ: - Anh là thánh chắc? - Tôi là Serlock Holmes. Về việc có con học giỏi, nếu nhìn vào phía trước chiếc áo cũng biết vì cúc trên cùng bong ra, chứng tỏ người mặc hay ưỡn ngực. Một người bố không cao lớn, không giàu, thì chỉ ưỡn ngực vì con học giỏi thôi. - Sao anh khẳng định nạn nhân không giàu? - Vì một số chứng cứ tôi đã nói rồi, và vì cái cổ áo bị bẹp, nó chứng tỏ người mặc phải rụt cổ lại rất sâu. Chỉ có ông bố nghèo, lúc nghe kêu gọi đóng tiền học mới so vai, rụt cổ như thế. Thời điểm này, các khoản chi như vậy đang kéo tới hành hạ ông ta đây.Bác sĩ giơ hai tay lên trời làm cử chỉ đầu hàng. Giọng Serlock Holmes bỗng trở nên hồi hộp như sắp vào hang ổ của thủ phạm: - Chiếc áo vừa được trải ra sàn nhà, vì lưng áo có vệt bụi khô trong khi mặt trước không hề có. Hãy quan sát những vệt phấn mờ trong áo, chứng tỏ nạn nhân đặt một chiếu áo nhỏ hơn bên trong rồi vẽ lên. Nạn nhân rõ ràng định cắt áo của mình cho bé lại. Để làm gì? Lúc này, ai đang cần một chiếc áo trắng nhỏ? Chỉ có những ông bố lo đồng phục cho con mới cần. Ông bố này đang rất túng tiền, xin bác sĩ hãy quan sát túi áo, nó bị đứt chỉ ở mép chứng tỏ chủ nhân thường thọc tay rất sâu. Và ông bố này đang ở chợ đồ cũ, tìm mua một chiếc áo đồng phục giá rẻ, anh không tin cứ chạy ra đấy mà coi...Bác sĩ Watson lúc này còn đang hì hục dùng tay nắn cho quai hàm của mình trở về vị trí cũ. Mục lục Bố mất tích trước ngày khai giảng của con Bố mất tích trước ngày khai giảng của con Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tuổi Trẻ CườiĐược bạn: MS đưa lên vào ngày: 16 tháng 1 năm 2004 Poly_ShowTopBanner(); RSS Trang nhất RSS Ebank Việc làm   Game thủ   Số hóa   Ngôi sao   0123.888.0123(HN) - 0129.233.3555(TP.HCM)       Xã hội Giáo dục Nhịp điệu trẻ Du lịch Du học Thế giới Cuộc sống đó đây Ảnh Người Việt 5 châu Phân tích Tư liệu Australia trong tôi Kinh doanh Ebank Chứng khoán Bất động sản Nhà đẹp Doanh nhân Quốc tế Mua sắm Doanh nghiệp viết Văn hóa Hoa hậu Nghệ sỹ Âm nhạc Thời trang Điện ảnh Mỹ thuật Văn học Thể thao Bóng đá Tennis Chân dung Ảnh - Video Pháp luật Hình sự Ký sự Tư vấn Đời sống Gia đình Sức khỏe Ẩm thực Làm đẹp Cửa sổ Blog Khoa học Môi trường Thiên nhiên Ảnh Công nghệ mới Vi tính Sản phẩm mới Kinh nghiệm Giải trí Hỏi đáp Hacker & Virus Ôtô - Xe máy Tư vấn Bạn đọc viết Khoa học Đời sống Pháp luật Xã hội Kinh doanh Thể thao Văn hoá Thế giới Tâm sự Rao vặt Ebank Việc làm   Game thủ   Số hóa   Ngôi sao   Cười Video Tiểu phẩm Không tìm thấy đường dẫn này   Bạn có thể truy cập vào trang chủ hoặc sử dụng ô dưới đây để tìm kiếm. VnExpress | Google     function ChangeTo(to) { if (to == "0") { if = "ns") { 70, 119)"; 134, 174)"; } = "gg" != '' && != 'Từ khóa tìm kiếm') { SearchNew(); } else { alert('Hãy nhập từ khóa tìm kiếm.'); } } if (to == "1") { if = "gg") { 134, 174)"; 70, 119)"; } = "ns" != '' && != 'Từ khóa tìm kiếm') { SearchNew(); } else { alert('Hãy nhập từ khóa tìm kiếm.'); } } } function SearchNew() { if == "gg") { = + return false; } else { return 1); } } Poly_ShowFooterBanner(); Đặt làm trang chủ   Liên hệ tòa soạn   Liên hệ quảng cáo   Đường dây nóng: 0123.888.0123 (HN) - 0129.233.3555 (TP HCM)   VnExpress tuyển dụng Trang ShowPopupUnder(); 1997-2011 VnExpress.net, All rights reserved Contact us - Thông tin Tòa soạn giữ bản quyền nội dung trên website này. var strHr = || || document.write(''); } var SERVER_ID = 6;
Thái San Bố Tôi Đã Thành Vô Vi Suốt những ngày qua tôi cứ băn khoăn mãi không biết tại sao nàng cứ như muốn xa cách tôi.Chưa tìm ra giải đáp thì bố ruột nàng đến thăm mẹ con nàng ở xứ đạo của miền đông tôi mới vỡ nhẽ.Ngay sớm hôm đó tôi đứng ngây người khi gặp nàng là vì chưa hề bao giờ gặp mặt chính bố đẻ nàng. Đối diện với khi nàng trả lời:-Thực tế em chưa hề thố lộ với anh về cha ruột em, và cũng vì thế mẹ em cũng còn vẫn yêu mến ông ấy nhưng cha xứ trên đó chẳng một tý mềm dịu với gia đình em, bèn phải kiếm mọi cách bằng được xa xứ từ ngày bố em bị thương sau trận chiến của biến cố bảy lăm. Nhìn kỹ vào mắt tôi nàng nói như tâm sự.-Anh có đủ hiểu biết về một người đàn bà, chồng bị thương nằm liệt một chỗ mà phải tần tảo nuôi bốn miệng ăn sau ngày thường gọi to là “ngày giải phóng” không. Mẹ em không có lối thoát. Nghỉ xả hơi và nàng nói tiếp:“-Chúng nó có tha cho mẹ em đâu lôi xề xệch như một con điếm đi khắp nơi trong một xã, nói thẳng chắc khoảng chục thằng đàn ông thay phiên nhau từng tháng. Thế thì mẹ em là con người gì hay chỉ là con đĩ phục vụ giải phóng. Cuối cùng mẹ em lấy thằng Thảo, nó là võ sĩ và đẳng cấp đai ba đen, thành ra mọi thằng thấy vậy chuồn biến chứ không thân xác mẹ em còn cái gì.Khi nghe anh nói anh theo đạo Phật em định anh cứ giữ nguyên trạng vậy em không hề là con người dốt nát mà không biết tôn trọng người khác đó là cái tự trọng, nhưng anh lại quá thương em thương mẹ em dù anh chưa hiểu rõ ngọn nguồn nên em cứ để nguyên vậy phần vì quá thương mẹ phần là vì cái trịch thượng của em với Thảo cho nó biết lễ độ là như thế nào. Anh đừng ngắt lời để cho em thổ lộ hết tâm can và rồi ngày nào những chuyện tôn giáo phơi bày anh làm ơn giải thích với ba mẹ anh tức là ba mẹ chúng mình bây giờ nhé.Tôi gật đầu cảm thương nàng vô biên và tự hứa nói cùng ông già via. Không những nàng vì tôi giữ trọn đường mà chính ông via tôi mong ước trước khi cưới lại còn giữ được đôi nét phong tục của gia tộc mà khi quyết định theo cưới nàng tôi phải chọn nhưng bố tôi vẫn chiều theo ý. Tôi chưa kịp nghe riêng rẽ bố nói tôi đã quyết định theo phương hướng tôn giáo của nàng vì dù cả nghĩ ai cũng đều biết tôn giáo nào cũng đều hướng con người đến chân thiện mỹ cả”.Riêng bố tôi nhiều khi đàm luận về tôn giáo với một vài ông bạn nhất là những ông biết về văn nghệ hay văn chương ôi thì chẳng thể nào tả nổi muôn vàn hướng phương cho đến nỗi có những người nói khi trên báo chí nói hay thời này còn trên mạng online thiên hình vạn trạng, bố tôi vẫn dè giữ cho nàng khi đã cưới về bởi vì chính ngày cưới lại không thấy ông bố Thảo của nàng đến dự đâm nhiều người thắc mắc, ông chỉ nói:-Ôi tôi thường thấy nhiều chuyện nên quên đi như vô vi ông ạ.-Thôi đúng rồi những chuyện tôn giáo khó nói ra lâu lắm chẳng ai có thể dứt khoát được. Tôi cũng thông cảm và nói như vậy, rồi đợi lúc nào tâm sự cùng bố tôi sẽ phơi bày sau vài chuyện cần.Nhưng khổ não nhiều người lại xét đến cái đạo đức của con dâu đã bị giáo huấn theo cái đường hướng của mẹ vẫn còn quẩn quanh tôi như mớ thòng bong chưa vượt thoát. Tôi tâm sự với nàng:-Người ngoài thì chẳng biết đâu mà lường, riêng em chỉ cần giữ cái đức hạnh theo ý hiểu biết và tâm mình như thế nào thì sống vậy. Nàng điềm tĩnh nói:-Thời gian còn anh sẽ nhìn thấy mà khỏi phải đính chính hay giải thích gì cả.Nhưng khốn cho những thành tâm trên đời chưa chắc đã được mọi người hưởng ứng, tuy nhiên tôi cũng mặc.Mà thật lòng mà nói câu chuyện của vợ tôi tức là ông bố nàng lại râm ran cả ngõ rồi đến cả xóm họ chẳng buông tha để làm quà và kiếm câu chuyện đầu trà thành những chuyện vô bổ cho cả gia đình tôi.Bố tôi một hôm vào buổi sáng sau khi uống càfê với bạn đời xong bèn gọi tôi nói:-Con cứ thực hành sống cùng với gia đình trong đó mẹ, ba và hai đứa tập sống thiền (zen) tức là quên hết những rườm rà chung quanh, tức là đàm tiếu đó cứ lấy chữ quên làm đề thì mọi sự ổn thỏa cả chớ nghe rồi nhận những lời dèm pha thêm khổ cho mình, và thực tiễn thực hành những chân tình của nhau. Cứ vững chãi mà nghe ba đi đừng nghe và cả tin ai cả.Buổi chiều nhá nhem ông cụ đưa thêm ông thầy trong chùa trong đâu “đồi lá giang” về lập bàn thờ và nghe những tiếng tụng kinh ồn ào. Khi ông cất kinh tôi mới rõ thật lòng bố chứa chan yêu thương không mấy khi được nghe chính ông cụ tâm sự.Những lời muốn thoát mang đầy con tim của bố dành riêng cho tôi hơi nhiều.Theo tôi có khi ông xem những cung cách trình bày trong những khúc phim ba xu thời nay và các cách ăn mặc trắng trợn đến phát sợ. Ông bạn laghim đôi lần nói với bố tôi:-Chắc một ngày gần đây chúng chỉ mặc quần lót đi chợ quá. Bà chị năm em nhắc:-Thôi em cũng cần nhắc đến mẹ chồng một tí. Ba đôi khi nói vì ba chẳng muốn nói:-Rằng mẹ hiền lắm đôi khi chỉ có ba nói mà thôi. Với tình cha con ba bảo:-Tu là cội phúc tình là giây oan. Ông còn nói tiếp:-Ai tránh được những tham, sân, si, lục dục là người tuyệt vời và hãy nhìn mẹ làm gương. Mẹ tôi ít khi nói lại nữa nay là mẹ chồng không muốn nói với con dâu bao giờ nay bà cũng thêm lời:-Cái thời này chúng thay đổi quá, mẹ chỉ khuyên chúng mày mỗi câu duy nhất “là nếu không sống với nhau thì thôi. Bà tạm ngưng để bình tĩnh hơn tiếp: “đã quyết thì phải hành”Vì người xưa có câu:Đã quyết phải hành, đã đẵn thì phải vác cả cành lẫn cây đó các con ạ kể cả chồng lẫn vợ. Nhưng tuy được an ủi nhiều lắm qua câu dặn dò của mẹ chúng nhưng riêng ông có thu thập nhiều tư tưởng mới và cập nhật thường xuyên liên tục nhưng ông vẫn chưa chắc chắn. Ông vẫn thường xuyên lục bục trong miệng chẳng nói ra.Đó là nỗi đăm chiêu vì thương con mà vậy. Suy nghĩ suốt buổi chiều tôi bước đến nhà một người bạn bao giờ chẳng hay, lỡ đến rồi thì bước vào. Lên tiếng gọi:-Có nhà không vậy.-Alô alồ, ai vậy?-Có đồng song đồng hành không dám nói là đồng chí.-Có gì đấy đồng song. Hỏi xong tuy vậy tôi cũng đi ra theo vào quán. Chợt kêu càfê đá nhá.-Không hai ly đá chứ.-Cũng được, mấy hôm nay bà có khỏe không vậy.-Ai đến nhà hỏi thăm vợ người ta là sao.-Sự thường là thế mà.-Vâng cám ơn ông nhà tôi “vũ như cẩn”. Sao nay có gì lạ đây.-Ông vào đây nhân tiện tôi vào ruộng mới về nghe nói có ông đến nhà mà vắng tôi bèn phải ra nói chuyện và còn xin ý kiến ý cò về chuyện thằng út nhà. Ông cướp lời thật nhanh chừng như sợ ai cướp lời:-Thì phải dặn dò chỉ nên giữ mình thật trong veo là dĩ nhiên sẽ được mọi sự như ý muốn chứ có gì mà lo hả ông.-Tôi còn đang định vào nhận bộ áo xám dành cho cư sĩ về để mặc những lúc thiền cho phải đạo.-Ông đã biết rành quá làm chi zậy cho con nó rắc rối thêm chứ gì. Từ hôm bố ở quán đầu đường về là ông chẳng nói chẳng rằng mấy và chỉ luôn mồm nhẹ khuyên cả hai đứa. Có lần ông to tiếng:-Cả vợ lẫn chồng phải giữ cho trọn đạo vợ chồng cho đến chết. Từ đó chẳng ai dám nói thêm gì, manh nha những hôm bạn bè của ông đến nhỏ to đôi diều gì rồi lại nín thinh.Làm cho nàng phải chỉnh sửa những gì đã sai của đời trước. Nàng chỉ nói thầm với tôi đến mấy lần.-Chuyện hai đứa mình có gì sai đó anh Đức.Và tất cả đều tiến triển hay hẳn ra và nàng cũng tự sửa lấy những gì dù nhỏ nhít đến đâu. Nàng vẫn nói:-Ảnh hưởng khiếp thật em chỉ cần phải giữ mình để đừng xẩy ra những vụ việc tương tự như bố và mẹ em đã làm. Kinh xám hối Những tình yêu thủa thời trướctạo nên những ngang trái của đờicố gắng đừng lỡ theo đi bướclàm cuộc tình không thể theo bèo dạt mây trôi oOo cuộc tình đau khổ trái ngangsinh ra mọi chuyện bẽ bàng đời sausự tình là của bể dâucon ơi hãy gẫm là câu răn mình vậy là ông cụ đã biến thành vô vi rồi thái sancầu chúc các cháu trăm năm hạnh phúc thái san chúc Mục lục Bố Tôi Đã Thành Vô Vi Bố Tôi Đã Thành Vô Vi Thái SanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả/ VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 18 tháng 2 năm 2010
Thái San Bố Tôi Đã Thành Vô Vi Suốt những ngày qua tôi cứ băn khoăn mãi không biết tại sao nàng cứ như muốn xa cách tôi.Chưa tìm ra giải đáp thì bố ruột nàng đến thăm mẹ con nàng ở xứ đạo của miền đông tôi mới vỡ nhẽ.Ngay sớm hôm đó tôi đứng ngây người khi gặp nàng là vì chưa hề bao giờ gặp mặt chính bố đẻ nàng. Đối diện với khi nàng trả lời:-Thực tế em chưa hề thố lộ với anh về cha ruột em, và cũng vì thế mẹ em cũng còn vẫn yêu mến ông ấy nhưng cha xứ trên đó chẳng một tý mềm dịu với gia đình em, bèn phải kiếm mọi cách bằng được xa xứ từ ngày bố em bị thương sau trận chiến của biến cố bảy lăm. Nhìn kỹ vào mắt tôi nàng nói như tâm sự.-Anh có đủ hiểu biết về một người đàn bà, chồng bị thương nằm liệt một chỗ mà phải tần tảo nuôi bốn miệng ăn sau ngày thường gọi to là “ngày giải phóng” không. Mẹ em không có lối thoát. Nghỉ xả hơi và nàng nói tiếp:“-Chúng nó có tha cho mẹ em đâu lôi xề xệch như một con điếm đi khắp nơi trong một xã, nói thẳng chắc khoảng chục thằng đàn ông thay phiên nhau từng tháng. Thế thì mẹ em là con người gì hay chỉ là con đĩ phục vụ giải phóng. Cuối cùng mẹ em lấy thằng Thảo, nó là võ sĩ và đẳng cấp đai ba đen, thành ra mọi thằng thấy vậy chuồn biến chứ không thân xác mẹ em còn cái gì.Khi nghe anh nói anh theo đạo Phật em định anh cứ giữ nguyên trạng vậy em không hề là con người dốt nát mà không biết tôn trọng người khác đó là cái tự trọng, nhưng anh lại quá thương em thương mẹ em dù anh chưa hiểu rõ ngọn nguồn nên em cứ để nguyên vậy phần vì quá thương mẹ phần là vì cái trịch thượng của em với Thảo cho nó biết lễ độ là như thế nào. Anh đừng ngắt lời để cho em thổ lộ hết tâm can và rồi ngày nào những chuyện tôn giáo phơi bày anh làm ơn giải thích với ba mẹ anh tức là ba mẹ chúng mình bây giờ nhé.Tôi gật đầu cảm thương nàng vô biên và tự hứa nói cùng ông già via. Không những nàng vì tôi giữ trọn đường mà chính ông via tôi mong ước trước khi cưới lại còn giữ được đôi nét phong tục của gia tộc mà khi quyết định theo cưới nàng tôi phải chọn nhưng bố tôi vẫn chiều theo ý. Tôi chưa kịp nghe riêng rẽ bố nói tôi đã quyết định theo phương hướng tôn giáo của nàng vì dù cả nghĩ ai cũng đều biết tôn giáo nào cũng đều hướng con người đến chân thiện mỹ cả”.Riêng bố tôi nhiều khi đàm luận về tôn giáo với một vài ông bạn nhất là những ông biết về văn nghệ hay văn chương ôi thì chẳng thể nào tả nổi muôn vàn hướng phương cho đến nỗi có những người nói khi trên báo chí nói hay thời này còn trên mạng online thiên hình vạn trạng, bố tôi vẫn dè giữ cho nàng khi đã cưới về bởi vì chính ngày cưới lại không thấy ông bố Thảo của nàng đến dự đâm nhiều người thắc mắc, ông chỉ nói:-Ôi tôi thường thấy nhiều chuyện nên quên đi như vô vi ông ạ.-Thôi đúng rồi những chuyện tôn giáo khó nói ra lâu lắm chẳng ai có thể dứt khoát được. Tôi cũng thông cảm và nói như vậy, rồi đợi lúc nào tâm sự cùng bố tôi sẽ phơi bày sau vài chuyện cần.Nhưng khổ não nhiều người lại xét đến cái đạo đức của con dâu đã bị giáo huấn theo cái đường hướng của mẹ vẫn còn quẩn quanh tôi như mớ thòng bong chưa vượt thoát. Tôi tâm sự với nàng:-Người ngoài thì chẳng biết đâu mà lường, riêng em chỉ cần giữ cái đức hạnh theo ý hiểu biết và tâm mình như thế nào thì sống vậy. Nàng điềm tĩnh nói:-Thời gian còn anh sẽ nhìn thấy mà khỏi phải đính chính hay giải thích gì cả.Nhưng khốn cho những thành tâm trên đời chưa chắc đã được mọi người hưởng ứng, tuy nhiên tôi cũng mặc.Mà thật lòng mà nói câu chuyện của vợ tôi tức là ông bố nàng lại râm ran cả ngõ rồi đến cả xóm họ chẳng buông tha để làm quà và kiếm câu chuyện đầu trà thành những chuyện vô bổ cho cả gia đình tôi.Bố tôi một hôm vào buổi sáng sau khi uống càfê với bạn đời xong bèn gọi tôi nói:-Con cứ thực hành sống cùng với gia đình trong đó mẹ, ba và hai đứa tập sống thiền (zen) tức là quên hết những rườm rà chung quanh, tức là đàm tiếu đó cứ lấy chữ quên làm đề thì mọi sự ổn thỏa cả chớ nghe rồi nhận những lời dèm pha thêm khổ cho mình, và thực tiễn thực hành những chân tình của nhau. Cứ vững chãi mà nghe ba đi đừng nghe và cả tin ai cả.Buổi chiều nhá nhem ông cụ đưa thêm ông thầy trong chùa trong đâu “đồi lá giang” về lập bàn thờ và nghe những tiếng tụng kinh ồn ào. Khi ông cất kinh tôi mới rõ thật lòng bố chứa chan yêu thương không mấy khi được nghe chính ông cụ tâm sự.Những lời muốn thoát mang đầy con tim của bố dành riêng cho tôi hơi nhiều.Theo tôi có khi ông xem những cung cách trình bày trong những khúc phim ba xu thời nay và các cách ăn mặc trắng trợn đến phát sợ. Ông bạn laghim đôi lần nói với bố tôi:-Chắc một ngày gần đây chúng chỉ mặc quần lót đi chợ quá. Bà chị năm em nhắc:-Thôi em cũng cần nhắc đến mẹ chồng một tí. Ba đôi khi nói vì ba chẳng muốn nói:-Rằng mẹ hiền lắm đôi khi chỉ có ba nói mà thôi. Với tình cha con ba bảo:-Tu là cội phúc tình là giây oan. Ông còn nói tiếp:-Ai tránh được những tham, sân, si, lục dục là người tuyệt vời và hãy nhìn mẹ làm gương. Mẹ tôi ít khi nói lại nữa nay là mẹ chồng không muốn nói với con dâu bao giờ nay bà cũng thêm lời:-Cái thời này chúng thay đổi quá, mẹ chỉ khuyên chúng mày mỗi câu duy nhất “là nếu không sống với nhau thì thôi. Bà tạm ngưng để bình tĩnh hơn tiếp: “đã quyết thì phải hành”Vì người xưa có câu:Đã quyết phải hành, đã đẵn thì phải vác cả cành lẫn cây đó các con ạ kể cả chồng lẫn vợ. Nhưng tuy được an ủi nhiều lắm qua câu dặn dò của mẹ chúng nhưng riêng ông có thu thập nhiều tư tưởng mới và cập nhật thường xuyên liên tục nhưng ông vẫn chưa chắc chắn. Ông vẫn thường xuyên lục bục trong miệng chẳng nói ra.Đó là nỗi đăm chiêu vì thương con mà vậy. Suy nghĩ suốt buổi chiều tôi bước đến nhà một người bạn bao giờ chẳng hay, lỡ đến rồi thì bước vào. Lên tiếng gọi:-Có nhà không vậy.-Alô alồ, ai vậy?-Có đồng song đồng hành không dám nói là đồng chí.-Có gì đấy đồng song. Hỏi xong tuy vậy tôi cũng đi ra theo vào quán. Chợt kêu càfê đá nhá.-Không hai ly đá chứ.-Cũng được, mấy hôm nay bà có khỏe không vậy.-Ai đến nhà hỏi thăm vợ người ta là sao.-Sự thường là thế mà.-Vâng cám ơn ông nhà tôi “vũ như cẩn”. Sao nay có gì lạ đây.-Ông vào đây nhân tiện tôi vào ruộng mới về nghe nói có ông đến nhà mà vắng tôi bèn phải ra nói chuyện và còn xin ý kiến ý cò về chuyện thằng út nhà. Ông cướp lời thật nhanh chừng như sợ ai cướp lời:-Thì phải dặn dò chỉ nên giữ mình thật trong veo là dĩ nhiên sẽ được mọi sự như ý muốn chứ có gì mà lo hả ông.-Tôi còn đang định vào nhận bộ áo xám dành cho cư sĩ về để mặc những lúc thiền cho phải đạo.-Ông đã biết rành quá làm chi zậy cho con nó rắc rối thêm chứ gì. Từ hôm bố ở quán đầu đường về là ông chẳng nói chẳng rằng mấy và chỉ luôn mồm nhẹ khuyên cả hai đứa. Có lần ông to tiếng:-Cả vợ lẫn chồng phải giữ cho trọn đạo vợ chồng cho đến chết. Từ đó chẳng ai dám nói thêm gì, manh nha những hôm bạn bè của ông đến nhỏ to đôi diều gì rồi lại nín thinh.Làm cho nàng phải chỉnh sửa những gì đã sai của đời trước. Nàng chỉ nói thầm với tôi đến mấy lần.-Chuyện hai đứa mình có gì sai đó anh Đức.Và tất cả đều tiến triển hay hẳn ra và nàng cũng tự sửa lấy những gì dù nhỏ nhít đến đâu. Nàng vẫn nói:-Ảnh hưởng khiếp thật em chỉ cần phải giữ mình để đừng xẩy ra những vụ việc tương tự như bố và mẹ em đã làm. Kinh xám hối Những tình yêu thủa thời trướctạo nên những ngang trái của đờicố gắng đừng lỡ theo đi bướclàm cuộc tình không thể theo bèo dạt mây trôi oOo cuộc tình đau khổ trái ngangsinh ra mọi chuyện bẽ bàng đời sausự tình là của bể dâucon ơi hãy gẫm là câu răn mình vậy là ông cụ đã biến thành vô vi rồi thái sancầu chúc các cháu trăm năm hạnh phúc thái san chúc Mục lục Bố Tôi Đã Thành Vô Vi Bố Tôi Đã Thành Vô Vi Thái SanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả/ VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 18 tháng 2 năm 2010
Khuyết Danh Bốn anh tài Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nghèo không con. Hai vợ chồng khấn vái hết đền này đến chùa khác, mãi sau mới sinh được một mụn con trai. Thằng bé lớn lên như thổi. Nhưng càng lớn, hắn càng ăn rất tợn: bung kia, chảo nọ nấu lên bao nhiêu cũng vợi. Hai vợ chồng cố sức làm lụng để nuôi con nhưng nuôi không nổi. Trong nhà có vật gì đáng tiền, họ đều bán sạch để cho con chèn dạ dày. Sau rồi hai vợ chồng nghĩ chỉ có cách cho con đi tha phương cầu thực mới đỡ khốn vì nó. Một hôm, người cha gọi con lại, bảo rằng: - Nay con đã khôn lớn mà cha mẹ gần đất xa trời, yếu đuối không làm gì được để nuôi con. Ngày xưa lúc nhà ta còn khá giả, có hoàng đế Trung Quốc vay vàng và bạc đến 70 vạn lạng. Bây giờ con tìm cách sang bên đó đòi lấy mà ăn. Nghe nói, người con vâng lời đi ngay. Chàng cứ dọc bờ biển đi lần về phương Bắc. Một hôm, đến một xứ kia, bỗng gặp một người khổng lồ đang tát biển, anh chàng tiến lại hỏi: - Anh làm gì đấy? Khổng lồ đáp: - Tôi tát cạn biển, để tìm vàng ngọc dưới đó. - Sức lực một mình làm sao mà tát cạn được. - Ta có sức khoẻ không ai bì kịp. Anh cứ thử lại xách gàu của ta xem. Nhưng khổng lồ lấy làm lạ vì hắn cũng nhấc nổi cái gàu của mình, bèn mời về nhà kết nghĩa anh em. Anh chàng bèn rủ: - Anh hãy đi theo tôi đòi nợ vua Trung Quốc lấy tiền ăn tiêu ngay, còn như tát biển thì chờ lúc nào về, lại sẽ tiếp tục. Khổng lồ nghe bùi tai, liền cùng nhau ra đi. Một hôm, họ đi đến một hòn núi. Thấy một anh chàng trẻ tuổi ngồi trên một tảng đá lớn có vẻ nhàn hạ, hai người tiến đến hỏi hắn làm gì mà ngồi đấy. Hắn đáp: - Ta ngồi đây thỉnh thoảng lại thổi một hơi làm cho ngã cây ngã cối đưa về làm củi. Nghe nói lạ, hai người bảo anh làm thử cho xem. Quả nhiên hắn vừa phùng má thổi một hơi thì cây cối ở trước mặt tự nhiên ngã rạp xuống như bị một trận bão nặng nề. Hai người bảo anh rằng: - Bác có tài thế sao không đi khắp thiên hạ làm cho nổi tiếng một phen chứ lại sống chui rúc ở xó rừng này làm gì? Thôi! Bác hãy cùng chúng tôi đi đòi nợ vua Trung Quốc, ngó chừng còn thú vị hơn ở đây! Anh chàng nghe nói bằng lòng ngay. Rồi đó cả bọn cùng lên đường. Mười ngày sau, bọn họ lại đến một khu rừng khác. Thấy từ trong rừng sâu tiến ra một người cao lớn, vai gánh một đôi voi đi như bay. Cả bọn kinh phục, vội gọi giật lại hỏi: - Bác gánh voi đi đâu đó? - Tôi hàng ngày vào rừng tìm voi mà bắt. Bắt được con nào thì trói giò lại gánh về rữa thịt lấy một hai cây ngà bán kiếm tiền ăn tiêu. Cả bọn bảo: - Thôi! Sức khoẻ như thế tội gì cặm cụi trong rừng cho khổ. Hãy đi với chúng tôi đòi nợ vua Trung Quốc về chia nhau ăn đi. Nghe nói, anh chàng vừa ý vội bỏ voi lại nói: - Ừ! thì đi. Đến kinh đô Trung Quốc, bốn chàng tìm đến hoàng cung. Một toán lính gác cổng cản lại không cho vào. Cả bọn nổi xung lên, nói: - Bọn tao sang đây đòi nợ chứ có phải chơi đâu mà không cho vào. Và họ toan giã cho chúng một trận, nhưng anh chàng ăn khoẻ cản lại rồi viết một bức thư đòi nợ, bảo tên lính đem vào cho vua. Hoàng đế Trung Quốc đọc xong lấy làm lạ, liền sai một viên cận thần ra xem thử người nào mà to gan đến như thế. Viên cận thần ra một lát, trở vào tâu rằng: - Có bốn tên dị hình dị dạng ở nước An Nam sang, đứa nào cũng quyết đòi nợ được mới về. Chúng nó toan đánh cả lính. Hoàng đế nghe nói không vui, nhưng cũng truyền dọn yến đãi đằng tử tế trước khi gặp họ. Bốn chàng được mời vào một phòng riêng ăn uống nghỉ ngơi trong vòng vài ba ngày. Nhưng họ ăn uống hung quá đến nỗi qua ngày thứ ba mấy viên quan trông nom về ngự thiện phải vào báo với vua rằng kho thức ăn của hoàng đế vì việc tiếp đãi bốn người khách lạ đã vơi hết già nửa. Hoàng đế nghe nói giật mình, vội bảo mấy viên đại thần tìm cách ám hại họ đi cho khỏi phiền. Người ta được lệnh mời bốn chàng đi thuyền chơi hồ thì đánh đắm cho chết đuối tất cả. Quả nhiên bốn anh em không ngờ sa vào mưu gian bị chìm xuống nước. Nhưng giữa lúc nguy cấp thì anh chàng khổng lồ nắm lấy chiếc thuyền như một chiếc gầu rồi tát lấy tát để. Chỉ trong một chốc, đáy hồ khô cạn, cứu ba người kia khỏi chết đuối. Thấy họ sống yên lành, hoàng đế tức giận, vội sai dọn yến tiệc khoản đãi, rồi chờ lúc họ no say mới sai mấy đội quân xông vào vây chém. Hôm ấy, bốn chàng vô tình cùng nhau chén tạc chén thù không nghi ngờ gì cả. Bỗng nhiên một tiếng hô vang, phục binh xông ra như kiến. Cả bọn toan chạy, anh chàng thổi khoẻ đã ngăn lại mà rằng: - Các anh cứ để yên, để tôi cho bọn chúng xiêu dạt một phen! Nói rồi, phùng má thổi mấy hơi, bọn lính chịu không nổi với sức gió, bay văng đi như những chiếc lá khô. Thế rồi ở trong này, bốn chàng vẫn cứ ung dung ngồi chén tì tì cho đến mãn tiệc. Lần này hoàng đế Trung Quốc lo lắng hết sức. Vua sai triệu các vị cơ mật đến tính cách đối phó. Nhưng mọi người khuyên vua nên trả quách đi cho êm chuyện. Vua nói: - Bảy mươi vạn lạng thì nhiều quá. Các khanh có cách gì bắt chúng giảm bớt được không? Một viên quan tâu lên: - Bệ hạ cứ bằng lòng trả, nhưng bắt các thần dân, các thuyền bè xe cộ, khắp trong nước không ai được gánh thuê chở thuê cho chúng và bắt chúng nó không được chuyên chở nhiều lần. Như thế dù có sức như Hạng Vũ cũng chỉ mang ra được chừng dăm bảy trăm cân là hết nước. Vua bằng lòng theo cách đó. Đến ngày nhận vàng bạc, người ta thấy một mình anh chàng gánh voi quảy hai sọt lớn vào kho. Chúng không ngờ chỉ một người đó mà thôi, đã thừa sức gánh 70 vạn lạng. Bọn quan coi kho không biết làm thế nào, đành cắm đầu cân lấy cân để, vơi hẳn cả kho bạc. Được của, bốn anh chàng cúi chào hoàng đế rồi ung dung đi ra khỏi cung. Về nước, họ chia nhau tiêu xài sung sướng trọn đời. Mục lục Bốn anh tài Bốn anh tài Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Leo* Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 23 tháng 11 năm 2009
Noname Four talented men Once upon a time there was a poor couple without children. The couple prayed from temple to temple until they finally gave birth to a son. He grew up as the blows. But the older he got, the more ferociously he ate: in that pan, in that pan, he cooked as much as he wanted. The couple tried to work hard to raise their child but could not. If there was anything worth money in the house, they sold it all to give their child a stomachache. After that, the couple thought that the only way was to let their child go abroad to pray for food to help them avoid suffering because of him. One day, the father called his son back and said: - Now you have grown up, but your parents are so weak that they cannot do anything to raise you. In the past, when our family was still well off, there was a Chinese emperor who borrowed 700,000 taels of gold and silver. Now I'm trying to go over there and ask for it to eat. Hearing that, the son obeyed and left immediately. He kept walking along the coast towards the North. One day, going to a certain country, he suddenly saw a giant slapping the sea. The guy approached and asked: - What are you doing? The giant replied: - I drained the sea to find gold and gems down there. - You can't exhaust your strength alone. - I have health that no one can match. Just try carrying my bucket again. But the giant was surprised that he could even lift his dandruff, so he invited him home to become brothers. The guy then invited: - Please follow me to collect the debt of the Chinese king and get the money to eat and spend right away, but like slapping the sea, wait until I return and we will continue. The giant listened and left together. One day, they went to a mountain. Seeing a young man sitting on a large rock looking leisurely, the two approached and asked him why he was sitting there. He replied: - I sit here and occasionally blow a breath to knock down trees and bring them back to use as firewood. Hearing that it was strange, the two told him to try it. Sure enough, as soon as he puffed his cheeks and blew out a breath, the trees in front of him suddenly collapsed as if hit by a heavy storm. Two people told him: - If you have such talent, why don't you go around the world and become famous, instead of living in this corner of the forest? Stop! Please come with us to collect the debt of the Chinese king, it looks even more interesting than here! The guy immediately agreed. Then they all set off together. Ten days later, they came to another forest. Seeing a tall man coming out of the deep forest, carrying a pair of elephants on his shoulders, walking like flying. They were all amazed and quickly called back and asked: - Where are you carrying the elephant? - I go into the forest every day to find elephants to catch. If you catch any animal, tie its leg and carry it back to wash the meat and take one or two ivory sticks to sell for money. They all said: - Stop! With health like that, why bother working so hard in the forest? Come with us to collect debt from the Chinese king and share the food. Hearing that, the satisfied guy quickly left the elephant behind and said: - Yes! then go. Arriving at the Chinese capital, the four men went to the royal palace. A group of guards guarding the gate stopped them from entering. They all got angry and said: - We came here to collect debt, not to play, so we won't let them in. And they tried to beat them up, but the strong man stopped them and wrote a letter to collect the debt, telling the soldier to bring it to the king. After reading it, the Chinese Emperor was surprised and immediately sent a courtier to see who could be so bold. The courtier went out for a moment, then came back and said: - There are four deformed people from the country of An Nam, each of them is determined to collect his debt before returning. They tried to attack the soldiers. The Emperor heard that he was not happy, but he also ordered a nice banquet before meeting them. The four men were invited to a private room to eat and rest for a few days. But they ate and drank so much that on the third day the officials in charge of the palace had to come in and tell the king that the emperor's food store was half empty due to entertaining the four strangers. The Emperor was startled when he heard this and quickly told his ministers to find a way to harm them so as not to bother them. People were ordered to invite four men to take a boat to the lake and sink them all to drown. Sure enough, the four brothers unexpectedly fell into the scam and sank into the water. But in the midst of danger, the giant grabbed the boat like a bucket and slapped it. In just a moment, the bottom of the lake dried up, saving the other three people from drowning. Seeing that they were living peacefully, the emperor was angry, quickly ordered a banquet to be prepared, and then waited until they were full before sending several troops to rush in and besiege them. That day, the four guys accidentally got together and made enemies without suspecting anything. Suddenly there was a loud shout and the ambush soldiers rushed out like ants. They all tried to run away, but the strong blower stopped them and said: - Leave it alone, let me let them wander for a while! Having said that, puffing his cheeks and blowing a few breaths, the soldiers could not bear the force of the wind and flew away like dry leaves. Then, in here, the four guys still sat comfortably, drinking and drinking until the party was over. This time the Chinese emperor was extremely worried. The king summoned secret officials to discuss how to deal with the situation. But everyone advised the king to return the coffin to smooth matters over. The king said: - Seventy thousand taels is too much. Do you have any way to reduce them? An official reported: - Your Majesty is willing to pay, but no one is allowed to hire the subjects, boats, and vehicles throughout the country to transport them and force them not to be transported more than once. Thus, even with the strength of Hang Vu, he could only carry out about a few hundred pounds before running out of water. The king agreed that way. On the day of receiving the gold and silver, people saw the guy alone carrying an elephant carrying two large baskets into the warehouse. They did not expect that just one person could carry 700,000 taels. The officials in charge of the warehouse did not know what to do, so they had to weigh it with scales, completely emptying the treasury. Having received their reward, the four men bowed to the emperor and leisurely walked out of the palace. Returning home, they divided and spent happily for the rest of their lives. Table of contents Four talented men Four talented men AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected by: Leo* Source: Uploaded by friend: Ct.Ly on: November 23, 2009
Khuyết Danh Bốn Bà Vợ Của Nhà Vua Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua giàu có trị vì một vương quốc hùng mạnh. Ông có bốn bà vợ, bà nào cũng xinh đẹp. Nhà vua yêu người vợ thứ tư nhất và luôn chiều theo mọi sở thích của bà, bà không bao giờ bị từ chối. Kế đến là người vợ thứ ba, nhà vua lúc nào cũng sợ mất bà, đi đâu cũng luôn muốn đưa bà đi theo. Bà vợ thứ hai là chỗ dựa tinh thần của nhà vua, bà rất tử tế, dịu dàng và kiên nhẫn. Mỗi khi nhà vua gặp chuyện khó khăn, ông thường tâm sự với bà và thường nhận được những lời khuyên quý giá. Người vợ thứ nhất của vua là trung thành nhất, giúp vua trị vì và làm cho đất nước ngày càng giàu có nhưng nhà vua lại không dành nhiều tình cảm cho bà. Nhà vua luôn nghĩ rằng bà có thể tự chăm sóc lấy mình nên ít khi để ý đến bà. Không may một ngày nọ, vua lâm bệnh và biết rằng mình không còn sống được bao lâu nữa. Ông nghĩ : “ Ta có đến bốn người vợ, nhưng khi ra đi, e rằng lại hoàn toàn cô đơn !” Nghĩ vậy nhà vua cho gọi người vợ thứ tư đến bên cạnh và nói “ Ta yêu thương nàng nhất, luôn dành mọi thứ tốt đẹp cho nàng. Giờ đây ta sắp chết, nàng có theo ta để ta không cô đơn không?” Nhà vua nhận được câu trả lời “ Bệ hạ rất tốt với thiếp, nhưng yêu cầu đó quá khó, thiếp không thể làm được” Nhà vua lặng đi một lúc rồi cho gọi người vợ thứ ba, bà trả lời “ Không, thưa đức vua, cuộc sống còn đẹp lắm, sẽ có một vị vua khác đến để tiếp tục che chở và chiều chuộng thiếp”. Trái tim vị vua cảm thấy lạnh buốt vì buồn bã và thất vọng. Ngài lại gọi người vợ thứ hai “Ta luôn được nàng giúp đỡ và khuyên giải, nàng sẽ theo ta chứ ?”, nhà vua hỏi. “Lần này thiếp chẳng giúp được gì hơn, thưa đức vua” người vợ thứ hai đáp “ Nhưng thiếp hứa sẽ chăm sóc bệ hạ đến những giây cuối cùng, rồi sẽ đưa bệ hạ về nơi an nghỉ cuối cùng và sẽ luôn nhớ đến bệ hạ”. Nhà vua hoàn toàn tuyệt vọng, ngài không hề nhớ ra người vợ thứ nhất, cho đến khi ngài nghe thấy một giọng nói cất lên bên cạnh “ Thiếp sẽ theo ngài đến bất cứ nơi đâu ngài đi tới, dù đó là cõi chết”. Đó chính là người vợ thứ nhất của ông. Trông bà mệt mỏi và gầy yếu. Buồn bã và nuối tiếc vô hạn vì cách đối xử của mình, nhà vua thốt lên “Lẽ ra ta đã phải chăm sóc và yêu thương nàng nhiều hơn mới phải!” * Nếu coi mỗi chúng ta cũng giống như nhà vua đó, thì bạn hãy để ý xem, ai cũng có 4 “vợ” đấy. Người vợ thứ tư của chúng ta là cơ thể. Hầu như ai cũng lo lắng, chăm sóc đến bản thân, đến cơ thể mình nhiều nhất, làm sao để trông thật đẹp đẽ. Nhưng khi chúng ta ra đi, cơ thể ấy cũng tan biến, không để lại gì trên đời. Người vợ thứ ba có tên” địa vị và của cải”- đây chính là những thứ dễ mất nhất, ngay cả khi chúng ta còn sống vì dù sao chúng cũng chỉ là vật chất. Khi chúng ta không còn, địa vị và của cải sẽ thuộc về người khác. Người vợ thứ hai chính là gia đình và bè bạn. Họ luôn quan tâm và giúp đỡ, luôn an ủi và khuyên giải, nhưng họ chỉ có thể chăm sóc ta đến những phút cuối và nhớ thương ta. Người vợ thứ nhất chính là tâm hồn. Không phải ai cũng nhớ đến nó khi sống trong một thế giới mọi người đều phải chạy đua với của cải và địa vị nhằm thoả mãn cái “tôi” của mình. Thế nhưng tâm hồn là thứ duy nhất luôn đi cùng với chúng ta tới bất cứ nơi nào ta đến và chính là thứ để mọi người nhớ mãi đến ta dù ta có ở nơi đâu Mục lục Bốn Bà Vợ Của Nhà Vua Bốn Bà Vợ Của Nhà Vua Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Tre xanh Nguồn: Tre xanhĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 30 tháng 10 năm 2005
Noname The King's Four Wives Once upon a time, there was a rich king who ruled a powerful kingdom. He has four wives, all of whom are beautiful. The king loved his fourth wife the most and always followed her every whim, she was never refused. Next was his third wife, the king was always afraid of losing her, and always wanted to take her with him wherever he went. The second wife is the king's spiritual support, she is very kind, gentle and patient. Whenever the king encountered difficulties, he often confided in her and often received valuable advice. The king's first wife was the most loyal, helping the king rule and making the country richer, but the king did not have much love for her. The king always thought that she could take care of herself, so he rarely paid attention to her. Unfortunately one day, the king fell ill and knew he did not have much longer to live. He thought: "I have four wives, but when I leave, I'm afraid I will be completely alone!" Thinking so, the king called his fourth wife to his side and said, "I love you the most and always give you everything good. Now that I'm about to die, will you follow me so I won't be alone?" The king received the answer, "Your Majesty is very kind to me, but that request is too difficult, I cannot do it." The king was silent for a moment and then called his third wife, she answered, "No, Your Majesty." King, life is still beautiful, another king will come to continue to protect and pamper me. The king's heart felt cold with sadness and disappointment. He called his second wife again, "I always receive your help and advice, will you follow me?", the king asked. “This time I can't help you any more, Your Majesty,” the second wife replied, “But I promise to take care of you until your last moments, then I will take you to your final resting place and will always remember you. King". The king was completely desperate, he didn't remember his first wife, until he heard a voice say next to him, "I will follow you wherever you go, even if it is death." . That is his first wife. She looked tired and thin. Extremely sad and regretful because of his treatment, the king exclaimed, "I should have taken care of and loved you more!" * If we consider each of us to be like that king, then notice that everyone has 4 "wives". Our fourth wife is the body. Almost everyone worries and takes care of themselves and their body the most, how to look beautiful. But when we leave, that body also disappears, leaving nothing behind in the world. The third wife is called "status and wealth" - these are the things that are easiest to lose, even while we are still alive because they are only material after all. When we are gone, status and wealth will belong to someone else. The second wife is family and friends. They always care and help, always comfort and advise, but they can only take care of us until the last minute and miss us. The first wife is the soul. Not everyone remembers it when living in a world where everyone has to race for wealth and status to satisfy their "I". But the soul is the only thing that always accompanies us wherever we go and is what makes people remember us forever no matter where we are. Table of contents The King's Four Wives The King's Four Wives AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Last words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: Green Bamboo Source: Green Bamboo Uploaded by friend: Ct.Ly on: October 30, 2005
Trần Thu Trang Bốn mùa 1881 Đây có thể coi là truyện ngắn đầu tay tôi viết, theo lời khích lệ của một người bạn để dự thi trên một website về nước hoa. Kết thúc cuộc thi, tôi xếp hạng nhì. Chuyến bay bị hoãn vì sương mù, bên hàng không bố trí cho nàng về một khách sạn cách nhà anh chỉ hai dãy phố. Nhưng nàng không gọi cho anh, nàng sợ phải nhìn lại một lần nữa ánh mắt bình lặng không trách móc của anh. Nàng cũng không báo cho T. bên kia, chỉ mệt mỏi lên nhận phòng. Để nguyên bộ quần áo dày cộp chuẩn bị cho những đợt mưa tuyết xứ người, nàng ngả xuống giường, những hình ảnh vuông tròn lẫn lộn trượt trong đầu. Nằm trằn trọc mãi không thể ngủ nổi, nàng mở vali tìm vỉ thuốc, thời gian gần đây nàng tìm nó thường xuyên. Đập vào mắt nàng, phía trên đống tư trang đã xếp gọn gàng là một vật rất quen thuộc. Cái túi giấy màu trắng đục có hàng chữ mạ vàng. Đến bây giờ nàng cũng không nhớ đã tặng ông chủ nhà hàng món gì mà ông ta tặng lại nàng túi quà ngoại cỡ đó. Chỉ nhớ là cái túi quá đẹp và nàng đã bắt anh bỏ hết đống đồ trong ngăn kéo ra để lót nó xuống đáy cùng cho đỡ nhàu. Giờ nó không còn đẹp kỳ diệu như lúc ban đầu nàng mang về, nhưng cái màu trắng ngà của giấy và màu vàng nhũ của chiếc logo đó hợp với chiếc khăn len xanh sẫm thoảng mùi nước hoa của anh vô cùng. Không một bức thư. Không một mẩu giấy nhắn. Món quà chia tay trống trải nhưng vương vấn đến nao lòng… * Mùa thu năm ngoái, trời đầy gió và mặt đất đầy xác lá, nàng đang ngồi thu mình trong căn phòng nhỏ lắng nghe “nỗi im lặng phố khuya” như trong nhạc Phú Quang thì anh đến chìa ra hai tấm vé hoà nhạc. Trong tờ chương trình có ghi: Bản Bốn mùa - Concerto cho Violon của Vivaldi. - Sao anh biết em thích Vivaldi? - Anh không biết, bạn anh mới đưa vé chiều nay. - Bạn anh là ai? - Em không biết đâu. Nàng thôi không hỏi thêm, cũng không trang điểm thêm, chỉ khoác một chiếc khăn lụa màu nhạt qua vai rồi lặng lẽ đi theo anh. Nhà hát Lớn đầy những người nước ngoài cao lớn, thanh lịch và lạ lẫm. Anh cầm khuỷu tay nàng, miết nhẹ nhẹ như trấn an. Đã lâu rồi kể từ khi T. đi, nàng mới lại đến những nơi hào nhoáng thế này. Hai người ngồi trong một lô tầng hai, nơi nghe tốt nhất và xem rõ nhất. Vị nhạc trưởng người Pháp duyên dáng đưa tay mời vị thần âm nhạc từ đâu đó trên mái vòm đậu xuống cây đũa mảnh. Những nốt thăng nốt trầm lan toả. Nàng nghiêng đầu, khép mắt. Hương thơm của một loại nước hoa lẩn quất giữa hai chiếc ghế của nàng và anh. Nàng không còn lắng nghe nữa mà đang cảm nhận. Tiếng violon réo rắt và mùi man mát trầm lặng của nước hoa đưa nàng tới xứ Lombardi miền Bắc Ý, tới với những cánh đồng hoa oải hương tím ngan ngát trải dài tới chân trời, những vườn cam vườn chanh trĩu quả bên bờ Địa Trung Hải... Giờ nghỉ giải lao, anh ra ngoài rồi trở vào, hương thơm theo những dao động không khí vỗ vào tâm trí nàng như đợt sóng. - Anh dùng nước hoa? - Anh vẫn dùng, từ lâu rồi mà. - Vậy à? Em không biết. Anh im lặng vài giây rồi nói ra một cái tên, Cerruti 1881. Nàng gật đầu lơ đãng nghiêng mặt hướng về phía anh hơn một chút, không nhận ra rằng từ nay cái ám ảnh kết bằng khói thuốc lá của T. sẽ không còn theo mình thường xuyên nữa. * Mùa đông đến, nàng ghi tên học thêm một “cua” tiếng Ý ngoài giờ. Trường ở ngoại ô, trên một con đường mà ánh đèn lấp sau tán cây. Anh đến đón nàng, chạy xe song song trên quãng đường tối nhất, lắng nghe những câu chuyện không đầu không cuối hay những từ nàng mới học và mỉm cười. Thi thoảng anh kéo nàng đi ăn món Ý ở một nhà hàng quen, ông chủ người Parma hay quàng một chiếc khăn màu ô-liu, luôn nói “Ciao, bella” mỗi khi nàng bước vào. Một lần, bên chiếc bàn trải khăn ca-rô, trong khi chờ món Pizza với xúc xích Parma, nàng cười vô tư lự, thì thào với anh: - Nếu Nino vẫn quàng chiếc khăn kia và có thêm mùi Cerruti 1881, em sẽ yêu ngay. Anh không cười, chỉ nhìn sâu vào mắt nàng như tìm kiếm một ẩn ý nào đó. Mấy ngày sau, nàng thấy anh cũng có một chiếc khăn len màu ô-liu. * Mùa xuân tới, nàng dọn về căn gác đầy ánh sáng. Ở đó, chai nước hoa Cerruti 1881 pour homme trong hộp giấy màu xanh úa vẫn đứng cô đơn trên giá sách giờ có thêm bạn mới là đống libri e taccuini của nàng. * Cuối mùa hè, T. xuất hiện, không phải bằng xương bằng thịt mà chỉ bằng một lá thư sáu trang viết tay bay bướm gửi từ một nơi cách nàng nửa vòng trái đất, đúng lúc nàng và anh đang chờ mùa thu tới để kết thúc cuộc sống chung không danh phận và tiến tới một ràng buộc thiêng liêng hơn. Trong căn gác nóng hầm hập vì mất điện, nàng thắp nến đọc thư T., anh nhìn xoáy đôi mắt long lanh nước và lung linh ánh nến của nàng, rồi im lặng ra khỏi phòng. * Nàng nâng chiếc khăn lên, ấp vào cổ, cái nham nhám của những sợi len thô to cọ lên làn da và mùi hoắc hương lẫn hoa y-lang y-lang mang mã số 1881 thoảng rụt rè len vào tâm trí, cảm giác vẫn như mỗi khi anh đi đâu về để nguyên khăn mũ khẽ cụng đầu vào thái dương nàng. Đến bây giờ nàng mới nhận ra, với nàng, anh cũng giống như chiếc khăn len đan bằng sợi thô, ấm áp chở che nhưng chưa bao đủ dài rộng để quấn và giữ chặt lấy nàng. Anh chỉ biết đến bên kéo nàng ra khỏi nỗi cô đơn lạnh lẽo, làm trái tim nàng ấm lại bằng mọi cách có thể. Và khi T. trở lại, trái tim nàng không còn cô đơn, anh lặng lẽ quay đi. Ngay cả việc đưa chiếc khăn với bao nhiêu kỷ niệm cho nàng, anh cũng làm lặng lẽ, như nhất định phải vậy, như một cử chỉ chăm sóc kín đáo cuối cùng. Nàng ngồi thẳng lên hít một hơi dài như để trấn áp sự xao động. Một cái gì đó sộc tới, thôi thúc, giục giã, nàng vùng chạy... Còn nửa dãy phố nữa là nàng sẽ tới nhà anh. Trên vai nàng, từ những nếp cuộn của chiếc khăn len màu ô-liu, Cerruti 1881 toả hương dữ dội hơn bao giờ. 17h30, 31/3/2006 Mục lục Bốn mùa 1881 Bốn mùa 1881 Trần Thu TrangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Awmy Trần Thu Trang (tác giả tiểu thuyết Phải lấy người như anh) Nguồn: bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 6 năm 2006
Tran Thu Trang Four Seasons 1881 This can be considered the first short story I wrote, following a friend's encouragement to enter a contest on a website about perfume. At the end of the competition, I ranked second. The flight was delayed because of fog, the airline arranged for her to go to a hotel just two blocks from his house. But she didn't call him, she was afraid to look at his calm, non-blaming eyes again. She also did not notify T. on the other side, just tiredly went up to check in. Leaving her thick clothes on in preparation for the foreign snowfall, she lay down on the bed, mixed square and round images sliding in her head. Lying awake unable to sleep, she opened her suitcase to look for the pill pack, she had been looking for it often lately. What caught her eye, above the pile of neatly arranged personal belongings was a very familiar object. The opaque white paper bag had gold-plated letters. To this day, she still doesn't remember what she gave the restaurant owner, but he gave her that oversized gift bag in return. Just remember that the bag was so beautiful and she made him take out all the stuff in the drawer to line it at the bottom to prevent wrinkles. Now it's no longer as magically beautiful as when she first brought it home, but the ivory white color of the paper and the shimmery yellow color of the logo match the dark blue wool scarf that smells of his perfume very well. Not a single letter. Not a single note. The farewell gift was empty but lingering in the heart... * Last fall, the sky was windy and the ground was full of dead leaves, she was sitting crouched in a small room listening to the "late city silence" like in the music Phu Quang, he came and held out two concert tickets. On the program sheet it says: Vivaldi's Four Seasons - Violin Concerto. - How do you know I like Vivaldi? - I don't know, my friend just gave me the ticket this afternoon. - Who is your friend? - I don't know. She didn't ask any more questions, didn't put on any more makeup, just threw a light-colored silk scarf over her shoulder and quietly followed him. The Opera House was full of tall, elegant and strange foreigners. He held her elbow and gently stroked it as if to reassure her. It's been a long time since T. left, and she's been to flashy places like this. The two of them sat in a box on the second floor, where they could hear best and see clearly. The French conductor gracefully raised his hand to invite the god of music from somewhere on the dome to land on his thin wand. The ups and downs spread out. She tilted her head and closed her eyes. The scent of a perfume lingered between her and his chairs. She was no longer listening but feeling. The melodious sound of the violin and the quiet cool smell of perfume took her to Lombardy in Northern Italy, to the vast purple lavender fields stretching to the horizon, to the orange orchards and lemon gardens laden with fruit on the shores of the Mediterranean. Hai... During break time, he went out and then came back, the scent following the air fluctuations hit her mind like a wave. - Do you use perfume? - I still use it, it's been a long time. - Really? I don't know. He was silent for a few seconds and then said a name, Cerruti 1881. She nodded absentmindedly, tilting her face a little more towards him, not realizing that from now on T.'s obsession with cigarette smoke would no longer exist. Follow me often. * When winter came, she signed up to take an extra class in Italian after school. The school is in the suburbs, on a road where the lights hide behind the trees. He came to pick her up, drove side by side on the darkest road, listened to the endless stories or words she had just learned and smiled. Occasionally he took her out to eat Italian food at a familiar restaurant, the owner from Parma often wore an olive scarf, always saying "Ciao, bella" every time she entered. One time, at the table covered with a checkered towel, while waiting for Pizza with Parma sausage, she smiled carelessly and whispered to him: - If Nino still wore that scarf and smelled of Cerruti 1881, I would love now. He didn't smile, just looked deeply into her eyes as if searching for some hidden meaning. A few days later, she saw that he also had an olive wool scarf. * When spring came, she moved into the light-filled attic. There, the bottle of Cerruti 1881 pour homme perfume in a faded green paper box still stood alone on the bookshelf, now with a new friend, her pile of libri e taccuini. * At the end of the summer, T. appeared, not in flesh and blood but only in a six-page handwritten letter sent from a place half a world away from her, just when she and he were waiting for autumn to come. ending their anonymous life together and moving on to a more sacred bond. In the attic, which was hot because of the power outage, she lit a candle to read T.'s letter. He looked at her eyes sparkling with tears and the flickering candlelight, then silently left the room. * She lifted the scarf and hugged it to her neck. The roughness of the large coarse wool fibers rubbed against her skin and the smell of patchouli and ylang ylang flower with code 1881 timidly crept into her mind, feeling Just like every time he came back from somewhere, he left his scarf and hat on, gently touching her temple. Only now did she realize that to her, he was like a knitted wool scarf, warm and protective but never long enough to wrap and hold her tightly. He only knows how to come to her side to pull her out of her cold loneliness and warm her heart in every way possible. And when T. returned, her heart was no longer lonely, he quietly turned away. Even giving her the scarf with so many memories, he did it quietly, as he had to, as a last discreet gesture of care. She sat up straight and took a deep breath as if to suppress the agitation. Something came, urging her, urging her to run... Half a block more and she would reach his house. On her shoulder, from the folds of the olive wool scarf, Cerruti 1881 emanated its fragrance more intensely than ever. 5:30 p.m., March 31, 2006 Table of contents Four Seasons 1881 Four Seasons 1881 Tran Thu TrangWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Collected by: Awmy Tran Thu Trang (author of the novel Must Marry Someone Like You) Source: friend: Ct.Ly posted on April : June 7, 2006
Phi Va Bốn Thằng Buồn "Bốn người lính buồn vẫn đó, trầm lặng nghĩ suy..." "...Mới sang hai tháng hả?...Ðược, lên tao dẫn đi chơi siêu thị Ca-re-phua... Ôi! Chưa biết đường lên chợ sân hở trời! Hí...hí...!" Giọng nói, kiểu cười quê ta vang lên đằng sau. Giật mình. Sao trùng hợp vậy! Mình cũng vừa mới sang Ba lan gần hai tháng. Tôi quay lại. Cô gái tuổi chừng hai mươi, người thấp béo, mặt tròn bầu bĩnh, tươi tắn, nói năng nhanh nhẩu cùng với dáng đi tất tả, lanh chanh trong đường hầm metro khiến tôi chú ý... Hai tay cô đút túi áo măngtô xanh màu cổ vịt. Chiếc điện thoại bé xíu, đỏ chót đeo trước ngực, lòng thòng sợi dây gắn tai nghe. Mặt tỉnh bơ, cô bạn "đồng hương" của tôi không cần biết có ai, cứ tưng tưng ném vào khoảng không trước mặt lời giảng giải, vẻ cao đạo: "... Không sao đâu, mày ngắn tiếng cứ chỉ chỏ, Tây hiểu hết. Tao dạy cách đi... Nghe này: Từ chỗ mày, ngược tàu 32... Phải, hướng trung tâm Wola... Kệ nó, thẳng qua sông Vít-soa... Ngồi thêm hai bến nữa, tới ngã tư có "Bốn thằng buồn". Xuống! Qua đường tàu. Tao đón mày ở chân tượng "Bốn thằng buồn". Rõ chưa? Ðừng có hỏi... Thôi nhé, tao tạt qua nhà tí, một tiếng nữa gặp nhau. Hí, hí... Bai!" Tôi phì cười, nhìn cô gái thoăn thoắt vượt qua mặt tôi, bước vào cầu thang cuốn lên khỏi đường hầm. Bốn thằng buồn! Tại sao lại có tới bốn thằng buồn cơ chứ? Ðiều gì đấy bỗng làm tôi thích thú, muốn tìm lời giải đáp. Lần chần suy nghĩ một chút, bóng cô gái đằng xa đã mất hút. Không được, phải tìm cho ra lẽ. Tôi loay hoay tìm tới bến có tàu 32, hỏi đường và đi đúng theo lời chỉ dẫn nghe được từ cô gái... Gần tiếng sau, tôi đã đứng trước bức tượng đài có khắc dòng chữ kỷ niệm những chiến sỹ Xô viết anh hùng, đã hy sinh cuộc sống để bảo vệ nền tự do, độc lập cho nhân dân Ba lan năm 1945... Nhóm tượng ba chiến sỹ trong tư thế chiến đấu quả cảm ở trên cao. Phía dưới, đứng xung quanh các góc, là hình tượng bốn người lính mũ áo giá sương. Họ ôm súng, cúi đầu, mặt khuất trong bóng tối, đau buồn tưởng niệm đồng đội đã ngã xuống... Tượng đài xuống cấp, cũ kỹ, tiêu điều. Dường như đã bị bỏ quên từ rất lâu, không được tu sửa, chỉnh trang. Nhưng, giữa vẻ ảm đạm và hoang phế ấy, khu tượng vẫn gây cho tôi ấn tượng mạnh về ý nghĩa thiêng liêng cao cả của nó. Một cảm xúc buồn nhớ, tiếc thương!... "... Sao?... Chậm thế hở trời! Hí!..hí!... Tao đang chờ mày đây. Nhớ nhé, tới tượng bốn thằng buồn, xuống!..Hí, hí!..". Cô gái gặp trong metro hồi nãy, đứng ngay gần tôi từ lúc nào. Ðiện thoại trước ngực, khuôn mặt tròn cùng tiếng cười lích rích, vô tư lự. - Chào cháu... -Tôi vờ hỏi để làm quen - ...Tượng này tên gì, cháu nhỉ ? - Bốn thằng buồn !... - Ðáp lại thon lỏn, cô gái chẳng để ý đến nụ cười sửng sốt của tôi, mãi ngó về phía bến tàu. - Tại sao gọi vậy hả cháu?... - Hí, hí!... Chẳng biết nữa... À, có lẽ... Ðấy, bác xem... - Cô gái hất hàm vào bức tượng - ... Bốn thằng tượng đứng buồn bã thế kia!... Hí, hí!... Gọi vậy cho dễ nhớ mà bác!... - Này cháu... - Tôi đang định nói cho cô gái biết về hàng chữ khắc trên tượng, thì tiếng nhạc chuông điện thoại ríu rít vang lên... - Ðến rồi hả, ô-kê! Tao đón đây !... Cô gái xăm xắm, tất tả bước vội về phía con tàu 32 vừa vào bến...Tiếng cười lanh lảnh, hồn nhiên của hai cô gái vọng lại chỗ tôi rõ mồn một, họ sánh vai nhau đi nhanh tới toà nhà siêu thị Carrefour lấp lánh kính màu. Còn tôi, đôi chân như níu lại, một lần nữa đối diện với tượng đài... Bốn người lính buồn vẫn đó, trầm lặng nghĩ suy... Warszawa 2004PHI VA Mục lục Bốn Thằng Buồn Bốn Thằng Buồn Phi VaChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: nguoivienxuĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 4 năm 2005
Phi Va Four Sad Guys "The four sad soldiers are still there, quietly thinking..." "...It's only been two months?...Okay, come on, I'll take you to Ca-re-phua supermarket... Oh! I don't know yet." The road to the open-air market! Hei...he...!" The voice and laughter of our hometown rang out from behind. Startle. What a coincidence! I just went to Poland for nearly two months. I comeback. The girl was about twenty years old, short and fat, with a round, plump face, bright, quick speech and a brisk, agile gait in the metro tunnel that caught my attention... Her hands were in the pockets of her coat. teal blue. The tiny, red phone was strapped to his chest, with a wire attached to the headset hanging out. With a straight face, my "compatriot" friend, without knowing who was there, just tossed the explanation into space in front of her, looking noble: "... It's okay, just keep pointing in a short voice, Westerners understand everything. I teach you how to go... Listen: From where you are, take train 32... Yes, towards the center of Wola... Leave it alone, straight across the Vit-soa river... Sit two more stops , at the intersection with "Four sad guys". Get off! I'll pick you up at the foot of "Four sad guys". Don't ask... Okay, I'll stop by the house in an hour see each other. Hee, hee... Bai!" I laughed, watching the girl quickly pass me and enter the escalator up out of the tunnel. Four sad guys! Why are there four sad guys? Something suddenly interested me and I wanted to find an answer. After hesitating for a moment, the girl's shadow in the distance disappeared. No, we have to find out why. I struggled to find the station with train 32, asked for directions and followed the instructions I heard from the girl... Nearly an hour later, I stood in front of the monument with inscriptions commemorating the Soviet soldiers. hero, sacrificed his life to protect freedom and independence for the Polish people in 1945... Group of statues of three soldiers in a brave fighting position at high altitude. Below, standing around the corners, are the figures of four soldiers in frosty helmets. They held their guns, bowed their heads, their faces hidden in the darkness, sadly commemorating their fallen comrades... The monument was degraded, old, and desolate. It seems to have been neglected for a long time, not repaired or embellished. But, amidst that gloom and desolation, the statue area still left a strong impression on me with its noble spiritual meaning. A feeling of sadness, nostalgia, regret!... "... What?... So slow! Hee!...heh!... I'm waiting for you. Remember, go to the statue of four sad guys, down!..Hee, hee!..". The girl I met in the metro a while ago has been standing right next to me. Phone in front of chest, round face with a chirping, carefree laugh. - Hello... -I pretended to ask to get acquainted - ...What is the name of this statue, dear? - Four sad guys!... - In response, the girl didn't pay attention to my surprised smile and kept looking towards the dock. - Why do you call it that?... - Hee, hee!... I don't know... Ah, maybe... There, see... - The girl nodded at the statue - .. . The four statues are standing there sadly!... Hee, hee!... Call it that so it's easy to remember!... - Hey kid... - I'm about to tell the girl about the inscription. on the statue, the chirping sound of the phone ringtone rang out... - It's here, oh-oh! I'll pick you up!... The girl with tattoos, hurriedly walked towards the train 32 that had just entered the dock... The bright, innocent laughter of the two girls echoed clearly to me, they stood shoulder to shoulder. Go quickly to the Carrefour supermarket building sparkling with stained glass. As for me, my legs seemed to be holding back, once again facing the monument... The four sad soldiers were still there, silently thinking... Warsaw 2004PHI VA Table of contents Four Sad Guys Four Sad Guys Phi VaWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: nguoivienxu Posted by friend: Ct.Ly on: April 8, 2005
C. W. Leadbeater Bổn phận của chúng ta đối với thú vật Dịch giả : Thanh Nguyên Trong khi quí vị cố gắng hết sức giúp đỡ các người xung quanh, quí vị đừng quên bổn phận đối với các sắc tướng của sự sống thấp hơn sự sống của nhơn loại. Để chuẩn bị thi hành phận sự nầy, quí vị phải tìm hiểu bản tánh của các em nhỏ chúng ta là cầm thú như quí vị tìm hiểu trẻ con, chúng cũng là em nhỏ nhưng ở mức độ cao hơn. Khi giúp đỡ một trẻ con, quí vị tìm cách ở vào địa vị của nó, đối với cầm thú, quí vị cũng tự đặt mình vào địa vị của chúng. Trong mọi trường hợp và đối với mọi sinh vật, bổn phận của chúng ta là thương yêu và giúp đỡ hầu cùng tiến mau đến thời hoàng kim, trong đó chúng ta sẽ hiểu biết nhau hơn và hợp tác chặt chẻ hơn trong Đại cuộc.Không có một lý do nào mà các con thú nhà không được luyện tập để giúp người trong các công việc không quá sức chúng. Nhưng sự huấn luyện nầy cũng phải hữu ích cho chúng. Chúng ta luôn luôn phải nhớ rằng sự tiến hóa của cầm thú là một trong những mục đích thiêng liêng. Bởi thế, trong lúc ta cố gắng mở mang trí khôn chúng nó, chúng ta còn phải lưu ý chỉ tập chúng nó những tánh tốt mà thôi.Nhiều thú vật nguồn gốc là thú rừng được giao phó cho ta như chó, mèo, ngựa v.v… để chúng ta thương yêu và dìu dắt hầu độ chúng ra khỏi trạng thái hung dữ, và đánh thức ở chúng trí khôn, tình thương và lòng tận tụy.Trong công việc dạy dỗ nầy, chúng ta đừng ngăn chận sự tiến hóa của chúng bằng cách tăng cường những bản năng hung tợn. Ví dụ, khi chúng ta tập con chó đi săn để giết các con thú khác tuy chúng ta giúp chúng nó mở mang trí khôn, nhưng chúng lại trở nên hèn hạ như thế, chúng nó thoái thay vì tiến, và chúng ta giúp cho nó ít mà hại chúng nó nhiều. Việc nầy cũng xảy ra khi chúng ta tập một tánh hung tợn cho một con chó để giữ gìn nhà cửa hay đồn điền.Ngoài ra, khi đối xử nghiêm khắc và tồi tệ với thú vật, ta có thể phát triển trí khôn của chúng vì chúng cần vận dụng trí khôn để khỏi bị đánh đập. Như vậy, chúng cũng tiến hóa nhưng những tánh xấu lại phát sanh ở chúng như sự sợ hãi và sự giận dữ. Do đó, khi chúng đầu thai làm người thì nhơn loại nầy khởi hành với tánh sợ hãi và oán hận bẩm sinh, một gánh nặng mà nó phải mang lâu trên đường tiến hóa. Vì vậy nhơn loại không được thanh cao, tận tụy, thương yêu và dịu dàng, nghĩa là thiếu những đức tánh mà nhơn loại phải có một cách đương nhiên nếu con người biết làm tròn phận sự mình đối với loài cầm thú.Chúng ta cần có những phận sự khác đối với các sắc tướng thấp hơn sắc tướng cầm thú: Tôi muốn nói loài tinh chất đang sinh sống xung quanh chúng ta. Chúng nó tiến hóa nhờ tác động của tư tưởng, cảm xúc, dục vọng và tình cảm của chúng ta. Thật ra, chúng ta không phải cố gắng nhiều là vì nếu chúng ta trung thành với lý tưởng cao thượng thì chúng ta làm tròn phận sự của chúng ta rồi.Trong mọi cuộc tiến hóa, Thiên ý đã định rằng sinh vật tiến cao phải trợ giúp những loài thấp kém, và giúp cho loài cầm thú được cá thể hóa [1] không phải là phận sự duy nhứt của nhơn loại đối với chúng. Ở Châu Atlantide [2] nhơn loại còn được giao phó một phần lớn công việc đào tạo các loài thú, và vì họ không làm tròn phận sự của mình mà sự việc đã xảy ra hơi khác con đường đã dự trù. Họ phải chịu trách nhiệm, bởi những lỗi lầm của họ, về tánh hung dữ của loài thú ăn thịt, hằng ngày chỉ biết tàn sát những sinh vật khác. Họ không chịu trách nhiệm về tất cả các loài thú ăn thịt vì nhiều loài đã có trong loài bò sát khổng lồ từ thời lémurien rất xa xăm và con người không liên hệ gì đến thời nầy. Nhưng khi các thú bò sát nầy tiến thành loài có vú, ta có một trách nhiệm quan trọng vì loài nầy hiện nay giữ một vai trò chánh yếu. Đây là một cơ hội để ta tinh luyện các loài thú và diệt trừ những tánh hung bạo ở chúng. Vì loài người không làm tròn bổn phận đối với loài thú cầm nên họ phải chịu một phần trách nhiệm về những việc không hay đã xảy ra trên thế giới từ trước đến nay. Nếu họ tận tụy với phận sự có lẽ ngày nay không có loài thú có vú ăn thịt.Đối với cầm thú, bấy lâu con người đã tỏ ra hung ác nên chúng mới tỏ ra sợ hãi và oán hận. Kết quả là con người tạo cho mình những nghiệp quả ghê gớm dưới hình thức bệnh tật và điên cuồng. Tuy nhiên, mặc dầu bị đối xử tàn tệ, không con thú nào tìm cách hại người nếu chúng không bị sát hại. Ví dụ, con rắn không bao giờ cắn người nếu nó không bị đập hay không sợ bị đập. Các thú rừng cũng thế, ngoài trừ một vài con thú xem người là món mồi, và chính trong các trường hợp nầy, chúng chỉ sát hại người khi nào chúng nó không tìm được những con mồi khác. Trừ trường hợp tự vệ hay bảo vệ kẻ khác, chúng ta không nên giết hại một sắc tướng nào của sự sống để đừng làm ngưng trệ công việc của Tạo hóa. Người Thông Thiên Học chân chính không bao giờ giết cá hay thú để ăn hay để lấy da, lấy lông làm áo mặc.(Trích tạp chí Ánh Đạo số 13 năm 1969)Chú Thích :[1] Được thoát kiếp thú thành người (L.D.G.)[2] Atlantide là một Châu lớn ở vị trí Đại Tây Dương bây gờ và đã sụp xuống biển sau nhiều trận hồng thủy vì nhân dân Châu nầy quá hung dữ. (L.D.G.) Mục lục Bổn phận của chúng ta đối với thú vật Bổn phận của chúng ta đối với thú vật C. W. LeadbeaterChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: ThongthienhocĐược bạn: NHDT đưa lên vào ngày: 8 tháng 3 năm 2007
C. W. Leadbeater Our duty to animals Translator: Thanh Nguyen While you try your best to help those around you, do not forget your duty to the forms of life lower than human life. To prepare to carry out this duty, you must learn about the nature of our children, who are animals, just as you learn about children, who are also children but at a higher level. When you help a child, you try to put yourself in his or her place. When you help an animal, you also put yourself in their place. In all cases and towards all living things, it is our duty to love and help in order to quickly reach the golden age in which we will understand each other better and cooperate more closely in the Great Event. There is no reason why domestic animals should not be trained to help people with tasks that are not too difficult for them. But this training must also be useful for them. We must always remember that animal evolution is one of divine purposes. Therefore, while we try to develop their intelligence, we must also pay attention to only cultivating good qualities in them. Many animals that originate from the wild are entrusted to us, such as dogs, cats, and horses. etc. so that we can love and guide them out of their ferocious state, and awaken in them intelligence, love and devotion. In this work of teaching, we must not stop evolution. by enhancing their ferocious instincts. For example, when we train a dog to hunt to kill other animals, although we help them develop their intelligence, they become so vile, they retreat instead of progressing, and we help them. It's little but it harms them a lot. This also happens when we train a ferocious character in a dog to guard the house or the plantation. Furthermore, by treating animals harshly and poorly, we can develop their intelligence. because they need to use their intelligence to avoid being beaten. Thus, they also evolve but bad qualities arise in them such as fear and anger. Therefore, when they are reincarnated as humans, this humanity departs with innate fear and resentment, a burden that it must carry for a long time on the path of evolution. Therefore, humanity is not noble, devoted, loving and gentle, meaning it lacks the qualities that humanity must naturally have if humans know how to fulfill their duties towards animals. We There should be other duties for the forms lower than the animal forms: I mean the essences that live around us. They evolve through the influence of our thoughts, emotions, desires and emotions. Actually, we don't have to try too hard because if we are loyal to noble ideals, we will have fulfilled our duty. In every evolution, God has decreed that advanced creatures must Helping the lower species, and helping animals to become individualized [1] is not the only duty of humanity towards them. In Atlantide [2] humanity was also entrusted with a large part of the job of training animals, and because they did not fulfill their responsibility, things happened a little differently than planned. They are responsible, because of their mistakes, for the ferocity of carnivores, who only know how to slaughter other creatures every day. They are not responsible for all carnivores because many have existed among the giant reptiles since very distant Lemurian times and humans have nothing to do with them. But when these reptiles evolved into mammals, we had an important responsibility because these species now play a major role. This is an opportunity for me to refine the animals and eliminate their violent nature. Because humans do not fulfill their duty towards animals, they must bear part of the responsibility for the bad things that have happened in the world up to now. If they were dedicated to their duties, perhaps today there would be no carnivorous mammals. As for animals, humans have been cruel for a long time, so they show fear and resentment. As a result, people create for themselves terrible karma in the form of illness and madness. However, despite being treated cruelly, no animal will seek to harm a human unless they are killed. For example, a snake will never bite a person if it is not hit or is not afraid of being hit. The same goes for wild animals, except for a few animals that see humans as prey, and in these cases, they only kill humans when they cannot find other prey. Except in the case of self-defense or protecting others, we should not kill any form of life so as not to stop the work of Creation. True Theosophists never kill fish or animals to eat or use their skin or fur to make clothes. (Excerpt from Anh Dao magazine Không. 13, 1969) Note: [1] Escaped from animal life to become a human ( L.D.G.)[2] Atlantide is a large continent in the current Atlantic Ocean and collapsed into the sea after many floods because the people of this continent were too ferocious. (L.D.G.) Table of contents Our duty to animals Our duty to animals C. W. LeadbeaterWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Thongthienhoc Uploaded by friend: NHDT on: March 8, 2007
Thanh Vân Bỗng dưng chợt… thèm Có những món ăn mà đôi khi chỉ còn trong tâm tưởng của người nhớ, vì dù ngay lúc này có biết cách và đủ nguyên liệu để làm thì nó cũng không thể nào có được hương sắc, mùi vị của ngày xưa. Cứ mỗi lần trở về sau chuyến du lịch hay công tác vài ngày, điều đầu tiên mà anh bạn tôi hay chép miệng là "Không đâu đi ăn thích như Sài Gòn. Món ngon miền nào cũng có, thậm chí còn ngon hơn nơi nó sinh ra". Ngẫm lại cũng đúng. Sài Gòn bây giờ càng lúc càng nhiều quán xá. Từ quán cóc, quán bình dân đến hơi sang một tí và cực sang dành cho giới thượng lưu... đang mọc lên như nấm. Món ngon miền Trung, món Quảng, món miền Tây, miền Đông, món ăn đặc trưng của từng vùng xứ Bắc... lúc nào cũng ê hề, nên không cứ gì phải đi đến vùng đó mới có thể ăn được mà nghiễm nhiên ngồi trong quán hiệu cửa kính vừa ngắm những tòa cao tầng, vừa xem người xe dập dìu vẫn có thể thưởng thức được một bún mắm cá lóc thơm lựng của miền kênh rạch sông nước, hay cái bánh tráng đập mềm mỏng xinh xinh của xứ Quảng quê nghèo. Mà đâu chỉ có vậy, chỉ cần thả xe chầm chậm dọc đường Cách Mạng Tháng 8, đoạn gần sân khấu Trống Đồng có thể thưởng thức món bánh mì thịt Kebab tận xứ Thổ Nhĩ Kỳ. Muốn ăn thịt gà chế biến kiểu Pháp chính hiệu có thể đến đường Võ Văn Tần. Còn lẩu đặc trưng của Hàn Quốc hay món Nhật thì hầu như chỗ nào cũng có... Vậy mà một chiều mưa văn phòng, chợt nghe cô bạn chép miệng kể lể: "Sao thấy thèm ốc luộc lá ổi chấm nước mắm sả ớt ở vườn nhà"; quay sang lại thấy cô bạn khác đang tay chấm tay mút một bọc nilon đựng bánh tráng trộn đầy vẻ khoái khẩu, bỗng dưng cũng chợt thấy thèm… Thèm rất nhiều thứ mà Sài Gòn không có hoặc đang có nhưng vẫn còn thiếu cái gì đó khiến cho nó đậm hồn cốt hương vị của món ăn vốn đã để lại trong tâm thức con người ta cả một trời thương nhớ. Sài Gòn là xứ của dân nhập cư, và chính ở đây hơn nơi nào hết, miếng ăn không chỉ là "miếng tồi tàn…" mà còn là thứ mà người quen của nó luôn giữ nó bên mình để còn luôn nhớ về nguồn cội quê hương trong chốn thành thị bon chen rộn rịp. Mới đây, tôi có dịp đi dự một buổi tiệc buffet tại khách sạn Sài Gòn sang trọng nằm ở quận 1 và ngồi cạnh một nhà thơ xứ Quảng nổi tiếng. Thức ăn tây, ta đủ cả; có món nướng, món hải sản, bún, xào... chế biến mọi kiểu hương vị đậm đà. Khi ai cũng đã lấy đầy đĩa của mình và tìm chỗ ngồi để thưởng thức "chiến lợi phẩm" thu được thì nhà thơ xứ Quảng cứ xoay tới xoay lui chưa yên. Khi người phục vụ đi tới bên nhà thơ, tôi nghe có tiếng hỏi nhỏ: "Có ớt trái không em. Cho anh mấy trái cắn ăn mới thú!". Anh phục vụ ngẩn mặt ra cười và lắc đầu ý nhị, còn nhà thơ thì hít hà tiếc cho món bún cá thiếu đi trái ớt xanh. Nghe câu chuyện về trái ớt vừa thấy buồn cười vừa thấy vui vui. Vậy đó, chuyện ăn và món ăn nhiều khi chỉ thiếu chút gia vị nhỏ mà thành ra vắng cả một "bầu tâm sự". Quay trở lại chuyện món bánh tráng trộn, một món ăn chơi chỉ vừa xuất hiện phổ biến một vài năm gần đây trong đời sống của người dân Sài Gòn, mới thấy hương vị chân quê dân dã đóng vai trò quan trọng thế nào trong tâm thức của những người nhập cư xa xứ. Chỉ mất vài ngàn để có một bịch bánh tráng được bán đầy ở quang gánh bán rong khắp các con đường. Nguyên liệu của món ăn này cũng rất khiêm tốn: vài miếng bánh tráng khô được cắt sợi nhỏ, trộn chung với quả xoài hay cóc xanh bào sợi, sang hơn chút nữa là thêm vào quả trứng cút, hay hột gà luộc cắt nhỏ. Hỗn hợp dân dã hòa vào nhau cùng với ít muối tôm xuất xứ Tây Ninh là có thể khiến em học sinh đến cô nhân viên văn phòng mặt hoa da phấn không kìm lòng được, tứa cả nước miếng ở đầu lưỡi, mà ngồi bệt bên chị bán hàng chờ người bán bào bào xắt xắt một bịch ăn cho "đã". Thèm gì không thèm lại thèm thứ thức ăn đơn giản và dễ làm như thế! Nhưng thực tế là có những thứ đơn giản mà nhiều khi có thể làm người ta nhớ đến quay quắt, thắt lòng. Có những món ăn mà đôi khi chỉ còn trong tâm tưởng của người nhớ, vì dù ngay lúc này có biết cách và đủ nguyên liệu để làm thì nó cũng không thể nào có được hương sắc, mùi vị của ngày xưa. Nói đến đây tôi không biết bạn sẽ nhớ đến món ăn gì trong ký ức của riêng mình. Nhưng tôi thì tôi nhớ nhiều lắm. Nhớ món cháo trắng cá lóc kho tiêu mà ngày tôi còn nhỏ, bà ngoại thường hay nấu cho bọn cháu ăn sáng. Tô cháo trắng nóng hổi, đặc dẻo, múc một muỗng cháo gạo ngọt ăn kèm với khứa cá lóc kho khô mặn thơm, quyện hạt tiêu cay ấm. Giờ muốn ăn tôi cũng có thể bắc song bật bếp để nấu nhưng vẫn không thể nào có được cảm giác ngon như ngày xưa. Có lẽ là do ngày ấy bà nấu cháo trên bếp củi tre gai, kho cá trong mẻ sành nồi đất mà vị khác chăng? Tôi cũng nhớ một loại lá rau mà người dân quê miền Tây thường gọi là lá lụa vì lá mềm và mỏng, màu xanh mượt mà như thớ lụa. Vị lá chua chát thanh thanh. Một rổ rau lá lụa ăn kèm với cá kho hay bánh xèo thì thật khó quên. Ngày ấy (lại ngày ấy!...), thường vào mùa mưa, khi mẹ đi làm về, lúc nào cũng không quên ghé ngang chợ mua một ôm lá lụa nõn nà để cả nhà ăn với cá chốt kho. Bây giờ hình như loại lá này đang ngày càng hiếm, tìm mỏi mắt không ra, thậm chí ở chợ quê cũng không. Mới đây, thấy trong thực đơn của quán bánh xèo Mười Xiềm nằm giữa trung tâm Sài Gòn có món rau lá lụa, hăm hở và bấm bụng kêu đĩa bánh giá trên trời chỉ để được nhìn thấy chiếc lá "cố tri" nhưng đến khi bánh dọn ra chỉ thấy đĩa toàn xà lách, rau cải thông thường. Nhà hàng xin lỗi vì chỉ để trong thực đơn như vậy cho có hương vị mời gọi khách. Thôi, kể nhiều làm chi để chỉ thèm và tiếc! Mục lục Bỗng dưng chợt… thèm Bỗng dưng chợt… thèm Thanh VânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: EvanĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 24 tháng 11 năm 2010
Thanh Van Suddenly... craving There are dishes that sometimes only remain in the mind of the person who remembers them, because even if they know how and have enough ingredients to make them right now, they still cannot have the flavor and taste of the past. Every time I come back from a trip or a business trip for a few days, the first thing my friend says is, "There's no place to eat like Saigon. Every region has delicious dishes, even better than that place." born". Looking back, it's also true. Saigon now has more and more restaurants. From toad shops, popular shops to slightly luxurious and extremely luxurious shops for the upper class... are springing up like mushrooms. Delicious dishes from the Central region, Quang dishes, Western dishes, Eastern dishes, typical dishes of each Northern region... are always delicious, so you don't have to go to that region to eat them. Sitting in a shop with glass windows, looking at high-rise buildings and watching people passing by, you can still enjoy a fragrant snakehead fish noodle soup from the canal region, or a soft and pretty rice paper from this country. Poor countryside. But not only that, just drive slowly along Cach Mang Thang 8 street, near the Bronze Drum stage, you can enjoy Kebab meat sandwiches from Turkey. If you want to eat authentic French-style chicken, you can go to Vo Van Tan street. As for typical Korean hot pot or Japanese dishes, there are almost everywhere... Yet one rainy afternoon at the office, I suddenly heard my friend smack her lips and tell me: "Why do I crave snails boiled in guava leaves and dipped in lemongrass and chili fish sauce?" in the garden"; Turning around, I saw another girl with her hand sucking on a plastic wrap containing mixed rice paper, looking delighted, and suddenly felt craving... Craving a lot of things that Saigon doesn't have or does have, but something is still missing. making it imbued with the soul and flavor of the dish, which has left a lifetime of fond memories in people's minds. Saigon is a land of immigrants, and here more than anywhere else, food is not just a "shabby piece of food..." but also something that people who know it always keep with them to always remember their roots. hometown in a bustling city. Recently, I had the opportunity to attend a buffet party at the luxurious Saigon hotel located in District 1 and sit next to a famous Quang poet. Western food, we have enough; There are grilled dishes, seafood dishes, vermicelli dishes, stir-fries... preparing all kinds of rich flavors. When everyone had filled their plates and found a place to sit to enjoy the "spoils" obtained, the poet from Quang kept spinning back and forth without rest. When the waiter walked up to the poet, I heard a small voice ask: "Do you have any chili peppers? Give me some chili peppers to eat for fun!". The waiter looked up, smiled and shook his head thoughtfully, while the poet breathed a sigh of regret that the fish noodle dish lacked green chili. Listening to the story about the chili pepper feels both funny and joyful. That's it, eating and dishes often just lack a little spice and become a whole "confidence" missing. Returning to the story of mixed rice paper, a delicacy that has only appeared popular in the past few years in the lives of Saigon people, we can see how the rustic flavor plays an important role in the mind. awareness of expatriate immigrants. It only costs a few thousand to have a bag of rice paper sold at street stalls all over the streets. The ingredients of this dish are also very modest: a few pieces of dried rice paper cut into small pieces, mixed with shredded mango or green toadstool, and to make it even more luxurious, add quail eggs, or chopped boiled chicken seeds. The rustic mixture mixed together with a little shrimp salt from Tay Ninh can make a student or a powder-faced office worker unable to hold back, salivating on the tip of her tongue, and sit on the side. The saleswoman waited for the seller to chop up a bag of shavings and eat them "first". Why don't you crave food that is simple and easy to make like that! But the reality is that there are simple things that can often make people remember something painful and heart-wrenching. There are dishes that sometimes only remain in the mind of the person who remembers them, because even if they know how and have enough ingredients to make them right now, they still cannot have the flavor and taste of the past. Speaking of which, I don't know what dishes you will remember in your own memories. But I miss it a lot. I remember the white snakehead fish porridge braised with pepper that when I was young, my grandmother often cooked for us for breakfast. A bowl of hot, thick white porridge, scoop out a spoonful of sweet rice porridge and eat it with fragrant salty dried braised snakehead fish, mixed with warm spicy pepper. Now, if I want to eat, I can turn on the stove to cook, but I still can't get the same delicious feeling as before. Maybe it's because that day she cooked porridge on a bamboo wood stove and braised fish in a clay pot, but the taste was different? I also remember a type of vegetable leaf that people in the Western countryside often call silk leaves because the leaves are soft and thin, green and smooth like silk fibers. The taste of the leaves is sour and delicate. A basket of silk leaf vegetables served with braised fish or banh xeo is unforgettable. That day (that day again!...), usually during the rainy season, when my mother came home from work, she always didn't forget to stop by the market to buy an armful of tender silk leaves for the whole family to eat with braised fish. Now it seems that this type of leaf is becoming increasingly rare, it's hard to find, not even in the countryside market. Recently, I saw a dish of silk leaf vegetables on the menu of Muoi Xiem banh xeo restaurant located in the center of Saigon. I eagerly called for a plate of banh xeo in the sky just to see the "old-fashioned" leaf, but when I... When the cake was served, only the plate was full of regular lettuce and vegetables. The restaurant apologizes for just putting it on the menu like that to have an inviting flavor. Well, why tell so much just to crave and regret! Table of contents Suddenly... craving Suddenly... craving Thanh VanWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Evan Posted by friend: Thanh Van on: November 24, 2010
DK Loan Bộ Ngực Trong Tranh Tôi đi thơ thẫn giữa những bức tranh để chờ Betty. Đây chỉ là một phòng triễn lãm nhỏ do tư nhân thành lập và những tác phẩm được trưng bày hầu ht là của những hoạ sĩ chưa thành danh. Nhưng điều thu hút nhất của phòng triển lãm nầy chính là nó dám trưng bày những hoạ phẩm mà những phòng triễn lãm khác đã từ chối. Tôi đã từng thấy ở đây những bức tranh kỳ quặc đến độ quái dị, khiến cho người ta dễ dàng hình dung ra tác giả là một gã hoạ sĩ với tâm tính không mấy bình thường, hay là những bức tranh thoạt nhìn vào, tôi chỉ thấy sự hỗn độn và đối chọi khóc liệt giữa màu sắc và hình thể. Chỉ sau những dẫn giải đầy tính thuyết phục của Betty, tôi mới lĩnh hội được phần nào tính nghệ thuật trong những hoạ phẩm ấy. Nhưng tiếc là điều đó vẫn không làm cho tôi thấy yêu thích những hoạ phẩm ấy thêm một chút nào cả ! Khác với Betty, tôi lĩnh hội nghệ thuật qua sự cảm nhận của giác quan chứ không phải qua những phân tích và biện minh. Nhưng khi tôi tranh luận về đề tài ấy thì bao giờ Betty cũng thắng lý. Đó cũng là lẽ đương nhiên vì Betty đã có cử nhân triết học và đang theo học ngành hội hoạ, trong khi tôi chỉ là một kỹ sư cơ khí bận rộn quanh năm trên những dàng khoan dầu ngoài biển khơi ! Tôi chợt chú ý đến một bức tranh treo ở vị trí khá trang trọng cuối phòng triễn lãm. Trong tranh, một người con gái loã thể đang đứng bên giường ngủ trong một căn phòng tranh tối tranh sáng. Tôi đã xem qua nhiều bức tranh loã thễ, cổ điển lẫn đương thời, và tôi nhận thấy dường như tất cả đều toát lên một vẽ đẹp của nghệ thuật, vượt lên trên những tầm thường của một thân xác loã lồ. Nhưng bức tranh tôi thấy hôm nay thì lại khác hẳn. Nét vẽ tuy rất linh động nhưng lại hàm chứa một cái gì thật trần tục trong đó:căn phòng ngủ mờ ảo, chăng gối bừa bộn trên giường, người con gái đứng ở một tư thế thật khêu gợi với mái tóc vàng óng che nữa khuôn mặt và bộ ngực thì ưỡng về phía trước. Tôi có cảm tưởng bộ ngực trần vung to của người con gái với hai đầu vú vươn lên như khiêu khích và mời gọi, mới chính là tâm điểm của cả bức tranh, là chủ đích tối hậu của người hoạ sĩ. Dù biết đây là một tác phẩm nghệ thuật và người ta đã cân nhắc kỹ càng trước khi treo nó lên ở một vị trí trang trọng như vậy trong phòng triễn lãm, tôi vẫn thấy khó chịu với bối cảnh và nét vẽ tục tằng trong tranh. Betty đến gặp tôi khi tôi đang còn mãi miết ngắm nhìn bức tranh. Betty nghiên đầu về phía bức tranh hỏi :"Anh thấy thế nào ?". Tôi ngần ngừ lựa chọn từ ngữ, rồi đáp lại :"Rất khêu gợi !". Betty nheo mắt :"Tôi là người mẫu đấy !". Khi đưa Betty ra khỏi phòng triễn lãm, tôi hỏi :"Ai vẽ thế ?". Betty cho tôi biết bức tranh đã được hoàn tất từ sáu tháng trước và người hoạ sĩ là thầy của Betty, năm nay đã hơn sáu mươi. Buổi tối, Betty và tôi vào một nhà hàng sang trọng. Không khí bên trong êm đềm và ấm cúng. Thức ăn rất vừa miệng và nhà hàng chiêu đãi thật chu đáo. Đã lâu tôi mới được một buỗi tối thật tuyệt vời như vậy bên cạnh Betty. Lúc dùng món tráng miệng, tôi không nhớ mình đã kể một câu chuyện vớ vẫn đến độ nào để khiến cho Betty không nhịn được, phá lên cười thành tiếng. Tôi thoáng thấy bộ ngực vung tròn của Betty run run dưới làn áo vải. Rồi tôi liên tưởng đến bộ ngực trong bức tranh ở phòng triễn lãm lúc ban chiều. Đột nhiên tôi thấy lòng hừng hực một nỗi ham muốn và gần như tôi không còn đủ ý chí để giữ cho ánh mắt khỏi sỗ sàng, cứ như dáng chặt vào bộ ngực của Betty. Betty vuốt má tôi âu yếm nói:"Tội nghiệp chưa, cưng của em !". Để biện minh cho ánh mắt sỗ sàng của mình, tôi mở lời nguyền rủa lão thầy già, người hoạ sĩ sáng tác ra bức tranh, cùng những người đã treo bức tranh tục tằng ấy lên một nơi trang trọng trong phòng triễn lãm. Betty nghe xong chỉ cười ngất ! Ra khỏi nhà hàng, tôi đưa Betty về ngay xưởng vẽ chứ không đi dạo dọc theo bờ sông như đã dự định. Xưởng vẽ ở tần trên cùng của một cao ốc năm tần, nguyên là một kho hàng được Betty sửa sang lại và có hẳn một phòng ngủ với đầy đủ tiện nghi, chỉ thiếu là một gian bếp nhỏ dùng cho việc nấu nướng. Nhưng đối với Betty thì đó không phải là một thiếu sót, vì cũng như tôi, Betty chỉ thích ra ngoài ăn tiệm hơn là tự nấu ăn lấy ở nhà. Phải nói đây là một nơi yên tịnh và kín đáo ở ngay giữa một khu thị tứ buôn bán sầm uất, được Betty dùng làm gian sơn riêng chỉ để vẽ tranh , và đôi khi cũng là tổ ấm của chúng tôi, những lúc tôi trở về từ một dàng khoan dầu hôi hám và dơ bẫn ngoài biển khơi. Khi thang máy vừa lên đến lầu năm, tôi đẩy tung cửa, rồi nắm tay Betty lôi ngay vào phòng ngủ. Betty cười:"Tội nghiệp chưa, cưng của em !". Tôi lại có dịp để nguyền rủa lão hoạ sĩ già và Betty lại có dịp để cười ngất ! o0o Buổi sáng khi đồng hồ chỉ mười giờ tôi mới bò ra khỏi giường. Betty đón tôi bằng một nụ cười và một lời mời:"Xuống phố ăn sáng nhá ?". Tôi thấy trong người thật sảng khoái. Tôi thong thả thay đồ rồi xuống phố cùng Betty. Chúng tôi ngồi vào một dãy bàn nhỏ kê trên vĩa hè để dùng mì ống và uống cà phê đen. Betty trông thật tươi mát, mắt xanh biếc, má ửng hồng, tóc vàng óng từng lọn bay theo gió. Ngay lúc ấy, tôi thấy mình là thằng đàn ông thoả mãn và hạnh phúc nhất trên đời ! Ăn sáng xong, Betty đưa tôi trở lại phòng triễn lãm tranh. Betty muốn đến để xem lại bức tranh vẽ người con gái loã thễ. Nhưng không như chiều qua, hôm nay chúng tôi cùng nhau ngồi trên băn ghế cạnh lối đi để ngắm tranh. Và khác hẳn với những lần xem tranh trước đây, Betty chỉ tựa đầu vào vai tôi mà không có một lời dẫn giải. Tôi lặng lẽ ngắm nhìn bức tranh. Trong căn phòng tranh tối tranh sáng, người con gái vẫn đứng đấy bên cạnh chiếc giường ngủ, mái tóc vàng óng che nữa khuôn mặt, ngực ưỡng về phía trước. Bộ ngực trần của người con gái vung to, hai đầu vú vươn lên căng tràng nhựa sống của tuổi thanh xuân. Tôi buột miệng:"Thật mãnh liệt !". Betty đáp lại:"Tôi là người mẫu đấy !". Melbourne, tháng 10 năm 2005 © DK Loan 2005 Mục lục Bộ Ngực Trong Tranh Bộ Ngực Trong Tranh DK LoanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: tác giả gửi lên Nguồn: Vnthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 10 năm 2005
DK Loan Breasts In Paintings I wandered among the paintings waiting for Betty. This is just a small privately established gallery and the works on display are mostly by not-so-famous artists. But the most attractive thing about this gallery is that it dares to display works that other galleries have refused. I have seen here paintings that are so strange that they are so bizarre that people can easily imagine that the author is an artist with an unusual mentality, or paintings that at first glance, I don't like. only see chaos and fierce contrast between colors and shapes. Only after Betty's convincing explanations did I grasp some of the artistry in those paintings. But unfortunately that still doesn't make me love those paintings any more! Unlike Betty, I perceive art through sensory perception, not through analysis and justification. But when I debated the subject, Betty always prevailed. That is also natural because Betty has a bachelor's degree in philosophy and is studying painting, while I am just a mechanical engineer busy all year round on offshore oil rigs! I suddenly noticed a painting hanging in a rather solemn position at the end of the exhibition room. In the painting, a naked girl is standing next to her bed in a dimly lit room. I have looked at many nude paintings, both classic and contemporary, and I find that they all seem to exude a beauty of art, beyond the banality of a naked body. But the picture I see today is completely different. Although the drawing is very flexible, it contains something very mundane in it: the bedroom is dim, the pillows are messy on the bed, the girl is standing in a very suggestive position with her golden hair covering her. face and chest thrust forward. I have the feeling that the girl's large bare chest, with her nipples rising up as if provocative and inviting, is the focus of the whole painting, the artist's ultimate goal. Even though I know this is a work of art and that people carefully considered it before hanging it in such a solemn position in the gallery, I still feel uncomfortable with the context and vulgarity of the painting. . Betty came to see me while I was still looking at the painting. Betty tilted her head toward the picture and asked, "What do you think?". I hesitated in choosing my words, then replied: "Very sexy!". Betty squinted her eyes: "I'm a model!". When I took Betty out of the exhibition room, I asked: "Who painted that?". Betty told me that the painting was completed six months ago and that the artist was Betty's teacher, who is over sixty this year. In the evening, Betty and I went to a luxury restaurant. The atmosphere inside is calm and cozy. The food was delicious and the restaurant's hospitality was thoughtful. It's been a long time since I've had such a wonderful evening with Betty. While having dessert, I don't remember how ridiculous a story I told to make Betty couldn't help but burst out laughing. I caught a glimpse of Betty's round breasts trembling under her cloth shirt. Then I thought of the breasts in the painting in the gallery in the afternoon. Suddenly I felt a burning desire and I almost didn't have enough willpower to keep my eyes from staring at Betty's breasts. Betty caressed my cheek and said lovingly: "Poor thing, my dear!". To justify my rude eyes, I cursed the old teacher, the artist who created the painting, and the people who hung that vulgar painting in a solemn place in the gallery. After hearing this, Betty just burst out laughing! After leaving the restaurant, I took Betty right back to the studio instead of walking along the river as planned. The studio is on the top floor of a five-story building, originally a warehouse that Betty renovated and has a bedroom with full amenities, the only thing missing is a small kitchen for cooking. But for Betty, that is not a shortcoming, because like me, Betty just likes to go out to eat rather than cook for herself at home. It must be said that this is a quiet and discreet place right in the middle of a busy commercial area, used by Betty as a private painting booth just for painting, and sometimes also our home, when I return home. coming from a smelly and dirty oil rig out at sea. When the elevator reached the fifth floor, I pushed open the door, then grabbed Betty's hand and pulled her into the bedroom. Betty laughed: "Poor thing, my dear!". I had another chance to curse the old painter and Betty had another chance to laugh out loud! o0o In the morning, I crawled out of bed when the clock showed ten o'clock. Betty welcomed me with a smile and an invitation: "Let's go down town for breakfast?". I feel really refreshed inside. I leisurely changed clothes and went down the street with Betty. We sat at a row of small tables on the sidewalk to eat pasta and drink black coffee. Betty looked so fresh, her eyes were blue, her cheeks were rosy, and her golden hair was flowing in curls with the wind. At that moment, I felt like I was the most satisfied and happiest man in the world! After breakfast, Betty took me back to the art gallery. Betty wanted to come and see the painting of the naked girl again. But unlike yesterday afternoon, today we sat together on the bench next to the walkway to look at the paintings. And unlike the previous times I saw the painting, Betty just rested her head on my shoulder without any explanation. I quietly looked at the painting. In the dimly lit room, the girl was still standing there next to the bed, her golden hair covering half of her face, her chest thrust forward. The girl's bare breasts swung wide, her nipples rose and stretched with the vitality of youth. I blurted out: "So intense!". Betty replied: "I'm a model!". Melbourne, October 2005 © DK Loan 2005 Table of contents Breasts In Paintings Breasts In Paintings DK LoanWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: submitted by the author Source: Vnthuquan - Online Library Uploaded by friend: Ct.Ly on: October 7, 2005
batanlp BỘ NHỚ ĐỘNG TRONG C++ Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu với các bạn về cách lập trình với con trỏ (pointer) trong việc cấp phát bộ nhớ động (dynamic memory alocation) bằng ngôn ngữ C++. Đối với các bạn đã có kinh nghiệm lập trình với C++ thì bài này đối với các bạn chỉ là "a-bờ-cờ" mà thôi. Nhưng với các bạn mới học C++ thì có lẽ là bổ ích.Nếu bạn mới học lập trình và làm quen với cấu trúc dữ liệu thì một trong số những cấu trúc dữ liệu đầu tiên mà bạn "rớ" tới là Stack (ngăn xếp) và Queue (hàng đợi). Bạn có thể dùng 1 mảng (array) để thiết kế Stack và Queue. Dùng mảng thì đơn giản, nhưng bạn sẽ gặp một số bất lợi như sau:Lãng phí bộ nhớ: giả sử bạn khai báo int array_entry[100] thì bạn sẽ có 1 vùng nhớ cho 100 phần tử, nhưng nếu chương trình của bạn chỉ thường xuyên dùng có 10 phần tử, và 1 vài lần là dùng đến 100 phần tử thì tức là bạn đã phí phạm 90 phần tử. Thiếu bộ nhớ: vì tiết kiệm, bạn chỉ khai báo int array_entry[10], nhưng nếu bạn cần dùng đến 15 phần tử thì...overflow ngay. Chưa hết, array cần một vùng nhớ liên tục, giả sử máy bạn vẫn còn nhiều bộ nhớ trống, nhưng không có vùng nhớ trống liên tục nào đủ lớn cho mảng của bạn. Thế là vẫn...thiếu bộ nhớ. Và cuối cùng, người ta khi thấy bạn viết như vậy thì coi bạn là dân amateur, buồn nhỉ? LNhưng không sao, bài viết này sẽ giúp bạn vượt qua các trở ngại đó. Bạn sẽ biết cách ứng dụng con trỏ để tạo thành các cấu trúc dữ liệu kiên kết (linked structure) để tạo thành các linked stack hoặc linked queue. Bạn sẽ biết được cách toàn quyền cấp phát bộ nhớ khi có nhu cầu sử dụng; và khi không dùng nữa thì ta xoá nó đi, nhường memory cho các chương trình khác.Ghi chú: xem như là bạn đã có học và biết qua sơ sơ về C++ rồi, nhứng đoạn code trong bài viết này là C++ chứ không phải là C.Ứng dụng con trỏ, ta có thể tạo ra một danh sách liên kết (mảng liên kết - linked list) như sau:Phần đánh dấu màu hồng (và nút tròn đầu tiên) là các con trỏ, có nhiệm vụ link đến phần tử tiếp theo trong danh sách. Nhờ có các link này mà khi đang ở phần tử thứ nhất, bạn sẽ có manh mối để lần đến phần tử thứ hai, rồi phần tử thứ ba...Một phần tử của danh sách có thể được biểu diễn qua cấu trúc như sau (1 phần tử ta gọi là 1 Node):struct Node { // data members Node_entry entry; Node *next; //constructors Node(); Node(Node_entry item, Node *add_on = NULL);};Ghi chú:Node_entry là kiểu dữ liệu để chứa data của phần tử, entry chính là nơi data của phần tử được lưu. Ở ví dụ trong hình trên, với node đầu tiên thì entry sẽ chứa Fred, 367-2205 và Jan. 28.Và ta có các hàm khởi tạo cho nó như sau:Node::Node(){ next = item, Node *add_on){ entry = item; next = add_on;}Như vậy, khi ta khai báo Node* data và khởi tạo xong cho data thì data->entry sẽ là phần dữ liệu của node đó, và data->next sẽ là đường dẫn tới node tiếp theo. Như thế thì ta có thể duyệt hết toàn bộ data mà ta đã lưu trong danh sách rồi. Để rõ hơn, ta hãy xem một ví dụ qua đoạn code nhỏ sau. Chú ý: khi data->next == NULL thì tức là node này là phần tử cuối cùng.Đoạn code trong ví dụ sẽ tạo ra một danh sách liên kết như trong hình trên (không tin thì bạn...thử xem là biết liền J). Địa chỉ bộ nhớ của các node thì hoàn toàn ngẫu nhiên và không liên tục vì nó là dynamic memory allocation mà.Thế là đã Ok cho việc tạo một cấu trúc liên kết. Giờ ta bắt tay vào xây dựng Linked Stack và Linked Queue. Tôi sẽ trình bày phần Linked Stack thôi, phần Linked Queue thì các bạn hãy phát triển thêm nhé. Cũng hoàn toàn tương tự thôi.Ta khai báo Stack như sau:enum Error_code {underflow, success, overflow};typedef int Stack_entry;class Stack {public: Stack(); Bool empty() const; Stack_entry push(const Stack_entry &item); Stack_entry top(Stack_entry &item) const; Error_code pop(); protected: Node *top_node;}Sau đó là các đoạn code cho các hàm trong Stack như sau:Stack_entry Stack::push(const Stack_entry &item){ Node *new_top = new Node(item, top_node); if (new_top == NULL) return 0; top_node = new_top; return Stack::pop(){ Node *old_top = top_node; if (top_node == NULL) return underflow; top_node = old_top->next ; delete old_top; count--; return Stack::top(Stack_entry &item) const{ if (top_node == NULL) return 0; item = top_node->entry; return Stack::empty() const{ if (top_node == NULL) return true; return top_node = NULL; count = 0;}Như thế đó, ta đã có 1 Linked Stack mà không dùng array. Dữ liệu được nhập vào tới đâu thì bộ nhớ được cấp phát tới đó. Và khi dữ liệu được lấy ra khỏi stack thì phần bộ nhớ của nó được giải phóng ngay lập tức, để dành cho việc khác.Các bạn tự nghiên cứu phần Queue nhé! Nếu bạn muốn ngâm cứu bản gốc (tiếng Anh) thì bạn có thể email cho tôi: Mục lục BỘ NHỚ ĐỘNG TRONG C++ BỘ NHỚ ĐỘNG TRONG C++ batanlpChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: mickey đưa lên vào ngày: 19 tháng 8 năm 2004
batanlp DYNAMIC MEMORY IN C++ In this article, I will introduce to you how to program with pointers in dynamic memory allocation in C++ language. For those of you who have programming experience with C++, this article is just "a tip-off" for you. But for those who are new to C++, it may be useful. If you are new to programming and familiar with data structures, one of the first data structures you will "touch" is the Stack. ) and Queue (queue). You can use an array to design Stack and Queue. Using arrays is simple, but you will encounter some disadvantages as follows: Waste of memory: suppose you declare int array_entry[100], you will have 1 memory area for 100 elements, but if your program If you only regularly use 10 elements, and a few times use up to 100 elements, that means you've wasted 90 elements. Lack of memory: to save money, you only declare int array_entry[10], but if you need to use up to 15 elements, then...overflow immediately. Furthermore, arrays need a continuous memory area, assuming your computer still has a lot of free memory, but there is no continuous free memory area large enough for your array. So still...lack of memory. And finally, when people see you writing like that, they think you're an amateur, which is sad, isn't it? But that's okay, this article will help you overcome those obstacles. You will know how to apply pointers to form linked data structures to form linked stacks or linked queues. You will learn how to fully allocate memory when needed; and when not used anymore, we delete it, giving memory to other programs. Note: it is assumed that you have learned and know a little about C++ already, the code in this article is C++, not C++. is C. Using pointers, we can create a linked list (linked list) as follows: The part marked in pink (and the first round button) are pointers, which are responsible for linking to the next element in the list. Thanks to these links, when you are at the first element, you will have a clue to go to the second element, then the third element... A list element can be represented through a structure like after (1 element is called 1 Node):struct Node { // data members Node_entry entry; Node *next; //constructors Node(); Node(Node_entry item, Node *add_on = NULL);};Note: Node_entry is a data type to contain the element's data, entry is where the element's data is saved. In the example in the image above, for the first node, the entry will contain Fred, 367-2205 and Jan. 28.And we have the constructor functions for it as follows:Node::Node(){ next = item, Node *add_on){ entry = item; next = add_on;}Thus, when we declare Node* data and initialize the data, data->entry will be the data of that node, and data->next will be the path to the next node. . That way, we can browse all the data that we have saved in the list. For more clarity, let's see an example through the following small code snippet. Note: when data->next == NULL, it means this node is the last element. The code in the example will create a linked list as shown in the image above (if you don't believe it, try it... immediately know J). The memory addresses of the nodes are completely random and discontinuous because it is dynamic memory allocation. That's OK for creating a topology. Now let's start building Linked Stack and Linked Queue. I will only present the Linked Stack part, please develop the Linked Queue part further. It's exactly the same. We declare Stack as follows: enum Error_code {underflow, success, overflow};typedef int Stack_entry;class Stack {public: Stack(); Bool empty() const; Stack_entry push(const Stack_entry &item); Stack_entry top(Stack_entry &item) const; Error_code pop(); protected: Node *top_node;}Then there are the codes for the functions in Stack as follows:Stack_entry Stack::push(const Stack_entry &item){ Node *new_top = new Node(item, top_node); if (new_top == NULL) return 0; top_node = new_top; return Stack::pop(){ Node *old_top = top_node; if (top_node == NULL) return underflow; top_node = old_top->next ; delete old_top; count--; return Stack::top(Stack_entry &item) const{ if (top_node == NULL) return 0; item = top_node->entry; return Stack::empty() const{ if (top_node == NULL) return true; return top_node = NULL; count = 0;}Like that, we have a Linked Stack without using an array. Wherever data is entered, memory is allocated. And when data is removed from the stack, its memory is immediately freed, to be used for other purposes. Please study the Queue section yourself! If you want to study the original (English), you can email me: Table of contents DYNAMIC MEMORY IN C++ DYNAMIC MEMORY IN C++ batanlpWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: mickey posted on: August 19, 2004
Vũ Trọng Phụng Bộ răng vàng Cha vừa mất, hai quý tử nọ không lo việc tang lễ mà lại lao ngay vào cuộc chia tài sản. Thật khốn nạn, người con bất hiếu còn cạy mồm người chết để lấy răng vàng. Bằng ngòi bút tài hoa, sắc sảo, tác giả lên án mạnh mẽ thói vô luân trong xã hội Việt Nam thuở còn bị thực dân phong kiến cai trị và để cho người đọc hôm nay những điều cần phải suy nghĩ về đạo lý làm người.Ông cụ già ngót tám mươi tuổi đầu ấy đã hứa với chúng cái chết của mình ba tháng nay rồi, mà ba tháng nay rồi, ông cụ cứ nằm lỳ giữa giường để rên đấy, ăn đấy, và thi hành mọi việc cần dùng ở đấỵ..Cụ thật là người keo kiệt, đến lúc hấp hối rồi mà vẫn còn đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành, hau háu chi ly từng đồng xu nhỏ một, chẳng chịu rời chùm chìa khóa, mở tủ, lấy văn tự địa đồ chia của cho con.Đến bây giờ thì ông cụ quả thật chết rồi, nhẹ nợ!...Ông cụ chết rồi, thì thằng cả, thằng hai với vợ chúng xúm nhau vào vồ lấy chùm chìa khóa, tính việc chia gia tài.Chúng hãy để mặc cái thây ma nằm đấy. Cả hai ngày hôm ấy chúng bận bù đầu vào trăm công, nghìn việc. Thằng hai nhường cho anh bộ đồ thờ với yếu thư bàn độc, thì kỳ kèo ép anh phải bỏ tiền ra lo cho bố, thết đãi hàng xã, hàng tổng thì phải lấy lại hai con lợn nái của mình.Tối hôm sau, cái chết của ông cụ, họ hàng cũng không một ai được biết, vì chúng... tính toán chưa xong.Đến độ nửa đêm mọi việc đã thương lượng thực với nhau đâu vào đấy cả. Lên giường nằm nghỉ, thằng cả mơ màng đến những cảnh phóng túng chơi bời cũng như thằng hai, sướng bằng mở cờ trong bụng định những việc mưu danh, cầu tước, mua lấy một chân chức sắc trong làng.Bốn vợ chồng chúng xì xào to nhỏ với nhau, khúc khích với nhau, duy chỉ một mình ông cụ, một cái thây ma phủ dưới một cái chăn đơn, nằm đờ với ngọn đèn dầu to không bằng hạt đỗ. Vì không có chúc thư để lại, cái chết kia là cái chết bất thình lình, chúng đã giấu kín ngày giờ với họ hàng, làng nước thì chúng kêu gào khóc lóc làm chi?Vợ chồng thằng cả muốn như ngủ rồi, thì vợ chồng thằng hai rón rén đẩy cửa lôi nhau ra ngoài chuyện kín.Thằng hai óc lý tài sáng suốt hơn thằng cả, nhớ rõ ra rằng trong lúc sinh thời, ông bố muốn thay vào hàm răng cái còn cái gẫy, đã lên tỉnh, vào nhà giồng răng vàng.Chúng cứ xì xào cãi lẫy với nhau, con vợ nhất định rẫy rụa không nghe, kêu rằng trong nhà có kẻ qua đời, người sống muốn cho kẻ chết được thiêng liêng phù hộ cho mình, thường còn lắm khi bỏ vàng vào miệng. Nên khi thấy chồng bàn lấy bộ răng trong mồm bố ra để bán, nó chẳng bằng lòng...Thằng chồng phát gắt mà rằng:- Cái đời đàn bà chúng mày sao mà ngu thế? Chết rồi, thì việc cúng giỗ chẳng qua là việc dối lừa thiên hạ, bộ răng vàng ấy đem bán đi không được chục bạc hay sao? Mày không nghe ông mặc kệ mày, miễn sao mày đừng để cho vợ chồng anh cả biết. Ông làm gì thì mặc xác ông!Rồi nó nguây nguẩy quay vào, để cho vợ một mình đứng đấy.Trong nhà có người chết, ngoài sân lại thêm đom đóm bay liệng lập lòe, cây cau, cây chuối cọ lá sột sạt vào nhau, con vện thình lình cắn bóng một cách tức bực buồn rầu, nghe sợ đến rủn người đi được.Chị vợ bỗng giật mình hoảng sợ, hấp tấp chạy vào những toan ngăn chồng không cho làm thế, nhưng khi đến cửa buồng, nhìn vào thây ma trơ trơ nằm đấy thì chị ta lại sợ, không dám bước vào.Nó biết vợ nó phải lánh mặt đi rồi thì nó cứ việc tự do hành động. Nó nhìn sau nhìn trước, lắng tai nghe kỹ, thấy vợ chồng anh mình đã ngáy mới yên trí, rón rén đến bên giường bố chết, lật cái chăn ra.Để một tay giữ trên đôi mắt người đã qua đời, còn một tay nó bóp lấy hàm, cố vành cho được. Thấy hơi răn rắn, nó liền dùng hết sức, cố vành mồm kẻ chết móc ra được bộ răng vàng. Như người sốt rét phải chậu nước lạnh dội vào mình, nó bỗng run lên bần bật. Bộ răng vàng rơi lăn xuống đất nó cũng không kịp nhặt, vì khi nhìn lại đôi mắt của kẻ qua đời đã bị bàn tay phũ phàng kia làm cho lật hẳn mi lên. Mà cái mồm, một cái mồm không răng trông sâu hoăm hoẳm mà tối om om, sau khi đã bị vành thì thôi, nhất định không thèm ngậm lại. Người chết hình như trợn mắt, há mồm, nguyền rủa thằng con bất hiếu, trông đáng sợ vô cùng.Nó đứng ngây ra đấy kinh khủng mà nhìn không chớp mắt một hồi, rồi sau khi rú lên một tiếng, bưng mặt đẩy cửa chạy đi.Nghe thấy tiếng kêu ghê gớm lạ lùng hai vợ chồng anh đều ngồi nhỏm dậy, chúng không hiểu nguyên do sao cả, chỉ nhìn nhau một cách kinh ngạc rồi rón rén xuống đất, bước đến cửa phòng người chết, đứng đấy nhìn vào. Cái thây ma trợn mắt há mồm như đang chửi rủa.Hai vợ chồng sợ quá đứng sát nách nhau mà run lập cập, trống ngực đánh thình lình. Giữa cái lúc bối rối tâm thần, mơ màng đến những chuyện "quỉ nhập tràng" của bộ Liêu trai, không biết nên đứng ỳ ra đấy hay cuống cẳng bỏ chạy đi đâu, thì thằng anh nhìn thấy cái bộ răng vàng nằm dưới gậm giường nhờ ánh sáng đèn chiếu ra lóng lánh.Cái việc thằng em vào đây, rú lên rồi ôm đầu bỏ chạy, nó hiểu rõ ra ngay.Nhìn ra sau lưng, thấy vợ chồng thằng em đã đứng tái mặt đấy rồi, thì nó lên giọng đàn anh, mắng trùm: "Chúng mày thực là bất hiếu".Người đàn bà kia cố cãi cho ra lẽ, kêu rằng dễ hết lời ngăn cản mà chồng chẳng chịu nghe nào. Rồi chị ta xin lỗi cho chồng, những mong được lượng ông giữ kín những chuyện nhơ nhuốc trong nhà, cứ việc lắp lại hàm răng vào mồm cho bố.Nhưng thằng anh lại không làm như thế, sau khi không có cách nào vuốt mắt, đậy mồm cho người đã mất thì nó chỉ đành trùm chăn lên một cách gọn gàng. Rồi nó quay lại mắng đứa em dâu:- Chú thím đã định lừa tôi như thế, thì bộ răng này, sau khi tôi bán được, mong rằng chú thím đừng nhớ đến chuyện chiạ..Sau cùng, thì một cách tự nhiên, nhanh nhẹn nhất đời, nó cúi xuống nhặt bộ răng vàng, bỏ túi. Mục lục Bộ răng vàng Bộ răng vàng Vũ Trọng PhụngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Vu Trong Phung Golden teeth As soon as their father passed away, the two noble sons did not worry about the funeral but immediately rushed into the division of assets. How miserable, the filial son even pried open the dead man's mouth to get his gold teeth. With a talented and sharp pen, the author strongly condemns the immorality in Vietnamese society when it was still under feudal colonial rule and gives today's readers things to think about about human morality. That old man, who is almost eighty years old, has promised them his death for three months now, and for three months now, he has been lying in the middle of the bed moaning, eating, and doing everything he needs to do. There... He was really a stingy person. Even when he was dying, he was still measuring jars of fish sauce, counting onions and onions, wasting away every little coin, refusing to let go of the keys, open the cabinet, and take The map and documents divided the property to his children. By now, the old man was truly dead, with no debt!...The old man was dead, then the eldest son, second son and his wife gathered together to grab the keys, planning to dividing the inheritance. Let's just leave the zombie lying there. Both days they were busy with hundreds of thousands of jobs. The second son gave him a set of altar clothes and a single table book, so he forced him to spend money to take care of his father, to entertain the commune and the general, so he had to take back his two sows. The next night, the The old man's death was not known to any of his relatives, because they... had not finished calculating it. By midnight, everything was actually negotiated with each other. Going to bed to rest, the eldest boy dreamed of scenes of debauchery and debauchery, just like the second boy, happily opening the flag in his stomach, plotting things to gain fame, seek a title, and buy a job as a dignitary in the village. The four of them were drunk. whispering to each other, giggling to each other, only the old man was alone, a zombie covered under a single blanket, lying motionless with an oil lamp no bigger than a pea. Because there was no will left, the other death was a sudden death. They had hidden the date and time from relatives and the country, so why would they scream and cry? The eldest son and his wife wanted to sleep, so the wife The second son's husband gingerly pushed the door and dragged them out to discuss the matter. The second son had a wiser mind than the eldest son, and clearly remembered that during his lifetime, his father wanted to replace the broken tooth and had to go to the province. They entered the house with yellow teeth. They kept whispering and arguing with each other. The wife refused to listen, calling that someone had passed away in the house. The living wanted the dead to be blessed by the gods. There were often many cases. when you put gold in your mouth. So when she saw her husband discussing taking the teeth from her father's mouth to sell, she was not satisfied... The husband got angry and said: - How stupid are you women in your life? After death, death anniversary offerings are nothing more than deceiving people. Wouldn't that set of golden teeth be sold for ten silver? If you don't listen to him, leave it alone, as long as you don't let the eldest brother and his wife know. Whatever you do, leave your body alone! Then he wriggled back in, leaving his wife alone standing there. There was a dead person in the house, in the yard there were fireflies flying around, palm trees and banana trees rustling their leaves. each other, the brindle suddenly bit the ball in an angry and sad manner, hearing it so scared that he could barely walk. The wife was suddenly startled and frightened, hastily ran in, trying to stop her husband from doing so, but when she reached the door of the room, Looking at the inert zombie lying there, she was afraid and did not dare to step in. He knew his wife had to stay away, so he could act freely. He looked back and forth, listened carefully, saw that his brother and his wife were snoring, then felt reassured, tiptoed to his father's death bed, lifted the blanket. He kept one hand on the deceased's eyes, the other hand holding on. He squeezed his jaw, trying to hold it. Seeing the snake's warning, it used all its strength to open the dead man's mouth and pull out a set of golden teeth. Like a person with malaria having a basin of cold water poured on him, he suddenly trembled. The set of golden teeth fell to the ground and he didn't have time to pick them up, because when he looked back at the deceased's eyes, his eyelids had been completely lifted by that harsh hand. But the mouth, a toothless mouth that looked deep and dark, once it was covered with a rim, would definitely not close it. The dead man seemed to roll his eyes, open his mouth, and curse the unfilial son, looking extremely scary. He stood there in horror, staring without blinking for a while, then after howling, he covered his face and pushed the door open. Run away. Hearing the strange, terrible cry, he and his wife both sat up. They didn't understand the reason. They just looked at each other in surprise, then crept down to the ground, walked to the door of the dead man's room, and stood there. look at. The zombie's eyes widened and its mouth opened as if cursing. The couple was so scared that they stood armpit close to each other and trembled, their chest suddenly beating. In the midst of his mental confusion, daydreaming about the "devil's entry" stories of the Liao Trai, not knowing whether to stand there or run away, his brother saw a set of yellow teeth under his jaw. The bed was shining brightly thanks to the light from the lamp. The thing about his younger brother coming in here, howling, then holding his head and running away, he understood clearly right away. Looking behind him, he saw that his younger brother and his wife were standing there pale. raised her senior's voice and scolded the boss: "You guys are really unfilial." The woman tried to argue, saying that it would be easy to stop her, but her husband wouldn't listen. Then she apologized to her husband, hoping that he would keep the dirty things in the house a secret and just put the teeth back in his mouth. But his brother didn't do that, after having no way to close his eyes. , to cover the deceased's mouth, he could only cover it neatly with a blanket. Then he turned around and scolded his sister-in-law: - Since you were planning to trick me like that, then after I sell this set of teeth, I hope you won't remember what happened... In the end, naturally, With the fastest agility in his life, he bent down to pick up the set of golden teeth and pocketed them. Table of contents Golden teeth Golden teeth Vu Trong PhungWelcome to read the titles from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Hung Posted by friend: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Lê Thị Thanh Chung Bội thu Ngày cuối năm, toàn thể công ty dự hội nghị tổng kết. Cả những cán bộ hưu trí cũng được mời. Năm vừa qua, đất nước gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng có ảnh hưởng đến một số hợp đồng có vốn nước ngoài. Tổng giám đốc nói, để tiết kiệm, năm nay chúng ta không liên hoan mà phát phong bì cho tất cả đại biểu có mặt. Khi sếp vừa dứt lời, vợ sếp nhanh nhẹn bước lên bục mi-cro: - Năm nay gia đình chúng tôi có hai tin vui: vừa có con rể mới, vừa có thằng cu cháu ngoại hiện đang nằm trong bụng mẹ. Thực ra hai cháu đã về sống với nhau từ mấy tháng nay. Phần vì các cháu bận học hành thi cư, phần thì cuối năm công ty bận hoàn thành kế hoạch nước rút; nên đến tận hôm nay mới có dịp cho các cháu ra mắt gia đình họ hàng đôi bên và bạn bè. Chúng tôi mời toàn thể anh chị em trong công ty trưa nay dự bữa cơm báo hỷ với gia đình và hai cháu. Đợi cho tiếng vỗ tay, lời chúc mừng của cả công ty lắng xuống, vợ sếp vui vẻ nói tiếp: - Tôi xin nhắc lại, chỉ là bữa cơm thân mật chứ không phải tiệc cưới. Theo đúng tinh thần "triệt để tiết kiệm" của chính phủ. * * *Còn gần một giờ nữa mới đến giờ mời cơm. Mọi người tản về các phòng ban bàn bạc, chuyện trò. - Sếp đã mời thế thì nên đi quà mừng tập thể hay từng cá nhân nhỉ? Một người hỏi - Chắc là cả phòng vẫn nên trích quỹ để có một phong bì chung. Còn cá nhân thì tuỳ tâm. Trưởng phòng gợi ý. - Thế là cái phong bì ăn trưa của tôi hôm nay đã có địa chỉ người nhận. Một người khác bàn. * * *Sếp tổng có hai đứa con. Thằng lớn mải chơi, học hành chấm trơ. Mấy năm trước sếp phải tận dụng mọi mối quan hệ mới lo được cho nó cái bằng đại học dân lập. Ra trường, sếp "ấn" ngay nó về Phòng Kế Hoạch của Công Ty để cho cậu đệ tử trưởng phòng kèm cặp. Năm ngoái, cũng vào dịp cuối năm, nó đưa về nhà một con bé bán bia hơi, giới thiệu là người yêu và đòi tổ chức cưới. Sếp bà lại phải một phen vất vả chạy vạy để cho con bé vào làm hợp đồng ở một trường Mầm non của quận. Con dâu của Tổng giám đốc chẳng thể nào là đứa bán bia ngoài vỉa hè. Rồi tiệc cưới cũng được tổ chức rất "hoành tráng". Xe mui trần đón dâu chạy khắp phố. Khách sạn 5 sao. Tuần trăng mật ở Bangkok. Cháu đích tôn của dòng họ, không làm đàng hoàng không được. Sếp thanh minh với mọi người như vậy. * * *Con bé thứ hai học hành chỉn chu hơn thằng anh. Suốt 12 năm phổ thông, năm nào cũng đạt danh hiệu học sinh giỏi mà không cần có sự can thiệp của bố mẹ. Nó theo nghề của bố, thi vào trường Giao thông. Thi đại học năm đầu tiên đỗ ngay. Bà chị gái của sếp không lấy chồng, làm nghề dạy học, có căn hộ hai phòng ngủ ở ngay khu Giảng Võ. Sếp mang con gái lên gửi và dặn dò phải bảo ban, trông nom cháu cẩn thận. Bà chị sợ em trai một thì ngại em dâu mười nên quản lý con bé rất chặt. Chỉ thiếu nước cài kim băng vào váy của cả hai cô cháu như trong phim Liên Xô ngày xưa; hay khoét phòng đặt tay lên bụng cháu gái khi ngủ như trong chuyện cổ tích Việt Nam. Ngoài giờ học chính khoá ở trường, con bé còn theo học ngoại ngữ ở các Trung tâm có "yếu tố nước ngoài" mà học phí cũng lên tới cả trăm Đô la một tháng. Muộn nhất thì cũng 9 giờ tối là nó về tới nhà. Ăn uống dọn dẹp xong là ngồi vào bàn học. Chưa một lần nào nó xin phép bà đi chơi qua đêm với bạn bè, kể cả có lần cả lớp nó tổ chức đi chơi ở Hồ Đại Lải. * * *Bà phát hiện ra con bé có thai khi thấy cái bụng nó đã lùm lùm dưới cái áo khoác mỏng mùa đông. Hỏi ra mới biết con bé đã mất kinh được 5 tháng. Nó hồn nhiên nói, cháu cứ nghĩ chỉ chậm kinh bình thường. Nhưng bây giờ thì chắc là cô nói đúng. Tá hoả, bà gọi điện ngay cho cậu em trai. Hai vợ chồng sếp đi xe công ty lên ngay trong ngày rồi cho cậu lái xe về. Hẹn khi nào xong việc sẽ gọi điện lên đón. "Thằng trời đánh" - theo cách gọi của sếp bà - té ra là một thằng rất có "bản lĩnh". Bà hỏi nó định tính thế nào thì cả hai đứa đều thản nhiên: "Còn gần 4 tháng nữa Thuý mới sinh, chắc lúc ấy con đã kiếm được viêc làm ở một nơi nào đó. Thuý sẽ đi cùng con". Ông đã gửi gắm được con bé vào một công ty bên B của ông ở Hà Nội. Chắc bây giờ phải lo nốt cho cái thằng "trên răng - dưới cần tăng dân số" này. Cứ để mày đi xây cầu ở vùng sâu vùng xa thì mấy năm sau quay lại, chắc một nửa tá trẻ con cởi truồng tắm sông phải gọi mày bằng bố. Bẳng tuổi mày ngày xưa tao cũng vác mia chạy lông nhông, còn lạ gì. * * *Bữa cơm báo hỷ được tổ chức ở nhà hàng bình dân ngay cạnh công ty. Đúng như sếp bà đã nói, triệt để tiết kiệm. Không đón dâu, không sân khấu, không MC. Không có cả chiếc hộp giấy hình trái tim để khách đến thả phong bì mừng như các đám cưới hiện nay. Sếp bà mặc bộ váy đầm công sở gọn gàng lịch sự, niềm nở đón khách từ ngoài cổng. "Cô dâu" mặc chiếc váy trang nhã, phủ hờ một tấm khăn nhung thêu hoa che toàn bộ phía trước. Không có màn cô dâu chú rể đi từng bàn cám ơn. Phong bì mừng được "tế nhị" đưa cho sếp bà. Nhận của ai bà cũng trách: "cô/chú bày vẽ quá. Có phải đám cưới đâu mà quà mừng". Nói rồi, bà kín đáo chuyển chúng cho bà chị chồng để đi tiếp. Số phong bì phát ra ở hội nghị tổng kết đã hội ngộ gần đủ 100% trong chiếc túi du lịch đặt dưới chân em gái bà. * * *Sau khi tiến người khách cuối cùng ra cửa, bà quay lại tìm gặp cô lễ tân để thanh toán. Cậu kế toán trưởng công ty đón bà với nụ cười nửa như báo công, nửa như phân trần: "Em đã làm xong hết rồi chị ạ. Để quyết toán vào Hội nghị tổng kết cuối năm của Công ty. Gọi là chút quà mừng cho hai cháu". Lê Thị Thanh Chung Mục lục Bội thu Bội thu Lê Thị Thanh ChungChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Hoa Tong Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 27 tháng 7 năm 2009
Le Thi Thanh Chung Bumper On the last day of the year, the entire company attended a summary conference. Even retired officials are invited. Last year, the country faced many difficulties. The global economic crisis also has an impact on some contracts with foreign capital. The general director said, to save money, this year we will not have a party but distribute envelopes to all delegates present. When the boss finished speaking, the boss's wife quickly stepped up to the microphone: - This year our family has two good news: we have a new son-in-law and a grandson who is currently in his mother's womb. Actually, the two of us have been living together for several months now. Partly because the children are busy studying for immigration exams, partly because the company is busy completing the sprint plan at the end of the year; So it wasn't until today that I had the opportunity to introduce my children to both their families and friends. We invite all members of the company this afternoon to attend a happy dinner with their family and two grandchildren. Waiting for the applause and congratulations from the whole company to subside, the boss's wife happily continued: - I repeat, this is just an intimate meal, not a wedding party. In accordance with the "thoroughly thrifty" spirit of the government. * * *There's almost an hour left until dinner time. Everyone dispersed to the departments to discuss and chat. - Since the boss invited me, should I give a group or individual congratulatory gift? One person asked - Maybe the whole room should still use funds to have a common envelope. As for the individual, it depends on his or her preference. Head of department suggested. - So my lunch envelope today has a recipient address. Another person discussed. * * *The boss has two children. The older boy is busy playing and studying hard. A few years ago, my boss had to take advantage of all his connections to afford him a private university degree. After graduating, his boss immediately "pressed" him to the Company's Planning Department so that the head disciple could tutor him. Last year, also at the end of the year, he brought home a girl selling draft beer, introduced him as his lover and asked to get married. Her boss had to work hard to get her a contract job at a district preschool. The CEO's daughter-in-law cannot be someone who sells beer on the sidewalk. Then the wedding party was also held very "magnificently". Open-top cars picked up the bride and drove around the street. 5 star hotel. Honeymoon in Bangkok. The eldest grandson of the family cannot do it properly. The boss explained it to everyone like that. * * *The second girl studies more carefully than her older brother. During 12 years of high school, he achieved the title of excellent student every year without the intervention of his parents. He followed his father's profession and entered the Traffic School. First year college entrance exam passed immediately. The boss's older sister is not married, works as a teacher, and has a two-bedroom apartment in the Giang Vo area. The boss brought his daughter and told her to take good care of her. The older sister was afraid of her first brother and afraid of her ten sister-in-law, so she controlled her very tightly. The only thing missing was the water to attach safety pins to the dresses of both nieces like in old Soviet movies; or go into a room and put his hand on his niece's belly while sleeping like in a Vietnamese fairy tale. In addition to regular school hours, she also studies foreign languages ​​at centers with "foreign elements" whose tuition costs up to hundreds of dollars a month. At the latest, it will be 9pm when he gets home. After eating and cleaning up, sit at the study table. Never once did he ask her permission to go out overnight with his friends, even once his whole class organized a trip to Dai Lai Lake. * * *She discovered that the girl was pregnant when she saw that her belly was bulging under her thin winter coat. When I asked, I found out that she had not had her period for 5 months. He innocently said, I thought it was just a normal late period. But now she's probably right. Out of anger, she immediately called her younger brother. The boss and his wife took the company car up the same day and let him drive home. I'll call to pick you up when I'm done. "Heavenly guy" - as her boss called him - turned out to be a very "competent" guy. She asked him what he planned to do, and both of them said calmly: "It's almost 4 months until Thuy gives birth, by then you'll probably have found a job somewhere. Thuy will go with you." He entrusted her to one of his company B in Hanoi. Maybe now we have to worry about this "upper teeth - lower population needs to increase" guy. If I let you go build a bridge in a remote area, then when you come back a few years later, half a dozen children will have to bathe in the river naked and call you dad. When I was your age, I used to carry a straw and run around, no wonder. * * *The wedding dinner was held at a popular restaurant right next to the company. Just like your boss said, thoroughly save money. No bride reception, no stage, no MC. There wasn't even a heart-shaped paper box for guests to drop off their congratulatory envelopes like at today's weddings. Her boss wore a neat and polite office dress and warmly welcomed guests from outside the gate. The "bride" wore an elegant dress, loosely covered with an embroidered velvet scarf that covered the entire front. There is no stage where the bride and groom go from table to table thanking each other. The congratulatory envelope was "delicately" given to her boss. Whoever she received it from, she blamed her: "You're too showy. It's not a wedding, it's a congratulatory gift." Having said that, she discreetly passed them to her sister-in-law to continue. Nearly 100% of the envelopes given out at the conference were reunited in the travel bag placed at her sister's feet. * * *After leading the last customer out the door, she turned back to see the receptionist to pay. The company's chief accountant welcomed her with a smile that was half a report, half an explanation: "I've finished everything, sister. To finalize the balance at the Company's year-end summary conference. Call it a welcome gift." for you two". Le Thi Thanh Chung Table of contents Bumper Bumper Le Thi Thanh ChungWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected by: Hoa Tong Source: Uploaded by friend: Ct.Ly on: July 27, 2009
Phạm Sông Hồng Bờ Mưa Năm ấy, lũ chim không về làm tổ ở khu vườn. Bà ngoại tôi ngồi ở bậc thềm, nhìn vào khoảng không hun hút trước mắt. Trời không mưa không nắng, xám xịt một màu chì. Tôi không biết bà tôi nghĩ gì, nhưng chắc chắn là đang nghĩ. Dáng ngồi như thế, tấm lưng còn tựa vào cửa cũ, nửa như lơ đễnh, nửa như coi cánh cửa ấy là một điểm tựa.Đúng rồi, cái cánh cửa là điểm tựa của bà. Bà ngồi như thế lâu rồi, từ ngày tháng năm này qua ngày tháng năm khác. Bà tựa vào tiếng răng của lũ mọt, hình như là hoài nhớ về những ngày đã qua nhiều hơn là nghĩ đến ngày mai. Tôi ôm con mèo cái già có bộ lông màu xám tro vào lòng, vuốt ve nó. Nó chừng như cũng đã mệt mỏi vì quãng đời có tuổi của mình mà không chờn vờn đôi bàn tay thô kệch của tôi, bộ ria mép chỉ hơi khẽ động đậy.Nó lim dim đôi mắt. Tôi thấy thái độ của nó giống bà tôi quá. So với lũ mèo, nó cũng có tuổi, nó cũng đã là một con mèo già. Mà già rồi thì hay mệt mỏi. Chắc lúc này ở trong tay tôi, nó cũng đang suy nghĩ, suy nghĩ theo kiểu loài mèo. Nó nghĩ gì thì chỉ có trời mới biết được (có khi loài mèo biết?). Nhưng tôi thầm nghĩ, biết đâu nó cũng như bà tôi, tức là đang hoài nhớ về cái thời đã qua thì sao? Tuổi thơ tôi là một chuỗi những ngày tháng không tên. Cứ lặng lờ lặng lờ, chẳng có gì sôi nổi. Tôi ở với bà từ ngày còn nhỏ. Ngày xưa dì Mân cũng ở với bà, nhưng dì Mân vì lý do nào đó tác động đến mà sinh mất trí, bỏ nhà đi lâu rồi. Đi, rồi từ đấy không về. Và cũng chẳng có tin tức gì, không biết còn sống hay đã chết. Thỉnh thoảng, tôi ngây ngô nhắc đến gì như một lẽ bình thường, bà tôi lại chảy nước mắt. Ông Hân, hàng xóm nhà tôi bảo: "Bà cháu đã mất hai anh con cả trong cuộc chiến. Mất cả mẹ cháu, bây giờ lại mất cô con gái ngay giữa thời bình... ". Ông Hân nói thế rồi đi về nhà. Nhưng ông đã thức dậy trong tôi hình ảnh một người đàn bà bỏ con lại cho mẹ già, đi biền biệt. Người ấy là mẹ tôi, tôi chưa biết mặt mẹ bao giờ! Suốt những năm tháng hiện diện ở bên bà, tôi ít khi thấy bà tôi cười, hay đúng hơn là chưa bao giờ thấy bà tôi cười dù chỉ khe khẽ. Và tôi như nhánh mạ non mọc trên cánh đồng bà ngoại, cánh đồng ấy là vô cùng. Tôi cũng ít cười, ít khóc. Tôi là cái gì thì lẳng lặng làm theo ý mình. Làm xong rồi mới nhớ đến việc phải hỏi bà: "Bà thấy cháu làm cái này, (hay cái kia) thế nào? Có được không?". Những lúc ấy bà im lặng gật đầu và nhìn đi đâu. Hay cũng có khi bà mải vào bếp, dáng đi lệch đầy vẻ cam chịu, mà quên cả câu trả lời dành cho tôi. Mấy hôm nay con mèo cái gì có bộ lông màu xám tro bỏ đi đâu, không thấy về nhà. Bà tôi vẫn ngồi ở bậc thềm, nhìn vào khoảng không hun hút trước mặt. Trời không nắng, nhưng hưng hửng hơn một chút. Tôi không có con mèo để ôm nó vào lòng vuốt ve như mọi bữa, quay ra bẻ cọng rơm chổi nghịch đĩa cơm bà để phần nhỡ nó có về thì ăn. Nghịch chán, tôi ngồi tì tay lên má nhìn đàn kiến đen hành quân. Lũ kiến thì nhỏ nhoi nhưng hạt cơm thì kềnh càng, thế mà chúng cũng tha cho được. Tôi nghĩ vớ vẩn, bây giờ cho tôi cái giò mà to hơn người tôi một chút, không biết tôi có tha nổi không? Nhưng rồi tôi lại nghĩ đến những người thợ thuyền. Nghĩ đến bà. Nỗi buồn bà mang làm gì có ranh giới. Rồi tôi lại lắc đầu. Chịu, không sao lý giải nổi. Đêm. Trời nổi gió, nhưng mà không mưa. Tôi nằm bên bà, mắt thao láo nhìn lên những kèo, cột, giằng nhà. Bà hờ hững phe phẩy cái quạt nan, chẳng vào đâu, tôi không được mát, bà cũng không được mát! Chợt có tiếng động trên mái, tôi tập trung nhìn lên đó nhưng không thấy gì. Rồi có tiếng của con mèo già nhà tôi với tiếng của những con mèo lạ. Chúng chạy rầm rập trên mái, gào lên gọi nhau bằng những âm thanh nghe ghê rợn. Tôi dựng tóc gáy nép sát vào bên bà. Tôi nhớ ngày xưa đã có lần bà giải thích cho tôi rằng, mùa này là mùa lũ mèo tìm nhau. Loài mèo thuỷ chung lắm! Nhưng nghe tiếng kêu của chúng, tôi vẫn sợ. Tôi im lặng, nem nép, mắt mở trừng trừng. Chợt tôi nghe tiếng bà thở dài. Giữa lúc tiếng con mèo đực nào đó với tiếng con mèo cái già nhà tôi đáp lại nhau. Sau đó thì lặng im, chúng bỏ đi đâu mất... Qua thời gian đấy, con mèo cái già trở về nhà. Nó nằm trên bậc thêm sưởi nắng. Tôi thấy người nó to hơn, và có vẻ nặng nề, bữa ăn không hết đĩa cơm. Nó trở nên lười biếng, chỉ suốt ngày cuộn mình nằm ngủ. Bà tôi ngồi tựa cửa, nhìn sang nó, thở dài. Tôi không biết bà đang nghĩ gì, chắc vẫn chỉ có thế thôi! Có tin của cô tôi ở tỉnh nào đấy xa xạ Một buổi chiều, ông bưu điện tìm đến đưa cho bà tôi cái phong bì màu xanh xanh hồng hồng, thơm thơm mùi nước hoa. Tôi cầm nó xăm xoi. Từ bé tôi mới nhìn thấy cái phong bì đẹp như thế, cứ y như... Tây. Tối, ông Hân sang chơi, bà tôi đưa cái thư cho ông đọc. Đọc xong ông Hân với bà tôi ngồi nói chuyện, tôi nằm ê a hát mấy bài hát trẻ con cũ rích, và ngủ quên từ lúc nào. Hôm sau ông Hân đi đâu đấy, không ở nhà. Ba hôm sau nữa... Cho đến lúc trời xâm xẩm tối, ông Hân đeo lỉnh kỉnh những cái túi ở đâu đó về thẳng nhà tôi. Uống ngụm nước bà tôi đưa, còn dở dang, ông Hân đứng lên dốc ngược mấy cái túi, các thứ lăn ra giường. Tôi ngạc nhiên giương mắt nhìn. Ông Hân cầm con búp bê tóc vàng: "Con búp bê này, dì Mân gửi cho cháu. Cầm lấy mà chơi!". Tôi ôm em bé búp bê, ngỡ như là trong tưởng tượng. Lần đầu tiên, tôi thấy bà tôi cười. Ông Hân phá bụi mây ngăn giữa hai nhà, tôi chạy loăng quăng như con loi choi mà ngồi chơi với em bé búp bê của mình: "Cháu sẽ gọi là ông ngoại". Ông Hân nghỉ tay vào thềm ngồi hút thuốc, bà tôi ngồi bên cạnh rót nước chè cho ông. Tôi nghĩ, ông Hân như cái cột lắp cánh cửa sắp rơi ra của nhà tôi, là chỗ cho bà tôi tựa. Năm ấy tôi mười tuổi. Năm ấy con mèo cái già có bộ lông màu xám tro đẻ được ba con. Hai con khoang và một con tam thể. Năm ấy bầy chim lại tìm về làm tổ, hót vang ở khu vườn Hết Mục lục Bờ Mưa Bờ Mưa Phạm Sông HồngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.SBC sưu tầm Nguồn: SBCĐược bạn: đưa lên vào ngày: 10 tháng 7 năm 2005
Pham Song Hong Rainy Coast That year, the birds did not come to nest in the garden. My grandmother sat on the steps, looking into the empty space before her eyes. The weather was neither rainy nor sunny, a leaden gray. I don't know what my grandmother was thinking, but she was definitely thinking. Sitting like that, her back was still leaning against the old door, half absentmindedly, half as if she considered the door a fulcrum. That's right, the door was her fulcrum. She sat like that for a long time, day after day, year after year. She leaned against the sound of the beetles' teeth, seemingly remembering the past days more than thinking about tomorrow. I held the old female cat with gray fur in my arms and caressed it. It seemed to be tired from its old age without playing with my rough hands, its mustache only slightly moving. It closed its eyes. I think his attitude is very similar to my grandmother's. Compared to cats, it is also old, it is also an old cat. When you get old, you get tired. Probably right now in my hands, it is also thinking, thinking like a cat. Only heaven knows what it thinks (maybe cats know?). But I thought to myself, maybe he is like my grandmother, that is, he is nostalgic for the past? My childhood is a series of nameless days. It's just quiet, nothing exciting. I have been with my grandmother since I was a child. In the past, Aunt Man also lived with her grandmother, but for some reason, Aunt Man lost her mind and left home a long time ago. Go, then don't come back from there. And there's no news, I don't know if he's alive or dead. Occasionally, when I innocently mention something as is normal, my grandmother sheds tears. Mr. Han, my neighbor, said: "My grandmother lost her two eldest brothers and children in the war. She also lost her mother, and now she has lost her daughter right in the middle of peacetime...". Mr. Han said so and then went home. But he awakened in me the image of a woman leaving her child with her elderly mother and going away. That person is my mother, I have never known her before! During the years I was with her, I rarely saw her smile, or rather, I never saw her smile even slightly. And I am like a young seedling growing in my grandmother's field, that field is infinite. I also laugh less and cry less. Whatever I am, I quietly do what I want. After finishing it, I remembered to ask her: "How do you think I did this, (or that)? Is it okay?". At those times, she silently nodded and looked away. Or maybe she was so busy in the kitchen, her gait was skewed and full of resignation, that she forgot to answer me. These past few days, a cat with ash-gray fur has gone nowhere and has never come home. My grandmother was still sitting on the steps, looking into the empty space in front of her. It's not sunny, but a little more cheerful. I don't have a cat to hold it in my arms and caress it like every other day. I turn to break the broom straw and play with my grandmother's rice plate so that if it comes back, I can eat it. Bored with playing, I sat with my hand on my cheek and watched the black ants march. The ants are small but the grain of rice is bulky, yet they tolerate it. I thought nonsense, now give me a leg that's a little bigger than my body, I wonder if I can handle it? But then I thought about the boatmen. Think of her. The sadness she feels has no boundaries. Then I shook my head again. I'm sorry, I can't explain it. Night. It was windy, but not raining. I lay next to her, my eyes restlessly looking up at the rafters, columns, and braces of the house. She nonchalantly waved her bamboo fan, it didn't work, I couldn't stay cool, she couldn't stay cool either! Suddenly there was a noise on the roof, I focused my eyes on it but didn't see anything. Then there was the sound of my old cat and the sounds of strange cats. They ran loudly on the roof, screaming for each other with terrifying sounds. My hair stood up and I leaned close to her. I remember a time when my grandmother explained to me that this season is the season when cats find each other. Cats are very loyal! But hearing their screams, I'm still scared. I was silent, curled up, eyes wide open. Suddenly I heard her sigh. While the sound of a certain male cat and the sound of my old female cat responded to each other. After that, it was quiet, they went away... After that time, the old female cat returned home. It is located on additional sun-heated steps. I saw that his body was bigger, and seemed heavy, the meal didn't finish the entire plate of rice. It became lazy and just curled up and slept all day. My grandmother sat against the door, looked over at it, and sighed. I don't know what she's thinking, it's probably just that! There was news from my aunt in a certain province far away. One afternoon, the postman came to give my grandmother a blue-green, pink-pink envelope, fragrant with perfume. I held it and examined it. Since I was a child, I have only seen such a beautiful envelope, just like... Western. That evening, Mr. Han came to visit and my grandmother gave him a letter to read. After reading, Mr. Han and my grandmother sat and talked, I lay down and sang some old children's songs, and at some point fell asleep. The next day, Mr. Han went somewhere, not at home. Three days later... Until it was dark, Mr. Han carried bags from somewhere and came straight to my house. Taking a sip of water that my grandmother gave him, unfinished, Mr. Han stood up, turned the bags upside down, and rolled everything onto the bed. I looked up in surprise. Mr. Han held the blonde doll: "This doll, Aunt Man sent me. Take it and play!". I held the baby doll, as if in my imagination. For the first time, I saw my grandmother smile. Mr. Han broke through the rattan bushes between the two houses, and I ran around like a game playing with my baby doll: "I'll call you grandpa." Mr. Han rested on the porch and sat smoking, while my grandmother sat next to him and poured tea for him. I think, Mr. Han is like a pillar that holds the door of my house that is about to fall off, a place for my grandmother to lean on. I was ten years old that year. That year, an old female cat with ash-gray fur gave birth to three kittens. Two dragons and one calico. That year, the birds returned to nest and sing loudly in the Tot garden Table of contents Rainy Coast Rainy Coast Pham Song HongWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Collected by SBC Source: SBC Uploaded by friend: July 10, 2005
Dương Duy Ngữ Bụi đường T ôi đặc biệt nhớ cái lần một phụ nữ lớn tuổi, gầy xanh, mặc chiếc áo bà ba cũ kỹ, bạc phếch, gánh đôi rổ cam đầy đi bán dạo dọc theo hè phố! Thấy chú “mặt sắt” dẹp đường, chị sợ cuống quýt, gánh cam chạy. Đôi sọt cam va đập vào người này kẻ kia, cam rơi lổng chổng xuống mặt đường. Có người vô ý dẫm lên, đá rơi. Thường ngày, tôi vẫn đi đi về về trên đoạn đường phố khoảng chục cây số từ nhà đến cơ quan. Nếu đường thông, xe gắn máy giữ đều ga phóng vè vè thì hẳn chẳng có chuyện gì để nói. Đằng này, đoạn đường tôi đi lại có đến mấy cái nút giao thông. Bất kỳ lúc nào cũng có thể tắc đường. Nhất là vào những giờ cao điểm như bảy, tám giờ sáng, bốn năm giờ chiều. Tức là lúc người ta đi và về. Xe ôtô, xe gắn máy, xe đạp ken dày vào nhau như nêm cối, kéo dài vài kilômét. Mùi xăng, mùi khói, mùi bụi, mùi mồ hôi người quện vào, bốc lên có thể nói là đặc quánh, ngùn ngụt. Nhất là quãng bốn rưỡi năm giờ chiều mùa hè, không hề có bóng cây bóng phố. Cái nắng xiên khoai cứ gọi là rát ràn rạt. Ai nấy mồ hôi đổ ra như tắm. Vào những lúc tắc đường ấy, tôi thường để ý đến hiện tượng, nguyên nhân gây ra tắc đường và người tháo gỡ, một chú cảnh sát mặc cảnh phục vàng màu lúa chín. Chú ta cao cao, gầy gầy, nước da đen sạm, bởi chú xông xáo, kiên quyết và đôi khi nổi nóng, cầm dùi cui dọa những kẻ ương bướng mà chú nhắc đến khản giọng không được. Khổ nhất là cái nạn mấy ông lái xe to, xe bé vượt ẩu, đối đầu, chen chúc nhau gây ùn tắc. Cái lúc ấy tôi thấy tiến cũng khó, lùi cũng khó vì ken dày xung quanh những ôtô to, ôtô bé ấy là trùng trùng lớp lớp những chiếc xe đạp, xe máy, xe thồ với đôi sọt cồng kềnh. Và thế là chú công an “mặt sắt” như người ta gọi, vừa nhắc nhở, vừa thổi còi gắt đến chói tai, nhắc những kẻ ngang ngạnh, bảo họ phải tiến, phải lùi, phải ép vào bên phải hay bên trái để mở thông một luồng đường. Lẽ dĩ nhiên, lúc tắc đường, dẹp đường đó, có nhiều nhiều anh cảnh sát giao thông lắm chứ đâu chỉ có mình chú. Nhưng vì chú ta có cái dáng cao cao, gầy gầy, với gương mặt có phần hốc hác sạm đen như tôi vừa tả nên mọi người dễ nhớ. Tôi cũng a dua theo họ, gọi chú là anh “mặt sắt”, anh khắc tinh của những kẻ tham gia giao thông làm điều sai trái. Cũng bởi nhớ anh nên tôi hay để ý đến anh. Có những hôm, trời mưa nặng hạt và dai trận. Nếu tôi không đội mũ bảo hiểm thì những giọt mưa quất vào mặt rát như roi quất, như phải bỏng. Dẫu vậy, tôi chỉ mất có hăm nhăm ba mươi phút trên đường. Còn cái chú công an “mặt sắt” ấy vẫn đứng lừng lững ở ngã tư đường phố. Xe tôi phóng lướt qua trước mặt chú và tôi không quên liếc mắt nhìn chú. Chú ta có vẻ lạnh. Gương mặt xám bợt bạt, võ vàng, những đầu ngón tay thâm đen lại. Tôi bâng khuâng tự hỏi, chú ta đứng như thế giữa trời lạnh bao nhiêu lâu nhỉ? Chẳng nhẽ cả ca trực của chú ta cả tám tiếng đồng hồ. Vậy là nếu mưa cả ngày thì chú ta hưởng trọn cái ướt át, cái lạnh giá cả tám tiếng đồng hồ. Còn trời nắng? Dĩ nhiên chú ta cũng cứ đứng như thế cả ca trực giữa thanh thiên, giữa cái nắng hè như đổ lửa xung quanh. Lửa từ trên trời giội xuống, lửa từ mặt đường nhựa bốc lên. Tôi cảm thấy thông cảm với chú ta và thương thương chú. Tôi tự hỏi, chú ta ăn gì cho lại nhỉ? Tự dưng, hình ảnh những chú công an thường đứng gác ở góc khuất chỗ Nhà tròn phố Quán Thánh… để phạt những người vô ý và những kẻ cố tình vượt đèn đỏ và đi vào đường cấm, lu mờ hẳn trong tôi. Chính tôi cũng bị phạt một lần. Nào tôi có vượt đèn đỏ, có đi trái đường cho cam. Tôi đi đến cái vạch dành cho phần đường người đi bộ sang đường thì đèn vàng bật sáng. Đáng lẽ tôi cứ theo người ta phóng xe vù vù thì vẫn đúng luật, thì chẳng có sao. Nhưng khốn khổ cho tôi, tôi đã vội vàng phanh xe, giảm ga dừng lại. Tôi sợ đèn đỏ bật lên. Chợt tôi nghe có tiếng còi tin tít tin tít, rúc lên, gắt gỏng. Một chú cảnh sát trẻ măng, gương mặt bầu bầu tưởng như búng ra sữa bước tới, cầm dùi cui ra hiệu cho tôi dắt xe qua đường Tôn Đức Thắng, đẩy lên cái bờ hè trước cửa đồn cảnh sát. Chú đứng nghiêm chào tôi ra vẻ lắm. Chú bảo tôi xuất trình giấy tờ. Cầm giấy sử dụng xe, bằng lái và thẻ mua bảo hiểm của tôi trên tay, chủ hỏi: - Bác có biết bác sai gì không? Tôi ngớ người. Quả thực tôi chưa nhận rõ cái sai của mình. Tuy vậy tôi vẫn nói: - Đồng chí đã gọi nhắc nhở thế này thì nhất định là tôi có sai rồi. Tuy vậy, sai thế nào thì tôi chưa rõ. - Xe của bác đỗ lấn vào phần đường người đi bộ. Sai nhỏ thôi. Nhưng lần sau bác phải chú ý. Tôi cảm ơn sự chỉ dẫn nghiêm khắc của chú. Chú vừa trả tôi tờ giấy vừa chỉ vào đồng chí đại úy đứng bên cạnh có gương mặt khó đăm đăm. - Bác cầm giấy tờ qua nói với sếp cháu một câu. Với bác cũng chả phải phạt đâu. Tôi bước qua bên trình giấy tờ với sếp cậu ta. Ai ngờ sếp chẳng nói chẳng rằng, đặt luôn mấy tờ hóa đơn lên yên xe máy của tôi ghi phạt bốn mươi ngàn đồng. Tôi sai thì tôi phải chịu phạt. Đó là lẽ thường tình. Nhưng lại không bình thường ở chỗ, tôi nói thế nào anh ta cũng không nghe, không trả lời. Mãi tới lúc ghi xong, anh ta mới bảo tôi ký và giật ra một tờ biên bản đưa cho tôi, nói: - Bác về kho bạc phố Nguyễn Trãi nộp phạt rồi lấy giấy tờ. Tôi giãy nảy lên. Tôi tưởng được nộp tiền tại chỗ, nộp luôn tức khắc chứ phải vượt cầu sông Tô đến tận kho bạc phố Nguyễn Trãi thì thật nhiêu khê quá. Nhưng biết làm thế nào. Biết kêu ai. Nói với ai? Anh ta đã gạt tôi ra khỏi chương trình “nghị sự” để làm việc khác rồi… ấy vậy mà cứ nhìn thấy chú công an “mặt sắt” với đôi mắt sâu trũng, có phần hốc hác trên đoạn đường tôi đi làm thường ngày, tôi lại thấy nao lòng. Liệu có phải giữa tôi và anh cùng có chung một tần số từ trường sinh học nào khiến tôi “phải lòng” anh không? Tôi thì tôi chả có tin vào việc có chung từ trường sinh học sinh hiếc gì cả. Tôi chỉ thấy thông cảm với anh, có lẽ tôi chẳng thể chịu nổi vài giờ dưới cái nắng lửa, cái bụi bặm, ngột ngạt của mùa hè. Lại phải chạy suốt chặng đường chín mười cây số phố phường ấy đâu chỉ có mỗi một chú công an “mặt sắt” ấy? Chắc chắn không. Chú ta chỉ là một người trong số rất đông người. Chỉ một ca trực trong rất nhiều ca trực. Nhưng bởi chú ta có gương mặt, có vóc dáng khác hơn nên tôi cứ bị ám ảnh. Tôi đặc biệt nhớ cái lần một phụ nữ lớn tuổi, gầy xanh, mặc chiếc áo bà ba cũ kỹ, bạc phếch, gánh đôi rổ cam đầy đi bán dạo dọc theo hè phố! Thấy chú “mặt sắt” dẹp đường, chị sợ cuống quýt, gánh cam chạy. Đôi sọt cam va đập vào người này kẻ kia, cam rơi lổng chổng xuống mặt đường. Có người vô ý dẫm lên, đá rơi. Tôi thật không ngờ chú công an “mặt sắt” ấy lại rất tình cảm. Chú bảo: “Chị đi từ từ thôi”. Vừa nói chú vừa cúi xuống nhặt những quả cam rơi cho chị và quát mấy cậu thanh niên cố ý cho xe máy chèn qua hay dẵm đạp lên những quả cam… Thấy tôi chăm chú nhìn, chú có vẻ ngượng, nói như để thanh minh: - Về lý thì phải nghiêm, giữ cho hè thông đường thoáng. Nhưng về tình thì thương lắm. Họ là người nghèo. Rất nghèo. Biết đâu họ chả ở chỗ có người thân phải chạy thận nhân tạo. Bẵng đi một thời gian lâu lâu, tôi bỗng nhận ra thiếu vắng chú ta. Đã có câu: “Vắng cô thì chợ vẫn đông…”. Nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn thấy chợ không vui. Cái người mình thật lạ. Hễ chỗ nào có cảnh sát áo vàng đứng là y như đi đứng, y như tham gia mọi phương tiện giao thông đều tốt hơn hẳn, kỷ luật, trật tự hơn hẳn. Nhất là ca trực của những người nghiêm khắc thì rõ ràng kỷ luật giao thông cũng theo “nhiệt độ” của anh cảnh sát mà tiến bộ đến vượt trội. Nếu không có? Đèn đỏ vẫn đi bừa. Vẫn đánh võng, vẫn lạng lách, khiến tôi bị nhiều phen thất thần, hú vía! Một buổi, tôi đi làm về sớm. Nhân lúc vắng người, tôi tạt xe vào bên đường, nơi chú công an “mặt sắt” tay cầm còi, tay cầm dùi cui đứng trực. Tôi sinh tính lẩn mẩn, hỏi thăm một chú còn trẻ, nước da còn “bạch diện thư sinh” lắm. Chú ta nhìn tôi từ đầu chí chân làm như tôi là vật lạ, là người của hành tinh khác: - Bác là người nhà anh ấy? - Không. - Người quen? - Không? - Vậy bác hỏi có việc gì không? - Là tôi thấy vắng chú ấy lâu nay. - à, tưởng gì? Bác đến Viện Lao Trung ương, hỏi khoa… Tôi thoáng giật mình, không còn tin ở tai mình, hỏi lại: - Chú nói sao? - Chúng cháu hút bụi đường nhiều quá. Bị lao bác ạ! Tôi sững sờ hỏi lại: - Sao lại thế? - Bác không biết đấy. Cảnh sát giao thông chúng cháu đến bảy tám mươi phần trăm bị bệnh phổi. - Lại thế nữa? Tôi hỏi lại và bâng khuâng như vừa mất mát một cái gì! Mục lục Bụi đường Bụi đường Dương Duy NgữChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: VNCAĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 6 tháng 12 năm 2006
Dương Duy Ngữ Bụi đường T ôi đặc biệt nhớ cái lần một phụ nữ lớn tuổi, gầy xanh, mặc chiếc áo bà ba cũ kỹ, bạc phếch, gánh đôi rổ cam đầy đi bán dạo dọc theo hè phố! Thấy chú “mặt sắt” dẹp đường, chị sợ cuống quýt, gánh cam chạy. Đôi sọt cam va đập vào người này kẻ kia, cam rơi lổng chổng xuống mặt đường. Có người vô ý dẫm lên, đá rơi. Thường ngày, tôi vẫn đi đi về về trên đoạn đường phố khoảng chục cây số từ nhà đến cơ quan. Nếu đường thông, xe gắn máy giữ đều ga phóng vè vè thì hẳn chẳng có chuyện gì để nói. Đằng này, đoạn đường tôi đi lại có đến mấy cái nút giao thông. Bất kỳ lúc nào cũng có thể tắc đường. Nhất là vào những giờ cao điểm như bảy, tám giờ sáng, bốn năm giờ chiều. Tức là lúc người ta đi và về. Xe ôtô, xe gắn máy, xe đạp ken dày vào nhau như nêm cối, kéo dài vài kilômét. Mùi xăng, mùi khói, mùi bụi, mùi mồ hôi người quện vào, bốc lên có thể nói là đặc quánh, ngùn ngụt. Nhất là quãng bốn rưỡi năm giờ chiều mùa hè, không hề có bóng cây bóng phố. Cái nắng xiên khoai cứ gọi là rát ràn rạt. Ai nấy mồ hôi đổ ra như tắm. Vào những lúc tắc đường ấy, tôi thường để ý đến hiện tượng, nguyên nhân gây ra tắc đường và người tháo gỡ, một chú cảnh sát mặc cảnh phục vàng màu lúa chín. Chú ta cao cao, gầy gầy, nước da đen sạm, bởi chú xông xáo, kiên quyết và đôi khi nổi nóng, cầm dùi cui dọa những kẻ ương bướng mà chú nhắc đến khản giọng không được. Khổ nhất là cái nạn mấy ông lái xe to, xe bé vượt ẩu, đối đầu, chen chúc nhau gây ùn tắc. Cái lúc ấy tôi thấy tiến cũng khó, lùi cũng khó vì ken dày xung quanh những ôtô to, ôtô bé ấy là trùng trùng lớp lớp những chiếc xe đạp, xe máy, xe thồ với đôi sọt cồng kềnh. Và thế là chú công an “mặt sắt” như người ta gọi, vừa nhắc nhở, vừa thổi còi gắt đến chói tai, nhắc những kẻ ngang ngạnh, bảo họ phải tiến, phải lùi, phải ép vào bên phải hay bên trái để mở thông một luồng đường. Lẽ dĩ nhiên, lúc tắc đường, dẹp đường đó, có nhiều nhiều anh cảnh sát giao thông lắm chứ đâu chỉ có mình chú. Nhưng vì chú ta có cái dáng cao cao, gầy gầy, với gương mặt có phần hốc hác sạm đen như tôi vừa tả nên mọi người dễ nhớ. Tôi cũng a dua theo họ, gọi chú là anh “mặt sắt”, anh khắc tinh của những kẻ tham gia giao thông làm điều sai trái. Cũng bởi nhớ anh nên tôi hay để ý đến anh. Có những hôm, trời mưa nặng hạt và dai trận. Nếu tôi không đội mũ bảo hiểm thì những giọt mưa quất vào mặt rát như roi quất, như phải bỏng. Dẫu vậy, tôi chỉ mất có hăm nhăm ba mươi phút trên đường. Còn cái chú công an “mặt sắt” ấy vẫn đứng lừng lững ở ngã tư đường phố. Xe tôi phóng lướt qua trước mặt chú và tôi không quên liếc mắt nhìn chú. Chú ta có vẻ lạnh. Gương mặt xám bợt bạt, võ vàng, những đầu ngón tay thâm đen lại. Tôi bâng khuâng tự hỏi, chú ta đứng như thế giữa trời lạnh bao nhiêu lâu nhỉ? Chẳng nhẽ cả ca trực của chú ta cả tám tiếng đồng hồ. Vậy là nếu mưa cả ngày thì chú ta hưởng trọn cái ướt át, cái lạnh giá cả tám tiếng đồng hồ. Còn trời nắng? Dĩ nhiên chú ta cũng cứ đứng như thế cả ca trực giữa thanh thiên, giữa cái nắng hè như đổ lửa xung quanh. Lửa từ trên trời giội xuống, lửa từ mặt đường nhựa bốc lên. Tôi cảm thấy thông cảm với chú ta và thương thương chú. Tôi tự hỏi, chú ta ăn gì cho lại nhỉ? Tự dưng, hình ảnh những chú công an thường đứng gác ở góc khuất chỗ Nhà tròn phố Quán Thánh… để phạt những người vô ý và những kẻ cố tình vượt đèn đỏ và đi vào đường cấm, lu mờ hẳn trong tôi. Chính tôi cũng bị phạt một lần. Nào tôi có vượt đèn đỏ, có đi trái đường cho cam. Tôi đi đến cái vạch dành cho phần đường người đi bộ sang đường thì đèn vàng bật sáng. Đáng lẽ tôi cứ theo người ta phóng xe vù vù thì vẫn đúng luật, thì chẳng có sao. Nhưng khốn khổ cho tôi, tôi đã vội vàng phanh xe, giảm ga dừng lại. Tôi sợ đèn đỏ bật lên. Chợt tôi nghe có tiếng còi tin tít tin tít, rúc lên, gắt gỏng. Một chú cảnh sát trẻ măng, gương mặt bầu bầu tưởng như búng ra sữa bước tới, cầm dùi cui ra hiệu cho tôi dắt xe qua đường Tôn Đức Thắng, đẩy lên cái bờ hè trước cửa đồn cảnh sát. Chú đứng nghiêm chào tôi ra vẻ lắm. Chú bảo tôi xuất trình giấy tờ. Cầm giấy sử dụng xe, bằng lái và thẻ mua bảo hiểm của tôi trên tay, chủ hỏi: - Bác có biết bác sai gì không? Tôi ngớ người. Quả thực tôi chưa nhận rõ cái sai của mình. Tuy vậy tôi vẫn nói: - Đồng chí đã gọi nhắc nhở thế này thì nhất định là tôi có sai rồi. Tuy vậy, sai thế nào thì tôi chưa rõ. - Xe của bác đỗ lấn vào phần đường người đi bộ. Sai nhỏ thôi. Nhưng lần sau bác phải chú ý. Tôi cảm ơn sự chỉ dẫn nghiêm khắc của chú. Chú vừa trả tôi tờ giấy vừa chỉ vào đồng chí đại úy đứng bên cạnh có gương mặt khó đăm đăm. - Bác cầm giấy tờ qua nói với sếp cháu một câu. Với bác cũng chả phải phạt đâu. Tôi bước qua bên trình giấy tờ với sếp cậu ta. Ai ngờ sếp chẳng nói chẳng rằng, đặt luôn mấy tờ hóa đơn lên yên xe máy của tôi ghi phạt bốn mươi ngàn đồng. Tôi sai thì tôi phải chịu phạt. Đó là lẽ thường tình. Nhưng lại không bình thường ở chỗ, tôi nói thế nào anh ta cũng không nghe, không trả lời. Mãi tới lúc ghi xong, anh ta mới bảo tôi ký và giật ra một tờ biên bản đưa cho tôi, nói: - Bác về kho bạc phố Nguyễn Trãi nộp phạt rồi lấy giấy tờ. Tôi giãy nảy lên. Tôi tưởng được nộp tiền tại chỗ, nộp luôn tức khắc chứ phải vượt cầu sông Tô đến tận kho bạc phố Nguyễn Trãi thì thật nhiêu khê quá. Nhưng biết làm thế nào. Biết kêu ai. Nói với ai? Anh ta đã gạt tôi ra khỏi chương trình “nghị sự” để làm việc khác rồi… ấy vậy mà cứ nhìn thấy chú công an “mặt sắt” với đôi mắt sâu trũng, có phần hốc hác trên đoạn đường tôi đi làm thường ngày, tôi lại thấy nao lòng. Liệu có phải giữa tôi và anh cùng có chung một tần số từ trường sinh học nào khiến tôi “phải lòng” anh không? Tôi thì tôi chả có tin vào việc có chung từ trường sinh học sinh hiếc gì cả. Tôi chỉ thấy thông cảm với anh, có lẽ tôi chẳng thể chịu nổi vài giờ dưới cái nắng lửa, cái bụi bặm, ngột ngạt của mùa hè. Lại phải chạy suốt chặng đường chín mười cây số phố phường ấy đâu chỉ có mỗi một chú công an “mặt sắt” ấy? Chắc chắn không. Chú ta chỉ là một người trong số rất đông người. Chỉ một ca trực trong rất nhiều ca trực. Nhưng bởi chú ta có gương mặt, có vóc dáng khác hơn nên tôi cứ bị ám ảnh. Tôi đặc biệt nhớ cái lần một phụ nữ lớn tuổi, gầy xanh, mặc chiếc áo bà ba cũ kỹ, bạc phếch, gánh đôi rổ cam đầy đi bán dạo dọc theo hè phố! Thấy chú “mặt sắt” dẹp đường, chị sợ cuống quýt, gánh cam chạy. Đôi sọt cam va đập vào người này kẻ kia, cam rơi lổng chổng xuống mặt đường. Có người vô ý dẫm lên, đá rơi. Tôi thật không ngờ chú công an “mặt sắt” ấy lại rất tình cảm. Chú bảo: “Chị đi từ từ thôi”. Vừa nói chú vừa cúi xuống nhặt những quả cam rơi cho chị và quát mấy cậu thanh niên cố ý cho xe máy chèn qua hay dẵm đạp lên những quả cam… Thấy tôi chăm chú nhìn, chú có vẻ ngượng, nói như để thanh minh: - Về lý thì phải nghiêm, giữ cho hè thông đường thoáng. Nhưng về tình thì thương lắm. Họ là người nghèo. Rất nghèo. Biết đâu họ chả ở chỗ có người thân phải chạy thận nhân tạo. Bẵng đi một thời gian lâu lâu, tôi bỗng nhận ra thiếu vắng chú ta. Đã có câu: “Vắng cô thì chợ vẫn đông…”. Nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn thấy chợ không vui. Cái người mình thật lạ. Hễ chỗ nào có cảnh sát áo vàng đứng là y như đi đứng, y như tham gia mọi phương tiện giao thông đều tốt hơn hẳn, kỷ luật, trật tự hơn hẳn. Nhất là ca trực của những người nghiêm khắc thì rõ ràng kỷ luật giao thông cũng theo “nhiệt độ” của anh cảnh sát mà tiến bộ đến vượt trội. Nếu không có? Đèn đỏ vẫn đi bừa. Vẫn đánh võng, vẫn lạng lách, khiến tôi bị nhiều phen thất thần, hú vía! Một buổi, tôi đi làm về sớm. Nhân lúc vắng người, tôi tạt xe vào bên đường, nơi chú công an “mặt sắt” tay cầm còi, tay cầm dùi cui đứng trực. Tôi sinh tính lẩn mẩn, hỏi thăm một chú còn trẻ, nước da còn “bạch diện thư sinh” lắm. Chú ta nhìn tôi từ đầu chí chân làm như tôi là vật lạ, là người của hành tinh khác: - Bác là người nhà anh ấy? - Không. - Người quen? - Không? - Vậy bác hỏi có việc gì không? - Là tôi thấy vắng chú ấy lâu nay. - à, tưởng gì? Bác đến Viện Lao Trung ương, hỏi khoa… Tôi thoáng giật mình, không còn tin ở tai mình, hỏi lại: - Chú nói sao? - Chúng cháu hút bụi đường nhiều quá. Bị lao bác ạ! Tôi sững sờ hỏi lại: - Sao lại thế? - Bác không biết đấy. Cảnh sát giao thông chúng cháu đến bảy tám mươi phần trăm bị bệnh phổi. - Lại thế nữa? Tôi hỏi lại và bâng khuâng như vừa mất mát một cái gì! Mục lục Bụi đường Bụi đường Dương Duy NgữChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: VNCAĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 6 tháng 12 năm 2006
Vũ Trọng Phụng Bụng Trẻ Con -Chết, những 2 hào kia ? Thôi, thế thì đưa đây rồi cô đi mua cho gói kẹo bạc hà, cô cháu ta cùng ăn, nhé ? Liên ?... -Cháu chả... Liên, một đứa trẻ lên năm, hai má phúng phính, ai trông cũng muốn ôm, hai hàm răng hơi sún, lắc đầu 1 cái rồi lôi cái tà áo mầu lá táo lên mồm.-Hay là cô vay rồi mai cô trả thành bốn vậy ?Liên đưa đôi mắt ngây thơ lên nhìn cô, nghi hoặc, rồi, khi thấy cô nhìn mình mà cười một cách tinh quái, liền bỏ ngay tay vào túi giữ chặt hai hào, lại nguẩy một cái:-Cháu chả!... Bà cụ đầu đã bạc phơ, ngồi trên ghế khuỳnh tay ngắm nghía cháu, đến bây giờ giơ tay ra gọi:-Thôi, cô cứ trêu mãi thế, ra đây với bà.Tức khắc Liên lon ton chạy lại, suýt nữa văng mất cả đôi giầy mang cá dài vừa bằng một ngón taỵ Liên ôm lấy bà, ngửa cổ ra cười, nũng nịu... Bà bế cháu lên lòng, hôn hít, xoa đầu rồi hỏi:-Thế hai hào này thì con để làm gì, hở Liên ?Liên sẽ để hai hào làm gì ?... Biết nói thế nào ?Không, Liên suy nghĩ đã.Một bận không hiểu vào ngày nào, đã từ lâu, Liên không còn nhớ nữa, thằng nhỏ đi chợ về, ngoài việc bỏ ở rổ ra: thịt, trứng, rau và đậu, nó lại để xuống đất một cái ống tre dài dài, xanh xanh. Liên hỏi, nó bảo đó là ống tiền. Ống tiền ? Nghe thế, Liên tưởng trong ống có tiền, liền cầm vào tay lắc mấy cái. Không thấy gì, Liên giương tròn đôi mắt: "Chỉ dối! Nào tiền ở đâu ?" Thằng nhỏ ngửa cổ ra cười vang một gian nhà bếp rồi nói: "Chị rõ... Ống tiền để mà bỏ tiền vào, chị nghe ra chưa ?"Liên vẫn không tin, lại hỏi:-Chỉ dối!... Thế sao mợ không phải mua ống tre ? Sao mợ chỉ bỏ tiền vào hòm ?-Mợ có nhiều tiền nên không phải bỏ vào ống tre... -Nhỏ cũng có hòm, sao không bỏ vào hòm mà phải mua ống tre ?Thằng nhỏ gãi đầu, không biết đáp thế nào, phải làm một câu:-Thưa chị, tôi sợ cứ ăn quà cả ngày như chị thì hết mất nên tôi phải mua ống tre để dành.Liên quay gót ra, ngẫm nghĩ... Chị Thoa bên cạnh có một con búp-bê hai hào. Ngày ngày chị Thoa ra cửa, ẵm búp-bê vào lòng kêu là: ru em. Rồi chị Thoa được bà Tham, mợ chị Thoa, may cho búp-bê một cái áo xinh xinh bằng lụa đỏ. Liên trông thấy Thoa có búp-bê thèm quá, cũng muốn có, liền hỏi:Đẹp nhỉ... Mấy xu ?Thoa cong môi lên, nguẩy một cái:-Mấy xu ngay!... Của người ta mua những hai hào!Liên về bảo mợ, mợ cười và bảo cứ ngoan ngoãn đừng đòi ăn quà cả ngày rồi mợ sẽ mua chọ Đến hôm cùng đi với mợ ra hiệu để mợ mua thuốc đánh răng với bít tất cho cậu, thấy bên trong tủ kính không biết bao nhiêu là búp-bê giống Thoa, Liên, trống ngực đánh thình thình, chờ mợ mua mọi thứ xong, đã sắp giật Liên ra, liền nhắc:-Mợ Ơi! Mợ mua cho con búp-bê đi nào... Mợ quên ngay lời hẹn từ hôm nào, quắc mắt:-Mua làm gì ?... Tiền đâu để mà phí thế ?Rồi mợ lôi xềnh xệch Liên ra,. Liên ứa nước mắt, quay lại nhìn cái tủ kính lần cuối cùng, trong lòng giận mợ quá đi mất.Hôm sau, Liên bảo bà:-Bà bảo thằng nhỏ mua cái ống tiền cho con... Bà cười, ôm Liên vào lòng khen Liên ngoan, hôn hít Liên mãi. Từ hôm ấy trở đi, mỗi buổi trưa lại cho thêm Liên một trinh để dành... Một hôm, hai cánh tay yếu ớt của Liên nhấc ống tiền lên đã thấy nặng, Liên nói với bà bảo thằng nhỏ bổ ống ra. Lưỡi con dao rựa vừa phang xuống, một núi trinh đã tung toé khắp nhà. Thằng nhỏ nhặt tiền, đếm, bảo là đúng hai hào, vì rằng có bốn mươi đồng trinh. Bỏ vào túi nặng xệ cả một bên áo, Liên lon ton ra khoe bà. Bà đếm tiền rồi bảo để thế rách mất áo, liền đưa ra hai đồng hào đổi cho Liên.Thế là cô chạy ra xui Liên mua kẹo! Không, Liên chả mua một lúc nhiều kẹo quá thế, ăn không hết lại để cô ăn dỗ mất cả ấy à ?... Không thấy cháu nói gì, bà cụ hỏi lại:-Thế nào, định để hai hào này làm gì, hở con ?Liên trù trừ mãi mới dám nói:-Bà bảo cậu cháu mua cho cháu con búp-bệ Để cháu ẵm như chị Thoa bên bà Tham, nhé bà nhé ?Bà gật đầu:-Ừ, thế nào bà cũng bảo cậu mua cho con.Rồi bà cụ nhìn ra chỗ khác, ngẫm nghĩ... Cái mẫu tính thiên nhiên của tạo vật đã "thức dậy" một cách hơi sớm trong óc đứa trẻ mới lên năm này.Không thấy bà hỏi gì nữa, Liên trụt xuống đất, ra cửa nhìn xem có chị Thoa chơi đấy không... Rồi Liên cũng có búp-bê, Rồi Liên sẽ xin mợ những mụn vải đỏ, tím, vàng, xanh, khối ra ở trong thúng của mợ, rồi Liên xin mợ cho Liên cái kim sẵn chỉ, cái kéo, cắt áo mặc cho búp-bê rồi ẵm vào lòng ru em cho mà xem! Liên chẳng còn sợ mỗi khi chưa động đến Thoa, Thoa đã cong ngay môi lên, giằng lại cái búp-bê Liên ẵm trong tay mà rằng:-Thôi, tao không chơi với mày nữa.o0oSau khi được mặc áo lam quần trắng, vào lúc chiều, đèn máy vừa mới bật, Liên được cậu dắt đi chơi phố để mua búp-bê và nhân thể xem rước đèn. Liên sung sướng quá, thích quá đi mất, lộp độp khua gót giầy mang cá kêu vang lên cũng như giầy tây của cậu: một tay nắm chặt hai hào bỏ trong túi, Liên đi với cậu nghênh ngang, tung tăng... Đông người quá, giá không đi với cậu chắc Liên lạc, sẽ bị chen ngã chết bẹp, nếu không có hai, ba con mẹ mìn... Tiếng guốc nhựa kêu vang lên với tiếng kèn tây, trống tây. Một giẫy lính cưỡi ngựa đi đầu rồi đến những cái đèn thiềm thừ, quả dưa, mặt trăng, ông sao rất nhiều và đẹp hơn của các đám rước sư tử... Lại có cả vô số những ông đội xếp Tây giắt xe đạp đi hai bên lề đường... Nhanh chân, cậu đã dắt Liên đứng được ở một chỗ ngay vệ hè, không có ai đứng trước mặt cả. Đằng sau, Liên, người ta xô nhau xem, tranh nhau chỗ, cãi nhau chí chóe.Trước mặt Liên không biết bao nhiêu là lính tây cưỡi trên lưng những con gì không biết, giống như ngựa, nhưng tai dài và to hơn. Liên vừa thích mắt, vừa sợ, mỗi khi thấy một con lăng quăng chực chồm lên hè, Liên nắm chặt lấy cậu cả hai taỵ Hết lượt những con ấy rồi, Liên buồn cười vì trong đám lính thổi kèn có một ông Tây đen ngửa bụng ra đeo một cái trống to hơn cái nia ở nhà ấy... Chợt thấy hình như có cái gì đụng vào bụng Liên, Liên nhìn xuống, thấy một cánh tay vừa ở túi áo có hào của Liên rút ra, tức thời nắm chặt lấy. Liên toan kêu to nhưng không biết nghĩ sao, chỉ quay lại, nghển cổ nhìn.Người bị Liên nắm chặt lấy tay, quần áo rách, mặt trông khổ sở cũng nhìn Liên bằng đôi mắt như những mắt của bọn ăn mày vẫn chìa tay xin van mợ vậy. nếu Liên kêu lên, người ấy không thể chạy thoát, sau lưng anh ta còn những bức tường người. Cậu của Liên ngay ấy, mấy ông đội xếp Tây đang đi đấy... Liên lừ mắt nhìn ngưo_`i ăn cắp, người ăn cắp cũng giương đôi mắt khốn khổ, kêu van đối lại, làm cho Liên nghĩ đến bao nhiêu kẻ ăn mày, rồi... buông tay ra.Đám rước đã đi sang phố khác, bọn người xem chạy xô nhau rào rào. Rồi người ăn cắp của Liên cũng thừa cơ cắm đầu chạy.Lúc bấy giờ cậu Liên mới nhìn xuống, thấy Liên ngơ ngác nhìn theo một người, liền hỏi:-Cái gì ? Hay là nó lấy mất tiền rồi phải không ?Liên gật một cái, cậu Liên hấp tấp vội hỏi:-Thế thằng nào??... Mau chỉ cho tao... Liên trỏ vu vơ:-Nó chạy vào đám đông kia rồi... Cậu Liên thừ người ra nhìn rồi mắng:Đồ ngu như chó!... Sao không bảo ngay tao ?... Thôi! còn đâu là búp-bê nữa!... Đáng kiếp!... Thôi đi về.Liên cúi đầu theo cậu về, không nói gì cả.Đến nhà, cậu Liên sôi lên sùng sục, mách với bà, với cô, với mợ, mách cả thằng nhỏ, và bảo:-Con này nó đần độn ngu dại quá đi mất!... Biết rõ đứa ăn cắp lại không bảo ngay mình, lại để nó chạy biến mất đi!... Lại chờ mình hỏi nó mơi nói!Bà không tin, kêu:-Nào chắc gì nó biết... Cậu cãi:-Khốn nạn, nếu nó không biết thì tôi còn nói làm gì... Nó lại biết thì nó mới khờ dại chứ!... Mợ bảo:-Thôi thế thì nhịn búp-bê... Đòi nữa thì gọi là chết đòn.Cô cũng thêm một câu:-Con bé thế, không ngờ mà ngu thế.Cậu lại bảo:-Gía nó bảo ngay thì thằng ăn cắp gọi là nhừ xương với tôi.Liên không nói gì cả, chỉ đứng im, cúi đầu.Sau cùng, bà ẵm Liên lên lòng và khẽ hỏi:-Thế sao con không kêu ngay lên cho cậu con biết ?Liên, mãi mới ngửng lên, hai mắt dơm dớm:-Thế ngộ người ấy hôm nay đã phải nhịn đói thì làm thế nào ?... Báo Loa, 22-3-1934 Mục lục Bụng Trẻ Con Bụng Trẻ Con Vũ Trọng PhụngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: DactrungĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Vũ Trọng Phụng Bụng Trẻ Con -Chết, những 2 hào kia ? Thôi, thế thì đưa đây rồi cô đi mua cho gói kẹo bạc hà, cô cháu ta cùng ăn, nhé ? Liên ?... -Cháu chả... Liên, một đứa trẻ lên năm, hai má phúng phính, ai trông cũng muốn ôm, hai hàm răng hơi sún, lắc đầu 1 cái rồi lôi cái tà áo mầu lá táo lên mồm.-Hay là cô vay rồi mai cô trả thành bốn vậy ?Liên đưa đôi mắt ngây thơ lên nhìn cô, nghi hoặc, rồi, khi thấy cô nhìn mình mà cười một cách tinh quái, liền bỏ ngay tay vào túi giữ chặt hai hào, lại nguẩy một cái:-Cháu chả!... Bà cụ đầu đã bạc phơ, ngồi trên ghế khuỳnh tay ngắm nghía cháu, đến bây giờ giơ tay ra gọi:-Thôi, cô cứ trêu mãi thế, ra đây với bà.Tức khắc Liên lon ton chạy lại, suýt nữa văng mất cả đôi giầy mang cá dài vừa bằng một ngón taỵ Liên ôm lấy bà, ngửa cổ ra cười, nũng nịu... Bà bế cháu lên lòng, hôn hít, xoa đầu rồi hỏi:-Thế hai hào này thì con để làm gì, hở Liên ?Liên sẽ để hai hào làm gì ?... Biết nói thế nào ?Không, Liên suy nghĩ đã.Một bận không hiểu vào ngày nào, đã từ lâu, Liên không còn nhớ nữa, thằng nhỏ đi chợ về, ngoài việc bỏ ở rổ ra: thịt, trứng, rau và đậu, nó lại để xuống đất một cái ống tre dài dài, xanh xanh. Liên hỏi, nó bảo đó là ống tiền. Ống tiền ? Nghe thế, Liên tưởng trong ống có tiền, liền cầm vào tay lắc mấy cái. Không thấy gì, Liên giương tròn đôi mắt: "Chỉ dối! Nào tiền ở đâu ?" Thằng nhỏ ngửa cổ ra cười vang một gian nhà bếp rồi nói: "Chị rõ... Ống tiền để mà bỏ tiền vào, chị nghe ra chưa ?"Liên vẫn không tin, lại hỏi:-Chỉ dối!... Thế sao mợ không phải mua ống tre ? Sao mợ chỉ bỏ tiền vào hòm ?-Mợ có nhiều tiền nên không phải bỏ vào ống tre... -Nhỏ cũng có hòm, sao không bỏ vào hòm mà phải mua ống tre ?Thằng nhỏ gãi đầu, không biết đáp thế nào, phải làm một câu:-Thưa chị, tôi sợ cứ ăn quà cả ngày như chị thì hết mất nên tôi phải mua ống tre để dành.Liên quay gót ra, ngẫm nghĩ... Chị Thoa bên cạnh có một con búp-bê hai hào. Ngày ngày chị Thoa ra cửa, ẵm búp-bê vào lòng kêu là: ru em. Rồi chị Thoa được bà Tham, mợ chị Thoa, may cho búp-bê một cái áo xinh xinh bằng lụa đỏ. Liên trông thấy Thoa có búp-bê thèm quá, cũng muốn có, liền hỏi:Đẹp nhỉ... Mấy xu ?Thoa cong môi lên, nguẩy một cái:-Mấy xu ngay!... Của người ta mua những hai hào!Liên về bảo mợ, mợ cười và bảo cứ ngoan ngoãn đừng đòi ăn quà cả ngày rồi mợ sẽ mua chọ Đến hôm cùng đi với mợ ra hiệu để mợ mua thuốc đánh răng với bít tất cho cậu, thấy bên trong tủ kính không biết bao nhiêu là búp-bê giống Thoa, Liên, trống ngực đánh thình thình, chờ mợ mua mọi thứ xong, đã sắp giật Liên ra, liền nhắc:-Mợ Ơi! Mợ mua cho con búp-bê đi nào... Mợ quên ngay lời hẹn từ hôm nào, quắc mắt:-Mua làm gì ?... Tiền đâu để mà phí thế ?Rồi mợ lôi xềnh xệch Liên ra,. Liên ứa nước mắt, quay lại nhìn cái tủ kính lần cuối cùng, trong lòng giận mợ quá đi mất.Hôm sau, Liên bảo bà:-Bà bảo thằng nhỏ mua cái ống tiền cho con... Bà cười, ôm Liên vào lòng khen Liên ngoan, hôn hít Liên mãi. Từ hôm ấy trở đi, mỗi buổi trưa lại cho thêm Liên một trinh để dành... Một hôm, hai cánh tay yếu ớt của Liên nhấc ống tiền lên đã thấy nặng, Liên nói với bà bảo thằng nhỏ bổ ống ra. Lưỡi con dao rựa vừa phang xuống, một núi trinh đã tung toé khắp nhà. Thằng nhỏ nhặt tiền, đếm, bảo là đúng hai hào, vì rằng có bốn mươi đồng trinh. Bỏ vào túi nặng xệ cả một bên áo, Liên lon ton ra khoe bà. Bà đếm tiền rồi bảo để thế rách mất áo, liền đưa ra hai đồng hào đổi cho Liên.Thế là cô chạy ra xui Liên mua kẹo! Không, Liên chả mua một lúc nhiều kẹo quá thế, ăn không hết lại để cô ăn dỗ mất cả ấy à ?... Không thấy cháu nói gì, bà cụ hỏi lại:-Thế nào, định để hai hào này làm gì, hở con ?Liên trù trừ mãi mới dám nói:-Bà bảo cậu cháu mua cho cháu con búp-bệ Để cháu ẵm như chị Thoa bên bà Tham, nhé bà nhé ?Bà gật đầu:-Ừ, thế nào bà cũng bảo cậu mua cho con.Rồi bà cụ nhìn ra chỗ khác, ngẫm nghĩ... Cái mẫu tính thiên nhiên của tạo vật đã "thức dậy" một cách hơi sớm trong óc đứa trẻ mới lên năm này.Không thấy bà hỏi gì nữa, Liên trụt xuống đất, ra cửa nhìn xem có chị Thoa chơi đấy không... Rồi Liên cũng có búp-bê, Rồi Liên sẽ xin mợ những mụn vải đỏ, tím, vàng, xanh, khối ra ở trong thúng của mợ, rồi Liên xin mợ cho Liên cái kim sẵn chỉ, cái kéo, cắt áo mặc cho búp-bê rồi ẵm vào lòng ru em cho mà xem! Liên chẳng còn sợ mỗi khi chưa động đến Thoa, Thoa đã cong ngay môi lên, giằng lại cái búp-bê Liên ẵm trong tay mà rằng:-Thôi, tao không chơi với mày nữa.o0oSau khi được mặc áo lam quần trắng, vào lúc chiều, đèn máy vừa mới bật, Liên được cậu dắt đi chơi phố để mua búp-bê và nhân thể xem rước đèn. Liên sung sướng quá, thích quá đi mất, lộp độp khua gót giầy mang cá kêu vang lên cũng như giầy tây của cậu: một tay nắm chặt hai hào bỏ trong túi, Liên đi với cậu nghênh ngang, tung tăng... Đông người quá, giá không đi với cậu chắc Liên lạc, sẽ bị chen ngã chết bẹp, nếu không có hai, ba con mẹ mìn... Tiếng guốc nhựa kêu vang lên với tiếng kèn tây, trống tây. Một giẫy lính cưỡi ngựa đi đầu rồi đến những cái đèn thiềm thừ, quả dưa, mặt trăng, ông sao rất nhiều và đẹp hơn của các đám rước sư tử... Lại có cả vô số những ông đội xếp Tây giắt xe đạp đi hai bên lề đường... Nhanh chân, cậu đã dắt Liên đứng được ở một chỗ ngay vệ hè, không có ai đứng trước mặt cả. Đằng sau, Liên, người ta xô nhau xem, tranh nhau chỗ, cãi nhau chí chóe.Trước mặt Liên không biết bao nhiêu là lính tây cưỡi trên lưng những con gì không biết, giống như ngựa, nhưng tai dài và to hơn. Liên vừa thích mắt, vừa sợ, mỗi khi thấy một con lăng quăng chực chồm lên hè, Liên nắm chặt lấy cậu cả hai taỵ Hết lượt những con ấy rồi, Liên buồn cười vì trong đám lính thổi kèn có một ông Tây đen ngửa bụng ra đeo một cái trống to hơn cái nia ở nhà ấy... Chợt thấy hình như có cái gì đụng vào bụng Liên, Liên nhìn xuống, thấy một cánh tay vừa ở túi áo có hào của Liên rút ra, tức thời nắm chặt lấy. Liên toan kêu to nhưng không biết nghĩ sao, chỉ quay lại, nghển cổ nhìn.Người bị Liên nắm chặt lấy tay, quần áo rách, mặt trông khổ sở cũng nhìn Liên bằng đôi mắt như những mắt của bọn ăn mày vẫn chìa tay xin van mợ vậy. nếu Liên kêu lên, người ấy không thể chạy thoát, sau lưng anh ta còn những bức tường người. Cậu của Liên ngay ấy, mấy ông đội xếp Tây đang đi đấy... Liên lừ mắt nhìn ngưo_`i ăn cắp, người ăn cắp cũng giương đôi mắt khốn khổ, kêu van đối lại, làm cho Liên nghĩ đến bao nhiêu kẻ ăn mày, rồi... buông tay ra.Đám rước đã đi sang phố khác, bọn người xem chạy xô nhau rào rào. Rồi người ăn cắp của Liên cũng thừa cơ cắm đầu chạy.Lúc bấy giờ cậu Liên mới nhìn xuống, thấy Liên ngơ ngác nhìn theo một người, liền hỏi:-Cái gì ? Hay là nó lấy mất tiền rồi phải không ?Liên gật một cái, cậu Liên hấp tấp vội hỏi:-Thế thằng nào??... Mau chỉ cho tao... Liên trỏ vu vơ:-Nó chạy vào đám đông kia rồi... Cậu Liên thừ người ra nhìn rồi mắng:Đồ ngu như chó!... Sao không bảo ngay tao ?... Thôi! còn đâu là búp-bê nữa!... Đáng kiếp!... Thôi đi về.Liên cúi đầu theo cậu về, không nói gì cả.Đến nhà, cậu Liên sôi lên sùng sục, mách với bà, với cô, với mợ, mách cả thằng nhỏ, và bảo:-Con này nó đần độn ngu dại quá đi mất!... Biết rõ đứa ăn cắp lại không bảo ngay mình, lại để nó chạy biến mất đi!... Lại chờ mình hỏi nó mơi nói!Bà không tin, kêu:-Nào chắc gì nó biết... Cậu cãi:-Khốn nạn, nếu nó không biết thì tôi còn nói làm gì... Nó lại biết thì nó mới khờ dại chứ!... Mợ bảo:-Thôi thế thì nhịn búp-bê... Đòi nữa thì gọi là chết đòn.Cô cũng thêm một câu:-Con bé thế, không ngờ mà ngu thế.Cậu lại bảo:-Gía nó bảo ngay thì thằng ăn cắp gọi là nhừ xương với tôi.Liên không nói gì cả, chỉ đứng im, cúi đầu.Sau cùng, bà ẵm Liên lên lòng và khẽ hỏi:-Thế sao con không kêu ngay lên cho cậu con biết ?Liên, mãi mới ngửng lên, hai mắt dơm dớm:-Thế ngộ người ấy hôm nay đã phải nhịn đói thì làm thế nào ?... Báo Loa, 22-3-1934 Mục lục Bụng Trẻ Con Bụng Trẻ Con Vũ Trọng PhụngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: DactrungĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Lâm Huệ San Bức e - mail của Giáo sư Emerson Suy nghĩ: Trong cuộc đời đôi lúc có những sự tình cờ thú vị. Nhưng tình cờ học được bài học đạo đức quả là điều đáng suy nghĩ: Con - người - đạo - đức là gì? Có lẽ vì luôn cảm thấy số phận mình không được may mắn nên khi làm bất cứ việc nào tôi đều cố gắng hết sức. Người ta bảo Trời có mắt, mình cứ chịu khó thì nhất định sẽ có ngày được đền đáp - tôi tin thế. Năm 2003. Tôi sang Mỹ đã sắp nửa năm rồi mà vẫn chưa xin được vào Học viện Âm nhạc nào để học tiếp, đành phải ở nhờ nhà bạn trai của mình tại bang California. Anh ấy là kỹ sư máy tính ở đây. Tôi đành phải làm những việc linh tinh như gia sư chẳng hạn. Thu nhập cũng đủ sống, có điều tôi sang Mỹ đâu phải để làm những việc như thế, sao tôi có thể chịu số phận ấy được? Cuối cùng thì cơ hội cũng đến. Tháng 5, trong dịp tham gia cuộc thi biểu diễn đàn dương cầm toàn nước Mỹ, tôi được xếp thứ tư. Đây là thứ hạng cao nhất mà người Hoa ở Mỹ đạt được. Cố gắng bao năm của tôi thế là đã được đền đáp: Sau kỳ thi này người ta cho tôi cơ hội được vào học ở Học viện Âm nhạc thành phố Philadelphia. Giáo sư Emerson phụ trách chiêu sinh của học viện này gửi cho tôi một bức e-mail báo tin ấy. Trong thư ông viết: “Chúng tôi mong muốn các học sinh của mình đều là những người có nhân cách cao thượng” – mấy từ “nhân cách cao thượng” này sao mà khó hiểu thế! Thi viết ấn định vào ngày 30 tháng 7, thi vấn đáp vào ngày 18 tháng 8. Kết quả thi viết của tôi rất tốt. Thi xong, tôi liền xin thôi mọi công việc đang làm. Chiều 14 tháng 8, sau khi luyện đàn 3 tiếng đồng hồ liền, thấy người hơi mệt, tôi quyết định đi nằm một lúc. Mọi khi tôi ngủ rất ngon, thế nhưng hôm ấy tôi bị thức giấc giữa chừng, vì trời nóng quá. Tôi nhớ rõ ràng là mình đã bật điều hòa rồi cơ mà! Tôi bèn thử bật đèn, đèn không sáng. Thử bật tivi, màn hình cũng không sáng. Mất điện chăng? Tôi kéo rèm cửa, chải đầu, chuẩn bị ra ngoài phố xem sao. Trên đường phố, người qua lại tất bật, cuống quýt, ai nấy căng thẳng, lo lắng. Lẽ nào lại xảy ra một vụ “11 tháng 9”? Hay là bọn khủng bố tấn công? Trời ơi! Tôi vừa làm dấu chữ thập vừa cầu nguyện: Cầu Trời, xin đừng xảy ra bất kỳ tai họa bất trắc nào... Khi vừa tới Trung tâm Điều dưỡng của khu phố, tôi định đẩy cửa vào hỏi xem tình hình ra sao thì bỗng thấy một ông người Hoa đi từ trong ra, chẳng chào hỏi gì cả, kéo tay tôi lôi tuột vào trong, vừa đi vừa nói: “Bà Hà này, bà đến đúng lúc quá, tôi cũng nghĩ là nhất định bà sẽ đến giúp đỡ chúng tôi, đúng không ạ ? Cả thành phố bị mất điện, tối như hũ nút, khắp nơi rối tung rối bời, bao nhiêu người vấp ngã, bị thương, chúng tôi đang thiếu người chăm sóc nạn nhân...”. Tôi định thần nhìn, thì ra là ông Huy hàng xóm của chúng tôi, nói tiếng phổ thông đặc sệt giọng Hồng Kông. Tôi định rút tay ra thì đã bị kéo vào một gian phòng trông như kiểu phòng bệnh viện, chỗ nào cũng thấy người bị thương. “Bà Hà phụ trách 10 giường chỗ này nhé, toàn những người bị thương nhẹ thôi, bà chỉ cần rót nước cho họ uống và thăm hỏi an ủi họ là được”. Làm thế nào bây giờ đây? Bỏ đi thì không được lịch sự, thôi, đành cứ chiếu lệ làm một lúc rồi lẳng lặng chuồn về nhà thì hơn. Tôi nghĩ vậy và an tâm chịu khó làm việc, vừa làm vừa thỉnh thoảng liếc đồng hồ. Nhiều nhất mình chỉ nán lại đây một tiếng đồng hồ thôi nhé, tôi tự nhủ. “Bà Hà này, đây là ông Mike, bà làm ơn chăm sóc ông ấy nhé. Ông Mike bị thương trong đường tàu điện ngầm, đã cấp cứu sơ bộ, nhưng chưa thể về nhà được vì nhà ông ấy ở tầng 23, thang máy mất điện, đành phải ở đây vậy”. “Bà Hà này, đây là bà Robinson, chắc hai bà quen nhau đấy, nghe nói bà dạy con gái bà Robinson phải không? Bây giờ bà hãy trò chuyện tâm sự với nạn nhân nhé. Bà ấy có vẻ căng thẳng quá. Lần trước, một người thân của bà ấy bị chết trong vụ “11 tháng 9”, cho nên lần này chúng tôi nói thế nào bà ấy cũng không tin đây chỉ là một vụ mất điện bình thường. Vả lại, ông chồng bà ấy lúc này không có mặt ở đây...”. Công việc dần dà không tài nào kiểm soát nổi, mỗi lúc lại có thêm nạn nhân vào mà chẳng thấy ai ra cả. Điện vẫn chưa phục hồi, Trung tâm Điều dưỡng khu phố nhỏ bé lúc này đã chật ních nạn nhân. Tôi muốn chuồn về lắm nhưng việc này làm chưa xong thì đã bị giao việc khác. Bất cứ ai cũng có thể cắt đặt công việc cho tôi, cũng như tôi có thể ra lệnh cho bất cứ ai, chỉ cần đấy là việc cấp cứu nạn nhân. Sau cùng tôi thấy trời đất bỗng dưng tối sầm, tôi lăn ra, bất tỉnh nhân sự. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên giường bệnh viện, bên cạnh mấy bó hoa. Nụ cười hồn hậu nở trên khuôn mặt bạn trai của tôi: “Cherry, em tỉnh rồi à? Em thật dũng cảm, anh không ngờ em lại dũng cảm như vậy. Lần này anh đã tận mắt nhìn thấy đức tính tốt đẹp nhất của em”. Thật là một lời khen tuyệt vời! Nhưng tôi đâu cần khen. Tôi chỉ muốn được về nhà thôi. Về để luyện đàn, tôi chỉ nghĩ đến việc mình sắp thi đến nơi rồi. Ngày 18 tháng 8, tức ngày thứ 3 sau khi xuất viện về nhà, tôi đi thi. Trước mặt các thầy cô giáo của Học viện Âm nhạc Philadelphia, tôi đàn sai một nốt nhạc. Khỉ gió, tất cả là tại cái vụ mất điện khốn kiếp! và cái Trung tâm Điều dưỡng đáng ghét! Thật ra tôi đã biết trước là luyện đàn với cường độ như vậy thì sức khỏe của mình khó mà chịu nổi, lại thêm hôm 14 bị công việc chăm sóc nạn nhân hành hạ suốt đêm. Tại tôi cả thôi, tự tôi đã làm tiêu tan mất tiền đồ xán lạn của mình... Trong số các giáo sư có mặt hôm ấy, tôi thấy một gương mặt quen quen. Đó là ông Emerson, thành viên Ban Giám khảo cuộc thi dương cầm toàn quốc hôm nọ. Hôm nay không rõ tại sao ông ấy lại cho tôi điểm số cực cao. Phải chăng vì tôi đã làm ông thất vọng? Nhưng tôi không tìm được lý do – ai cũng có thể tìm được cớ để bào chữa cho sai sót của mình, tôi không muốn bị người khác hiểu lầm trên cả hai mặt tài năng và đạo đức. Có lẽ điều hồi nhỏ tôi thường nghĩ tới nay lại ứng vào mình chăng: Số phận may mắn chẳng bao giờ rơi vào tôi cả? Thế là, sau khi về California, tôi lại dự định tiếp tục cuộc đời gia sư tẻ nhạt như cũ. Hôm sau, tôi nhận được hai bức thư gửi từ Học viện Âm nhạc Philadelphia. Bức thư thứ nhất có nội dung thế này: “Bà Cherry thân mến, chúng tôi hân hạnh báo để bà biết, bà đã được Học viện Âm nhạc Philadelphia nhận vào học. Xin mời bà có mặt tại trường chúng tôi trước ngày 15 tháng 9 năm 2003. Phòng Chiêu sinh” Bức thư thứ hai như sau: “Bà Cherry thân mến. Chắc bà đã nhận được thông báo nhận vào học, nhưng tôi đoán nhất định bà đang nghi hoặc, vì trong lần thi vấn đáp hôm nọ bà đã có biểu hiện không bình thường. Tôi muốn nói là, thật ra ngay từ đầu bà đã mất cơ hội vào học, vì chúng tôi đột xuất cắt tiêu chuẩn tuyển sinh người Hoa trong năm học này. Thế nhưng khi đọc báo đưa tin về vụ mất điện hôm 14 tháng 8 ở California, tấm ảnh chụp bà nằm trên giường bệnh đã làm chúng tôi xúc động sâu sắc. Â m nhạc là nghệ thuật của tâm hồn, chỉ những người có tâm hồn thực sự cao thượng thì mới có thể diễn đạt được nội dung chân thực của âm nhạc đến mức tuyệt mỹ. Bà chính là người học trò chúng tôi đang tìm kiếm, vừa có kỹ xảo chơi đàn tuyệt vời lại vừa có nhân cách cao thượng. Emerson của bà” Lần đầu tiên trong đời, tôi ôm mặt khóc vì một điều không phải là sự thành đạt. Lâu nay tôi cứ tin rằng, chỉ cần mình cần cù phấn đấu thì cuộc đời sẽ trở nên hoàn mỹ, không có gì đáng ân hận, vì thế tôi kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình, chưa bao giờ chịu bỏ công sức vào những việc không nhìn thấy sự đền đáp. Thế mà lần này, nhờ làm công việc cứu trợ bất đắc dĩ mà tôi trở thành một người có nhân cách cao thượng. Lâm Huệ San (Trung Quốc) Mục lục Bức e - mail của Giáo sư Emerson Bức e - mail của Giáo sư Emerson Lâm Huệ SanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: DactrungĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 4 năm 2005
Lâm Huệ San Bức e - mail của Giáo sư Emerson Suy nghĩ: Trong cuộc đời đôi lúc có những sự tình cờ thú vị. Nhưng tình cờ học được bài học đạo đức quả là điều đáng suy nghĩ: Con - người - đạo - đức là gì? Có lẽ vì luôn cảm thấy số phận mình không được may mắn nên khi làm bất cứ việc nào tôi đều cố gắng hết sức. Người ta bảo Trời có mắt, mình cứ chịu khó thì nhất định sẽ có ngày được đền đáp - tôi tin thế. Năm 2003. Tôi sang Mỹ đã sắp nửa năm rồi mà vẫn chưa xin được vào Học viện Âm nhạc nào để học tiếp, đành phải ở nhờ nhà bạn trai của mình tại bang California. Anh ấy là kỹ sư máy tính ở đây. Tôi đành phải làm những việc linh tinh như gia sư chẳng hạn. Thu nhập cũng đủ sống, có điều tôi sang Mỹ đâu phải để làm những việc như thế, sao tôi có thể chịu số phận ấy được? Cuối cùng thì cơ hội cũng đến. Tháng 5, trong dịp tham gia cuộc thi biểu diễn đàn dương cầm toàn nước Mỹ, tôi được xếp thứ tư. Đây là thứ hạng cao nhất mà người Hoa ở Mỹ đạt được. Cố gắng bao năm của tôi thế là đã được đền đáp: Sau kỳ thi này người ta cho tôi cơ hội được vào học ở Học viện Âm nhạc thành phố Philadelphia. Giáo sư Emerson phụ trách chiêu sinh của học viện này gửi cho tôi một bức e-mail báo tin ấy. Trong thư ông viết: “Chúng tôi mong muốn các học sinh của mình đều là những người có nhân cách cao thượng” – mấy từ “nhân cách cao thượng” này sao mà khó hiểu thế! Thi viết ấn định vào ngày 30 tháng 7, thi vấn đáp vào ngày 18 tháng 8. Kết quả thi viết của tôi rất tốt. Thi xong, tôi liền xin thôi mọi công việc đang làm. Chiều 14 tháng 8, sau khi luyện đàn 3 tiếng đồng hồ liền, thấy người hơi mệt, tôi quyết định đi nằm một lúc. Mọi khi tôi ngủ rất ngon, thế nhưng hôm ấy tôi bị thức giấc giữa chừng, vì trời nóng quá. Tôi nhớ rõ ràng là mình đã bật điều hòa rồi cơ mà! Tôi bèn thử bật đèn, đèn không sáng. Thử bật tivi, màn hình cũng không sáng. Mất điện chăng? Tôi kéo rèm cửa, chải đầu, chuẩn bị ra ngoài phố xem sao. Trên đường phố, người qua lại tất bật, cuống quýt, ai nấy căng thẳng, lo lắng. Lẽ nào lại xảy ra một vụ “11 tháng 9”? Hay là bọn khủng bố tấn công? Trời ơi! Tôi vừa làm dấu chữ thập vừa cầu nguyện: Cầu Trời, xin đừng xảy ra bất kỳ tai họa bất trắc nào... Khi vừa tới Trung tâm Điều dưỡng của khu phố, tôi định đẩy cửa vào hỏi xem tình hình ra sao thì bỗng thấy một ông người Hoa đi từ trong ra, chẳng chào hỏi gì cả, kéo tay tôi lôi tuột vào trong, vừa đi vừa nói: “Bà Hà này, bà đến đúng lúc quá, tôi cũng nghĩ là nhất định bà sẽ đến giúp đỡ chúng tôi, đúng không ạ ? Cả thành phố bị mất điện, tối như hũ nút, khắp nơi rối tung rối bời, bao nhiêu người vấp ngã, bị thương, chúng tôi đang thiếu người chăm sóc nạn nhân...”. Tôi định thần nhìn, thì ra là ông Huy hàng xóm của chúng tôi, nói tiếng phổ thông đặc sệt giọng Hồng Kông. Tôi định rút tay ra thì đã bị kéo vào một gian phòng trông như kiểu phòng bệnh viện, chỗ nào cũng thấy người bị thương. “Bà Hà phụ trách 10 giường chỗ này nhé, toàn những người bị thương nhẹ thôi, bà chỉ cần rót nước cho họ uống và thăm hỏi an ủi họ là được”. Làm thế nào bây giờ đây? Bỏ đi thì không được lịch sự, thôi, đành cứ chiếu lệ làm một lúc rồi lẳng lặng chuồn về nhà thì hơn. Tôi nghĩ vậy và an tâm chịu khó làm việc, vừa làm vừa thỉnh thoảng liếc đồng hồ. Nhiều nhất mình chỉ nán lại đây một tiếng đồng hồ thôi nhé, tôi tự nhủ. “Bà Hà này, đây là ông Mike, bà làm ơn chăm sóc ông ấy nhé. Ông Mike bị thương trong đường tàu điện ngầm, đã cấp cứu sơ bộ, nhưng chưa thể về nhà được vì nhà ông ấy ở tầng 23, thang máy mất điện, đành phải ở đây vậy”. “Bà Hà này, đây là bà Robinson, chắc hai bà quen nhau đấy, nghe nói bà dạy con gái bà Robinson phải không? Bây giờ bà hãy trò chuyện tâm sự với nạn nhân nhé. Bà ấy có vẻ căng thẳng quá. Lần trước, một người thân của bà ấy bị chết trong vụ “11 tháng 9”, cho nên lần này chúng tôi nói thế nào bà ấy cũng không tin đây chỉ là một vụ mất điện bình thường. Vả lại, ông chồng bà ấy lúc này không có mặt ở đây...”. Công việc dần dà không tài nào kiểm soát nổi, mỗi lúc lại có thêm nạn nhân vào mà chẳng thấy ai ra cả. Điện vẫn chưa phục hồi, Trung tâm Điều dưỡng khu phố nhỏ bé lúc này đã chật ních nạn nhân. Tôi muốn chuồn về lắm nhưng việc này làm chưa xong thì đã bị giao việc khác. Bất cứ ai cũng có thể cắt đặt công việc cho tôi, cũng như tôi có thể ra lệnh cho bất cứ ai, chỉ cần đấy là việc cấp cứu nạn nhân. Sau cùng tôi thấy trời đất bỗng dưng tối sầm, tôi lăn ra, bất tỉnh nhân sự. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên giường bệnh viện, bên cạnh mấy bó hoa. Nụ cười hồn hậu nở trên khuôn mặt bạn trai của tôi: “Cherry, em tỉnh rồi à? Em thật dũng cảm, anh không ngờ em lại dũng cảm như vậy. Lần này anh đã tận mắt nhìn thấy đức tính tốt đẹp nhất của em”. Thật là một lời khen tuyệt vời! Nhưng tôi đâu cần khen. Tôi chỉ muốn được về nhà thôi. Về để luyện đàn, tôi chỉ nghĩ đến việc mình sắp thi đến nơi rồi. Ngày 18 tháng 8, tức ngày thứ 3 sau khi xuất viện về nhà, tôi đi thi. Trước mặt các thầy cô giáo của Học viện Âm nhạc Philadelphia, tôi đàn sai một nốt nhạc. Khỉ gió, tất cả là tại cái vụ mất điện khốn kiếp! và cái Trung tâm Điều dưỡng đáng ghét! Thật ra tôi đã biết trước là luyện đàn với cường độ như vậy thì sức khỏe của mình khó mà chịu nổi, lại thêm hôm 14 bị công việc chăm sóc nạn nhân hành hạ suốt đêm. Tại tôi cả thôi, tự tôi đã làm tiêu tan mất tiền đồ xán lạn của mình... Trong số các giáo sư có mặt hôm ấy, tôi thấy một gương mặt quen quen. Đó là ông Emerson, thành viên Ban Giám khảo cuộc thi dương cầm toàn quốc hôm nọ. Hôm nay không rõ tại sao ông ấy lại cho tôi điểm số cực cao. Phải chăng vì tôi đã làm ông thất vọng? Nhưng tôi không tìm được lý do – ai cũng có thể tìm được cớ để bào chữa cho sai sót của mình, tôi không muốn bị người khác hiểu lầm trên cả hai mặt tài năng và đạo đức. Có lẽ điều hồi nhỏ tôi thường nghĩ tới nay lại ứng vào mình chăng: Số phận may mắn chẳng bao giờ rơi vào tôi cả? Thế là, sau khi về California, tôi lại dự định tiếp tục cuộc đời gia sư tẻ nhạt như cũ. Hôm sau, tôi nhận được hai bức thư gửi từ Học viện Âm nhạc Philadelphia. Bức thư thứ nhất có nội dung thế này: “Bà Cherry thân mến, chúng tôi hân hạnh báo để bà biết, bà đã được Học viện Âm nhạc Philadelphia nhận vào học. Xin mời bà có mặt tại trường chúng tôi trước ngày 15 tháng 9 năm 2003. Phòng Chiêu sinh” Bức thư thứ hai như sau: “Bà Cherry thân mến. Chắc bà đã nhận được thông báo nhận vào học, nhưng tôi đoán nhất định bà đang nghi hoặc, vì trong lần thi vấn đáp hôm nọ bà đã có biểu hiện không bình thường. Tôi muốn nói là, thật ra ngay từ đầu bà đã mất cơ hội vào học, vì chúng tôi đột xuất cắt tiêu chuẩn tuyển sinh người Hoa trong năm học này. Thế nhưng khi đọc báo đưa tin về vụ mất điện hôm 14 tháng 8 ở California, tấm ảnh chụp bà nằm trên giường bệnh đã làm chúng tôi xúc động sâu sắc. Â m nhạc là nghệ thuật của tâm hồn, chỉ những người có tâm hồn thực sự cao thượng thì mới có thể diễn đạt được nội dung chân thực của âm nhạc đến mức tuyệt mỹ. Bà chính là người học trò chúng tôi đang tìm kiếm, vừa có kỹ xảo chơi đàn tuyệt vời lại vừa có nhân cách cao thượng. Emerson của bà” Lần đầu tiên trong đời, tôi ôm mặt khóc vì một điều không phải là sự thành đạt. Lâu nay tôi cứ tin rằng, chỉ cần mình cần cù phấn đấu thì cuộc đời sẽ trở nên hoàn mỹ, không có gì đáng ân hận, vì thế tôi kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình, chưa bao giờ chịu bỏ công sức vào những việc không nhìn thấy sự đền đáp. Thế mà lần này, nhờ làm công việc cứu trợ bất đắc dĩ mà tôi trở thành một người có nhân cách cao thượng. Lâm Huệ San (Trung Quốc) Mục lục Bức e - mail của Giáo sư Emerson Bức e - mail của Giáo sư Emerson Lâm Huệ SanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: DactrungĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 4 năm 2005
Hoa Du Bức Thông Điệp Mưạ Những hạt mưa xuân bay lất phất, lành lạnh. Sao mưa dễ khiến người ta buồn đến vậỵ Ngay cả những hạt nhỏ li ti cũng đủ níu bao nỗi niềm trĩu nặng lòng người … Mà đâu phải tại mưả Bởi lòng đa cảm đấy thôi! Bởi có lần, một người đã thổ lộ với em rằng: “Tình cờ thấy em đùa với bong bóng mưa”, mà em vẫn gọi đó là hoa mưa, người ta “chợt nhận ra cái mình đang thiếu”. Em không hiểu rõ lắm, mà cũng chẳng muốn biết. Chỉ biết từ hôm đó, có một ánh mắt đã lặng lẽ dõi theo từng cử chỉ, nụ cười và lời nói của em. Đột nhiên, em trở nên khang khác: kiêu căng và đanh đá đến lạ lùng! Bạn bè thật “tinh ý “, chẳng hiểu sao họ biết, và trêụ Em nhăn mũi, thản nhiên, đôi khi còn hùa theo, thêm vài ba câu hài hước, y như mình vô can, vô sự. Thực lòng, em cũng thấy khoan khoái khi ai đó “tương tư” mình. Chao ôi, vẻ mặt rầu rầu, đăm chiêu ấy là vì đâủ Chỉ vì một câu nói đùa hay sự vô tình, hờ hững của em thôi … Mà duyên nợ kiểu gì, sao lại là người ấỵ Cái kẻ mà ngày đầu tiên bước vào lớp mới, em đã thấy sờ sợ, nom hắn có vẻ nóng tính, hiếu thắng và khô khan lắm. Em ví hắn như một con bọ ngựă!?) ( Đương nhiên, chỉ nghĩ thầm vậy chứ ai dại gì nói ra). Kẻ đã làm em tức tối khi hắn dám gọi em là “trẻ con, cô bé …”, đại loại hắn chỉ coi em như bọn lâu nhâu, lít nhít, trong khi em “giáng trần” sau hắn có ba tháng, không hơn không kém. Tức đến độ em gọi hắn là “người lớn” để dễ có dịp chế nhạo, thế mà hắn khoái trí với cái tên “oách” ấy lắm. Vừa kêu: "Ê, người lớn!”, đã quay ngay lại, sốt sắng: ”Có chuyện gì vậy, trẻ con?”. Mùa xuân cũng những hạt mưa xuân bay nhè nhẹ. Hết học kì I, hắn xin cô chuyển lên ngồi bàn đầu ngay cạnh em, với lý do “nhìn cho rõ” (!?). Lũ bạn thì biết tỏng tòng tong. Sự đột phá táo tợn của hắn làm bùng nổ những lời thì thầm, lào xào bấy lâu naỵ Chúng nó trêu em một cách công khai và dữ dộị Với bản lĩnh của một kẻ “chưa biết yêu là gì”, em hiên ngang đối đầu với tất cả mọi lời trêu chọc cũng như những lời chất vấn của mấy con bạn thân. Em khăng khăng:” Không có gì cả. Bình thường thôi!” Nhưng hắn thì quá rõ ràng: chết mê chết mệt. Hắn bỗng nhiên quan tâm đến em một cách đặc biệt, từ những bài toán, lí cỏn con cũng quay sang: “ Có hiểu không? Chỗ nào chưa hiểu thì cứ hỏị ” Bạn bè vẫn thường gọi hắn là “gia sư”, nhưng cho đến tận bây giờ em mới hiểu nghĩa của cái biệt danh ấy là gì. Vào những ngày tiết trời đổ rét, dù em đã đến lớp với một cái áo khoác to sụ, hắn vẫn nhìn với vẻ ái ngại: “ Lạnh lắm không?”. Em chun mũi xuýt xoa: “Lạnh, lạnh quá”, rồi ngúc ngắc cái đầu nhìn hắn. Bao tia ấm nồng nàn chiếu vào em, nóng rực, đến đỏ bừng cả mặt… Nhưng em vẫn hồn nhiên gọi hắn là “ người lớn” cũng như hắn gọi em là “cô bé” hay “nàng công chúa bé nhỏ”. Càng ngày, em càng trở nên bướng bỉnh và ngang ngược , xem như việc nhịn nhường của hắn là một lẽ tất nhiên. Hắn đến lớp muộn hơn em, bao giờ chả thế. Nhưng hôm nay, trên tay hắn là một chùm hoa bưởị Điệu đàng quá, con trai mà cũng bày đặt cầm hoa! Em chặn hắn ngay đầu bàn, tay chống nạnh, tay chĩa về phía hắn, mắt “lơ đễnh” ngó lơ hướng khác. Hắn ngạc nhiên với điệu bộ lạ lùng ấy của em. Mặc, em hất đầu: "Liều liệu nộp ngay đây cho bản cô nương, không thì đừng hòng bước vào!” Hắn chợt hiểu, cười và đặt vào tay em những bông hoa bưởi trắng muốt đó: “Của bé này!”. Xì, chẳng thèm bắt bẻ làm gì cho mệt, em ngắt một bông chia cho cô bạn bàn dưới rồi thích thú hít hà với chiến lợi phẩm vừa thu được. Từ hôm đó, ngày nào đến lớp, hắn cũng phải “cống nạp” cho em một chùm hoa bưởi thơm nức. Còn em lại hí hửng san một nửa cho cô bạn – người đã nhường cho hắn cái chỗ ngồi “quí giá” ấỵ Hết hoa bưởi là đến mùa hoa xoan. Đó là loài hoa em thích nhất. Hắn biết thế, bởi vì em nói vậỵ Ngày sinh nhật em, hắn tặng em một bó hoa xoan tim tím, kết trong giấy bóng kính của màu tím thật đẹp. Tụi bạn bảo hắn là thằng khùng. Nhưng em thì vui lắm. Vui đến nỗi quên cả “hỏi thăm” vết xước mới xuất hiện trên tay hắn. Hết mùa hoa xoan lại đến mùa hoa phượng. Ấy là mùa thị Tất cả đều bận rộn. Em cũng bớt đanh đá và bướng bỉnh. Những đôi mắt thức khuya thâm quắng, mệt mỏị Hắn vẫn dành chút thời gian hỏi han chuyện ôn thì và nhắc nhở em giữ gìn sức khỏe … Thế rồi ngày chia tay cũng đến, điều mà chẳng mấy ai trông đợị Nhìn hắn lặng lẽ, buồn xo, một thoáng chạnh lòng nhưng em lại mải mê với việc ký những dòng lưu niệm lên áo mọi ngườị Đến khi nghe tiếng trống trường giòn giã, em ới nhận ra mình chưa để lại cái gì làm kỷ niệm cho hắn. Cũng may, nhà trường cho khối mười hai ở lai thêm chút nữạ Cả lớp nhao nhao chụp ảnh. Hắn đã đứng cạnh em tự lúc nàọ Vẫn cái giọng ấm áp hằng ngày quen thuộc nhưng hôm nay cách xưng hô đã khác. Hắn gọi tên, nghe là lạ. Có điều gì đó mà hắn cứ ấp a ấp úng. Em không dám cười, mà cũng chẳng thể cười nổị Hắn đặt vào tay em một bông hồng đỏ thắm. Một tia sáng chớp loè. Em giật mình, thằng bạn nháy mắt cười lém lỉnh … Một hạt mưa đậu xuống làn môi em, ngọt mát. Ai bảo mưa “vô tình”? Chính lòng người “vô tình” quá đấy thôị Kỷ niệm qua đi rồi, mới thấy nó êm đềm và thật đẹp … Không biết giờ này, ở phương trời xa xôi ấy, có mưa rơỉ Và ai đó có da diết nhớ về cái cô bé ương ương, ngạnh ngạnh, cũng như bây giờ, cô bé đang tha thiết nhớ về người ấy cùng kỷ niệm đã quạ Và bông hồng, em đã gân cổ cãi đó là vật vô tri, vô nghĩa, chẳng thể nói lên một điều gì hết. Nhưng em vẫn tỉ mẩn ép nó vào trang vở. Bởi đó là bông hồng đẹp nhất, một bông hồng mà giờ này em tin rằng nó chính là bức thông điệp: thông-điệp-tình-yêu! Mục lục Bức Thông Điệp Bức Thông Điệp Hoa DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: dongsongquenlangĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Hoa Du The Message Rain The spring raindrops flutter, cold. Why does rain so easily make people sad? Even the tiny drops are enough to hold so much sadness that weighs heavily on people's hearts... But it's not because of the rain, It's because of sentimentality! Because one time, someone confided to me: "Accidentally saw me playing with rain balloons", which I still call rain flowers, people "suddenly realized what they were missing". I don't understand very well, and I don't want to know either. I only know that from that day on, there was a pair of eyes that quietly followed my every gesture, smile and word. Suddenly, I became different: arrogant and strangely harsh! My friends are so "observant", I don't know how they know, and they tease me. I wrinkle my nose, calmly, sometimes even join in, adding a few humorous sentences, as if I'm innocent and unharmed. Honestly, I also feel comfortable when someone "loves" me. Alas, that sad, pensive face is all because of a joke or my carelessness and indifference... But what kind of fate is it, why is it that person? The one who walked in on the first day In the new class, I felt scared, he seemed hot-tempered, aggressive and very dry. You liken him to a praying mantis!?) (Of course, I just thought that, but I wouldn't dare say it out loud). The person who made me angry when he dared to call me "child, little girl...", something like that, he only considered me like a small child, while I "descended" three months after him, no more. Equally. I was so angry that I called him "adult" so that I could easily mock him, but he was very happy with that "cool" name. Just calling out: "Hey, adults!", he immediately turned around, enthusiastically: "What's going on, children?". Spring also had spring raindrops gently flying. At the end of the first semester, he asked her to transfer. He sat at the first table right next to me, with the excuse of "seeing clearly" (!?). His bold breakthrough exploded the whispers and whispers that had been going on for a long time He teased me openly and fiercely. With the bravery of someone who "doesn't know what love is", I bravely faced all the teasing and questioning from my close friends insisted: "Nothing. It's normal!" But he was so obvious: I was so fascinated. He suddenly took a special interest in me, starting from simple math problems and logic: "If you don't understand, just ask." My friends often call him "tutor", but until now I don't understand the meaning of that nickname. On cold days, even though I come to class with a big coat. He still looked at me with concern: "Is it cold?" I wrinkled my nose and whispered: "Cold, so cold", then tilted my head to look at him. Warm rays shined on me, hot and red My face turned red... But I still innocently called him "adult" just like he called me "little girl" or "little princess". As time went on, I became more and more stubborn and defiant It's natural for him to come to class later than me, but today, he has a bunch of grapefruit in his hand. It's so classy that I'm holding it! He was at the head of the table, hands on hips, hands pointing towards him, eyes "absent" looking the other way. He was surprised by that strange gesture of yours. Mac, I nodded my head: "Give the medicine right here to this lady, otherwise don't even try to come in!" He suddenly understood, smiled and placed those white grapefruit flowers in her hand: "Here you go!" Pss, without bothering to bother with any retorts, I picked one flower and gave it to my friend at the table below and happily sniffed it From that day on, every day he came to class, he had to give me a bunch of fragrant grapefruit flowers, and I happily gave half to my friend who gave it to me That "precious" seat. When the pomelo flowers are gone, it's the flower season. That's my favorite flower. He knows that, because I said so. On my birthday, he gave me a bouquet of purple roses. wrapped in beautiful purple cellophane. My friends said he was crazy. But I was so happy that I forgot to "ask" about the new scratch on his hand Poinciana flowers. It's market season. Everyone is busy. I'm less stubborn and stubborn. My eyes stay up late and tired. He still takes some time to ask about homework and remind me to take care of my health. Well... Then the day of farewell came, something that not many people expected. Looking at him quietly, sadly, I felt a little sad, but I was engrossed in signing souvenirs on everyone's shirts. Until I heard the sound of the drums. After school passed away, I realized I hadn't left anything as a souvenir for him. Luckily, the school let the twelfth grade stay a little longer. The whole class took pictures. He has been standing next to me since a while ago. He still has the familiar warm voice every day, but today the way he addresses him is different. He called my name, it sounded strange. There was something he kept hesitating about. I didn't dare to laugh, but I couldn't laugh either. He placed a crimson rose in my hand. A flash of light flashed. I was startled, my friend winked and smiled mischievously... A raindrop landed on my lips, sweet and cool. Who says rain is "accidental"? It's the human heart that is so "insensitive" that it's so rough. After the memories have passed, I see that they were peaceful and beautiful... I don't know that at this moment, in that far away sky, it's raining and someone remembers her fondly. The girl was stubborn and stubborn, just like now, she was fondly thinking about that person and the memories she had crowed. And the rose, she argued with all her heart that it was an inanimate, meaningless thing, unable to say a single thing. nothing. But I still meticulously pressed it onto the notebook page. Because it is the most beautiful rose, a rose that I now believe is the message: the message-of-love! Table of contents The Message The Message Hoa DuWelcome you to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: dongsongquenlang Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Hiền Anh Bức Thư Gửi Người Đã Khuất Con cứ tưởng là con đã hiểu tất cả. Hoá ra con không hiểu gì cả. Mọi vật cứ quay cuồng rồi chính con cũng xa lạ với chính con. Con không biết là mình ở đâu nữa, ở trong mình, hay ở một nơi nào rất xa. Con những tưởng là ba biết rõ tất cả. Vậy mà ba bỏ con, ba vui thú với mấy ông bạn già bỏ mặc con với những nỗi lo toan không nơi nương tựa. Con sợ lắm! Nhưng phải cố gượng dậy. Không còn cách nào khác.Ba ơi! Con thầm gọi ba những lúc thế này để trái tim con ấm lên tưởng như bàn tay ba che chở vỗ về. Ba ở bên con hay ở một nơi nào rất xa. Ba con mình luẩn quẩn bên nhau. Còn cuộc đời thì như những thước phim cứ quay đi quay lại. Đã có lúc con mặc kệ nó. Nhưng rồi nó cứ cuốn con đi. Chân con cứ phải chạy, tai con cứ phải nghe, mắt con cứ phải nhìn thấy và miệng con thì cứ phải huyên thuyên những điều vô nghĩa lý.Con chẳng biết kể cho ba nghe chuyện gì cả. Chuyện mẹ Ở nhà vật lộn với bệnh già ca cẩm suốt ngày, một mình, chỉ có một mình ư? Mẹ hiểu tuổi già của mẹ hơn con. Mẹ bận tâm về nó hơn là bận tâm về con. Con cũng chẳng giúp được mẹ ngoài việc lắng nghe một cách thờ ơ và sốt ruột. Con thấy mẹ lẩm cẩm còn mình thì như có lỗi, như nhận ra mình là đứa con bất hiếu. Tại sao con không già như mẹ để thông cảm với mẹ hơn, để kiên nhẫn hơn và nói được với mẹ một điều gì đó có nghĩa. Các em con cũng thế. Chúng nó chẳng có thì giờ để chia xẻ với mẹ nỗi bận tâm của mẹ. Chúng có bao nỗi bận tâm của chúng. Cái đầu nối giữa tuổi già và tuổi trẻ thật mong manh. Nó cứ trượt đi theo vòng quay thời gian. Đuổi nhau mà chẳng bao giờ nắm bắt được nhau. Nhưng rồi sẽ đến lúc chúng con sẽ già lúc ấy chúng con sẽ thương xót và nuối tiếc. Rồi ai sẽ thương xót và nuối tiếc chúng con? Chắc là các con của chúng con. Giá mà có thể đổi chỗ cho nhau được.Cái Hường đang mải mê đi thi tay nghề giỏi. Trông nó phởn phơ lắm. Nó giật giải nhì ở huyện đấy ba. Bây giờ nó đang chuẩn bị đi thi thành phố. Chồng nó đang phất, mua sắm được khối thứ. Nó rất ngạc nhiên khi thấy con bỏ nhà bỏ cửa ra đi. Làm sao nó hiểu được. Giá mà nó hiểu được một chút nó sẽ không nhìn con như thế.Thằng Hưng đang xây khách sạn. Nó gầy rộc đi. Nó chẳng nói với con một câu nào. Con thấy mình thật là vô tích sự.Con cũng chẳng còn nhận được ra thằng Phú nữa. Nó giống như bọn thanh niên bây giờ, ăn mặc, đầu tóc, nói năng, cả phong cách tiêu sài. Con thật cổ lỗ sĩ phải không ba?Còn cái Minh, nó nuôi thằng Tiến cho con. Thỉnh thoảng chồng nó lại dúi cho con một ít tiền. Hễ con quà cáp một tý là y như rằng chúng nó kêu lên: "Bác làm gì có tiền mà mua". Khách khứa của chúng đến nhà bằng đủ phương tiện, xe hơi, xe máy... chúng miễn cưỡng giới thiệu: "Bà chị em, viết văn". Thế là con nhận được đủ loại ánh mắt thờ ơ, ái ngại và cả thương hại nữa.Thằng Tiến đang vỡ giọng, đang tập làm người lớn. Nó không thích laÜng nhaÜng theo con như ngày xưa nữa. Trước khi đi học nó đánh giày, chải đầu, xịt gôm bọt, thỉnh thoảng buông ra một câu triết lý rất "cụ". Nó không thích con xuất hiện trước bạn bè của nó. Không thích con đưa đón và đưa tiền ăn sáng cho nó trước mặt mọi người. Con thấy nó vừa thân thiết với con vừa xa lạ với con. Con ngỡ ngàng tưởng như mình đang mất đi một cái gì đó thật quý giá. Tuổi thơ của con trai con. Tất cả chỉ còn những ký ức. Hiện diện của ngày hôm nay là một cậu thiếu niên đang dần trở thành một cậu thanh niên. Niềm vui xen nỗi lo âu làm con thắc thỏm.Con hoang mang lắm ba. Con muốn níu giữ một cái gì đấy. Nhưng rồi nó cứ trượt đi. Con hoảng sợ đến một lúc nào đó tất cả sẽ kết thúc. Con đau xót chấp nhận cái quy luật sinh tồn nghiệt ngã.Anh ấy vẫn cứ thế, vẫn chứng nào tật ấy. Uống rượu liên miên và nuôi mối hận thù thâm căn cố đế với mấy ông lãnh đạo. Anh ấy cho rằng sự "bất công thành doanh toại" của anh ấy là do họ. Còn con thì, cho rằng do rượu. Anh ấy đã tưới mềm ý chí bằng rượu. Đốt cháy sự nghiệp bằng rượu. Bây giờ anh ấy chỉ còn là con ve sầu rả rê than thở. Con chẳng có cách gì giúp được anh ấy dù ở gần hay ở xa. Vì có bao giờ anh ấy biết nghe con. Tại sao người ta không thể chỉ bằng lòng với những gì mình có?Nhưng có thể muốn bằng lòng cũng không được. Con đã từng an phận, muốn bằng lòng, cuộc đời chỉ biết có chồng con, dạy học, nuôi heo, nuôi gà... Nhưng rồi dạy học, nuôi heo, nuôi gà cũng không nuôi nổi ba con người, một kỹ sư, một thầy giáo và một đứa con ba tuổi. Chúng con không dám chi phí cho một ngày đi công viên hay đi xem xinê. Phải trốn mọi đám cưới của bạn bè, chưa biết thế nào là niềm vui của ngày Tết từ khi ý thức được thế nào là Tết. Ngày xưa con còn nhớ, Tết con không có áo mới không có xe đạp để đi chơi cùng với bạn bè. Nhưng dù sao ngày đó con vẫn hồ hởi ra trò. Bao nhiêu chàng trai vẫn đỏ mặt trước con bởi gương mặt trắng hồng nổi bật trên chiếc áo tháo túi nhuộm nâu của con. Chiếc áo mà bạn của mẹ thấy con không có áo mặc đã động lòng trắc ẩn cho con. Tuổi trẻ của con đã đánh bạt chiếc áo già nua ấy. Con vẫn rực rỡ, vẫn xinh tươi, các bạn trai của con sau này bảo thế. Họ không hề để ý đến chiếc áo ấy đã từng là của một bà già năm mươi tuổi khoác lên người một thiếu nữ mười sáu tuổi. Nhưng bây giờ thì khác rồi ba ạ. Con đã là chủ gia đình, nhất là con trai và hai bên nội ngoại chưa kể đến khách khứa bạn bè và những cô cậu học sinh. Phần mứt rượu Tết của cơ quan con, chúng con mang về lễ tổ tiên bên ngoại. Rồi chúng con bỏ trốn cái Tết đi đến một nơi thật xa. Nơi ấy người ta chỉ đón Tết duy nhất có một ngày mà cái ngày duy nhất ấy, chúng con đang rông ruổi trên đường với túi bánh lương khô. Nỗi khổ sở làm chúng con trở nên khó tính. Con cáu bẳn còn anh ấy thì nghiện rượu. Niềm xót xa cho cậu con trai ba tuổi ngơ ngác không biết Tết là gì làm cho con oán hận. Con oán hận anh ấy. Rồi con lại thấy mình vô lý. Con oán hận đời. Nhưng đời là ai? Là cái gì? Con chẳng làm sao định nghĩa nổi. Con oán hận cho sự hèn kém của mình. Thế là con bỏ chạy. Ba biết đấy ngày đó con đã trốn đi, gia tài duy nhất là cậu con trai. Con không đành lòng trước sự lạc lõng của con báo hiệu một sự lạc lõng định mệnh dành cho con trai con. Con bỏ cái nhà quê tĩnh lặng ấy, bỏ cái công việc dạy học đơn điệu và tẻ nhạt ấy, con chẳng biết dạy gì cho lũ trẻ ấy cả khi mà áo chúng rách còn tim con thì bươm bả, tả tơi. Con lao vào cái đám ồn ào của phố phường để đánh lừa cảm giác là mình đang sống. Con đi đưa hàng thuê dành dụm được ít vốn, đi buôn, rồi mất tất cả. Cuối cùng con đâm sầm vào văn chương hy vọng sẽ gửi gắm nơi đó một điều gì, hy vọng được an ủi, được chia sẻ, được sống...Song văn chương cũng chẳng nuôi sống nổi con và con của con. Đã thế những nỗi niềm tâm tư trăn trở của con lại bị người ta tung hê mổ xẻ và giễu cợt. Con hoảng sợ và lại tiếp tục chạy trốn. Song con không biết trốn vào đâu ba ạ.Con viết truyện về một ông lão bán kem bị vòng quay nghiệt ngã của cuộc đời đè nát. Người ta bảo, đừng để ông ấy chết, chỉ để ông ấy què chân thôi họ sẽ in và con sẽ có một trăm ngàn tiền nhuận bút. Đêm đêm ông lão tội nghiệp ấy về năn nỉ con:- Đừng để tôi què chân. Hãy làm ơn để tôi chết! Đừng để tôi què chân!- Nếu ông què chân thì tôi có một trăm ngàn nhuận bút. Nó sẽ nuôi tôi được mười ngày.- Nhưng nếu tôi què chân thì ai sẽ nuôi tôi? Ai sẽ cho tôi năm ngàn một ngày để sống? Cô muốn tôi lê lết đi ăn xin ư? Cái thân già này, con đường nhầy nhụa nước mắt và nước bọt này, cô muốn đày ải tôi khổ sở hơn nữa hay sao. Đi bán kem với cái lão già sáu bảy mươi tuổi này chưa đủ khổ ải hay sao? Hãy để cái bánh xe xe hơi làm phúc kia đè nát tôi ngay khi tôi không còn đủ sức để đi bán kem nữa.- Tôi còn nhớ cái lúc ông quay ngoắt xe lại trước tiếng gọi kem của lũ trẻ trêu trọc. Ông hoàn toàn mất tỉnh táo. Ông bị lừa! Ông bị chết oan! Ông không oán hận cái chết đó sao?- Chính cái chết đó làm tôi tỉnh táo ra. Tôi đã hiểu được thế nào là sống. Còn cô hình như cô vẫn chưa muốn hiểu phải không?- Có thể là tôi đã rất muốn mà tôi chưa hiểu được đấy thôi!Ba ạ! Mùa xuân năm vừa rồi trên mộ ba bỗng nhiên mọc một cái cây có năm cành. Con rưng rưng không biết có phải đó là năm đứa con của ba không. Năm cành non trổ lộc đâm chồi. Con nâng niu và tưới nước mát cho chúng. Con nghe trong gió thoảng hơi thở và tiếng nói thì thầm của ba.Mùa xuân bình thản buông những giọt bụi mềm ấm xuống lòng đất thổn thức.Ba ơi!Hết Mục lục Bức Thư Gửi Người Đã Khuất Bức Thư Gửi Người Đã Khuất Hiền AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: vietshareĐược bạn: mickey đưa lên vào ngày: 6 tháng 6 năm 2004
Hiền Anh Bức Thư Gửi Người Đã Khuất Con cứ tưởng là con đã hiểu tất cả. Hoá ra con không hiểu gì cả. Mọi vật cứ quay cuồng rồi chính con cũng xa lạ với chính con. Con không biết là mình ở đâu nữa, ở trong mình, hay ở một nơi nào rất xa. Con những tưởng là ba biết rõ tất cả. Vậy mà ba bỏ con, ba vui thú với mấy ông bạn già bỏ mặc con với những nỗi lo toan không nơi nương tựa. Con sợ lắm! Nhưng phải cố gượng dậy. Không còn cách nào khác.Ba ơi! Con thầm gọi ba những lúc thế này để trái tim con ấm lên tưởng như bàn tay ba che chở vỗ về. Ba ở bên con hay ở một nơi nào rất xa. Ba con mình luẩn quẩn bên nhau. Còn cuộc đời thì như những thước phim cứ quay đi quay lại. Đã có lúc con mặc kệ nó. Nhưng rồi nó cứ cuốn con đi. Chân con cứ phải chạy, tai con cứ phải nghe, mắt con cứ phải nhìn thấy và miệng con thì cứ phải huyên thuyên những điều vô nghĩa lý.Con chẳng biết kể cho ba nghe chuyện gì cả. Chuyện mẹ Ở nhà vật lộn với bệnh già ca cẩm suốt ngày, một mình, chỉ có một mình ư? Mẹ hiểu tuổi già của mẹ hơn con. Mẹ bận tâm về nó hơn là bận tâm về con. Con cũng chẳng giúp được mẹ ngoài việc lắng nghe một cách thờ ơ và sốt ruột. Con thấy mẹ lẩm cẩm còn mình thì như có lỗi, như nhận ra mình là đứa con bất hiếu. Tại sao con không già như mẹ để thông cảm với mẹ hơn, để kiên nhẫn hơn và nói được với mẹ một điều gì đó có nghĩa. Các em con cũng thế. Chúng nó chẳng có thì giờ để chia xẻ với mẹ nỗi bận tâm của mẹ. Chúng có bao nỗi bận tâm của chúng. Cái đầu nối giữa tuổi già và tuổi trẻ thật mong manh. Nó cứ trượt đi theo vòng quay thời gian. Đuổi nhau mà chẳng bao giờ nắm bắt được nhau. Nhưng rồi sẽ đến lúc chúng con sẽ già lúc ấy chúng con sẽ thương xót và nuối tiếc. Rồi ai sẽ thương xót và nuối tiếc chúng con? Chắc là các con của chúng con. Giá mà có thể đổi chỗ cho nhau được.Cái Hường đang mải mê đi thi tay nghề giỏi. Trông nó phởn phơ lắm. Nó giật giải nhì ở huyện đấy ba. Bây giờ nó đang chuẩn bị đi thi thành phố. Chồng nó đang phất, mua sắm được khối thứ. Nó rất ngạc nhiên khi thấy con bỏ nhà bỏ cửa ra đi. Làm sao nó hiểu được. Giá mà nó hiểu được một chút nó sẽ không nhìn con như thế.Thằng Hưng đang xây khách sạn. Nó gầy rộc đi. Nó chẳng nói với con một câu nào. Con thấy mình thật là vô tích sự.Con cũng chẳng còn nhận được ra thằng Phú nữa. Nó giống như bọn thanh niên bây giờ, ăn mặc, đầu tóc, nói năng, cả phong cách tiêu sài. Con thật cổ lỗ sĩ phải không ba?Còn cái Minh, nó nuôi thằng Tiến cho con. Thỉnh thoảng chồng nó lại dúi cho con một ít tiền. Hễ con quà cáp một tý là y như rằng chúng nó kêu lên: "Bác làm gì có tiền mà mua". Khách khứa của chúng đến nhà bằng đủ phương tiện, xe hơi, xe máy... chúng miễn cưỡng giới thiệu: "Bà chị em, viết văn". Thế là con nhận được đủ loại ánh mắt thờ ơ, ái ngại và cả thương hại nữa.Thằng Tiến đang vỡ giọng, đang tập làm người lớn. Nó không thích laÜng nhaÜng theo con như ngày xưa nữa. Trước khi đi học nó đánh giày, chải đầu, xịt gôm bọt, thỉnh thoảng buông ra một câu triết lý rất "cụ". Nó không thích con xuất hiện trước bạn bè của nó. Không thích con đưa đón và đưa tiền ăn sáng cho nó trước mặt mọi người. Con thấy nó vừa thân thiết với con vừa xa lạ với con. Con ngỡ ngàng tưởng như mình đang mất đi một cái gì đó thật quý giá. Tuổi thơ của con trai con. Tất cả chỉ còn những ký ức. Hiện diện của ngày hôm nay là một cậu thiếu niên đang dần trở thành một cậu thanh niên. Niềm vui xen nỗi lo âu làm con thắc thỏm.Con hoang mang lắm ba. Con muốn níu giữ một cái gì đấy. Nhưng rồi nó cứ trượt đi. Con hoảng sợ đến một lúc nào đó tất cả sẽ kết thúc. Con đau xót chấp nhận cái quy luật sinh tồn nghiệt ngã.Anh ấy vẫn cứ thế, vẫn chứng nào tật ấy. Uống rượu liên miên và nuôi mối hận thù thâm căn cố đế với mấy ông lãnh đạo. Anh ấy cho rằng sự "bất công thành doanh toại" của anh ấy là do họ. Còn con thì, cho rằng do rượu. Anh ấy đã tưới mềm ý chí bằng rượu. Đốt cháy sự nghiệp bằng rượu. Bây giờ anh ấy chỉ còn là con ve sầu rả rê than thở. Con chẳng có cách gì giúp được anh ấy dù ở gần hay ở xa. Vì có bao giờ anh ấy biết nghe con. Tại sao người ta không thể chỉ bằng lòng với những gì mình có?Nhưng có thể muốn bằng lòng cũng không được. Con đã từng an phận, muốn bằng lòng, cuộc đời chỉ biết có chồng con, dạy học, nuôi heo, nuôi gà... Nhưng rồi dạy học, nuôi heo, nuôi gà cũng không nuôi nổi ba con người, một kỹ sư, một thầy giáo và một đứa con ba tuổi. Chúng con không dám chi phí cho một ngày đi công viên hay đi xem xinê. Phải trốn mọi đám cưới của bạn bè, chưa biết thế nào là niềm vui của ngày Tết từ khi ý thức được thế nào là Tết. Ngày xưa con còn nhớ, Tết con không có áo mới không có xe đạp để đi chơi cùng với bạn bè. Nhưng dù sao ngày đó con vẫn hồ hởi ra trò. Bao nhiêu chàng trai vẫn đỏ mặt trước con bởi gương mặt trắng hồng nổi bật trên chiếc áo tháo túi nhuộm nâu của con. Chiếc áo mà bạn của mẹ thấy con không có áo mặc đã động lòng trắc ẩn cho con. Tuổi trẻ của con đã đánh bạt chiếc áo già nua ấy. Con vẫn rực rỡ, vẫn xinh tươi, các bạn trai của con sau này bảo thế. Họ không hề để ý đến chiếc áo ấy đã từng là của một bà già năm mươi tuổi khoác lên người một thiếu nữ mười sáu tuổi. Nhưng bây giờ thì khác rồi ba ạ. Con đã là chủ gia đình, nhất là con trai và hai bên nội ngoại chưa kể đến khách khứa bạn bè và những cô cậu học sinh. Phần mứt rượu Tết của cơ quan con, chúng con mang về lễ tổ tiên bên ngoại. Rồi chúng con bỏ trốn cái Tết đi đến một nơi thật xa. Nơi ấy người ta chỉ đón Tết duy nhất có một ngày mà cái ngày duy nhất ấy, chúng con đang rông ruổi trên đường với túi bánh lương khô. Nỗi khổ sở làm chúng con trở nên khó tính. Con cáu bẳn còn anh ấy thì nghiện rượu. Niềm xót xa cho cậu con trai ba tuổi ngơ ngác không biết Tết là gì làm cho con oán hận. Con oán hận anh ấy. Rồi con lại thấy mình vô lý. Con oán hận đời. Nhưng đời là ai? Là cái gì? Con chẳng làm sao định nghĩa nổi. Con oán hận cho sự hèn kém của mình. Thế là con bỏ chạy. Ba biết đấy ngày đó con đã trốn đi, gia tài duy nhất là cậu con trai. Con không đành lòng trước sự lạc lõng của con báo hiệu một sự lạc lõng định mệnh dành cho con trai con. Con bỏ cái nhà quê tĩnh lặng ấy, bỏ cái công việc dạy học đơn điệu và tẻ nhạt ấy, con chẳng biết dạy gì cho lũ trẻ ấy cả khi mà áo chúng rách còn tim con thì bươm bả, tả tơi. Con lao vào cái đám ồn ào của phố phường để đánh lừa cảm giác là mình đang sống. Con đi đưa hàng thuê dành dụm được ít vốn, đi buôn, rồi mất tất cả. Cuối cùng con đâm sầm vào văn chương hy vọng sẽ gửi gắm nơi đó một điều gì, hy vọng được an ủi, được chia sẻ, được sống...Song văn chương cũng chẳng nuôi sống nổi con và con của con. Đã thế những nỗi niềm tâm tư trăn trở của con lại bị người ta tung hê mổ xẻ và giễu cợt. Con hoảng sợ và lại tiếp tục chạy trốn. Song con không biết trốn vào đâu ba ạ.Con viết truyện về một ông lão bán kem bị vòng quay nghiệt ngã của cuộc đời đè nát. Người ta bảo, đừng để ông ấy chết, chỉ để ông ấy què chân thôi họ sẽ in và con sẽ có một trăm ngàn tiền nhuận bút. Đêm đêm ông lão tội nghiệp ấy về năn nỉ con:- Đừng để tôi què chân. Hãy làm ơn để tôi chết! Đừng để tôi què chân!- Nếu ông què chân thì tôi có một trăm ngàn nhuận bút. Nó sẽ nuôi tôi được mười ngày.- Nhưng nếu tôi què chân thì ai sẽ nuôi tôi? Ai sẽ cho tôi năm ngàn một ngày để sống? Cô muốn tôi lê lết đi ăn xin ư? Cái thân già này, con đường nhầy nhụa nước mắt và nước bọt này, cô muốn đày ải tôi khổ sở hơn nữa hay sao. Đi bán kem với cái lão già sáu bảy mươi tuổi này chưa đủ khổ ải hay sao? Hãy để cái bánh xe xe hơi làm phúc kia đè nát tôi ngay khi tôi không còn đủ sức để đi bán kem nữa.- Tôi còn nhớ cái lúc ông quay ngoắt xe lại trước tiếng gọi kem của lũ trẻ trêu trọc. Ông hoàn toàn mất tỉnh táo. Ông bị lừa! Ông bị chết oan! Ông không oán hận cái chết đó sao?- Chính cái chết đó làm tôi tỉnh táo ra. Tôi đã hiểu được thế nào là sống. Còn cô hình như cô vẫn chưa muốn hiểu phải không?- Có thể là tôi đã rất muốn mà tôi chưa hiểu được đấy thôi!Ba ạ! Mùa xuân năm vừa rồi trên mộ ba bỗng nhiên mọc một cái cây có năm cành. Con rưng rưng không biết có phải đó là năm đứa con của ba không. Năm cành non trổ lộc đâm chồi. Con nâng niu và tưới nước mát cho chúng. Con nghe trong gió thoảng hơi thở và tiếng nói thì thầm của ba.Mùa xuân bình thản buông những giọt bụi mềm ấm xuống lòng đất thổn thức.Ba ơi!Hết Mục lục Bức Thư Gửi Người Đã Khuất Bức Thư Gửi Người Đã Khuất Hiền AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: vietshareĐược bạn: mickey đưa lên vào ngày: 6 tháng 6 năm 2004
Linh Vang Bức Tranh Người đàn ông hơi có tuổi đứng nhìn chăm chăm vào bức họa vẽ khuôn mặt một thiếu nữ còn trẻ lắm, khoảng đôi mươi, tóc dài óng mượt xõa ngang vai. Ông như xúc động mạnh. Ông hết nhìn bức tranh rồi lại nhìn qua một thiếu nữ trẻ khác vừa ở trên lầu đi xuống và đang đứng bên cạnh ông, rồi lại nhìn bức tranh, rồi lại nhìn cô, và lần này thì như ông có ý muốn hỏi điều gì. Cô gái tóc ngắn như hiểu ý, nhoẻn miệng cười: − Không phải cháu đâu, bác! Người trong bức tranh là mẹ cháu đó! − Cháu tên gì? − Đoan Trang. Đoan, Đoan! Ông vụt hỏi nhanh: − Còn mẹ cháu có phải tên là Khánh Đoan không? − Đúng rồi! Sao bác biết? − Bác là bạn thân của mẹ cháu. − Bác Luân! Phải bác là bác Luân không? Người đàn ông gật đầu thay cho câu trả lời. Cô gái vui vẻ nói: − Mẹ cháu nhắc tới bác hoài. Bấy giờ, Ý Nhi, cô cháu của người đàn ông đang ngồi nơi xa- lông mới lên tiếng, hỏi lại: − Cậu quen mẹ của Đoan Trang thật à? ...Có phải...? Cô ngập ngừng rồi không hỏi nữa, vì xem chừng cô đã biết câu trả lời. Cô tảng lờ: − Đoan Trang với mẹ Đoan Trang giống nhau ghê cậu nhỉ? Bà vẫn còn trẻ lắm, chẳng khác với bức tranh là mấy. Đi ra đường chắc nhiều người nghĩ đây là hai chị em! Rồi quay sang bạn, Ý Nhi nói: − Đây là cậu Út của mình. Cậu ở tiểu bang xa đến thăm mình và hôm nay cậu đưa hai đứa mình đi ăn, mình đã dặn trước Đoan Trang là đừng ăn cơm nhà tối nay là vì vậy. Từ phòng khách, ông nhìn vào trong lối đi hẹp như có ý kiếm ai. Thấy vậy, Đoan Trang nói: − Mẹ cháu không có ở nhà. Cậu Út của Ý Nhi là Professor Nguyễn, một giáo sư đại học, vừa bước vào tuổi trung niên, mái tóc chỉ mới lẫn vài sợi bạc. Ông mang cặp kính khá dày, nhưng mặt ông vẫn giữ nét đẹp, lanh lợi của thời trai trẻ. Đám học trò đoán hẳn hai chục năm trước, cũng có người say mê ông hay có nhiều người thích ông. Người ông tráng kiện, bụng thon, vì ông có thói quen bơi lội mỗi sáng trước khi đến trường. Ông trong ban giảng huấn của ngành điện. Tay ông đeo nhẫn như là ông đã lập gia đình nhưng thật sự thì ông không có vợ và chưa từng có vợ. Ông ít nói về đời sống riêng của ông nên ngay cả đồng nghiệp cũng không hiểu rõ về ông để về kể cho vợ họ nghe, để rồi một chút ít về ông được lọt ra ngoài, chỉ biết là ông sống một mình. Bao nhiêu năm đi đi về về trong căn phòng thuộc trường đại học. Căn phòng nhìn xuống con lạch uốn khúc, có chiếc cầu gỗ bắc ngang, hai bên bờ có hàng liễu rũ. Thuở đó, ông cũng có người yêu. Khánh Đoan. Hai người yêu nhau với sự chống đối quyết liệt của mẹ Khánh Đoan. Luân không cùng tôn giáo với gia đình bà. Bà cho là những người không tin Chúa là ở ngoài chơi với ma quỷ! Ba của Khánh Đoan là ông Huấn đã chịu rửa tội theo đạo của bà khi bà bằng lòng lấy ông. Bây giờ, bà cũng muốn Luân học đạo, vô đạo, rồi bà mới chịu gả Khánh Đoan cho Luân. Nhưng Luân không giống ông Huấn. Luân không muốn bị ai bắt ép theo đạo, dù người đó là mẹ của người yêu mình, và dù chàng đã yêu Khánh Đoan tha thiết. Khánh Đoan mạo hiểm cho tình yêu, có ý chờ anh rủ nàng bỏ nhà ra đi lập tổ uyên ương, nhưng anh còn lý tưởng quá, anh không cho việc ra đi như vậy là một điều chấp nhận được. Anh còn nghĩ với tình yêu chân thật của hai người, mẹ của Khánh Đoan trước sau gì cũng bằng lòng cho họ lấy nhau. Anh khuyên nàng kiên nhẫn, và anh cũng nói, giả dụ anh ở vị trí của bậc làm cha mẹ, anh cũng sẽ đau lòng lắm nếu con cái bỏ nhà ra đi như vậy. Nhưng anh lầm. Tình yêu chân thật đó không lay chuyển được trái tim sắt đá của mẹ Khánh Đoan. Bà vẫn bắt Khánh Đoan bỏ Luân và ép nàng đi lấy chồng. Thuở đó, Luân có khiếu về hội họa. Anh tự học. Anh thích vẽ vào những lúc rảnh rỗi. Anh vẽ cho Khánh Đoan được một bức mà anh vừa ý nhất. Anh tặng cho Khánh Đoan bức ấy. Ngày cuối gặp nhau, Luân nói: − Em đi lấy chồng...chắc không tiện giữ bức tranh...em cho anh xin lại. − Em cũng nghĩ vậy. Anh nói thêm: − Để anh vẫn có em bên cạnh... Nhưng rồi một phút sau nàng buồn bã đổi ý: − Thôi cho em mượn. Vật gì cũng trả lại cho anh thì em không còn gì để mang theo nữa. Nếu sau này gặp lại, anh còn đòi thì em trả. Rồi nàng đi lấy chồng. Mẹ nàng gả con cũng chỉ vì nghe qua cái danh của gia đình bên người ấy. Bà khuyên nàng, được làm dâu nhà ấy là phúc đức mấy đời, với lại họ cùng tin Chúa như gia đình mình, dễ dàng thông cảm nhau. Người chồng lớn tuổi xử tốt với nàng. Nhưng nàng sống với sự trống vắng trong lòng. Chỉ từ khi có Đoan Trang, nàng bận rộn trong bổn phận làm mẹ, là nàng thấy hạnh phúc nhất. Năm năm trước người chồng đau bệnh nan y và mất. Từ đó, hai mẹ con lại càng gần gũi nhau thêm. Chồng để lại một gia sản đáng kể nên nàng và con không phải bận tâm lo lắng về chuyện mưu sinh. Mẹ con thường tâm sự với nhau, vì vậy mà Đoan Trang biết được mối tình ngày xưa của mẹ. Ở tuổi mới lớn, Đoan Trang thấy những mối tình dang dở thật là tội nghiệp. Và cô bắt mẹ cô hứa là mẹ sẽ không cản trở việc yêu đương của cô nếu cô gặp và yêu ai. Nói tới đây, cô cười: − Bây giờ thì mẹ chưa phải lo, vì con chưa yêu ai. Hì hì... Thấy ông cậu chừng đó tuổi mà vẫn chưa chịu lập gia đình, cô cháu Ý Nhi mới tính làm mai mẹ của bạn cho cậu. Qua những lần phôn, và những lần e-mails, cô dụ được ông cậu bay qua đây chơi. Ai dè! Hai người đã biết nhau trước rồi. Ý Nhi nói nhỏ điều gì bên tai cô bạn. Ông Luân thấy cả hai vui vẻ lắm. Ông làm ra vẻ không để ý hai cô nhỏ mà vẫn chăm chú nhìn bức tranh, vì đây chính là bức tranh ông thích nhất và ngày đó ông có ý muốn người yêu để lại cho ông giữ. Hồi lâu ông Luân lên tiếng nhẹ, hỏi Đoan Trang: − Bố mẹ cháu khỏe không? − Thật sự mẹ cháu mới là người bác muốn hỏi phải không? Mẹ cháu khỏe! Còn bố cháu thì bị bệnh mất 5 năm rồi. Và cô lém lỉnh: − Mẹ cháu...vẫn...ở vậy! Chắc mẹ qua thăm bà ngoại ở bên dì Thục Đoan. Hai cô gái dàn xếp cho ông Luân gọi Khánh Đoan ngày hôm sau. Ý Nhi cẩn thận hỏi Đoan Trang: − Có cần cho mẹ của Đoan Trang biết trước không? − Trang nghĩ là không cần. Để cho mẹ ngạc nhiên và thích thú chơi. Ý Nhi quay sang hỏi ông cậu của cô: − Còn cậu? Con tim của cậu có good không? Cậu không đứng tim khi nghe giọng nói của bác ấy chứ! Ông Luân bước vào nhà Khánh Đoan với tâm trạng của chàng thanh niên mới đến nhà người yêu lần đầu, dù rằng sáng nay ông đã nghe lại được giọng nói của nàng qua phôn. Ông hồi hộp, chuẩn bị câu nói mà ông đã thực tập nhiều lần trên đường đến đây, để bắt đầu câu chuyện. − Anh đến "đòi" lại bức tranh... Khánh Đoan mặc một chiếc áo đầm màu trắng. Ông thấy nàng vẫn thon gọn như thời con gái. Giọng nàng nhỏ nhẹ: − Anh không cần phải lấy lại. Lúc nào, nó cũng là của anh. − Em nói thế thì anh không đòi nữa. Anh nghẹ..mẹ em còn khỏe mạnh. − Vâng, mẹ còn khỏe. Nhưng lâu rồi mẹ không còn ...khó khăn như xưa. Mà cho dù mẹ có còn khó khăn, thì em cũng không cho me....xía vô chuyện của em nữa. Anh biết không, vì em cũng đã làm mẹ rồi mà. Con đường trước nhà Khánh Đoan có hai hàng cây phong cao ngất, bữa nay những chiếc lá trên cành đã bắt đầu trở vàng thật đẹp. Khánh Đoan bước ra cửa. Ông Luân đưa tay lấy chùm chìa khóa nơi tay Khánh Đoan và ông giúp nàng khóa cửa lại. Hai người từ từ ra xe. Ông Luân mở cửa xe cho Khánh Đoan bước vô ngồi, rồi ông đóng cửa xe, rồi ông vòng qua cửa phía bên kia, vô xe ngồi. Họ như đôi trẻ mới hò hẹn lần đầu. Ngày xưa khi mới quen nhau trời cũng vừa bắt đầu vào thu. Mùa thu hò hẹn. Ông đưa tay qua nắm lấy bàn tay ấm áp của nàng, bóp nhẹ. Sao mà hạnh phúc quá! Ông sung sướng nói: − Bức tranh! Thì ra chính nó giúp anh tìm lại được em! Linh Vang (Tacoma) Mục lục Bức Tranh Bức Tranh Linh VangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.SBC : sưu tầm và sửa chính tả Nguồn: VnthuquanĐược bạn: ct.ly đưa lên vào ngày: 21 tháng 10 năm 2005
Linh Vang Bức Tranh Người đàn ông hơi có tuổi đứng nhìn chăm chăm vào bức họa vẽ khuôn mặt một thiếu nữ còn trẻ lắm, khoảng đôi mươi, tóc dài óng mượt xõa ngang vai. Ông như xúc động mạnh. Ông hết nhìn bức tranh rồi lại nhìn qua một thiếu nữ trẻ khác vừa ở trên lầu đi xuống và đang đứng bên cạnh ông, rồi lại nhìn bức tranh, rồi lại nhìn cô, và lần này thì như ông có ý muốn hỏi điều gì. Cô gái tóc ngắn như hiểu ý, nhoẻn miệng cười: − Không phải cháu đâu, bác! Người trong bức tranh là mẹ cháu đó! − Cháu tên gì? − Đoan Trang. Đoan, Đoan! Ông vụt hỏi nhanh: − Còn mẹ cháu có phải tên là Khánh Đoan không? − Đúng rồi! Sao bác biết? − Bác là bạn thân của mẹ cháu. − Bác Luân! Phải bác là bác Luân không? Người đàn ông gật đầu thay cho câu trả lời. Cô gái vui vẻ nói: − Mẹ cháu nhắc tới bác hoài. Bấy giờ, Ý Nhi, cô cháu của người đàn ông đang ngồi nơi xa- lông mới lên tiếng, hỏi lại: − Cậu quen mẹ của Đoan Trang thật à? ...Có phải...? Cô ngập ngừng rồi không hỏi nữa, vì xem chừng cô đã biết câu trả lời. Cô tảng lờ: − Đoan Trang với mẹ Đoan Trang giống nhau ghê cậu nhỉ? Bà vẫn còn trẻ lắm, chẳng khác với bức tranh là mấy. Đi ra đường chắc nhiều người nghĩ đây là hai chị em! Rồi quay sang bạn, Ý Nhi nói: − Đây là cậu Út của mình. Cậu ở tiểu bang xa đến thăm mình và hôm nay cậu đưa hai đứa mình đi ăn, mình đã dặn trước Đoan Trang là đừng ăn cơm nhà tối nay là vì vậy. Từ phòng khách, ông nhìn vào trong lối đi hẹp như có ý kiếm ai. Thấy vậy, Đoan Trang nói: − Mẹ cháu không có ở nhà. Cậu Út của Ý Nhi là Professor Nguyễn, một giáo sư đại học, vừa bước vào tuổi trung niên, mái tóc chỉ mới lẫn vài sợi bạc. Ông mang cặp kính khá dày, nhưng mặt ông vẫn giữ nét đẹp, lanh lợi của thời trai trẻ. Đám học trò đoán hẳn hai chục năm trước, cũng có người say mê ông hay có nhiều người thích ông. Người ông tráng kiện, bụng thon, vì ông có thói quen bơi lội mỗi sáng trước khi đến trường. Ông trong ban giảng huấn của ngành điện. Tay ông đeo nhẫn như là ông đã lập gia đình nhưng thật sự thì ông không có vợ và chưa từng có vợ. Ông ít nói về đời sống riêng của ông nên ngay cả đồng nghiệp cũng không hiểu rõ về ông để về kể cho vợ họ nghe, để rồi một chút ít về ông được lọt ra ngoài, chỉ biết là ông sống một mình. Bao nhiêu năm đi đi về về trong căn phòng thuộc trường đại học. Căn phòng nhìn xuống con lạch uốn khúc, có chiếc cầu gỗ bắc ngang, hai bên bờ có hàng liễu rũ. Thuở đó, ông cũng có người yêu. Khánh Đoan. Hai người yêu nhau với sự chống đối quyết liệt của mẹ Khánh Đoan. Luân không cùng tôn giáo với gia đình bà. Bà cho là những người không tin Chúa là ở ngoài chơi với ma quỷ! Ba của Khánh Đoan là ông Huấn đã chịu rửa tội theo đạo của bà khi bà bằng lòng lấy ông. Bây giờ, bà cũng muốn Luân học đạo, vô đạo, rồi bà mới chịu gả Khánh Đoan cho Luân. Nhưng Luân không giống ông Huấn. Luân không muốn bị ai bắt ép theo đạo, dù người đó là mẹ của người yêu mình, và dù chàng đã yêu Khánh Đoan tha thiết. Khánh Đoan mạo hiểm cho tình yêu, có ý chờ anh rủ nàng bỏ nhà ra đi lập tổ uyên ương, nhưng anh còn lý tưởng quá, anh không cho việc ra đi như vậy là một điều chấp nhận được. Anh còn nghĩ với tình yêu chân thật của hai người, mẹ của Khánh Đoan trước sau gì cũng bằng lòng cho họ lấy nhau. Anh khuyên nàng kiên nhẫn, và anh cũng nói, giả dụ anh ở vị trí của bậc làm cha mẹ, anh cũng sẽ đau lòng lắm nếu con cái bỏ nhà ra đi như vậy. Nhưng anh lầm. Tình yêu chân thật đó không lay chuyển được trái tim sắt đá của mẹ Khánh Đoan. Bà vẫn bắt Khánh Đoan bỏ Luân và ép nàng đi lấy chồng. Thuở đó, Luân có khiếu về hội họa. Anh tự học. Anh thích vẽ vào những lúc rảnh rỗi. Anh vẽ cho Khánh Đoan được một bức mà anh vừa ý nhất. Anh tặng cho Khánh Đoan bức ấy. Ngày cuối gặp nhau, Luân nói: − Em đi lấy chồng...chắc không tiện giữ bức tranh...em cho anh xin lại. − Em cũng nghĩ vậy. Anh nói thêm: − Để anh vẫn có em bên cạnh... Nhưng rồi một phút sau nàng buồn bã đổi ý: − Thôi cho em mượn. Vật gì cũng trả lại cho anh thì em không còn gì để mang theo nữa. Nếu sau này gặp lại, anh còn đòi thì em trả. Rồi nàng đi lấy chồng. Mẹ nàng gả con cũng chỉ vì nghe qua cái danh của gia đình bên người ấy. Bà khuyên nàng, được làm dâu nhà ấy là phúc đức mấy đời, với lại họ cùng tin Chúa như gia đình mình, dễ dàng thông cảm nhau. Người chồng lớn tuổi xử tốt với nàng. Nhưng nàng sống với sự trống vắng trong lòng. Chỉ từ khi có Đoan Trang, nàng bận rộn trong bổn phận làm mẹ, là nàng thấy hạnh phúc nhất. Năm năm trước người chồng đau bệnh nan y và mất. Từ đó, hai mẹ con lại càng gần gũi nhau thêm. Chồng để lại một gia sản đáng kể nên nàng và con không phải bận tâm lo lắng về chuyện mưu sinh. Mẹ con thường tâm sự với nhau, vì vậy mà Đoan Trang biết được mối tình ngày xưa của mẹ. Ở tuổi mới lớn, Đoan Trang thấy những mối tình dang dở thật là tội nghiệp. Và cô bắt mẹ cô hứa là mẹ sẽ không cản trở việc yêu đương của cô nếu cô gặp và yêu ai. Nói tới đây, cô cười: − Bây giờ thì mẹ chưa phải lo, vì con chưa yêu ai. Hì hì... Thấy ông cậu chừng đó tuổi mà vẫn chưa chịu lập gia đình, cô cháu Ý Nhi mới tính làm mai mẹ của bạn cho cậu. Qua những lần phôn, và những lần e-mails, cô dụ được ông cậu bay qua đây chơi. Ai dè! Hai người đã biết nhau trước rồi. Ý Nhi nói nhỏ điều gì bên tai cô bạn. Ông Luân thấy cả hai vui vẻ lắm. Ông làm ra vẻ không để ý hai cô nhỏ mà vẫn chăm chú nhìn bức tranh, vì đây chính là bức tranh ông thích nhất và ngày đó ông có ý muốn người yêu để lại cho ông giữ. Hồi lâu ông Luân lên tiếng nhẹ, hỏi Đoan Trang: − Bố mẹ cháu khỏe không? − Thật sự mẹ cháu mới là người bác muốn hỏi phải không? Mẹ cháu khỏe! Còn bố cháu thì bị bệnh mất 5 năm rồi. Và cô lém lỉnh: − Mẹ cháu...vẫn...ở vậy! Chắc mẹ qua thăm bà ngoại ở bên dì Thục Đoan. Hai cô gái dàn xếp cho ông Luân gọi Khánh Đoan ngày hôm sau. Ý Nhi cẩn thận hỏi Đoan Trang: − Có cần cho mẹ của Đoan Trang biết trước không? − Trang nghĩ là không cần. Để cho mẹ ngạc nhiên và thích thú chơi. Ý Nhi quay sang hỏi ông cậu của cô: − Còn cậu? Con tim của cậu có good không? Cậu không đứng tim khi nghe giọng nói của bác ấy chứ! Ông Luân bước vào nhà Khánh Đoan với tâm trạng của chàng thanh niên mới đến nhà người yêu lần đầu, dù rằng sáng nay ông đã nghe lại được giọng nói của nàng qua phôn. Ông hồi hộp, chuẩn bị câu nói mà ông đã thực tập nhiều lần trên đường đến đây, để bắt đầu câu chuyện. − Anh đến "đòi" lại bức tranh... Khánh Đoan mặc một chiếc áo đầm màu trắng. Ông thấy nàng vẫn thon gọn như thời con gái. Giọng nàng nhỏ nhẹ: − Anh không cần phải lấy lại. Lúc nào, nó cũng là của anh. − Em nói thế thì anh không đòi nữa. Anh nghẹ..mẹ em còn khỏe mạnh. − Vâng, mẹ còn khỏe. Nhưng lâu rồi mẹ không còn ...khó khăn như xưa. Mà cho dù mẹ có còn khó khăn, thì em cũng không cho me....xía vô chuyện của em nữa. Anh biết không, vì em cũng đã làm mẹ rồi mà. Con đường trước nhà Khánh Đoan có hai hàng cây phong cao ngất, bữa nay những chiếc lá trên cành đã bắt đầu trở vàng thật đẹp. Khánh Đoan bước ra cửa. Ông Luân đưa tay lấy chùm chìa khóa nơi tay Khánh Đoan và ông giúp nàng khóa cửa lại. Hai người từ từ ra xe. Ông Luân mở cửa xe cho Khánh Đoan bước vô ngồi, rồi ông đóng cửa xe, rồi ông vòng qua cửa phía bên kia, vô xe ngồi. Họ như đôi trẻ mới hò hẹn lần đầu. Ngày xưa khi mới quen nhau trời cũng vừa bắt đầu vào thu. Mùa thu hò hẹn. Ông đưa tay qua nắm lấy bàn tay ấm áp của nàng, bóp nhẹ. Sao mà hạnh phúc quá! Ông sung sướng nói: − Bức tranh! Thì ra chính nó giúp anh tìm lại được em! Linh Vang (Tacoma) Mục lục Bức Tranh Bức Tranh Linh VangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.SBC : sưu tầm và sửa chính tả Nguồn: VnthuquanĐược bạn: ct.ly đưa lên vào ngày: 21 tháng 10 năm 2005
Trương Thái Du Bức tranh hoa đào - Con biết bác chỉ muốn tuyển nhân viên trông quầy. Nhưng con đoán bác rất cần một quản lý trung cấp. Tuy vậy, con đem đến đây hẳn một đối tác có chút ít vốn với phương châm sòng phẳng, hai bên cùng có lợi.Bà dược sĩ nhướn mắt kính lão trực diện cô gái. Nếu cách đặt vấn đề thẳng thắn làm bà bối rối, thì sức sống trên khuôn mặt tự tin của cô khiến bà an tâm phần nào. ***Khúc mắc mở màn của liên kết giữa bác Mai và Hiền là số thuốc tồn kho, vài phần đã quá hạn sử dụng. Tất nhiên Hiền biết mấy phương án: Lờ đi; Bán tống bán tháo cho lái gian chuyên đánh tráo; Hủy số hết hạn, hạ giá nhóm lân cận… Ở cách xử trí uyển chuyển cuối cùng, Hiền sẵn thiện chí bù lỗ 10% cho “người thiệt”. Tuy nhiên câu trả lời của bác Mai làm Hiền bất ngờ:- Ta già rồi, cháu lại quá trẻ, tiền chẳng phải tất cả. Cháu hủy thuốc hết hạn đi. Cuối tuần này mình tái khai trương tiệm thuốc bằng một chuyến đi xa, khám bệnh thông thường và cấp thuốc miễn phí cho bà con dân tộc ở Lạc Dương.- Bác tốt quá.- Chưa chắc thế đâu. Lứa tụi cháu nên ý thức văn hóa kinh doanh là vừa. Xã hội hiện nay bát nháo quá. Mà ngày xửa ngày xưa chắc cũng vậy nên mới chết câu “buôn gian bán lận”. - Dạ, đúng thiệt. Bác ra chợ coi, giá nào cũng có và đến 99% là cân sai.- Bác vừa sửa nhà, dò hết các cửa hàng vật liệu và nhẩm trừ giá gốc thấy họ lãi chẳng là bao. Ai cũng bảo lấy công làm lời. Nhưng cuối cùng chuyến hàng nào, cửa hàng nào cũng thiếu. Nơi mấy tấc cát, chỗ chục viên đá, khi thì trăm viên gạch… mới vỡ vạc “bí quyết” làm ăn của họ. ***Có Hiền, nhà thuốc sáng sủa hơn. Vốn của cô góp trong những dược hiệu đang bán chạy. Hiền lấy tận gốc, mối quen ở Sài Gòn nên rất an tâm.Thì ra chị Linh con gái bác Mai mới lấy chồng xa. Kinh doanh dưới tấm bằng dược sĩ của mẹ nhưng chị quản hết, bác chỉ giúp đứng quầy mỗi khi rãnh rỗi. Chẳng hiểu Linh buôn bán ra sao mà nhiều khách oán thán. Bác Mai làm việc rất linh động. Bác thường trông mặt người bệnh rồi thỉnh thoảng bớt tiền cho họ. Sợ Hiền không vừa lòng, bác luôn ghi chú kỹ càng trong sổ bán hàng. Hiền gạt đi:- Bác khách sáo quá. Không lỗ là được rồi mà.- Phải chi con Linh được như cháu. Bác bị nó nói nặng nhiều lần nhưng chẳng dám giận. Nhà mỗi hai mẹ con, đi ra đi vào không nhìn nhau buồn lắm.Rảnh tay, Hiền thường mải mê ngắm bức tranh hoa đào rất đẹp của bác Mai treo ở mảng tường màu dịu bên phải. Cây đào trong thế hoành “rồng ôm ngọc quí”, thân chính khẽ lượn cong như muốn chở che một cành nhỏ mọc ra từ chỗ gốc sần sùi gai góc nhất. Chỉ nhành ấy vẫn khép nụ bên nõn lá xanh mướt, còn toàn thể bức tranh bừng sáng ánh hồng, lung linh như tà áo chúa xuân quét qua thời gian. ***Tết nay đến sớm, chắc vì suốt năm Hiền có nhiều niềm vui. Thu nhập từ hiệu thuốc kha khá. Số vốn Hiền tích cóp từ ngày đi làm, dồn vào kinh doanh rất hiệu quả. Hiền cũng đã đi được hai phần ba đoạn đường đến tấm bằng dược sĩ đại học tại chức. Tình yêu phải bí mật, nhưng đôi má cô quá ngây thơ, nó cứ ửng đỏ mỗi khi ai hỏi han duyên ái.- Cháu mua cây đào này bao nhiêu?- Dạ cháu đặt mấy tháng rồi, cây của nghệ nhân giá cao lắm - Hiền thật thà - Cháu mua tặng hiệu thuốc của chúng ta bác à, hơn hai triệu.- Thật khó tưởng tượng.- Xã hội bây giờ bắt đầu ăn ngon, mặc đẹp và chơi công phu mà bác.Hiền ướm tìm vị trí đặt chậu hoa trên chiếc bàn trà bán nguyệt dưới bức tranh cũ. Khi thân đào dáng trực che gần hết họa tiết sơn dầu, cô thấy thuận mắt nhất. Bất giác Hiền e ngại nhìn qua bác Mai.- Đẹp! Chỗ đấy chờ nó lâu rồi. Cháu khéo chọn mà cũng khéo ăn nói. Ở đây mọi thứ là của chung, nên phải để bác góp tiền mua đào với cháu. Nhất định là thế nhé.Rất tự nhiên, bác Mai bước lại ôm chặt Hiền như âu yếm đứa con mình rứt ruột đẻ ra. Dưới tán đào, họ ngồi bên hai ly trà “An tâm dưỡng phế” bốc khói. Cam thảo và trần bì dậy hương thật ấm áp.- Bức tranh này, với bác còn hơn cả kỷ niệm nữa. Cái năm ăn độn “bo bo”, hai bác ra bắc thăm quê cũ. Mùa xuân, bà chị gái mua một cành đào rất đẹp. Bác trai xuýt xoa mãi vì hoa rẻ quá, rẻ không ngờ. Ăn chưa no thì đồ chơi nào chẳng rẻ, chẳng là thứ xa xỉ. Bất ngờ, ông ra chợ hoa mua thêm mấy cành nữa, cắm khắp nhà. Tết ông chẳng dám đi đâu, cả lo họ hàng tốn kém theo phong tục mâm cơm chén rượu. Ngồi lì bên giá vẽ tạm, ông vẽ mãi… Ông không đặt tên tranh mà chỉ chú hai câu đối “Điểu ngữ tụng như ý – Hoa hương trình cát tường”. Ông mất vì một căn bệnh không khó chữa lắm, nhưng thiếu biệt dược. Ngày ấy Linh mới hơn mười tuổi. Từ đó trở đi, mỗi khi nhìn bức tranh bác lại nghiệm ra những di ngôn của người quá cố. Xưa khó khăn quá, có lúc bác phải buôn gian, bán dối. Chắc Linh nó nhiễm thói xấu ấy. Hồi đầu, thứ thuốc quá hạn và sắp hết hạn cháu soạn ra không phải do ế đâu. Linh đã chủ tâm lấy về. Một vốn bốn lời. Chồng nó là nhà buôn thuốc lớn ở Sài Gòn. Bây giờ chúng làm ăn lớn lắm, giàu lắm, nhưng bác không mừng nổi mà chỉ xót xa…Hiền nghèn nghẹn nơi cổ họng. - Thôi nói chuyện vui cho ta nghe đi con gái – Bác Mai chuyển đề tài – Tết con dẫn người yêu đến giới thiệu với ta nhé. Hiền cố giấu nụ cười luống thẹn. Đôi má nàng ửng lên rất nhanh. Từ ngoài đường nhìn vào, có thể khách sẽ tưởng hai người phụ nữ ấy đang khoác những chiếc áo len màu hoa đào, màu nắng xuân tươi mới của cao nguyên Lâm Viên.Thung lũng Đa thiện,Đà Lạt 1.2006 Mục lục Bức tranh hoa đào Bức tranh hoa đào Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 3 năm 2008
Truong Thai Du Peach blossom painting - I know you only want to recruit counter staff. But I guess you really need a middle manager. However, you brought here a partner with a little capital with the motto of fairness, mutual benefit. The pharmacist raised her eyes and looked at the girl. If the straightforward way of asking the question confused her, the vitality on her confident face reassured her somewhat. ***The opening problem of the connection between Ms. Mai and Hien is the inventory of drugs, some of which are past their expiration date. Of course Hien knows several options: Ignore; Selling and selling to fraudsters who specialize in swapping; Cancel the expired number, lower the price of neighboring groups... In the last flexible solution, Hien is willing to compensate the loss of 10% for the "loser". However, Uncle Mai's answer surprised Hien: - I'm old, you're too young, money isn't everything. Please destroy expired medicine. This weekend, I'll re-open the pharmacy with a long trip, regular medical check-ups and free medicine for ethnic people in Lac Duong. - You're so kind. - Not sure yet. Our generation should be aware of business culture. Society today is so chaotic. But once upon a time, it must have been like that, that's why the phrase "fraudulent trading" died out. - Yes, that's true. I went to the market to see if there were any prices and 99% of them were wrong. - I just renovated my house, checked all the material stores and mentally subtracted the original price and saw that they didn't make much profit. Everyone says it's worth the effort. But in the end, every shipment and every store was lacking. Sometimes a few inches of sand, sometimes a dozen stones, sometimes hundreds of bricks... only then will their "secret" of doing business be broken. ***With Hien, the pharmacy is brighter. Her capital is contributed to best-selling pharmaceutical brands. Hien got married, and her acquaintances are in Saigon, so she feels secure. It turns out that Mrs. Linh, Uncle Mai's daughter, recently got married far away. The business is run under her mother's pharmacist degree, but she manages everything, and she only helps stand at the counter when she has free time. I don't understand how Linh does business, but many customers complain. Uncle Mai works very flexibly. He often looks after patients and sometimes gives them money. Afraid that Hien would not be satisfied, he always took careful notes in the sales book. Hien brushed it off: - You're too polite. It's okay if you don't lose money. - If only Linh was like you. He was harshly spoken to many times but did not dare to get angry. It's a mother and daughter's house, and they don't look at each other sadly when they go in and out. With her hands free, Hien is often engrossed in looking at Uncle Mai's beautiful peach blossom painting hanging on the soft-colored wall on the right. The peach tree is in the horizontal position of "dragon holding precious gems", the main trunk curves slightly as if to cover a small branch growing from the roughest and thorniest root. Only that branch still closes its buds next to the green leaves, while the whole picture glows with pink light, shimmering like the dress of a spring princess sweeping through time. ***This Tet came early, probably because Hien had a lot of fun throughout the year. The income from the pharmacy is quite good. The amount of capital Hien has accumulated since working days has been put into business very effectively. Hien has also completed two-thirds of the way to her in-service university pharmacist degree. Love must be secret, but her cheeks are so innocent, they always turn red every time someone asks about love. - How much did you buy this peach tree? - Yes, I ordered it a few months ago, the price of the artisan tree is very high. - Hien is honest - I bought more than two million from our pharmacy as a gift. - It's hard to imagine. - Society now begins to eat well, dress well and play elaborately. Hien is looking for a position. Place the flower pot on the semi-circular tea table under the old painting. When the straight peach body covers most of the oil paint pattern, she finds it most pleasing to the eye. Unconsciously, Hien shyly looked at Uncle Mai. - Beautiful! That place has been waiting for it for a long time. I choose well and speak well. Here everything is shared property, so let me contribute money to buy peaches with you. That's definitely it. Very naturally, Mrs. Mai walked over and hugged Hien tightly as if lovingly giving birth to her own child. Under the peach canopy, they sat next to two steaming cups of "An Tam Nourishing Lungs" tea. Licorice and cedarwood have a warm scent. - This picture is more than a memory to me. In the year of "boo bo", the two of them went north to visit their old hometown. In the spring, my sister bought a beautiful peach branch. My uncle kept complaining because the flowers were so cheap, unbelievably cheap. If you haven't eaten enough, any toy is neither cheap nor a luxury. Suddenly, he went to the flower market to buy a few more branches and planted them all over the house. During Tet, he did not dare to go anywhere, even worrying that his relatives would spend money according to the custom of serving food and wine. Sitting still at the temporary easel, he painted forever... He did not name the painting but just noted two couplets: "The song of the bird recites as desired - Huong flowers show auspiciousness". He died from a disease that was not difficult to treat, but lacked a special medicine. At that time, Linh was just over ten years old. From then on, every time he looked at the painting, he realized the words of the deceased. It was so difficult in the past, there were times when I had to cheat and sell lies. Linh must have caught that bad habit. In the beginning, the medicine that was out of date and about to expire was not created by me because of poverty. Linh deliberately took it back. A capital of four words. Her husband is a big drug dealer in Saigon. Now their business is very big, very rich, but I can't be happy, I'm just sad... Hien choked in his throat. - Stop telling me something fun, daughter - Uncle Mai changed the subject - Please bring your lover to introduce yourself to me during Tet. Hien tried to hide her shy smile. Her cheeks blushed quickly. Looking in from the street, visitors might think those two women are wearing peach blossom-colored sweaters, the color of the fresh spring sunshine of the Lam Vien plateau. Da Thien Valley, Da Lat 1.2006 Table of contents Peach blossom painting Peach blossom painting Truong Thai DuWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author / VNthuquan - Online Library Posted by: Ct.Ly on: March 13, 2008
Khuyết Danh Bức tranh đẹp nhất Một họa sĩ suốt đời mơ ước một bức tranh ĐẸP NHẤT TRẦN GIAN. Ông đến hỏi vị giáo sư để biết điều gì đẹp nhất. Vị giáo sư trả lời: "Tôi nghĩ điều đẹp nhất trần gian là NIỀM TIN, vì niềm tin nâng cao giá trị con người." Người họa sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái và được trả lời: "TÌNH YÊU" là điều đẹp nhất trần gian, bởi tình yêu làm cho cay đắng trở nên ngọt ngào, mang đến nụ cười cho kẻ đang than khóc, làm cho điều bé nhỏ trở nên cao quý, cuộc sống sẽ nhàm chán biết bao nếu không có tình yêu" Cuối cùng, người họa sĩ gặp một người lính mới trở về từ mặt trận, khi được hỏi, người lính trả lời: "HÒA BÌNH là cái đẹp nhất trần gian, ở đâu có hòa bình, ở đó có cái đẹp." Khi trở về nhà, người họa sĩ nhận ra NIỀM TIN trong ánh mắt các con, TÌNH YÊU trong cái hôn của người vợ. Chính những điều đó khiến tâm hồn ông ngập tràn HẠNH PHÚC và BÌNH AN. Bây giờ thì ông đã hiểu thế nào là điều đẹp nhất trần gian. Sau khi tác phẩm của mình hoàn thành, người họa sĩ đặt tên cho bức tranh của mình là: "GIA ĐÌNH" Thật vậy, gia đình là nơi đầy ấp tiếng cười của trẻ thơ, tiếng hát của người mẹ và sức mạnh của người cha. Nơi đó có hơi ấm của những con tim biết yêu, là ánh sáng của đôi mắt tràn đầy hạnh phúc, là sự ân cần, là lòng chung thủy. Gia đình là ngôi thánh đường đầu tiên cho tuổi thơ học những điều hay lẽ phải, niềm tin và lý tưởng sống. - Đó là nơi chúng ta tìm về để được an ủi, nâng đỡ - Đó là nơi những món ăn đơn sơ cũng trở thành mỹ vị - Đó là nơi tiền bạc không quí bằng tình yêu - Đó là nơi ngay cả nước sôi cũng reo lên niềm vui và hạnh phúc. Mục lục Bức tranh đẹp nhất Bức tranh đẹp nhất Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: TSAH đưa lên vào ngày: 23 tháng 6 năm 2004
Noname The most beautiful picture An artist dreamed all his life of the MOST BEAUTIFUL painting IN THE WORLD. He went to ask the professor to know what was most beautiful. The professor replied: "I think the most beautiful thing in the world is FAITH, because faith enhances human values." The artist also asked the same question to a girl and was answered: "LOVE" is the most beautiful thing in the world, because love makes bitterness sweet, bringing smiles to those who are mourning. , making small things noble, how boring life would be without love" Finally, the artist met a soldier who had just returned from the front. When asked, the soldier replied: "PEACE is the most beautiful thing in the world, where there is peace, there is beauty." When returning home, the artist recognized FAITH in his children's eyes, LOVE in his wife's kiss. Those were the things that filled his soul with HAPPINESS and PEACE. Now he understood what the most beautiful thing in the world was. After his work was completed, the artist named his painting is: "FAMILY" Indeed, family is a place full of children's laughter, the mother's singing and the father's strength. There is the warmth of loving hearts, the light of a couple eyes filled with happiness, kindness, and loyalty. Family is the first cathedral for children to learn good things, beliefs and ideals of life. - That's where we turn to for comfort and support - That's where simple dishes become delicacies - That's where money is not as precious as love - That's where even boiling water rings bring joy and happiness. Table of contents The most beautiful picture The most beautiful picture AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Uploaded by friend: TSAH on: June 23, 2004
Huy Đức Bức Tường Berlin Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ. Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”. Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do. Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”. Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do. Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ. Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản. Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy. Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương. Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava. Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”. Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945. Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”. Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.Huy Đức Mục lục Bức Tường Berlin Bức Tường Berlin Huy ĐứcChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Blog tác giảĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 15 tháng 12 năm 2009
Huy Đức Bức Tường Berlin Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ. Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là “bức tường ô nhục”. Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị “xẻ làm tư” theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. “Kế hoạch Marshall” đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do. Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức “đề nghị xây tường”. Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và “bức tường ô nhục” đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “dựng lên lén lút”. Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân “vượt biên” mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do. Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày “23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít”. Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ. Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là “giải phóng quân” đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản. Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và “ngoại bang” đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy. Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, “toàn quyền Liên xô”, tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn… tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to “không cam chịu làm nô lệ nữa”. Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương. Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng “chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn”. Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có “nổi dậy”, đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava. Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: “Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này”. Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định “tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới” không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: “Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth”. Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945. Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia… Những “nghĩa trang dân lập” ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân “không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng”. Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.Huy Đức Mục lục Bức Tường Berlin Bức Tường Berlin Huy ĐứcChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Blog tác giảĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 15 tháng 12 năm 2009
Lưu Cẩm Vân Bữa Cơm Ngày Cuối Năm Ngày tôi còn nhỏ, cái tết của gia đình tôi được chuẩn bị rất chu đáo. Từ đầu tháng chạp, cứ cách vài buổi chợ là má tôi đã mua dần mấy khúc vải. Ba má tôi không giàu nhưng lại đông con nên thứ gì cũng phải chia ra mua làm nhiều lần. Mua đủ vải, má tôi lại tự tay đo cắt và đo may cho chị em tôi mỗi đứa hai bộ. Quần áo may xong, giặt ủi rồi cất vào tủ, má cẩn thận bỏ thêm ít viên long não để quần áo được thơm hơn. Lo xong quần áo cho con là đã qua nửa tháng chạp, mỗi ngày đi chợ má tôi lại mua thêm khi thì ký măng khô, có lúc là vài ký đậu xanh, vài lá nấm mèo, kim châm… Dần dần cái tủ đựng thức ăn chứa được đủ thứ để nấu thức ăn cúng cho mấy ngày tết.Không khí trong nhà như chộn rộn hơn những ngày trước vì lũ trẻ trong nhà kể cả đứa bé nhất cũng được giao việc để làm. Hai mươi lăm tháng chạp, má tôi bắt đầu ngâm măng khô, mỗi ngày hai buổi khi vo gạo nấu cơm tôi phải thay nước gạo cho măng mau mềm và trắng. Những ngày đó má tôi bắt đầu rim mứt tết, chỉ là những loại mứt thường dùng như mứt dừa, mứt gừng và mứt khoai. Đêm nào cũng vậy, tôi theo má tỉ mỉ gọt khoai, gọt gừng, lòng hào hứng nghĩ đến chén chè nấu bằng những mẩu khoai tỉa thừa ra trước khi ngâm vôi để rim. Những ngày ấy bọn trẻ chúng tôi được nghỉ tết, không còn phải học bài, làm bài nên chúng tôi cứ quanh quẩn ở nhà bếp, hít vào tận trong lồng ngực mùi gừng, mùi đường sôi lên thơm rực cả nhà.Hai mươi tám tết (năm nào thiếu ngày ba mươi thì phải sớm một ngày) má tôi đi chợ thật sớm để mua lá chuối, phải là thứ lá chuối hột to bản dây và xanh thẫm. Lá mua về má lại giao cho chúng tôi đem phơi, lá được trải đều lên những cái sàng to rồi đặt ở những nơi có nắng. Chúng tôi có bổn phận trở cho đều đến khi lá dịu thì mang vào, lau từng chiếc rồi phân loại lá đẹp, lá xấu, xếp riêng cẩn thận. Bà nội tôi mang mấy bó lạt đã được ngâm nước, ngồi tỉ mỉ chẻ nhỏ thật đều. Mãi về sau này mỗi khi nghĩ về bà nội tôi lại nhớ mùi nồng cay của vôi, của trầu. Tôi theo bà nội tập têm trầu từ đó, có lần tò mò nhai thử một miếng trầu mà tê cả môi, cả lưỡi. Bà nội tôi là một phụ nữ điển hình của ngày xưa, bà hiền như bà tiên trong truyện cổ tích, bao giờ làm gì cũng nhẹ nhàng và chẳng nghe bà to tiếng với ai. Đêm hai chín tết bà nội và má tôi không ngủ. Chiếc chiếu rộng được trải ra giữa nhà, nếp được ngâm từ hôm trước, vớt ra để ráo lúc chiều. Đậu xanh hầm kỹ, nắm lại từng nắm to và một tô lớn đựng những dây thịt ba chỉ đã được ướp gia vị ngon lành. Bà nội tôi lựa từng chiếc lá, lá nào xấu thì cho nằm ngoài, còn những chiếc lá xanh đặt bên trong để khi bánh chín thì phải có màu xanh mới đẹp. Tôi tập hoài mà chẳng bao giờ gói được những chiếc bánh tét đẹp như bà nội tôi làm, những chiếc bánh đều nhau đến từng sợi lạt, bằng nhau như đếm. Khi thúng nếp đã vơi thì bao giờ bà nội cũng chừa lại một ít để gói riêng những cái bánh ú nhỏ mà bọn trẻ chúng tôi sẽ được ăn vào sáng sớm ngày 30 tết. Thùng nước đặt trên ba hòn đá chẻ bắc tạm giữa sân, bánh gói xong vừa lúc nước sôi là đến lúc trời vừa sáng, má tôi cẩn thận xếp từng chiếc, chèn lá chuối lên trên rồi mới đậy nắp. Bếp lửa phải được cháy đều và bao giờ bên dưới cũng có một nồi nước sôi để thỉnh thoảng châm vào thùng cho bánh chín đều.Mấy ngày cận tết nhà tôi rất rộn ràng, ông nội tôi không cho dọn dẹp trước mà đến sáng 30 ông mới gọi bầy cháu cùng ông ra sân dội rửa mấy chậu cây kiểng, mà phải là cọ rửa đến từng chiếc lá. Mọi việc hoàn tất khi chiều vừa tắt nắng, lúc ấy phòng khách nhà tôi đẹp rực rỡ. Cây mai chuẩn bị trước bây giờ được cắm trong chiếc bình gốm cổ cao, đặt giữa nhà, những cành hoa vàng đã bắt đầu nở lác đác, chen vào đó là những cánh thiệp chúc xuân, cô tôi còn màu mè khoác lên cành mai mấy dây kim tuyến đỏ, vàng lấp lánh. Chúng tôi sung sướng đứng ngắm lại công trình của mình, đó là bộ lư đồng sáng bóng mà mấy chị em hì hục lau chùi cả buổi sáng. Bao giờ tôi cũng được phần cắm vào chiếc bình to một bó hoa lay ơn đỏ rực, là loại hoa mà ba tôi rất thích.Trong lúc đó, ở ngoài sân bà nội và má chuẩn bị mâm cơm cúng đón ông, bà. Năm nào cũng vậy, ở giữa chiếc bàn tròn chễm chệ một con gà trống chéo cánh, miệng ngậm trái ớt đỏ tỉa hoa, chung quanh là những món xào, chiên và không khi nào thiếu một tô thịt kho măng.Kết thúc bữa cúng, đợi cho hương tàn một nửa, ba tôi đóng cổng nhà và không tiếp khách. Bữa chiều hôm đó nhà tôi không dọn cơm chiều, đứa trẻ nào đói bụng thì ăn tạm chén cơm sơ sài để đợi đến đêm.Đêm ba mươi nhà tôi có lệ phải về nhà từ đường để thắp hương cho ông bà và thăm hỏi các bậc cao niên trong họ. Khi ông nội tôi mất, tôi cũng vừa đúng tuổi để theo ba và cô chú trong những đêm như thế. Lúc đó, đường phố không giống như mọi ngày, không gian trong trẻo hơn và đất trời êm ả, sâu lắng hơn. Ngoài đường chỉ lác đác ít người đi chùa, nhà nhà đều đóng cổng, ở đâu cũng nhìn thấy các bàn thờ ấm áp mà rực rỡ hương hoa. Có lẽ vậy mà đi ngoài đường vẫn thấy hương thơm nồng nàn trong gió đông se se lạnh. Chúng tôi trở về trước giờ giao thừa ít phút, má tôi đã chuẩn bị trà nước để ba tôi thắp hương trên bàn thờ ông bà, những ngọn nến ấm áp cứ cháy đến tận cùng và trầm hương cứ thơm thoang thoảng cả nhà. Những năm xưa còn có thể đốt một dây pháo và lúc đó không khí tết mới chộn rộn làm sao.Bữa cơm giao thừa bắt đầu lúc nửa đêm, tất cả các món ăn cúng ban chiều được dọn trên bàn, thêm mấy đĩa bánh tét vừa được vớt ra chưa kịp nguội. Những khoanh bánh tét được "cắt" bằng sợi chỉ lớn đã chuẩn bị sẵn, đều đặn với phần nhân ở giữa tròn vành vạnh như cái nhụy hoa. Cả nhà quây quần nhau, rượu được rót ra trong cái ly nhỏ cao chân, trang trọng hơn ngày thường. Bọn nhỏ cũng tỉnh ngủ, hớn hở chọn cho mình một thứ nước ngọt. Sau khi nâng ly chúc mừng ông bà, cha mẹ, bữa ăn thực sự bắt đầu với những câu chuyện, thường là ôn lại chuyện cũ. Ba tôi tranh thủ nhắc lại chuyện xưa và tranh thủ dạy dỗ con cái đôi điều, có những điều tôi nghe lại nhiều lần cho đến khi đã lớn tôi không bao giờ quên.Sau khi lập gia đình, có được mái nhà riêng của mình, tôi vẫn còn giữ được vài thói quen của gia đình. Tôi không phải đóng cửa tủ một ngày hay kiêng xách nước, quét nhà đến trưa mồng một tết nhưng bữa cơm đêm giao thừa tôi vẫn còn giữ được. Khi ba tôi mất đi, anh chị em chúng tôi mỗi người đều có gia đình riêng, bữa cơm cuối năm với ba má không còn giữ được. Chiều ba mươi tết tôi cùng chồng con về thăm má, thắp cho ba nén hương rồi trở lại nhà mình. Bữa cơm đón ông bà càng ngày càng đơn giản hơn cho đến khi chỉ còn là các thứ trái cây. Không ai trách được ai, cuộc sống càng lúc càng bộn bề, mỗi người đều có công việc riêng. Các gia đình bây giờ chỉ còn năm ba người, không còn phải tốn công sức như ngày xưa, áo quần đã có sẵn ở các cửa hiệu sang trọng. Mấy ngày cuối năm cứ việc ra chợ là có đủ thứ, bánh tét nóng hổi với đủ loại dưa, củ mà ngày xưa má con tôi đã phải tỉ mỉ cắt, tỉa, phơi nắng suốt mấy ngày, có lúc quên món gì đó thì tìm ra siêu thị - phục vụ đến tối 30.Chiều cuối năm trong nhà tôi cũng có đủ thứ mặc dầu đơn giản hơn. Vẫn cây mai giữa nhà, không còn mấy dây kim tuyến, vẫn cái bàn thờ trang nhã với bình hoa lay- Ơn đỏ để nhắc nhở tôi nhớ đến ba tôi. Đêm 30 chúng tôi cũng đi ra đường, không gian cũng mới tinh tươm nhưng cái đêm trừ tịch năm xưa đã bị xé toạc bởi tiếng nổ của các loại xe máy và giọng cười không giữ của những người trẻ tuổi. Bây giờ người ta chơi tết tưng bừng hơn, đường phố đầy người và bầu trời rộn rã pháo hoa. Không còn ai phải lén lút hái lộc, bởi lá non đã được bày bán khắp đường phố.Chúng tôi trở về đúng giao thừa, không có pháo nổ từ xa, chỉ có đài truyền hình phát bản nhạc xuân quen thuộc. Bữa cơm giao thừa vẫn được dọn ra nhưng trên cái mâm nhỏ chỉ là mấy dĩa nem chả, vài lát bánh tét và dĩa xôi. Rượu vẫn được rót ra trong mấy cái ly cao chân nhưng hai đứa con chỉ ăn vội vài miếng cho ba mẹ vui lòng rồi xin phép đi ngủ trước. Chỉ còn hai vợ chồng ngồi đối diện với nhau, cùng chạm ly vào nhau với những hồi ức, rồi cả buồn, cả vui cứ trộn lẫn vào nhau. Rồi chuyện cũ, chuyện mới đan xen với nhau cho đến khi hơi rượu ấm ran cả lồng ngực, có đôi khi cả mấy giọt nước mắt lẫn trong nụ cười. Đêm sâu hơn, không có tiếng pháo, nhưng trong lúc trong trẻo nhất của đất trời, tình yêu lại đằm thắm hơn để người cảm thấy gần nhau hơn.Cứ thế, năm nào cũng vậy, cuộc sống cứ trôi qua theo ngày tháng và dù rất cũ nhưng bữa cơm giao thừa vẫn làm cho tôi xao xuyến những nỗi niềm khó tả. Hết Mục lục Bữa Cơm Ngày Cuối Năm Bữa Cơm Ngày Cuối Năm Lưu Cẩm VânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: may4phuong.netĐược bạn: mickey đưa lên vào ngày: 5 tháng 6 năm 2004
Lưu Cẩm Vân Bữa Cơm Ngày Cuối Năm Ngày tôi còn nhỏ, cái tết của gia đình tôi được chuẩn bị rất chu đáo. Từ đầu tháng chạp, cứ cách vài buổi chợ là má tôi đã mua dần mấy khúc vải. Ba má tôi không giàu nhưng lại đông con nên thứ gì cũng phải chia ra mua làm nhiều lần. Mua đủ vải, má tôi lại tự tay đo cắt và đo may cho chị em tôi mỗi đứa hai bộ. Quần áo may xong, giặt ủi rồi cất vào tủ, má cẩn thận bỏ thêm ít viên long não để quần áo được thơm hơn. Lo xong quần áo cho con là đã qua nửa tháng chạp, mỗi ngày đi chợ má tôi lại mua thêm khi thì ký măng khô, có lúc là vài ký đậu xanh, vài lá nấm mèo, kim châm… Dần dần cái tủ đựng thức ăn chứa được đủ thứ để nấu thức ăn cúng cho mấy ngày tết.Không khí trong nhà như chộn rộn hơn những ngày trước vì lũ trẻ trong nhà kể cả đứa bé nhất cũng được giao việc để làm. Hai mươi lăm tháng chạp, má tôi bắt đầu ngâm măng khô, mỗi ngày hai buổi khi vo gạo nấu cơm tôi phải thay nước gạo cho măng mau mềm và trắng. Những ngày đó má tôi bắt đầu rim mứt tết, chỉ là những loại mứt thường dùng như mứt dừa, mứt gừng và mứt khoai. Đêm nào cũng vậy, tôi theo má tỉ mỉ gọt khoai, gọt gừng, lòng hào hứng nghĩ đến chén chè nấu bằng những mẩu khoai tỉa thừa ra trước khi ngâm vôi để rim. Những ngày ấy bọn trẻ chúng tôi được nghỉ tết, không còn phải học bài, làm bài nên chúng tôi cứ quanh quẩn ở nhà bếp, hít vào tận trong lồng ngực mùi gừng, mùi đường sôi lên thơm rực cả nhà.Hai mươi tám tết (năm nào thiếu ngày ba mươi thì phải sớm một ngày) má tôi đi chợ thật sớm để mua lá chuối, phải là thứ lá chuối hột to bản dây và xanh thẫm. Lá mua về má lại giao cho chúng tôi đem phơi, lá được trải đều lên những cái sàng to rồi đặt ở những nơi có nắng. Chúng tôi có bổn phận trở cho đều đến khi lá dịu thì mang vào, lau từng chiếc rồi phân loại lá đẹp, lá xấu, xếp riêng cẩn thận. Bà nội tôi mang mấy bó lạt đã được ngâm nước, ngồi tỉ mỉ chẻ nhỏ thật đều. Mãi về sau này mỗi khi nghĩ về bà nội tôi lại nhớ mùi nồng cay của vôi, của trầu. Tôi theo bà nội tập têm trầu từ đó, có lần tò mò nhai thử một miếng trầu mà tê cả môi, cả lưỡi. Bà nội tôi là một phụ nữ điển hình của ngày xưa, bà hiền như bà tiên trong truyện cổ tích, bao giờ làm gì cũng nhẹ nhàng và chẳng nghe bà to tiếng với ai. Đêm hai chín tết bà nội và má tôi không ngủ. Chiếc chiếu rộng được trải ra giữa nhà, nếp được ngâm từ hôm trước, vớt ra để ráo lúc chiều. Đậu xanh hầm kỹ, nắm lại từng nắm to và một tô lớn đựng những dây thịt ba chỉ đã được ướp gia vị ngon lành. Bà nội tôi lựa từng chiếc lá, lá nào xấu thì cho nằm ngoài, còn những chiếc lá xanh đặt bên trong để khi bánh chín thì phải có màu xanh mới đẹp. Tôi tập hoài mà chẳng bao giờ gói được những chiếc bánh tét đẹp như bà nội tôi làm, những chiếc bánh đều nhau đến từng sợi lạt, bằng nhau như đếm. Khi thúng nếp đã vơi thì bao giờ bà nội cũng chừa lại một ít để gói riêng những cái bánh ú nhỏ mà bọn trẻ chúng tôi sẽ được ăn vào sáng sớm ngày 30 tết. Thùng nước đặt trên ba hòn đá chẻ bắc tạm giữa sân, bánh gói xong vừa lúc nước sôi là đến lúc trời vừa sáng, má tôi cẩn thận xếp từng chiếc, chèn lá chuối lên trên rồi mới đậy nắp. Bếp lửa phải được cháy đều và bao giờ bên dưới cũng có một nồi nước sôi để thỉnh thoảng châm vào thùng cho bánh chín đều.Mấy ngày cận tết nhà tôi rất rộn ràng, ông nội tôi không cho dọn dẹp trước mà đến sáng 30 ông mới gọi bầy cháu cùng ông ra sân dội rửa mấy chậu cây kiểng, mà phải là cọ rửa đến từng chiếc lá. Mọi việc hoàn tất khi chiều vừa tắt nắng, lúc ấy phòng khách nhà tôi đẹp rực rỡ. Cây mai chuẩn bị trước bây giờ được cắm trong chiếc bình gốm cổ cao, đặt giữa nhà, những cành hoa vàng đã bắt đầu nở lác đác, chen vào đó là những cánh thiệp chúc xuân, cô tôi còn màu mè khoác lên cành mai mấy dây kim tuyến đỏ, vàng lấp lánh. Chúng tôi sung sướng đứng ngắm lại công trình của mình, đó là bộ lư đồng sáng bóng mà mấy chị em hì hục lau chùi cả buổi sáng. Bao giờ tôi cũng được phần cắm vào chiếc bình to một bó hoa lay ơn đỏ rực, là loại hoa mà ba tôi rất thích.Trong lúc đó, ở ngoài sân bà nội và má chuẩn bị mâm cơm cúng đón ông, bà. Năm nào cũng vậy, ở giữa chiếc bàn tròn chễm chệ một con gà trống chéo cánh, miệng ngậm trái ớt đỏ tỉa hoa, chung quanh là những món xào, chiên và không khi nào thiếu một tô thịt kho măng.Kết thúc bữa cúng, đợi cho hương tàn một nửa, ba tôi đóng cổng nhà và không tiếp khách. Bữa chiều hôm đó nhà tôi không dọn cơm chiều, đứa trẻ nào đói bụng thì ăn tạm chén cơm sơ sài để đợi đến đêm.Đêm ba mươi nhà tôi có lệ phải về nhà từ đường để thắp hương cho ông bà và thăm hỏi các bậc cao niên trong họ. Khi ông nội tôi mất, tôi cũng vừa đúng tuổi để theo ba và cô chú trong những đêm như thế. Lúc đó, đường phố không giống như mọi ngày, không gian trong trẻo hơn và đất trời êm ả, sâu lắng hơn. Ngoài đường chỉ lác đác ít người đi chùa, nhà nhà đều đóng cổng, ở đâu cũng nhìn thấy các bàn thờ ấm áp mà rực rỡ hương hoa. Có lẽ vậy mà đi ngoài đường vẫn thấy hương thơm nồng nàn trong gió đông se se lạnh. Chúng tôi trở về trước giờ giao thừa ít phút, má tôi đã chuẩn bị trà nước để ba tôi thắp hương trên bàn thờ ông bà, những ngọn nến ấm áp cứ cháy đến tận cùng và trầm hương cứ thơm thoang thoảng cả nhà. Những năm xưa còn có thể đốt một dây pháo và lúc đó không khí tết mới chộn rộn làm sao.Bữa cơm giao thừa bắt đầu lúc nửa đêm, tất cả các món ăn cúng ban chiều được dọn trên bàn, thêm mấy đĩa bánh tét vừa được vớt ra chưa kịp nguội. Những khoanh bánh tét được "cắt" bằng sợi chỉ lớn đã chuẩn bị sẵn, đều đặn với phần nhân ở giữa tròn vành vạnh như cái nhụy hoa. Cả nhà quây quần nhau, rượu được rót ra trong cái ly nhỏ cao chân, trang trọng hơn ngày thường. Bọn nhỏ cũng tỉnh ngủ, hớn hở chọn cho mình một thứ nước ngọt. Sau khi nâng ly chúc mừng ông bà, cha mẹ, bữa ăn thực sự bắt đầu với những câu chuyện, thường là ôn lại chuyện cũ. Ba tôi tranh thủ nhắc lại chuyện xưa và tranh thủ dạy dỗ con cái đôi điều, có những điều tôi nghe lại nhiều lần cho đến khi đã lớn tôi không bao giờ quên.Sau khi lập gia đình, có được mái nhà riêng của mình, tôi vẫn còn giữ được vài thói quen của gia đình. Tôi không phải đóng cửa tủ một ngày hay kiêng xách nước, quét nhà đến trưa mồng một tết nhưng bữa cơm đêm giao thừa tôi vẫn còn giữ được. Khi ba tôi mất đi, anh chị em chúng tôi mỗi người đều có gia đình riêng, bữa cơm cuối năm với ba má không còn giữ được. Chiều ba mươi tết tôi cùng chồng con về thăm má, thắp cho ba nén hương rồi trở lại nhà mình. Bữa cơm đón ông bà càng ngày càng đơn giản hơn cho đến khi chỉ còn là các thứ trái cây. Không ai trách được ai, cuộc sống càng lúc càng bộn bề, mỗi người đều có công việc riêng. Các gia đình bây giờ chỉ còn năm ba người, không còn phải tốn công sức như ngày xưa, áo quần đã có sẵn ở các cửa hiệu sang trọng. Mấy ngày cuối năm cứ việc ra chợ là có đủ thứ, bánh tét nóng hổi với đủ loại dưa, củ mà ngày xưa má con tôi đã phải tỉ mỉ cắt, tỉa, phơi nắng suốt mấy ngày, có lúc quên món gì đó thì tìm ra siêu thị - phục vụ đến tối 30.Chiều cuối năm trong nhà tôi cũng có đủ thứ mặc dầu đơn giản hơn. Vẫn cây mai giữa nhà, không còn mấy dây kim tuyến, vẫn cái bàn thờ trang nhã với bình hoa lay- Ơn đỏ để nhắc nhở tôi nhớ đến ba tôi. Đêm 30 chúng tôi cũng đi ra đường, không gian cũng mới tinh tươm nhưng cái đêm trừ tịch năm xưa đã bị xé toạc bởi tiếng nổ của các loại xe máy và giọng cười không giữ của những người trẻ tuổi. Bây giờ người ta chơi tết tưng bừng hơn, đường phố đầy người và bầu trời rộn rã pháo hoa. Không còn ai phải lén lút hái lộc, bởi lá non đã được bày bán khắp đường phố.Chúng tôi trở về đúng giao thừa, không có pháo nổ từ xa, chỉ có đài truyền hình phát bản nhạc xuân quen thuộc. Bữa cơm giao thừa vẫn được dọn ra nhưng trên cái mâm nhỏ chỉ là mấy dĩa nem chả, vài lát bánh tét và dĩa xôi. Rượu vẫn được rót ra trong mấy cái ly cao chân nhưng hai đứa con chỉ ăn vội vài miếng cho ba mẹ vui lòng rồi xin phép đi ngủ trước. Chỉ còn hai vợ chồng ngồi đối diện với nhau, cùng chạm ly vào nhau với những hồi ức, rồi cả buồn, cả vui cứ trộn lẫn vào nhau. Rồi chuyện cũ, chuyện mới đan xen với nhau cho đến khi hơi rượu ấm ran cả lồng ngực, có đôi khi cả mấy giọt nước mắt lẫn trong nụ cười. Đêm sâu hơn, không có tiếng pháo, nhưng trong lúc trong trẻo nhất của đất trời, tình yêu lại đằm thắm hơn để người cảm thấy gần nhau hơn.Cứ thế, năm nào cũng vậy, cuộc sống cứ trôi qua theo ngày tháng và dù rất cũ nhưng bữa cơm giao thừa vẫn làm cho tôi xao xuyến những nỗi niềm khó tả. Hết Mục lục Bữa Cơm Ngày Cuối Năm Bữa Cơm Ngày Cuối Năm Lưu Cẩm VânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: may4phuong.netĐược bạn: mickey đưa lên vào ngày: 5 tháng 6 năm 2004
Nguyễn Thị Châu Giang Bữa Tiệc Mưa lác đác từng hạt lớn. Sao vẫn nhì nhằng con mở con tỏ trên nền trời không một gợn mây. Trăng một vầng non tơ hoà với ánh đèn rải vàng trên khắp bờ cỏ, trườn lên những hàng ghế dựa, bám đầy lên quần áo. Bạn bè ngồi vây quanh chiếc bàn nhỏ kê dưới tán cây mít. Những chiếc lá mít to, hắt bóng đen sẫm xuống khiến không khí buồn buồn, dù tiếng nói chuyện vẫn lao xao. Mến kêu: “Sinh nhật gì thế này. Mở nhạc to lên đi”. Người ta kéo hai cái loa từ trong nhà ra, đặt trên những thùng gỗ cũ chất ở góc sân. Nhạc vỡ ra ồn ã. Tiếng đũa gõ vào chén, tiếng chân dậm thịch thịch. Bầu không khí đậm đặc loãng ra đầy hứng khởi.Cách cổng sắt bật mở, rít lên ken két. Hinh hỏi to: “Phải Ngạc không?” Tôi giật mình quay lại. Hai cái bóng mờ mờ tiến lại gần, một nam một nữ. Thôi đúng là Ngạc rồi. Dáng đi lùi lũi vai hơi khòm, lưng bè ra vạm vỡ. Anh chẳng có gì thay đổi cả.Tôi rời ghế, chạy lại mừng rỡ: “Anh Ngạc!”. Ngạc tặng hoa cho tôi, hôn nhẹ nhàng lên má tôi: “Ôi, anh nhớ em quá!”. Tôi đờ người. Một làn hơi cay xộc lên mũi. Tôi nhủ thầm: “Mình đã nghe lầm” và lấy lại bình tĩnh. Nhưng bàn tay của anh vẫn nắm tay tôi xiết mạnh. Rất đau. Tôi liếc sang bên cạnh. Một cô bé con nhút nhát nhìn tôi cười. Đôi mắt mở to hơi ngơ ngác. Mến đến gần quàng vai Ngạc: “Ê này, giới thiệu đi chứ”. Ngạc ngớ người: “Quên mất, đây là Thiên, bạn gái tôi”. Trán hơi cau lại vẻ tự ái nhưng cô vẫn cười. Tôi tôij nghiệp: “Anh Ngạc với Thiên vô nhập tiệc đi. Cũng vừa mới bắt đầu thôi”. Mến hí hửng: “Sinh nhật của Tiên là nhất. Có người muôn năm cũ quay về”. Tôi kéo mạnh áo Mến làm cậu ta ngượng im bặt. Tôi trịnh trọng giới thiệu: “Đây là anh Ngạc, đây là Thiên, bạn gái anh Ngạc. Ở đây ai cũng biết anh Ngạc rồi. Còn một nhân vật quan trọng – Tôi dừng lại hắng giọng – Anh Lẫm, bạn trai em”. Mọi người gật đầu chào nhau rồi lại cắm mặt ăn như chẳng biết gì ngoài việc ấy. Tôi bối rối. Tất cả mọi người ở đây đều biết chuyện giữa tôi và Ngạc. Chỉ có Lẫm và Thiên là hai người tới sau. Họ tin tưởng hoàn toàn vào hạnh phúc họ đang có.Nhạc chuyển sang một bài hát buồn. Những mối tình dang dở thường rất buồn. Tôi đề nghị “đổi nhạc”. Lẫm can: “Đừng em, Anh thích nó” và lại vô tư cười, mắt mơ màng nhìn ra xạ Tôi thở phào. Thật may vì cả Thiên lẫn anh Lẫm đều chưa nhận ra điều gì khác thường cả.Ngạc hết nhìn tôi lai ngọ nguậy người, chén đã đầy thức ăn nhưng vẫn máy móc gắp tiếp thức ăn trên đĩa. Anh đang bối rối. Đúng là anh đang bối rối. Tôi thấy mình lại bắt đầu tò mò hệt như lần đầu tiên thấy anh ngồi một mình trong quán ăn, chén đầy ngập mà vẫn lơ đãng gắp. Tôi hỏi: “Anh sao thế?. Ngạc cúi đầu: “Anh tiếc”. Không, đúng ra là anh đang bối rối. Với cô bé con ngồi sát bên anh.Một vài đôi rời bàn ăn ôm nhau nhảy. Sau mỗi bữa tiệc nên nhảy như thế để dạ dày nhẹ bớt hơn là nhu cầu giao lưu tình cảm. Cô bé con háo hức. Tôi từ chối Lẫm: “Hôm nay em không muốn, xin lỗi”. Lẫm dìu cô bé ra giữa sân. Một đám mây lớn nuốt chửng mặt trăng vào bụng. Mưa tiếp tục đầy lên. Tôi dúi miệng vào lòng bàn tay, bật cười. Lẫm ngước nhìn tôi, cau mày khó hiểu.Đến giờ Ngạc phải đưa Thiên về. Một lúc thì quay trở lại. Bây giờ mọi người đã tản mác hết. Ra đến cổng, Lẫm nhìn vào mắt tôi, hôn rất sâu vào môi tôi: “Ngủ ngon nhé, bé”. Tim tôi nhói đau. Tôi không biết anh có nhận ra điều gì bất thường không.Tôi kéo ghế ngồi trước mặt Ngạc. Anh đăm đăm nhìn mặt đồng hồ mờ nước: “Còn sớm, tụi mình đi dạo chút nghe Tiên?”. Tôi cười khẽ: “Anh hệt như xưa”. Tôi bứt mạnh môt lá cây làm nước bắn tung toé. Anh phá cười: “Em cũng có khác gì đâu”. Chúng tôi chậm rãi đi ra đường. Tôi không thể nào dứt ra được hình ảnh ban đầu cả anh trong quán ăn ẩm mốc. Chén ngày càng đầy thức ăn nhưng anh nhất định không ăn miếng nào.Nhanh thật. Đã trôi qua một năm. Mà cũng có thể là hai năm. Từng cặp tình nhân đi dạo trên những con đường nhỏ, giữa trời Noel se lạnh. Anh lơ đãng nghe tôi nói, ngẩn ngơ nhìn cô gái đi đằng trước. Một cô gái đẹp và quyến rũ. Anh hỏi: “Đẹp phải không?”. Tôi im lặng. Cô gái sửa lại dáng. Anh ngạc nhiên: “Em sao thế?”, “Em đang tự hỏi nếu cô ấy ngồi sau lưng anh lúc này, cô ấy nghĩ gì?” “Em lại ghen vớ vẩn”, “Không, em buồn”. Anh là một người thích đẹp. Tôi chỉ là cô gái bình thường. KHông, tôi chỉ buồn. Có thể khóc lên được.Nhưng mẹ bảo khóc vì những chuyện như thế là ngơ ngẩn. Hãy để dành đến một lúc nào đấy. Và tôi để dành.Ngạc vuốt tóc tôi: “Em có muốn đi làm không?”, “Công việc thế nào?”, “Rất đơn giản. Họ muốn em đưa ra những ý tưởng độc đáo để làm quảng cáo”, “Nhưng em chưa tốt nghiệp”, “Còn anh đã đi làm từ năm mười sáu tuổi”, “Em không biết Anh văn và vi tính”, “Anh cũng không biết nhưng anh đã học. Bây giờ thì không gì là không biết”. Tôi nhằn: “Lúc nào anh cũng so sánh anh với em”, “Vì anh vào đời sớm hơn mà”. Anh vẽ ra trước mặt tôi thiên đường đầy kẹo. Tôi lạc đường đành ở lại trong đó.Tôi đến công tỵ Sếp là một người đàn ông đẹp trai, phong trần, nụ cười bặt thiệp và duyên dáng. Sếp dẫn tôi đi các phòng, giải thích công việc, giới thiệu tôi với mọi người như tôi là nhân viên văn phòng. Trở về phòng, sếp hỏi: “Thế nào cổ”, “Rất tuyệt ạ”. Trong bụng tôi thầm nghĩ, như thế là mình lạc nghề rồi. Quảng cáo không thể, không phải là công việc mình chọn, Tiên ạ.Ngạc nhăn mặt: “Em thật trẻ con, chứ?Tôi cảm thấy khó khăn khi nói câu: “Xin lỗi…” Nhưng sếp đứng dậy và bảo: “Tôi hiểu”. Sếp chìa tay ấm ra trước mặt. Từ đó sếp trở thành Lẫm của tôi bây giờ từ khi cả tuần Ngạc không gọi điện lại. Ngạc đi công tác xa mà không nói với tôi một tiếng nào.“Cô ấy còn trẻ con lắm” - Ngạc bảo. Tôi bật cười: “Ngày xưa anh cũng bảo em trẻ con. Người ta thì nghĩ khác. Họ bảo em già trước tuổi”, “Vì sao?”, “Vì yêu anh. Em cảm thấy đau khổ vì yêu anh”.Anh luôn kể cho tôi nghe về những người bạn gái của anh. Những mẩu ký ức được nghiền nát, xay đi xay lại nhiều lần. Trong đó có Linh duyên dáng và dịu dàng. Mỗi lần nhớ đến người ấy, anh lại bối rối.Chén vẫn đầy thức ăn nhưng anh vẫn tiếp tục gắp. Anh đau đớn. Anh không biết rằng tôi cũng đau khổ không kém gì anh. Ôi, những mối tình đầu dang dở thường hay buồn và khó quên. Thật khó quên.“Sao không bao giờ em nói với anh về chuyện đó?” “Anh cho em là nhỏ nhặt. Có bao giờ anh chịu hiểu em. Lúc nào anh cũng cho mình là đúng.” Ngạc im lặng. Điếu thuốc quơ một vòng trong bóng tối. “Buồn cười, hồi đó em đã nghĩ anh là một người bạn thân sẽ tốt hơn là người yêu. Bây giờ em vẫn nghĩ – Tôi kéo cao cổ áo – Anh tốt và chiều tất cả nhiều người bạn gái mà anh quí. Nhưng trong tình yêu, không có từ “tất cả”. Còn Thiên, hy vọng cô ấy khác. Cô ấy sẽ chịu đựng được”. “Em đang phán xét anh”. “Đấy – Tôi cười – Anh lại không hiểu em rồi”.Chúng tôi quay trở về. Mưa nhẹ và đều hơn như phải bụi vào mặt. Tiếng chân bước trên cỏ ướt lụp phụp. Vài con côn trùng ngái ngủ, kêu rền rĩ.“Em muốn anh đối xử với Thiên đừng như với em. Đừng khơi dậy quá khứ làm gì. Cô ấy yêu anh lắm”, “Cô ấy cũng biết là anh yêu em. Anh luôn nhớ em, Thiên không thay được chỗ của em trong anh”, “Nhưng anh Lẫm thì thay được”. Tôi lại cay xè mũi. Tôi có nói dối mình không khi ở bên Lẫm tôi lại quay quắt nhớ Ngạc? Ôi, không thể nào dễ dàng quên đi mối tình đầu được. “Lẫm có biết chuyện chúng mình không?” - Ngạc nhấn mạnh từ “chúng mình” với vẻ cay đắng hiếm có. Hai gò má đẫm nước của tôi lạnh buốt. Cả bàn tay và người cũng lạnh. Anh ấy thông cảm và bỏ qua hết những chuyện xưa của em”, “Thế em có tiếc không?”, “Em chỉ tiếc là không hiểu anh sớm hơn, từ lần đầu gặp anh trong quán ăn. Em đã hỏi anh sao thế. Và anh trả lời: “Anh tiếc…”. Em thật tò mò. Nhưng thật lòng em yêu anh”. Tiếng tôi nhẹ bỗng như gió thoảng. Tôi muốn khóc.Bất thần Ngạc cúi xuống hôn tôi. Nụ hôn lơ lửng rơi trên trán. Tôi lách người ra, hoảng hốt: “Đừng anh Ngạc. Em yêu anh. Em yêu anh Lẫm. Em đã cho anh tất cả. Còn anh Lẫm thì chẳng có gì, ngoài tình yêu của em. Đừng kéo em ra khỏi anh ấy”. Nước mắt tôi chảy ra nhoè nhoẹt. Tôi thấy khó thở. Chúng tôi im lặng. Sau cùng tôi hỏi: “Anh giờ làm ở đâu?”, “Tháng sau anh chuyển sang công ty mới. Ba bốn công ty rồi nhưng anh chưa tìm được chỗ của mình”. Chúng tôi lại im lặng suốt quãng đường về còn lại.Tôi tiễn Ngạc ra cổng. Tôi nhìn rất lâu gương mặt yêu dấu của anh, vuốt lại mớ tóc bồng đẫm nước trên trán anh và bảo: “ Anh lẫm yêu em và hiểu em khủng khiếp”.Nhưng tôi vẫn khôgn dứt ra được hình ảnh thiểu não cuả Ngạc bên chén thức ăn đầy ắp, tay vẫn gắp lia lịa mà không ăn một miếng nào trong quán nhỏ ẩm ướt. Ra khỏi quán, anh là người đầu tiên nói: “ôi, anh đói quá!”.Và cho đến bây giờ anh ấy vẫn đang là người đói. Hết Mục lục Bữa Tiệc Bữa Tiệc Nguyễn Thị Châu GiangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: may4phuong.netĐược bạn: mickey đưa lên vào ngày: 5 tháng 6 năm 2004
Nguyễn Thị Châu Giang Bữa Tiệc Mưa lác đác từng hạt lớn. Sao vẫn nhì nhằng con mở con tỏ trên nền trời không một gợn mây. Trăng một vầng non tơ hoà với ánh đèn rải vàng trên khắp bờ cỏ, trườn lên những hàng ghế dựa, bám đầy lên quần áo. Bạn bè ngồi vây quanh chiếc bàn nhỏ kê dưới tán cây mít. Những chiếc lá mít to, hắt bóng đen sẫm xuống khiến không khí buồn buồn, dù tiếng nói chuyện vẫn lao xao. Mến kêu: “Sinh nhật gì thế này. Mở nhạc to lên đi”. Người ta kéo hai cái loa từ trong nhà ra, đặt trên những thùng gỗ cũ chất ở góc sân. Nhạc vỡ ra ồn ã. Tiếng đũa gõ vào chén, tiếng chân dậm thịch thịch. Bầu không khí đậm đặc loãng ra đầy hứng khởi.Cách cổng sắt bật mở, rít lên ken két. Hinh hỏi to: “Phải Ngạc không?” Tôi giật mình quay lại. Hai cái bóng mờ mờ tiến lại gần, một nam một nữ. Thôi đúng là Ngạc rồi. Dáng đi lùi lũi vai hơi khòm, lưng bè ra vạm vỡ. Anh chẳng có gì thay đổi cả.Tôi rời ghế, chạy lại mừng rỡ: “Anh Ngạc!”. Ngạc tặng hoa cho tôi, hôn nhẹ nhàng lên má tôi: “Ôi, anh nhớ em quá!”. Tôi đờ người. Một làn hơi cay xộc lên mũi. Tôi nhủ thầm: “Mình đã nghe lầm” và lấy lại bình tĩnh. Nhưng bàn tay của anh vẫn nắm tay tôi xiết mạnh. Rất đau. Tôi liếc sang bên cạnh. Một cô bé con nhút nhát nhìn tôi cười. Đôi mắt mở to hơi ngơ ngác. Mến đến gần quàng vai Ngạc: “Ê này, giới thiệu đi chứ”. Ngạc ngớ người: “Quên mất, đây là Thiên, bạn gái tôi”. Trán hơi cau lại vẻ tự ái nhưng cô vẫn cười. Tôi tôij nghiệp: “Anh Ngạc với Thiên vô nhập tiệc đi. Cũng vừa mới bắt đầu thôi”. Mến hí hửng: “Sinh nhật của Tiên là nhất. Có người muôn năm cũ quay về”. Tôi kéo mạnh áo Mến làm cậu ta ngượng im bặt. Tôi trịnh trọng giới thiệu: “Đây là anh Ngạc, đây là Thiên, bạn gái anh Ngạc. Ở đây ai cũng biết anh Ngạc rồi. Còn một nhân vật quan trọng – Tôi dừng lại hắng giọng – Anh Lẫm, bạn trai em”. Mọi người gật đầu chào nhau rồi lại cắm mặt ăn như chẳng biết gì ngoài việc ấy. Tôi bối rối. Tất cả mọi người ở đây đều biết chuyện giữa tôi và Ngạc. Chỉ có Lẫm và Thiên là hai người tới sau. Họ tin tưởng hoàn toàn vào hạnh phúc họ đang có.Nhạc chuyển sang một bài hát buồn. Những mối tình dang dở thường rất buồn. Tôi đề nghị “đổi nhạc”. Lẫm can: “Đừng em, Anh thích nó” và lại vô tư cười, mắt mơ màng nhìn ra xạ Tôi thở phào. Thật may vì cả Thiên lẫn anh Lẫm đều chưa nhận ra điều gì khác thường cả.Ngạc hết nhìn tôi lai ngọ nguậy người, chén đã đầy thức ăn nhưng vẫn máy móc gắp tiếp thức ăn trên đĩa. Anh đang bối rối. Đúng là anh đang bối rối. Tôi thấy mình lại bắt đầu tò mò hệt như lần đầu tiên thấy anh ngồi một mình trong quán ăn, chén đầy ngập mà vẫn lơ đãng gắp. Tôi hỏi: “Anh sao thế?. Ngạc cúi đầu: “Anh tiếc”. Không, đúng ra là anh đang bối rối. Với cô bé con ngồi sát bên anh.Một vài đôi rời bàn ăn ôm nhau nhảy. Sau mỗi bữa tiệc nên nhảy như thế để dạ dày nhẹ bớt hơn là nhu cầu giao lưu tình cảm. Cô bé con háo hức. Tôi từ chối Lẫm: “Hôm nay em không muốn, xin lỗi”. Lẫm dìu cô bé ra giữa sân. Một đám mây lớn nuốt chửng mặt trăng vào bụng. Mưa tiếp tục đầy lên. Tôi dúi miệng vào lòng bàn tay, bật cười. Lẫm ngước nhìn tôi, cau mày khó hiểu.Đến giờ Ngạc phải đưa Thiên về. Một lúc thì quay trở lại. Bây giờ mọi người đã tản mác hết. Ra đến cổng, Lẫm nhìn vào mắt tôi, hôn rất sâu vào môi tôi: “Ngủ ngon nhé, bé”. Tim tôi nhói đau. Tôi không biết anh có nhận ra điều gì bất thường không.Tôi kéo ghế ngồi trước mặt Ngạc. Anh đăm đăm nhìn mặt đồng hồ mờ nước: “Còn sớm, tụi mình đi dạo chút nghe Tiên?”. Tôi cười khẽ: “Anh hệt như xưa”. Tôi bứt mạnh môt lá cây làm nước bắn tung toé. Anh phá cười: “Em cũng có khác gì đâu”. Chúng tôi chậm rãi đi ra đường. Tôi không thể nào dứt ra được hình ảnh ban đầu cả anh trong quán ăn ẩm mốc. Chén ngày càng đầy thức ăn nhưng anh nhất định không ăn miếng nào.Nhanh thật. Đã trôi qua một năm. Mà cũng có thể là hai năm. Từng cặp tình nhân đi dạo trên những con đường nhỏ, giữa trời Noel se lạnh. Anh lơ đãng nghe tôi nói, ngẩn ngơ nhìn cô gái đi đằng trước. Một cô gái đẹp và quyến rũ. Anh hỏi: “Đẹp phải không?”. Tôi im lặng. Cô gái sửa lại dáng. Anh ngạc nhiên: “Em sao thế?”, “Em đang tự hỏi nếu cô ấy ngồi sau lưng anh lúc này, cô ấy nghĩ gì?” “Em lại ghen vớ vẩn”, “Không, em buồn”. Anh là một người thích đẹp. Tôi chỉ là cô gái bình thường. KHông, tôi chỉ buồn. Có thể khóc lên được.Nhưng mẹ bảo khóc vì những chuyện như thế là ngơ ngẩn. Hãy để dành đến một lúc nào đấy. Và tôi để dành.Ngạc vuốt tóc tôi: “Em có muốn đi làm không?”, “Công việc thế nào?”, “Rất đơn giản. Họ muốn em đưa ra những ý tưởng độc đáo để làm quảng cáo”, “Nhưng em chưa tốt nghiệp”, “Còn anh đã đi làm từ năm mười sáu tuổi”, “Em không biết Anh văn và vi tính”, “Anh cũng không biết nhưng anh đã học. Bây giờ thì không gì là không biết”. Tôi nhằn: “Lúc nào anh cũng so sánh anh với em”, “Vì anh vào đời sớm hơn mà”. Anh vẽ ra trước mặt tôi thiên đường đầy kẹo. Tôi lạc đường đành ở lại trong đó.Tôi đến công tỵ Sếp là một người đàn ông đẹp trai, phong trần, nụ cười bặt thiệp và duyên dáng. Sếp dẫn tôi đi các phòng, giải thích công việc, giới thiệu tôi với mọi người như tôi là nhân viên văn phòng. Trở về phòng, sếp hỏi: “Thế nào cổ”, “Rất tuyệt ạ”. Trong bụng tôi thầm nghĩ, như thế là mình lạc nghề rồi. Quảng cáo không thể, không phải là công việc mình chọn, Tiên ạ.Ngạc nhăn mặt: “Em thật trẻ con, chứ?Tôi cảm thấy khó khăn khi nói câu: “Xin lỗi…” Nhưng sếp đứng dậy và bảo: “Tôi hiểu”. Sếp chìa tay ấm ra trước mặt. Từ đó sếp trở thành Lẫm của tôi bây giờ từ khi cả tuần Ngạc không gọi điện lại. Ngạc đi công tác xa mà không nói với tôi một tiếng nào.“Cô ấy còn trẻ con lắm” - Ngạc bảo. Tôi bật cười: “Ngày xưa anh cũng bảo em trẻ con. Người ta thì nghĩ khác. Họ bảo em già trước tuổi”, “Vì sao?”, “Vì yêu anh. Em cảm thấy đau khổ vì yêu anh”.Anh luôn kể cho tôi nghe về những người bạn gái của anh. Những mẩu ký ức được nghiền nát, xay đi xay lại nhiều lần. Trong đó có Linh duyên dáng và dịu dàng. Mỗi lần nhớ đến người ấy, anh lại bối rối.Chén vẫn đầy thức ăn nhưng anh vẫn tiếp tục gắp. Anh đau đớn. Anh không biết rằng tôi cũng đau khổ không kém gì anh. Ôi, những mối tình đầu dang dở thường hay buồn và khó quên. Thật khó quên.“Sao không bao giờ em nói với anh về chuyện đó?” “Anh cho em là nhỏ nhặt. Có bao giờ anh chịu hiểu em. Lúc nào anh cũng cho mình là đúng.” Ngạc im lặng. Điếu thuốc quơ một vòng trong bóng tối. “Buồn cười, hồi đó em đã nghĩ anh là một người bạn thân sẽ tốt hơn là người yêu. Bây giờ em vẫn nghĩ – Tôi kéo cao cổ áo – Anh tốt và chiều tất cả nhiều người bạn gái mà anh quí. Nhưng trong tình yêu, không có từ “tất cả”. Còn Thiên, hy vọng cô ấy khác. Cô ấy sẽ chịu đựng được”. “Em đang phán xét anh”. “Đấy – Tôi cười – Anh lại không hiểu em rồi”.Chúng tôi quay trở về. Mưa nhẹ và đều hơn như phải bụi vào mặt. Tiếng chân bước trên cỏ ướt lụp phụp. Vài con côn trùng ngái ngủ, kêu rền rĩ.“Em muốn anh đối xử với Thiên đừng như với em. Đừng khơi dậy quá khứ làm gì. Cô ấy yêu anh lắm”, “Cô ấy cũng biết là anh yêu em. Anh luôn nhớ em, Thiên không thay được chỗ của em trong anh”, “Nhưng anh Lẫm thì thay được”. Tôi lại cay xè mũi. Tôi có nói dối mình không khi ở bên Lẫm tôi lại quay quắt nhớ Ngạc? Ôi, không thể nào dễ dàng quên đi mối tình đầu được. “Lẫm có biết chuyện chúng mình không?” - Ngạc nhấn mạnh từ “chúng mình” với vẻ cay đắng hiếm có. Hai gò má đẫm nước của tôi lạnh buốt. Cả bàn tay và người cũng lạnh. Anh ấy thông cảm và bỏ qua hết những chuyện xưa của em”, “Thế em có tiếc không?”, “Em chỉ tiếc là không hiểu anh sớm hơn, từ lần đầu gặp anh trong quán ăn. Em đã hỏi anh sao thế. Và anh trả lời: “Anh tiếc…”. Em thật tò mò. Nhưng thật lòng em yêu anh”. Tiếng tôi nhẹ bỗng như gió thoảng. Tôi muốn khóc.Bất thần Ngạc cúi xuống hôn tôi. Nụ hôn lơ lửng rơi trên trán. Tôi lách người ra, hoảng hốt: “Đừng anh Ngạc. Em yêu anh. Em yêu anh Lẫm. Em đã cho anh tất cả. Còn anh Lẫm thì chẳng có gì, ngoài tình yêu của em. Đừng kéo em ra khỏi anh ấy”. Nước mắt tôi chảy ra nhoè nhoẹt. Tôi thấy khó thở. Chúng tôi im lặng. Sau cùng tôi hỏi: “Anh giờ làm ở đâu?”, “Tháng sau anh chuyển sang công ty mới. Ba bốn công ty rồi nhưng anh chưa tìm được chỗ của mình”. Chúng tôi lại im lặng suốt quãng đường về còn lại.Tôi tiễn Ngạc ra cổng. Tôi nhìn rất lâu gương mặt yêu dấu của anh, vuốt lại mớ tóc bồng đẫm nước trên trán anh và bảo: “ Anh lẫm yêu em và hiểu em khủng khiếp”.Nhưng tôi vẫn khôgn dứt ra được hình ảnh thiểu não cuả Ngạc bên chén thức ăn đầy ắp, tay vẫn gắp lia lịa mà không ăn một miếng nào trong quán nhỏ ẩm ướt. Ra khỏi quán, anh là người đầu tiên nói: “ôi, anh đói quá!”.Và cho đến bây giờ anh ấy vẫn đang là người đói. Hết Mục lục Bữa Tiệc Bữa Tiệc Nguyễn Thị Châu GiangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: may4phuong.netĐược bạn: mickey đưa lên vào ngày: 5 tháng 6 năm 2004
Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền Bữa tiệc màu huyết dụ Có người bảo Huế là thành phố của những người theo đạo Phật. Kể cũng có lý. Bình minh và hoàng hôn Huế xao xuyến với những hồi chuông u minh trầm mặc của trên 60 ngôi chùa trong một không gian gắn bó. Và cũng có thể vì người Huế có truyền thống không ăn thịt chó, một đặc điểm trong sinh hoạt của những người theo đạo Phật. Còn nhớ năm nào đã xa ở làng hoa trái Nguyệt Biều, trên ban công căn gác gỗ nhà thờ họ Lê nhìn ra quãng sông Hương tĩnh mịch gần như đối diện chùa Linh Mụ, trong áng sáng nhập nhoạng trước lúc hoàng hôn buông xuống thật sự, tôi đang gõ máy chữ viết nốt những trang cuối cuốn tiểu thuyết đầu tay, bỗng có tiếng gọi giật vọng lên từ ngoài cổng. Bực mình thật. Tôi chờ đợi cái dấu chấm hết này đã hai năm ròng rã. Nhưng đấy lại là tiếng gọi lạc giọng của Mỵ, cô bạn thời mài đũng quần trên ghế giảng đường đại học văn khoa, cũng là người cho tôi sử dụng ngôi nhà thờ họ Lê làm "trại sáng tác". Mà với tôi bấy giờ, cuốn tiểu thuyết và Mỵ không biết "ai" quan trọng hơn. Tôi vội chạy xuống cầu thang gỗ nhá nhem tối, qua gian thờ rộng thênh lạnh giá, qua vườn hoa già cỗi lát đá bát tràng xanh rêu để gặp Mỵ. Hẳn có chuyện khác thường vì giờ này đáng ra Mỵ phải ở nhà lo bữa cơm tối của gia đình, cách ngôi nhà thờ họ khoảng hai cây số, cũng bên bờ sông. "Anh cứu nhà em với!" "Nhà em", chồng Mỵ, là Thạch, ông bạn vong niên của tôi. Tôi trở thành bạn của ông khi ông cưới Mỵ. Ông Thạch thỉnh thoảng vẫn cứu tôi trong vài trường hợp, vài tình huống. Còn tôi không bao giờ dám nghĩ có lúc mình sẽ cứu được ông Thạch. Tôi chẳng có gì cả, chẳng là cái gì cả trong khi ông ấy là một đại gia, về kinh tế cũng như về quan hệ xã hội. Cho nên khi Mỵ nhìn tôi bằng ánh mắt cầu xin và thốt ra lời kêu gọi như thế tôi chỉ có thể đoán già đoán non rằng ông Thạch bị đột quỵ hay đại loại như thế và Mỵ cần tôi giúp đưa đi bệnh viện cấp cứu chẳng hạn. Biệt thự Gia Khánh chìm trong bóng tối. Đúng hơn là hiện ra dưới sáng lập loè của một màu hồng ma thuật bởi mấy chục ngọn đèn lồng lớn nhỏ. Mỵ le te đưa tôi ra thẳng vườn hoa phía sau, nơi tiếp giáp bờ sông. Một bàn tiệc khéo bày biện dưới ánh nến còn nguyên mà thực khách duy nhất là chồng Mỵ. Ông Thạch lặng lẽ ngồi nhìn ra mặt sông tối mịt, không nhận ra có tôi và Mỵ đã đến sau lưng. Hai cây số đường xe máy từ nhà thờ họ Lê đến biệt thự Gia Khánh đủ cho Mỵ cung cấp thông tin sơ bộ về "ca cấp cứu" này. Ông Thạch muốn ký một hợp đồng lớn với công ty khai thác chế biến gỗ Đài Loan. Có đối thủ mạnh cạnh tranh, ông Thạch tìm mọi cách để lấy được lòng giám đốc phía đối tác. Khách muốn ăn chơi kiểu nào ông cũng "chìu" được, "chơi" được. Chỉ riêng cái ao ước nhắm món thịt chó của ông chủ Tàu là ông Thạch bó tay. Những năm đầu 80 của thế kỷ 20 ở thành phố Huế thật khó bói ra một bữa tiệc thịt chó. Yêu cầu lại đột xuất, ngay trong ngày dự kiến ký hợp đồng, cũng là ngày phía đối tác rời khỏi Huế. Lái xe của ông chủ Tàu tham mưu rằng hắn sẽ làm đầu bếp bảy món chó thật đúng khẩu vị Đài Loan, chủ nhà chỉ việc cấp ngay một con cầy tơ. Thế là ông Thạch yên tâm mời khách dự buổi dạ tiệc chó tại vườn hoa biệt thự Gia Khánh, bên bờ sông Hương. Trưa hôm ấy, ông Thạch rủ con Bim đi tắm. Con chó vui mừng vẫy đuôi, liếm vào tay ông tỏ lòng cám ơn. Bim rất thích trò đánh vật với chủ trong dòng Hương lăn tăn sóng mát lành vào những trưa hè oi nồng. Nhưng lần này ông Thạch dìm Bim xuống nước một cách khác thường. Nó mở lớn đôi mắt kinh ngạc nhìn chủ rồi vùng vẫy dữ dội theo bản năng sinh tồn. Không đủ sức kềm giữ con vật, ông Thạch lắp bắp mãi một câu: "Bim ơi, cứu ba đi con!". Không hiểu con vật đuối sức hay hiểu thấu lời khẩn cầu của chủ mà buông xuôi chịu chết đuối...Lái xe đi rước ông chủ Tàu tại khách sạn sau khi hắn đã trổ tài chế biến bảy món cầy tơ. Mỵ được ông Thạch cử đi theo để đón khách. Sẩm tối, Mỵ trở về một mình. Cô thấy chồng diện bộ đồ lớn ngồi chờ bên bàn tiệc đặc biệt dưới ánh đèn lồng và nến, "gu" ánh sáng của ông chủ Tàu. Nhưng sau khi nghe tên lái xe kể chuyện con Bim ông chủ Tàu đã khéo léo từ chối bữa tiệc, đồng nghĩa với việc từ chối ký hợp đồng kinh tế với ông Thạch. Mỵ đã vội nhờ tôi "cứu" ông Thạch khi thấy chồng rơi vào trạng thái mất trí. Có thể vì cái hợp đồng. Có thể vì con Bim. Có thể cả hai. Rất tiếc, trong trường hợp này, tôi đã không thể giúp đỡ gì cho Mỵ. Bây giờ, hơn hai mươi năm sau, trở lại Huế, trên đường đi loanh quanh, thỉnh thoảng tôi vẫn bắt gặp biển quảng cáo cầy tơ bảy món. Ôi, giá như những ngày đầu đất nước mở cửa làm ăn kinh tế mà mấy tiệm cầy tơ này cũng mở cửa kịp thời ở Huế, thành phố có truyền thống không ăn thịt chó, thì đâu đến nỗi con Bim phải chết uổng, ông Thạch phải mất trí, Mỵ phải đau lòng, tôi phải bất lực trước tất cả những oan khiên ấy? Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền (Rút trong tập "Những truyện ngắn về Huế) Mục lục Bữa tiệc màu huyết dụ Bữa tiệc màu huyết dụ Nguyễn Phúc Vĩnh QuyềnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Sao Bang Nguồn: hue.vnn.vnĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 7 năm 2006
Nguyen Phuc Vinh Quyen Blood-colored party Some people say Hue is the city of Buddhists. It makes sense. Hue sunrise and sunset are fluttering with the quiet bells of over 60 pagodas in a close-knit space. And it may also be because Hue people have a tradition of not eating dog meat, a feature of Buddhist activities. I still remember a long time ago in Nguyet Bieu fruit village, on the balcony of the wooden attic of the Le family church overlooking the quiet Perfume River almost opposite Linh Mu Pagoda, in the dim light before sunset. Actually, I was typing on the typewriter finishing the last pages of my first novel, when suddenly there was a loud call from outside the gate. Really annoyed. I've been waiting for this end for two long years. But that was the incoherent call of My, my friend from when I was sitting in the university lecture hall, who also let me use the Le family church as a "creative camp". But for me at that time, the novel and My didn't know "who" was more important. I quickly ran down the dark wooden stairs, through the cold, spacious altar room, through the old flower garden paved with moss-green marble to meet My. There must have been something unusual because at this time My should have been at home taking care of the family's dinner, about two kilometers from their church, also on the river bank. "Please save my house!" "My family", My husband, is Thach, my long-time friend. I became his friend when he married My. Mr. Thach still saves me from time to time in some cases and situations. And I never dared to think that I would be able to save Mr. Thach. I have nothing, am nothing while he is a tycoon, both economically and socially. So when My looked at me with pleading eyes and uttered that appeal, I could only guess that Mr. Thach had had a stroke or something like that and she needed my help to take her to the emergency room. term. Gia Khanh Villa is in darkness. Rather, it appeared under the magical pink light of dozens of large and small lanterns. My le te took me straight to the flower garden behind, adjacent to the river bank. A banquet table was cleverly set up under intact candlelight and the only diner was My husband. Mr. Thach sat quietly looking out at the dark river, not realizing that My and I had come up behind him. The two kilometers of motorbike road from the Le family church to the Gia Khanh villa was enough for My to provide preliminary information about this "emergency case". Mr. Thach wants to sign a big contract with a Taiwanese wood exploitation and processing company. Having a strong competitor, Mr. Thach tried every way to win the favor of the partner's director. If guests want to have fun, he can "treat" and "play" with them. Just the Chinese boss's desire to eat dog meat made Mr. Thach helpless. In the early 80s of the 20th century in Hue city, it was difficult to predict a dog meat party. Unexpected re-request, right on the day the contract was expected to be signed, which was also the day the partner left Hue. The Chinese boss's driver advised him that he would cook seven dog dishes that were authentic to Taiwanese taste, and the homeowner just needed to immediately provide a silk dog. So Mr. Thach felt secure in inviting guests to the dog gala at the flower garden of Gia Khanh villa, on the banks of the Perfume River. That afternoon, Mr. Thach invited Bim to take a bath. The dog happily wagged its tail and licked his hand to show thanks. Bim loves wrestling with his master in the cool, rolling Perfume River on hot summer afternoons. But this time Mr. Thach drowned Bim in the water in an unusual way. It opened its eyes wide in surprise and looked at its owner, then struggled violently according to its survival instinct. Not having enough strength to restrain the animal, Mr. Thach stammered over and over again: "Bim, save me!". Not knowing whether the animal was exhausted or understood the owner's plea, he gave up and drowned... The driver went to pick up the Chinese boss at the hotel after he showed off his talent in cooking seven silken dishes. My was sent by Mr. Thach to welcome guests. At dusk, My returned alone. She saw her husband dressed in a big suit waiting at the special banquet table under the light of lanterns and candles, the Chinese boss's "taste" for light. But after listening to the driver tell the story of Bim, the Chinese boss cleverly refused the party, which meant refusing to sign an economic contract with Mr. Thach. My quickly asked me to "save" Mr. Thach when she saw her husband falling into a state of insanity. Maybe because of the contract. Maybe because of Bim. Maybe both. Unfortunately, in this case, I was unable to help My. Now, more than twenty years later, returning to Hue, on the way around, I still occasionally see signs advertising seven-dish silk civets. Oh, if only in the early days of the country opening up for economic business, these silk-growing shops would have opened in time in Hue, a city with a tradition of not eating dog meat, it wouldn't have been so bad that Bim would have died in vain, Mr. Thach must lose his mind, My must be heartbroken, I must be helpless in the face of all those injustices? Nguyen Phuc Vinh Quyen (Extracted from the collection "Short stories about Hue) Table of contents Blood-colored party Blood-colored party Nguyen Phuc Vinh QuyenWelcome to read the first book from the book project for mobile devicesSource: editor: Nguyen Kim Vy. Last words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected by: Sao Bang Source: hue.vnn.vn Uploaded by friend: Ct.Ly on: July 13, 2006
Dorothy Parker Bữa uống trà sau cùng Người đàn ông trẻ tuổi trong bộ đồ vest màu nâu sô cô la ngồi xuống cái bàn nơi thiếu nữ với cành hoa tầm xuân nhân tạo đã ngồi ở đó gần 40 phút. “Độ chừng tôi đã đến trễ”, chàng nói, “Xin lỗi để cô phải đợi”. “ờ, trời ơi”, nàng nói, “Tôi cũng mới tới đây khoảng một giây thôi mà. Tôi gọi thức uống mà không đợi anh vì tôi đang thèm một tách trà. Chính tôi cũng đi trễ. Tôi đến đây không quá một phút đấy”. “Tốt”, chàng nói, “ệ, ê cho đường ít thôi, một cục là đủ rồi. Và dọn những cái bánh ngọt kia đi. Khủng khiếp! Quả là tôi cảm thấy khủng khiếp thật!”. “A” nàng nói, “Anh cảm thấy thế à? A, vấn đề gì vậy?”. “ờ, tôi bị suy sụp”, chàng nói, “Tôi không cảm thấy khoẻ”. “A, anh bạn tội nghiệp”, nàng nói, “Anh cảm thấy mệt à? A! Và lại đi tới đây để gặp tôi. Anh không nên làm thế - tôi hiểu. A, hãy nghĩ xem, đi tới đây trong khi anh đang mệt”. “ờ, tốt thôi mà”, chàng nói, “Tôi có thể đi tới đây hay bất cứ một nơi nào khác. Ngày hôm nay tôi cảm thấy ở chỗ này hay ở chỗ khác thì cũng thế thôi. ờ, tôi cảm thấy mệt kinh khủng”. “Sao, thật là khủng khiếp”, nàng nói, “Coi kìa, anh đang bệnh mà. Trời ơi, tôi mong đó không phải là bệnh cúm. Họ nói quanh đây có vài người bị nhiễm”. “Bệnh cúm” chàng nói, “Tôi cầu cho tôi đã mắc phải. ờ, tôi đã bị ngộ độc. Và tôi đã qua khỏi. Tôi đã bỏ uống rượu. Có biết mấy giờ tôi đi ngủ không? 5 giờ 20 sáng nay. Một cái đêm trọn làm sao. Một buổi tối trọn làm sao!”. “Tôi nghĩ rằng”, nàng nói, “Anh lưu lại văn phòng và làm việc muộn. Anh nói rằng cả tuần nay anh đều làm việc ban đêm”. “Vâng, tôi biết”, chàng nói, “Nhưng tôi lo lắng vì nghĩ đến việc tới đây và ngồi ở cái bàn này. Tôi đã đi tới nhà của May - cô ấy đang tổ chức một bữa tiệc. Này có một người nói biết cô đấy”. “Thật à?” nàng nói, “Đàn ông hay đàn bà?”. “Đàn bà”, chàng nói, “Tên là Carol McCall. Này, tại sao trước đây tôi lại không nói về cô ấy chứ hả? Đó mới đúng là một cô gái. Trông cô ấy xinh đẹp làm sao!”. “ờ, thực thế à?”, nàng nói, “Buồn cười thật - tôi chưa bao giờ nghe thấy bất cứ ai nói như thế. Tôi đã nghe người ta nói cô ấy là loại người xinh đẹp nếu như cô ấy đừng trang điểm nhiều quá. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai cho cô ấy là xinh đẹp”. “Xinh đẹp là chính xác”, chàng nói, “Cô ấy có đôi mắt cực kỳ!”. “Thực à?”, nàng nói, “Tôi chưa bao giờ để ý đặc biệt đến chúng. Nhưng tôi đã không gặp cô ấy trong một thời gian dài - đôi khi con người ta có thay đổi, hay khoảng chừng như vậy”. “Cô ấy nói cô thường đi đến trường với cô ấy”, chàng nói. “ừ, chúng tôi cùng học một trường”, nàng nói, “Tôi ngẫu nhiên đi học trường công bởi vì nó ở gần nhà tôi, và mẹ tôi không muốn để tôi phải đi băng qua các đường phố. Nhưng cô ấy ở trên tôi ba hay bốn lớp gì đó. Cô ấy già hơn tôi”. “Cô ấy ở trên tất cả bọn họ từ ba đến bốn lớp”, chàng nói, “Khiêu vũ! Cô ấy khiêu vũ đẹp làm sao!”. Cháy hết quần áo bây giờ, cưng”, tôi cứ luôn bảo cô ấy thế. Hẳn là tôi đã say khướt”. “Đêm qua tôi cũng ra ngoài đi khiêu vũ”, nàng nói, “Wally Dillon và tôi. Anh ấy cứ nài nỉ tôi phải đi với anh. Anh ấy là một tay khiêu vũ tuyệt vời. Trời ơi! Mãi đến sáng tôi mới về nhà. Hẳn là trông tôi tồi tàn lắm, phải vậy không?”. “Cô trông khoẻ khoắn!” chàng nói. “Wally thật điên rồ”, nàng nói, “Những cái điều anh ấy nói đấy! Vì một lý do điên khùng nào đó, anh ấy cứ giữ trong đầu cái ý nghĩ rằng tôi có đôi mắt tuyệt đẹp, và, ừ, anh ấy cứ tiếp tục nói về chúng mãi cho đến khi tôi không biết phải nhìn vào đâu nữa. Tôi xúc động. Tôi đỏ mặt, tôi nghĩ mọi người ở đó đang nhìn tôi. Tôi đỏ như một cục gạch vậy. Đôi mắt tuyệt đẹp! Anh ấy có điên không vậy?”. “Anh ta đúng đấy”, chàng nói, “Này, cô gái nhỏ nhắn McCall ấy, cô ấy có đủ mọi lời đề nghị đóng phim “Tại sao em không đóng thử đi”, tôi bảo cô ấy. Nhưng cô ấy bảo không thích”. “Có một người đàn ông ở trên bờ hồ, hai mùa hè trước”, nàng nói, “Ông ta là một nhà đạo diễn hay cái gì từa tựa như thế, cùng đi với một trong những ngôi sao điện ảnh - ồ, ông ta có thế lực rất lớn - và ông ta thường nài nỉ và nài nỉ rằng tôi có thể tham gia đóng phim. Ông nói tôi có thể đóng những vai của Greta Garbo. Tôi chỉ cười nhạo ông ta. Thật là tưởng tượng!”. “Cô ấy có khoảng chừng một triệu lời đề nghị”, chàng nói, “Tôi bảo cô ấy nhận lời đóng đi. Lúc nào cô ấy cũng nhận được lời đề nghị”. “ờ, thực vậy à?” nàng nói, “ờ, nghe đây, tôi có một điều muốn hỏi anh. Có phải đêm qua ngẫu nhiên anh gọi điện thoại cho tôi không?”. “Tôi à?” chàng nói, “Không, tôi không gọi cho cô”. “Khi tôi đi ra ngoài, mẹ tôi nói giọng người đàn ông ấy cứ gọi tới”, nàng nói, “Tôi nghĩ có lẽ đó là anh. Tôi thắc mắc không biết là ai nhỉ. ờ, tôi đoán chừng tôi biết đó là ai rồi. Phải, tôi biết đó là ai rồi”. “Không, tôi không gọi cho cô”, chàng nói, “Đêm qua tôi không gởi đi một cú điện thoại nào. Sáng nay cái đầu tôi mới mệt mỏi làm sao! Tôi gọi điện cho Carol, khoảng 10 giờ, và cô ấy nói cô ấy cảm thấy tuyệt diệu. Có thể cô ấy đang uống rượu”. “Có một điều tức cười ở tôi”, nàng nói, “Tôi cảm thấy một loại bệnh lý khi trông thấy một cô gái uống rượu. Tôi đoán có một điều gì đó trong tôi. Tôi không quan tâm đến một người đàn ông lắm, nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn khủngkhiếp khi gặp một cô gái say sưa. Tôi là vậy đó”. “Cô ta đã say”, chàng nói, “Rồi thì ngày hôm sau cảm thấy tuyệt diệu. Đó là một cô gái lạ kỳ! Ê, anh đang làm gì đó? Tôi không muốn dùng thêm trà nữa đâu, cảm ơn. Tôi không phải là kẻ pha trà. Nhưng những cái phòng uống trà này làm tôi kinh ngạc. Cô hãy nhìn tất cả những bà già kia thử xem nào? Đủ để cô phải giật nẩy người lên ấy chứ!”. “Dĩ nhiên, nếu anh ở một nơi khác, uống rượu với các loại người nào tôi không biết”, nàng nói, “Tôi chắc tôi biết có thể giúp đỡ được anh như thế nào. Trời ơi, có đủ người vui lòng mời tôi đi uống trà. Tôi không biết có bao nhiêu người đã gọi điện cho tôi và năn nỉ được đưa tôi đi uống trà. Khối người!”. “Được rồi, được rồi, tôi đã ở đây, không phải thế sao?” chàng nói, “Hãy bình tĩnh”. “Tôi có thể nêu tên họ ra cả ngày đấy”, nàng nói. “Được rồi”, chàng nói, “Phàn nàn cái gì đây?”. “Trời ơi, tôi chẳng liên quan đến việc anh làm gì”, nàng nói, “Nhưng tôi không thích nhìn thấy anh phung phí thời giờ của mình với những người gần như không tốt đẹp gì với anh cả. Đó là tất cả”. “Không cần phải lo lắng cho tôi”, chàng nói, “Tôi khoẻ mà. Nghe đây. Cô không cần phải bận tâm”. “Tôi chỉ ghét thấy anh phung phí thì giờ thôi”, nàng nói, “ở lại suốt đêm rồi ngày hôm sau cảm thấy khủng khiếp. A, tôi quên là anh bệnh. A, tôi thật tàn nhẫn, phải vậy không, gắt gỏng với anh trong khi anh khổ sở. Anh bạn tội nghiệp. Bây giờ cảm thấy ra sao rồi?”. “ờ, tôi khoẻ mà”, chàng nói, “Tôi cảm thấy khoẻ. Cô muốn gì nữa à? Gọi phiếu tính tiền nhé? Tôi còn phải gọi một cú điện thoại trước 6 giờ”. “ờ, thực vậy à?”, nàng nói, “Gọi Carol?”. “Cô ấy nói lúc này có thể gọi cho cô ấy”. “Gặp cô ấy đêm nay à?” nàng nói. “Khi nào tôi gọi điện, cô ấy sẽ nói cho tôi biết”, chàng nói, “Có lẽ cô ta nhận được cả triệu cuộc hẹn ấy chứ. Sao?”. “Tôi chỉ thắc mắc thôi”, nàng nói, “Trời ơi, tôi phải đi rồi! Tôi có hẹn ăn tối với Wally và anh ta rất nổi khùng, bây giờ có lẽ anh ta đã ở đó rồi. Hôm nay anh đã gọi cho tôi cả trăm lần”. “Hãy đợi cho đến khi tôi tính tiền cái đã”, chàng nói, “Và tôi sẽ đưa cô đến một trạm xe buýt”. “ờ, đừng bận tâm”, nàng nói, “Nó ở ngay tại góc phố này. Tôi phải đi. Tôi đoán là anh muốn ở lại đây để gọi điện cho bạn anh?”. “Đó là ý hay”, chàng nói, “Có chắc là cô khoẻ không?” “ờ, chắc mà”, nàng nói. Nàng đang bận rộn gom nhặt bao tay và ví đoạn nhổm khỏi ghế dựa. Chàng hơi nhỏm dậy khi nàng dừng lại bên cạnh chàng. “Khi nào tôi sẽ gặp lại anh?” nàng nói. “Tôi sẽ gọi cho cô” chàng nói, “Tôi đang bận chuyện văn phòng và mọi chuyện khác. Tôi sẽ gọi điện thoại cho cô”. “Thực tình tôi có nhiều cuộc hẹn”, nàng nói, “Thật kinh khủng. Tôi không biết khi nào tôi mới rảnh được một phút. Nhưng anh sẽ gọi điện chứ?”. “Tôi sẽ gọi”, chàng nói, “Hãy tự chăm sóc nhé”. “Anh cũng hãy tự chăm sóc”, nàng nói, “Hy vọng anh sẽ cảm thấy khoẻ khoắn”. “ờ, tôi khoẻ”, chàng nói, “Chỉ vừa bắt đầu quay trở lại với cuộc sống”. “Hãy chắc chắn và cho tôi biết anh cảm thấy thế nào”, nàng nói, “Anh sẽ gọi chứ? Bây giờ chắc chắn chưa? ừ, tạm biệt. ờ, chúc một đêm tốt lành!”. “Cảm ơn”, chàng nói, “Cũng chúc cô một đêm tốt lành!”. “ờ, tôi mong là tôi sẽ tốt lành thôi”, nàng nói, “Tôi phải chuồn thôi! ờ, tôi gần như quên bẵng mất rồi! Cảm ơn nhiều về bữa uống trà. Rất đáng yêu”. “Tự nhiên nhé”. “Vâng”, nàng nói, “ừ. Này, đừng có quên gọi cho tôi đấy nhé! Chắc chắn chứ? ừ, tạm biệt”. “Tạm biệt”, chàng nói. Nàng đi dọc xuống con đường nhỏ nằm giữa những cái bàn sơn màu xanh nhạt. Vĩnh Hiền dịch(Báo Văn nghệ trẻ) Mục lục Bữa uống trà sau cùng Bữa uống trà sau cùng Dorothy ParkerChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: mọt sách đưa lên vào ngày: 27 tháng 5 năm 2004
Dorothy Parker Bữa uống trà sau cùng Người đàn ông trẻ tuổi trong bộ đồ vest màu nâu sô cô la ngồi xuống cái bàn nơi thiếu nữ với cành hoa tầm xuân nhân tạo đã ngồi ở đó gần 40 phút. “Độ chừng tôi đã đến trễ”, chàng nói, “Xin lỗi để cô phải đợi”. “ờ, trời ơi”, nàng nói, “Tôi cũng mới tới đây khoảng một giây thôi mà. Tôi gọi thức uống mà không đợi anh vì tôi đang thèm một tách trà. Chính tôi cũng đi trễ. Tôi đến đây không quá một phút đấy”. “Tốt”, chàng nói, “ệ, ê cho đường ít thôi, một cục là đủ rồi. Và dọn những cái bánh ngọt kia đi. Khủng khiếp! Quả là tôi cảm thấy khủng khiếp thật!”. “A” nàng nói, “Anh cảm thấy thế à? A, vấn đề gì vậy?”. “ờ, tôi bị suy sụp”, chàng nói, “Tôi không cảm thấy khoẻ”. “A, anh bạn tội nghiệp”, nàng nói, “Anh cảm thấy mệt à? A! Và lại đi tới đây để gặp tôi. Anh không nên làm thế - tôi hiểu. A, hãy nghĩ xem, đi tới đây trong khi anh đang mệt”. “ờ, tốt thôi mà”, chàng nói, “Tôi có thể đi tới đây hay bất cứ một nơi nào khác. Ngày hôm nay tôi cảm thấy ở chỗ này hay ở chỗ khác thì cũng thế thôi. ờ, tôi cảm thấy mệt kinh khủng”. “Sao, thật là khủng khiếp”, nàng nói, “Coi kìa, anh đang bệnh mà. Trời ơi, tôi mong đó không phải là bệnh cúm. Họ nói quanh đây có vài người bị nhiễm”. “Bệnh cúm” chàng nói, “Tôi cầu cho tôi đã mắc phải. ờ, tôi đã bị ngộ độc. Và tôi đã qua khỏi. Tôi đã bỏ uống rượu. Có biết mấy giờ tôi đi ngủ không? 5 giờ 20 sáng nay. Một cái đêm trọn làm sao. Một buổi tối trọn làm sao!”. “Tôi nghĩ rằng”, nàng nói, “Anh lưu lại văn phòng và làm việc muộn. Anh nói rằng cả tuần nay anh đều làm việc ban đêm”. “Vâng, tôi biết”, chàng nói, “Nhưng tôi lo lắng vì nghĩ đến việc tới đây và ngồi ở cái bàn này. Tôi đã đi tới nhà của May - cô ấy đang tổ chức một bữa tiệc. Này có một người nói biết cô đấy”. “Thật à?” nàng nói, “Đàn ông hay đàn bà?”. “Đàn bà”, chàng nói, “Tên là Carol McCall. Này, tại sao trước đây tôi lại không nói về cô ấy chứ hả? Đó mới đúng là một cô gái. Trông cô ấy xinh đẹp làm sao!”. “ờ, thực thế à?”, nàng nói, “Buồn cười thật - tôi chưa bao giờ nghe thấy bất cứ ai nói như thế. Tôi đã nghe người ta nói cô ấy là loại người xinh đẹp nếu như cô ấy đừng trang điểm nhiều quá. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai cho cô ấy là xinh đẹp”. “Xinh đẹp là chính xác”, chàng nói, “Cô ấy có đôi mắt cực kỳ!”. “Thực à?”, nàng nói, “Tôi chưa bao giờ để ý đặc biệt đến chúng. Nhưng tôi đã không gặp cô ấy trong một thời gian dài - đôi khi con người ta có thay đổi, hay khoảng chừng như vậy”. “Cô ấy nói cô thường đi đến trường với cô ấy”, chàng nói. “ừ, chúng tôi cùng học một trường”, nàng nói, “Tôi ngẫu nhiên đi học trường công bởi vì nó ở gần nhà tôi, và mẹ tôi không muốn để tôi phải đi băng qua các đường phố. Nhưng cô ấy ở trên tôi ba hay bốn lớp gì đó. Cô ấy già hơn tôi”. “Cô ấy ở trên tất cả bọn họ từ ba đến bốn lớp”, chàng nói, “Khiêu vũ! Cô ấy khiêu vũ đẹp làm sao!”. Cháy hết quần áo bây giờ, cưng”, tôi cứ luôn bảo cô ấy thế. Hẳn là tôi đã say khướt”. “Đêm qua tôi cũng ra ngoài đi khiêu vũ”, nàng nói, “Wally Dillon và tôi. Anh ấy cứ nài nỉ tôi phải đi với anh. Anh ấy là một tay khiêu vũ tuyệt vời. Trời ơi! Mãi đến sáng tôi mới về nhà. Hẳn là trông tôi tồi tàn lắm, phải vậy không?”. “Cô trông khoẻ khoắn!” chàng nói. “Wally thật điên rồ”, nàng nói, “Những cái điều anh ấy nói đấy! Vì một lý do điên khùng nào đó, anh ấy cứ giữ trong đầu cái ý nghĩ rằng tôi có đôi mắt tuyệt đẹp, và, ừ, anh ấy cứ tiếp tục nói về chúng mãi cho đến khi tôi không biết phải nhìn vào đâu nữa. Tôi xúc động. Tôi đỏ mặt, tôi nghĩ mọi người ở đó đang nhìn tôi. Tôi đỏ như một cục gạch vậy. Đôi mắt tuyệt đẹp! Anh ấy có điên không vậy?”. “Anh ta đúng đấy”, chàng nói, “Này, cô gái nhỏ nhắn McCall ấy, cô ấy có đủ mọi lời đề nghị đóng phim “Tại sao em không đóng thử đi”, tôi bảo cô ấy. Nhưng cô ấy bảo không thích”. “Có một người đàn ông ở trên bờ hồ, hai mùa hè trước”, nàng nói, “Ông ta là một nhà đạo diễn hay cái gì từa tựa như thế, cùng đi với một trong những ngôi sao điện ảnh - ồ, ông ta có thế lực rất lớn - và ông ta thường nài nỉ và nài nỉ rằng tôi có thể tham gia đóng phim. Ông nói tôi có thể đóng những vai của Greta Garbo. Tôi chỉ cười nhạo ông ta. Thật là tưởng tượng!”. “Cô ấy có khoảng chừng một triệu lời đề nghị”, chàng nói, “Tôi bảo cô ấy nhận lời đóng đi. Lúc nào cô ấy cũng nhận được lời đề nghị”. “ờ, thực vậy à?” nàng nói, “ờ, nghe đây, tôi có một điều muốn hỏi anh. Có phải đêm qua ngẫu nhiên anh gọi điện thoại cho tôi không?”. “Tôi à?” chàng nói, “Không, tôi không gọi cho cô”. “Khi tôi đi ra ngoài, mẹ tôi nói giọng người đàn ông ấy cứ gọi tới”, nàng nói, “Tôi nghĩ có lẽ đó là anh. Tôi thắc mắc không biết là ai nhỉ. ờ, tôi đoán chừng tôi biết đó là ai rồi. Phải, tôi biết đó là ai rồi”. “Không, tôi không gọi cho cô”, chàng nói, “Đêm qua tôi không gởi đi một cú điện thoại nào. Sáng nay cái đầu tôi mới mệt mỏi làm sao! Tôi gọi điện cho Carol, khoảng 10 giờ, và cô ấy nói cô ấy cảm thấy tuyệt diệu. Có thể cô ấy đang uống rượu”. “Có một điều tức cười ở tôi”, nàng nói, “Tôi cảm thấy một loại bệnh lý khi trông thấy một cô gái uống rượu. Tôi đoán có một điều gì đó trong tôi. Tôi không quan tâm đến một người đàn ông lắm, nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn khủngkhiếp khi gặp một cô gái say sưa. Tôi là vậy đó”. “Cô ta đã say”, chàng nói, “Rồi thì ngày hôm sau cảm thấy tuyệt diệu. Đó là một cô gái lạ kỳ! Ê, anh đang làm gì đó? Tôi không muốn dùng thêm trà nữa đâu, cảm ơn. Tôi không phải là kẻ pha trà. Nhưng những cái phòng uống trà này làm tôi kinh ngạc. Cô hãy nhìn tất cả những bà già kia thử xem nào? Đủ để cô phải giật nẩy người lên ấy chứ!”. “Dĩ nhiên, nếu anh ở một nơi khác, uống rượu với các loại người nào tôi không biết”, nàng nói, “Tôi chắc tôi biết có thể giúp đỡ được anh như thế nào. Trời ơi, có đủ người vui lòng mời tôi đi uống trà. Tôi không biết có bao nhiêu người đã gọi điện cho tôi và năn nỉ được đưa tôi đi uống trà. Khối người!”. “Được rồi, được rồi, tôi đã ở đây, không phải thế sao?” chàng nói, “Hãy bình tĩnh”. “Tôi có thể nêu tên họ ra cả ngày đấy”, nàng nói. “Được rồi”, chàng nói, “Phàn nàn cái gì đây?”. “Trời ơi, tôi chẳng liên quan đến việc anh làm gì”, nàng nói, “Nhưng tôi không thích nhìn thấy anh phung phí thời giờ của mình với những người gần như không tốt đẹp gì với anh cả. Đó là tất cả”. “Không cần phải lo lắng cho tôi”, chàng nói, “Tôi khoẻ mà. Nghe đây. Cô không cần phải bận tâm”. “Tôi chỉ ghét thấy anh phung phí thì giờ thôi”, nàng nói, “ở lại suốt đêm rồi ngày hôm sau cảm thấy khủng khiếp. A, tôi quên là anh bệnh. A, tôi thật tàn nhẫn, phải vậy không, gắt gỏng với anh trong khi anh khổ sở. Anh bạn tội nghiệp. Bây giờ cảm thấy ra sao rồi?”. “ờ, tôi khoẻ mà”, chàng nói, “Tôi cảm thấy khoẻ. Cô muốn gì nữa à? Gọi phiếu tính tiền nhé? Tôi còn phải gọi một cú điện thoại trước 6 giờ”. “ờ, thực vậy à?”, nàng nói, “Gọi Carol?”. “Cô ấy nói lúc này có thể gọi cho cô ấy”. “Gặp cô ấy đêm nay à?” nàng nói. “Khi nào tôi gọi điện, cô ấy sẽ nói cho tôi biết”, chàng nói, “Có lẽ cô ta nhận được cả triệu cuộc hẹn ấy chứ. Sao?”. “Tôi chỉ thắc mắc thôi”, nàng nói, “Trời ơi, tôi phải đi rồi! Tôi có hẹn ăn tối với Wally và anh ta rất nổi khùng, bây giờ có lẽ anh ta đã ở đó rồi. Hôm nay anh đã gọi cho tôi cả trăm lần”. “Hãy đợi cho đến khi tôi tính tiền cái đã”, chàng nói, “Và tôi sẽ đưa cô đến một trạm xe buýt”. “ờ, đừng bận tâm”, nàng nói, “Nó ở ngay tại góc phố này. Tôi phải đi. Tôi đoán là anh muốn ở lại đây để gọi điện cho bạn anh?”. “Đó là ý hay”, chàng nói, “Có chắc là cô khoẻ không?” “ờ, chắc mà”, nàng nói. Nàng đang bận rộn gom nhặt bao tay và ví đoạn nhổm khỏi ghế dựa. Chàng hơi nhỏm dậy khi nàng dừng lại bên cạnh chàng. “Khi nào tôi sẽ gặp lại anh?” nàng nói. “Tôi sẽ gọi cho cô” chàng nói, “Tôi đang bận chuyện văn phòng và mọi chuyện khác. Tôi sẽ gọi điện thoại cho cô”. “Thực tình tôi có nhiều cuộc hẹn”, nàng nói, “Thật kinh khủng. Tôi không biết khi nào tôi mới rảnh được một phút. Nhưng anh sẽ gọi điện chứ?”. “Tôi sẽ gọi”, chàng nói, “Hãy tự chăm sóc nhé”. “Anh cũng hãy tự chăm sóc”, nàng nói, “Hy vọng anh sẽ cảm thấy khoẻ khoắn”. “ờ, tôi khoẻ”, chàng nói, “Chỉ vừa bắt đầu quay trở lại với cuộc sống”. “Hãy chắc chắn và cho tôi biết anh cảm thấy thế nào”, nàng nói, “Anh sẽ gọi chứ? Bây giờ chắc chắn chưa? ừ, tạm biệt. ờ, chúc một đêm tốt lành!”. “Cảm ơn”, chàng nói, “Cũng chúc cô một đêm tốt lành!”. “ờ, tôi mong là tôi sẽ tốt lành thôi”, nàng nói, “Tôi phải chuồn thôi! ờ, tôi gần như quên bẵng mất rồi! Cảm ơn nhiều về bữa uống trà. Rất đáng yêu”. “Tự nhiên nhé”. “Vâng”, nàng nói, “ừ. Này, đừng có quên gọi cho tôi đấy nhé! Chắc chắn chứ? ừ, tạm biệt”. “Tạm biệt”, chàng nói. Nàng đi dọc xuống con đường nhỏ nằm giữa những cái bàn sơn màu xanh nhạt. Vĩnh Hiền dịch(Báo Văn nghệ trẻ) Mục lục Bữa uống trà sau cùng Bữa uống trà sau cùng Dorothy ParkerChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: mọt sách đưa lên vào ngày: 27 tháng 5 năm 2004
William Sommerset MAUGHAM Bữa ăn trưa Tôi gặp bà ta ở rạp hát. Nếu không có người nhắc thì có lẽ tôi cũng không nhận ra bà ta nữa vì hình như lâu lắm rồi tôi đã gặp bà ta một lần. Bà ta vui vẻ nói với tôi : - Lâu lắm rồi chúng ta mới lại gặp nhau. Thời gian qua như bay ! Chúng ta chẳng còn ai trẻ cả. Ông có nhớ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau không ? Cái lần mà ông mời tôi dùng bữa trưa đấy! Tôi có nhớ không nhỉ ? Hồi đó, cách đây hai mươi năm, tôi đang ở Paris. Tôi trọ trong một căn nhà nhỏ ở khu Latin, nhìn ra một nghĩa địa , và kiếm ăn chỉ đủ qua ngày. Bà ta đọc được một tác phẩm của tôi và viết thư cho tôi nói về tác phẩm ấy. Tôi viết thư trả lời ngay, cám ơn bà nhiều. Và sau đó tôi nhận được một thư nữa của bà, nói rằng bà có chuyện phải ghé đến Paris, muốn được tiếp xúc thảo luận với tôi, nhưng vì thời giờ của bà ta hạn hẹp nên chỉ có thể gặp tôi vào trưa thứ Năm tuần tới, thế tôi có thể dùng bữa trưa với bà ta tại nhà hàng Foyot ở Paris chăng ? Foyot là nhà hàng mà các nghị sĩ Pháp thường đến dùng bữa, nó ngoài tầm tay của tôi rất xa, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện vào ăn ở đấy. Nhưng tôi thấy đi ăn với một phụ nữ say mê tác phẩm của mình thì cũng thích lắm, vả tôi còn trẻ, chưa biết nói lời từ chối với phụ nữ bao giờ. Tôi còn được tám mươi francs để sống cho đến cuối tháng đó. Mà một bữa ăn trưa ở Foyot tồi nhất cũng phải mười lăm francs. Nếu tôi nhịn cà phê suốt hai tuần thì cũng có thể đãi bà ta một bữa ăn trưa vậy. Tôi bèn trả lời là sẽ gặp bà ở nhà hàng Foyot lúc mười hai giờ rưỡi thứ Năm tuần tới. Bà ta lúc ấy bốn mươi tuổi, hấp dẫn nhưng không trẻ lắm để có thể làm tôi bị cú sét gì quá đáng. Hàm răng bà ta rất đều và đẹp, làm tôi rất chú ý. Bà nói, khá nhiều, nhưng vì toàn là nói về tôi và tác phẩm của tôi nên tôi rất chú ý nghe. Nhưng lúc nhà hàng đưa bảng giá các món ăn ra, thì tôi hơi ngỡ ngàng, đắt hơn tôi tưởng rất nhiều. Song bà ta làm tôi hơi vững tâm khi bà bảo : - Bữa trưa tôi không bao giờ ăn gì đâu. Tôi vội đáp : - Ô, bà đừng nói thế chứ ! - Nếu ăn, tôi cũng chỉ ăn một món thôi. Tôi thấy thiên hạ ngày nay sao mà ăn nhiều quá. Vâng, nếu có thể, tôi chỉ ăn món cá nhỏ thôi. Chẳng biết ở đây họ có món cá hồi chăng ? Vì là đầu mùa cá hồi, nên trên bảng thực đơn chưa thấy có ghi món này. Tôi hỏi người hầu bàn xem có thể có chăng ? Anh ta đáp là có, sáng nay vừa có món ấy đầu tiên trong mùa. Tôi bèn gọi cho bà khách của tôi. Người hầu bàn hỏi bà ta xem trong khi chờ làm món cá ấy, bà ta có dùng tạm món gì không. Bà ta đáp : - Không. Tôi không bao giờ ăn quá một món. Trừ phi là nếu ở đây có món trứng cá cavia. Món đó thì không sao. Tim tôi hơi thắt lại. Tôi biết là không thừa tiền đâu mà kêu món đó. Nhưng tôi nghĩ là không thể nói ra như vậy, bèn cứ bảo người hầu bàn làm thêm món trứng cá cavia cho bà ta. Còn phần tôi, tôi chọn món rẻ nhất là món thịt trừu. Bà ta nói : - Tôi thấy ăn thịt là không được tốt. Nặng bụng rồi ông làm sao làm việc. Không nên làm ách bao tử của mình. Sau đó là đến phần kêu món uống. Bà ta bảo ngay : - Ăn trưa tôi không bao giờ uống gì. Tôi đáp ngay : - Vâng, tôi cũng vậy. Có vẻ như bà ta không nghe tôi nói gì, bà tiếp : - Trừ phi là rượu vang trắng. Rượu vang trắng của Pháp thật tuyệt, uống rất có lợi cho sự tiêu hóa. Tôi giữ phép lịch sự lơ đễnh hỏi : - Thế bà cũng uống chút gì chứ ? - Bác sĩ không cho tôi uống gì, ngoại trừ sâm-banh. Tôi hơi tái mặt. Nhưng ráng gọi cho bà ta nửa chai, và bảo rằng phần tôi thì bác sĩ cấm uống rượu sâm-banh. - Vậy ông uống gì chứ ? - Nước lã ạ! Bà ta ăn món trứng cá cavia, món cá hồi. Bà ta vui vẻ bàn về nghệ thuật, văn học và âm nhạc. Còn tôi thì cứ suy nghĩ không biết hóa đơn tính tiền sẽ đến đâu. Lúc tôi ăn món thịt trừu, bà ấy nói : - Tôi thấy như vậy là ông có thói quen ăn bữa trưa nặng bụng. Như vậy không nên. Sao ông không bắt chước tôi, chỉ ăn một món thôi. Ông sẽ thấy khỏe hơn. Tôi đáp : - Thì tôi chỉ ăn độc một món đây ạ ! Vừa lúc đó, người hầu bàn đến hỏi có dùng thêm món gì không. Bà ta xua tay bảo: - Không, không. Tôi không bao giờ ăn bữa trưa nhiều. Ăn chút xíu vậy thôi. Vả chăng đây cũng vì có câu chuyện đàm đạo vui nên mới ăn chút ít vậy. Tôi không thể ăn gì thêm đâu. Trừ phi ở đây có món măng tây. Đến Paris mà không ăn món măng tây thì cũng tiếc thật đấy ! Tim tôi thắt lại. Tôi biết món này đắt kinh khủng. Tôi thường thèm nhỏ dãi khi thấy món này. Tôi gượng hỏi người hầu bàn : - Bà đây hỏi nhà hàng có món măng tây không ? Tôi chỉ mong sao anh ta trả lời không có. Nhưng một nụ cười nở trên khuôn mặt đần độn của anh ta và anh ta nói rằng nhà hàng có món măng tây tuyệt hảo lắm, to và mềm. Bà khách của tôi thở dài và nói : - Tôi không thấy đói gì lắm, nhưng nếu ông cố nài thì tôi cũng đành phải dùng ít măng tây vậy. Tôi liền gọi món đó cho bà ta. Bà ta hỏi : - Ông không dùng à ? - Không ạ, tôi không bao giờ dùng măng tây. - Vâng, tôi biết có nhiều người không thích. Thực sự là chỉ vì ông dùng thịt nhiều nên khẩu vị bị hỏng đấy thôi. Chúng tôi chờ nhà hàng làm món măng tây. Tôi đã kinh hoảng trong lòng. Bây giờ thì không còn là vấn đề thừa được bao nhiêu tiền để ăn từ đây đến cuối tháng, mà vấn đề là không biết có đủ để trả cho bữa trưa nay không. Chỉ cần thiếu đi mười francs là cũng gay cấn lắm rồi. Tôi đã tính ngay là trong trường hợp đó, đành phải la lên rằng bị kẻ cắp móc túi mất rồi. Và sẽ để chiếc đồng hồ đeo tay lại và đến chuộc sau. Món măng tây được bưng ra. Mùi thơm bay lên làm cho lỗ mũi tôi phập phầng. Tôi nhìn cái mụ đàn bà âm binh này ngốn từng miếng to bự, mà ngao ngán trong lòng. Tôi lịch sự bàn luận về tình trạng bi kịch trên sân khấu Balkan ... Lúc thấy bà ta ăn xong, tôi hỏi : - Cà phê ? - Vâng, chỉ xin một cà phê kem lạnh thôi ! Bây giờ thì tôi cóc cần bận tâm nữa, tôi bèn kêu luôn cho tôi một cà phê, và cho bà ta một cà phê kem lạnh. Lúc bà ta ăn món này, bà nói : - Ông biết không, có một điều tôi thấy rất khôn ngoan, ấy là mình ăn thế nào mà khi đứng dậy vẫn có cảm tưởng là bụng mình vẫn còn ăn được một món gì đó nữa, thì mới là biết ăn. - Bà còn chưa no à ? - Ô, không. Ông thấy đấy. Tôi không ăn trưa gì nhiều được. Buổi sáng tôi chỉ dùng một tách cà phê, rồi đến tối mới dùng bữa. Nếu có phải ăn trưa thì cũng chỉ ăn một món thôi. Còn tôi nói đó, là nói để ông có cái kinh nghiệm như thế. - A, tôi hiểu rồi ạ. Bỗng một chuyện kinh hãi xảy ra. Trong khi chờ cà phê bưng lên cho tôi, thì tên hầu bàn trưởng, với vẻ mặt láo lếu, bưng một mâm quả đào đầu mùa chín mọng đi ngang qua. Những quả đào Ý, hồng như nước da thiếu nữ trong trắng. Đào đầu mùa thì có Chúa mới biết giá nó bao nhiêu ! Bà khách của tôi vừa nói chuyện vừa lơ đãng đưa tay nhón một quả. Bà vừa ngốn quả đào vừa nói : - Ông biết đó, ông đã ăn vào bụng nhiều thịt quá (ý nói món thịt trừu của tôi đấy!) nên không thể ăn gì thêm được. Còn tôi thì chỉ ăn qua loa thôi, nên có thể ăn thêm quả đào nữa. Lúc hóa đơn đưa ra, tôi trả tiền xong, chỉ còn có ba francs, không đủ để thưởng cho người hầu bàn, nên để nguyên ba francs trên khay, không nói gì. Bà ta nhìn số tiền thưởng ít ỏi đó một lát. Tôi biết chắc là bà ta nghĩ rằng tôi hà tiện, bủn xỉn. Nhưng đâu biết cả gần một tháng trường trước mặt tôi, mà trong túi tôi không còn một cắc. Lúc chia tay, bà ta bảo : - Ông hãy theo gương tôi, đừng bao giờ ăn bữa trưa quá một món. Tôi phản ứng : - Tôi sẽ còn hay hơn nữa đấy, tối nay tôi sẽ chẳng ăn món gì cả đâu! Bà ta cười vui vẻ : - Ông quả là một người hài hước ! - Và bà ta lên xe taxi. Nhưng cuối cùng, các vị thần bất tử đã ra tay trả thù đích đáng giùm tôi một cách rất đáng ca tụng. Ấy là đến nay bà ta mập phệ tới một trăm ba mươi ba kí lẻ ba mươi. Mục lục Bữa ăn trưa Bữa ăn trưa William Sommerset MAUGHAMChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 23 tháng 10 năm 2004
William Sommerset MAUGHAM Bữa ăn trưa Tôi gặp bà ta ở rạp hát. Nếu không có người nhắc thì có lẽ tôi cũng không nhận ra bà ta nữa vì hình như lâu lắm rồi tôi đã gặp bà ta một lần. Bà ta vui vẻ nói với tôi : - Lâu lắm rồi chúng ta mới lại gặp nhau. Thời gian qua như bay ! Chúng ta chẳng còn ai trẻ cả. Ông có nhớ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau không ? Cái lần mà ông mời tôi dùng bữa trưa đấy! Tôi có nhớ không nhỉ ? Hồi đó, cách đây hai mươi năm, tôi đang ở Paris. Tôi trọ trong một căn nhà nhỏ ở khu Latin, nhìn ra một nghĩa địa , và kiếm ăn chỉ đủ qua ngày. Bà ta đọc được một tác phẩm của tôi và viết thư cho tôi nói về tác phẩm ấy. Tôi viết thư trả lời ngay, cám ơn bà nhiều. Và sau đó tôi nhận được một thư nữa của bà, nói rằng bà có chuyện phải ghé đến Paris, muốn được tiếp xúc thảo luận với tôi, nhưng vì thời giờ của bà ta hạn hẹp nên chỉ có thể gặp tôi vào trưa thứ Năm tuần tới, thế tôi có thể dùng bữa trưa với bà ta tại nhà hàng Foyot ở Paris chăng ? Foyot là nhà hàng mà các nghị sĩ Pháp thường đến dùng bữa, nó ngoài tầm tay của tôi rất xa, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện vào ăn ở đấy. Nhưng tôi thấy đi ăn với một phụ nữ say mê tác phẩm của mình thì cũng thích lắm, vả tôi còn trẻ, chưa biết nói lời từ chối với phụ nữ bao giờ. Tôi còn được tám mươi francs để sống cho đến cuối tháng đó. Mà một bữa ăn trưa ở Foyot tồi nhất cũng phải mười lăm francs. Nếu tôi nhịn cà phê suốt hai tuần thì cũng có thể đãi bà ta một bữa ăn trưa vậy. Tôi bèn trả lời là sẽ gặp bà ở nhà hàng Foyot lúc mười hai giờ rưỡi thứ Năm tuần tới. Bà ta lúc ấy bốn mươi tuổi, hấp dẫn nhưng không trẻ lắm để có thể làm tôi bị cú sét gì quá đáng. Hàm răng bà ta rất đều và đẹp, làm tôi rất chú ý. Bà nói, khá nhiều, nhưng vì toàn là nói về tôi và tác phẩm của tôi nên tôi rất chú ý nghe. Nhưng lúc nhà hàng đưa bảng giá các món ăn ra, thì tôi hơi ngỡ ngàng, đắt hơn tôi tưởng rất nhiều. Song bà ta làm tôi hơi vững tâm khi bà bảo : - Bữa trưa tôi không bao giờ ăn gì đâu. Tôi vội đáp : - Ô, bà đừng nói thế chứ ! - Nếu ăn, tôi cũng chỉ ăn một món thôi. Tôi thấy thiên hạ ngày nay sao mà ăn nhiều quá. Vâng, nếu có thể, tôi chỉ ăn món cá nhỏ thôi. Chẳng biết ở đây họ có món cá hồi chăng ? Vì là đầu mùa cá hồi, nên trên bảng thực đơn chưa thấy có ghi món này. Tôi hỏi người hầu bàn xem có thể có chăng ? Anh ta đáp là có, sáng nay vừa có món ấy đầu tiên trong mùa. Tôi bèn gọi cho bà khách của tôi. Người hầu bàn hỏi bà ta xem trong khi chờ làm món cá ấy, bà ta có dùng tạm món gì không. Bà ta đáp : - Không. Tôi không bao giờ ăn quá một món. Trừ phi là nếu ở đây có món trứng cá cavia. Món đó thì không sao. Tim tôi hơi thắt lại. Tôi biết là không thừa tiền đâu mà kêu món đó. Nhưng tôi nghĩ là không thể nói ra như vậy, bèn cứ bảo người hầu bàn làm thêm món trứng cá cavia cho bà ta. Còn phần tôi, tôi chọn món rẻ nhất là món thịt trừu. Bà ta nói : - Tôi thấy ăn thịt là không được tốt. Nặng bụng rồi ông làm sao làm việc. Không nên làm ách bao tử của mình. Sau đó là đến phần kêu món uống. Bà ta bảo ngay : - Ăn trưa tôi không bao giờ uống gì. Tôi đáp ngay : - Vâng, tôi cũng vậy. Có vẻ như bà ta không nghe tôi nói gì, bà tiếp : - Trừ phi là rượu vang trắng. Rượu vang trắng của Pháp thật tuyệt, uống rất có lợi cho sự tiêu hóa. Tôi giữ phép lịch sự lơ đễnh hỏi : - Thế bà cũng uống chút gì chứ ? - Bác sĩ không cho tôi uống gì, ngoại trừ sâm-banh. Tôi hơi tái mặt. Nhưng ráng gọi cho bà ta nửa chai, và bảo rằng phần tôi thì bác sĩ cấm uống rượu sâm-banh. - Vậy ông uống gì chứ ? - Nước lã ạ! Bà ta ăn món trứng cá cavia, món cá hồi. Bà ta vui vẻ bàn về nghệ thuật, văn học và âm nhạc. Còn tôi thì cứ suy nghĩ không biết hóa đơn tính tiền sẽ đến đâu. Lúc tôi ăn món thịt trừu, bà ấy nói : - Tôi thấy như vậy là ông có thói quen ăn bữa trưa nặng bụng. Như vậy không nên. Sao ông không bắt chước tôi, chỉ ăn một món thôi. Ông sẽ thấy khỏe hơn. Tôi đáp : - Thì tôi chỉ ăn độc một món đây ạ ! Vừa lúc đó, người hầu bàn đến hỏi có dùng thêm món gì không. Bà ta xua tay bảo: - Không, không. Tôi không bao giờ ăn bữa trưa nhiều. Ăn chút xíu vậy thôi. Vả chăng đây cũng vì có câu chuyện đàm đạo vui nên mới ăn chút ít vậy. Tôi không thể ăn gì thêm đâu. Trừ phi ở đây có món măng tây. Đến Paris mà không ăn món măng tây thì cũng tiếc thật đấy ! Tim tôi thắt lại. Tôi biết món này đắt kinh khủng. Tôi thường thèm nhỏ dãi khi thấy món này. Tôi gượng hỏi người hầu bàn : - Bà đây hỏi nhà hàng có món măng tây không ? Tôi chỉ mong sao anh ta trả lời không có. Nhưng một nụ cười nở trên khuôn mặt đần độn của anh ta và anh ta nói rằng nhà hàng có món măng tây tuyệt hảo lắm, to và mềm. Bà khách của tôi thở dài và nói : - Tôi không thấy đói gì lắm, nhưng nếu ông cố nài thì tôi cũng đành phải dùng ít măng tây vậy. Tôi liền gọi món đó cho bà ta. Bà ta hỏi : - Ông không dùng à ? - Không ạ, tôi không bao giờ dùng măng tây. - Vâng, tôi biết có nhiều người không thích. Thực sự là chỉ vì ông dùng thịt nhiều nên khẩu vị bị hỏng đấy thôi. Chúng tôi chờ nhà hàng làm món măng tây. Tôi đã kinh hoảng trong lòng. Bây giờ thì không còn là vấn đề thừa được bao nhiêu tiền để ăn từ đây đến cuối tháng, mà vấn đề là không biết có đủ để trả cho bữa trưa nay không. Chỉ cần thiếu đi mười francs là cũng gay cấn lắm rồi. Tôi đã tính ngay là trong trường hợp đó, đành phải la lên rằng bị kẻ cắp móc túi mất rồi. Và sẽ để chiếc đồng hồ đeo tay lại và đến chuộc sau. Món măng tây được bưng ra. Mùi thơm bay lên làm cho lỗ mũi tôi phập phầng. Tôi nhìn cái mụ đàn bà âm binh này ngốn từng miếng to bự, mà ngao ngán trong lòng. Tôi lịch sự bàn luận về tình trạng bi kịch trên sân khấu Balkan ... Lúc thấy bà ta ăn xong, tôi hỏi : - Cà phê ? - Vâng, chỉ xin một cà phê kem lạnh thôi ! Bây giờ thì tôi cóc cần bận tâm nữa, tôi bèn kêu luôn cho tôi một cà phê, và cho bà ta một cà phê kem lạnh. Lúc bà ta ăn món này, bà nói : - Ông biết không, có một điều tôi thấy rất khôn ngoan, ấy là mình ăn thế nào mà khi đứng dậy vẫn có cảm tưởng là bụng mình vẫn còn ăn được một món gì đó nữa, thì mới là biết ăn. - Bà còn chưa no à ? - Ô, không. Ông thấy đấy. Tôi không ăn trưa gì nhiều được. Buổi sáng tôi chỉ dùng một tách cà phê, rồi đến tối mới dùng bữa. Nếu có phải ăn trưa thì cũng chỉ ăn một món thôi. Còn tôi nói đó, là nói để ông có cái kinh nghiệm như thế. - A, tôi hiểu rồi ạ. Bỗng một chuyện kinh hãi xảy ra. Trong khi chờ cà phê bưng lên cho tôi, thì tên hầu bàn trưởng, với vẻ mặt láo lếu, bưng một mâm quả đào đầu mùa chín mọng đi ngang qua. Những quả đào Ý, hồng như nước da thiếu nữ trong trắng. Đào đầu mùa thì có Chúa mới biết giá nó bao nhiêu ! Bà khách của tôi vừa nói chuyện vừa lơ đãng đưa tay nhón một quả. Bà vừa ngốn quả đào vừa nói : - Ông biết đó, ông đã ăn vào bụng nhiều thịt quá (ý nói món thịt trừu của tôi đấy!) nên không thể ăn gì thêm được. Còn tôi thì chỉ ăn qua loa thôi, nên có thể ăn thêm quả đào nữa. Lúc hóa đơn đưa ra, tôi trả tiền xong, chỉ còn có ba francs, không đủ để thưởng cho người hầu bàn, nên để nguyên ba francs trên khay, không nói gì. Bà ta nhìn số tiền thưởng ít ỏi đó một lát. Tôi biết chắc là bà ta nghĩ rằng tôi hà tiện, bủn xỉn. Nhưng đâu biết cả gần một tháng trường trước mặt tôi, mà trong túi tôi không còn một cắc. Lúc chia tay, bà ta bảo : - Ông hãy theo gương tôi, đừng bao giờ ăn bữa trưa quá một món. Tôi phản ứng : - Tôi sẽ còn hay hơn nữa đấy, tối nay tôi sẽ chẳng ăn món gì cả đâu! Bà ta cười vui vẻ : - Ông quả là một người hài hước ! - Và bà ta lên xe taxi. Nhưng cuối cùng, các vị thần bất tử đã ra tay trả thù đích đáng giùm tôi một cách rất đáng ca tụng. Ấy là đến nay bà ta mập phệ tới một trăm ba mươi ba kí lẻ ba mươi. Mục lục Bữa ăn trưa Bữa ăn trưa William Sommerset MAUGHAMChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 23 tháng 10 năm 2004
Trương Thái Du C. Dương Cầm Nguồn: Báo Tuổi trẻ chủ nhật ngày 2.4.2006 ngắn(1.168 chữ) 1. Cha tôi rất ghét đàn dương cầm. Một lần thấy tôi mê mẩn dán mắt vào màn hình xem buổi biểu diễn hiếm hoi của nghệ sĩ Đặng Thái Sơn tại nước nhà, cha lầu bầu: “Tay dẻo thật. Cái đầu gật gà gật gù đến lạ. Chẳng rõ có hiểu gì không hay cố làm sang!”. 2. Lớp sáu, tôi học trong ngôi trường vốn là cơ sở giáo dục cũ của nhà thờ. Tôi cảm nặng tiếng đàn bập bẹ của một con chiên dễ thương. Hằng ngày nàng đến thụ giáo linh mục đúng giờ ra chơi. Khéo duyên, lên cấp ba chúng tôi lại cùng thầy luyện thi đại học. Nàng chính là mối tình ban sơ của tôi. Với nhiều người cuộc chia tay đầu tiên thường có nguyên cớ rất vô duyên, tôi thì không. Nàng bảo nếu chúng tôi muốn cùng nhau đi dọc cuộc đời thì tôi phải nghĩ đến việc học giáo lý và đều đặn lễ nhà thờ với nàng. Không phải vì gia tộc tôi rất sùng Phật mà tôi thấy yêu cầu cương quyết đến cực đoan của nàng nhờn nhợn. Năm thứ hai trên giảng đường, tôi chấp nhận thi lại môn triết và kinh tế chính trị vì lơ là bài vở, để chúi mũi vào mấy quyển kinh sách Phật – Chúa. Tôi lý luận như một ông cụ non: - Nguyên thủy, Phật giáo hướng con người đến giác ngộ; Công giáo khơi gợi tình yêu thương. Khối óc và con tim đôi khi thật mâu thuẫn nhưng hoàn toàn có thể bổ xung và hoàn thiện nhau. Chính con người chia rẽ tôn giáo chứ tôn giáo không bao giờ chia rẽ con người. Đôi mắt bồ câu tròn xoe nhìn tôi xa lạ. Tình đầu trượt ngã vào ký ức. 3. Con gái lên năm tuổi, tôi muốn cho cháu học dương cầm. Bà xã góp ý: - Thời này kiếm món chơi nào dân tộc một tí cho nó lạ.- Đúng rồi – Cha tôi ủng hộ con dâu – Ra thế giới mà gõ phím ngà chẳng khác gì đem ca sĩ làng quê Việt Nam hát tiếng Tây. Cho nó học loại đàn của Thúy Kiều ấy.- Kiều là người Tàu, đàn đó là đàn Tàu chứ đâu phải đàn Việt – Tôi hết sức bối rối.- Đúng là trứng khôn hơn vịt – Cha ngâm nga: “Hiên sau treo sẵn cầm trăng - Vội vàng Kim đã tay nâng ngang mày”. Cái bầu xấu xí của Tỳ Bà Trung Quốc đã được Nguyễn Du chuyển thành một khuôn trăng đẹp.- Đàn Nguyệt chính là Nhị mà! Nó có hai dây thôi. Con gái kéo Nhị kỳ lắm cha ơi – Tôi thất vọng.- Đâu nào - Vợ tôi xổ một tăng - Đàn của Kiều bốn dây cơ. Đàn cho Kim Trọng “So dần dây vũ dây văn. Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương”. Đàn cho Thúc Sinh và Hoạn Thư “Bốn dây như khóc như than. Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng”. Đàn cho Hồ Tôn Hiến “Một cung gió thảm mưa sầu. Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay”. Phức tạp quá. Tôi lảng ra rồi ngồi vào máy tính nối mạng, loay hoay tìm kiếm trong Google. Dòng chữ “Kiều chơi đàn gì” – không có. “Kiều đánh đàn gì” – cũng không có. Xào qua xào lại mới thấy chủ đề “Thúy Kiều wánh đờn gì” trong một diễn đàn. May quá, họ trích dẫn tài liệu của ông Trần Văn Khê, dù cũng chỉ là một giả thuyết: Theo sách Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ “Đàn Nguyệt là thứ Hồ Cầm cổ còn có tên là Nguyễn Cầm, do ông Nguyễn Hàm (người Trung Quốc) chế ra vào đời Tấn”. Nguyễn Cầm thùng tròn như đàn Nguyệt Việt Nam nhưng có 4 dây như Tỳ Bà. Hiện nay Trung Quốc không còn lưu truyền đàn ấy, nhưng cách đây hơn 200 năm chắc chắn còn Nguyễn Cầm ở Việt Nam vì trong bài thơ chữ Hán “Long thành cầm giả ca” của Nguyễn Du có đoạn: Long Thành giai nhân Tính thị bất kỳ danh Ðộc thiện Nguyễn cầm Cử thành chi nhân dĩ cầm danh Nghĩa là: Người đẹp Thăng Long. Chẳng rõ họ tên. Đánh đàn Nguyễn rất hay. Nên mọi người đều gọi là cô Cầm. Tôi trình ngay nội dung này cho cả nhà, trong một bản in cỡ chữ thật to. Mọi người xì xầm: “Dân Ta bảo tồn văn hóa Tàu ghê nhỉ!”. 4. Thừa thắng xông lên, mấy tuần sau tôi nhờ người bạn thân rất rành nhạc cụ đi chọn cho cây đàn dương cầm Yamaha dòng Disklavier. Disklavier là sáng tạo tuyệt diệu của người Nhật, nối dài chiến công “nhà hát gia đình” mang tên Karaoke. Disklavier có mọi chức năng và hoàn hảo không khác một cây đàn dương cầm truyền thống. Cái hay và mới của nó ở chỗ: các hệ thống cơ - điện ghép trong thùng đàn có thể kết nối với máy tính hoặc đầu đọc đĩa CD. Nếu chơi đàn bằng máy tính, tập tin midi ghi lại quá trình chơi nhạc của người nghệ sĩ sẽ được Disklavier tái tạo. Với CD thì đơn giản hơn, hộp điều khiển dễ dàng giải mã các đĩa ghi âm sống của bất cứ danh cầm nào. Hàng phím nhảy nhót như được chơi bởi hai bàn tay vô hình. Sắc thái, tình cảm… nguyên vẹn, âm thanh rất trung thực. Người ta hay nôm na Disklavier là “Dương cầm ma”! Ngoài chức năng là dụng cụ học tập của con gái, “Dương cầm ma” đem đến cho tôi những phút giây thư giãn rất dễ chịu. Bao đêm quên ngủ, lâng lâng thả mình vào các bản dạ khúc triền miên day dứt của Chopin, tôi thường ngoa biện đời mình sẽ mất nhiều ý nghĩa nếu không biết Chopin. Chopin từng tị nạn ngoại xâm tại Pháp, đánh những cây đàn Pháp, chết trên đất Pháp; nhưng nhạc của ông mãi mãi là nhạc của một tâm hồn Ba Lan dạt dào tình yêu xứ sở. Con gái nhỏ thân yêu tóc đuôi gà ngồi lọt thỏm giữa chiếc ghế da khổng lồ. Thánh thót giai điệu bài dân ca châu Âu dung dị mở đầu quyển sơ học “Phương pháp hoa hồng”. Tôi biết cái ngày con gái mình đàn được trọn vẹn một bản nhạc Việt chuyển soạn cho dương cầm như Trống cơm, Lý con sáo… đã rất gần. Thú thật, trong khung cảnh ấy thỉnh thoảng tôi cũng trộm nghĩ đến nàng ngoan đạo ngày xưa. Tôi là người lạc quan, quá khứ không thể là hạnh phúc. Với tôi hạnh phúc là một tiến trình động, bao hàm cả hiện tại và tương lai. Khi hạnh phúc tù đọng ở một giá trị xơ cứng, nó sẽ đổi tên thành bất hạnh. Thung Lũng Đa Thiện,Đà Lạt 3.2006 Mục lục C. Dương Cầm C. Dương Cầm Trương Thái DuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: TTD đưa lên vào ngày: 2 tháng 4 năm 2006
Truong Thai Du C. Duong Cam Source: Sunday Youth Newspaper, April 2, 2006 short (1,168 words) 1. My father really hates the piano. Once, seeing me fascinated, glued to the screen watching a rare performance by artist Dang Thai Son in our country, my father muttered: "Really flexible hands. The head nodded strangely. I'm not sure if I understand anything or if I'm trying to make it look fancy! 2. In sixth grade, I studied in a school that was a former church educational facility. I deeply feel the babbling sound of a cute sheep. Every day she came to receive her priestly education at recess time. Luckily, when we entered high school, we worked together with the teacher to prepare for university entrance exams. She is my first love. For many people, the first breakup often has a very ungainly reason, but not for me. She said that if we wanted to go through life together, I had to think about studying catechism and regularly attending church with her. It's not because my family is very devoted to Buddha, but I find her extreme, resolute demands gruesome. In my second year at the lecture hall, I agreed to retake the philosophy and political economy courses because I neglected my homework and buried my nose in Buddhist and Christian scriptures. I reasoned like a young old man: - Originally, Buddhism directed people to enlightenment; Catholicism evokes love. The mind and heart are sometimes contradictory but can completely complement and complete each other. It is people who divide religion, but religion never divides people. The round dove eyes looked at me strangely. First love slips into memory. 3. My daughter is five years old and I want her to learn piano. My wife commented: - These days, find something a little ethnic to make it unique. - That's right - My father supports his daughter-in-law - Going out into the world and typing on ivory keys is like bringing Vietnamese village singers to sing in English. West. Let him learn Thuy Kieu's instrument. - Kieu is Chinese, that instrument is a Chinese instrument, not a Vietnamese instrument - I was very confused. - It's true that eggs are wiser than ducks - Father hummed: "The back porch is already hung." Holding the moon - Quickly, Kim raised her hand to her eyebrows. The ugly gourd of the Chinese Pipa has been transformed by Nguyen Du into a beautiful moon shape. - The Moon Dan is the Nhi! It only has two wires. Daughter plays Nhi Ky very much, father - I'm disappointed. - Where is it? - My wife has drawn a monk - Kieu's lute has four strings. Piano for Kim Trong "So gradually the string dance string text. The four strings, big and small, follow the rhyme of bow and arrow. Instrument for Thuc Sinh and Hoan Thu: "The four strings are like crying. It broke the hearts of everyone at the party." Choir for Ho Ton Hien: "A palace of winds and rains and sorrows. Four bloody lines and five fingertips." Too complicated. I walked away and sat down at the computer connected to the internet, struggling to search in Google. The words “What instrument does Kieu play” – none. “What kind of instrument does Kieu play?” – also none. After stir-frying, I found the topic "What kind of music does Thuy Kieu play?" in a forum. Luckily, they cited Mr. Tran Van Khe's documents, even though it was just a hypothesis: According to the book Vu Trung Sui But by Pham Dinh Ho, "Dan Nguyet is an ancient Ho Cam also called Nguyen Cam, written by Mr. Nguyen." Ham (Chinese) invented in the Jin Dynasty. Nguyen Cam has a round barrel like the Vietnamese Nguyet instrument but has 4 strings like the Pi Ba. Currently, China no longer has that instrument, but more than 200 years ago, Nguyen Cam certainly still existed in Vietnam because in the Chinese poem "Long Thanh Cam Gia Ca" by Nguyen Du, there is a passage: Long Thanh Nhan Tinh Thi Any name of Doc Thien Nguyen holding Cu Thanh Chi Nhan should hold the name Meaning: Beauty of Thang Long. Full name unknown. Nguyen plays the piano very well. So everyone calls her Ms. Cam. I immediately presented this content to the whole family, in large print. Everyone whispered: "Our people preserve Chinese culture so well!". 4. Taking advantage of the victory, a few weeks later I asked my close friend who is very knowledgeable about musical instruments to choose a Yamaha Disklavier piano. Disklavier is a wonderful creation of the Japanese, continuing the feat of "family theater" called Karaoke. The Disklavier has every function and perfection just like a traditional piano. The beauty and new thing about it is that the electro-mechanical systems combined in the soundboard can be connected to a computer or CD reader. If you play on a computer, the midi file recording the artist's playing process will be reproduced by Disklavier. With CDs, it's simpler, the control box can easily decode live recordings of any famous player. The rows of keys dance as if played by two invisible hands. The nuances, emotions... intact, the sound is very honest. People often refer to Disklavier as "Ghost Piano"! In addition to its function as a learning tool for girls, "Ghost Piano" brings me very pleasant moments of relaxation. Many nights when I forgot to sleep and indulged myself in Chopin's endlessly tormenting nocturnes, I often argued that my life would lose much meaning if I didn't know Chopin. Chopin was a refugee from foreign invaders in France, played the French guitar, and died in France; But his music will forever be the music of a Polish soul filled with love for the country. The dear little girl with a ponytail sat in the middle of a giant leather chair. The melodious melody of a simple European folk song opens the elementary book "The Rose Method". I know that the day when my daughter can play a complete Vietnamese song arranged for piano such as Trong Tam, Ly Con Flute... is very close. Honestly, in that scene, I sometimes secretly think of the pious girl of the past. I am an optimist, the past cannot be happiness. To me, happiness is a dynamic process, involving both the present and the future. When happiness stagnates at a rigid value, it will be renamed unhappiness. Da Thien Valley, Da Lat March 2006 Table of contents C. Duong Cam C. Duong Cam Truong Thai DuWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Uploaded by friend: TTD on: April 2, 2006
Bích Hà Ca Dao Kiếm Chồng Ðầu năm có cô bạn phone í a í ới.Tâm sự buồn ơi là buồn, vì kể từ khi cô chia tay với chàng, bỗng dưng cuộc đời cô trở nên vắng ngắt lẻ loi lạ lùng. Tôi mới quen biết cô không lâu, thỉnh thoảng có gặp nhau vài lần. Tôi coi cô như bạn và hình như cô thấy tôi là loại : Down to earth, easy to talk to nên thường phone tôi, kể lể tâm sự đủ mọi thứ trên trời dưới đất. Cô xúi tôi làm mai dùm cho một ông_ mà điều kiện tiên quyết là :”chuyện ấy phải làm ăn khỏe khoắn đàng hoàng mới được”. Tôi trả lời là tôi chẳng thể bảo đảm mấy chuyện ấy được, vả lại thời nay có thuốc Viagra hơi đâu mà sợ!! Món hàng cô cần, tôi đâu dại thử trước, nên tôi bảo cô: nếu muốn chắc ăn thì cô cứ việc thử trước rồi hẵng quyết định:” em chịu hay hỗng chịu” đâu có khó khăn gì.Ðằng đầu dây bên kia cô bạn cười rũ rượi, cứ y như bị tôi thọt lét, tôi đoán chắc_hai má cô đang hây hây đỏ ửng và chắc tôi đang làm cô vui vẻ lắm, giỡn cợt đủ thứ; nào đòi cần gấp mền da, nào đòi cưới gấp kẻo đợi lâu sốt ruột.Hèn chi ca dao thường giễu:Buồn chẳng muốn nói, gọi chẳng muốn trôngTưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáoTôi lầm bầm với chính mình:_Ở vậy một mình đâu có sao,tuần rồi nghe Thái thanh hát hai câu cuối của bài ca dao phổ nhạc Nụ tầm xuân mà não ruột, ví đàn bà có chồng như con cá khốn khổ vì bị mắc câu, nghe quá tội nghiệp: “Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ . Chim vào lồng, biết thưở nào ra”.Cứ tưởng tượng bọn đàn bà chúng tôi, lấy chồng đau đớn khổ sở y như con cá oằn oại dãy dụa vì cái miệng nhỏ bé mảnh mai xinh xắn đang bị móc rách toác và cả thân mình đang bị kéo lê lết bởi lưỡi móc câu to tổ bố của các đức ông chồng nghiệt ngã. Vậy mà trời sinh: chim có cặp, người có đôi, nên dẫu:Cá trong lờ, đỏ hoe con mắtCá ngoài lờ, ngúc ngoắc muốn vôChẳng ai muốn sống lủi thủi, ra vào một mình cô quạnh trong cuộc đời buồn tẻ vắng ngắt, mà những vòng tay và tiếng cười hạnh phúc ấm áp của người bạn đời, đã biến mất vào trong quá khứ. Nên khi lẻ loi một mình, thường ai cũng ao ước được có đôi có cặp, để thủ thỉ tâm sự buồn vui, tựa vai nhau sống cho qua hết kiếp. Ấy vậy mà thế gian, dường như chẳng chừa chút thương xót nào cho họ. Hay phải chăng người Việt ta, thường có máu chế giễu khôi hài cao độ, chuyện gì cũng đem ra cười cợt châm biếm được, làm cho có lắm nụ cười chở đầy nước mắt của người khác :Chòng chành như nón không quai Như thuyền không đáy, như ai không chồngGái có chồng, như gông đeo cổGái không chồng, như phản gỗ long đanh Cô bạn tôi, đã lỡ một một chuyến đò, tuy hơi lớn tuổi, nhưng dáng cô gầy guộc mảnh mai son sẻ, da trắng mũi cao mắt lớn. Tuy không đẹp lắm, nhưng nếu chịu cố gắng dành thì giờ, tô son điểm phấn, vui lên với cuộc đời, thì chẳng mấy chốc, tôi được mời đi ăn cỗ cưới. Cô lại đàn hay, hát cũng khá, chỉ tội quá hiền lành và rụt rè, đi đâu cũng ngồi một chỗ ngay ngắn, chẳng chàng nào biết cô đang single để mà cua. Tuy không đến nỗi phải giống như bọn con gái tuổi mới lớn, mà ca dao thường dí dỏm:_ Con gái mười bảy mười ba Ðêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng_Con gái mà chẳng lấy chồng Thiên hạ lấy hết, chổng mông mà gàoHoặc như bà già trong ca dao, đã bị chế giễu vì không chịu theo thói thường của xã hội phong kiến, trong đó có những lễ giáo, tập tục, đạo đức cổ hủ, chèn ép người phụ nữ một cách khắc nghiệt, buộc họ phải sống trong khuôn khổ đã ấn định của xã hội là: nếu đã bị lỡ thời, thì phải ở vậy, lẻ loi, cô độc cho hết kiếp. Họ quên rằng, phụ nữ cũng là con người, mà con người thường thích sống quần tụ trong một tập thể xã hội, và có quyền được sống tự do và được hưởng hạnh phúc lứa đôi. Thế nên, cái mồm bạc bẽo vô tội vạ của thế gian, thường lên án, giễu cợt những phụ nữ, dám mạnh mẽ phản kháng đối nghịch với nề nếp, lề thói, khuôn phép đã trói buộc cuộc đời của họ: _Rập rình nước chảy qua đèoBà già tấp tểnh mua heo cưới chồng_Bà già đi chợ cầu ÐôngXem một quẻ bói lấy chồng lợi chăngThầy bói gieo quẻ nói rằng Lợi thì có lợi nhưng răng không còn_Bà già đã bảy mươi tưNgồi trong cửa sổ gửi thư kén chồngPhụ nữ xưa, mấy ai có bản lĩnh, dám vượt qua khúc mắc ngang trái của miệng tiếng, để vùng lên dành lấy hạnh phúc cho đời mình.- Mai mưa, trưa nắng, chiều nồmTrời còn luân chuyển, huống mồm thế gian- Ngán thay, lưỡi độc đuôi ongXui người tan hợp, dứt lòng nghĩa nhânChỉ thấy đa số hồng nhan xưa, khóc thân bạc mệnh, tối ngày giam hãm quên lãng đời mình, trong xó xỉnh tù túng của gia tộc và xã hội. - Mình em, đứng tựa bên cầuNhớ thương người cũ, dạ sầu bơ vơ- Mình em vò võ năm canhLẻ loi gối chiếc, lạnh lùng chăn loan- Một mình, lòng những bơ thờDựa cây, cây ngả, dựa bờ, bờ xiêuÐó là thời xưa, bây giờ ở Úc, các cô các bà, đã qua rồi những ngày vàng son cao giá của thời” nam thừa nữ thiếu”. Nhưng tuy vậy, trị giá của đàn ông Việt ở Úc cũng chẳng gia tăng, vì các bà thà ở vậy nuôi con, để được tự do thoải mái, đã có chính phủ trợ cấp, cho các bà cuối tuần tha hồ ăn diện cho đẹp để đi khiêu vũ, hội hè hoặc đi bơi với chúng bạn, còn hơn là cứ mãi phải phục dịch chìu chuộng đức ông chồng vừa khó tính, lắm đòi hỏi, lại hơi tí là doạ bay về Việt Nam lấy vợ nhí! Ỏ Việt Nam, miễn là các ông có quốc tịch Úc, cho dù 70 tuổi, răng long tóc bạc, hay đui què sứt mẻ, bịnh nặng sắp xuống lỗ, các cô Việt Nam vẫn cứ lấy, để được xuất cảnh sang Úc. Tôi thấy cô bạn tôi, thời buổi này, cứ ở vậy nuôi con, chắc khá hơn, nên kiếm cớ thoái thác việc mai mối, nại cớ ca dao có câu :Ở đời có bốn chuyện ngu : Làm mai, đứng nợ, gác cu, cầm chầu.Làm mai, được thiên hạ xem là đệ nhất ngu, tôi dù có thiếu thông minh đến đâu, cũng hiểu làm trò mai mối chẳng được lợi gì, mà không chừng còn bị phiền phức lôi thôi, vả lại, tôi đâu biết cô kén chồng theo tiêu chuẩn nào, làm thế nào biết ai hợp lệ mà giới thiệu?Có cô chỉ cần tình:_Yêu nhau chẳng quản cửa nhàChuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo_Yêu nhau chẳng ngại nghèo giàuMột manh áo rách, bạc đầu vẫn duyên_Yêu nhau mọi sự chẳng nềMột trăm chỗ lệch, cũng kê cho bằngCó cô chỉ thích chọn chồng vừa có bằng cấp, vừa có địa vị cao trong xã hội, lại kiếm được nhiều tiền:“Phi cao đẳng, bất thành phu phụ”. Nghĩa nôm na là: “Không phải là bác sĩ, khỏi thành chồng vợ” Hoặc chọn chồng văn hay chữ tốt, viết lách hơn người:Chả tham nhà ngói tày đìnhTham về ngọn bút rập rình trên tayNói vậy, chứ mấy ông nhà báo ở Úc, cứ rên rỉ than thở ngắn dài, lại ưa dọa dẫm:” dân làm báo viết lách bận rộn vất vả, đến nỗi vướng vào nghiệp làm báo, sẽ trở thành mặt xanh nanh vàng” . Dẫu nàng không tham nhà cao cửa rộng, chỉ thích văn hay chữ giỏi, nhưng nếu đức ông chồng dung nhan mặt mũi lúc nào cũng xanh lè như ăn trộm bị bắt quả tang, thì các nàng nhìn thét cũng phải chán! Có cô chỉ chọn kẻ có tiền, chẳng cần tài năng chức tước gì ráo :_Thông ngôn ký lục chẳng màngLấy chồng thợ bạc, đeo vàng đỏ tay_Trăm năm trăm tuổi, trăm chồngHễ ai có bạc, thì bồng trên tayCũng chẳng ngại tuổi tác chênh lệch _Áo dày, chẳng nệ quần thưaBảy mươi có của, cũng vừa mười lăm_Ông già tóc bạc phơ phơLắm tiền nhiều của, gái tơ động lòng_Trời mưa nước chảy qua sânEm lấy ông lão, qua lần thì thôiBao giờ lão móm chầu trờiThì em lại kiếm một người trai tơ_Càng già càng dẻo càng daiCàng gẫy chân chõng, càng sai chân giường_Càng già, càng nhẹ phao câuCàng lên xuống tiện, càng mau nhịp nhàng( nghi quá, nhờ Viagra chắc!!)Có cô tuy không thèm bằng cấp, tiền bạc gì của chàng,nhưng nhất định phải là bậc :“ Ðàn anh kẻ cả,Tai to mặt lớn, chuyên: Ðè đầu bẻ cổ thiên hạ”Muốn như vậy, chắc chàng phải có kungfu đầy mình, đánh đấm lẫm liệt hào hùng y như các nhân vật trong phim truyện Hồng kông, mới làm trái tim các cô khoái chí rung động thật sự. Có cô xem trọng sự khôn ngoan thông thái của chàng, coi sự khôn ngoan của chàng hiếm quí như rồng, cao giá như vàng cốm. Tuy ở đây, ca dao không nói rõ là khôn như thế nào và khôn về lãnh vực gì.- Phận gái lấy được chồng khônXem bằng cá vượt vũ môn hóa rồng- Phận gái lấy được chồng khônCũng như vàng cốm mà chôn chân giường Ở Úc, tuy kiếm người giúp việc nhà, cực kỳ hãn hữu, người Việt dù giàu có đến đâu cũng hiếm người dám thuê mướn người giúp việc nhà. Nhưng các chàng thuộc loại thích quanh quẩn ở trong bếp để” Ðuổi gà cho vợ”, hoặc chỉ để “ sờ đuôi con mèo”. Hoặc siêng làm việc nhà theo kiểu:Làm trai rửa bát quét nhàVợ gọi thì dạ, bẩm bà con đâyChắc cũng không đắt khách, nhưng kẹt nỗi là tôi chẳng biết ai như vậy để giới thiệu cho cô bạn hiền, đang khóc thét vì nỗi cô đơn ám ảnh. Rồi khi đọc câu ca dao:Bắc thang lên tận ông trờiBắt ông Nguyệt Lão, đánh mười roi mâyÐánh rồi lại trói gốc câyHỏi ông Nguyệt Lão se dây tơ hồngNào dây se Bắc, se ÐôngNào dây se vợ, se chồng người ta Vụng se, tôi phải chồng giàTôi giận ông, muốn đốt nhà ông đây.Cô bạn hỡi, tôi không muốn bị đốt nhà cho dù nhà tôi có bảo hiểm đàng hoàng, nhưng chuyện làm mai cho cô, chắc tôi xin kiếu, cũng chẳng hẹn dịp khác. Mục lục Ca Dao Kiếm Chồng Ca Dao Kiếm Chồng Bích HàChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Giao mùaĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 3 năm 2005
Bích Hà Ca Dao Kiếm Chồng Ðầu năm có cô bạn phone í a í ới.Tâm sự buồn ơi là buồn, vì kể từ khi cô chia tay với chàng, bỗng dưng cuộc đời cô trở nên vắng ngắt lẻ loi lạ lùng. Tôi mới quen biết cô không lâu, thỉnh thoảng có gặp nhau vài lần. Tôi coi cô như bạn và hình như cô thấy tôi là loại : Down to earth, easy to talk to nên thường phone tôi, kể lể tâm sự đủ mọi thứ trên trời dưới đất. Cô xúi tôi làm mai dùm cho một ông_ mà điều kiện tiên quyết là :”chuyện ấy phải làm ăn khỏe khoắn đàng hoàng mới được”. Tôi trả lời là tôi chẳng thể bảo đảm mấy chuyện ấy được, vả lại thời nay có thuốc Viagra hơi đâu mà sợ!! Món hàng cô cần, tôi đâu dại thử trước, nên tôi bảo cô: nếu muốn chắc ăn thì cô cứ việc thử trước rồi hẵng quyết định:” em chịu hay hỗng chịu” đâu có khó khăn gì.Ðằng đầu dây bên kia cô bạn cười rũ rượi, cứ y như bị tôi thọt lét, tôi đoán chắc_hai má cô đang hây hây đỏ ửng và chắc tôi đang làm cô vui vẻ lắm, giỡn cợt đủ thứ; nào đòi cần gấp mền da, nào đòi cưới gấp kẻo đợi lâu sốt ruột.Hèn chi ca dao thường giễu:Buồn chẳng muốn nói, gọi chẳng muốn trôngTưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáoTôi lầm bầm với chính mình:_Ở vậy một mình đâu có sao,tuần rồi nghe Thái thanh hát hai câu cuối của bài ca dao phổ nhạc Nụ tầm xuân mà não ruột, ví đàn bà có chồng như con cá khốn khổ vì bị mắc câu, nghe quá tội nghiệp: “Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ . Chim vào lồng, biết thưở nào ra”.Cứ tưởng tượng bọn đàn bà chúng tôi, lấy chồng đau đớn khổ sở y như con cá oằn oại dãy dụa vì cái miệng nhỏ bé mảnh mai xinh xắn đang bị móc rách toác và cả thân mình đang bị kéo lê lết bởi lưỡi móc câu to tổ bố của các đức ông chồng nghiệt ngã. Vậy mà trời sinh: chim có cặp, người có đôi, nên dẫu:Cá trong lờ, đỏ hoe con mắtCá ngoài lờ, ngúc ngoắc muốn vôChẳng ai muốn sống lủi thủi, ra vào một mình cô quạnh trong cuộc đời buồn tẻ vắng ngắt, mà những vòng tay và tiếng cười hạnh phúc ấm áp của người bạn đời, đã biến mất vào trong quá khứ. Nên khi lẻ loi một mình, thường ai cũng ao ước được có đôi có cặp, để thủ thỉ tâm sự buồn vui, tựa vai nhau sống cho qua hết kiếp. Ấy vậy mà thế gian, dường như chẳng chừa chút thương xót nào cho họ. Hay phải chăng người Việt ta, thường có máu chế giễu khôi hài cao độ, chuyện gì cũng đem ra cười cợt châm biếm được, làm cho có lắm nụ cười chở đầy nước mắt của người khác :Chòng chành như nón không quai Như thuyền không đáy, như ai không chồngGái có chồng, như gông đeo cổGái không chồng, như phản gỗ long đanh Cô bạn tôi, đã lỡ một một chuyến đò, tuy hơi lớn tuổi, nhưng dáng cô gầy guộc mảnh mai son sẻ, da trắng mũi cao mắt lớn. Tuy không đẹp lắm, nhưng nếu chịu cố gắng dành thì giờ, tô son điểm phấn, vui lên với cuộc đời, thì chẳng mấy chốc, tôi được mời đi ăn cỗ cưới. Cô lại đàn hay, hát cũng khá, chỉ tội quá hiền lành và rụt rè, đi đâu cũng ngồi một chỗ ngay ngắn, chẳng chàng nào biết cô đang single để mà cua. Tuy không đến nỗi phải giống như bọn con gái tuổi mới lớn, mà ca dao thường dí dỏm:_ Con gái mười bảy mười ba Ðêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng_Con gái mà chẳng lấy chồng Thiên hạ lấy hết, chổng mông mà gàoHoặc như bà già trong ca dao, đã bị chế giễu vì không chịu theo thói thường của xã hội phong kiến, trong đó có những lễ giáo, tập tục, đạo đức cổ hủ, chèn ép người phụ nữ một cách khắc nghiệt, buộc họ phải sống trong khuôn khổ đã ấn định của xã hội là: nếu đã bị lỡ thời, thì phải ở vậy, lẻ loi, cô độc cho hết kiếp. Họ quên rằng, phụ nữ cũng là con người, mà con người thường thích sống quần tụ trong một tập thể xã hội, và có quyền được sống tự do và được hưởng hạnh phúc lứa đôi. Thế nên, cái mồm bạc bẽo vô tội vạ của thế gian, thường lên án, giễu cợt những phụ nữ, dám mạnh mẽ phản kháng đối nghịch với nề nếp, lề thói, khuôn phép đã trói buộc cuộc đời của họ: _Rập rình nước chảy qua đèoBà già tấp tểnh mua heo cưới chồng_Bà già đi chợ cầu ÐôngXem một quẻ bói lấy chồng lợi chăngThầy bói gieo quẻ nói rằng Lợi thì có lợi nhưng răng không còn_Bà già đã bảy mươi tưNgồi trong cửa sổ gửi thư kén chồngPhụ nữ xưa, mấy ai có bản lĩnh, dám vượt qua khúc mắc ngang trái của miệng tiếng, để vùng lên dành lấy hạnh phúc cho đời mình.- Mai mưa, trưa nắng, chiều nồmTrời còn luân chuyển, huống mồm thế gian- Ngán thay, lưỡi độc đuôi ongXui người tan hợp, dứt lòng nghĩa nhânChỉ thấy đa số hồng nhan xưa, khóc thân bạc mệnh, tối ngày giam hãm quên lãng đời mình, trong xó xỉnh tù túng của gia tộc và xã hội. - Mình em, đứng tựa bên cầuNhớ thương người cũ, dạ sầu bơ vơ- Mình em vò võ năm canhLẻ loi gối chiếc, lạnh lùng chăn loan- Một mình, lòng những bơ thờDựa cây, cây ngả, dựa bờ, bờ xiêuÐó là thời xưa, bây giờ ở Úc, các cô các bà, đã qua rồi những ngày vàng son cao giá của thời” nam thừa nữ thiếu”. Nhưng tuy vậy, trị giá của đàn ông Việt ở Úc cũng chẳng gia tăng, vì các bà thà ở vậy nuôi con, để được tự do thoải mái, đã có chính phủ trợ cấp, cho các bà cuối tuần tha hồ ăn diện cho đẹp để đi khiêu vũ, hội hè hoặc đi bơi với chúng bạn, còn hơn là cứ mãi phải phục dịch chìu chuộng đức ông chồng vừa khó tính, lắm đòi hỏi, lại hơi tí là doạ bay về Việt Nam lấy vợ nhí! Ỏ Việt Nam, miễn là các ông có quốc tịch Úc, cho dù 70 tuổi, răng long tóc bạc, hay đui què sứt mẻ, bịnh nặng sắp xuống lỗ, các cô Việt Nam vẫn cứ lấy, để được xuất cảnh sang Úc. Tôi thấy cô bạn tôi, thời buổi này, cứ ở vậy nuôi con, chắc khá hơn, nên kiếm cớ thoái thác việc mai mối, nại cớ ca dao có câu :Ở đời có bốn chuyện ngu : Làm mai, đứng nợ, gác cu, cầm chầu.Làm mai, được thiên hạ xem là đệ nhất ngu, tôi dù có thiếu thông minh đến đâu, cũng hiểu làm trò mai mối chẳng được lợi gì, mà không chừng còn bị phiền phức lôi thôi, vả lại, tôi đâu biết cô kén chồng theo tiêu chuẩn nào, làm thế nào biết ai hợp lệ mà giới thiệu?Có cô chỉ cần tình:_Yêu nhau chẳng quản cửa nhàChuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo_Yêu nhau chẳng ngại nghèo giàuMột manh áo rách, bạc đầu vẫn duyên_Yêu nhau mọi sự chẳng nềMột trăm chỗ lệch, cũng kê cho bằngCó cô chỉ thích chọn chồng vừa có bằng cấp, vừa có địa vị cao trong xã hội, lại kiếm được nhiều tiền:“Phi cao đẳng, bất thành phu phụ”. Nghĩa nôm na là: “Không phải là bác sĩ, khỏi thành chồng vợ” Hoặc chọn chồng văn hay chữ tốt, viết lách hơn người:Chả tham nhà ngói tày đìnhTham về ngọn bút rập rình trên tayNói vậy, chứ mấy ông nhà báo ở Úc, cứ rên rỉ than thở ngắn dài, lại ưa dọa dẫm:” dân làm báo viết lách bận rộn vất vả, đến nỗi vướng vào nghiệp làm báo, sẽ trở thành mặt xanh nanh vàng” . Dẫu nàng không tham nhà cao cửa rộng, chỉ thích văn hay chữ giỏi, nhưng nếu đức ông chồng dung nhan mặt mũi lúc nào cũng xanh lè như ăn trộm bị bắt quả tang, thì các nàng nhìn thét cũng phải chán! Có cô chỉ chọn kẻ có tiền, chẳng cần tài năng chức tước gì ráo :_Thông ngôn ký lục chẳng màngLấy chồng thợ bạc, đeo vàng đỏ tay_Trăm năm trăm tuổi, trăm chồngHễ ai có bạc, thì bồng trên tayCũng chẳng ngại tuổi tác chênh lệch _Áo dày, chẳng nệ quần thưaBảy mươi có của, cũng vừa mười lăm_Ông già tóc bạc phơ phơLắm tiền nhiều của, gái tơ động lòng_Trời mưa nước chảy qua sânEm lấy ông lão, qua lần thì thôiBao giờ lão móm chầu trờiThì em lại kiếm một người trai tơ_Càng già càng dẻo càng daiCàng gẫy chân chõng, càng sai chân giường_Càng già, càng nhẹ phao câuCàng lên xuống tiện, càng mau nhịp nhàng( nghi quá, nhờ Viagra chắc!!)Có cô tuy không thèm bằng cấp, tiền bạc gì của chàng,nhưng nhất định phải là bậc :“ Ðàn anh kẻ cả,Tai to mặt lớn, chuyên: Ðè đầu bẻ cổ thiên hạ”Muốn như vậy, chắc chàng phải có kungfu đầy mình, đánh đấm lẫm liệt hào hùng y như các nhân vật trong phim truyện Hồng kông, mới làm trái tim các cô khoái chí rung động thật sự. Có cô xem trọng sự khôn ngoan thông thái của chàng, coi sự khôn ngoan của chàng hiếm quí như rồng, cao giá như vàng cốm. Tuy ở đây, ca dao không nói rõ là khôn như thế nào và khôn về lãnh vực gì.- Phận gái lấy được chồng khônXem bằng cá vượt vũ môn hóa rồng- Phận gái lấy được chồng khônCũng như vàng cốm mà chôn chân giường Ở Úc, tuy kiếm người giúp việc nhà, cực kỳ hãn hữu, người Việt dù giàu có đến đâu cũng hiếm người dám thuê mướn người giúp việc nhà. Nhưng các chàng thuộc loại thích quanh quẩn ở trong bếp để” Ðuổi gà cho vợ”, hoặc chỉ để “ sờ đuôi con mèo”. Hoặc siêng làm việc nhà theo kiểu:Làm trai rửa bát quét nhàVợ gọi thì dạ, bẩm bà con đâyChắc cũng không đắt khách, nhưng kẹt nỗi là tôi chẳng biết ai như vậy để giới thiệu cho cô bạn hiền, đang khóc thét vì nỗi cô đơn ám ảnh. Rồi khi đọc câu ca dao:Bắc thang lên tận ông trờiBắt ông Nguyệt Lão, đánh mười roi mâyÐánh rồi lại trói gốc câyHỏi ông Nguyệt Lão se dây tơ hồngNào dây se Bắc, se ÐôngNào dây se vợ, se chồng người ta Vụng se, tôi phải chồng giàTôi giận ông, muốn đốt nhà ông đây.Cô bạn hỡi, tôi không muốn bị đốt nhà cho dù nhà tôi có bảo hiểm đàng hoàng, nhưng chuyện làm mai cho cô, chắc tôi xin kiếu, cũng chẳng hẹn dịp khác. Mục lục Ca Dao Kiếm Chồng Ca Dao Kiếm Chồng Bích HàChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Giao mùaĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 3 năm 2005
Phạm Sông Hồng Cam Ngọt Ra khỏi Hà Nội đến mấy chục cây số mà tôi vẫn chua tin là mình đang đi xạ Trong khi người đàn ông ngồi bên tôi đã kịp mang cam ra bóc. Chắc anh là người hay đi: vẻ mặt thản nhiên anh vừa bóc cam vừa thuyết minh thật rành rọt những địa điểm xe đang quạ Anh niềm nở mời tôi, mời mọi người trong xe ăn cam. Đã lâu lắm chẳng có người đàn ông nào bóc cam mời tôi hay một cái gì tương tự. Tôi vừa muốn giữ lại vừa thèm được ăn những múi cam ấy. Có một mảnh đời khác như vừa thức giấc. Tôi từ từ đưa múi cam lên môi. Ngọt quá! ... Gần mười năm nay tôi chẳng đi đâu. Bổn phận làm vợ, làm mẹ đã nhốt tôi trong cái lồng gia đình không khóa mà thật chặt. Đêm qua tôi đã ngồi ghi gần hết hai trang giấy những việc cần làm trong mấy ngày tôi đi vắng cho hai bố con, thế mà tôi vẫn chưa yên tâm. Gần mười năm đang từ người ưa đó đây tôi bỗng rất ngại đi. Chỉ đêm qua, cái cảm giác muốn đi trong tôi mới thật rõ ràng: hồi hộp, háo hức và sung sướng và tủi thân. Cả chồng cả con, chẳng ai thiết nghĩ đến chuyến đi của tôi. Hình như người đàn bà luôn cô đơn với chính mình và luôn phải tự vượt từ nỗi cô đơn này đến nỗi cô đơn tiếp theo. Tưởng như không bao giờ hết. Hay đàn bà đồng nghĩa với cô đơn? Lúc tối tôi cứ chờ xem con trai có nằn nì tôi ở nhà không nhưng học xong bài nó mang bàn cờ ra và rủ tôi chơi. Còn nhiều việc phải làm nhưng tôi vẫn chơi với con một ván và cố tình để mình thuạ Mai nó sẽ ở nhà không có tôi. ... Chúng tôi đến nơi lúc bốn giờ chiều. Tôi được xếp ở chung phòng với một chị độc thân. Là tôi cứ gọi thế chứ không biết chị có độc thân thật không. Người chị như cằn đi vì dồn nén và ở chị vừa có vẻ tự tin của một người sẵn sàng đối phó với mọi thứ, vừa thoáng vẻ yếu đuối của người không được ai chở chẹ Tôi bỗng muốn được làm một cái gì đó cho chị. ... Tôi dành rất nhiều thời gian "vi chỉnh" hai vòi nước nóng lạnh để được thật đúng độ ấm như mình muốn. Ở nhà giờ này, khoảng năm giờ chiều, là lúc tôi hí húi bên cái bếp than tổ ong. Tôi hít không biết bao nhiêu lượng cacbon ôxít để chồng tôi có được cốc bia ở bữa cơm chiều, để sáng sáng thằng con tôi được ăn không phải cái bánh mì suông mà là có ít ruốc như nó vẫn thích. Chiều chiều, hai bố con tắm rửa sạch sẽ xong thì cũng là lúc mâm cơm đã dọn ra. Hai người đàn ông một từng trải, một ngây thơ cứ vừa ăn vừa kể với nhau đủ thứ chuyện, thật thoải mái. Lúc ấy mới là lúc tôi được đi tắm. Và khi tôi vào mâm thì cơm canh đã nguội, chẳng có ai để trò chuyện. Hai người đàn ông đã ngồi bên máy thu hình. Vậy mà hôm nay, vào giờ ấy tôi lại đang được tắm. Mà lại tắm từ vòi nóng lạnh chứ không phải một gáo nước sôi đủ cho một chậu nước lã theo hình thức đong đếm, cổ xưa như chính ngôi nhà của tôi. Tôi tự nhủ: phải tranh thủ tắm thật đã trong những ngày ở đây. Cộc... cộc... cộc... - Các chị cứ ở đây, lúc nào đi ăn cơm chúng tôi sẽ gọi - Tiếng người đàn ông ấy thông báo. Rồi bước chân anh dần xa. Có người nào đó lo bữa cơm chiều cho tôi lúc không ốm đau? Ba trăm sáu mươi nhăm ngày nhân với gần mười năm. Với những ngày bị băng huyết nằm đói chờ chồng đi làm về nấu cơm mà chồng thì về muộn vì... "phải đánh nốt ván cờ". Với những tháng ngày dài dằng dặc đi bốc thuốc rồi sắc thuốc cho chồng, mùi thuốc bệnh ngai ngái ngạt thở... ... Chị bạn cùng phòng đã đi nằm. Tôi mở cửa ra ban công. Ngoài kia là vườn cỏ cây nguyên sơ, gần như hoang dã. Những bông hoa dại trắng li ti cứ đung đưa đung đưa theo gió ru chiều. Rồi chuối, rồi đu đủ, rồi dứa dại, gặp đâu mọc đấy vô tự Và cỏ, bạt ngàn những cỏ là cỏ. Giá tôi còn là tôi mười năm trước, chắc chắn tôi đã nằm lên cái thảm cỏ có mùi đất ẩm nồng và ngửa mặt hưởng cái bao la ngợp thở để thấy mình vô cùng nhỏ nhoi và đầy tự tin đến có thể giang tay ôm gọn cả bầu trời... Nhưng trước hoàng hôn hình như đến hoang dã cũng phải buồn: những bông hoa trắng cứ nhạt nhòa và lẫn dần vào đêm. Không hiểu giờ này có bao nhiêu người đàn bà được thấy những bông hoa dại ru chiều buồn và thấy chiều đang ngủ? Có mùi hương trầm xa mà rất gần. Nhà ai đó có việc hay đang cầu xin điều gì mà hương thơm da diết cả với người trần gian. Tôi bỗng thấy như mình chẳng cần cho ai. Hốt hoảng, tôi quay vào phòng đóng cửa lại. 1994 Hết Mục lục Cam Ngọt Cam Ngọt Phạm Sông HồngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.SBC: sưu tầm Nguồn: VNTQ. netĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 10 tháng 7 năm 2005
Pham Song Hong Sweet Orange Even after dozens of kilometers out of Hanoi, I still couldn't believe that I was going hunting while the man sitting next to me had time to peel the orange. He must be a person who travels often: with a calm expression, he peeled oranges and clearly explained the locations where the car was traveling. He warmly invited me, invited everyone in the car to eat oranges. It's been a long time since any man peeled an orange for me or anything like that. I both want to keep and crave to eat those orange segments. There is another piece of life that seems to have just woken up. I slowly brought the orange segment to my lips. So sweet! ... I haven't gone anywhere for nearly ten years. My duty as a wife and mother has locked me in a family cage that is not locked but is tight. Last night I sat down and wrote down almost two pages of things to do during the few days I was away for my father and me, but I still didn't feel secure. After nearly ten years of being a lover, I suddenly became very afraid to go. Only last night, the feeling of wanting to go became clear in me: nervousness, excitement, happiness and self-pity. Neither my husband nor my children thought about my trip. It seems that women are always alone with themselves and always have to overcome this loneliness to the next loneliness. It seemed like it would never end. Or is woman synonymous with loneliness? At night, I kept waiting to see if my son would beg me to stay home, but after finishing the lesson, he brought out the chess board and invited me to play. There's still a lot of work to do, but I still played a game with my child and deliberately let myself pretend that tomorrow he would stay home without me. ... We arrived at four o'clock in the afternoon. I was assigned to share a room with a single woman. I just called her that, I don't know if she's really single. My sister's body seemed to be stiff from stress and she had both the confidence of someone ready to face anything and the weakness of someone who had no one to protect her. I suddenly wanted to do something for her. . ... I spent a lot of time "adjusting" the two hot and cold water faucets to get exactly the warmth I wanted. At home at this time, around five o'clock in the afternoon, I'm having fun next to the honeycomb charcoal stove. I inhaled countless amounts of carbon oxide so that my husband could have a beer at dinner, so that in the morning my son could eat not just bread but some shrimp paste like he always liked. In the afternoon, after the father and son finished washing up, the dinner tray was served. The two men, one experienced, the other innocent, just ate and told each other all kinds of stories, very comfortably. That's when I got to take a shower. And when I got to the tray, the rice and soup were cold, and there was no one to talk to. Two men were sitting next to the television. Yet today, at that hour, I was taking a bath. But bathing from a hot and cold faucet, not a ladle of boiling water enough for a basin of cold water in a measured form, as ancient as my own house. I told myself: I must take the time to shower during my days here. Knock... knock... knock... - You guys stay here, we'll call you when we come to eat - The man's voice announced. Then his steps gradually moved away. Is there someone who can take care of dinner for me when I'm not sick? Three hundred and sixty-five days multiplied by nearly ten years. During the days when he had a hemorrhage, he lay hungry and waited for his husband to come home from work and cook dinner, but he came home late because... "he had to finish the chess game". With the long days of picking up medicine and preparing medicine for her husband, the smell of sick medicine was suffocating... ... My roommate went to bed. I opened the door to the balcony. Outside is a pristine, almost wild garden of plants and trees. The tiny white wildflowers kept swaying in the lulling afternoon breeze. Then bananas, then papayas, then wild pineapples, grow everywhere without meaning and grass, countless grasses and grasses. If I were still me ten years ago, I would certainly have lied down on the grass with the strong smell of damp soil and raised my face to enjoy the breathtaking immensity to see myself so small and so confident that I could wrap my arms around it. even the sky... But before sunset it seems that even the wild must be sad: the white flowers keep fading and gradually blending into the night. I wonder how many women at this time have seen wildflowers lulling a sad afternoon and seen the afternoon sleeping? There is the scent of incense far away but very close. Someone's family has something to do or they're praying for something, but the fragrance is so sweet even to mortals. I suddenly felt like I didn't need anyone. Panicked, I went back into the room and closed the door. 1994 End Table of contents Sweet Orange Sweet Orange Pham Song HongWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. SBC: collected Source: VNTQ. netUploaded by friend: Ct.Ly on: July 10, 2005
BBC Camera số Từ khi xuất hiện, Camera số đã trở thành một thiết bị lưu trữ được ưa chuộng. Nó đang góp phần làm thay đổi cách thức làm việc cổ điển trong một số lĩnh vực của đời sống. Đặc biệt là đối với việc bảo quản các tác phẩm tranh nghệ thuật cho thế hệ tương lai.Phòng trưng bày tranh Quốc gia tại London (Vương Quốc Anh) đang đi tiên phong trong việc sử dụng công nghệ kỹ thuật để tái tạo các phiên bản tranh chất lượng cao, nhưng dưới dạng kỹ thuật số. Trong vòng 10 năm trước, người ta đã phát triển một hệ thống để giám sát những thay đổi nhỏ trong các tác phẩm nghệ thuật tranh và xây dựng một hồ sơ tỉ mỉ về màu của bức tranh để theo dõi bất kỳ sự thay đổi nào của tác phẩm tranh nghệ thuật qua thời gian. Điều đó có nghĩa chúng ta có thể có tự tin hơn rằng chúng ta sẽ nhận biết được bất kỳ sự thay đổi nào trong các bức tranh mà chúng ta đang xem . Tiến sĩ David Saunders, nhà nghiên cứu tranh tại Phòng trưng bày tranh Quốc gia Anh cho biết.Chú trọng đến màu sắcTrong năm 2001, Phòng trưng bày tranh Quốc gia Anh đã làm các bản sao kỹ thuật số của các bức tranh đẹp trong bảo tàng. Và trong năm nay, Phòng tranh sẽ tiến hành sao toàn bộ các bức tranh dưới dạng kỹ thuật số.Vì dự án này, TS. Saunders đã phải thuyết phục bạn đồng nghiệp của ông tại Phòng trưng bày tranh đầu tư một loạt công nghệ ảnh đắt tiền và chưa được thử nghiệm. Công việc giờ đây đã được trút xuống Vasari - Hệ thống nghệ thuật ảo để khôi phục và lưu ảnh. Tại đây, người ta cũng sử dụng một chiếc camera kỹ thuật số để ghi lại từng mét vuông của bề mặt mỗi bức tranh với độ phân giải ít nhất là 10.000 x 10.000 pixel. Nhưng chiếc camera này cung cấp cho chúng ta hình ảnh hiển thị 7 màu, giống như cầu vồng. Nó hoàn toàn khác biệt so với loại camera mà bạn mua trong các cửa hàng, vì thông thường loại camera đó chỉ có màu đỏ, xanh lá cây, và xanh da trờiHồ sơ vô giáHệ thống ảnh có thể cho phép các nhà nghiên cứu theo dõi thay đổi rất nhỏ trong màu hay bề mặt kết cấu của bức tranh mà không ảnh hưởng gì đến tác phẩm. Điều đó có nghĩa họ có thể xây dựng một hồ sơ vĩnh viễn ghi lại tình trạng của bức tranh. Trong tương lai, hình ảnh có thể được so sánh để xác định rõ liệu tác phẩm tranh nghệ thuật đó đã bị hư hại chưa trong khi bảo quản hay khi chúng được mang tới các triển lãm.Hệ thống này đã được phát triển trong một dự án do Cộng đồng châu Âu bảo trợ. Hiện cũng có một số phòng trưng bày tranh đưa công nghệ này vào hỗ trợ việc bảo quản và lưu lại các phiên bản tranh dưới dạng số thức, trong đó có cả Phòng trưng bày tranh Ufizzi tại Florence, ý cũng ứng dụng công nghệ này. Mục lục Camera số Camera số BBCChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Mít ĐặcĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
BBC Digital cameras Since its appearance, digital cameras have become a popular storage device. It is contributing to changing the classic way of working in several areas of life. Especially for preserving works of art for future generations. The National Gallery in London (UK) is pioneering the use of technology to recreate paintings. High quality painting, but in digital form. Over the past 10 years, people have developed a system to monitor small changes in works of art and build a meticulous record of the painting's color to track any changes. of works of art over time. That means we can have more confidence that we will notice any changes in the paintings we are looking at. Dr. David Saunders, painting researcher at the British National Gallery said. Paying attention to color In 2001, the British National Gallery made digital copies of beautiful paintings in the museum. museum. And this year, the Gallery will copy all the paintings in digital form. For this project, Dr. Saunders had to persuade his colleagues at the Picture Gallery to invest in a series of expensive and untested imaging technologies. The work has now fallen to Vasari - the Virtual Art System to restore and save photos. Here, people also use a digital camera to record every square meter of each painting's surface with a resolution of at least 10,000 x 10,000 pixels. But this camera provides us with 7-color display images, like a rainbow. It's completely different from the kind of cameras you buy in stores, because typically those cameras only come in red, green, and blue. Priceless records Imaging systems could allow researchers to follow Monitor very small changes in the color or texture of the painting without affecting the work. That means they can build a permanent record of the painting's condition. In the future, images could be compared to determine whether works of art have been damaged during storage or when they are brought to exhibitions. This system has been developed in a project sponsored by the European Community. There are also a number of art galleries that use this technology to support the preservation and storage of digital versions of paintings, including the Ufizzi Gallery in Florence, Italy, which also applies this technology. . Table of contents Digital cameras Digital cameras BBC Welcome you to read books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Jackfruit Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Marcel Canh Rau Sam Lần đầu tiên tôi được biết đến canh rau sam là ở tại nhà "nó". Hồi đó, ngày ngày tôi chăm chỉ đạp xe đến Thanh Xuân Bắc để nó phụ đạo cho môn toán (mà dân ngại nghĩ như tôi vẫn gọi đùa là ôn oán). Tôi trở thành thành viên "ăn trực" ở nhà nó lúc nào không hay... Trưa hôm đó, nắng nóng ghê lắm... Mẹ nó bảo sẽ chiêu đãi hai cử nhân tương lai một món canh đặc biệt... Hai đứa tôi háo hức lắm, vừa học bài vừa suốt ruột ngó đồng hồ liên tục... Mẹ nó vừa bảo "nghỉ ăn trưa thôi hai đứa" là tụi tôi đã xà ngay xuống chiếu... "Món đặc biệt đâu hả mẹ" - nó hỏi ngay... "A, món canh này ạ"... Nó thử, tôi cũng nhanh nhẹn theo bạn (thế mới là đôi bạn cùng...thử)... "ôi, chua quá"... Quả đúng thế thật, canh rau sam có vị chua nhẹ, lại có kiểu dính dính nhớt nhớt của rau mùng tơi... Thấy hai đứa tôi, đứa chun mũi, đứa nhăn mặt, mẹ nó cười bảo "rau này mát và bổ lắm đấy"... Thỉnh thoảng ở nhà mẹ tôi cũng nấu "canh láo nháo", trong đó điểm xuyết vài cọng rau sam, nhưng canh mà chỉ toàn rau sam thế này thì tôi chưa biết thật... Vị sao mà lạ quá, khó ăn quá... Đó là những năm lớp 8, khi chúng tôi chuẩn bị thi vào cấp 3... 3 năm sau... Nó bấm chuông inh ỏi, chuông xe đạp tàu mà cũng kêu ra phết... "Đi với tớ một lát đi"....Nhìn mặt nó lúc đó, tôi không dám hỏi thêm một câu, líu ríu dắt xe theo sau... Oh, tưởng đi đâu, hoá ra lại là đi chợ... Mà lạ thế, sao nó lại chỉ hỏi mua rau sam nhỉ "Rau sam mùa này làm gì có hả con gái, lạnh thế này cơ mà, mua bắp cải này ăn có phải ngon hơn không, bác bảo này..." Nó lầm lỳ không nói một câu, lại vòng sang chợ khác... Và chợ nào nó cũng hỏi mỗi rau sam.... Đến chợ Bưởi, tầm chợ thứ tám thì tôi kiên quyết không chịu đi nữa nếu không được biết mục đích tìm mua cai loại rau "láo nháo" kia... sao lại phải mất công mất sức đến thế ... Mà nó có ngon lành gì đâu cơ chứ... Nó oà khóc khi nghe tôi cằn nhằn... tôi ngẩn tò te bối rối... trong tiếng nức nở đứt đoạn của nó, tôi bàng hoàng đến lặng người khi biết mẹ nó bị ung thư.... Mẹ nó thèm ăn chút rau sam cho mát... Thế mà cũng đã gần 2 năm mẹ nó ra đi... trong suốt một thời gian dài, tôi thay nó, đi chợ tìm mua rau sam để nấu làm nước uống hàng ngày cho mẹ nó... Nghe mọi người chỉ rau sam dễ mọc, dễ tìm, tôi cũng cố để ý tìm hái cho được. Thậm chí tôi quyết tâm trồng một vườn toàn rau sam... Loại cây thân mỏng mảnh, cánh xinh xinh đầy đặn dần dần đã trở nên rất quen thuộc với tôi.... Thật bất ngờ khi tôi được mời thử một bát canh rau sam tại đất Pháp này... Vẫn cái vị chua chua ngày nào... Mai phải hỏi xem rau sam ở đâu mới được, nó nhỉ? Mục lục Canh Rau Sam Canh Rau Sam MarcelChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy : Marcel Nguồn: VNTQĐược bạn: NHDT đưa lên vào ngày: 13 tháng 3 năm 2007
Marcel Sam Vegetable Soup The first time I heard about purslane soup was at "his" house. Back then, I diligently cycled to Thanh Xuan Bac every day so he could tutor me in math (which people who were afraid to think like me jokingly called grudges). Without realizing it, I became the "on duty" member of his house... That afternoon, the sun was extremely hot... His mother said she would treat the two future bachelors to a special soup... Two My child was very excited, studying while constantly looking at the clock... As soon as his mother said "let's break for lunch", we immediately went to the mat... "Where's the special dish, Mom?" " - he asked immediately... "Ah, this soup"... He tried it, I quickly followed him (that's how the couple... tried)... "oh, it's so sour". .. It's true, the purslane soup has a slightly sour taste, and has the sticky, sticky texture of fresh spinach... Seeing the two of us, one scrunched up his nose, the other frowned, his mother smiled and said, "This vegetable is cool." and it's very nutritious"... Sometimes at home, my mother also cooks "scrambled soup", with a few stalks of purslane in it, but I don't really know what the taste of this soup is with only purslane like this... What does it taste like? but it's so strange, so hard to eat... Those were the 8th grade years, when we were preparing for the high school entrance exam... 3 years later... He rang the bell loudly, the train bike bell also rang out loud. ... "Come with me for a while"....Looking at his face at that moment, I didn't dare to ask another question, so I chirpily pulled the car along behind me... Oh, I thought I was going somewhere, but it turned out to be going to the market. ... But that's strange, why did he only ask to buy purslane? "There's no purslane this season, daughter, it's cold like this, wouldn't it be better to eat this cabbage, I said.. ." He mumbled without saying a word, then went around to another market... And at every market he asked only about purslane... When I arrived at Buoi market, around the eighth market, I firmly refused to go again if I couldn't. I know the purpose of buying that "messy" vegetable... why did it take so much effort... And it's not delicious at all... It burst into tears when it heard me nagging.. . I was confused... in his broken sobs, I was shocked to the point of silence when I learned that his mother had cancer... His mother wanted to eat some purslane to cool down... But It's been almost 2 years since his mother passed away... for a long time, I changed him, went to the market to buy purslane to cook for his mother's daily drink... I heard people say purslane grows easily. , easy to find, I also tried to pay attention to find it. I was even determined to plant a garden full of purslane... This plant with thin stems and plump petals gradually became very familiar to me.... It was a surprise when I was invited to try a bowl of soup. Purslane here in France... Still has the same sour taste... Tomorrow I'll have to ask where the purslane is, right? Table of contents Sam Vegetable Soup Sam Vegetable Soup MarcelWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Marcel Source: VNTQ Uploaded by friend: NHDT on: March 13, 2007
Hoàng Yến Cha Dượng ( Với lòng kính yêu và trân quí - Gởi: Cha Dượng - Người đã làm ơn cho cuộc đời của Mẹ và tôi Father’s Day 2005. ) Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi còn nhỏ lắm. Hơn ba tuổi thôi.Tôi loáng thoáng nhớ rằng Mẹ tôi nói Cha tôi đi học. Tôi được gởi về Bà Ngoại mỗi tháng một lần. Mỗi lần 2 ngàỵ Thật là thích thú khi tôi được Cậu Út – em của Mẹ tôi- dẫn đi hái xoài, mận, ổi trong vườn.Vườn nhà Ngoại tôi sum suê cây trái Ngoài ngõ vào là hai hàng cau kiểng. Những phiến đá đúc bằng xi măng được lót dọc theo lối đi Hai bên hông nhà sai oằn những cây ổi xá lị. Còn táo thì nhiều vô kể. Nhiều buổi trưa có những đám học trò vào vườn tranh nhau rung cây để nhặt táo rụng. Xa xa phía trái hông nhà những cây bưởi, cây cam, mãng cầu, vú sữa, lê ki ma,… Ðúng là bốn mùa hoa trái Một lần, Mẹ đánh thức tôi rất sớm, ra tới bến xe đã thấy thật đông các bà bạn của Mẹ tôi chờ sẵn tự bao giờ. Xe chạy rất lâu mạnh ai nấy ngủ. Ngủ gà ngủ gật. Rồi qua một con sông bằng mấy chiếc ghe nhỏ xíu mà về sau nầy tôi mới biết vùng Ðồng Tháp Mười gọi đó là chiếc “tắc ráng”. Mẹ tôi dẫn tôi đi bộ một quãng đường xa Ðường gồ ghề, khó bước. Ðất cứng có phủ một lớp phèn trắng như muối Tôi mỏi chân, mệt, phát khóc. Mẹ tôi tay xách nách mang lại còn phải bế tôi đi một đoạn. Mẹ vỗ về:- Ráng đi con. Sắp đến rồi Trường Cha con kìaTheo tay Mẹ chỉ, tôi thấy mấy dãy nhà lá giữa đồng không mông quạnh đìu hiu Trường Cha tôi học sao mà nghèo quá vậỵ Hồi lâu tôi thấy một đoàn người mặc toàn đồ bộ bạc thếch. Lại đi chân trần. Chỉ có vài người mang dép thôi Tất cả ngồi xếp hàng sau một hàng rào kẽm gai, dọc theo hàng cây cao cao Mẹ dắt tôi lại gần chỗ Cha tôi ngồị Hàng rào kẽm gai làm bức tường ô nhục. Tôi ấn bàn tay bé bỏng lên dây kẽm để chui qua thì có tiếng quát:- Không được trèo qua Ngồi yên đó. Tôi thấy Mẹ tôi kéo tay áo chùi nước mắt. Tôi hỏi: - Cha ơi! Chừng nào Cha về?- Học xong Cha về. Ở nhà ngoan con nhé. Cuộc gặp ngắn ngủi có vậỵ Nhưng tôi hỏi Mẹ tôi nhiều lắm trên đường về:- Mẹ ơi! Sao đi học Cha mặc đồ cũ quá.- Mẹ ơi ! Sao Cha không về học ở trường của Mẹ. v.v..và v.v…Rôi tôi quên hết. Ðến khi bọn trẻ gần nhà trêu: - Dũng không có cha . Dũng không có cha Tôi cãi lại:- Có! Cha Dũng đi học chưa về. Học trường xa lắm.Bọn trẻ cười , đứa lớn nhất nói: - Cha Dũng đi tù chứ đi học gì .Tôi chạy về nhà khóc, mách Mẹ thì Mẹ tôi an ủi:- Ở nhà chơi đi con. Mẹ tôi không nói gì thêm. Mắt buồn diệu vợi Năm tôi lên 10. Tôi có gặp Cha tôi một lần. Bấy giờ thì tôi biết rõ. Cha tôi đi tù. Ðúng như đám bạn đã nói Kể từ đó không một lần nào tôi gặp lại . * * *Năm 15 tuổi tôi đến Mỹ.Ðón Mẹ và tôi ở phi trường là người đàn ông lạ. Mẹ tôi gọi là anh Hoàng và bảo tôi:-Chào Dượng đi con.Tôi vòng tay chào, Dượng xoa đầu tôi và nói:- Cám ơn ! Con rất ngoan. Rồi người quay sang Mẹ tôi:- Xe ở ngoài kia Mình đi thôị Nhà Dượng tôi rộng rãi Chung quanh có nhiều cội phong già. Bên hông nhà có cây thông cao vút. Trời tháng ba của Virginia còn sót lại cái lạnh trễ tràng. Tôi run rẩỵ Dượng đưa cho tôi nhiều đồ lạnh. Tôi mặc quần áo, đội mũ, mang vớ mà vẫn không làm quen nỗi cái lạnh ở đâỵ Hôm sau, Dượng ra khỏi nhà từ sáng sớm. Chiều về cho tôi bao nhiêu là sách vở, bánh kẹo, đồ chơi Mẹ tôi ở nhà lo việc nhà. Thời gian cứ trôi qua lặng lẽ. Mẹ không hề nhắc đến cha tôi và tôi không biết sao cũng không hỏi Nửa năm trôi qua, tôi được vào trường. sáng nào Dượng cũng đưa tôi tới cổng. Không cho tôi chờ xe bus. Tháng 10 rét buốt. Bông tuyết rơi nhiềụ Dượng vẫn đón đưa tôi như thường lệ. Tôi sống trong ngày tháng bình yên của cái tuổi ăn chưa no, lo chưa tới Lớn lên trong sự chăm sóc của Dượng và Mẹ, chỉ lo học hành mà thôị Về sau, tôi được biết qua một bà cô họ: Cha tôi đã ra tù, vượt biên và có vợ, có con, có một gia đình êm ấm khác.Dượng tôi trước đây cũng có gia đình nhưng đổ vỡ từ những năm 89-90…Một ngày kia, tôi đi với nhóm bạn cùng lớp vào sinh hoạt vui chơi trong một công viên. Mấy tiếng đồng hồ chạy nhảy thấm mệt. Một đám bạn gái kéo nhau ra phía ngoài mua kem. Cô bạn thân nhất giơ tay lên cao vẫy gọi:- Dũng ơi! Ăn kem gì ? Lại đây mau Tôi chạy vội đến. Cả Dượng và tôi đều bất ngờ.Tôi im lặng đưa tay nhận cây kem từ cô bạn gái Dượng im lặng soạn những đồng tiền thối lại cho bạn tôi Tôi bí mật chào Dượng và trở lại vị trí các bạn chơi đùa Ðầu óc tôi đặc quánh như có một tảng hắc ín trong đó. Từ những ngày nắng hạ. Từ những ngày mưa dầm . Ngoại trừ thời gian có tuyết rơi Dương tôi đã đem về cho gia đình từng bữa ăn, tiếng nói cười hạnh phúc bằng chính mồ hôi của ngườị Ðời vẫn có thành kiến với những người” cha ghẻ, mẹ ghẻ”. Nào là:“Mấy đời bánh đúc có xương,Mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng”Nào là: “Chim hồng chim hộc bay đi,Cha dượng, con vợ làm gì thương nhaụ”Chiều đó, Dượng tôi trở về nhà với vẻ mặt ưu tư chưa từng có. Dượng và tôi không đá động gì đến lần gặp trong ngàỵ ..Buổi sáng đưa tôi tới trường Dượng dúi vào tay tôi thỏi chocolate nhỏ- Món tôi thích nhất. Một sự quan tâm rất dịu dàng. Không ngăn được nỗi xúc động nghẹn ngào tôi ôm chầm lấy Dượng và tự nhiên gọi- Cha! Cha ơi!Dượng cúi xuống. Những giọt nước mắt rơi trên tóc, trên má tôi Tôi lại có cha như vậy đấy! Từ đây, tôi bắt đầu cầu nguyện cho Dượng. Xin Thượng Ðế cho Cha Dượng tôi mãi mãi là người cha tốt. Ðem đến hạnh phúc cho Mẹ và tình thương cho tôi Sức khoẻ và sự bình an luôn ở trong ngườị Tôi nhớ bài học từ thuở ấu thơ mà nay còn thuộc:Mỗi năm mỗi thắp đèn trời,Cầu cho Cha Mẹ sống đời với con. Hoàng Yến Mục lục Cha Dượng Cha Dượng Hoàng YếnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Giao MùaĐược bạn: CT.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 6 năm 2005
Canary Stepfather (With love and respect - To: Stepfather - The person who has graced the lives of Mother and I Father's Day 2005. ) April 30, 1975 I was still very young. Just over three years old. I vaguely remember my mother telling my father to go to school. I was sent to Grandma once a month. Every 2 days. It was very enjoyable when my Youngest Uncle - my Mother's younger brother - took me to pick mangoes, plums, and guavas in the garden. My Grandmother's garden was lush with fruit trees. Outside the entrance were two rows of ornamental areca palms. Stone slabs made of cement are lined along the path. On both sides of the house are guava trees. There are countless apples. Many afternoons, groups of students go into the garden and compete to shake the trees to pick up fallen apples. Far away on the left side of the house are grapefruit trees, orange trees, custard apple trees, star apple trees, pear trees,... Truly four fruit seasons. One time, Mom woke me up very early, and when I got to the bus station, I saw a large crowd of ladies. My mother's friend has been waiting for me forever. The car drove for a long time and everyone slept. Doze off and doze off. Then I crossed a river by a few tiny boats, which I later learned that the Dong Thap Muoi region calls them "tac tong" boats. My mother took me on a long walk. The road was rough and difficult to walk on. The hard ground is covered with a layer of white alum like salt. My legs are tired, I'm tired, I'm crying. My mother carried me under her armpits and had to carry me for a while. Mother comforted: - Keep trying, my child. It's almost time for your father's school. Following my mother's hand, I saw a row of thatched houses in the middle of a deserted field. My father's school was so poor. After a while, I saw a group of people dressed in faded clothes. Going barefoot again. Only a few people wore sandals. They all sat in a row behind a barbed wire fence, along a row of tall trees. Mother led me closer to where my father sat. The barbed wire fence made a wall of shame. I pressed my little hand on the wire to get through when I heard a shout: - Don't climb over. Sit still. I saw my Mother pull her sleeve and wipe her tears. I asked: - Father! When will Dad come home? - After studying, Dad will return. Please stay home and be good. The meeting was short, but I asked my mother a lot on the way home: - Mom! Why do you wear old clothes to school? - Mom! Why don't Dad go back to study at Mom's school? etc..and etc... Then I forgot everything. When the children near the house teased: - Dung doesn't have a father. Dung doesn't have a father. I argued: - Yes! Father Dung hasn't returned from school yet. The school is very far away. The children laughed, the eldest said: - Father Dung went to jail, he didn't go to school. I ran home crying, told my mother, and my mother comforted me: - Play at home, son. My mother didn't say anything more. Eyes so sad. When I was 10 years old, I met my father once. Now I know clearly. My father went to prison. Just like my friends said, I haven't seen each other since then. * * *When I was 15 years old, I came to America. Welcoming my mother and me at the airport was a strange man. My mother called me Mr. Hoang and told me: - Say hello to Uncle. I raised my arms to say hello, Uncle patted my head and said: - Thank you! You are very good. Then he turned to my mother: - The car is outside. Let's go. My uncle's house is spacious. There are many old maple trees around. On the side of the house there is a tall pine tree. Virginia's March weather still has a lingering cold. I was shivering. My uncle gave me a lot of cold food. I put on clothes, a hat, and socks but still couldn't get used to the cold here. The next day, Uncle left the house early in the morning. In the afternoon, she gave me a lot of books, candy, and toys. My mother stayed at home to take care of the housework. Time passed quietly. My mother never mentioned my father and I don't know why I didn't ask. Half a year passed and I was able to enter school. Every morning, my uncle takes me to the gate. Don't let me wait for the bus. October is bitterly cold. Many snowflakes fell and my uncle still picked me up as usual. I lived in the peaceful days of the age when I had not yet eaten enough, had not yet worried enough. Growing up under the care of my Uncle and Mother, I only worried about studying. Later, I learned through an aunt: My father had passed away. Prison, escaped the border and had a wife, children, and another peaceful family. My uncle also had a family before but it broke up in the 89-90s... One day, I went with a group of classmates to birthday party. having fun in a park. A few hours of running and jumping makes me tired. A group of girls went out to buy ice cream. Her best friend raised her hand high and waved: - Dung! What ice cream to eat? Come here quickly. I rushed here. Both Uncle and I were surprised. I silently reached out to receive the ice cream from my girlfriend. Uncle silently prepared change for my friend. I secretly greeted Uncle and returned to the place where my friends were playing. My mind was busy. It's thick like there's a block of tar in it. From the sunny days of summer. From rainy days. Except for the time when it snowed, Duong I brought home every meal, happy laughter and laughter from other people's sweat. Life still has prejudice against "stepfathers and stepmothers". Which is: "Several generations of bread with bones, How many generations of stepmothers love their husband's children" Which is: "The red bird flew away, Stepfather, stepfather, how do you love each other?" That afternoon, my uncle returned home with An expression of unprecedented concern. My uncle and I didn't say anything until we met that day. In the morning, when he took me to school, he put a small bar of chocolate in my hand - my favorite. A very gentle concern. Unable to stop my choking emotions, I hugged my uncle and spontaneously called- Dad! Father! Uncle bent down. Tears fell on my hair and cheeks. I have a father like that! From here, I started to pray for Uncle. Please God let my Stepfather always be a good father. Bring happiness to Mom and love to me. Health and peace will always be within you. I remember the lesson from my childhood that I still remember: Every year, I light a sky lantern, Praying for Mom and Dad to live forever with their children. Canary Table of contents Stepfather Stepfather Hoang YenWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Giao Mua Uploaded by friend: CT.Ly on: June 13, 2005
Nhất Chi Mai Cha Là Người Tốt hay Xấu? Trích từ bộ phim “TÂN DÒNG SÔNG LY BIỆT” (tập 11) Kịch Bản: Quỳnh Dao Nhất Chi Mai phóng tác/ghi lại …Từ nhà Khả Vân trở về, lòng tôi cứ bứt rứt không yên, đầu óc tôi quay cuồng vớii muôn ngàn câu hỏi. Tại sao mỗi khi nổi cơn điên loạn, Khả Vân không nhớ gì về quá khứ của mình, mà lại cứ luôn miệng gọi “Tư Lệnh Đại Nhân! Tư Lệnh Đại Nhân”? Cha của tôi đóng một vai trò gì trong bi kịch của Khả Vân? Cha có phải là người đàn ông đã hại đời Khả Vân chăng? Về “thành tích” đi-đến-đâu-là của cha, tôi còn lạ gì nữa! Nhưng Khả Vân lúc đó chỉ mới có 16 tuổi, lại là con gái của Lý Phó Quan, một tùy tùng rất mực trung thành của cha… Càng nghĩ, tôi càng muốn điên đầu lên. Tôi quyết định phải tìm ra sự thật. Tôi đến nhà tìm cha. Chị Lan bảo: “Ông đã đi cưỡi ngựa từ sáng sớm rồi, tiểu thơ ạ!” Vậy cũng tốt, đây là một cơ hội nói chuyện hiếm có, vì hình như tôi không có duyên với căn nhà của cha. Mỗi lần đến đó, tôi đều trở về với thương tích đầy mình. Sau trận đòn chí tử hôm nọ, tôi đã mất hết sự kính trọng và nể sợ đối với cha, cho nên mỗi lần gặp cha, tôi luôn luôn tỏ ra lạnh lùng, và đôi khi còn tìm cách khiêu chiến với ông, thường là vì dì Tuyết. Có một lần, tôi làm cha giận đến nỗi ông lại lấy roi ngựa ra, định cho tôi thêm một trận nữa, nhưng không hiểu sao ông cứ đứng đó nhìn trân trân vào sợi roi, rồi loạng choạng ngồi phịch xuống ghế. Nhìn nét đau khổ hiện lên trên khuôn mặt nhăn nheo của cha, tôi có cảm giác là chính tôi đã cho cha một nhát dao vào tim, nhưng tôi vẫn không thể nào dập tắt ngọn lửa thù hận trong lòng tôi. Đúng ra, tôi hận cha không phải vì những lằn roi quái ác mà cha đã quật lên người tôi – tôi cảm thấy thất vọng thì đúng hơn - mà chủ yếu là vì tấm lòng dửng dưng, bạc bẽo, vô tình của cha đối với mẹ tôi. Càng yêu mẹ chừng nào, tôi càng hận cha chừng nấy. Mỗi ngày, tôi đều sống trong sự dằn vặt giữa hai thứ tình cảm yêu và hận đó, lắm lúc tôi có cảm tưởng con người tôi sẽ bị hai thứ tình cảm này làm nổ tung ra từng mảnh. Tôi phóng ngựa ra trường đua. Những đứa con của cha, bất luận là con trai hay con gái, đều được cha dạy cưỡi ngựa từ nhỏ. Chạy một lúc, thấy bóng cha thấp thoáng ở phía trước, tôi ra sức đuổi theo. “Cha! Cha! Cha ơi!” Cha ghìm cương ngựa lại, quay đầu nhìn tôi, nét mặt lộ vẻ ngạc nhiên: “Y Bình! Con cũng ra đây cưỡi ngựa à?” “Dạ không! Con chỉ muốn nói chuyện với cha!” Hình như cha không tin lời tôi vừa nói. Tôi nói tiếp ngay, nhưng chưa dám đi thẳng vào vấn đề: “Con muốn thưa với cha là về chuyện đi hát, con đã bàn với mẹ cho con hát đến hết tháng chín này, xin cha chấp thuận, đừng đến vũ trường làm phiền người ta nữa!” Cha có vẻ hài lòng về thái độ hòa nhã hiếm có của tôi. Ông mỉm cười, nhưng không nói gì, chỉ lẳng lặng đi nước kiệu bên tôi. Sau một lúc trầm ngâm, cha lên tiếng: “Vậy thì, con vẫn coi cha…là cha của con chứ?” Tôi cười: “Từ nãy đến giờ, con đều gọi cha là “cha” mà!” Cha nhìn tôi trìu mến. Trông cha hôm nay thật hiền lành làm sao! “Y Bình, cha dẫn con đến chỗ này nhé!” Tôi theo cha đến một ngọn đồi phong cảnh thơ mộng, cỏ xanh ngắt một màu, hai bên bờ cây cối um tùm. Cha xuống ngựa, duỗi chân, hít vào một hơi thật sâu, như muốn tận hưởng cái không khí trong lành, tươi mát của một sáng mùa Thu đẹp trời. “Cha thường đến đây lắm à?” Tôi hỏi. Cha cười buồn, thở dài: “Già rồi! Ngoài việc lâu lâu cưỡi con “Hồi Ức” chạy một vòng, cha đâu còn làm gì được nữa!” Thì ra, cha đặt tên cho con ngựa của mình là “Hồi Ức”! Nhìn mái tóc bạc của cha, tôi bỗng thấy lòng xót xa. Tôi biết cha đang tiếc nuối quá khứ vàng son của mình. Một con người như cha, không thể cúi đầu sống trên một mảnh đất đã rơi vào tay giặc; cha đành phải bỏ lại quá khứ huy hoàng của mình nơi cố hương. Bây giờ, tôi mới chợt nhận ra một điều: tuổi xế chiều của một anh hùng thật bi đát hơn tuổi già của một người bình thường rất nhiều. Cha chợt lên tiếng, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. “Y Bình à! Dạo này, cha thường suy nghĩ rất nhiều. Cái tính bướng bỉnh và kiêu ngạo của con… đúng là khuôn đúc của cha hồi còn trẻ. Từ trên người con, cha thấy lại hình ảnh của cha. Sự đối nghịch của con đối với cha cũng giống như chiến tranh cha tự đặt ra với chính mình vậy. Cha thấy mệt mỏi rồi! Về chuyện làm ca sĩ của con, cha đành buông tay! Cha nhận lời cho con đi hát thêm một thời gian, nhưng mà con…đôi khi cũng nên về thăm cha, ăn bữa cơm với cha, được chứ?” Bây giờ, đến lượt tôi không tin vào tai mình. Có phải tôi đang nằm mơ chăng? Trong phút chốc, tất cả thù hận đối với cha đều tan biến hết. Hôm nay, tôi không muốn sống trong thù hận. Hôm nay, tôi không ở nhà của cha, không phải đối đầu với dì Tuyết. Nơi đây, chỉ có tôi và cha. Tôi muốn ôm chầm lấy cha mà thật lòng nói cho cha biết tôi yêu kính Người đến dường nào, tôi thật khát khao được hưởng tình thương của Người đến dường nào, rằng thái độ lạnh lùng và cái nanh vuốt bén nhọn của tôi chỉ là cái vỏ bề ngoài của tôi mà thôi…Nhưng hình ảnh bi thảm của Khả Vân lại hiển hiện ra trước mắt tôi. Thật ra, cha tôi có phải là thủ phạm không? Tôi nói, như tâm sự với chính mình: “Thưa cha, cha có biết nỗi đau khổ lớn nhất trong lòng con là gì không? Con luôn luôn tự đặt ra cho mình một tiêu chuẩn về đạo đức.” Tôi cười khẩy. “Nói ra thì tức cười: con là con gái của “Hắc Báo” Lục Chấn Hoa, nếu con sinh ra vào thời cha oai phong nhất, chắc con sẽ là một cô gái vô thiên vô pháp. Nhưng con đã sinh lầm thời đại! Con được hấp thụ một nền giáo dục mới, lại thêm ảnh hưởng của mẹ đối với con… Trong lòng con luôn luôn nung nấu một ngọn lửa, tên của nó là “chính nghĩa”. Mọi đau khổ, giằng co của con, đều từ hai chữ này mà ra…” Cha có vẻ sốt ruột, cắt ngang: “Con muốn nói gì, cứ việc nói thẳng ra đi, đừng có ở đó mà dông dài nữa!” Tôi lấy hết can đảm còn thừa trong mình, nói: “Thưa cha, con xin được hỏi cha một câu: cha cho rằng cha là một người tốt, hay là một người xấu?” Cha nhìn sững tôi, rồi chau mày: “Hỏi vậy mà cũng hỏi được à?” “Được chứ! Con không phải muốn hỏi người khác nghĩ về cha như thế nào, con chỉ hỏi cha tự cho mình là hạng người nào thôi. Mỗi người đều có một tiêu chuẩn đạo đức của riêng mình. Theo tiêu chuẩn của cha, cha là một người tốt, hay là một người xấu?” Cha đăm chiêu một lúc, rồi lớn tiếng nói: “Để cha nói cho con nghe: trên đời này không có người tốt tuyệt đối, cũng không có người xấu tuyệt đối. Người có tốt đến mấy, cũng có khi làm chuyện xấu. Ngược lại, người có xấu đến mấy, cũng có mặt tốt của họ. Vì vậy, dùng tiêu chuẩn “tốt, xấu” để đánh giá một con người, là không công bằng!” “Như vậy, ngay cả tiêu chuẩn “tốt, xấu”, cha cũng không có nữa hay sao?” Cha bắt đầu nổi cáu: “Cha là người tốt thì sao, mà là người xấu thì sao?” “Câu trả lời của cha sẽ giúp con giải quyết được một số thắc mắc trong lòng con.” Rồi sợ cha biết được sự thật, tôi nói nhanh: “Vả lại, con cũng muốn biết, khi người ta gọi con là “Tiểu Báo Tử” – con báo con - thực ra, đó là một lời khen, hay là một lời châm biếm?” Cha xoay người nhìn tôi, bật cười lớn: “Ha ha ha, con thật là ngây thơ quá! Cha là người tốt hay xấu, đều không thể giúp con giải quyết vấn đề trong lòng của con. Con là con gái của cha, thì suốt đời sẽ là con gái của cha. Mặc cho con có thừa nhận hay không, con vẫn không thể thoát được sự an bài của số mệnh. Nếu trên người cha có ký hiệu của một người xấu, thì trên người con cũng kế thừa cái ký hiệu này!” Tôi xúc động: “Thưa cha, ý của cha là…” Cha nhìn xoáy vào mắt tôi, dõng dạc gằn từng tiếng: “Ý của cha là: cha không hề cho mình là một người tốt! Nếu con muốn tìm hiểu quá khứ của cha, thì cha e là “chính nghĩa” của con sẽ bị mất hồn chạy mất! Con đã từng nói, suốt cuộc đời của cha chưa hề nhường qua một người nào. Một con người mà trong tự điển của mình không có chữ “nhường”, thì sao lại là người tốt được!” Tôi thấy toàn thân chấn động. Cha đã thản nhiên ngẩng đầu lên nói thẳng với tôi ông là một người xấu. Tuy thất vọng ê chề, trong lòng tôi lại dâng lên một cảm giác kính phục cha. Dù sao, muốn công nhận mình là người xấu cũng cần phải có can đảm. Tôi cảm thấy giữa mình và cha có cái gì rất giống nhau, và hình như chúng tôi mỗi lúc lại càng gần gũi nhau hơn. Nhưng còn chuyện của Khả Vân…Tôi không dám hỏi thẳng cha. Tôi sợ phải đối đầu với sự thật. Không nói một lời, tôi nhảy phắt lên lưng ngựa, thúc ngựa chạy thẳng về phía trường đua, bỏ lại cha một mình với con “Hồi Ức”. Câu hỏi về Khả Vân của tôi vẫn chưa có lời giải đáp. Virginia, 12/2001 Nhất Chi Mai Ghi chú: Toàn bộ câu chuyện trên đây hoàn toàn không có trong cuốn tiểu thuyết cũ, “Dòng Sông Ly Biệt”. Mục lục Cha Là Người Tốt hay Xấu? Cha Là Người Tốt hay Xấu? Nhất Chi MaiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Đặc TrưngĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 24 tháng 10 năm 2005
Nhất Chi Mai Cha Là Người Tốt hay Xấu? Trích từ bộ phim “TÂN DÒNG SÔNG LY BIỆT” (tập 11) Kịch Bản: Quỳnh Dao Nhất Chi Mai phóng tác/ghi lại …Từ nhà Khả Vân trở về, lòng tôi cứ bứt rứt không yên, đầu óc tôi quay cuồng vớii muôn ngàn câu hỏi. Tại sao mỗi khi nổi cơn điên loạn, Khả Vân không nhớ gì về quá khứ của mình, mà lại cứ luôn miệng gọi “Tư Lệnh Đại Nhân! Tư Lệnh Đại Nhân”? Cha của tôi đóng một vai trò gì trong bi kịch của Khả Vân? Cha có phải là người đàn ông đã hại đời Khả Vân chăng? Về “thành tích” đi-đến-đâu-là của cha, tôi còn lạ gì nữa! Nhưng Khả Vân lúc đó chỉ mới có 16 tuổi, lại là con gái của Lý Phó Quan, một tùy tùng rất mực trung thành của cha… Càng nghĩ, tôi càng muốn điên đầu lên. Tôi quyết định phải tìm ra sự thật. Tôi đến nhà tìm cha. Chị Lan bảo: “Ông đã đi cưỡi ngựa từ sáng sớm rồi, tiểu thơ ạ!” Vậy cũng tốt, đây là một cơ hội nói chuyện hiếm có, vì hình như tôi không có duyên với căn nhà của cha. Mỗi lần đến đó, tôi đều trở về với thương tích đầy mình. Sau trận đòn chí tử hôm nọ, tôi đã mất hết sự kính trọng và nể sợ đối với cha, cho nên mỗi lần gặp cha, tôi luôn luôn tỏ ra lạnh lùng, và đôi khi còn tìm cách khiêu chiến với ông, thường là vì dì Tuyết. Có một lần, tôi làm cha giận đến nỗi ông lại lấy roi ngựa ra, định cho tôi thêm một trận nữa, nhưng không hiểu sao ông cứ đứng đó nhìn trân trân vào sợi roi, rồi loạng choạng ngồi phịch xuống ghế. Nhìn nét đau khổ hiện lên trên khuôn mặt nhăn nheo của cha, tôi có cảm giác là chính tôi đã cho cha một nhát dao vào tim, nhưng tôi vẫn không thể nào dập tắt ngọn lửa thù hận trong lòng tôi. Đúng ra, tôi hận cha không phải vì những lằn roi quái ác mà cha đã quật lên người tôi – tôi cảm thấy thất vọng thì đúng hơn - mà chủ yếu là vì tấm lòng dửng dưng, bạc bẽo, vô tình của cha đối với mẹ tôi. Càng yêu mẹ chừng nào, tôi càng hận cha chừng nấy. Mỗi ngày, tôi đều sống trong sự dằn vặt giữa hai thứ tình cảm yêu và hận đó, lắm lúc tôi có cảm tưởng con người tôi sẽ bị hai thứ tình cảm này làm nổ tung ra từng mảnh. Tôi phóng ngựa ra trường đua. Những đứa con của cha, bất luận là con trai hay con gái, đều được cha dạy cưỡi ngựa từ nhỏ. Chạy một lúc, thấy bóng cha thấp thoáng ở phía trước, tôi ra sức đuổi theo. “Cha! Cha! Cha ơi!” Cha ghìm cương ngựa lại, quay đầu nhìn tôi, nét mặt lộ vẻ ngạc nhiên: “Y Bình! Con cũng ra đây cưỡi ngựa à?” “Dạ không! Con chỉ muốn nói chuyện với cha!” Hình như cha không tin lời tôi vừa nói. Tôi nói tiếp ngay, nhưng chưa dám đi thẳng vào vấn đề: “Con muốn thưa với cha là về chuyện đi hát, con đã bàn với mẹ cho con hát đến hết tháng chín này, xin cha chấp thuận, đừng đến vũ trường làm phiền người ta nữa!” Cha có vẻ hài lòng về thái độ hòa nhã hiếm có của tôi. Ông mỉm cười, nhưng không nói gì, chỉ lẳng lặng đi nước kiệu bên tôi. Sau một lúc trầm ngâm, cha lên tiếng: “Vậy thì, con vẫn coi cha…là cha của con chứ?” Tôi cười: “Từ nãy đến giờ, con đều gọi cha là “cha” mà!” Cha nhìn tôi trìu mến. Trông cha hôm nay thật hiền lành làm sao! “Y Bình, cha dẫn con đến chỗ này nhé!” Tôi theo cha đến một ngọn đồi phong cảnh thơ mộng, cỏ xanh ngắt một màu, hai bên bờ cây cối um tùm. Cha xuống ngựa, duỗi chân, hít vào một hơi thật sâu, như muốn tận hưởng cái không khí trong lành, tươi mát của một sáng mùa Thu đẹp trời. “Cha thường đến đây lắm à?” Tôi hỏi. Cha cười buồn, thở dài: “Già rồi! Ngoài việc lâu lâu cưỡi con “Hồi Ức” chạy một vòng, cha đâu còn làm gì được nữa!” Thì ra, cha đặt tên cho con ngựa của mình là “Hồi Ức”! Nhìn mái tóc bạc của cha, tôi bỗng thấy lòng xót xa. Tôi biết cha đang tiếc nuối quá khứ vàng son của mình. Một con người như cha, không thể cúi đầu sống trên một mảnh đất đã rơi vào tay giặc; cha đành phải bỏ lại quá khứ huy hoàng của mình nơi cố hương. Bây giờ, tôi mới chợt nhận ra một điều: tuổi xế chiều của một anh hùng thật bi đát hơn tuổi già của một người bình thường rất nhiều. Cha chợt lên tiếng, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. “Y Bình à! Dạo này, cha thường suy nghĩ rất nhiều. Cái tính bướng bỉnh và kiêu ngạo của con… đúng là khuôn đúc của cha hồi còn trẻ. Từ trên người con, cha thấy lại hình ảnh của cha. Sự đối nghịch của con đối với cha cũng giống như chiến tranh cha tự đặt ra với chính mình vậy. Cha thấy mệt mỏi rồi! Về chuyện làm ca sĩ của con, cha đành buông tay! Cha nhận lời cho con đi hát thêm một thời gian, nhưng mà con…đôi khi cũng nên về thăm cha, ăn bữa cơm với cha, được chứ?” Bây giờ, đến lượt tôi không tin vào tai mình. Có phải tôi đang nằm mơ chăng? Trong phút chốc, tất cả thù hận đối với cha đều tan biến hết. Hôm nay, tôi không muốn sống trong thù hận. Hôm nay, tôi không ở nhà của cha, không phải đối đầu với dì Tuyết. Nơi đây, chỉ có tôi và cha. Tôi muốn ôm chầm lấy cha mà thật lòng nói cho cha biết tôi yêu kính Người đến dường nào, tôi thật khát khao được hưởng tình thương của Người đến dường nào, rằng thái độ lạnh lùng và cái nanh vuốt bén nhọn của tôi chỉ là cái vỏ bề ngoài của tôi mà thôi…Nhưng hình ảnh bi thảm của Khả Vân lại hiển hiện ra trước mắt tôi. Thật ra, cha tôi có phải là thủ phạm không? Tôi nói, như tâm sự với chính mình: “Thưa cha, cha có biết nỗi đau khổ lớn nhất trong lòng con là gì không? Con luôn luôn tự đặt ra cho mình một tiêu chuẩn về đạo đức.” Tôi cười khẩy. “Nói ra thì tức cười: con là con gái của “Hắc Báo” Lục Chấn Hoa, nếu con sinh ra vào thời cha oai phong nhất, chắc con sẽ là một cô gái vô thiên vô pháp. Nhưng con đã sinh lầm thời đại! Con được hấp thụ một nền giáo dục mới, lại thêm ảnh hưởng của mẹ đối với con… Trong lòng con luôn luôn nung nấu một ngọn lửa, tên của nó là “chính nghĩa”. Mọi đau khổ, giằng co của con, đều từ hai chữ này mà ra…” Cha có vẻ sốt ruột, cắt ngang: “Con muốn nói gì, cứ việc nói thẳng ra đi, đừng có ở đó mà dông dài nữa!” Tôi lấy hết can đảm còn thừa trong mình, nói: “Thưa cha, con xin được hỏi cha một câu: cha cho rằng cha là một người tốt, hay là một người xấu?” Cha nhìn sững tôi, rồi chau mày: “Hỏi vậy mà cũng hỏi được à?” “Được chứ! Con không phải muốn hỏi người khác nghĩ về cha như thế nào, con chỉ hỏi cha tự cho mình là hạng người nào thôi. Mỗi người đều có một tiêu chuẩn đạo đức của riêng mình. Theo tiêu chuẩn của cha, cha là một người tốt, hay là một người xấu?” Cha đăm chiêu một lúc, rồi lớn tiếng nói: “Để cha nói cho con nghe: trên đời này không có người tốt tuyệt đối, cũng không có người xấu tuyệt đối. Người có tốt đến mấy, cũng có khi làm chuyện xấu. Ngược lại, người có xấu đến mấy, cũng có mặt tốt của họ. Vì vậy, dùng tiêu chuẩn “tốt, xấu” để đánh giá một con người, là không công bằng!” “Như vậy, ngay cả tiêu chuẩn “tốt, xấu”, cha cũng không có nữa hay sao?” Cha bắt đầu nổi cáu: “Cha là người tốt thì sao, mà là người xấu thì sao?” “Câu trả lời của cha sẽ giúp con giải quyết được một số thắc mắc trong lòng con.” Rồi sợ cha biết được sự thật, tôi nói nhanh: “Vả lại, con cũng muốn biết, khi người ta gọi con là “Tiểu Báo Tử” – con báo con - thực ra, đó là một lời khen, hay là một lời châm biếm?” Cha xoay người nhìn tôi, bật cười lớn: “Ha ha ha, con thật là ngây thơ quá! Cha là người tốt hay xấu, đều không thể giúp con giải quyết vấn đề trong lòng của con. Con là con gái của cha, thì suốt đời sẽ là con gái của cha. Mặc cho con có thừa nhận hay không, con vẫn không thể thoát được sự an bài của số mệnh. Nếu trên người cha có ký hiệu của một người xấu, thì trên người con cũng kế thừa cái ký hiệu này!” Tôi xúc động: “Thưa cha, ý của cha là…” Cha nhìn xoáy vào mắt tôi, dõng dạc gằn từng tiếng: “Ý của cha là: cha không hề cho mình là một người tốt! Nếu con muốn tìm hiểu quá khứ của cha, thì cha e là “chính nghĩa” của con sẽ bị mất hồn chạy mất! Con đã từng nói, suốt cuộc đời của cha chưa hề nhường qua một người nào. Một con người mà trong tự điển của mình không có chữ “nhường”, thì sao lại là người tốt được!” Tôi thấy toàn thân chấn động. Cha đã thản nhiên ngẩng đầu lên nói thẳng với tôi ông là một người xấu. Tuy thất vọng ê chề, trong lòng tôi lại dâng lên một cảm giác kính phục cha. Dù sao, muốn công nhận mình là người xấu cũng cần phải có can đảm. Tôi cảm thấy giữa mình và cha có cái gì rất giống nhau, và hình như chúng tôi mỗi lúc lại càng gần gũi nhau hơn. Nhưng còn chuyện của Khả Vân…Tôi không dám hỏi thẳng cha. Tôi sợ phải đối đầu với sự thật. Không nói một lời, tôi nhảy phắt lên lưng ngựa, thúc ngựa chạy thẳng về phía trường đua, bỏ lại cha một mình với con “Hồi Ức”. Câu hỏi về Khả Vân của tôi vẫn chưa có lời giải đáp. Virginia, 12/2001 Nhất Chi Mai Ghi chú: Toàn bộ câu chuyện trên đây hoàn toàn không có trong cuốn tiểu thuyết cũ, “Dòng Sông Ly Biệt”. Mục lục Cha Là Người Tốt hay Xấu? Cha Là Người Tốt hay Xấu? Nhất Chi MaiChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Đặc TrưngĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 24 tháng 10 năm 2005
Chiêu Hoàng Cha tôi Cuối tuần này là "Ngày của Cha" Bạn đã chuẩn bị cái gì cho Cha thế? Cha tôi đã mất cách đây 5 năm rồi. Tôi nhớ cha lắm! Ông là người cha tuyệt vời!. Từ khi tôi có trí khôn tới khi cha mất, ông chưa hề đánh tôi một lần nào cả. Như vậy không có nghĩa rằng tôi ngoan ngoãn dễ bảo, đôi khi ngược lại là đằng khác. Tôi đã từng làm cho cha buồn lòng và đau khổ. Nhưng người luôn luôn tha thứ cho tôi, luôn mở rộng vòng tay đón tôi khi tôi khổ sở và cần giúp đỡ. Những lúc tôi hư hoặc làm những điều sai trái. Người viết thư cho tôi, cư xử với tôi như một người bạn và cho tôi những ý kiến rất xây dựng. Chưa lần nào đọc thư cha xong mà tôi không khóc và hối lỗi những việc mình đã làm. Rất tiếc, những lần đó, vì tự ái trẻ con. Tôi đã không chạy đến bên cha, ôm lấy ông mà nói lên lời xin lỗi một cách tha thiết, chân thành. Dẫu thế nào, tôi biết ông cũng đã tha thứ ngay từ khi ông viết thư cho tôi rồi. Có một lần, chị em tôi cãi nhau. Tôi ra một xó ngồi khóc thút thít... Cha đi ngang hỏi: "Sao con khóc?". Tôi vừa quẹt nước mắt, vừa nức nở mách cha: " Chị chê con xấu!!". Cha ôm chặt lấy tôi vào lòng, chẳng nói gì. Sự im lặng làm tôi cảm nhận được nguồn yêu thương đang truyền từ thân thể ông qua tôi. Tôi như được tắm mát bằng lòng từ bi bao la ấy. Tôi thấy tâm hồn mình dịu lại, sự đau khổ dường như đã được tảy sạch. Tôi dụi vào lòng cha, cảm thấy một niềm an vui vô bờ. Lúc đó, ông mới vuốt tóc tôi và bảo: "Con ạ, mỗi người sinh ra có được một tâm hồn và nhân dáng riêng của mình. Có thể dưới mắt của người này thì họ cho là xấu, nhưng với mắt người khác lại cho là đẹp. Cái đẹp đến từ những quan niệm riêng tư rất chủ quan. Và đôi khi sự chủ quan đó không đặt trên một căn bản nào nhất định. Với ba, con rất xinh đẹp. Ba tin rằng, nhiều người cũng nhìn thấy như vậy!! Có thể Chị con nói do lòng tức giận mà ra, nên hôm nay dưới mắt chị, con trở thành xấu xí, nhưng ngày mai, khi cơn giận qua đi, chị con sẽ thấy con lại xinh đẹp như bao giờ..." Nghe cha nói như thế, tôi sung sướng quá tới độ tôi lại muốn chảy nước mắt.... Nói cho ngay. Tôi gần cha hơn gần mẹ. Áo dài hoa đầu tiên của tôi là do cha mua cho. Tôi cứ hay than phiền với cha rằng: - Mẹ chẳng bao giờ cho con có ý kiến trong việc lựa chọn áo dài, nhiều cái, mẹ mua, con chẳng thích.... - Vậy khi nào ba sẽ mua cho con một cái theo ý con muốn nhé... Khoảng một tháng sau, cha dẫn tôi vào sở, nhờ một chị thư ký đưa tôi ra chợ mua vải và dặn chị kỹ càng: "Chị cứ để em ấy tự chọn nhé..." Tôi sung sướng theo chân chị, vì đó là lần đầu tiên tôi được tự quyết định cho chính mình một việc mà tôi cho là rất quan trọng. Chị thư ký làm đúng theo ý cha. Chị cứ để tôi toàn quyền quyết định. Tôi chọn mãi, ngần ngừ giữa đám tơ lụa đủ mầu sặc sỡ. Cuối cùng, tôi chọn một sấp vải nhìn thoáng có lối vẽ như áo của người thượng du mà tôi cho là đẹp nhất. Ðem về khoe cha: "Ba ơi, đẹp không hở Ba?". Cha nhìn ngắm một lúc rồi hỏi lại: "Con có thích không?" "Dĩ nhiên là con thích lắm, con nghĩ may lên thành áo dài sẽ rất đẹp!!". "Vậy là được rồi!!". Sự sung sướng của tôi kéo dài cho đến khi sấp vải may thành áo. Chiếc áo dài với hàng vẽ ngang dọc kiểu thượng du không giống ai, mặc lên người thật là xấu xí. Tôi mặc thử chỉ một lần duy nhất, và không đủ có can đảm mặc đi ra ngòai đường. Tôi cất kín cái áo dài đầu tiên của mình vào trong đáy ngăn tủ, và quên đi ngay lập tức những niềm sung sướng cách đó vài tuần. Tôi cũng không hề biết rằng, tất cả những cố gắng của cha cho tôi tiền mua vải và tiền công may đều rất khó khăn, vì cha chẳng bao giờ có tiền. Tiền bạc, mẹ giữ hết, thỉnh thoảng chỉ cho cha vài chục để cha tiêu vặt mà thôi. Vậy mà nó chỉ được trả giá bằng nỗi sung sướng kéo dài vài tuần. Sau này nghĩ lại, tôi thương cha hết sức! Một lần cha hỏi tôi: - Chiếc áo dài ba mua cho con đâu? Tôi ngượng nghịu trả lời: - Ba ơi, hình như con mặc không đẹp. Con hết thích nó rồi!!! Cha mỉm cười: - Vậy thì lần sau, trước khi mua, con nghĩ mình có nên hỏi ý kiến của những người chung quanh không nhỉ?. - Chắc chắn rồi ba ạ. Lần sau, con sẽ mua một chiếc áo dài bằng tiền mình kiếm được, và thế nào con cũng chọn ba là người đầu tiên để con hỏi ý kiến. Tôi nhớ ngày tôi lãnh lương đầu tiên trong đời. Cha là người tôi nghĩ đến. Tôi đem nguyên cái pay check của mình đưa cho cha và bảo: - Ba ơi, con xin biếu Ba số tiền đầu tiên con kiếm được. Cha rất hoan hỷ, cầm lấy tờ check lương của tôi, nhìn ngắm rồi bảo rằng: - Con ngoan lắm. Bây giờ con đem biếu mẹ đi. Ba nghĩ chắc mẹ sẽ vui thích lắm. Nhưng đừng quên xin lại mẹ một ít để con tiêu dùng nhé. Tôi chạy lại ôm chầm lấy cha: - Ba ơi, Ba thật tốt. Lúc nào Ba cũng chỉ nghĩ đến mẹ, đến các con. Nhưng mẹ cứ hay quản lý đòi hết. Nếu con đưa mẹ, chắc mẹ sẽ chẳng cho lại con đồng nào đâu... Mà con muốn có tiền để con biếu ba. Cha nghe như vậy, cười phá lên, rồi giải thích: - Mẹ rất cần tiền con ạ, vì nhờ có mẹ lo nên cha con mình mới có những bữa cơm dẻo, canh ngọt đấy con... Tôi phụng phịu: - Nhưng ít nhất mẹ cũng nên cho ba một ít tiền tiêu vặt chứ? Nghe lời cha. Tôi đem lương của mình biếu mẹ. Mẹ rất hài lòng và vui sướng. Nhưng hình như tôi không vui lắm.... Sau này. Dù đã có gia đình, anh chị em chúng tôi vẫn thường biếu cha mẹ tiền hàng tháng. Cha tôi, vẫn như xưa, không bao giờ có được đồng chinh dính túi. Mẹ tôi giữ tất. Nên chúng tôi thường hay lén lút biếu riêng cho cha tiền để cha tiêu vặt. Ngày cha mất. Mẹ buồn vô cùng. Mẹ hối hận vì đã quá "khe khắt" với cha khi cha còn sống, muốn gì mẹ cũng không cho. Bây giờ thì đã ra người thiên cổ mất rồi, có hối hận thì cũng đã quá muộn!!!. Vậy mà cha chẳng bao giờ than thở. Cha thật tuyệt vời!!! Trong ngày của Cha, con xin thắp nén hương hướng về cha yêu quý. Cha ơi... Mục lục Cha tôi Cha tôi Chiêu HoàngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: mickey đưa lên vào ngày: 9 tháng 8 năm 2004
Chieu Hoang My father This weekend is "Father's Day" What have you prepared for Dad? My father passed away 5 years ago. I miss my dad so much! He is a great father!. From the time I became intelligent until my father passed away, he never beat me once. That doesn't mean I'm obedient, sometimes it's the opposite. I once made my father sad and miserable. But he always forgives me, always opens his arms to welcome me when I am miserable and need help. The times when I'm naughty or do things wrong. He wrote me a letter, treated me like a friend and gave me very constructive opinions. There has never been a time after reading my father's letter that I did not cry and regret what I had done. Unfortunately, those times were because of childish pride. I did not run to my father, hug him and apologize earnestly and sincerely. No matter what, I know you have forgiven me right from the moment you wrote to me. One time, my sisters and I had an argument. I went to a corner to sit and sob... Father walked by and asked: "Why are you crying?". I wiped my tears and sobbed and told my father: "You call me ugly!!". Father hugged me tightly, saying nothing. The silence made me feel the love flowing from his body to me. I felt like I was bathed in that immense compassion. I felt my soul calm down, the suffering seemed to have been washed away. I snuggled into my father's arms, feeling boundless joy. At that time, he stroked my hair and said: "My child, each person is born with his or her own soul and personality. Maybe in the eyes of this person, they think it's ugly, but in the eyes of others, it's ugly. beauty comes from very subjective personal concepts. And sometimes that subjectivity is not based on a certain basis. For me, I believe that many people also see it Seeing this!! Maybe your sister said it was because of her anger that today in her eyes, you became ugly, but tomorrow, when the anger is over, she will see how beautiful you are again. now..." Hearing my father say that, I was so happy that I wanted to cry... Tell me now. I am closer to my father than to my mother. My first floral ao dai was bought by my father. I often complain to my father: - Mom never gives me an opinion in choosing ao dai, many of which I buy, I don't like... - So when will dad buy me one? As you wish... About a month later, my father took me to the office, asked a secretary to take me to the market to buy fabric and told her carefully: "Just let her choose..." I said. I was happy to follow her footsteps, because that was the first time I was able to decide for myself something that I considered very important. The secretary did exactly what her father wanted. Just let me decide. I chose forever, hesitant among the colorful silk. Finally, I chose a pile of fabric that looked like the shirt of a highlander, which I thought was the most beautiful. Bring it home and show it off to your father: "Dad, isn't it beautiful, Dad?". Dad looked at it for a while then asked again: "Do you like it?" "Of course I like it very much, I think sewing it into an ao dai would be very beautiful!!". "That's OK!!". My happiness lasted until I sewed the fabric into a shirt. The ao dai with the horizontal and vertical lines painted in the upper-class style is unlike anyone else's, and it looks really ugly on the body. I tried it on only once, and didn't have the courage to wear it outside. I kept my first ao dai hidden in the bottom of the closet, and immediately forgot the joy of a few weeks before. I also did not know that all of my father's efforts to give me money to buy fabric and sewing fees were very difficult, because he never had money. Mother kept all the money, only occasionally giving father a few dozen for pocket expenses. Yet it only paid off with happiness that lasted a few weeks. Thinking back later, I love my father very much! One time my father asked me: - Where is the ao dai I bought for you? I awkwardly replied: - Dad, it seems I don't dress well. I really like it!!! Dad smiled: - Then next time, before buying, do you think you should ask the opinions of the people around you? - Sure, dad. Next time, I will buy an ao dai with the money I earn, and I will choose you as the first person to ask for advice. I remember the day I received my first salary in my life. Father is the person I think of. I brought my entire pay check to my father and said: - Dad, I would like to give you the first money I earned. Father was very happy, took my salary check, looked at it and said: - Very good child. Now I'll give it to my mother. Dad thought Mom would be very happy. But don't forget to ask your mother for some for your own consumption. I ran back and hugged my father: - Dad, you are so good. Dad always thinks about his mother and his children. But my mother keeps asking for everything. If I give it to my mother, she probably won't give me any money back... But I want money so I can give it to dad. Father heard that, burst out laughing, then explained: - Mom really needs money, because thanks to her, we can have sticky rice meals and sweet soup... I pouted: - But Mom should at least give dad some pocket money, right? Listen to your father. I gave my salary to my mother. Mother was very satisfied and happy. But I don't seem to be very happy.... Later. Even though we are married, we still give our parents money every month. My father, as before, was never penniless. My mother kept the socks. So we often secretly give our father money for his pocket money. The day my father passed away. Mom is extremely sad. Mom regrets being too "strict" with dad when he was still alive, she wouldn't give him anything he wanted. Now, he has passed away from ancient times, and if he regrets it, it will be too late!!!. Yet my father never complained. Dad is amazing!!! On Father's Day, I would like to light incense towards my beloved father. Father... Table of contents My father My father Chieu HoangWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: mickey posted on: August 9, 2004
Phan thị vàng Anh Cha tôi M ột ngày của cha tôi bắt đầu vào lúc bốn giờ. Cha tôi dậy sớm để nấu cơm, nấu nước, rồi sắp vào một cái khay con, một đôi đũa, một cái bát… xong hết mới gọi tôi dậy ăn.Cha đã để sẵn nước sôi trong nhà tắm, dắt sẵn xe đạp ra ngoài sân… Làm xong hết những việc ấy, cha đi học bài.Cha học cho đến lúc mẹ dậy. Học thơ, thơ từ cổ chí kim, của bất cứ ai, miễn đáng gọi là thơ, học kịch, học văn, học văn chương và học cả những gì dường như văn chương không bao giờ thèm đụng tới. Cho đến lúc gần bảy mươi, cha tôi vẫn là một học trò ngoan, bất chấp tuổi già mà len lỏi vào bất cứ góc nào của khu vườn văn hóa.… Khoảng bảy rưỡi, cha, mẹ ăn sáng. Rồi cha tôi ngồi vào bàn, cái bàn mà tôi học bây giờ, ngày ấy ít ai dám đến gần khi cha đang viết. Trên bàn đầy giấy và sách, lâu lâu bình mực quên không đậy đổ một lần, khi ấy loạn cả nhà. Không ngày nào cha không ngồi viết, cả khi gãy tay, bó bột, ngày trước, ngày sau đã nguệch ngoạc viết bằng tay trái. Đôi lúc tôi thấy, nghề văn như một cái ách, người ta lúc nào cũng áy náy lo âu, sợ mình chưa đọc đủ, chưa viết đủ, chưa viết xong lại thấy bực bội như thể có điều gì oan trái trong lòng chưa nói ra hết được. Và tôi nghĩ, có lẽ cha tôi chọn cho mình một cái ách nặng. Cha luôn luôn tất bật, yêu hoa cỏ nhưng chưa bao giờ dám bỏ hàng giờ ra để ngồi uống trà thưởng hoa. Cha sợ những quán cà phê, nhìn chúng như nhìn những nấm mồ chôn thì giờ. Chỉ những đêm rằm, vườn nhà tôi đầy trăng, cha bảo: “Tắt đèn! Ra ngoài hè ngồi xem!”. Chị em tôi theo ra, ngồi khen trăng được vài phút, cha lại quay sang bàn chuyện văn chương với mẹ, rồi tranh luận, có khi cãi cọ, quên cả trăng!Cứ vậy, đầu óc của cha tôi không lúc nào thảnh thơi, đôi lúc tôi nghĩ, cha đã già rồi, đã có một vị trí ít ai dám mơ tới trong văn học rồi, sao cha không nghỉ ngơi một chút. Cha dạy chúng tôi: “Phải học, học không phải để vui, mà để không ai giết được mình!”. Cha cũng muốn tôi học, tôi đã có gần một chục quyển vở chép tay của cha, ở bìa ghi rõ: “sách dạy cho Vàng Anh”, cha muốn hàng ngày đều có ít thì giờ để giảng cho tôi, nhưng tôi, vì đã không ý thức được những giờ học ấy quý như thế nào, tôi đã trốn bằng đủ mọi cớ, khi ấy, tôi chỉ thích làm thơ chứ không thích học thơ. Chỉ khi cha tôi vào nằm bệnh viện, tôi biết cha bệnh nặng, khó mà qua khỏi, mỗi chiều, sau khi đi học về, tôi vào thăm, cha luôn để dành cho tôi bánh kẹo hoặc một quả cam, và tôi dù mệt đến mấy cũng đề nghị cha giảng bài, không tiếp thu được bao nhiêu, nhưng tôi muốn cha được an tâm. Ở bệnh viện, cha tôi đã làm một phong bì to đựng các bài học của tôi, giờ đây chép thành giấy rời, cuối mỗi bài đều ký: “Cha: Chế Lan Viên”, và ghi: “Chợ Rẫy ngày… tháng… năm…” như đánh dấu từng chặng của một cuộc chạy đua tàn khốc.… Thời khóa biểu của cha tôi cho một ngày thế nào cũng có giờ làm vườn. Thường vào khoảng mười giờ, khi viết lách, đọc sách đã mệt. Ra vườn, cha tôi đắp đất, làm cỏ như một nông dân, và cha tự hào về điều đó. Vườn nhà tôi rộng đủ để mọi người “thí nghiệm” trồng cây này, cây nọ, kết quả là cây cối mọc lung tung. Một cây dừa mọc trên mô đất cao, nước quanh năm không với tới, những cây mận, cây cam tranh giành nắng, xúm xít cạnh nhau. Tuy vậy, tôi yêu khu vườn, bởi vì nó là nơi thân thiết nhất của cha, mẹ tôi, bởi vì, ở đâu trong vườn cũng có dấu tích của cha, những chậu phong lan cha tôi đem từ rừng về, một cây ổi cha trồng riêng cho tôi gần giếng nước, bụi hương nhu bên bờ ao cha trồng cho cả nhà gội đầu… Người ngoài ít ai biết rằng cha tôi lại có thể làm những việc li ti như vậy, còn chúng tôi vì quá quen với những việc li ti ấy nên lại thường không biết cha tôi có thể làm được những việc lớn như thế nào. Thỉnh thoảng, tôi đi theo cha đến các hội nghị hoặc các lớp học cha giảng thơ văn. Ở đấy, người ta dành cho cha ghế hàng đầu, rồi các cô, các chú đến chào, nhắc về vài bài viết, hay quyển sách mới của cha, tôi nghe và lần nào cũng lặp lại cái ý nghĩ: “Tệ thật! Mình chẳng biết gì về cha cả!”. Khi ấy, tôi theo cha chỉ để đi chơi, cũng không để ý cha tôi giảng bài gì, phát biểu điều gì, chỉ để ý cha đã chải đầu chưa, cổ áo đã bẻ xuống chưa, có quên kính không… Trong những chuyện này, cha nhất nhất nghe tôi. Một lần khi tôi học lớp năm, theo cha xuống Cổ cò, người ta đón bằng một bữa tiệc, cha tôi uống rượu, thỉnh thoảng hỏi tôi: “Mặt cha đỏ chưa?”. Tôi bảo “Chưa!”, mấy phút sau lại nghiêm mặt bảo cha: “Đỏ rồi! Cha đừng uống nữa!” Và cha tôi ngưng liền.Cha tôi nóng tính, điều đó ai cũng nói. Ở nhà không ai dám đùa với cha, ngoài chị Thắm. Chị là người duy nhất dám nhờ cha tôi dịch hộ bài học rồi ngang nhiên ngủ gật ngay bên cạnh. Chị Thắm cũng là người duy nhất biết nhổ tóc sâu và lấy ráy tai, và làm cũng tùy hứng, bất kể lúc đó cha tôi đang bận bịu đọc sách hay học bài. Ra trường, chị đi thực tập một năm ở An Giang, lâu lâu mới về một lần, thời gian đó, tóc cha tôi bạc hẳn. Tôi nhớ, khi chị đi được mấy ngày, một buổi tối, người yêu chị đi thăm về, tả lại cho cha tôi nghe cái cảnh lạ nước lạ cái của chị dưới quê, cha bảo: “tội nghiệp!” Rồi hai người sụt sịt khóc, khi ấy, hai mẹ con tôi thấy cha thật là ủy mị!Rồi cha tôi bệnh nặng, những tháng cuối cùng, cha chỉ nằm trong phòng, không nói được, không biểu lộ tình cảm gì trên mặt, chỉ ngơ ngác nhìn trời qua cửa sổ. Vậy mà, theo thói quen, thấy tờ báo nào ở cạnh cha cũng cầm lên đọc, khi thấy mẹ tôi cầm quyển sách nào đi ngang cha cũng nhìn cho được cái gáy sách, dù đã không hiểu được gì nữa. Bạn của cha tôi đông lắm, họ đến thăm và ai cũng thấy rằng ông Trời sao thật tàn bạo, bắt một con người thông minh như cha phải sống như một đứa trẻ mới sinh. Tôi đi học về, vào giường ngồi chơi, nắm tay cha, gầy guộc, và khóc, có lần, cha tỉnh ra, nhìn tôi cau mày và cũng khóc theo. Sau đó ít ngày, cha mất.Sau lễ hỏa táng, anh Định và tôi được giao nghi lễ cuối cùng là đem tro của cha thả xuống sông. Tôi ngôi sau, ôm chặt cái túi còn ấm nóng. Đây là cha tôi, ngày nào còn ôm tôi, đứa trẻ con ngủ gật trên xe; đây là thầy giáo tôi… giờ thu lại trong hũ cốt và một bao tro. Chúng tôi ra sông Sài Gòn, khi tro được thả xuống, tôi biết từ nay mình đã mồ côi cha, chỗ dựa lớn nhất đời tôi đã mất, và tôi sẽ phải học, như cha dạy: “Học không phải để vui, mà để không ai giết được mình!”. Học để thành người. Mục lục Cha tôi Cha tôi Phan thị vàng AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: sad-riverĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Phan Thi Vang Anh My father My father's day starts at four o'clock. My father got up early to cook rice and water, then put a small tray, a pair of chopsticks, a bowl... and then called me up to eat. He had already put boiling water in the bathroom and brought out his bicycle. in the yard... After finishing all that work, father went to study. He studied until mother woke up. Study poetry, poetry from ancient times to the present, from anyone, as long as it is worthy of being called poetry, study drama, study literature, study literature and even learn things that literature never seems to touch. Until nearly seventy, my father was still a good student, despite his old age, he crept into any corner of the cultural garden.... Around seven thirty, dad and mom had breakfast. Then my father sat at the table, the table where I study now. In those days, few people dared to come close to him while he was writing. The table was full of papers and books, and once in a while the ink bottle was forgotten and spilled, causing chaos in the house. There was never a day when my father didn't sit down to write, even when his arm was broken and in a cast. One day, and the next, he scribbled with his left hand. Sometimes I feel like the literary profession is like a yoke, people are always worried and worried, afraid they haven't read enough, haven't written enough, and feel frustrated when they haven't finished writing as if there's something unjust in their hearts that hasn't been said. get it all out. And I thought, perhaps my father chose a heavy yoke for himself. Dad was always busy, loved flowers but never dared to spend hours sitting down to drink tea and enjoy the flowers. Dad is afraid of coffee shops, looking at them is like looking at time-worn graves. Only on full moon nights, when my garden is full of moonlight, my father says: "Turn off the lights!" Go outside and watch!”. My sister and I followed out, sat praising the moon for a few minutes, then my father turned to discuss literature with my mother, then argued, sometimes quarreled, forgetting about the moon! Just like that, my father's mind never relaxed. , sometimes I think, Dad is already old, has a position that few dare to dream of in literature, why don't he rest a bit. Father taught us: "You must study, study not for fun, but so that no one can kill you!". My father also wanted me to study. I had nearly a dozen of his handwritten notebooks. The cover clearly stated: "books for Vang Anh." He wanted to have a little time every day to teach me, but I, because I didn't realize how precious those class hours were. I avoided them with all kinds of excuses. At that time, I only liked writing poetry, not studying poetry. Only when my father was in the hospital did I know he was seriously ill and was unlikely to survive. Every afternoon, after returning from school, I went to visit. He always left me candy or an orange, and even though I was tired, No matter how much I asked my father to give a lecture, I couldn't absorb much, but I wanted my father to feel secure. At the hospital, my father made a large envelope to contain my lessons, now copied them on separate pieces of paper. At the end of each lesson, he signed: "Father: Che Lan Vien", and wrote: "Cho Ray date... month... year..." seemed to mark each stage of a brutal race.... My father's schedule for a day always included time for gardening. Usually around ten o'clock, when writing or reading, I'm tired. Going to the garden, my father piled up soil and weeded like a farmer, and he was proud of that. My garden is large enough for people to "experiment" with planting this and that tree, but the result is that the trees grow haphazardly. A coconut tree grows on a high mound of land, water is out of reach all year round, plum trees and orange trees compete for sunlight, clustered next to each other. However, I love the garden, because it is the closest place to my father and mother, because everywhere in the garden there are traces of my father, pots of orchids my father brought from the forest, a guava tree. My father planted it specifically for me near the well, and the tulsi bush on the bank of the pond he planted for the whole family to wash their hair... Few outsiders know that my father can do such small things, but we are so used to doing such small things. That's why I often don't know how big things my father can do. Occasionally, I followed my father to conferences or classes where he lectured on poetry and literature. There, people gave him the front row seat, then the aunts and uncles came to say hello, talking about some of his articles or new books. I listened and repeated the thought every time: "This is so bad!" I don't know anything about my father!" At that time, I followed my father just to hang out. I didn't pay attention to what my father lectured or said. I only paid attention to whether he had combed his hair, whether his collar was turned down, or whether he had forgotten his glasses... In the stories Hey, Dad, please listen to me. One time when I was in fifth grade, I followed my father down to Co Co. People welcomed me with a party. My father drank wine and occasionally asked me: "Is your face red yet?". I said "No!", a few minutes later I told my father with a serious face: "It's red!" Dad, don't drink anymore!” And my father stopped immediately. My father was hot-tempered, everyone said that. At home, no one dares to joke with their father, except Tham. She was the only person who dared to ask my father to translate the lesson for her and then blatantly fell asleep right next to her. Ms. Tham was also the only person who knew how to pull out hair and remove earwax, and did it on a whim, regardless of whether my father was busy reading or studying at that time. After graduating, she interned for a year in An Giang, only coming back once in a while. During that time, my father's hair turned completely gray. I remember, when she had been gone for a few days, one evening, her lover came home from a visit and described to my father her strange and foreign scene in the countryside. My father said: "Poor thing!" Then the two of us sniffled and cried. At that time, my mother and I saw how sentimental our father was! Then my father became seriously ill. In the last months, he just lay in his room, unable to speak, not showing any emotion on his face. , just bewilderedly looking at the sky through the window. Yet, out of habit, my father would pick up any newspaper next to him and read it. When he saw my mother holding a book passing by, he would look at the spine of the book, even though he couldn't understand anything anymore. There were many friends of my father. They came to visit and everyone saw how cruel God was, forcing an intelligent person like father to live like a newborn baby. I came home from school, went to bed, sat down, held my father's hand, was skinny, and cried. One time, my father woke up, looked at me, frowned, and cried too. A few days later, my father passed away. After the cremation ceremony, Mr. Dinh and I were given the final ritual of dropping our father's ashes into the river. I sat on my back, clutching the still warm bag. This is my father, who still hugs me every day, the child falling asleep in the car; This is my teacher... now collected in an urn and a bag of ashes. We went to the Saigon River, when the ashes were released, I knew that from now on I had lost my father, the greatest support in my life was gone, and I would have to study, as my father taught: "Study is not for fun, but so that no one can kill me!”. Learn to become human. Table of contents My father My father Phan Thi Vang AnhWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: executive: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: sad-river Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Mỹ Lệ Chia tay dịu dàng Cùng lứa tuổi hai mươi lăm với tôi, bạn bè tôi đứa có gia đình, đứa có người yêu. Chỉ có mình tôi trật thó lại. Chẳng phải vì tôi xấu xí hay bệnh tật gì. Trái lại trông tôi cũng xinh xắn và có tiếng là ngoan nên không ít các chàng trai để ý, nhưng tôi chẳng yêu ai. Có người cho tôi là kén chọn. Nào tôi có kén? Tôi cũng muốn yêu lắm chứ, cũng khao khát có một người bạn trai để chia sẻ cùng tôi những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Nhưng cứ nghĩ đến yêu là tôi lại sợ.Bởi tôi cũng đã từng trải qua ba cuộc tình, nhưng cả ba cuộc tình đó chẳng ra sao cả. Họ đến với tôi điên cuồng như nhạc Rock được một thời gian rồi lại vội vã xa tôi làm tôi bàng hoàng ngơ ngác không hiểu vì sao???Ba cuộc tình đó cũng đủ làm tôi choáng váng. Tôi bắt đầu chán ngán tình yêu và vô tình để tuổi thanh xuân của mình trôi như mây phiêu lãng. Nhiều khi thấy bọn bạn quấn quýt bên người yêu tôi thoáng chạnh lòng nuối tiếc cũng cố yêu một ai đó, nhưng trước họ trái tim tôi cứ trơ ra. Tôi chẳng cảm nhận được thế nào là tình yêu.Thấy tôi cứ thản nhiên trước sự nhiệt tình của một vài anh chàng, mẹ tôi không khỏi suốt ruột ca cẩm:- Mầy như quả bom nổ chậm trong nhà, ưng thằng nào thì ưng cho tao nhẹ gánh.Tôi cười tết tóc mẹ thủ thỉ:- Con đi lấy chồng rồi ai sẽ nhuộm tóc cho mẹ?Mẹ tôi bĩu môi lườm nguýt. Thế là theo đà mẹ tôi nói mãi điệp khúc chống lầy. Tôi chỉ biết khuấy khoá đổ cho duyên số.Những lúc tôi và mẹ như vậy, bố thường im lặng trầm ngâm bên chén trà. Tôi biết bố nghĩ gì. Nhà có ba chị em, cô em thứ hai của tôi đã lấy chồng có con, còn cậu út đang đi học, không nói làm gì, chỉ có mình tôi là bố mẹ lo lắng. Không những thế Hiền, Hà hai cô bạn thân của tôi thấy tôi lúc nào cũng lủi thủi đi về một mình tối nào cũng rủ tôi đi chơi và bày đặt giới thiệu anh nầy, anh nọ, nhưng tôi lướt qua không dừng lại một ai khiến các chàng thất vọng. Còn hai cô bạn tôi bực mình tuyên bố:- Chúng tao sẽ không bao giờ giới thiệu cho mầy nữa, cho mầy gặm nhấm nỗi cô đơn, lúc đó mới thấm thía.Tôi cũng bướng bỉnh đối lại:- Nầy ! Đây cô đơn nửa đời rồi, nửa còn lại có ngán gì đâu.Tưởng hai nàng sẽ thực hiện lời tuyên bố hùng hồn đó. Nhưng được một thời gian, hai cô bạn tôi không biết mồi chài ở đâu một anh chàng mới toanh giới thiệu tên là Quang, sinh viên kinh tế đang học năm cuối là bạn anh Tiến (bạn trai Hà).Anh không đẹp nhưng trông anh thật cứng cỏi với mái tóc bồng bềnh được chải hất về phía sau để lộ gương mặt rất phong trần. Anh mặc chiếc áo màu vàng, cái màu mà tôi ghét cay ghét đắng làm tôi không mấy thiện cảm. Còn anh tỏ ra rất ga lăng trước tôi với nụ cười hào phóng:- Nghe Hiền, Hà nói chuyện về em nhiều, hôm nay mới được gặp.Tôi mỉm cười thận trọng trước lời mở đầu ngọt ngào hấp dẫn của anh:- Em có gì đâu mà kể?- Nghe nói em là người rất dịu dàng.Tôi im lặng thầm nghĩ: Anh chàng nào cũng vậy, mới đầu thật bẻm mép ! Theo lời mời của anh, tôi cùng các bạn kéo nhau lên Phủ ăn ốc. Lúc về gặp mưa tôi và anh nhường nhau một chiếc áo mưa:- Em mặc áo mưa vào đi kẻo lạnh!- Em ngồi sau anh không ướt mấy. Với lại em thích đi mưa.Anh cười đồng tình: - Anh cũng thế!Thế là tôi và anh đội mưa, mặc cho mọi người trêu, chung áo mưa cho tình cảm. Tôi lơ đi quay sang Hiền, Hà thấy hai cô bạn đang nháy mắt ra hiệu tôi ôm eo Quang. Mặc kệ, cho hai nàng nháy rụng lông mi tôi cũng không ôm đâu.Để chạy trốn cơn mưa dai dẳng mang đầy truyền thuyết, chúng tôi kéo nhau vào quán Karaoke. Anh chọn bài hát tiếng Anh Hotel California. Anh nhắm mắt nghiêng đầu da diết theo lời hát « Welcome to the Hotel California... ». Cả phòng lặng đi, riêng tôi cứ nuốt lấy từng lời nhìn anh thán phục.Tối đó, anh đưa tôi về dưới mưa tầm tã. Tôi và anh đều ướt như chuột, hôm đó tôi ho suốt cả đêm.Hôm sau gặp tôi, Hiền, Hà hỏi:- Thuỷ thấy Quang thế nào?Tôi bâng khuâng trước câu hỏi của Hiền.- Có thấy rung động gì không?- Chẳng thấy gì. Chắc không yêu được đâu.- Đừng kết luận vội vàng thế, mới là buổi đầu mà.Hai cô bạn thi nhau nhồi nhét tình yêu vào đầu tôi, tôi nghe chóng cả mặt. Về tình yêu, hai cô bạn cũng có ít nhiều kinh nghiệm hơn tôi, bạn tôi gục ngã về tình yêu và cũng đứng dậy vì tình yêu khiến tôi rất phục. Còn tôi, mỗi cuộc tình đi qua mãi tôi mới lấy lại được thăng bằng, giờ nghĩ đến yêu tôi thoáng lo sợ lắc đầu:- Tao không yêu đâu, ba bảy hai mốt ngày anh ta đá tao thì tao chẳng còn ra hồn tao nữa.- Mầy bi quan quá!Yên tâm đi, Quang không yêu chơi bời đâu, tuy nhà con một nhưng Quang được cái nhanh nhẹn thông minh rất có chí. Với lại là bạn của anh Tiến cứ vô tư đi.Sau những lần tâm sự chớp nhoáng cùng hai cô bạn tôi yên tâm được phần nào và thầm nhủ: Cứ thử phiêu lưu một chút xem cuộc tình thứ tư nầy ra sao. Biết đâu đấy... !Tôi bước vào cuộc tình của anh với Tình yêu một nửa. Đó là kinh nghiệm tôi đã rút ra từ ba mối tình trước. Và lần nầy tôi quyết không thể yêu hết cả hồn mình được. Sau không thành, khổ lắm!Biết tôi và anh yêu nhau, bố tôi đã ngồi nói chuyện cùng anh. Bao giờ cũng vậy, khi tôi có bạn bố tôi thường hỏi thăm làm gì, ở đâu. Tiếp đến là gia đình và vấn đề mấu chốt của bố là đạo đức con người. Mấy anh bạn trước của tôi nghe bố nói mồ hôi vã ra như tắm. Còn anh nghe một cách bình thản thậm chí quá quen thuộc.Trong suy nghĩ của tôi anh thật từng trải. Nhất là trong tình yêu. Anh cuồng nhiệt và đam mê khiến nửa hồn vu vơ của tôi cũng bị cuốn theo sự từng trải của anh.Tôi luôn gọi anh là « từng trải » , anh thường lắc đầu bảo tôi:- Đừng bảo anh từng trải. Anh yêu em là người đầu tiên đấy!Tôi lắc đầu nguây nguẩy:- Thật dại khờ nếu tin vào điều đó.Anh bảo tôi là đa nghi Tào Tháo và nông nổi, bởi tôi hay hờn giận nghi ngờ anh yêu không thật lòng. Những lúc như thế anh ngồi hàng giờ để khôi phục lòng tin trong tôi.Anh rất yêu chìu tôi, đi đâu anh cũng rủ tôi đi cùng. Chiều nầy cũng vậy, anh rủ tôi đến nhà bạn anh liên hoan, trên đường anh ghé vào chợ mua con gà, anh bảo tôi chọn. Tôi đứng đờ người bối rối:- Em... em không biết chọn... Anh ngỡ ngàng nhìn tôi:- Thế em không mua gà bao giờ à?Tôi lắc đầu, anh lặng thinh túm lấy con gà bắt tôi chọn. Thật khổ cho tôi! Loay hoay mãi tôi mới chọn được con anh ưng ý.Đến nhà bạn anh mọi người đang nấu nướng, anh bảo tôi vào làm cùng. Tôi lúng túng... - Em lại không biết làm chứ gì? Chết thôi!Anh nóng nảy. Tôi lén nhìn thấy mặt anh đỏ lên, giọng anh gay gắt:- Con gái phải biết nội trợ chứ. Em vụng về đoảng vị quá!Nhìn các thứ ngổn ngang trước mặt, tôi khóc dở mếu dở, nội trợ tôi có biết gì đâu, tôi thầm trách mình sao lại đi với anh. Tôi suýt khóc khi bị anh mắng. Biết mình lỡ lời, anh dịu dàng xin lỗi tôi mà nét mặt không dấu được vẻ ngán ngẩm.Tôi biết anh muốn người bạn đời của mình nhanh nhẹn, khéo léo vì gia đình anh là gia đình buôn bán và anh chú trọng nhất là phải đảm đang trong việc nội trợ mà tôi lại không có được điều đó khiến anh thất vọng vô cùng.Để cứu vãn tình thế, đi làm về tôi không còn la cà cùng Hiền, Hà sa vào hàng ốc nữa. Tôi bắt đầu lưu tâm vào việc nội trợ, tôi muốn dành cho anh một sự bất ngờ.Nhưng rồi anh đến với tôi thưa dần. Tôi đã cảm nhận được sự mệt mỏi ở nơi anh với các liếc mắt vĩ đại trên chiếc đồng hồ, rồi anh thản nhiên trước lời thương nhớ của tôi được anh nhắc lại "sao như bản chính" khiến tôi không khỏi ngỡ ngàng... Anh không còn yêu chìu tôi như xưa nữa, tình cảm anh dành cho tôi giản đơn xơ xác đến thảm hại.Càng ngày tôi và anh nhận ra ngõ ngách chênh lệch trong tâm hồn nhau. Anh chê tôi là một người trống rỗng... Tôi im lặng, buồn nhiều hơn. Thấy chuyện tình của tôi và Quang đang đi đến sự đổ vỡ, Hiền, Hà bảo tôi chia tay anh đừng để anh nói trước đau lắm. Tôi chẳng bận tâm tới điều đó. Hay ho gì với chiến tích đá nhau:- Thuỷ nghĩ rằng để chinh phục trái tim nhau, yêu thương nhau mới là điều khó. Còn chia tay nhau một lời đơn giản mà.Hiền, Hà kêu lên xót xa:-Thế là suốt đời Thủy bị đàn ông đá, Thủy ơi!Tôi ngậm ngùi:" Một lần nầy nữa có sao đâu? Thủy quen rồi!"Và rồi cũng giống như những người trước, anh lặng lẽ xa tôi. Nhưng lần nầy tôi đã hiểu được vì sao anh lại xa tôi... Tôi biết, sẽ chẳng bao giờ tôi có lại ngày xưa. Nên chút ân tình nầy cho tôi một lần thương nhớ gửi về anh:"Xin cảm ơn tình anh nhiều lắm! Mặc dù anh đến với tôi chỉ thoáng qua như cơn mưa rào cuối Hạ. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh những gì đẹp đẽ nhất và xin mạo muội một lần được nói cùng anh:" Tôi yêu anh! và anh vẫn là nỗi đau dịu dàng trong trái tim tôi. Nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi phiền trách anh đâu! Mục lục Chia tay dịu dàng Chia tay dịu dàng Mỹ LệChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: may4phuongĐược bạn: NHDT đưa lên vào ngày: 31 tháng 3 năm 2007
Mỹ Lệ Chia tay dịu dàng Cùng lứa tuổi hai mươi lăm với tôi, bạn bè tôi đứa có gia đình, đứa có người yêu. Chỉ có mình tôi trật thó lại. Chẳng phải vì tôi xấu xí hay bệnh tật gì. Trái lại trông tôi cũng xinh xắn và có tiếng là ngoan nên không ít các chàng trai để ý, nhưng tôi chẳng yêu ai. Có người cho tôi là kén chọn. Nào tôi có kén? Tôi cũng muốn yêu lắm chứ, cũng khao khát có một người bạn trai để chia sẻ cùng tôi những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Nhưng cứ nghĩ đến yêu là tôi lại sợ.Bởi tôi cũng đã từng trải qua ba cuộc tình, nhưng cả ba cuộc tình đó chẳng ra sao cả. Họ đến với tôi điên cuồng như nhạc Rock được một thời gian rồi lại vội vã xa tôi làm tôi bàng hoàng ngơ ngác không hiểu vì sao???Ba cuộc tình đó cũng đủ làm tôi choáng váng. Tôi bắt đầu chán ngán tình yêu và vô tình để tuổi thanh xuân của mình trôi như mây phiêu lãng. Nhiều khi thấy bọn bạn quấn quýt bên người yêu tôi thoáng chạnh lòng nuối tiếc cũng cố yêu một ai đó, nhưng trước họ trái tim tôi cứ trơ ra. Tôi chẳng cảm nhận được thế nào là tình yêu.Thấy tôi cứ thản nhiên trước sự nhiệt tình của một vài anh chàng, mẹ tôi không khỏi suốt ruột ca cẩm:- Mầy như quả bom nổ chậm trong nhà, ưng thằng nào thì ưng cho tao nhẹ gánh.Tôi cười tết tóc mẹ thủ thỉ:- Con đi lấy chồng rồi ai sẽ nhuộm tóc cho mẹ?Mẹ tôi bĩu môi lườm nguýt. Thế là theo đà mẹ tôi nói mãi điệp khúc chống lầy. Tôi chỉ biết khuấy khoá đổ cho duyên số.Những lúc tôi và mẹ như vậy, bố thường im lặng trầm ngâm bên chén trà. Tôi biết bố nghĩ gì. Nhà có ba chị em, cô em thứ hai của tôi đã lấy chồng có con, còn cậu út đang đi học, không nói làm gì, chỉ có mình tôi là bố mẹ lo lắng. Không những thế Hiền, Hà hai cô bạn thân của tôi thấy tôi lúc nào cũng lủi thủi đi về một mình tối nào cũng rủ tôi đi chơi và bày đặt giới thiệu anh nầy, anh nọ, nhưng tôi lướt qua không dừng lại một ai khiến các chàng thất vọng. Còn hai cô bạn tôi bực mình tuyên bố:- Chúng tao sẽ không bao giờ giới thiệu cho mầy nữa, cho mầy gặm nhấm nỗi cô đơn, lúc đó mới thấm thía.Tôi cũng bướng bỉnh đối lại:- Nầy ! Đây cô đơn nửa đời rồi, nửa còn lại có ngán gì đâu.Tưởng hai nàng sẽ thực hiện lời tuyên bố hùng hồn đó. Nhưng được một thời gian, hai cô bạn tôi không biết mồi chài ở đâu một anh chàng mới toanh giới thiệu tên là Quang, sinh viên kinh tế đang học năm cuối là bạn anh Tiến (bạn trai Hà).Anh không đẹp nhưng trông anh thật cứng cỏi với mái tóc bồng bềnh được chải hất về phía sau để lộ gương mặt rất phong trần. Anh mặc chiếc áo màu vàng, cái màu mà tôi ghét cay ghét đắng làm tôi không mấy thiện cảm. Còn anh tỏ ra rất ga lăng trước tôi với nụ cười hào phóng:- Nghe Hiền, Hà nói chuyện về em nhiều, hôm nay mới được gặp.Tôi mỉm cười thận trọng trước lời mở đầu ngọt ngào hấp dẫn của anh:- Em có gì đâu mà kể?- Nghe nói em là người rất dịu dàng.Tôi im lặng thầm nghĩ: Anh chàng nào cũng vậy, mới đầu thật bẻm mép ! Theo lời mời của anh, tôi cùng các bạn kéo nhau lên Phủ ăn ốc. Lúc về gặp mưa tôi và anh nhường nhau một chiếc áo mưa:- Em mặc áo mưa vào đi kẻo lạnh!- Em ngồi sau anh không ướt mấy. Với lại em thích đi mưa.Anh cười đồng tình: - Anh cũng thế!Thế là tôi và anh đội mưa, mặc cho mọi người trêu, chung áo mưa cho tình cảm. Tôi lơ đi quay sang Hiền, Hà thấy hai cô bạn đang nháy mắt ra hiệu tôi ôm eo Quang. Mặc kệ, cho hai nàng nháy rụng lông mi tôi cũng không ôm đâu.Để chạy trốn cơn mưa dai dẳng mang đầy truyền thuyết, chúng tôi kéo nhau vào quán Karaoke. Anh chọn bài hát tiếng Anh Hotel California. Anh nhắm mắt nghiêng đầu da diết theo lời hát « Welcome to the Hotel California... ». Cả phòng lặng đi, riêng tôi cứ nuốt lấy từng lời nhìn anh thán phục.Tối đó, anh đưa tôi về dưới mưa tầm tã. Tôi và anh đều ướt như chuột, hôm đó tôi ho suốt cả đêm.Hôm sau gặp tôi, Hiền, Hà hỏi:- Thuỷ thấy Quang thế nào?Tôi bâng khuâng trước câu hỏi của Hiền.- Có thấy rung động gì không?- Chẳng thấy gì. Chắc không yêu được đâu.- Đừng kết luận vội vàng thế, mới là buổi đầu mà.Hai cô bạn thi nhau nhồi nhét tình yêu vào đầu tôi, tôi nghe chóng cả mặt. Về tình yêu, hai cô bạn cũng có ít nhiều kinh nghiệm hơn tôi, bạn tôi gục ngã về tình yêu và cũng đứng dậy vì tình yêu khiến tôi rất phục. Còn tôi, mỗi cuộc tình đi qua mãi tôi mới lấy lại được thăng bằng, giờ nghĩ đến yêu tôi thoáng lo sợ lắc đầu:- Tao không yêu đâu, ba bảy hai mốt ngày anh ta đá tao thì tao chẳng còn ra hồn tao nữa.- Mầy bi quan quá!Yên tâm đi, Quang không yêu chơi bời đâu, tuy nhà con một nhưng Quang được cái nhanh nhẹn thông minh rất có chí. Với lại là bạn của anh Tiến cứ vô tư đi.Sau những lần tâm sự chớp nhoáng cùng hai cô bạn tôi yên tâm được phần nào và thầm nhủ: Cứ thử phiêu lưu một chút xem cuộc tình thứ tư nầy ra sao. Biết đâu đấy... !Tôi bước vào cuộc tình của anh với Tình yêu một nửa. Đó là kinh nghiệm tôi đã rút ra từ ba mối tình trước. Và lần nầy tôi quyết không thể yêu hết cả hồn mình được. Sau không thành, khổ lắm!Biết tôi và anh yêu nhau, bố tôi đã ngồi nói chuyện cùng anh. Bao giờ cũng vậy, khi tôi có bạn bố tôi thường hỏi thăm làm gì, ở đâu. Tiếp đến là gia đình và vấn đề mấu chốt của bố là đạo đức con người. Mấy anh bạn trước của tôi nghe bố nói mồ hôi vã ra như tắm. Còn anh nghe một cách bình thản thậm chí quá quen thuộc.Trong suy nghĩ của tôi anh thật từng trải. Nhất là trong tình yêu. Anh cuồng nhiệt và đam mê khiến nửa hồn vu vơ của tôi cũng bị cuốn theo sự từng trải của anh.Tôi luôn gọi anh là « từng trải » , anh thường lắc đầu bảo tôi:- Đừng bảo anh từng trải. Anh yêu em là người đầu tiên đấy!Tôi lắc đầu nguây nguẩy:- Thật dại khờ nếu tin vào điều đó.Anh bảo tôi là đa nghi Tào Tháo và nông nổi, bởi tôi hay hờn giận nghi ngờ anh yêu không thật lòng. Những lúc như thế anh ngồi hàng giờ để khôi phục lòng tin trong tôi.Anh rất yêu chìu tôi, đi đâu anh cũng rủ tôi đi cùng. Chiều nầy cũng vậy, anh rủ tôi đến nhà bạn anh liên hoan, trên đường anh ghé vào chợ mua con gà, anh bảo tôi chọn. Tôi đứng đờ người bối rối:- Em... em không biết chọn... Anh ngỡ ngàng nhìn tôi:- Thế em không mua gà bao giờ à?Tôi lắc đầu, anh lặng thinh túm lấy con gà bắt tôi chọn. Thật khổ cho tôi! Loay hoay mãi tôi mới chọn được con anh ưng ý.Đến nhà bạn anh mọi người đang nấu nướng, anh bảo tôi vào làm cùng. Tôi lúng túng... - Em lại không biết làm chứ gì? Chết thôi!Anh nóng nảy. Tôi lén nhìn thấy mặt anh đỏ lên, giọng anh gay gắt:- Con gái phải biết nội trợ chứ. Em vụng về đoảng vị quá!Nhìn các thứ ngổn ngang trước mặt, tôi khóc dở mếu dở, nội trợ tôi có biết gì đâu, tôi thầm trách mình sao lại đi với anh. Tôi suýt khóc khi bị anh mắng. Biết mình lỡ lời, anh dịu dàng xin lỗi tôi mà nét mặt không dấu được vẻ ngán ngẩm.Tôi biết anh muốn người bạn đời của mình nhanh nhẹn, khéo léo vì gia đình anh là gia đình buôn bán và anh chú trọng nhất là phải đảm đang trong việc nội trợ mà tôi lại không có được điều đó khiến anh thất vọng vô cùng.Để cứu vãn tình thế, đi làm về tôi không còn la cà cùng Hiền, Hà sa vào hàng ốc nữa. Tôi bắt đầu lưu tâm vào việc nội trợ, tôi muốn dành cho anh một sự bất ngờ.Nhưng rồi anh đến với tôi thưa dần. Tôi đã cảm nhận được sự mệt mỏi ở nơi anh với các liếc mắt vĩ đại trên chiếc đồng hồ, rồi anh thản nhiên trước lời thương nhớ của tôi được anh nhắc lại "sao như bản chính" khiến tôi không khỏi ngỡ ngàng... Anh không còn yêu chìu tôi như xưa nữa, tình cảm anh dành cho tôi giản đơn xơ xác đến thảm hại.Càng ngày tôi và anh nhận ra ngõ ngách chênh lệch trong tâm hồn nhau. Anh chê tôi là một người trống rỗng... Tôi im lặng, buồn nhiều hơn. Thấy chuyện tình của tôi và Quang đang đi đến sự đổ vỡ, Hiền, Hà bảo tôi chia tay anh đừng để anh nói trước đau lắm. Tôi chẳng bận tâm tới điều đó. Hay ho gì với chiến tích đá nhau:- Thuỷ nghĩ rằng để chinh phục trái tim nhau, yêu thương nhau mới là điều khó. Còn chia tay nhau một lời đơn giản mà.Hiền, Hà kêu lên xót xa:-Thế là suốt đời Thủy bị đàn ông đá, Thủy ơi!Tôi ngậm ngùi:" Một lần nầy nữa có sao đâu? Thủy quen rồi!"Và rồi cũng giống như những người trước, anh lặng lẽ xa tôi. Nhưng lần nầy tôi đã hiểu được vì sao anh lại xa tôi... Tôi biết, sẽ chẳng bao giờ tôi có lại ngày xưa. Nên chút ân tình nầy cho tôi một lần thương nhớ gửi về anh:"Xin cảm ơn tình anh nhiều lắm! Mặc dù anh đến với tôi chỉ thoáng qua như cơn mưa rào cuối Hạ. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh những gì đẹp đẽ nhất và xin mạo muội một lần được nói cùng anh:" Tôi yêu anh! và anh vẫn là nỗi đau dịu dàng trong trái tim tôi. Nhưng sẽ chẳng bao giờ tôi phiền trách anh đâu! Mục lục Chia tay dịu dàng Chia tay dịu dàng Mỹ LệChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: may4phuongĐược bạn: NHDT đưa lên vào ngày: 31 tháng 3 năm 2007
Nguyễn Thanh Châu Chia Tay Hạ Nhớ Ngày đầu tiên vào lớp mới, trong khi đang ngơ ngác, thu mình ở bàn cuối lớp thì có một kẻ dễ ghét ngồi bên cạnh cứ nhìn chằm chằm vào vở em rồi thắc mắc “Sao bạn không ghi bài chữ nào hết vậy?”. Thoáng ngại nhưng em cũng thành thật:” Mình không quen ngồi cuối lớp, mình không thể chú ý vào bài giảng khi trước mặt mình có quá nhiều người” “ Thì lên bàn đầu ngồi”. “Mình ngại, kỳ lắm”. “Ngộ thiệt”. Hắn nhận xét rồi gật gù thấy ghét. Mình làm quen như thế, thật ngộ! Bài học ngày đầu tiên bỏ trống… Hôm sau, vừa lơ ngơ vào lớp thì nghe có kẻ kéo nhẹ cặp xách:” Ngồi đây nè!” thì ra là kẻ-dễ-ghét đang chễm chệ ở bàn đầu. Nhìn hắn một thoáng rồi chặt lưỡi: “Dù sao thì hắn cũng là người quen duy nhất của mình ở lớp này”. Rồi cứ thế, suốt bốn năm trời, mình là hai kẻ có-vẻ-siêng-năn nhất lớp khi độc chiếm bàn đầu. Và rồi chuyện gì đến đã đến. Chúng ta yêu nhau với ắp đầy kỷ niệm suốt buốn năm học. Em không thể nào quên vẻ mặt buồn buồn của anh khi “giang sơn” mình có người xâm lấn và thế là vở em hôm ấy lại bỏ trống. Vì thế nên những buổi học không anh em đã lén xuống bàn cuối ngồi và cố ép mình theo bài giảng của thầy. Em cũng không thể quên anh ngạc nhiên như thế nào khi buổi học ấy em rủ anh xuống bàn cuối ngồi và vẫn chép bài bình thường. Rồi cái nắm tay len lén dưới học bạn hôm ấy để em hiểu rằng anh rất xúc động và anh cũng hiểu là em đang nghĩ gì, phải không anh? Thật nhiều kỷ niệm theo mình. Nhưng cuối cùng chúng ta lại không thể sóng đôi như thuở cùng bàn được nữa. Sao vậy anh? Chẳng ai trả lời được câu hỏi ấy cho chúng ta cả? Lời mong muốn là bạn tốt của nhau có thực hiện được không anh, khi anh và em, mỗi người cứ tự thu mình vào vỏ ốc của chính mình? Rồi ra trường, xin việc và mãi xa nhau … Tưởng rằng đã quên nhưng mọi thứ không đơn giảng như ta nghĩ. Dẫu cố tạo ra vẻ mặt bất cần, dẫu em có vờ tìm cho mình một cái bóng mới nhưng đâu phải cứ muốn quên là quên được phải không anh? Bốn năm… vâng, bốn năm đủ để ta có thể hiểu nhau mà không cần nhìn vào mắt nhau. Chia tay, đôi khi là một giải pháp nhưng không phải là một giải pháp tốt nhất cho con tim mỗi người, anh nhỉ! Anh và em, mỗi người có một-cái-tôi lớn quá để rồi khi chia tay chẳng ai là người cất tiếng trước dẫu rất muốn nghe tiếng nói của nhau. Đã rất nhiều ngày em ngồi trước điện thoại mong cho một giọng nói quen thân dẫu biết mình vô lý. Em thường bảo rằng con người ta không là cái máy để khi cần là nhấn phím để quên đi tất cả. Biết thế nhưng lòng vẫn tự giận lòng khi ký ức xưa vẫn ngọ nguậy không yên. Buồn quá phải không anh? Không ai muốn gặp gỡ để chia xa, yêu thương để rồi cách biệt cả, thế mà chúng mình… Nhưng chẳng thà như thế còn hơn là khi quên cảm tâm hồn em lại rơi vào cảm giác trống vắng rợn người. Anh cũng vậy, phải không anh? Một mùa hè nữa đã qua, sắp tới ta không còn chung lớp bởi mỗi người đã chọn cho mình một con đường riêng để bươn chải. Dẫu phải đối mặt với cuộc đời không như mong đợi em vẫn tin rằng con-người-trầm-ngâm ngày xưa sẽ không đánh mất cái nhìn tin yêu vào cuộc đời. Dẫu em có cuốn mình vào những tất bật, đa đoan của cuộc sống thì em vẫn ngấ lòng khi nghĩ đến ánh mắt dõi theo của anh. Bởi em tin rằng anh mãi là người duy nhất hiểu được em, phải không anh?! Nguyễn Thanh Châu Mục lục Chia Tay Hạ Nhớ Chia Tay Hạ Nhớ Nguyễn Thanh ChâuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời áo trắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Nguyen Thanh Chau Farewell to Ha Remember On the first day of the new class, while I was bewildered and cowering at the back of the class table, there was an obnoxious person sitting next to me who kept staring at my notebook and wondered, "Why don't you write any words?" . I was a bit shy but I was honest: "I'm not used to sitting at the back of the class, I can't pay attention to the lecture when there are too many people in front of me." "Then sit at the front desk." "I'm shy, it's very strange." “True enlightenment”. He commented and nodded in disgust. I got acquainted like that, it's so funny! The first day's lesson was blank... The next day, as I absent-mindedly entered class, I heard someone gently tugging on my bag: "Sit here!" It turns out that the easy-to-hate guy is sitting at the top table. Looked at him for a moment then clicked his tongue: "After all, he is my only acquaintance in this class." And so, for four years, I was the two most industrious people in the class, monopolizing the first table. And then what happened happened. We love each other and are filled with memories throughout the four years of school. I can never forget your sad face when someone invaded our "land" and so my notebook was left blank that day. That's why during class, the students sneaked down to the last table to sit and tried to force themselves to follow the teacher's lecture. I also can't forget how surprised you were when that class I invited you to the last table to sit and still copy notes normally. Then the sneaky hand holding under your classmate that day made me understand that you were very emotional and you also understood what I was thinking, right? So many memories follow me. But in the end, we couldn't be together like we used to be at the same table anymore. What's the problem? No one can answer that question for us? Can your wish to be good friends come true, when you and I each keep withdrawing into our own shells? Then we graduated, applied for a job, and were forever apart... We thought we'd forgotten, but things weren't as simple as we thought. Even though I try to create a carefree expression, even though I pretend to find a new shadow for myself, it's not like I can forget just because I want to forget, right? Four years… yes, four years is enough for us to understand each other without looking into each other's eyes. Breaking up is sometimes a solution but not the best solution for everyone's heart, right? You and I, each of us has such a big ego that when we break up, no one speaks first even though we really want to hear each other's voices. There have been many days when I sat in front of the phone hoping for a familiar voice even though I knew I was being unreasonable. I often say that people are not machines that when needed press a key to forget everything. Even though I know that, I still feel angry at myself when the old memories still stir restlessly. So sad, isn't it? No one wants to meet and say goodbye, love and then be separated, but we... But it's better than that than when I forget to feel, my soul falls into a terrifying feeling of emptiness. You too, right? Another summer has passed, soon we will no longer be in the same class because each of us has chosen our own path to pursue. Even though I have to face a life that is not as expected, I still believe that the pensive person of the past will not lose his loving outlook on life. Even though I'm caught up in the hustle and bustle of life, I still feel overwhelmed when I think of your watching eyes. Because I believe that you will always be the only one who understands me, right?! Nguyen Thanh Chau Table of contents Farewell to Ha Remember Farewell to Ha Remember Nguyen Thanh ChauWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: White shirt period Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Ngọc Oanh Chia tay người Hà Nội Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa.Cái rét đầu đông giật mình bật khóc. Hoa sữa thôi rơi mỗi chiều tan học. Cổ Ngư xưa lặng lẽ dấu chân buồn Trúc Bạch giận hờn phía cuối hoàng hôn. Để con nước thả trôi câu lục bát. Quán cóc vẹo xiêu dăm ba tiếng nhạc. Phía Hồ Tây vọng lại một câu Kiều. Hà Nội trời buồn nhớ mắt người yêu. Nhớ góc phố nhớ hàng me kỷ niệm. Nhớ buổi chia tay mắt đầy hoa tím. Ngõ hoa giờ hút dấu gót hài xưa. Hà Nội mùa này nhớ những cơn mưa… Bùi Thanh Tuấn. xa lắm, nhưng bài thơ chỉ một lần đọc như in sâu vào trí nhớ. Hà Nội chớm lạnh. Cái lạnh đầu mùa bao giờ cũng thế - gợi nhớ và buồn. Có lẽ Chia tay người Hà Nội ra đời trong khoảnh khắc như vậy? Mùa thu làm cây cầu để mùa đông là nơi hội tụ những cơn gió se lạnh mang hơi thở chứa nỗi buồn vắng lặng. Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa, lời mở đầu Cái rét đầu đông Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa. Cái rét đầu đông khăn em hiu hiu gió lạnh... Ai xui chi sáng nay, quán cà phê tôi vẫn thường ngồi nhìn ra phía Hồ Tây lại mở băng nhạc hát về Hà Nội. Tiếng hát cứ réo rắt kéo hồn người vào một nỗi buồn ảm đạm, kéo tôi về một ngày thật xa - ngày tôi đọc bài Chia tay người Hà Nội của Bùi Thanh Tuấn. Ngày ấy bài thơ bình thường nhưng ẩn chứa một điều gì đó buồn man mác. Chữ “vắng” làm trọng tâm cho hồn người đọng lại. Chiều Hà Nội, bên bờ Hồ Tây lạnh buốt trong mưa bay, ai nỡ lòng chạy trốn! Lãng mạn để rồi “giật mình bật khóc” trước "cái rét đầu đông”. Cô quạnh và bàng hoàng. Có lẽ cái rét thiếu những hạt mưa đầu mùa làm cho con người lay lắt, kỷ niệm chợt về kết thành cái giật mình đâu phải khách quan. Mỗi chiều tan học, hoa sữa trong con mắt đầy tâm trạng không còn rơi nữa mà chỉ lặng lẽ đếm bước chân dọc chiều đông buồn hun hút. Trúc Bạch giận hờn, chút giận hờn để con nước thả trôi câu lục bát; từ quán cóc vẹo xiêu dăm ba tiếng nhạc đến Hồ Tây với một câu Kiều... tất cả như rời rạc, mà dồn dập chồng chất cho nỗi buồn càng quắt quay trong cái rét đầu mùa - nỗi buồn vây bủa phủ kín Hà Nội. Đằng sau cái giật mình bật khóc của cái rét đầu đông là sự giận hờn chồng chất những hình ảnh “câu lục bát”, “dăm ba tiếng nhạc”, “một câu Kiều”... Chồng chất nhưng tẻ nhạt. Các số từ cố diễn tả cụ thể lại càng làm mơ hồ, khó xác định - có phải đó chính là cảm giác chơi vơi của người có tâm trạng? Chắc chắn Hà Nội không thể tẻ nhạt, có chăng trước mắt là lăng kính tâm trạng, một tâm trạng chứa đầy kỷ niệm. Kỷ niệm bây giờ như dấu chấm tròn nằm lặng lẽ để khi vô tình động đến là “giật mình bật khóc”; để khi gom nhặt lại làm thành một tiếng buồn vọng mãi, dồn nén cho đến khi thốt thành lời: “Hà Nội trời buồn nhớ mắt người yêu”. Vì sao con nước thả trôi câu lục bát; vì sao hoa sữa thôi rơi... đến đây mới vỡ òa nhận ra. Cái nỗi niềm không thể tâm sự này làm sao giấu nổi! Cái gì làm cho con người ta không thể chạy trốn cái rét đầu mùa; cái gì làm cho “dấu chân buồn” lặng lẽ bước hoài trong chiều đông lạnh buốt... Phải chăng đó là nỗi nhớ? Tám câu đầu mở ra để đi tới tận cùng, dồn vào bốn câu cuối mà trung tâm là chữ “NHỚ”. À, không! Tám câu đầu như cố phong toả tâm trạng nhưng “càng lắc càng đầy” - đầy mãi, để rồi sự chịu đựng không còn kiềm chế được, để ba chữ nhớ liên tiếp thốt ra mong làm vơi chút nỗi niềm. Bài thơ như dẫn người đọc bước mãi lên những bật tam cấp, nơi ấy chứa đựng một nỗi niềm tâm sự “ngõ hoa giờ hút dấu gót hài xưa”. Giờ xa lắc nhưng gót hài xưa vẫn in lại nguyên hình để hiện tại chỉ còn là sự tồn tại vô nghĩa lý. Nỗi nhớ cứ níu kéo tơi tả hồn người trở về với quá khứ, về cái “buổi chia tay mắt đầy hoa tím” - buổi chia tay mà cảnh vật như được thâu gọn trong đôi mắt đượm một màu hoa. Chia tay, gót hài chấm mãi lên ngõ hoa, xa dần... chỉ còn lại mùa đông lạnh vắng! Trong trống vắng ấy của Hà Nội, một mình lần theo dấu hài xưa đi tìm lại dáng dấp của người yêu trong từng quán cóc vẹo xiêu, từng hàng me giờ đã thành kỷ niệm, để nỗi nhớ chảy ngược về tim gõ nhịp theo bước chân buồn lặng lẽ. Cái thoáng se lạnh chớm đông càng làm cho hồn người rét buốt, gợi cho “Hà Nội mùa này nhớ những cơn mưa” ! Vì vắng nên Hà Nội nhớ, nỗi nhớ cứ dài ra như tiếng vọng một câu Kiều. Ngoài kia gió đã chuyển mùa. Đọc bài thơ ngắn của Bùi Thanh Tuấn làm nỗi buồn cứ len lỏi, giọt cà phê cùng tiếng nhạc như giọt buồn, giọt nhớ rơi giữa Hồ Tây. NGỌC OANH. Theo Tuoi Tre 9/5/07 Mục lục Chia tay người Hà Nội Chia tay người Hà Nội Ngọc OanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Hanoivatoi Nguồn: Tuoi Tre 9/5/07Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 12 tháng 5 năm 2007
Ngoc Oanh Farewell to Hanoi people Hanoi has no rain this season. The cold of early winter startled me and made me cry. Milk flowers stop falling every afternoon after school. The ancient Co Ngu quietly left the sad footprints of the angry Truc Bach at the end of the sunset. Let the water float by fishing six bowls. The dilapidated toad shop has a few sounds of music. From West Lake, a sentence of Kieu echoed. It's sad in Hanoi and I miss my lover's eyes. Remember the street corners, remember the rows of tamarind memories. I remember the farewell with eyes full of purple flowers. Flower alley now attracts traces of old comedy. Hanoi misses the rain this season... Bui Thanh Tuan. It's far away, but reading the poem once is like it's imprinted in my memory. Hanoi is starting to get cold. The first cold of the season is always like that - reminiscent and sad. Perhaps Farewell to Hanoi people was born in such a moment? Autumn serves as a bridge so that winter is the convergence of cold winds carrying a breath of quiet sadness. Hanoi lacks rain this season, opening words The cold of early winter Hanoi has no rain this season. The cold of early winter makes me feel the cold wind... Unfortunately, this morning, the coffee shop where I usually sit overlooking West Lake played music about Hanoi. The melodious singing keeps drawing the soul into a gloomy sadness, pulling me back to a very distant day - the day I read the song Farewell to Hanoi by Bui Thanh Tuan. At that time, the poem was normal but contained something sad. The word "absence" is the focus for a person's soul to linger. Hanoi afternoon, on the banks of West Lake, freezing cold in the pouring rain, who has the heart to run away! Romantic and then "startled into tears" by the "early winter cold". Loneliness and shock. Perhaps the cold without the first raindrops of the season makes people shaken, memories suddenly come back to form a startle. It's not objective. Every afternoon after school, the milk flowers in her moody eyes no longer fall, but just quietly count her steps along the sad winter afternoon, Truc Bach is angry, a little angry and lets the water drift Six bowls; a dilapidated toad shop with a few hours of music to West Lake with a verse of Kieu... all seem to be disjointed, but pile up to make the sadness even worse in the early cold of the season - the sadness that surrounds them. Behind the startling cry of the early winter cold is the anger piled up with images of "six-eight verses", "several hours of music", "one verse of Kieu"... piled up but dull. The number of words that try to describe specifically makes it even more vague and difficult to define - is that the feeling of boredom of people in the mood? Surely Hanoi cannot be boring, maybe in front of it is a mausoleum glass mood, a mood filled with memories. Memories now are like dots lying quietly so that when you accidentally touch them, you will be "startled and burst into tears"; so that when collected, it makes a sad sound that echoes forever, compressed until the words are uttered: "Hanoi is sad and misses the eyes of its lover." Why does the water float with six bowl sentences? Why did the milk flowers stop falling... only then did I suddenly realize. How can I hide this unconfident feeling? What makes people unable to escape the cold of the first season; What makes "sad footprints" quietly walk forever in the cold winter afternoon... Is it nostalgia? The first eight sentences open up to the end, converging on the last four sentences, the center of which is the word "REMEMBER". Oh no! The first eight sentences seem to try to block the mood, but "the more you shake it, the more it fills" - it fills forever, until the tolerance can no longer be controlled, so three words "remember" are uttered in succession, hoping to relieve some of the sadness. The poem seems to lead the reader up the steps, which contains a feeling of confidence: "The flower alley now absorbs the traces of old comedy". The time is far away, but the old comedy still retains its original form, leaving only a meaningless existence in the present. Nostalgia keeps dragging the soul back to the past, about the "farewell with eyes filled with purple flowers" - the farewell where the scene seemed to be captured in eyes filled with the color of flowers. Farewell, the heel of the shoe lands on the flower alley, gradually fading away... leaving only the cold winter! In that emptiness of Hanoi, I alone followed the traces of the past to find the appearance of my lover in every ramshackle shop, every row of tamarind trees that have now become memories, letting the nostalgia flow back to my heart and beat the rhythm with my steps. sad and quiet feet. The chilly breeze at the beginning of winter makes people's souls feel cold, reminding them that "Hanoi misses the rain this season"! Because of the absence, Hanoi misses, the nostalgia keeps growing like the echo of a Kieu sentence. Outside, the wind has changed. Reading Bui Thanh Tuan's short poem makes sadness creep in, drops of coffee and music are like drops of sadness, drops of remembrance falling in the middle of West Lake. NGOC OANH. According to Tuoi Tre 5/9/07 Table of contents Farewell to Hanoi people Farewell to Hanoi people Ngoc OanhWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Last words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: Hanoivatoi Source: Tuoi Tre 5/9/07 Uploaded by friend: Ct.Ly on: May 12, 2007
Nguyễn Thị Lộc Quy Chim Bay Còn Để Vết Tìm Chẳng biết từ lúc nào giàn bông giấy nhà tôi trở nên dễ thương như Yên vậy. Lả tả cánh hồng lắt lay trong gió, chùm cao chùm thấp bay quấn quít trên giàn. Như hình ảnh của Yên, kỷ niệm với Yên tụm năm tụm bảy trong ký ức tôi. Sáng chủ nhật mỗi tuần, Yên theo mẹ tới giao thuốc ở phòng mạch anh tôi. Cô hay tinh nghịch đưa tay với cành dâm bụt, rung mạnh để làm kinh động đám chim trên giàn bông giấy. Chim bay ào lên, hoa sà xuống, Yên xoè tay ra hứng. Trông tướng cô cũng chằn ăn nhưng ngộ nghĩnh, vui vui. Chợt ngước lên bắt gặp tôi ở góc lầu, tiểu thư hĩnh mũi thách thức rồi đi thẳng vào trong. Mười lần như một, tôi tự nhủ mình đã "trao tim lầm nữ tướng... cướp". Vậy mà đám chim sẻ kia, đối với tôi, chỉ dễ thương và giàn bông giấy chỉ dễ mến khi Yên xuất hiện. Biết Yên học chung trường, tuy cùng năm nhưng khác buổi nên chẳng mấy khi tôi được gặp Yên. Mà cho dù có gặp, Yên cũng vác cái mặt kênh kiệu đó ra mà biểu diễn với tôi. Thằng Thạnh bạn tôi bảo, gia đình Yên bị đánh tư sản chạy về thị xã. Yên giỏi Văn, được tuyển vào lớp chuyên. Nó nói con gái chuyên Văn kiểu cách khó chịu lắm, ghét dân chuyên Toán chúng tôi lắm, chê là một lũ khô-khan. Rồi nó gào lên chọc tôi: "Em chuyên Văn lớp sáng Tôi chuyên Toán lớp chiều Chưa bao lâu làm bạn Đã sập bẫy tình yêu!" Nói "làm bạn" cho oai, chứ mỗi lần tôi dợm bước định chạy xuống bắt chuyện thì Yên đã khoát tay vô cùng "Lục Vân Tiên: khoan khoan dừng đó chớ ra, ta là phận gái, chàng là phận trai!" - Ông đứng đó nói chuyện tui cũng nghe được mờ! Cứ thế mà mỗi sáng chủ nhật tôi lại buồn, lại tức anh ách. Chỉ chờ cái xe đạp mi-ni đỏ của Yên lăn bánh ngang qua giàn bông giấy hồng thì tôi lẩm nhẩm đọc thơ con cóc năn nỉ thầm: "Người ta đồn sai bét Dân học Toán khô khan Xin em đừng có ghét Tội nghiệp người khác ban". Giàn hoa giấy nở rồi tàn. Chim bay đi rồi về họp bầy. Như Yên, đến rồi đi, không thân thiện với tôi thêm chút nào. Nhưng tôi vẫn tự an ủi mình, ít ra vẫn còn nhìn thấy Yên mỗi tuần một lần, có chim, có hoa, bình an trong nắng. Hạnh phúc sao chừng như giản dị. Giản dị như chuyện dưng không tôi yêu Yên. Thị trấn dứt nạn cúp điện đêm. Đèn đường sáng trở lại chiếu rộn rã trên giàn hoa giấy sum-sêu, lan vào trong sân những bóng hoa li ti. Nếu có ai hỏi tôi yêu gì nhất (dĩ nhiên là sau Yên), tôi sẽ nói tôi yêu những ngọn đèn đường. Nhẩn nha chờ hoàng hôn xuống để được xem những trụ đèn trước nhà vụt sáng, tôi gặp Yên thay mẹ tới giao thuốc. Chiều nay, chim đã bay về tổ mà tôi nghe lòng mình ríu rít, hoa chiều đã tàn mà tưởng vườn đang xuân. Chỉ vì Yên thân thiện, khác hẳn với mọi lần. - Ông đi chơi đâu, sao về trể vậy? - Không, tui ra đây để ngó đèn đường. Yên tròn mắt phượng, nói như reo: - Trời ơi! Sao ông cũng thích đèn đường, giống...tui vậy? - Tui sợ... bóng đêm lắm! - Tui khác! Tui nhớ nhà tui ở Sài Gòn. Hồi mới tới đây tui khóc hoài. Thị trấn gì mà tối mù mù, buồn căm căm. Chỉ khi đèn đường sáng lên mới làm tui đỡ cô đơn, đỡ nhớ Sài Gòn. Có lẽ tôi quê mùa lắm, ngớ ngẩn lắm trước tâm hồn đa sầu đa cảm rất thành thị của Yên. Thoáng nhìn tôi, không hiểu sao Yên lại thở dài: - Ông không biết đâu! Không ở đâu có đèn đường đẹp như Sài Gòn, tình như Sài Gòn. Phải chi tui là chim, là sáo tui sẽ lập tức bay khỏi cái huyện lỵ đìu hiu nầy liền. Vô duyên có thừa, tôi hỏi một câu không ăn nhập gì tới đề tài: - Sao lâu nay Yên...ghét tui dữ vậy? - Tui đâu có ghét ông. Tui chỉ không thích ông thôi! Ai biểu ông nhà cao cửa rộng làm gì? Tôi nghe tôi rít trong cổ họng: "Đặng Hà Yên, cô ngang như cua! Mấy đời ông nội tui, ba tui rồi anh tui hành nghề Đông y ở đây. Yên "đánh tư sản" kiểu đó thì chết tui rồi. Tui yêu Yên mà Yên!" Yên chào tôi, quay lưng, "em đi áo mỏng buông hờn tủi". Tôi nhìn theo câm nín, hờn hờn, tủi tủi mênh mông... Đang năm thi đại học mà thằng Thạnh nó xúi tôi: - Trường đang tuyển gấp thêm học sinh vào chuyên Văn lớp 12 vì có đứa mới đi ODP, mầy đi không? biết đâu...chó ngáp phải ruồi, được học chung với Yên của mầy. Thế mà tôi vác đơn đi thi thật. Tụi bạn sỉ vả tôi thậm tệ nào là "tên Việt gian", nào là "quân bán lớp", nào là vì tình bỏ bạn. Người xưa anh hùng còn khó qua ải mỹ nhân, huống gì kẻ hậu sinh tôi đây. Tôi chẳng dám có mộng văn chương thi thố với người ta. Chỉ muốn được gặp Yên mỗi ngày. Có lẽ vì bận lo học thi mà lâu rồi không thấy Yên chở mẹ tới giao thuốc. Yên không tới, đám chim sẻ và giàn bông giấy trở lại vô duyên như cũ, đèn đường vàng ngọn buồn bã. Tội nghiệp văn chương như con ruồi, bị tôi ngáp phải. Tôi đậu! Mà buồn thay, tình trường tôi rớt. Yên học chung với tôi một mạch hết lớp 12. Học một lèo tới khi thi đại học, rồi chưa tới hai phút Yên tóm tắt chuyện riêng của Yên cho tôi nghe: - Ông nè, tui... có bồ rồi! Gia đình anh Định là bạn cũ của nhà tui ở Sài Gòn. Anh Định là sinh viên khóa 13, Đại học Kinh Tế, lo cho tui lắm. Thỉnh thoảng tui kể với ảnh về ông, khoe là ông bị tui ăn hiếp hoài nhưng rất tốt với tui. Tui muốn nói cám ơn ông lâu rồi. Ông cho tui cám ơn nghe. À, quên nói cho ông biết, tui sẽ thi vô Đại học Kinh Tế.... Trời đất quỉ thần ơi! Cái thị trấn đất đỏ miền đông nầy sao bỗng dưng mưa giông ầm ầm đổ xuống đời tôi, mưa dai dẳng, mưa triền miên. Tôi đâm ra thù ghét cái Đại học Kinh Tế chết tiệt nào đó ở Sài Gòn. Thù ghét cái khoá 13 có anh sinh viên tên Định học cao hơn, cướp đi Yên của tôi. Con chim, con sáo nào đó bỏ giàn bay đi, chút xíu bay về, còn Yên chưa bay mà đã mất!.. Tôi ngó xuống giàn bông giấy, nhìn mưa tạt mù mù qua sân mà rưng rức trong lòng: "Tìm người ảo ảnh đầy tay Mắt môi từng nét chảy lai láng buồn." Thị trấn nhiều năm không có Yên bình thản trong cái buồn đất đỏ ảm đạm. Như tôi bình thản sống tiếp đời mình có vết thương tình cảm mưng mủ nhức nhối. Cái ông nhà thơ nào đó chỉ thất tình có hai tháng trong năm: "Kỷ niệm cũ còn nguyên vẹn đó Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau" chứ tôi thì mỗi một năm có tới sáu cái tháng giêng, sáu cái tháng bảy như nhau buồn trước nối buồn sau. Tôi không thi Đại học, không xuống Sài Gòn phồn hoa mà an phận cha truyền con nối trong cái cơ ngơi nồng mùi thuốc bắc của gia đình. Tôi sợ phải thấy Sài Gòn của Yên tình như Paris của Nguyên Sa "có bao nhiêu ngọn đèn xanh đèn đỏ" để anh Định hỏi "em có nhớ mỗi ngày bao nhiêu lần anh hôn em". Tội nghiệp những ngọn đèn đường thị xã. Leo lét mãi cũng mối tình tỉnh lỵ bọt bèo. Em về vui bên ấy, mốt mai sẽ nhớ gì? Hỏi tức là trả lời. Làm sao Yên nhớ nỗi. Cái thị trấn mưa nhiều hơn nắng nầy và tôi ở trong Yên nhỏ xíu, bé tí như cây kim châm. Chúng tôi rớt xuống lỗ hỗng ký ức Yên, như cây kim rớt xuống lạch nước. Mất dấu. Nên chẳng bao giờ Yên phải chạnh lòng vì nhớ tới tôi. Còn tôi, chao ôi, còn sáng sáng ngó giàn bông giấy, ngó bóng chim bay, còn đêm đêm thức cùng ngọn đèn đường làm thơ, viết văn rao bán chuyện mình. Gặp Yên đau buốt. Tôi cam lòng thấy em như con chim sẻ, con sáo sậu xổ lồng bay xa. Nhưng sáo bay đi còn để vết tìm!... HẾT Mục lục Chim Bay Còn Để Vết Tìm Chim Bay Còn Để Vết Tìm Nguyễn Thị Lộc QuyChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: VietfunĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 25 tháng 10 năm 2008
Nguyễn Thị Lộc Quy Chim Bay Còn Để Vết Tìm Chẳng biết từ lúc nào giàn bông giấy nhà tôi trở nên dễ thương như Yên vậy. Lả tả cánh hồng lắt lay trong gió, chùm cao chùm thấp bay quấn quít trên giàn. Như hình ảnh của Yên, kỷ niệm với Yên tụm năm tụm bảy trong ký ức tôi. Sáng chủ nhật mỗi tuần, Yên theo mẹ tới giao thuốc ở phòng mạch anh tôi. Cô hay tinh nghịch đưa tay với cành dâm bụt, rung mạnh để làm kinh động đám chim trên giàn bông giấy. Chim bay ào lên, hoa sà xuống, Yên xoè tay ra hứng. Trông tướng cô cũng chằn ăn nhưng ngộ nghĩnh, vui vui. Chợt ngước lên bắt gặp tôi ở góc lầu, tiểu thư hĩnh mũi thách thức rồi đi thẳng vào trong. Mười lần như một, tôi tự nhủ mình đã "trao tim lầm nữ tướng... cướp". Vậy mà đám chim sẻ kia, đối với tôi, chỉ dễ thương và giàn bông giấy chỉ dễ mến khi Yên xuất hiện. Biết Yên học chung trường, tuy cùng năm nhưng khác buổi nên chẳng mấy khi tôi được gặp Yên. Mà cho dù có gặp, Yên cũng vác cái mặt kênh kiệu đó ra mà biểu diễn với tôi. Thằng Thạnh bạn tôi bảo, gia đình Yên bị đánh tư sản chạy về thị xã. Yên giỏi Văn, được tuyển vào lớp chuyên. Nó nói con gái chuyên Văn kiểu cách khó chịu lắm, ghét dân chuyên Toán chúng tôi lắm, chê là một lũ khô-khan. Rồi nó gào lên chọc tôi: "Em chuyên Văn lớp sáng Tôi chuyên Toán lớp chiều Chưa bao lâu làm bạn Đã sập bẫy tình yêu!" Nói "làm bạn" cho oai, chứ mỗi lần tôi dợm bước định chạy xuống bắt chuyện thì Yên đã khoát tay vô cùng "Lục Vân Tiên: khoan khoan dừng đó chớ ra, ta là phận gái, chàng là phận trai!" - Ông đứng đó nói chuyện tui cũng nghe được mờ! Cứ thế mà mỗi sáng chủ nhật tôi lại buồn, lại tức anh ách. Chỉ chờ cái xe đạp mi-ni đỏ của Yên lăn bánh ngang qua giàn bông giấy hồng thì tôi lẩm nhẩm đọc thơ con cóc năn nỉ thầm: "Người ta đồn sai bét Dân học Toán khô khan Xin em đừng có ghét Tội nghiệp người khác ban". Giàn hoa giấy nở rồi tàn. Chim bay đi rồi về họp bầy. Như Yên, đến rồi đi, không thân thiện với tôi thêm chút nào. Nhưng tôi vẫn tự an ủi mình, ít ra vẫn còn nhìn thấy Yên mỗi tuần một lần, có chim, có hoa, bình an trong nắng. Hạnh phúc sao chừng như giản dị. Giản dị như chuyện dưng không tôi yêu Yên. Thị trấn dứt nạn cúp điện đêm. Đèn đường sáng trở lại chiếu rộn rã trên giàn hoa giấy sum-sêu, lan vào trong sân những bóng hoa li ti. Nếu có ai hỏi tôi yêu gì nhất (dĩ nhiên là sau Yên), tôi sẽ nói tôi yêu những ngọn đèn đường. Nhẩn nha chờ hoàng hôn xuống để được xem những trụ đèn trước nhà vụt sáng, tôi gặp Yên thay mẹ tới giao thuốc. Chiều nay, chim đã bay về tổ mà tôi nghe lòng mình ríu rít, hoa chiều đã tàn mà tưởng vườn đang xuân. Chỉ vì Yên thân thiện, khác hẳn với mọi lần. - Ông đi chơi đâu, sao về trể vậy? - Không, tui ra đây để ngó đèn đường. Yên tròn mắt phượng, nói như reo: - Trời ơi! Sao ông cũng thích đèn đường, giống...tui vậy? - Tui sợ... bóng đêm lắm! - Tui khác! Tui nhớ nhà tui ở Sài Gòn. Hồi mới tới đây tui khóc hoài. Thị trấn gì mà tối mù mù, buồn căm căm. Chỉ khi đèn đường sáng lên mới làm tui đỡ cô đơn, đỡ nhớ Sài Gòn. Có lẽ tôi quê mùa lắm, ngớ ngẩn lắm trước tâm hồn đa sầu đa cảm rất thành thị của Yên. Thoáng nhìn tôi, không hiểu sao Yên lại thở dài: - Ông không biết đâu! Không ở đâu có đèn đường đẹp như Sài Gòn, tình như Sài Gòn. Phải chi tui là chim, là sáo tui sẽ lập tức bay khỏi cái huyện lỵ đìu hiu nầy liền. Vô duyên có thừa, tôi hỏi một câu không ăn nhập gì tới đề tài: - Sao lâu nay Yên...ghét tui dữ vậy? - Tui đâu có ghét ông. Tui chỉ không thích ông thôi! Ai biểu ông nhà cao cửa rộng làm gì? Tôi nghe tôi rít trong cổ họng: "Đặng Hà Yên, cô ngang như cua! Mấy đời ông nội tui, ba tui rồi anh tui hành nghề Đông y ở đây. Yên "đánh tư sản" kiểu đó thì chết tui rồi. Tui yêu Yên mà Yên!" Yên chào tôi, quay lưng, "em đi áo mỏng buông hờn tủi". Tôi nhìn theo câm nín, hờn hờn, tủi tủi mênh mông... Đang năm thi đại học mà thằng Thạnh nó xúi tôi: - Trường đang tuyển gấp thêm học sinh vào chuyên Văn lớp 12 vì có đứa mới đi ODP, mầy đi không? biết đâu...chó ngáp phải ruồi, được học chung với Yên của mầy. Thế mà tôi vác đơn đi thi thật. Tụi bạn sỉ vả tôi thậm tệ nào là "tên Việt gian", nào là "quân bán lớp", nào là vì tình bỏ bạn. Người xưa anh hùng còn khó qua ải mỹ nhân, huống gì kẻ hậu sinh tôi đây. Tôi chẳng dám có mộng văn chương thi thố với người ta. Chỉ muốn được gặp Yên mỗi ngày. Có lẽ vì bận lo học thi mà lâu rồi không thấy Yên chở mẹ tới giao thuốc. Yên không tới, đám chim sẻ và giàn bông giấy trở lại vô duyên như cũ, đèn đường vàng ngọn buồn bã. Tội nghiệp văn chương như con ruồi, bị tôi ngáp phải. Tôi đậu! Mà buồn thay, tình trường tôi rớt. Yên học chung với tôi một mạch hết lớp 12. Học một lèo tới khi thi đại học, rồi chưa tới hai phút Yên tóm tắt chuyện riêng của Yên cho tôi nghe: - Ông nè, tui... có bồ rồi! Gia đình anh Định là bạn cũ của nhà tui ở Sài Gòn. Anh Định là sinh viên khóa 13, Đại học Kinh Tế, lo cho tui lắm. Thỉnh thoảng tui kể với ảnh về ông, khoe là ông bị tui ăn hiếp hoài nhưng rất tốt với tui. Tui muốn nói cám ơn ông lâu rồi. Ông cho tui cám ơn nghe. À, quên nói cho ông biết, tui sẽ thi vô Đại học Kinh Tế.... Trời đất quỉ thần ơi! Cái thị trấn đất đỏ miền đông nầy sao bỗng dưng mưa giông ầm ầm đổ xuống đời tôi, mưa dai dẳng, mưa triền miên. Tôi đâm ra thù ghét cái Đại học Kinh Tế chết tiệt nào đó ở Sài Gòn. Thù ghét cái khoá 13 có anh sinh viên tên Định học cao hơn, cướp đi Yên của tôi. Con chim, con sáo nào đó bỏ giàn bay đi, chút xíu bay về, còn Yên chưa bay mà đã mất!.. Tôi ngó xuống giàn bông giấy, nhìn mưa tạt mù mù qua sân mà rưng rức trong lòng: "Tìm người ảo ảnh đầy tay Mắt môi từng nét chảy lai láng buồn." Thị trấn nhiều năm không có Yên bình thản trong cái buồn đất đỏ ảm đạm. Như tôi bình thản sống tiếp đời mình có vết thương tình cảm mưng mủ nhức nhối. Cái ông nhà thơ nào đó chỉ thất tình có hai tháng trong năm: "Kỷ niệm cũ còn nguyên vẹn đó Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau" chứ tôi thì mỗi một năm có tới sáu cái tháng giêng, sáu cái tháng bảy như nhau buồn trước nối buồn sau. Tôi không thi Đại học, không xuống Sài Gòn phồn hoa mà an phận cha truyền con nối trong cái cơ ngơi nồng mùi thuốc bắc của gia đình. Tôi sợ phải thấy Sài Gòn của Yên tình như Paris của Nguyên Sa "có bao nhiêu ngọn đèn xanh đèn đỏ" để anh Định hỏi "em có nhớ mỗi ngày bao nhiêu lần anh hôn em". Tội nghiệp những ngọn đèn đường thị xã. Leo lét mãi cũng mối tình tỉnh lỵ bọt bèo. Em về vui bên ấy, mốt mai sẽ nhớ gì? Hỏi tức là trả lời. Làm sao Yên nhớ nỗi. Cái thị trấn mưa nhiều hơn nắng nầy và tôi ở trong Yên nhỏ xíu, bé tí như cây kim châm. Chúng tôi rớt xuống lỗ hỗng ký ức Yên, như cây kim rớt xuống lạch nước. Mất dấu. Nên chẳng bao giờ Yên phải chạnh lòng vì nhớ tới tôi. Còn tôi, chao ôi, còn sáng sáng ngó giàn bông giấy, ngó bóng chim bay, còn đêm đêm thức cùng ngọn đèn đường làm thơ, viết văn rao bán chuyện mình. Gặp Yên đau buốt. Tôi cam lòng thấy em như con chim sẻ, con sáo sậu xổ lồng bay xa. Nhưng sáo bay đi còn để vết tìm!... HẾT Mục lục Chim Bay Còn Để Vết Tìm Chim Bay Còn Để Vết Tìm Nguyễn Thị Lộc QuyChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: VietfunĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 25 tháng 10 năm 2008
Hoàng Thế Sinh Chim gâu đôi “Chàng gâu ra sức vươn cao cổ gù cù-cù-cù-cù-cù..., chắc là những lời tâm tình yêu thương của loài gâu, đến nỗi nàng gâu cứ nghiêng đầu, ghẹ lưng vào sườn chàng gâu vẻ sung sướng. Một lúc, chàng gâu tung cánh liệng sát xuống triền sông hoa cải, nàng gâu sau giây phút ngỡ ngàng cũng tung cánh liệng theo.” Sớm mai, Sóng vác cuốc ra đồng. Anh đi giữa miên man hoa cải vàng rực cả triền sông. Bỗng anh khựng lại, nghe trong không gian bao la, một giọng chim gâu gù gù cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... - Trời ơi! - Sóng thốt lên - Cái giọng gáy “thổ đồng” của con gâu này đốt cháy khát khao cả đời ta. Sóng buông rơi chiếc cuốc, nhón chân trần, mê mẩn đi theo những âm thanh như được nảy ra từ một khúc nhạc guitar gồm toàn những nốt mì-là-rề, nghe ấm mềm, gợi cảm và quyến rũ. Gần tới bờ tre, Sóng quỳ xuống ruộng, đưa bàn tay che nắng, nhìn mãi lên lùm cây, thấy đôi gâu đang đậu sát nhau. Chàng gâu ra sức vươn cao cổ gù cù-cù-cù-cù-cù..., chắc là những lời tâm tình yêu thương của loài gâu, đến nỗi nàng gâu cứ nghiêng đầu, ghẹ lưng vào sườn chàng gâu vẻ sung sướng. Một lúc, chàng gâu tung cánh liệng sát xuống triền sông hoa cải, nàng gâu sau giây phút ngỡ ngàng cũng tung cánh liệng theo. Rồi cả hai vút lên bầu trời, sóng đôi bay sang phía Bách Lẫm. Sóng đứng ngơ ngẩn nhìn theo, miệng lẩm bẩm: “Thế là nó dụ dỗ con bé đi sang mãi bên Phúc Ninh rồi!” Sóng đi như chạy về nhà, vừa hối hả buộc bộ lưới bẫy và lồng chim mồi vào chiếc xe đạp cũ rỉ, vừa gọi rối rít: - Cô Mơ, cô Mơ ơi! - Cái khỉ gì mà cuống lên thế? Mơ chạy ra sát bờ rào nhà Sóng, ngó sang. - Trông cái Tý hộ tôi, nhớ! - Chim mới chả...! - Mơ lườm qua hàng rào, giơ hai tay còn dính đầy bùn, giọng khó chịu - Lại mò theo cái con chim mái lẳng lơ ấy chứ gì. - Rồi tôi sẽ cho cô con gâu đực! - Sóng cố tảng lờ những câu châm chọc của Mơ. - Người ta chả thèm! Nghe thế, Sóng cũng không nói gì. Ðã nhiều lần nghe cái giọng châm chọc, hờn dỗi của Mơ, thành quen. Anh ngẩng nhìn Mơ, cười hì hì như người có lỗi, rồi chụp chiếc mũ vải lên đầu, liệng xe ra ngõ. Anh mải miết đạp xe vào cảng Hương Lý, đi tàu thủy sang Cảm Nhân, lại đạp xe, vác xe trèo đèo vòng xuống Phúc Ninh. Mùa này, những tràn ruộng bậc thang Phúc Ninh chảy tràn ra tận mép hồ nước, lúa xanh lẫn với nước xanh, rừng xanh. Những cây cọ xúm xít bên nhau, ưỡn mình xòe quạt phe phẩy gió, vẻ như đang rì rầm nhỏ to chuyện bản làng. Mấy bờ tre giăng giăng quanh dãy nhà sàn, ngọn uốn cong xuống, thỉnh thoảng lại tớn lên mỗi khi gió hồ thổi vào. Sóng dựa xe đạp vào gốc cây cọ, mắt nhìn hút lên bờ tre, nghiêng đầu lắng nghe. Chẳng thấy tiếng chim gâu gáy! Chợt, những tiếng cười giòn tan phía sau bờ tre, tiếng cười hồn nhiên trong trẻo không lẫn vào đâu được, là tiếng cười của Xoan. Sóng dò dẫm đi sát vào hàng rào tre, nhìn qua kẽ lá thấy Xoan đang cầm chiếc ống bằng nước giội lên đầu người đàn ông lưng trần, vừa giội Xoan vừa cười sung sướng. Chao ôi, Xoan của anh đấy, vẫn cái dáng thon thả, mái tóc xanh mượt, mắt đen láy với tràng mày lá liễu, đôi môi tươi thắm. Xoan trẻ trung, xinh đẹp, hồn nhiên lắm. Cô ào vào cuộc đời anh như một cơn gió, rồi lại bứt khỏi cuộc đời anh như một cơn gió, không chút gợn lòng. Xoan chê anh quá hiền lành, không biết làm giàu. Cũng bởi yêu quý làng quê, đồng đất Giới Phiên này, nên sau khi tốt nghiệp trung cấp nông nghiệp, anh không xin đi công tác mà hăm hở về quê, cày sâu cuốc bẫm. Anh vận dụng những kiến thức đã học được về nghề canh nông để cấy lúa cao sản, trồng và chăm sóc ngô Bioseed, nuôi bò lai Sind, ươm cá giống. Lại còn làm cái nghề bẫy chim ngói, chim gâu, có khi bỏ nhà cả chục ngày theo dấu một con gâu có giọng gáy mê hồn... Một nắng hai sương, cuộc sống gia đình ngày một khá giả. Thế mà, Xoan bỏ anh, bỏ lại cái Tý hơn bốn tuổi, để theo một gã đàn ông vừa thô vừa già, hơn Xoan những mười bảy tuổi. Xoan hám chiếc Suzuki mới khửng, phi như bay và vàng bạc xúng xính quanh cổ, quanh các ngón tay của gã. Mà, gã giàu thật, bởi vận may trong các cuộc đào đãi đá ruby ở Tân Hương. Rồi gã phởn lên, ăn chơi, cờ bạc... lại mất hết, lại quay về với cái bản Siêng Cò của làng Phúc Ninh nghèo nhưng bình yên, ấm hơi người. Gã trở thành con sâu rượu còm nhom, tóc râu bù xù, quanh quẩn với cái nghề thả rọ tôm ven hồ. Thế mà, Xoan vẫn cứ trẻ trung, xinh đẹp, cười giòn như không! Sóng thầm nghĩ, cái người không biết xấu hổ, không biết khổ, không biết buồn như thế thì có đáng giận, đáng thương không nhỉ? Sóng nắm chặt bàn tay, không biết đó là cành rào gai, bàn tay Sóng bật máu chảy từng giọt xuống mặt đất đỏ lịm. Ðêm, Sóng nghỉ lại nhà bạn ở cuối bản Siêng Cò, một đêm đầy mộng mị. Hôm sau, hôm sau nữa, Sóng giăng bẫy trên trảng cỏ xanh rì, ngay sát bờ tre gai, nhưng bặt bóng chim. Sóng đoán chừng đôi gâu đã dừng ở Văn Phú, làng Ðát hay Mỹ Gia? Ngày thứ tư, khi mặt trời ngự trên đỉnh núi Mèn, nắng vàng tỏa mênh mông mặt hồ Thác Bà thì Sóng nghe tiếng gù văng vẳng đằng xa: Cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... Trái tim Sóng đập rộn lên. Anh tung con chim mồi lên cành cây, còn con chim mồi ở dưới đất cứ nghển cổ Cù-cù-cù-cù-cù... Một lúc, đôi gâu như từ trên trời lao xuống, liệng mấy vòng quanh tràn ruộng bậc thang, quanh bản Siêng Cò, rồi đậu vào ngọn cây trám đầu bản. Sóng bắt đầu sốt ruột, mặc dù anh biết thế nào đôi gâu cũng xuống chỗ chim mồi. Vì tháng Ba, mùa tình yêu gâu chỉ cặp đôi, gâu trống sẽ ghen với các chàng gâu si tình có vẻ như định phá đám. Phải một lúc lâu nữa, đôi gâu vọt khỏi ngọn cây trám, liệng sà quanh chỗ con chim mồi, ý chừng xem mặt đối thủ dám xâm chiếm lãnh địa, định phá đám cuộc chơi của mình. Sóng nín thở, cố nép mình trong lùm cành lá mong móng, đợi... Và, rụp! Sóng giật giây, hai cánh lưới úp xuống. Nhưng một con đã kịp vẫy cánh vọt khỏi vòng khép của hai cánh lưới ma quỷ. Sóng nhào lại, lẩy bẩy gỡ con gâu cho vào lồng, xong, mắt cứ đăm đắm nhìn theo bóng con gâu thoát nạn, đơn côi bay tít lên trời xanh. NẮNG rực lên. Sóng vật chiếc xe đạp xuống giữa sân, đưa cánh tay áo lau mồ hôi đang lã chã hai bên hàm bạnh xám nắng, rồi uể oải treo lồng chim lên cành cây hồng. Mơ dắt cái Tý chạy từ trong bếp ra, hỏi giễu: - Chắc không gặp cái con mái lẳng lơ nên mới về nhanh thế, hử? - Tôi gặp may thì có! - Sóng tránh cái nhìn thẳng mặt của Mơ. - Xem nào... Mơ vén mấy cành lá che chiếc lồng chim. Mắt cô sáng lên khi nhìn thấy con gâu to, mầu lông xám nâu, mượt mà. Ðột nhiên một con gâu từ đâu nhao xuống. Nó có vẻ cuống, cứ bay nhoáng nhoàng quanh nóc nhà, có lúc sát sạt chiếc lồng có con gâu vừa bắt về. Bỗng con gâu trong lồng cất tiếng cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... từng chập, cái giọng gáy “thổ đồng” ấm mềm, gợi cảm và quyến rũ khiến Mơ lặng người. Như tỉnh giấc mơ, chợt hiểu ra cái điều sâu thẳm từ tiếng gáy của con gâu đực bị nhốt trong lồng kia, Mơ cầm tay Sóng, bảo: - Anh thả con gâu ra! - Tôi đã hứa cho cô! Sóng đứng ì ra đấy, đưa tay vò vò mái tóc rậm, vẻ khó xử. Cái Tý cứ quấn lấy chân bố, miệng bi bô. Không đợi Sóng, Mơ tự ý mở cửa lồng, con gâu bay vụt ra, nhào theo con gâu mái. Ðôi gâu liệng qua liệng lại mấy vòng như có ý cảm ơn người giải cứu, rồi bay vào lùm tre ngoài ngõ. Sóng nhìn theo đôi gâu, nói buông: - Tối nay cô Mơ sang đây ngủ với cái Tý, nhá? - Nỡm... Chẳng nhận lời, cũng không ra từ chối, Mơ ôm cái Tý vào trong nhà. Hai cô cháu ngả xuống chiếc võng. Ngoài giếng, Sóng vừa kéo gầu nước giội lên đầu, thoảng nghe lời ru: “À ơi, Ba đồng một mớ trầu cau, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không, Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu...” Ô, Sóng ngạc nhiên nghĩ, cái cô Mơ không xinh đẹp như Xoan mà sao có giọng hát ru ngọt ngào, êm ái đến thế, lại tốt nết nữa chứ. Thế mà (lại thế mà), tay Thỏa bỏ cô ấy đi theo gái vào tận Ðác Lắc sống với nhau. Cuộc đời này sao hạnh phúc hiếm hoi làm vậy. Ðể rồi xem, chim sẽ xổ lồng có ngày... Sóng giội nước ào ào như cáu giận chính mình. Lúc lâu, không nghe thấy tiếng hát ru nữa. Sóng vén mành bước vào nhà. Anh giật thót người, trái tim bỗng đập lồng lên. Trước mắt anh là Mơ ôm cái Tý nằm ngủ ngon lành... Sóng nhón chân đi ra, thầm nói trong lòng: “Con bé thèm mẹ quá rồi!” Sóng bước xuống sân. Trưa tròn bóng. Từ trong lùm tre lao xao ngoài ngõ, tiếng con gâu đực gáy cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... nghe thật nao lòng. Ôi, loài chim khi có đôi, sao nó hạnh phúc thế! Sóng nghĩ, trong giấc ngủ của Mơ thế nào cũng có giọng “thổ đồng” cù-cù-cù-cù-cù... của con gâu đực nơi đồng đất Giới Phiên tươi tốt. Mục lục Chim gâu đôi Chim gâu đôi Hoàng Thế SinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Sao Bang Nguồn: Báo Nhân DânĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 7 năm 2006
Hoàng Thế Sinh Chim gâu đôi “Chàng gâu ra sức vươn cao cổ gù cù-cù-cù-cù-cù..., chắc là những lời tâm tình yêu thương của loài gâu, đến nỗi nàng gâu cứ nghiêng đầu, ghẹ lưng vào sườn chàng gâu vẻ sung sướng. Một lúc, chàng gâu tung cánh liệng sát xuống triền sông hoa cải, nàng gâu sau giây phút ngỡ ngàng cũng tung cánh liệng theo.” Sớm mai, Sóng vác cuốc ra đồng. Anh đi giữa miên man hoa cải vàng rực cả triền sông. Bỗng anh khựng lại, nghe trong không gian bao la, một giọng chim gâu gù gù cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... - Trời ơi! - Sóng thốt lên - Cái giọng gáy “thổ đồng” của con gâu này đốt cháy khát khao cả đời ta. Sóng buông rơi chiếc cuốc, nhón chân trần, mê mẩn đi theo những âm thanh như được nảy ra từ một khúc nhạc guitar gồm toàn những nốt mì-là-rề, nghe ấm mềm, gợi cảm và quyến rũ. Gần tới bờ tre, Sóng quỳ xuống ruộng, đưa bàn tay che nắng, nhìn mãi lên lùm cây, thấy đôi gâu đang đậu sát nhau. Chàng gâu ra sức vươn cao cổ gù cù-cù-cù-cù-cù..., chắc là những lời tâm tình yêu thương của loài gâu, đến nỗi nàng gâu cứ nghiêng đầu, ghẹ lưng vào sườn chàng gâu vẻ sung sướng. Một lúc, chàng gâu tung cánh liệng sát xuống triền sông hoa cải, nàng gâu sau giây phút ngỡ ngàng cũng tung cánh liệng theo. Rồi cả hai vút lên bầu trời, sóng đôi bay sang phía Bách Lẫm. Sóng đứng ngơ ngẩn nhìn theo, miệng lẩm bẩm: “Thế là nó dụ dỗ con bé đi sang mãi bên Phúc Ninh rồi!” Sóng đi như chạy về nhà, vừa hối hả buộc bộ lưới bẫy và lồng chim mồi vào chiếc xe đạp cũ rỉ, vừa gọi rối rít: - Cô Mơ, cô Mơ ơi! - Cái khỉ gì mà cuống lên thế? Mơ chạy ra sát bờ rào nhà Sóng, ngó sang. - Trông cái Tý hộ tôi, nhớ! - Chim mới chả...! - Mơ lườm qua hàng rào, giơ hai tay còn dính đầy bùn, giọng khó chịu - Lại mò theo cái con chim mái lẳng lơ ấy chứ gì. - Rồi tôi sẽ cho cô con gâu đực! - Sóng cố tảng lờ những câu châm chọc của Mơ. - Người ta chả thèm! Nghe thế, Sóng cũng không nói gì. Ðã nhiều lần nghe cái giọng châm chọc, hờn dỗi của Mơ, thành quen. Anh ngẩng nhìn Mơ, cười hì hì như người có lỗi, rồi chụp chiếc mũ vải lên đầu, liệng xe ra ngõ. Anh mải miết đạp xe vào cảng Hương Lý, đi tàu thủy sang Cảm Nhân, lại đạp xe, vác xe trèo đèo vòng xuống Phúc Ninh. Mùa này, những tràn ruộng bậc thang Phúc Ninh chảy tràn ra tận mép hồ nước, lúa xanh lẫn với nước xanh, rừng xanh. Những cây cọ xúm xít bên nhau, ưỡn mình xòe quạt phe phẩy gió, vẻ như đang rì rầm nhỏ to chuyện bản làng. Mấy bờ tre giăng giăng quanh dãy nhà sàn, ngọn uốn cong xuống, thỉnh thoảng lại tớn lên mỗi khi gió hồ thổi vào. Sóng dựa xe đạp vào gốc cây cọ, mắt nhìn hút lên bờ tre, nghiêng đầu lắng nghe. Chẳng thấy tiếng chim gâu gáy! Chợt, những tiếng cười giòn tan phía sau bờ tre, tiếng cười hồn nhiên trong trẻo không lẫn vào đâu được, là tiếng cười của Xoan. Sóng dò dẫm đi sát vào hàng rào tre, nhìn qua kẽ lá thấy Xoan đang cầm chiếc ống bằng nước giội lên đầu người đàn ông lưng trần, vừa giội Xoan vừa cười sung sướng. Chao ôi, Xoan của anh đấy, vẫn cái dáng thon thả, mái tóc xanh mượt, mắt đen láy với tràng mày lá liễu, đôi môi tươi thắm. Xoan trẻ trung, xinh đẹp, hồn nhiên lắm. Cô ào vào cuộc đời anh như một cơn gió, rồi lại bứt khỏi cuộc đời anh như một cơn gió, không chút gợn lòng. Xoan chê anh quá hiền lành, không biết làm giàu. Cũng bởi yêu quý làng quê, đồng đất Giới Phiên này, nên sau khi tốt nghiệp trung cấp nông nghiệp, anh không xin đi công tác mà hăm hở về quê, cày sâu cuốc bẫm. Anh vận dụng những kiến thức đã học được về nghề canh nông để cấy lúa cao sản, trồng và chăm sóc ngô Bioseed, nuôi bò lai Sind, ươm cá giống. Lại còn làm cái nghề bẫy chim ngói, chim gâu, có khi bỏ nhà cả chục ngày theo dấu một con gâu có giọng gáy mê hồn... Một nắng hai sương, cuộc sống gia đình ngày một khá giả. Thế mà, Xoan bỏ anh, bỏ lại cái Tý hơn bốn tuổi, để theo một gã đàn ông vừa thô vừa già, hơn Xoan những mười bảy tuổi. Xoan hám chiếc Suzuki mới khửng, phi như bay và vàng bạc xúng xính quanh cổ, quanh các ngón tay của gã. Mà, gã giàu thật, bởi vận may trong các cuộc đào đãi đá ruby ở Tân Hương. Rồi gã phởn lên, ăn chơi, cờ bạc... lại mất hết, lại quay về với cái bản Siêng Cò của làng Phúc Ninh nghèo nhưng bình yên, ấm hơi người. Gã trở thành con sâu rượu còm nhom, tóc râu bù xù, quanh quẩn với cái nghề thả rọ tôm ven hồ. Thế mà, Xoan vẫn cứ trẻ trung, xinh đẹp, cười giòn như không! Sóng thầm nghĩ, cái người không biết xấu hổ, không biết khổ, không biết buồn như thế thì có đáng giận, đáng thương không nhỉ? Sóng nắm chặt bàn tay, không biết đó là cành rào gai, bàn tay Sóng bật máu chảy từng giọt xuống mặt đất đỏ lịm. Ðêm, Sóng nghỉ lại nhà bạn ở cuối bản Siêng Cò, một đêm đầy mộng mị. Hôm sau, hôm sau nữa, Sóng giăng bẫy trên trảng cỏ xanh rì, ngay sát bờ tre gai, nhưng bặt bóng chim. Sóng đoán chừng đôi gâu đã dừng ở Văn Phú, làng Ðát hay Mỹ Gia? Ngày thứ tư, khi mặt trời ngự trên đỉnh núi Mèn, nắng vàng tỏa mênh mông mặt hồ Thác Bà thì Sóng nghe tiếng gù văng vẳng đằng xa: Cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... Trái tim Sóng đập rộn lên. Anh tung con chim mồi lên cành cây, còn con chim mồi ở dưới đất cứ nghển cổ Cù-cù-cù-cù-cù... Một lúc, đôi gâu như từ trên trời lao xuống, liệng mấy vòng quanh tràn ruộng bậc thang, quanh bản Siêng Cò, rồi đậu vào ngọn cây trám đầu bản. Sóng bắt đầu sốt ruột, mặc dù anh biết thế nào đôi gâu cũng xuống chỗ chim mồi. Vì tháng Ba, mùa tình yêu gâu chỉ cặp đôi, gâu trống sẽ ghen với các chàng gâu si tình có vẻ như định phá đám. Phải một lúc lâu nữa, đôi gâu vọt khỏi ngọn cây trám, liệng sà quanh chỗ con chim mồi, ý chừng xem mặt đối thủ dám xâm chiếm lãnh địa, định phá đám cuộc chơi của mình. Sóng nín thở, cố nép mình trong lùm cành lá mong móng, đợi... Và, rụp! Sóng giật giây, hai cánh lưới úp xuống. Nhưng một con đã kịp vẫy cánh vọt khỏi vòng khép của hai cánh lưới ma quỷ. Sóng nhào lại, lẩy bẩy gỡ con gâu cho vào lồng, xong, mắt cứ đăm đắm nhìn theo bóng con gâu thoát nạn, đơn côi bay tít lên trời xanh. NẮNG rực lên. Sóng vật chiếc xe đạp xuống giữa sân, đưa cánh tay áo lau mồ hôi đang lã chã hai bên hàm bạnh xám nắng, rồi uể oải treo lồng chim lên cành cây hồng. Mơ dắt cái Tý chạy từ trong bếp ra, hỏi giễu: - Chắc không gặp cái con mái lẳng lơ nên mới về nhanh thế, hử? - Tôi gặp may thì có! - Sóng tránh cái nhìn thẳng mặt của Mơ. - Xem nào... Mơ vén mấy cành lá che chiếc lồng chim. Mắt cô sáng lên khi nhìn thấy con gâu to, mầu lông xám nâu, mượt mà. Ðột nhiên một con gâu từ đâu nhao xuống. Nó có vẻ cuống, cứ bay nhoáng nhoàng quanh nóc nhà, có lúc sát sạt chiếc lồng có con gâu vừa bắt về. Bỗng con gâu trong lồng cất tiếng cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... từng chập, cái giọng gáy “thổ đồng” ấm mềm, gợi cảm và quyến rũ khiến Mơ lặng người. Như tỉnh giấc mơ, chợt hiểu ra cái điều sâu thẳm từ tiếng gáy của con gâu đực bị nhốt trong lồng kia, Mơ cầm tay Sóng, bảo: - Anh thả con gâu ra! - Tôi đã hứa cho cô! Sóng đứng ì ra đấy, đưa tay vò vò mái tóc rậm, vẻ khó xử. Cái Tý cứ quấn lấy chân bố, miệng bi bô. Không đợi Sóng, Mơ tự ý mở cửa lồng, con gâu bay vụt ra, nhào theo con gâu mái. Ðôi gâu liệng qua liệng lại mấy vòng như có ý cảm ơn người giải cứu, rồi bay vào lùm tre ngoài ngõ. Sóng nhìn theo đôi gâu, nói buông: - Tối nay cô Mơ sang đây ngủ với cái Tý, nhá? - Nỡm... Chẳng nhận lời, cũng không ra từ chối, Mơ ôm cái Tý vào trong nhà. Hai cô cháu ngả xuống chiếc võng. Ngoài giếng, Sóng vừa kéo gầu nước giội lên đầu, thoảng nghe lời ru: “À ơi, Ba đồng một mớ trầu cau, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không, Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu...” Ô, Sóng ngạc nhiên nghĩ, cái cô Mơ không xinh đẹp như Xoan mà sao có giọng hát ru ngọt ngào, êm ái đến thế, lại tốt nết nữa chứ. Thế mà (lại thế mà), tay Thỏa bỏ cô ấy đi theo gái vào tận Ðác Lắc sống với nhau. Cuộc đời này sao hạnh phúc hiếm hoi làm vậy. Ðể rồi xem, chim sẽ xổ lồng có ngày... Sóng giội nước ào ào như cáu giận chính mình. Lúc lâu, không nghe thấy tiếng hát ru nữa. Sóng vén mành bước vào nhà. Anh giật thót người, trái tim bỗng đập lồng lên. Trước mắt anh là Mơ ôm cái Tý nằm ngủ ngon lành... Sóng nhón chân đi ra, thầm nói trong lòng: “Con bé thèm mẹ quá rồi!” Sóng bước xuống sân. Trưa tròn bóng. Từ trong lùm tre lao xao ngoài ngõ, tiếng con gâu đực gáy cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... nghe thật nao lòng. Ôi, loài chim khi có đôi, sao nó hạnh phúc thế! Sóng nghĩ, trong giấc ngủ của Mơ thế nào cũng có giọng “thổ đồng” cù-cù-cù-cù-cù... của con gâu đực nơi đồng đất Giới Phiên tươi tốt. Mục lục Chim gâu đôi Chim gâu đôi Hoàng Thế SinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Sao Bang Nguồn: Báo Nhân DânĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 7 tháng 7 năm 2006
Doãn Toàn Sinh Chim Hỉ Thước Dịch giả: Đức Hiếu Chim hỉ thước được coi như một biểu tượng cao quý, khi đã từ bỏ "tư cách" vốn có cũng là tự hoà tan vào bầy gia cầm và không còn tự quyết định được mọi sinh tử vinh nhục của nó. Bằng thủ pháp ngụ ngôn như một đặc điểm thưòng thấy ở các nhà văn Trung Quốc, Doãn Toàn Sinh với một giọng kể chuyện đơn giản và thản nhiên, như muốn khẳng định một kết cục tất yếu của những con người tự đánh mất mình. Mùa xuân, vợ tôi nhặt được ở ngoài cửa một con chim hỉ thước 1 còn non, mỏ màu vàng, bị một vết đạn súng săn bắn. Chim hỉ thước là biểu tượng may mắn giữa bầu trời xanh mây trắng, là thiên sứ đem niềm vui đến cho mọi nhà! Tôi đã chữa trị vết thương, bắt những con côn trùng cho nó ăn, khi mùa hè đến thì nó đã trở thành một con chim hỉ thước lớn, vết thương đã lành lặn. Tôi sợ nó sẽ bay đi mất nên liền cắt những chiếc lông trên cánh của nó. Tôi nuôi nó trong vườn nhà. Cả nhà tôi rất vui khi có được con chim hỉ thước này. Mỗi sớm tinh mơ, bị đánh thức bởi tiếng kêu cha cha..., mở mắt ra nhìn thấy nó đứng trên lan can cửa sổ, cả nhà tôi như được tràn ngập trong ánh sáng buổi bình minh rực rỡ chứa đầy những điều tốt đẹp. Nhiều người yêu thích con chim hỉ thước này, ngay cả những thói xấu của nó. Khi nó ăn, nó thường ăn lấy ăn để vài hạt ban đầu, rồi sau đó vội vàng cắp những thức ăn còn lại đem giấu vào dưới khe tường hay dùng những chiếc lá cây để đậy lên. Tôi không ngạc nhiên vì đã đọc sách nói về loài chim này có đặc tính biết cất giấu thức ăn, để tránh mùa đông không bị chết đói. Nhưng vẫn thấy buồn cười về cách "lo xa" của con chim này, đang được nuôi trong môi trường như thế mà vẫn còn lo bị bỏ đói ư? Ban đêm thì nó cứ nhất định phải ngủ trên cái cây nhỏ trong vườn, gió mưa cũng thế. Nếu đưa nó vào hộp thì nó quậy phá, nhảy nhót lung tung, làm náo loạn cả lên. Có một đêm, tôi nghe thấy tiếng nó kêu gào đập cánh ầm ĩ, vội cầm đèn pin chạy ra vườn thì thấy nó đang sống chết quần nhau với con mèo già nhà hàng xóm. Tôi phát hiện ra nó bị mấy vết thương nhẹ, người hàng xóm nói con mèo nhà họ đã bị mổ mù mất một mắt! Lo sợ sau này con mèo già đó sẽ lại đến báo thù, nên ban đêm tôi đem nó nhốt vào một cái hộp gỗ dưới chái nhà, chiếc hộp gỗ chỉ có một lỗ duy nhất để nó có thể chui vào; đêm đến tôi dùng một thanh gỗ chặn lỗ lại. Những đêm đầu, nó phá phách không chịu nhưng qua vài đêm nó quen dần, sau này tôi không chặn thanh gỗ, nó cũng không bay ra ngoài. Nó quen dần với người, yêu quý chủ. Mỗi khi tôi chuẩn bị đi làm, nó liền bay bổ nhào đến, mổ vào giày như muốn giữ tôi ở lại; khi tôi gỡ móng chân nó ra, trong đôi mắt đen nhỏ như hạt đỗ xanh ánh lên sự bất lực và buồn tủi. Lúc tôi đi làm về, vừa mở cửa ra, nó liền bay ào đến quắp lấy chân tôi, như làm nũng, kêu lên những tiếng như giận hờn. Nhưng kỳ thực nó vẫn còn cái tính "hoang dã" vốn có. Lông cánh của nó đã bị cắt đi, vết thương vẫn chưa hoàn toàn lành hẳn, nhưng đã nhiều lần cố ý bay ra ngoài; khi không bay ra được, nó đứng đờ đẫn ngoài sân, lặng im nhìn khoảng trời bao la. Những lúc như thế, cho gì nó cũng không ăn. Tôi đoán nó đang nhớ về vùng hoang dã, nhớ không gian, nhớ đồng loại của nó. Tôi dự định đến cuối thu, đợi khi nó mọc lông cánh mới, vết thương liền lại, tôi sẽ thả nó bay đi. Như vậy thì trong thời gian chờ đợi này cần phải làm gì để cho nó bớt cô độc đây? Tôi liền mua mấy con gà con nuôi trong vườn để làm bạn với nó. Ban đầu nó ghét lũ gà con; nếu lũ gà mà tiến lại gần, nó liền giận giữ xông vào đánh tới tấp. Nhưng nó quen dần với lũ gà và còn trở nên thân thiết nữa, khi lũ gà con ăn, nó cũng đi theo nhặt thóc, lũ gà phơi nắng nó cũng bay theo, thậm chí nó còn cắp cả những đồ ăn để dành trước đó đem đến trước lũ gà con, giống như nịnh bợ... Nó không chỉ biến đổi có vậy, rất nhiều thói quen và bản tính nó cũng dần dần biến đổi. Nó không còn rình rình bay ra ngoài nữa, cũng không còn đứng lặng nhìn trời xanh, sáng sớm nó cũng không bay lên lan can cửa sổ để hót nữa. Buổi sớm nếu tôi không xua thì nó cứ ngủ lì trong hộp. Khi tôi đi làm, nó cũng chẳng còn lưu luyến như lúc ban đầu nữa. Nó như đã hoà lẫn vào với đám gà con, dường như rất bằng lòng, rất mãn nguyện. Và cũng có lúc, nó còn đánh nhau loạn xạ với lũ gà con để tranh vài hạt thóc. Cứ như thế, tôi dần cảm thấy nó không còn làm cho người ta thích thú, yêu mến nó nữa và càng không dám tham vọng nó sẽ mang lại cho tôi sự may mắn nào nữa. Trời đã vào cuối đông, vết thương của nó đã hoàn toàn lành lặn, đôi cánh cũng mọc đủ lớp lông mới, có thể bay ra khỏi khu vườn nhưng nó lại không bay; hoặc nếu có bay thì cũng chỉ bay vòng quanh chiếc sân nhỏ, như là để khoe khoang với lũ gà. Ôi, cái con vật nhỏ bé này lại lưu luyến với nhà tôi ư? Nhưng tôi lại cho rằng nó nên bay đi. Một hôm, tôi đem nó ra ngoài vườn, tung cao nó lên khoảng không; nó hoảng hốt kêu lên, bay chấp chới hai vòng, rồi cuối cùng lại đậu xuống sân! Nếu thực lòng không muốn bay đi thì cũng được, tôi vẫn cứ nuôi nó. Vào một sớm mùa đông, sau khi thức dậy như thường lệ, tôi lại đến hộp gỗ để lùa nó ra, nhưng chiếc hộp trống không! Nó bay đi rồi ư? Cuối cùng thì ra nó cũng là loài chim hoang dã không quen nuôi (!). Nhưng... không phải, nó vẫn nằm trong ổ của lũ gà! Có lẽ vì đêm đến nó bay vào để trú rét chăng? Nhưng mà tổ của chim hỉ thước vẫn thường làm trên cành cây cao nơi gió mưa vần vũ cơ mà! Người ta vẫn nói sông núi có thể dời, bản tính khó cải, nhưng nó mới ở nhà tôi chưa đến một năm... Sắp hết năm cũ. Vợ tôi nói: Khi thịt gà, sẽ giết luôn cả con chim hỉ thước, làm một món luôn thể. Tôi giật mình, nhưng lại không ngăn dự định của vợ. Suy từ góc độ của con chim hỉ thước mà nói, trong thời gian chúng tôi chăm sóc, nuôi dưỡng nó, tự nó đã nguyện tâm nguyện ý từ bỏ "tư cách cao quý" vốn có của loài chim hỉ thước, đồng thời cũng trao gửi vào tay chúng tôi quyền nắm giữ sinh tử vinh nhục của nó. Từ góc độ "thiên lý nhân tình" mà nói, nó đã bị cải hoá làm mất đi cái giá trị và vai trò cao quý nhất của bản thân, nó hoà tan vào bầy gia cầm, mà gia cầm thì bị làm thịt đã là lẽ thường tình rồi. Còn vợ tôi cho rằng, chúng tôi đã có nghĩa vụ nuôi dưỡng nó thì có quyền tuỳ ý xử lý nó, từ trước đến nay đó là chuyện đương nhiên rồi. Nếu thế, tôi còn có lý gì mà can ngăn đây? 1_chim hỉ thước còn có tên là chim khách, được coi như loài chim mang lại may mắn, niềm vui cho con người. Tương truyền rằng đêm 7 tháng 7 (thất tịch) có bầy chim hỉ thước bắc cầu cho Chức Nữ qua sông gặp Ngưu LangHết Mục lục Chim Hỉ Thước Chim Hỉ Thước Doãn Toàn SinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: MS đưa lên vào ngày: 13 tháng 1 năm 2004
Doãn Toàn Sinh Chim Hỉ Thước Dịch giả: Đức Hiếu Chim hỉ thước được coi như một biểu tượng cao quý, khi đã từ bỏ "tư cách" vốn có cũng là tự hoà tan vào bầy gia cầm và không còn tự quyết định được mọi sinh tử vinh nhục của nó. Bằng thủ pháp ngụ ngôn như một đặc điểm thưòng thấy ở các nhà văn Trung Quốc, Doãn Toàn Sinh với một giọng kể chuyện đơn giản và thản nhiên, như muốn khẳng định một kết cục tất yếu của những con người tự đánh mất mình. Mùa xuân, vợ tôi nhặt được ở ngoài cửa một con chim hỉ thước 1 còn non, mỏ màu vàng, bị một vết đạn súng săn bắn. Chim hỉ thước là biểu tượng may mắn giữa bầu trời xanh mây trắng, là thiên sứ đem niềm vui đến cho mọi nhà! Tôi đã chữa trị vết thương, bắt những con côn trùng cho nó ăn, khi mùa hè đến thì nó đã trở thành một con chim hỉ thước lớn, vết thương đã lành lặn. Tôi sợ nó sẽ bay đi mất nên liền cắt những chiếc lông trên cánh của nó. Tôi nuôi nó trong vườn nhà. Cả nhà tôi rất vui khi có được con chim hỉ thước này. Mỗi sớm tinh mơ, bị đánh thức bởi tiếng kêu cha cha..., mở mắt ra nhìn thấy nó đứng trên lan can cửa sổ, cả nhà tôi như được tràn ngập trong ánh sáng buổi bình minh rực rỡ chứa đầy những điều tốt đẹp. Nhiều người yêu thích con chim hỉ thước này, ngay cả những thói xấu của nó. Khi nó ăn, nó thường ăn lấy ăn để vài hạt ban đầu, rồi sau đó vội vàng cắp những thức ăn còn lại đem giấu vào dưới khe tường hay dùng những chiếc lá cây để đậy lên. Tôi không ngạc nhiên vì đã đọc sách nói về loài chim này có đặc tính biết cất giấu thức ăn, để tránh mùa đông không bị chết đói. Nhưng vẫn thấy buồn cười về cách "lo xa" của con chim này, đang được nuôi trong môi trường như thế mà vẫn còn lo bị bỏ đói ư? Ban đêm thì nó cứ nhất định phải ngủ trên cái cây nhỏ trong vườn, gió mưa cũng thế. Nếu đưa nó vào hộp thì nó quậy phá, nhảy nhót lung tung, làm náo loạn cả lên. Có một đêm, tôi nghe thấy tiếng nó kêu gào đập cánh ầm ĩ, vội cầm đèn pin chạy ra vườn thì thấy nó đang sống chết quần nhau với con mèo già nhà hàng xóm. Tôi phát hiện ra nó bị mấy vết thương nhẹ, người hàng xóm nói con mèo nhà họ đã bị mổ mù mất một mắt! Lo sợ sau này con mèo già đó sẽ lại đến báo thù, nên ban đêm tôi đem nó nhốt vào một cái hộp gỗ dưới chái nhà, chiếc hộp gỗ chỉ có một lỗ duy nhất để nó có thể chui vào; đêm đến tôi dùng một thanh gỗ chặn lỗ lại. Những đêm đầu, nó phá phách không chịu nhưng qua vài đêm nó quen dần, sau này tôi không chặn thanh gỗ, nó cũng không bay ra ngoài. Nó quen dần với người, yêu quý chủ. Mỗi khi tôi chuẩn bị đi làm, nó liền bay bổ nhào đến, mổ vào giày như muốn giữ tôi ở lại; khi tôi gỡ móng chân nó ra, trong đôi mắt đen nhỏ như hạt đỗ xanh ánh lên sự bất lực và buồn tủi. Lúc tôi đi làm về, vừa mở cửa ra, nó liền bay ào đến quắp lấy chân tôi, như làm nũng, kêu lên những tiếng như giận hờn. Nhưng kỳ thực nó vẫn còn cái tính "hoang dã" vốn có. Lông cánh của nó đã bị cắt đi, vết thương vẫn chưa hoàn toàn lành hẳn, nhưng đã nhiều lần cố ý bay ra ngoài; khi không bay ra được, nó đứng đờ đẫn ngoài sân, lặng im nhìn khoảng trời bao la. Những lúc như thế, cho gì nó cũng không ăn. Tôi đoán nó đang nhớ về vùng hoang dã, nhớ không gian, nhớ đồng loại của nó. Tôi dự định đến cuối thu, đợi khi nó mọc lông cánh mới, vết thương liền lại, tôi sẽ thả nó bay đi. Như vậy thì trong thời gian chờ đợi này cần phải làm gì để cho nó bớt cô độc đây? Tôi liền mua mấy con gà con nuôi trong vườn để làm bạn với nó. Ban đầu nó ghét lũ gà con; nếu lũ gà mà tiến lại gần, nó liền giận giữ xông vào đánh tới tấp. Nhưng nó quen dần với lũ gà và còn trở nên thân thiết nữa, khi lũ gà con ăn, nó cũng đi theo nhặt thóc, lũ gà phơi nắng nó cũng bay theo, thậm chí nó còn cắp cả những đồ ăn để dành trước đó đem đến trước lũ gà con, giống như nịnh bợ... Nó không chỉ biến đổi có vậy, rất nhiều thói quen và bản tính nó cũng dần dần biến đổi. Nó không còn rình rình bay ra ngoài nữa, cũng không còn đứng lặng nhìn trời xanh, sáng sớm nó cũng không bay lên lan can cửa sổ để hót nữa. Buổi sớm nếu tôi không xua thì nó cứ ngủ lì trong hộp. Khi tôi đi làm, nó cũng chẳng còn lưu luyến như lúc ban đầu nữa. Nó như đã hoà lẫn vào với đám gà con, dường như rất bằng lòng, rất mãn nguyện. Và cũng có lúc, nó còn đánh nhau loạn xạ với lũ gà con để tranh vài hạt thóc. Cứ như thế, tôi dần cảm thấy nó không còn làm cho người ta thích thú, yêu mến nó nữa và càng không dám tham vọng nó sẽ mang lại cho tôi sự may mắn nào nữa. Trời đã vào cuối đông, vết thương của nó đã hoàn toàn lành lặn, đôi cánh cũng mọc đủ lớp lông mới, có thể bay ra khỏi khu vườn nhưng nó lại không bay; hoặc nếu có bay thì cũng chỉ bay vòng quanh chiếc sân nhỏ, như là để khoe khoang với lũ gà. Ôi, cái con vật nhỏ bé này lại lưu luyến với nhà tôi ư? Nhưng tôi lại cho rằng nó nên bay đi. Một hôm, tôi đem nó ra ngoài vườn, tung cao nó lên khoảng không; nó hoảng hốt kêu lên, bay chấp chới hai vòng, rồi cuối cùng lại đậu xuống sân! Nếu thực lòng không muốn bay đi thì cũng được, tôi vẫn cứ nuôi nó. Vào một sớm mùa đông, sau khi thức dậy như thường lệ, tôi lại đến hộp gỗ để lùa nó ra, nhưng chiếc hộp trống không! Nó bay đi rồi ư? Cuối cùng thì ra nó cũng là loài chim hoang dã không quen nuôi (!). Nhưng... không phải, nó vẫn nằm trong ổ của lũ gà! Có lẽ vì đêm đến nó bay vào để trú rét chăng? Nhưng mà tổ của chim hỉ thước vẫn thường làm trên cành cây cao nơi gió mưa vần vũ cơ mà! Người ta vẫn nói sông núi có thể dời, bản tính khó cải, nhưng nó mới ở nhà tôi chưa đến một năm... Sắp hết năm cũ. Vợ tôi nói: Khi thịt gà, sẽ giết luôn cả con chim hỉ thước, làm một món luôn thể. Tôi giật mình, nhưng lại không ngăn dự định của vợ. Suy từ góc độ của con chim hỉ thước mà nói, trong thời gian chúng tôi chăm sóc, nuôi dưỡng nó, tự nó đã nguyện tâm nguyện ý từ bỏ "tư cách cao quý" vốn có của loài chim hỉ thước, đồng thời cũng trao gửi vào tay chúng tôi quyền nắm giữ sinh tử vinh nhục của nó. Từ góc độ "thiên lý nhân tình" mà nói, nó đã bị cải hoá làm mất đi cái giá trị và vai trò cao quý nhất của bản thân, nó hoà tan vào bầy gia cầm, mà gia cầm thì bị làm thịt đã là lẽ thường tình rồi. Còn vợ tôi cho rằng, chúng tôi đã có nghĩa vụ nuôi dưỡng nó thì có quyền tuỳ ý xử lý nó, từ trước đến nay đó là chuyện đương nhiên rồi. Nếu thế, tôi còn có lý gì mà can ngăn đây? 1_chim hỉ thước còn có tên là chim khách, được coi như loài chim mang lại may mắn, niềm vui cho con người. Tương truyền rằng đêm 7 tháng 7 (thất tịch) có bầy chim hỉ thước bắc cầu cho Chức Nữ qua sông gặp Ngưu LangHết Mục lục Chim Hỉ Thước Chim Hỉ Thước Doãn Toàn SinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: MS đưa lên vào ngày: 13 tháng 1 năm 2004
Vũ Tú Nam Chim Trời Ông tự thấy mình bay trên không một cách dễ dàng. Chỉ khẽ đập đôi chân và nhẹ vẫy đôi tay là ông đã từ tít đỉnh núi cao lượn xuống một thung lũng rộng lớn, xanh mát cỏ cây... ông thoả thuê tận hưởng bằng tất cả các giác quan của mình sự tĩnh lặng êm ái của khoảng đất thênh thang. Bỗng nhiên ông chao xuống một đường hầm, bay len lách qua những hàng những hố, những căn phòng nằm la liệt những xác chết không tay không chân, không đầu và nồng nặc mùi tử thi. Ông hoảng hốt tìm lối thoát. Toàn đụng những ngách cụt. Cuối cùng, ông vọt lên được qua một cái lỗ lớn thông lên trời xanh.Rồi chính ông hóa thành một khối vật chất hình chóp nón, im lặng lừ lừ tiến vào không gian vô tận. Ông cảm thấy rõ ràng mình - cái khối hình chóp nhọn ấy là một thể xốp, có thể thẩm thấu và xuyên qua các vật cản. Ý thức được điều đó, ông đã thử đi qua những vật thể sừng sững như trái núi hết sức nhẹ nhàng. Ông lặng lờ trôi trong vũ trụ đen đặc, trống rỗng, không xa lạ cũng chẳng thân quen. Ông nhìn thấy những hình cầu mầu tím hoa cà, ở giữa có khoảng trống tròn, những hình cầu di động, nhảy múa như những tế bào sống.Bỗng nhiên một tiếng chim hót vang lên. ông chợt tỉnh. Vợ ông nằm nghiêng, vẫn ngủ, một cánh tay tin cậy của bà đặt trên ngực ông. Sáng rồi, thì ra con khướu đánh thức mình.Ông rón rén ra khỏi giường, nương nhẹ giấc ngủ của bà. Ông âu yếm nhìn vợ thầm cám ơn bốn chục năm cùng chia sẻ cay đắng ngọt bùi, bà đã vất vả bao nhiêu trong công tác, chăm sóc con cháu và lo cho sức khoẻ của ông. Đã ba năm nay thần kinh của ông có gì đó trục trặc, bất cứ khi nào cũng có thể nghe thấy tiếng i i như giun kêu bên tai, và hay gặp những giấc mơ dữ.Ông ra hiên nhìn con khướu trong lồng. Nó mừng rỡ thấy ông, nhảy lên nhảy xuống, chờ đợi ông cho con dế hoặc con cào cào. Con khướu thật chăm hót. Đó là món quà con trai ông đã mua biếu ông. Vậy mà ông chẳng giữ được nó ở bên mình.Hôm ấy, đã sẩm tối, trên đường công tác miền núi về, con trai ông đèo theo cái lồng nhỏ nhốt con cu gáy và một lồng lớn với con khướu này. Nó mua sẵn cả thóc và bột cá để bố tiện nuôi chim. Nó nói: - Bố làm việc căng quá. Cần phải thư giãn, bố ạ. Con sẽ kiếm cho bố ít giò phong lan và xây ngay cho bố một hòn non bộ. Trời nóng này, bố cho khướu tắm mỗi ngày một lần đấy nhé, bạn con dặn thế.Từ đó, ông đã được hưởng những giây phút êm ái nghe tiếng cu gù, ngôi nhà chật hẹp của ông như biến thành một vùng đồi trung du tít tắp.Và con khướu nữa, nó vui vẻ hót sớm hót chiều, những khi ông rảnh rỗi. Ông chăm cho chim cu ăn thóc. Hết thóc ông cho ăn gạo. Cào cào châu chấu, chỉ chủ nhật hai đứa cháu nội ngoại về chơi mới đi bắt được ít con cải thiện cho con khướu mà thôi. Rồi bỗng nhiên những mối đe dọa đã tới. Con cu tự dưng bỏ ăn, hai mắt sưng phồng, xù lông đứng lừ đừ một góc. Con trai ông đến thăm, buồn bã nói: - Bố ạ, con hỏi bạn con rồi. Cu gáy bị bệnh đậu, khó chữa lắm.Ông sợ phải thấy cảnh con chim gáy chết, bảo con trai: - Con mang chim về nhờ bạn con chữa xem sao, bố thương nó quá.Bốn hôm sau, ông được tin con cu gáy chết rồi.Thế là chỉ còn lại một mình con khướu. Trời nắng dữ, hắt tây. Con khướu há mỏ mệt nhọc, uống nhiều nước. Ông không thực hiện được công việc cho khướu tắm mỗi ngày một lần.Rồi con mèo mướp hoang qua qua, lại lại ngó lên lồng khướu. Con khướu hoảng hốt cuống quít, muốn xổ lồng tìm lối thoát. Nghe tiếng đập cánh và tiếng kêu chì chọt của khướu, ông chạy ra đuổi mèo. Con mướp vút đi như một vệt xám hoang dã, biểu tượng của sự thèm khát truyền kiếp của tổ tiên mèo rừng đối với chim rừng. Ông phải treo khướu lên cao hơn.Thế nhưng khướu cứ hót thưa dần. Rồi một hôm ông sững sờ thấy khướu không hót nữa, ông đổ thêm gạo vào. Nó không ăn, ông xúc bột cá vào, nó không thèm đụng mỏ. Ông thay nước uống cho nó, nó vục đầu tớp một hơi, nhưng đôi cánh cứ rã ra.Sớm ấy, ông tỉnh dậy không thấy tiếng khướu hót. Ông bối rối chạy ra hiên. Con khướu thân yêu của ông một chân quắp chặt cành đậu trong lồng, cả mình chim rũ xuống như bị trúng đạn. Ông lật đật tìm cách cứu khướu. Xách cái lồng xuống gần vòi nước, ông hứng một chậu nước đầy. Ông thò tay vào lồng gỡ chim ra. Nó vẫn thở và mình còn ấm. Ông đặt nó đứng ngâm chân trong nước. Nó không thể tự tắm được nữa. Nó đổ gục xuống. Ông ấp nó trong hai bàn tay, hà hơi cho nó, lấy dầu khuynh diệp xoa lên mũi nó, rồi đặt nó đậu trên cành. Con chim tội nghiệp run rẩy, cố giữ thăng bằng, cuối cùng vẫn rũ xuống không sao gượng dậy được.Ông lại nâng chim trong lòng tay ông. Sớm ấy đã sang thu. Trời trong muốt. Những sợi dây mây lưa thưa bay cao, con khướu mở mắt, há mỏ, những sợi lông mép đen ngắn nhọn của mỏ nó có vẻ gì man dại. Nó nhìn ông, rồi nhìn lên trời. Bỗng nhiên nó giãy đạp trong bàn tay ông, tiếng hót trong lành ngày nào lúc này chỉ còn là một nắm lông và xương xẩu. Nó giãy chết. Nó vươn cổ há mỏ thốt lên những tiếng khản đặc xé lòng, những tiếng kêu bản năng gọi về rừng già và bầy đàn của nó.Ông không thể quên được ánh mắt của con khướu lúc ấy. Mắt nó mở tròn, đỏ mầu hổ phách, nhìn ông rồi nhìn trời cao, như giận dữ như tiếc nuối. Nó giận ông. Nó thù ông. Ông mua sự thư giãn mà lại không chịu khó, không biết nuôi nó đúng cách. Nó chết là do lỗi tại ông.Con khướu chết không nhắm mắt, những ngón chân quắp lại như cố bám lấy sự sống.Với tâm trạng rối bời, ông đào cái huyệt bên khóm hoa hồng. Nâng con khướu trên tay, ông lẩm bẩm: - Khướu hãy tha lỗi cho ta. Khướu sẽ hóa kiếp vào những bông hoa hồng này, để ta được thấy nhau mãi mãi. Ông tự thấy mình hơi lẩm cẩm, nhưng ông nghĩ thực lòng. Ông chôn con khướu chu đáo, đặt lên một viên gạch, phòng xa mèo có thể đào lên.Chủ nhật ấy con trai ông đến. Thấy cái lồng không. Nó ngạc nhiên hỏi:- Khướu bay mất hả bố?Ông trả lời như kẻ phạm tội:- Nó chết rồi. Tại bố sơ ý treo nó ở nơi nắng quá, lại không chăm cho nó tắm. Nhìn bố, lặng đi một lát, anh con trai nói:- Thôi được, để con đưa con khướu của con về cho bố nuôi, nó vẫn hót hay lắm. Nó cùng một đôi với con của bố, bạn con mua giúp đấy.Ông từ chối, nói sẽ không bao giờ nuôi chim nữa.Mấy hôm sau con trai ông đến bảo: - Bố ạ, con khướu của con không biết vì sao cũng lì ra không hót, chỉ nhảy lên nhảy xuống thôi.Ông khuyên con nên thả nó ra. Trước sau rồi nó sẽ chết, tội nghiệp. Nghe lời ông, con trai ông vốn rất bận công việc đã phóng sinh con khướu. Con khướu được tự do, bay vút lên đậu trên ngọn cây cao như để lấy sức một lát, rồi lao vút đi.Từ đó, hầu như ông đã quên con khướu của mình. Để thư giãn, sớm và chiều sau giờ làm việc căng thẳng, ông lo tưới tắm cho cây cảnh, phong lan, đều là những thứ con trai ông lo sắm cho ông. Đền đáp lại sự chăm sóc của ông, phong lan vòi rồng đã trổ mấy giỏ bồng bềnh những chùm hoa mỏng manh tươi nõn mầu vàng tinh khiết. Ông thực sự cảm thấy hạnh phúc.Một buổi sớm, không tin ở tai mình, ông nghe thấy tiếng khướu hót ở vườn xoan trước mặt. Ông nhè nhẹ bước ra hiên. Kìa, đúng là một con khướu đang rỉa lông trên cành xoan. Nó bay lên bay xuống, hót ríu ran. Ông nín thở đứng nhìn.Con khướu sà xuống bức tường vườn nhà ông, đậu lên cây si trên bể non bộ. Rõ ràng là một con khướu bằng xương bằng thịt.Con khướu nhà ai bị xổ lồng chăng? Hay con khướu của con trai vẫn sống - vượt qua được bệnh tật và mọi sự rình rập tìm đến đây để kiếm bạn của mình? Tim ông đập đổ hồi.Con khướu im lặng nhảy xuống khóm hồng, bay là trên hòn gạch bên mồ bạn nó.Ông bỗng thấy gai người. Có phải bạn của khướu không, hay chính hồn của khướu đã hiện về để gặp lại ta. Hãy tha lỗi cho ta, hãy tha lỗi cho ta. Ông khấn thầm trong bụng.Con khướu đứng im trên thành non bộ một lát, rồi lặng lẽ bay chuyền lên bờ tường, mất hút trong vườn xoan. Thật là kỳ lạ, từ đó đến nay ông không còn gặp những cơn mơ dữ và những giấc mộng ông bay vật vờ giữa vũ trụ khôn cùng. Mục lục Chim Trời Chim Trời Vũ Tú NamChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Nhân DânĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 5 năm 2005
Vũ Tú Nam Chim Trời Ông tự thấy mình bay trên không một cách dễ dàng. Chỉ khẽ đập đôi chân và nhẹ vẫy đôi tay là ông đã từ tít đỉnh núi cao lượn xuống một thung lũng rộng lớn, xanh mát cỏ cây... ông thoả thuê tận hưởng bằng tất cả các giác quan của mình sự tĩnh lặng êm ái của khoảng đất thênh thang. Bỗng nhiên ông chao xuống một đường hầm, bay len lách qua những hàng những hố, những căn phòng nằm la liệt những xác chết không tay không chân, không đầu và nồng nặc mùi tử thi. Ông hoảng hốt tìm lối thoát. Toàn đụng những ngách cụt. Cuối cùng, ông vọt lên được qua một cái lỗ lớn thông lên trời xanh.Rồi chính ông hóa thành một khối vật chất hình chóp nón, im lặng lừ lừ tiến vào không gian vô tận. Ông cảm thấy rõ ràng mình - cái khối hình chóp nhọn ấy là một thể xốp, có thể thẩm thấu và xuyên qua các vật cản. Ý thức được điều đó, ông đã thử đi qua những vật thể sừng sững như trái núi hết sức nhẹ nhàng. Ông lặng lờ trôi trong vũ trụ đen đặc, trống rỗng, không xa lạ cũng chẳng thân quen. Ông nhìn thấy những hình cầu mầu tím hoa cà, ở giữa có khoảng trống tròn, những hình cầu di động, nhảy múa như những tế bào sống.Bỗng nhiên một tiếng chim hót vang lên. ông chợt tỉnh. Vợ ông nằm nghiêng, vẫn ngủ, một cánh tay tin cậy của bà đặt trên ngực ông. Sáng rồi, thì ra con khướu đánh thức mình.Ông rón rén ra khỏi giường, nương nhẹ giấc ngủ của bà. Ông âu yếm nhìn vợ thầm cám ơn bốn chục năm cùng chia sẻ cay đắng ngọt bùi, bà đã vất vả bao nhiêu trong công tác, chăm sóc con cháu và lo cho sức khoẻ của ông. Đã ba năm nay thần kinh của ông có gì đó trục trặc, bất cứ khi nào cũng có thể nghe thấy tiếng i i như giun kêu bên tai, và hay gặp những giấc mơ dữ.Ông ra hiên nhìn con khướu trong lồng. Nó mừng rỡ thấy ông, nhảy lên nhảy xuống, chờ đợi ông cho con dế hoặc con cào cào. Con khướu thật chăm hót. Đó là món quà con trai ông đã mua biếu ông. Vậy mà ông chẳng giữ được nó ở bên mình.Hôm ấy, đã sẩm tối, trên đường công tác miền núi về, con trai ông đèo theo cái lồng nhỏ nhốt con cu gáy và một lồng lớn với con khướu này. Nó mua sẵn cả thóc và bột cá để bố tiện nuôi chim. Nó nói: - Bố làm việc căng quá. Cần phải thư giãn, bố ạ. Con sẽ kiếm cho bố ít giò phong lan và xây ngay cho bố một hòn non bộ. Trời nóng này, bố cho khướu tắm mỗi ngày một lần đấy nhé, bạn con dặn thế.Từ đó, ông đã được hưởng những giây phút êm ái nghe tiếng cu gù, ngôi nhà chật hẹp của ông như biến thành một vùng đồi trung du tít tắp.Và con khướu nữa, nó vui vẻ hót sớm hót chiều, những khi ông rảnh rỗi. Ông chăm cho chim cu ăn thóc. Hết thóc ông cho ăn gạo. Cào cào châu chấu, chỉ chủ nhật hai đứa cháu nội ngoại về chơi mới đi bắt được ít con cải thiện cho con khướu mà thôi. Rồi bỗng nhiên những mối đe dọa đã tới. Con cu tự dưng bỏ ăn, hai mắt sưng phồng, xù lông đứng lừ đừ một góc. Con trai ông đến thăm, buồn bã nói: - Bố ạ, con hỏi bạn con rồi. Cu gáy bị bệnh đậu, khó chữa lắm.Ông sợ phải thấy cảnh con chim gáy chết, bảo con trai: - Con mang chim về nhờ bạn con chữa xem sao, bố thương nó quá.Bốn hôm sau, ông được tin con cu gáy chết rồi.Thế là chỉ còn lại một mình con khướu. Trời nắng dữ, hắt tây. Con khướu há mỏ mệt nhọc, uống nhiều nước. Ông không thực hiện được công việc cho khướu tắm mỗi ngày một lần.Rồi con mèo mướp hoang qua qua, lại lại ngó lên lồng khướu. Con khướu hoảng hốt cuống quít, muốn xổ lồng tìm lối thoát. Nghe tiếng đập cánh và tiếng kêu chì chọt của khướu, ông chạy ra đuổi mèo. Con mướp vút đi như một vệt xám hoang dã, biểu tượng của sự thèm khát truyền kiếp của tổ tiên mèo rừng đối với chim rừng. Ông phải treo khướu lên cao hơn.Thế nhưng khướu cứ hót thưa dần. Rồi một hôm ông sững sờ thấy khướu không hót nữa, ông đổ thêm gạo vào. Nó không ăn, ông xúc bột cá vào, nó không thèm đụng mỏ. Ông thay nước uống cho nó, nó vục đầu tớp một hơi, nhưng đôi cánh cứ rã ra.Sớm ấy, ông tỉnh dậy không thấy tiếng khướu hót. Ông bối rối chạy ra hiên. Con khướu thân yêu của ông một chân quắp chặt cành đậu trong lồng, cả mình chim rũ xuống như bị trúng đạn. Ông lật đật tìm cách cứu khướu. Xách cái lồng xuống gần vòi nước, ông hứng một chậu nước đầy. Ông thò tay vào lồng gỡ chim ra. Nó vẫn thở và mình còn ấm. Ông đặt nó đứng ngâm chân trong nước. Nó không thể tự tắm được nữa. Nó đổ gục xuống. Ông ấp nó trong hai bàn tay, hà hơi cho nó, lấy dầu khuynh diệp xoa lên mũi nó, rồi đặt nó đậu trên cành. Con chim tội nghiệp run rẩy, cố giữ thăng bằng, cuối cùng vẫn rũ xuống không sao gượng dậy được.Ông lại nâng chim trong lòng tay ông. Sớm ấy đã sang thu. Trời trong muốt. Những sợi dây mây lưa thưa bay cao, con khướu mở mắt, há mỏ, những sợi lông mép đen ngắn nhọn của mỏ nó có vẻ gì man dại. Nó nhìn ông, rồi nhìn lên trời. Bỗng nhiên nó giãy đạp trong bàn tay ông, tiếng hót trong lành ngày nào lúc này chỉ còn là một nắm lông và xương xẩu. Nó giãy chết. Nó vươn cổ há mỏ thốt lên những tiếng khản đặc xé lòng, những tiếng kêu bản năng gọi về rừng già và bầy đàn của nó.Ông không thể quên được ánh mắt của con khướu lúc ấy. Mắt nó mở tròn, đỏ mầu hổ phách, nhìn ông rồi nhìn trời cao, như giận dữ như tiếc nuối. Nó giận ông. Nó thù ông. Ông mua sự thư giãn mà lại không chịu khó, không biết nuôi nó đúng cách. Nó chết là do lỗi tại ông.Con khướu chết không nhắm mắt, những ngón chân quắp lại như cố bám lấy sự sống.Với tâm trạng rối bời, ông đào cái huyệt bên khóm hoa hồng. Nâng con khướu trên tay, ông lẩm bẩm: - Khướu hãy tha lỗi cho ta. Khướu sẽ hóa kiếp vào những bông hoa hồng này, để ta được thấy nhau mãi mãi. Ông tự thấy mình hơi lẩm cẩm, nhưng ông nghĩ thực lòng. Ông chôn con khướu chu đáo, đặt lên một viên gạch, phòng xa mèo có thể đào lên.Chủ nhật ấy con trai ông đến. Thấy cái lồng không. Nó ngạc nhiên hỏi:- Khướu bay mất hả bố?Ông trả lời như kẻ phạm tội:- Nó chết rồi. Tại bố sơ ý treo nó ở nơi nắng quá, lại không chăm cho nó tắm. Nhìn bố, lặng đi một lát, anh con trai nói:- Thôi được, để con đưa con khướu của con về cho bố nuôi, nó vẫn hót hay lắm. Nó cùng một đôi với con của bố, bạn con mua giúp đấy.Ông từ chối, nói sẽ không bao giờ nuôi chim nữa.Mấy hôm sau con trai ông đến bảo: - Bố ạ, con khướu của con không biết vì sao cũng lì ra không hót, chỉ nhảy lên nhảy xuống thôi.Ông khuyên con nên thả nó ra. Trước sau rồi nó sẽ chết, tội nghiệp. Nghe lời ông, con trai ông vốn rất bận công việc đã phóng sinh con khướu. Con khướu được tự do, bay vút lên đậu trên ngọn cây cao như để lấy sức một lát, rồi lao vút đi.Từ đó, hầu như ông đã quên con khướu của mình. Để thư giãn, sớm và chiều sau giờ làm việc căng thẳng, ông lo tưới tắm cho cây cảnh, phong lan, đều là những thứ con trai ông lo sắm cho ông. Đền đáp lại sự chăm sóc của ông, phong lan vòi rồng đã trổ mấy giỏ bồng bềnh những chùm hoa mỏng manh tươi nõn mầu vàng tinh khiết. Ông thực sự cảm thấy hạnh phúc.Một buổi sớm, không tin ở tai mình, ông nghe thấy tiếng khướu hót ở vườn xoan trước mặt. Ông nhè nhẹ bước ra hiên. Kìa, đúng là một con khướu đang rỉa lông trên cành xoan. Nó bay lên bay xuống, hót ríu ran. Ông nín thở đứng nhìn.Con khướu sà xuống bức tường vườn nhà ông, đậu lên cây si trên bể non bộ. Rõ ràng là một con khướu bằng xương bằng thịt.Con khướu nhà ai bị xổ lồng chăng? Hay con khướu của con trai vẫn sống - vượt qua được bệnh tật và mọi sự rình rập tìm đến đây để kiếm bạn của mình? Tim ông đập đổ hồi.Con khướu im lặng nhảy xuống khóm hồng, bay là trên hòn gạch bên mồ bạn nó.Ông bỗng thấy gai người. Có phải bạn của khướu không, hay chính hồn của khướu đã hiện về để gặp lại ta. Hãy tha lỗi cho ta, hãy tha lỗi cho ta. Ông khấn thầm trong bụng.Con khướu đứng im trên thành non bộ một lát, rồi lặng lẽ bay chuyền lên bờ tường, mất hút trong vườn xoan. Thật là kỳ lạ, từ đó đến nay ông không còn gặp những cơn mơ dữ và những giấc mộng ông bay vật vờ giữa vũ trụ khôn cùng. Mục lục Chim Trời Chim Trời Vũ Tú NamChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Nhân DânĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 8 tháng 5 năm 2005
Nguyễn Tấn Phong Chim Vịt Kêu Chiều “Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau” (Ca dao) Gió thổi dịu êm. Nắng vàng loang loáng. Hàng đế mọc bên kia bờ sông nghiêng đầu xào xạc. Chiều quê đìu hiu… Tôi buộc dây xuồng vào cây cọc trê cắm cạnh đầu cầu rồi bước lên bờ ngồi tựa lưng vào thân mù u kề Thắm. Hai đứa cùng hướng xuống dòng sông. Con nước chiều đang lớn. - Anh bơi xuồng cũng giỏi quá! - Thắm quay sang nhìn tôi khẽ nói. - Em không ngờ phải không? - Ừ… a! Tôi bật cười và chợt nhớ đến vẻ mặt của thầy Quang dạy môn Giải phẫu học của khoa. Mỗi lần đồng ý với sinh viên điều gì thầy chỉ gật đầu “ừa” một tiếng ngắn ngủi làm cho cả lớp cười rần. Giờ đây nhìn cái miệng hay giận dỗi của Thắm chúm chím cố bắt chước chữ “ừa” của thầy sao thấy thương ghê! Em lại nhìn tôi phụng phịu: - Giống hông? - Giống! - Giống ai? - Giống anh! Mắt Thắm cụp xuống đẩy sang tôi một cái nguýt dài ngoẳng kế đến là cái nhéo vào vai đau điếng: - Quỷ yêu! - Quỷ mà được yêu cũng sướng! – Tôi nhìn em giễu cợt. - Hổng dám đâu! Thắm xoay lưng vè phía tôi. Tôi biết đó là dấu hiệu ngầm bảo rằng “nghỉ chơi luôn. Ðừng hòng năn nỉ” mà em thường đem ra dọa tôi mỗi khi thua cuộc. Tôi khẽ liếc nhìn em: Em đang mải mê theo dõi con chuồn chuồn ớt lúc bay lúc đậu một cách thích thú dường như không chú ý đến sự hiện diện của tôi ở bên cạnh. Kệ, để vậy luôn coi ai làm lành trước. Con gái mau giận mau quên mà! Thả lòng mình mênh mang theo con nước. Tôi ngồi suy nghĩ vẩn vơ… Cứ cách hai ba tuần Thắm từ nhà trọ lại vào ký túc xá rủ tôi về đây chơi. Tôi đèo em trên chiếc xe đạp cà tàng cót két xuôi vê Cái Răng – Vùng ngoại ô quê ngoại Thắm. Thời gian vẫn chậm chạp trôi trong sự yên lặng của hai đứa. Con nước lớn đã lên mấp mé đầu cầu. Mấy dề lục bình ngẩn ngơ trôi lang thang như bầy gà con lạc mẹ. Chắc hồi trưa này những người đi xúc lục bình đã tách chúng ra khỏi đám. Nắng vàng mỗi lúc một nhợt nhạt hơn. Có tiếng chim kêu trong chiều khắc khoải. Thắm qua sang bê khều tôi (Em làm lành rồi đó): - Ðố anh con gì kêu? Tôi cười: - Con chim vịt chứ gì. Thắm tròn mắt: - Anh cũng biết nó nữa ư? Tôi gật đầu: - Nó có màu lông hơi sậm. Mỏ giống tựa mỏ vịt. Ðúng không? Thắm nhìn tôi thán phục - Ðúng rồi! Anh tài thật. Tôi trầm ngâm lặng lẽ trước lời khen của Thắm. Nỗi buồn từ đâu nhẹ đến len lén đi vào tim tôi – đau nhói. Thắm nào hiểu được! Tôi cũng có một vùng quê để thương để nhớ giống như em. Nơi ấy cũng có dòng sông bên bồi bên lở. Cũng có con chim vịt kêu trong chiều hoang vắng… Ôi tiếng con chim vịt. Một thời tôi ghét đắng ghét cay sao giờ đây nghe bồi hồi… … Căn nhà lá nghèo nằm giữa đồng không hiu quạnh. Người mẹ bị liệt hai chân không đi đâu được. Người cha ngày ngày dầm dãi nắng mưa chăn vịt trên đồng. Út Lượm là đứa con duy nhất trong gia đình ấy. Cái tên Lượm mà cha mẹ đặt cho nó khiến bọn trẻ trong xóm thường xuyên chọc ghẹo: - Hồi đó má mày “lụm” mày ở đống “gác” đó. Nên bây giờ mày có tên là “Lụm”. Ê, lêu lêu. Mắc cỡ! Út Lượm bặm môi nhìn bọn trẻ. Cuối cùng chịu không nổi nó chạy về nhà: - Má ơi, bộ hồi đó má “lụm” con ở đống “gác” hả? Bà mẹ cười: - Ðâu có. Con là do ba má đẻ ra chứ lượm hồi nào. Út Lượm vẫn chưa tin. - Sao tụi nó nói… - Tại con ở dơ nên tụi nó mới chọc đó! Trưa hôm đó Út Lượm lấy xơ dừa ngồi kỳ cọ hàng giờ. Rồi nó ăn mặc sạch sẽ đi tìm bọn trẻ dõng dạc tuyên bố? - Má “tau” nói: “Tau là con của má “tau” do má “tau” đẻ ra chứ không “lụm” ở đống “gác” nào hết! Bọn trẻ nhìn nó ngạc nhiên rồi khúc khích cười. Chúng rủ nhau lấy tay thấm nước miếng quẹt lên mặt Lượm. Út Lượm thấy ghê ghê cứ lấy nước chùi chỗ ấy mãi. Nhưng nó chưa chùi sạch chỗ này thì bọn trẻ tinh quái lại quẹt sang chỗ khác. Cuối cùng Út Lượm chỉ còn biết giận dỗi bỏ chạy về nhà sà vào lòng mẹ mếu máo. - Tụi nó chọc con. Người mẹ ôm con xoa đầu dỗ dành: - Nín đi con đừng khóc. Con má sạch sẽ “mơi” mốt lớn lên sẽ làm bác sĩ cho coi. Út Lượm mở to mắt nhìn mẹ: - Làm bác sĩ là sao má? - Ờ… ờ là người ta bị bệnh con chích một mũi thuốc là hết liền. Nghe mẹ nói Út Lượm khoái lắm. Nó chạy đi khắp xóm khoe với bọn trẻ: - Nữa lớn lên “tau” làm bác sĩ. Ðứa nào bệnh “tau” chích một mũi thuốc là hết liền. Bọn trẻ xì xầm với nhau rồi từ đó gọi nó là: “bác sĩ Lụm”. Út Lượm không biết bọn trẻ gọi như thế là giễu cợt hay thán phục nhưng nó thấy “oai lắm”. Lớn lên một chút ngoài thời gian đi học Út Lượm còn giúp cha chăn vịt. Có một buổi chiều khi lùa vịt về Út Lượm đếm thấy thiếu mất mấy con. Nó lặn lội đi tìm. Giữa đồng xanh vắng lặng. Út Lượm lắng tai nghe có tiếng vịt kêu xa xa. Nó nhắm hướng lội tới vậy mà gọi khan cổ, tìm mỏi cả mắt vẫn không thấy con vịt nào. Trời chạng vạng. Út Lượm sợ ma nó trở về nhà khóc mò. Bà mẹ lại an ủi: - Thôi con ạ, bỏ đi. Chắc là bị lươn “gúc” mất “gồi”! Út Lượm ấm ức cãi lại: - Lươn đâu có “gúc”. Con nghe tiếng chúng “kiêu” mà tìm hoài không có gặp? - Chắc là con nghe lầm tiếng vịt “gồi”. Út Lượm chưng hửng! Hôm sau chăn vịt, Út Lượm ngồi rình hàng giờ mới tìm thấy con chim lạ đó. Té ra con chim vịt chỉ có bằng nắm tay không có vẻ gì hung ác cả. Út Lượm chỉ ghét tiếng kêu của nó mà thôi. Cứ vậy Út Lượm lớn lên giữa vùng sông nước thân yêu. Những sáng đến trường, những chiều ra ruộng, những trưa chơi với trên đọt bần canh vịt, cái mộng bác sĩ vẫn đeo đuổi nó hoài. Nhưng rồi kỳ thi đại học đến, Út Lượm thi rớt. Hôm nhận được kết quả nó ra bờ ruộng ngồi một mình buồn bã: Hóa ra thi đại học khó hơn tìm vịt lạc gấp mấy lần! Bà mẹ thương con: - Thôi con à. Thi “gớt” thì thi lại. Mấy có ai thi đều đậu cả đâu? Ba má sẽ cho con lên Cần Thơ luyện thi. Út Lượm tần ngần nhìn là da sạm nắng của cha. Nó chẳng muốn đi. Mắt nó chợt nhìn xuống đôi chân của mẹ. Không, nó phải làm bác sĩ mới được… - Bộ còn giận hả? - Tiếng Thắm vang lên bên tai kéo tôi trở về thực tại. - Ðâu có! - Chớ anh làm gì buồn so vậy? - À, anh đang nghĩ về… con chim vịt! - Nó có gì đâu mà anh phải nghĩ? - Thắm ngúng nguẩy giận dỗi. Tôi lảng tránh cái nhìn của em: - Thôi mình vào xin phép ngoại về “ngoài” đi. Trời sắp tối rồi đó. Thắm lẳng lặng gật đầu. Quảy giỏ đệm đầy trái cây trên vai, tôi cùng em rảo bước trên con đường quê chạy dọc theo sông ra lộ. Con nước lớn đã khựng lại không còn trôi nữa. Mấy dề lục bình lơ ngơ đứng ở giữa dòng. Bên kia sông đồng lúa trải dài xanh ngút mắt. Sương đã buôn thành một lớp màn mờ xa xa. Tiếng chim vịt đâu đó vẫn khắc khoải vang lên nghe thương – nghe nhớ - nghe buồn. Tuổi thơ của tôi đã trôi êm như dòng sông này vậy. Mẹ tôi đã mất rồi! Mất khi tôi chưa kịp thành bác sĩ – Chưa kịp chữa trị cho đôi chân mẹ đi lại bình thường… - Vịt… vịt… vịt…! Vịt… vịt… vịt…! Con chim vịt vẫn vô tình kêu từng tràng não ruột. Mắt tôi tự dưng cảm thấy cay sè. Tôi bùi ngùi nắm lấy tay Thắm như muốn nói cùng em. - Thắm ơi, chỉ có những người không còn mẹ như anh mới hiểu được tiếng chim vịt kêu chiều… Nguyễn Tấn Phong Mục lục Chim Vịt Kêu Chiều Chim Vịt Kêu Chiều Nguyễn Tấn PhongChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời áo trắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Nguyễn Tấn Phong Chim Vịt Kêu Chiều “Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau” (Ca dao) Gió thổi dịu êm. Nắng vàng loang loáng. Hàng đế mọc bên kia bờ sông nghiêng đầu xào xạc. Chiều quê đìu hiu… Tôi buộc dây xuồng vào cây cọc trê cắm cạnh đầu cầu rồi bước lên bờ ngồi tựa lưng vào thân mù u kề Thắm. Hai đứa cùng hướng xuống dòng sông. Con nước chiều đang lớn. - Anh bơi xuồng cũng giỏi quá! - Thắm quay sang nhìn tôi khẽ nói. - Em không ngờ phải không? - Ừ… a! Tôi bật cười và chợt nhớ đến vẻ mặt của thầy Quang dạy môn Giải phẫu học của khoa. Mỗi lần đồng ý với sinh viên điều gì thầy chỉ gật đầu “ừa” một tiếng ngắn ngủi làm cho cả lớp cười rần. Giờ đây nhìn cái miệng hay giận dỗi của Thắm chúm chím cố bắt chước chữ “ừa” của thầy sao thấy thương ghê! Em lại nhìn tôi phụng phịu: - Giống hông? - Giống! - Giống ai? - Giống anh! Mắt Thắm cụp xuống đẩy sang tôi một cái nguýt dài ngoẳng kế đến là cái nhéo vào vai đau điếng: - Quỷ yêu! - Quỷ mà được yêu cũng sướng! – Tôi nhìn em giễu cợt. - Hổng dám đâu! Thắm xoay lưng vè phía tôi. Tôi biết đó là dấu hiệu ngầm bảo rằng “nghỉ chơi luôn. Ðừng hòng năn nỉ” mà em thường đem ra dọa tôi mỗi khi thua cuộc. Tôi khẽ liếc nhìn em: Em đang mải mê theo dõi con chuồn chuồn ớt lúc bay lúc đậu một cách thích thú dường như không chú ý đến sự hiện diện của tôi ở bên cạnh. Kệ, để vậy luôn coi ai làm lành trước. Con gái mau giận mau quên mà! Thả lòng mình mênh mang theo con nước. Tôi ngồi suy nghĩ vẩn vơ… Cứ cách hai ba tuần Thắm từ nhà trọ lại vào ký túc xá rủ tôi về đây chơi. Tôi đèo em trên chiếc xe đạp cà tàng cót két xuôi vê Cái Răng – Vùng ngoại ô quê ngoại Thắm. Thời gian vẫn chậm chạp trôi trong sự yên lặng của hai đứa. Con nước lớn đã lên mấp mé đầu cầu. Mấy dề lục bình ngẩn ngơ trôi lang thang như bầy gà con lạc mẹ. Chắc hồi trưa này những người đi xúc lục bình đã tách chúng ra khỏi đám. Nắng vàng mỗi lúc một nhợt nhạt hơn. Có tiếng chim kêu trong chiều khắc khoải. Thắm qua sang bê khều tôi (Em làm lành rồi đó): - Ðố anh con gì kêu? Tôi cười: - Con chim vịt chứ gì. Thắm tròn mắt: - Anh cũng biết nó nữa ư? Tôi gật đầu: - Nó có màu lông hơi sậm. Mỏ giống tựa mỏ vịt. Ðúng không? Thắm nhìn tôi thán phục - Ðúng rồi! Anh tài thật. Tôi trầm ngâm lặng lẽ trước lời khen của Thắm. Nỗi buồn từ đâu nhẹ đến len lén đi vào tim tôi – đau nhói. Thắm nào hiểu được! Tôi cũng có một vùng quê để thương để nhớ giống như em. Nơi ấy cũng có dòng sông bên bồi bên lở. Cũng có con chim vịt kêu trong chiều hoang vắng… Ôi tiếng con chim vịt. Một thời tôi ghét đắng ghét cay sao giờ đây nghe bồi hồi… … Căn nhà lá nghèo nằm giữa đồng không hiu quạnh. Người mẹ bị liệt hai chân không đi đâu được. Người cha ngày ngày dầm dãi nắng mưa chăn vịt trên đồng. Út Lượm là đứa con duy nhất trong gia đình ấy. Cái tên Lượm mà cha mẹ đặt cho nó khiến bọn trẻ trong xóm thường xuyên chọc ghẹo: - Hồi đó má mày “lụm” mày ở đống “gác” đó. Nên bây giờ mày có tên là “Lụm”. Ê, lêu lêu. Mắc cỡ! Út Lượm bặm môi nhìn bọn trẻ. Cuối cùng chịu không nổi nó chạy về nhà: - Má ơi, bộ hồi đó má “lụm” con ở đống “gác” hả? Bà mẹ cười: - Ðâu có. Con là do ba má đẻ ra chứ lượm hồi nào. Út Lượm vẫn chưa tin. - Sao tụi nó nói… - Tại con ở dơ nên tụi nó mới chọc đó! Trưa hôm đó Út Lượm lấy xơ dừa ngồi kỳ cọ hàng giờ. Rồi nó ăn mặc sạch sẽ đi tìm bọn trẻ dõng dạc tuyên bố? - Má “tau” nói: “Tau là con của má “tau” do má “tau” đẻ ra chứ không “lụm” ở đống “gác” nào hết! Bọn trẻ nhìn nó ngạc nhiên rồi khúc khích cười. Chúng rủ nhau lấy tay thấm nước miếng quẹt lên mặt Lượm. Út Lượm thấy ghê ghê cứ lấy nước chùi chỗ ấy mãi. Nhưng nó chưa chùi sạch chỗ này thì bọn trẻ tinh quái lại quẹt sang chỗ khác. Cuối cùng Út Lượm chỉ còn biết giận dỗi bỏ chạy về nhà sà vào lòng mẹ mếu máo. - Tụi nó chọc con. Người mẹ ôm con xoa đầu dỗ dành: - Nín đi con đừng khóc. Con má sạch sẽ “mơi” mốt lớn lên sẽ làm bác sĩ cho coi. Út Lượm mở to mắt nhìn mẹ: - Làm bác sĩ là sao má? - Ờ… ờ là người ta bị bệnh con chích một mũi thuốc là hết liền. Nghe mẹ nói Út Lượm khoái lắm. Nó chạy đi khắp xóm khoe với bọn trẻ: - Nữa lớn lên “tau” làm bác sĩ. Ðứa nào bệnh “tau” chích một mũi thuốc là hết liền. Bọn trẻ xì xầm với nhau rồi từ đó gọi nó là: “bác sĩ Lụm”. Út Lượm không biết bọn trẻ gọi như thế là giễu cợt hay thán phục nhưng nó thấy “oai lắm”. Lớn lên một chút ngoài thời gian đi học Út Lượm còn giúp cha chăn vịt. Có một buổi chiều khi lùa vịt về Út Lượm đếm thấy thiếu mất mấy con. Nó lặn lội đi tìm. Giữa đồng xanh vắng lặng. Út Lượm lắng tai nghe có tiếng vịt kêu xa xa. Nó nhắm hướng lội tới vậy mà gọi khan cổ, tìm mỏi cả mắt vẫn không thấy con vịt nào. Trời chạng vạng. Út Lượm sợ ma nó trở về nhà khóc mò. Bà mẹ lại an ủi: - Thôi con ạ, bỏ đi. Chắc là bị lươn “gúc” mất “gồi”! Út Lượm ấm ức cãi lại: - Lươn đâu có “gúc”. Con nghe tiếng chúng “kiêu” mà tìm hoài không có gặp? - Chắc là con nghe lầm tiếng vịt “gồi”. Út Lượm chưng hửng! Hôm sau chăn vịt, Út Lượm ngồi rình hàng giờ mới tìm thấy con chim lạ đó. Té ra con chim vịt chỉ có bằng nắm tay không có vẻ gì hung ác cả. Út Lượm chỉ ghét tiếng kêu của nó mà thôi. Cứ vậy Út Lượm lớn lên giữa vùng sông nước thân yêu. Những sáng đến trường, những chiều ra ruộng, những trưa chơi với trên đọt bần canh vịt, cái mộng bác sĩ vẫn đeo đuổi nó hoài. Nhưng rồi kỳ thi đại học đến, Út Lượm thi rớt. Hôm nhận được kết quả nó ra bờ ruộng ngồi một mình buồn bã: Hóa ra thi đại học khó hơn tìm vịt lạc gấp mấy lần! Bà mẹ thương con: - Thôi con à. Thi “gớt” thì thi lại. Mấy có ai thi đều đậu cả đâu? Ba má sẽ cho con lên Cần Thơ luyện thi. Út Lượm tần ngần nhìn là da sạm nắng của cha. Nó chẳng muốn đi. Mắt nó chợt nhìn xuống đôi chân của mẹ. Không, nó phải làm bác sĩ mới được… - Bộ còn giận hả? - Tiếng Thắm vang lên bên tai kéo tôi trở về thực tại. - Ðâu có! - Chớ anh làm gì buồn so vậy? - À, anh đang nghĩ về… con chim vịt! - Nó có gì đâu mà anh phải nghĩ? - Thắm ngúng nguẩy giận dỗi. Tôi lảng tránh cái nhìn của em: - Thôi mình vào xin phép ngoại về “ngoài” đi. Trời sắp tối rồi đó. Thắm lẳng lặng gật đầu. Quảy giỏ đệm đầy trái cây trên vai, tôi cùng em rảo bước trên con đường quê chạy dọc theo sông ra lộ. Con nước lớn đã khựng lại không còn trôi nữa. Mấy dề lục bình lơ ngơ đứng ở giữa dòng. Bên kia sông đồng lúa trải dài xanh ngút mắt. Sương đã buôn thành một lớp màn mờ xa xa. Tiếng chim vịt đâu đó vẫn khắc khoải vang lên nghe thương – nghe nhớ - nghe buồn. Tuổi thơ của tôi đã trôi êm như dòng sông này vậy. Mẹ tôi đã mất rồi! Mất khi tôi chưa kịp thành bác sĩ – Chưa kịp chữa trị cho đôi chân mẹ đi lại bình thường… - Vịt… vịt… vịt…! Vịt… vịt… vịt…! Con chim vịt vẫn vô tình kêu từng tràng não ruột. Mắt tôi tự dưng cảm thấy cay sè. Tôi bùi ngùi nắm lấy tay Thắm như muốn nói cùng em. - Thắm ơi, chỉ có những người không còn mẹ như anh mới hiểu được tiếng chim vịt kêu chiều… Nguyễn Tấn Phong Mục lục Chim Vịt Kêu Chiều Chim Vịt Kêu Chiều Nguyễn Tấn PhongChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời áo trắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Nguyễn Đình Bổn Chim vịt kêu chiều Ngay từ hôm đầu tiên, khi thuê được một căn phòng nhỏ ở tận trong một hẻm sâu và có nhiều nhánh, nhiều "xuyệc", tôi lại cảm thấy mừng vì như vậy mình không phải chịu đựng hằng ngày tiếng ồn ào và khói bụi của xe cộ như ngoài mặt tiền. Vài hôm sau, qua cánh cửa sổ nhỏ, tôi càng mừng hơn vì nghe tiếng chim sẻ lích chích trên những ngọn dừa, ngọn mít. Căn phòng tôi thuê nằm cạnh những căn nhà ven kinh Nhiêu Lộc. Nơi đây vẫn còn sót lại những khoảng đất trống nhỏ nhoi có trồng cây ăn trái, vì vậy buổi sáng, buổi chiều giữa một thành phố lớn mà môi trường đã bị ô nhiễm, vẫn nghe được tiếng chim ríu rít, đã là một hạnh phúc! Rồi một buổi chiều, đang nằm lơ mơ với những trang viết dở dang, bỗng nghe "vip... vip... vip", tôi bật dậy ngay. Phải chăng tôi vừa nghe tiếng chim vịt? Tôi bám chặt tay vào những song sắt, dán người vào cửa sổ nhìn thật kỹ ngọn dừa trước mặt. Vip... vip... vip..., vip, vip, vip, vip... vip... Ba tiếng đầu kéo dài và những tiếng sau nhanh hơn, thấp xuống, buồn buồn. Một con chim vịt đang kêu chiều. Không còn gì nghi ngờ nữa! Và trên tàu dừa xanh đang đung đưa trước gió, tôi đã nhìn thấy nó. Thân hình bé nhỏ, dài hơn con chim sâu một chút, con chim thân thương ấy đứng một mình và cứ cách khoảng lại buông ra những tiếng kêu buồn bã... Chiều chiều chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau... Câu ca dao quen thuộc bỗng như bật ra từ lòng tôi làm hồi sinh bao kỷ niệm của thời ấu thơ đầy vất vả và ngọt ngào như cuộc đời và tấm lòng của mẹ. Vip... vip... vip..., vip, vip, vip... Tôi nghe nhồn nhột trong tim. Cả buổi chiều hôm ấy và nhiều chiều sau nữa, con chim vịt vẫn kêu. Cái tiếng kêu với âm điệu gợi buồn ấy những lần sau không còn làm tôi rơi nước mắt nhưng thật lạ là nó như giúp tôi tin tưởng, yêu đời hơn một chút... Tôi thầm cảm ơn mảnh đất nhỏ nhoi còn sót lại mà vẫn đầy bao dung nuôi dưỡng một vài cây mít, cây dừa thân thuộc để có một con chim đồng quê bay về cất lên tiếng gọi của mình giữa lòng phố xá. Có ai mang tâm trạng như tôi trong buổi chiều này? Rồi mùa mưa đến. Mưa Sài Gòn đổ từng cơn ào ạt vào bất kỳ thời khắc nào trong ngày. Tôi cần có một chuyến đi... Tôi về đồng bằng và trở lại thành phố trong một chiều mưa lớn đến nỗi rất nhiều đường phố thành sông. Thế nhưng chỉ ngày hôm sau là nắng đã đẹp rỡ ràng. Buổi chiều, tôi lôi mấy cuốn sổ tay ra, cố khơi gợi cảm xúc từ những tứ đã ghi lại để mong viết một cái truyện ngắn cho một tờ báo quen. Thế nhưng... Tôi không viết được. Tôi cảm thấy như mình đang chờ đợi. Vẫn không nghe tiếng chim vịt kêu chiều! Nắng xế dần bên khung cửa sổ. Vẫn không nghe. Nắng phai. Vẫn không. Chỉ có vài tiếng chim sẻ lích chích tìm chỗ ngủ. Một vài nhà đã bật đèn. Vậy là hết. Không còn nữa tiếng chim vịt đã thành thân quen, đã thành cần thiết! Tôi vẫn bám chặt những song sắt, dán mình vào cửa sổ nhìn mãi lên ngọn dừa xanh thẫm. Không còn có con chim nhỏ nào bay về đây để cất lên tiếng kêu chân chất, gợi buồn... Tôi nghe có gì đó nghèn nghẹn dâng lên trong lòng làm cay cay mắt. Một góc trời phía trước bỗng đen kịt. Rồi mưa ập xuống rất nhanh. A... Như một kẻ sắp chết đói bỗng phát hiện cả một rẫy khoai, tim tôi bừng lên một niềm vui và lòng tôi nhẹ nhõm. Đúng rồi, chính mùa mưa đã làm chú chim thân thương ấy bay đi? Mùa mưa ơi! Mùa mưa sẽ còn kéo dài nhưng tôi vẫn mong chính mưa là lý do duy nhất làm vắng tiếng chim vịt kêu chiều của tôi giữa lòng thành phố. Lần đầu tiên, tôi có một mong ước da diết như vậy cho một con chim bởi vì tôi không thể quên rằng, buổi trưa trước ngày đi đồng bằng, tôi đã nhìn thấy hai chàng trai vừa chớm tuổi thanh niên, mặc áo thun, quần soóc, miệng nhai kẹo cao su, đi vào con hẻm này với một cây súng hơi... Niềm cầu mong của tôi liệu có lắm mong manh?./. Mục lục Chim vịt kêu chiều Chim vịt kêu chiều Nguyễn Đình BổnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Conbo2 Nguồn: vov. orgĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 22 tháng 10 năm 2005
Nguyen Dinh Bon Ducks call in the afternoon Right from the first day, when I rented a small room in a deep alley with many branches and "crosses", I felt happy because that way I did not have to endure the noise and dust every day. of vehicles like the facade. A few days later, through the small window, I was even more happy to hear the sound of sparrows chirping on the coconut and jackfruit tops. The room I rented was located next to the houses along Nhieu Loc canal. This place still has small vacant lands planted with fruit trees, so in the morning and afternoon in the middle of a big city where the environment has been polluted, still hearing the chirping of birds is a blessing. Blessed! Then one afternoon, as I was dozing off with unfinished pages, I suddenly heard "vip... vip... vip", I jumped up immediately. Did I just hear the sound of birds and ducks? I held tightly to the iron bars, pressed my body against the window and looked closely at the coconut tree in front of me. Vip... vip... vip..., vip, vip, vip, vip... vip... The first three hours are long and the following hours are faster, lower, sad and sad. A duck bird is calling in the afternoon. No more doubts! And on the green coconut boat swaying in the wind, I saw it. With a small body, a little longer than a bird, that dear bird stands alone and at every distance lets out sad cries... In the afternoon, the duck calls in the afternoon. Wistfully, I miss my mother in the afternoon, my stomach aches. ... The familiar folk song suddenly seemed to pop out from my heart, reviving many memories of my childhood full of hardship and sweetness like my mother's life and heart. Vip... vip... vip..., vip, vip, vip... I feel a tickle in my heart. All that afternoon and many afternoons afterward, the duck continued to cry. That cry with that sad tone no longer makes me cry, but strangely it seems to help me trust and love life a little more... I'm silently grateful for the small piece of land that's left. Still tolerantly nurturing a few familiar jackfruit and coconut trees so that a country bird can fly home and make its call in the heart of the streets. Is anyone in the same mood as me this afternoon? Then the rainy season comes. Saigon's rain falls in torrents at any time of the day. I need a trip... I returned to the plain and returned to the city on an afternoon with so much rain that many of the streets turned into rivers. But just the next day, the sun was shining brightly. In the afternoon, I took out my notebooks, trying to evoke emotions from the notes I had written, hoping to write a short story for a familiar newspaper. But... I can't write. I feel like I'm waiting. Still can't hear the birds and ducks calling in the afternoon! The sun gradually sets outside the window. Still don't listen. The sun fades. Still not. There were only a few sounds of chirping sparrows looking for a place to sleep. Some houses have turned on the lights. That's it. The sound of birds and ducks is gone, it has become familiar and necessary! I still held tightly to the iron bars, glued myself to the window, looking up at the dark green coconut tree. There are no more small birds flying here to make their sincere, sad cries... I heard something choking up in my heart that made my eyes sting. A corner of the sky ahead suddenly turned black. Then the rain came down very quickly. Ah... Like a starving man who suddenly discovered a whole field of potatoes, my heart burst with joy and my heart felt relieved. That's right, it was the rainy season that made that beloved bird fly away? Rainy season! The rainy season will continue for a long time, but I still hope that the rain is the only reason why the sound of ducks calling in the afternoon in the heart of the city will be absent. For the first time, I had such a passionate wish for a bird because I couldn't forget that, at noon before the day I left for the plains, I saw two boys in their early teens, wearing t-shirts, shorts, chewing gum, walking into this alley with an air gun... Is my hope so fragile?./. Table of contents Ducks call in the afternoon Ducks call in the afternoon Nguyen Dinh BonWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: Conbo2 Source: vov. org Uploaded by: Ct.Ly on: October 22, 2005
Cổ Tích Việt Nam Chim Đa Đa Chim Đa Đa Đã lâu rồi, ở dựa mé rừng tha có đôi vợ chồng người tiều phu ăn ở với nhau hai mươi năm rồi mà không có đứa con để vui nhà . 1 hôm vợ chồng bàn với nhau nên đến ngôi chùa ở gần triển núi ăn chay niệm phật để cầu con Quả nhiên đi cầu tự trở về được ít lâu, thì vợ người tiều phu có thai, sinh được 1 con trai , đặt tên là Đa Đa . Lúc Đa Đa lên 7 tuổi thì mẹ nó qua đời . Còn lại 1 cha 1 con không ai sớm hôm săn sóc cho đứa trẻ, người tiều phu phải ngày ngày vào rừng đốn củi mãi tối mịt mới về, sự mệt mõi làm cho ông không đủ sức để săn sóc nuôi dưỡng con thơ . Sau nhiều lần cân nhắc ông không còn biết làm cách nào hơn là cưới thêm 1 người vợ kế .. Người đàn bà này không được hiền lành như mẹ ruột of Đa Đa . Ngoài roi vọt , tiếng nặng tiếng nhẹ , chị ta còn bắt Đa Đa phải lặn lội trong cánh đồng chăn đuổi bầy vịt của chị ta nuôi . Đà vậy đến bữa, chị ta chỉ cho Đa Đa ăn cơm thừa canh cặn đói no mặc kệ , Vì vậy tối đến thấy cha về Đa Đa thường thút thít khóc kể với cha về nỗi dì ghẻ hành hạ chăn vịt, bị đòn roi còn lại cho ăn đói . Nhưng người cha không tin lời của đa đa ... Càng ngày người dì ghé càng ghét cay ghét đắng Đa Đa nên càng nặng lời nhiếc máng, đánh đập tàn nhẫn khi không có cha của Đa Đa ở nhà . Rồi 1 hôm đợi lúc gần tối cha của Đa Đa sắp về , chị xúc 1 chén cát , lấy cơm trắng trải lên trên mặt chén cho Đa Đa bảo ăn . Đa Đa không dám cãi lời mẹ ghẻ , lại nghĩ tủi thân , hồi nào còn mẹ được ăn uống đầy đủ , nâng niu, săn sóc , nay thì cực khổ , cơm lại trộn cát bảo ăn , làm sao mà ăn được , Nên nó cứ cầm chén cơm mà khóc cho tới lúc cha nó lơn tơn xách rựa về nhà .. Phần mệt nhọc , lại nghe tiếng dì ghẻ chanh chua mắng vốn : Đó ông xem, thằng Đa Đa hành hạ tôi đến bực, cơm đã dâng tận tay nó không chịu ăn ngồi khóc rấm ra rấm rứt như ma trù ma ẻo thì còn làm ăn gì được .. Gã tiều phu nóng tính , nghe vậy bực mình rồi lại thấy chén cơm trong tay Đa Đa là cơm trắng ngon lành tại sao không ăn mà ngồi khóc . Nỗi khí xung thiên , gã vớ lấy khúc củi đánh thẳng Đa Đa , chẳng dè trúng nhầm đầu đứa bé ngã ra chết . Chén cơm trắng đổ tứ tung bày ra những hạt cát .. Bấy giờ gã mới hiểu được lòng dạ độc ác của người vợ kế thì đã muộn rồi . Ông chỉ còn cách chôn con và đuổi chị ta ra khỏi nhà .. 3 ngày sau ra thăm mả Đa Đa , gã tiều phu thấy từ dưới mả 1 con chim kỳ lạ sắc xám bay lên đậu trên cành nhìn ông rồi cất tiếng kêu : Bát cơm cát trả cho cha, đánh bể óc ác la, ác la đa .. Gã tiều phu biết ngay rằng hồn Đa Đa hoá thành chim , buông ra những tiếng kêu thê thảm Mục lục Chim Đa Đa Chim Đa Đa Cổ Tích Việt NamChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 25 tháng 1 năm 2005
Vietnamese fairy tales Partridge Partridge A long time ago, living on the edge of the forest, there lived a woodcutter couple who had been living together for twenty years without having a child to entertain the family. One day, the couple discussed that they should go to a temple near the mountain to eat vegetarian and recite Buddha's name to pray for a child. Sure enough, after a while after returning from praying, the woodcutter's wife became pregnant and gave birth to a son, who they named him. Da Da . When Da Da was 7 years old, his mother passed away. Left with 1 father and 1 child, no one took care of the child early and late. The woodcutter had to go into the forest every day to cut firewood and not return until late at night. His fatigue made him not strong enough to care for and raise the child. After much consideration, he did not know what to do other than marry another wife. This woman was not as gentle as Da Da's biological mother. In addition to whips and harsh words, she also forced Da Da to wade through the fields to chase the ducks she raised. So at mealtimes, she only fed Da Da with leftover rice and soup, leaving her hungry and full, so when she saw her father come home at night, Da Da often sobbed and cried and told her father about her stepmother's abuse of herding the ducks and the beatings she received. feed the hungry again. But the father did not believe Da Da's words... Every day the aunt came to hate Da Da more and more, so she scolded her more harshly and beat her cruelly when Da Da's father was not at home. Then one day, waiting for Da Da's father to return, she scooped up a bowl of sand, spread white rice on top of the bowl for Da Da to eat. Da Da did not dare to disobey her stepmother. Instead, she felt sorry for herself. When her mother was well fed, cared for, and taken care of, now she is miserable. The rice is mixed with sand and told to eat, so how can she eat it? He kept holding the bowl of rice and crying until his father slowly carried the machete home. When he was tired, he heard his stepmother's sour voice scolding him: "Look, Da Da tortured me so much, the rice was already served." His hand refused to eat, he sat there crying profusely like a witch, how could he do business? The hot-tempered woodcutter, hearing that got angry and then saw that the bowl of rice in Da Da's hand was delicious white rice, why? Don't eat but sit and cry. Angry, he grabbed a piece of firewood and hit Da Da straight, accidentally hitting the baby on the head and falling dead. The bowl of white rice was spilled everywhere, revealing grains of sand. By then, it was too late for him to understand his step-wife's cruel heart. He had no choice but to bury his child and kick her out of the house. Three days later, when he went to visit Da Da's grave, the woodcutter saw a strange gray bird flying up from under the grave, sitting on a branch, looking at him and then calling out: The bowl of rice and sand returned to his father, breaking Evil La Da's brain. The woodcutter immediately knew that Da Da's soul had turned into a bird, letting out pitiful cries. Table of contents Partridge Partridge Vietnamese Fairy TalesWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: Ct.Ly posted on: January 25, 2005
Khuyết Danh Chiếc băng gạc cho trái tim vỡ - Mẹ, mẹ đang làm gì thế? - Cô bé Susie chỉ mới 6 tuổi hỏi mẹ. - Mẹ đang nấu món thịt hầm cho cô Smith hàng xóm. - Vì sao ạ? - Susie thắc mắc. - Vì cô Smith đang rất buồn con ạ. Con gái cô ấy vừa qua đời và trái tim cô ấy đang tan nát. Chúng ta sẽ chăm sóc cô ấy một thời gian. - bà mẹ dịu dàng trả lời. - Tại sao lại thế hả mẹ? - Susie vẫn chưa hiểu- Thế này nhé con yêu, khi một người rất buồn, họ sẽ không thể làm tốt ngay cả những việc rất nhỏ như nấu bữa tối hay một số việc vặt khác. Vì chúng ta cùng sống trong một khu phố và cô Smith là hàng xóm của gia đình mình, chúng ta cần phải giúp đỡ cô ấy. Cô Smith sẽ không bao giờ còn có thể nói chuyện, ôm hôn con gái cô ấy hoặc làm bất cứ điều gì thú vị mà mẹ và con có thể làm cùng nhau. Con là một cô bé thông minh, Susie. Có thể con sẽ nghĩ ra cách nào đó để giúp đỡ cô ấy. Susie suy nghĩ rất nhiêm túc về những điều mẹ nói và cố gắng tìm cách góp phần giúp đỡ cô Smith. Vài phút sau, Susie đã ở trước cửa nhà cô Smith. rụt rè bấm chuông. Mất một lúc lâu cô Smith mới ra mở cửa: "Chào Susie, cháu cần gì?". Susie cảm thấy giọng cô Smith rất nhỏ, khuôn mặt cô trông rất buồn rầu, như thể cô vừa khóc vì mắt cô hãy còn đỏ mọng nước. "Mẹ cháu nói con gái của cô vừa qua đời và cô đang rất buồn vì tim cô bị thương - Susie e dè xoè tay ra. Trong lòng bàn tay của cô bé là một chiếc băng gạc cá nhân- Cái này để băng cho trái tim cô ạ". Như để chắc chắn Susie nói thêm: "Cháu đã dùng vài lần và nó rất tốt". Cô Smith há miệng kinh ngạc, cố gắng không bật khóc. Cô xúc động quỳ xuống ôm chặt Susie, nghẹn ngào qua làn nước mắt: "Cám ơn, cháu yêu quý, nó sẽ giúp cô rất nhiều". Mục lục Chiếc băng gạc cho trái tim vỡ Chiếc băng gạc cho trái tim vỡ Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Latdat đưa lên vào ngày: 26 tháng 4 năm 2004
Noname A bandage for a broken heart - Mom, what are you doing? - Little Susie, only 6 years old, asked her mother. - Mom is cooking stew for Miss Smith next door. - Why? - Susie wondered. - Because Miss Smith is very sad, honey. Her daughter just passed away and her heart is broken. We'll take care of her for a while. - the mother gently answered. - Why is that, mom? - Susie still doesn't understand- Here's the thing, honey, when a person is very sad, they won't be able to do even very small things like cooking dinner or some other chores well. Since we live in the same neighborhood and Ms. Smith is our neighbor, we need to help her. Ms. Smith will never again be able to talk to her daughter, hug or kiss her, or do any of the fun things a mother and child can do together. You're a smart girl, Susie. Maybe you can think of some way to help her. Susie thought very seriously about what her mother said and tried to find a way to help Miss Smith. A few minutes later, Susie was at Miss Smith's door. timidly rang the bell. It took a while for Ms. Smith to open the door: "Hello Susie, what do you need?". Susie felt that Miss Smith's voice was very small, her face looked very sad, as if she had just cried because her eyes were still red and watery. "My mother said her daughter had just passed away and she was very sad because her heart was injured - Susie shyly opened her hand. In her palm was a bandage - This is to bandage her heart." your heart". As if to make sure, Susie added: "I've used it a few times and it's very good." Ms. Smith opened her mouth in surprise, trying not to cry. She emotionally knelt down and hugged Susie tightly, choking through her tears: "Thank you, my dear, it will help me a lot." Table of contents A bandage for a broken heart A bandage for a broken heart AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Posted by friend: Latdat on: April 26, 2004
Phyllis Caldwell Chiếc chuông của ông Dịch giả: Nghiêm Chi Phương P appy là một ông già vui tính. Ông có mái tóc bạc trắng luôn được cắt và chải gọn gàng. Mắt ông xanh, tuy đã phai màu vì năm tháng vẫn tỏa ra một hơi ấm từ bên trong. Gương mặt ông rất buồn rầu, nhưng khi ông cười, ngay cả những nếp nhăn cũng dịu đi và cùng mỉm cười theo ông. Ông có tài huýt sáo và thường vui vẻ huýt sáo mỗi ngày trong khi phủi bụi hay quét cửa tiệm cầm đồ của ông. Mọi người quen ông đều tôn trọng và kính nể ông. Không ai biết được ông có một nỗi buồn bí mật đằng sau sự vui vẻ đó. Đa số khách hàng của ông không trở lại để lấy lại món đồ của mình, và ông không bán được nhiều, nhưng ông không quan tâm. Với ông, cửa hàng là một sự giải trí đem lại niềm vui nhiều hơn là một phương tiện kiếm sống. Ông có một căn phòng nhỏ ở phía sau cửa tiệm nơi ông bỏ thời gian để vụng về sửa chữa những món đồ quý của riêng ông. Ông gọi căn phòng phía sau này là “phòng kỷ niệm”. Trong đó có những chiếc đồng hồ bỏ túi, đồng hồ để bàn, và những chiếc xe lửa chạy điện. Cũng có cả những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước nhỏ xíu, những món đồ chơi đã lỗi thời bằng gỗ, thiếc hay gang và nhiều món trang sức cổ lỗ khác. Việc bỏ thời gian trong căn phòng kỷ niệm làm ông vui khi nhớ lại nhiều khoảnh khắc đáng trân trọng trong quá khứ của ông. Ông cẩn thận xem từng món đồ, đôi khi ông nhắm mắt, dừng tay lại để sống lại một kỷ niệm thời thơ ấu đơn giản, ngọt ngào. Một ngày kia, Pappy đang vui thích gắn lại một chiếc đèn xách cũ kỹ của ngành đường sắt. Ông vừa làm vừa huýt sáo một điệu nhạc du dương của ngành đường sắt và hồi tưởng lại quá khứ của chính mình khi còn là một người bẻ ghi. Đó là một ngày điển hình của cửa tiệm. Bên ngoài mặt trời chiếu sáng bầu trời trong trẻo. Một cơn gió nhẹ lướt qua cánh cửa lưới phía trước. Mỗi khi thời tiết đẹp như vậy, Pappy để cửa bên trong mở. Ông thích không khí trong lành - cũng gần bằng thích mùi đặc biệt của đồ cổ và mùi dầu máy cũ. Trong khi đang đánh bóng chiếc đèn mới sửa lại, ông nghe tiếng leng keng của chiếc chuông trên cánh cửa tiệm. Chiếc chuông phát ra âm thanh thu hút độc đáo đó đã ở trong gia đình Pappy hơn một trăm năm rồi. Ông yêu quý nó vô cùng và thích chia sẻ bài hát của nó với mọi người đến cửa tiệm. Mặc dù chiếc chuông được treo bên trong cánh cửa chính, Pappy đã buộc một sợi dây vào cửa lưới để nó kêu dù cánh cửa trong mở hay đóng. Nghe tiếng chuông nhắc nhở, ông rời khỏi căn phòng kỷ niệm để ra gặp người khách hàng. Lúc đầu ông không nhìn thấy cô bé. Những lọn tóc quăn ngắn sáng ngời của cô gần như không cao bằng mặt quầy hàng. “Cô cần gì nào, thưa tiểu thư bé bỏng?”, Pappy vui vẻ hỏi. “Chào ông”. Cô bé nói nhỏ gần như thì thầm. Một cô bé xinh xắn. E lệ. Ngây thơ. Cô nhìn Pappy với cặp mắt to màu nâu , rồi chậm chạp nhìn lướt quanh phòng để tìm một món đồ đặc biệt. Cô rụt rè nói với ông: “Thưa ông, cháu muốn mua một món quà”. “À, chúng ta xem nào”, Pappy nói, “món quà này cho ai?”.”Ông ngoại cháu. Một món quà cho ông ngoại cháu. Nhưng cháu không biết mua món gì”. Pappy bắt đầu gợi ý. “Một chiếc đồng hồ bỏ túi nhé? Nó còn rất tốt. Tự tay ông sửa nó đấy”. Ông nói với vẻ tự hào. Cô bé không trả lời. Cô đi đến cánh cửa vào tiệm và đặt bàn tay bé nhỏ lên cửa. Cô đẩy nhẹ cánh cửa để rung chuông. Gương mặt Pappy dường như sáng bừng lên khi ông nhìn cô bé mỉm cười vì xúc động. “Đúng nó rồi”, cô bé vui mừng nói lắp bắp. “Mẹ nói ông ngoại yêu âm nhạc lắm”. Ngay lúc đó, Pappy đổi nét mặt. Sợ làm cô bé đau khổ, ông bảo cô: “Ông rất tiếc , cháu ạ. Chiếc chuông đó không phải để bán. Có lẽ ông ngoại cháu sẽ thích chiếc radio nhỏ này”. Cô bé nhìn chiếc radio, cúi thấp đầu và buồn rầu thở dài: “Không, cháu nghĩ là không”. Pappy kể cô nghe chiếc chuông đã ở trong gia đình ông rất nhiều năm như thế nào, và đó là lý do ông không muốn bán nó. Cô bé ngước nhìn ông, và cùng với một giọt lệ lớn trong mắt, dịu dàng nói, “Cháu nghĩ là cháu hiểu rồi. Dù sao cháu cũng cám ơn ông”. Đột nhiên, Pappy nghĩ đến tất cả những người còn lại trong gia đình ông đã mất như thế nào, ngoại trừ cô con gái đã bất hòa với ông mà ông không gặp gần mười năm nay. Tại sao lại không, ông nghĩ. Tại sao lại không chuyển nó cho một người khác, một người sẽ chia sẻ nó với một người thân? Dù sao cũng chỉ có trời mới biết nó sẽ kết thúc ở nơi nào. ”Đợi một chút... tiểu thư bé bỏng ạ”. Pappy nói đúng lúc cô bé đang bước ra cửa - cũng là lúc ông nghe tiếng chiếc chuông reo lần cuối cùng. “Ông quyết định bán chiếc chuông đấy. Khăn tay đây. Cháu hỉ mũi đi”. Cô bé vỗ tay vì vui mừng. “Ồ, cám ơn ông. Ông ngoại sẽ vui lắm”. “Đúng vậy, tiểu thư bé bỏng ạ. Đúng vậy”. Pappy cảm thấy dễ chịu về việc giúp cô bé, tuy ông biết ông sẽ nhớ chiếc chuông. “Cháu phải hứa sẽ chăm sóc kỹ chiếc chuông cho ông ngoại cháu - và cũng cho cả ông nữa, được chứ?”. Ông cẩn thận bỏ chiếc chuông vào một túi giấy nâu. “Ồ, cháu xin hứa”. Cô bé nói. Rồi cô bất ngờ trở nên rất nghiêm trang và yên lặng. Cô đã quên không hỏi một điều. Cô ngước mắt lên nhìn Pappy với vẻ rất lo lắng và một lần nữa gần như thì thầm hỏi: “Nó giá bao nhiêu?”. “À, để xem nào. Cháu có bao nhiêu tiền?”. Pappy hỏi với một nụ cười thật tươi. Cô bé rút trong túi ra một gói tiền nhỏ và đổ lên quầy hàng: hai đô la và bốn mươi bảy xu. Sau câu hỏi nhanh lý trí của mình, Pappy nói: “Thưa tiểu thư bé bỏng, hôm nay là ngày may mắn của cô. Chiếc chuông đó đáng giá đúng hai đô la và bốn mươi bảy xu”. Tối hôm ấy khi Pappy chuẩn bị đóng cửa tiệm, ông thấy mình đang nghĩ về chiếc chuông. Ông quyết định không nhớ tới nó nữa. Ông nghĩ đến cô bé và tự hỏi không biết ông ngoại cô có thích món quà của mình không. Chắc chắn ông ấy phải nâng niu bất cứ món gì nhận được từ một đứa cháu ngoại đáng yêu và quý giá như vậy. Ngay lúc ấy, đúng lúc ông sắp tắt đèn trong phòng kỷ niệm, Pappy nghĩ ông nghe tiếng chiếc chuông của ông. Một lần nữa, ông hỏi lại lý trí của mình; ông quay về phía cửa: Cô bé đang đứng đó. Cô đang lắc chiếc chuông và cười thật duyên dáng. Pappy bối rối hỏi trong khi bước về phía cô bé: “Chuyện gì vậy, tiểu thư bé bỏng? Cháu đổi ý rồi sao?”. “Không đâu ạ”, cô cười toét miệng. “Mẹ nói nó là của ông đấy”. Trước khi Pappy kịp nói thêm tiếng nào, mẹ cô bé đã bước qua cửa và vừa nuốt một giọt nước mắt vừa dịu dàng nói: “Chào ba”. Cô bé giật đuôi áo sơ mi của ông ngoại mình. “Đây, ông ngoại ơi. Khăn tay của ông đây. Ông hỉ mũi đi”. Nghiêm Chi Phương dịch Mục lục Chiếc chuông của ông Chiếc chuông của ông Phyllis CaldwellChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: NLDĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 12 năm 2006
Phyllis Caldwell Chiếc chuông của ông Dịch giả: Nghiêm Chi Phương P appy là một ông già vui tính. Ông có mái tóc bạc trắng luôn được cắt và chải gọn gàng. Mắt ông xanh, tuy đã phai màu vì năm tháng vẫn tỏa ra một hơi ấm từ bên trong. Gương mặt ông rất buồn rầu, nhưng khi ông cười, ngay cả những nếp nhăn cũng dịu đi và cùng mỉm cười theo ông. Ông có tài huýt sáo và thường vui vẻ huýt sáo mỗi ngày trong khi phủi bụi hay quét cửa tiệm cầm đồ của ông. Mọi người quen ông đều tôn trọng và kính nể ông. Không ai biết được ông có một nỗi buồn bí mật đằng sau sự vui vẻ đó. Đa số khách hàng của ông không trở lại để lấy lại món đồ của mình, và ông không bán được nhiều, nhưng ông không quan tâm. Với ông, cửa hàng là một sự giải trí đem lại niềm vui nhiều hơn là một phương tiện kiếm sống. Ông có một căn phòng nhỏ ở phía sau cửa tiệm nơi ông bỏ thời gian để vụng về sửa chữa những món đồ quý của riêng ông. Ông gọi căn phòng phía sau này là “phòng kỷ niệm”. Trong đó có những chiếc đồng hồ bỏ túi, đồng hồ để bàn, và những chiếc xe lửa chạy điện. Cũng có cả những đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước nhỏ xíu, những món đồ chơi đã lỗi thời bằng gỗ, thiếc hay gang và nhiều món trang sức cổ lỗ khác. Việc bỏ thời gian trong căn phòng kỷ niệm làm ông vui khi nhớ lại nhiều khoảnh khắc đáng trân trọng trong quá khứ của ông. Ông cẩn thận xem từng món đồ, đôi khi ông nhắm mắt, dừng tay lại để sống lại một kỷ niệm thời thơ ấu đơn giản, ngọt ngào. Một ngày kia, Pappy đang vui thích gắn lại một chiếc đèn xách cũ kỹ của ngành đường sắt. Ông vừa làm vừa huýt sáo một điệu nhạc du dương của ngành đường sắt và hồi tưởng lại quá khứ của chính mình khi còn là một người bẻ ghi. Đó là một ngày điển hình của cửa tiệm. Bên ngoài mặt trời chiếu sáng bầu trời trong trẻo. Một cơn gió nhẹ lướt qua cánh cửa lưới phía trước. Mỗi khi thời tiết đẹp như vậy, Pappy để cửa bên trong mở. Ông thích không khí trong lành - cũng gần bằng thích mùi đặc biệt của đồ cổ và mùi dầu máy cũ. Trong khi đang đánh bóng chiếc đèn mới sửa lại, ông nghe tiếng leng keng của chiếc chuông trên cánh cửa tiệm. Chiếc chuông phát ra âm thanh thu hút độc đáo đó đã ở trong gia đình Pappy hơn một trăm năm rồi. Ông yêu quý nó vô cùng và thích chia sẻ bài hát của nó với mọi người đến cửa tiệm. Mặc dù chiếc chuông được treo bên trong cánh cửa chính, Pappy đã buộc một sợi dây vào cửa lưới để nó kêu dù cánh cửa trong mở hay đóng. Nghe tiếng chuông nhắc nhở, ông rời khỏi căn phòng kỷ niệm để ra gặp người khách hàng. Lúc đầu ông không nhìn thấy cô bé. Những lọn tóc quăn ngắn sáng ngời của cô gần như không cao bằng mặt quầy hàng. “Cô cần gì nào, thưa tiểu thư bé bỏng?”, Pappy vui vẻ hỏi. “Chào ông”. Cô bé nói nhỏ gần như thì thầm. Một cô bé xinh xắn. E lệ. Ngây thơ. Cô nhìn Pappy với cặp mắt to màu nâu , rồi chậm chạp nhìn lướt quanh phòng để tìm một món đồ đặc biệt. Cô rụt rè nói với ông: “Thưa ông, cháu muốn mua một món quà”. “À, chúng ta xem nào”, Pappy nói, “món quà này cho ai?”.”Ông ngoại cháu. Một món quà cho ông ngoại cháu. Nhưng cháu không biết mua món gì”. Pappy bắt đầu gợi ý. “Một chiếc đồng hồ bỏ túi nhé? Nó còn rất tốt. Tự tay ông sửa nó đấy”. Ông nói với vẻ tự hào. Cô bé không trả lời. Cô đi đến cánh cửa vào tiệm và đặt bàn tay bé nhỏ lên cửa. Cô đẩy nhẹ cánh cửa để rung chuông. Gương mặt Pappy dường như sáng bừng lên khi ông nhìn cô bé mỉm cười vì xúc động. “Đúng nó rồi”, cô bé vui mừng nói lắp bắp. “Mẹ nói ông ngoại yêu âm nhạc lắm”. Ngay lúc đó, Pappy đổi nét mặt. Sợ làm cô bé đau khổ, ông bảo cô: “Ông rất tiếc , cháu ạ. Chiếc chuông đó không phải để bán. Có lẽ ông ngoại cháu sẽ thích chiếc radio nhỏ này”. Cô bé nhìn chiếc radio, cúi thấp đầu và buồn rầu thở dài: “Không, cháu nghĩ là không”. Pappy kể cô nghe chiếc chuông đã ở trong gia đình ông rất nhiều năm như thế nào, và đó là lý do ông không muốn bán nó. Cô bé ngước nhìn ông, và cùng với một giọt lệ lớn trong mắt, dịu dàng nói, “Cháu nghĩ là cháu hiểu rồi. Dù sao cháu cũng cám ơn ông”. Đột nhiên, Pappy nghĩ đến tất cả những người còn lại trong gia đình ông đã mất như thế nào, ngoại trừ cô con gái đã bất hòa với ông mà ông không gặp gần mười năm nay. Tại sao lại không, ông nghĩ. Tại sao lại không chuyển nó cho một người khác, một người sẽ chia sẻ nó với một người thân? Dù sao cũng chỉ có trời mới biết nó sẽ kết thúc ở nơi nào. ”Đợi một chút... tiểu thư bé bỏng ạ”. Pappy nói đúng lúc cô bé đang bước ra cửa - cũng là lúc ông nghe tiếng chiếc chuông reo lần cuối cùng. “Ông quyết định bán chiếc chuông đấy. Khăn tay đây. Cháu hỉ mũi đi”. Cô bé vỗ tay vì vui mừng. “Ồ, cám ơn ông. Ông ngoại sẽ vui lắm”. “Đúng vậy, tiểu thư bé bỏng ạ. Đúng vậy”. Pappy cảm thấy dễ chịu về việc giúp cô bé, tuy ông biết ông sẽ nhớ chiếc chuông. “Cháu phải hứa sẽ chăm sóc kỹ chiếc chuông cho ông ngoại cháu - và cũng cho cả ông nữa, được chứ?”. Ông cẩn thận bỏ chiếc chuông vào một túi giấy nâu. “Ồ, cháu xin hứa”. Cô bé nói. Rồi cô bất ngờ trở nên rất nghiêm trang và yên lặng. Cô đã quên không hỏi một điều. Cô ngước mắt lên nhìn Pappy với vẻ rất lo lắng và một lần nữa gần như thì thầm hỏi: “Nó giá bao nhiêu?”. “À, để xem nào. Cháu có bao nhiêu tiền?”. Pappy hỏi với một nụ cười thật tươi. Cô bé rút trong túi ra một gói tiền nhỏ và đổ lên quầy hàng: hai đô la và bốn mươi bảy xu. Sau câu hỏi nhanh lý trí của mình, Pappy nói: “Thưa tiểu thư bé bỏng, hôm nay là ngày may mắn của cô. Chiếc chuông đó đáng giá đúng hai đô la và bốn mươi bảy xu”. Tối hôm ấy khi Pappy chuẩn bị đóng cửa tiệm, ông thấy mình đang nghĩ về chiếc chuông. Ông quyết định không nhớ tới nó nữa. Ông nghĩ đến cô bé và tự hỏi không biết ông ngoại cô có thích món quà của mình không. Chắc chắn ông ấy phải nâng niu bất cứ món gì nhận được từ một đứa cháu ngoại đáng yêu và quý giá như vậy. Ngay lúc ấy, đúng lúc ông sắp tắt đèn trong phòng kỷ niệm, Pappy nghĩ ông nghe tiếng chiếc chuông của ông. Một lần nữa, ông hỏi lại lý trí của mình; ông quay về phía cửa: Cô bé đang đứng đó. Cô đang lắc chiếc chuông và cười thật duyên dáng. Pappy bối rối hỏi trong khi bước về phía cô bé: “Chuyện gì vậy, tiểu thư bé bỏng? Cháu đổi ý rồi sao?”. “Không đâu ạ”, cô cười toét miệng. “Mẹ nói nó là của ông đấy”. Trước khi Pappy kịp nói thêm tiếng nào, mẹ cô bé đã bước qua cửa và vừa nuốt một giọt nước mắt vừa dịu dàng nói: “Chào ba”. Cô bé giật đuôi áo sơ mi của ông ngoại mình. “Đây, ông ngoại ơi. Khăn tay của ông đây. Ông hỉ mũi đi”. Nghiêm Chi Phương dịch Mục lục Chiếc chuông của ông Chiếc chuông của ông Phyllis CaldwellChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: NLDĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 12 năm 2006
Nguyễn Quế Diệu Chiếc chõng tre của bố! Cứ đến dịp hè, tôi lại tranh thủ đưa các cháu về quê thăm gia đình. Mùa hè miền Trung nóng bức lại còn gió Lào làm cỏ cây khô héo, con người thì mỏi mệt. Đêm đêm, bố tôi lại đem chiếc chõng tre ra sân để mấy ông cháu hóng mát. Chiếc chõng tre không biết có từ lúc nào? Và đây là chiếc chõng tre thứ mấy trong đời mà bố đã làm? Tôi không biết và bố cũng chẳng nhớ. Tôi chỉ biết rằng, tuổi thơ của anh chị em tôi đều gắn với những trò chơi dân gian và vui đùa bên chiếc chõng tre của bố. Cu Tý - đứa con trai đầu lòng 6 tuổi của tôi có vẻ thích thú với chiếc chõng tre của ông nội. Đêm nào cũng vậy, để có được giây phút thư giãn thoải mái sau những ngày hè nóng nực, bố tôi lại đem chiếc “giường đơn di động” ra sân hít thở không khí dịu mát của đồng quê. Giờ đây thôn quê đã có điện, có quạt máy rồi nhưng bố vẫn giữ thói quen ngày trước. Đã mấy lần cu Tý hỏi ông: Ông ơi! Tại sao ở Sài Gòn không có sao mà ở quê nhiều sao vậy? Rồi nó thốt lên: Ôi! Có ông sao đang chạy ở trên trời kìa! Cứ vậy, cháu hỏi, ông đáp. Cả hai ông cháu đều vui. Tý cứ thắc mắc với tôi tại sao nhà mình không có chõng tre như ở quê vậy ba? Cu cậu còn xin ông cho cháu chiếc chõng tre mang về Sài Gòn để nằm. Ông bảo: Nếu mang đi được thì ông cho luôn mấy chiếc. Nhà tôi có 4 chị em. Đứa trước hơn đứa sau hai tuổi. Ngày đó, cuộc sống thôn quê vốn khó khăn nên bố thường tận dụng những thứ có trong vườn để làm ra các dụng cụ phục vụ cho nhu cầu trong nhà. Khi thì chiếc chuồng nuôi thỏ, chiếc bu nhốt gà hay cái rổ, rá bằng tre... Để làm được chiếc chõng tre như ý, bố chọn những cây tre già nhất trong vườn. Phần gốc tre thì bố dành làm chân, mã và thang chõng, phần giữa thì chẻ ra, dùng mác (giống như con dao nhọn nhưng rất dài và sắc hơn dao nhọn) vót nhẵn, sau đó lấy dây mây bện lại làm giát chõng để nằm cho êm lưng. Mẹ bảo: Hồi chưa cưới nhau, bố con đã đục đẽo làm chõng tre hóng mát. Bố mẹ cưới nhau rồi, bố vẫn giữ nguyên thói quen này. Chị em tôi đều lớn lên và đều được trải qua giai đoạn nằm chõng tre như vậy. Bố thường bảo với chúng tôi: Nằm chõng tre tốt hơn nằm võng vì lưng không bị gù. “Triết lý” đó của bố tuy đúng nhưng có lẽ một phần vì không có tiền mua võng nên các con phải nằm chõng tre! Đêm hè, mấy chị em nằm trên chõng tre vừa hóng mát, vừa đếm sao và tranh luận về… vũ trụ bao la. Ngày đó, nhà nghèo miếng ăn còn chưa đủ nên cũng chẳng có tiền mua giường nằm, chiếc chõng tre là nơi ru chị em tôi vào giấc ngủ khi đêm về. Chiếc chõng tre cũng là nơi mấy chị em chúng tôi đã vịn tay vào để tập những bước đi chập chững đầu tiên của cuộc đời. Lớn lên một chút, bố đã phải đục đẽo để làm thêm một chiếc nữa vì chị em tôi tranh nhau nằm. Cũng như những đứa trẻ khác, một buổi đến trường, một buổi chúng tôi phải ra đồng. Đứa bé thì đi chăn trâu, đứa lớn thì đi cắt cỏ, phụ bố mẹ làm ruộng hoặc dọn dẹp nhà cửa. Những lúc rảnh rỗi, chị em tôi lại nằm chõng đọc sách. Trong mấy chị em tôi, đứa nào học tốt, bố dành riêng cho một chiếc chõng tre để học bài. Chỉ có vậy thôi mà chị em tôi đã đua nhau học để được bố “ưu ái” cho chiếc chõng tre. Lớn lên, tôi đi bộ đội và lập nghiệp ở miền Nam, chị và em tôi người ở Bắc, kẻ ở Trung. Lâu lâu chị em tôi mới có dịp hội ngộ vào dịp hè hay ngày tết. Cuộc sống nơi đô thị vốn tấp nập và nhiều việc phải nghĩ, phải làm khiến cho hình ảnh chiếc chõng tre đã nhòa dần trong tâm trí của tôi. Câu chuyện của hai ông cháu đã làm khơi dậy trong tôi biết bao kỷ niệm tuổi thơ về chiếc chõng tre ngày nào. Bố nay đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy” rồi! Chiếc chõng tre bây giờ vừa để bố ngồi hóng mát, đồng thời nó cũng là nơi bày biện bàn cờ, ấm nước chè xanh mỗi khi có bạn tâm giao. Ngày hè, ngày tết, bố lại ngồi trên chiếc chõng tre đón chờ con cháu. Nếu cho tôi một điều ước, tôi chỉ ước rằng: Thời gian quay trở lại để gia đình tôi luôn được quây quần bên nhau, để chị em tôi lại tranh nhau nằm trên chiếc chõng tre của bố.Nguyễn Quế Diệu Mục lục Chiếc chõng tre của bố! Chiếc chõng tre của bố! Nguyễn Quế DiệuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 10 tháng 12 năm 2009
Nguyen Que Dieu Dad's bamboo bed! Every summer, I take the opportunity to take my children back to my hometown to visit family. Summer in the Central region is hot and the Lao wind dries up the grass and trees, making people tired. At night, my father brought the bamboo bed out into the yard so the grandchildren could enjoy the cool air. I don't know when did the bamboo bed come from? And this is the first bamboo bed you have made in your life? I don't know and dad doesn't remember either. I only know that my siblings and I's childhood was all about folk games and playing around with my father's bamboo bed. Cu Ty - my first son, 6 years old, seems to be interested in his grandfather's bamboo bed. Every night, to have a comfortable moment of relaxation after hot summer days, my father takes the "mobile single bed" out to the yard to breathe in the cool air of the countryside. Now the village has electricity and fans, but Dad still keeps his old habits. How many times did Ty ask him: Grandpa! Why are there no stars in Saigon but so many in the countryside? Then it exclaimed: Oh! There's a star running in the sky! Just like that, I asked, he answered. Both grandparents were happy. Ty keeps wondering why our house doesn't have a bamboo bed like in the countryside, Dad? He also asked him to give him a bamboo bed to take back to Saigon to lie on. He said: If I can take it away, I'll give you a few. My family has 4 sisters. The former child is two years older than the latter. At that time, rural life was difficult, so my father often took advantage of things in the garden to make tools to serve household needs. Sometimes it's a rabbit cage, a chicken cage, or a bamboo basket or basket... To make the desired bamboo bed, Dad chose the oldest bamboo trees in the garden. Dad used the bamboo base to make the legs, footrest and ladder for the bed. The middle part was split, used a knife (like a sharp knife but very long and sharper than a sharp knife) to sharpen it smooth, then used rattan rope to braid it to make a bed. to lie down comfortably. Mom said: Before we got married, your father chiseled bamboo beds to cool off. After my parents got married, my dad still kept this habit. My sister and I both grew up and went through a period of lying on bamboo beds like that. Dad often told us: Lying on a bamboo bed is better than lying in a hammock because your back won't be hunched. Although Dad's "philosophy" is correct, perhaps partly because he doesn't have money to buy a hammock, the children have to sleep on bamboo mats! On summer nights, the sisters lay on bamboo mats, enjoying the cool air, counting stars and arguing about... the vast universe. At that time, the poor family did not have enough food to eat, so they did not have money to buy a bed. The bamboo bed was the place to lull my sister and me to sleep at night. The bamboo bed is also where some of us women held our hands to practice our first steps in life. When I grew up a little, my father had to chisel to make another one because my sister and I were fighting over each other to lie down. Like other children, one day we go to school and the other day we have to go to the fields. Young children herd buffaloes, older children cut grass, help their parents farm or clean the house. In our free time, my sister and I lie on the bed and read books. Among my sisters and I, whoever studied well, my father reserved a bamboo bed for studying. That's all, my sister and I competed to learn to get our father's "favor" for a bamboo bed. Growing up, I joined the army and settled down in the South, my sister and brother were from the North and the Central. Every once in a while, my sisters and I have the opportunity to reunite during the summer or on New Year's Day. Urban life is so busy and there are so many things to think about and do that the image of a bamboo bed has gradually faded from my mind. The story of the two grandchildren evoked in me many childhood memories of the old bamboo bed. Dad is now at the age of "seventy years old"! The bamboo bed is now a place for dad to sit and enjoy the cool air, and it is also a place to display a chess board and a kettle of green tea whenever he has a soulmate. On summer days and New Year's days, my father sat on a bamboo bed and waited for his children and grandchildren. If you were given one wish, I would only wish for this: Time could turn back so my family could always gather together, so my sister and I could compete to lie down on my father's bamboo bed again. Nguyen Que Dieu Table of contents Dad's bamboo bed! Dad's bamboo bed! Nguyen Que DieuWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: Thanh Van posted on: December 10, 2009
Thái San Chiếc cầu Gẫy Và Lá Xanh Xuân im lặng ngồi trên mỏm chiếc cầu gỗ vụn của con đường đất đỏ này chạy ra một thị tứ nhỏ, nhưng đông đúc nhất vùng, còn phía kia đi ra bờ sông rồi nghẽn mất. Cứ mỗi buổi chiều mang súng đạn đến lô cốt nhỏ đầu xóm. Công việc đơn thuần đi theo ngày tháng. Chiều nào như nấy, khi ánh mặt trời dần xuống, khi loài người vội vã để sẵn sàng đưa nếp sống vào đêm tối, những cánh chim bay xa xa ngoài sông thật mau, và ánh sáng của mặt trời trở nên vàng vọt trên con sông thênh thang thì chiếc xe bò cọc cạch băng qua cây cầu gẫy đã được chắp vá tạm thời bằng vài mảnh gỗ. Tiếng roi quất trên mình con vật, tiếng đục khàn khàn của ông già vang lên liên tục cho đến khi chiếc xe vượt qua khỏi khu cầu. Xuân cũng thuần đi cả tiếng xe, tiếng giục bò như một âm thanh ngấm dần vào tập quán. Xuân nhớ mang máng những hình ảnh chạy loạn với cha mẹ trong những năm tháng sống trên miền Bắc, vất vưởng lạc lõng trong dòng đời luân lưu với sự bần hàn, gia tài vỏn vẹn trong đôi quang gánh, cả cha lẫn mẹ thay phiên nhau gánh gồng lưu lạc. Cho đến bây giờ Xuân chấp nhận trên tay cây súng nói để bảo vệ xóm làng sau khi được cha mẹ nâng niu trong đoạn sống bương chải. Xuân nhiều lúc tự hỏi lòng về công việc giết để tạo một sự an bình cuộc sống. Đổi chác ấy làm Xuân không trắng bạch tư tưởng và Xuân cũng mặc kệ sự lu mờ của trí tưởng. Dầu sao Xuân cũng biết mình sắp đến tuổi phải đi lính, vì vậy tự đâu bắt buộc Xuân phải suy nghĩ lung lắm. Xuân không rõ được khúc quanh của thế hệ này đã đưa đến học đường, tuổi trẻ những sa đoạ, những tin đọc được trên báo trò đánh thầy, học sinh làm áp lực đuổi thầy khỏi nơi dạy, cho Xuân thấy không còn một chút trật tự, nếp nang xa xưa đáng tôn quý, cho trí óc Xuân một dấu hỏi những điều thu lượm được ở nhà trường. Xuân nhìn đâu đâu cũng đầy dẫy những hình ảnh không mấy đẹp, những đứa con Tây mẹ Việt Nam, những trận hiếp dâm hằng bọn hằng lũ, những đứa mắt láu liên vồ xe. … Còn hàng ngàn hàng vạn hình ảnh khác. Xuân chỉ nghĩ được rằng: vì chiến tranh kéo dài quá nhiều trên mảnh đất này, nhưng đó là điều suy luận bạc nhược không lối thoát. Tiếng kêu quen thuộc của chiếc xe bò từ xa. Xuân nhìn vào ngõ hẻm cụt, biết nhà ông già ở đó, nhưng chưa một lần biết được gia cảnh. Nhìn xa thấy chiếc nón lá, Xuân đã hình dung ra được ông mỉm cười nhìn, ông ngồi trên chiếc xe an nhàn thụ hưởng thong thả sau một ngày mệt nhọc. Chưa kịp chào Xuân thì ông phải chú ý đến con cầu gẫy. Chiếc xe lăn dần xuống chỗ thấp của cầu, hai con bò cố sức để vượt qua. Lên khỏi cầu ông già dừng lại ngay bên vệ đường lấy nón phe phẩy hỏi Xuân: - Tình hình đánh nhau ngoài đẳng sao chú, ngoài Trị Thiên hay Bình Long nó đánh mạnh dữ lắm mà? - Thưa bác cháu cũng không được rõ lắm, chắc cũng có đánh. Xuân nói như thế để có chuyện nói. Ông già ngưng quạt nhìn Xuân kể lể: - Tôi có thằng con ở miệt ngỏai, nhưng chắc hổng sao đâu, con nhà thẳng thắng, trên cũng phò trợ. Cứ mỗi lần qua đây, nhìn thấy chú tôi không cầm nhớ được nó. Xuân vâng nhẹ rồi nở nụ cười khi ông già lên xe với nét vui tươi tin tưởng. Lòng con người luôn cưu mang điều tha thiết chân tình, nhưng cũng lòng con người gây lên những điều tương khốc cắn răng. Xuân cũng luôn mang một niềm tin như ông già, từ ngày ký ức bắt lớn lên trong niềm cơ cực của gia đình, trong những ngày chạy lọan vào miền Nam nắng cháy, nhưng niềm tin đó đã rã rời mất khắp nơi trên đất nước ngay cả trong căn bản mẫu giáo, ngay cả trong nếp sống thường nhật của tuổi, của sự tận tụy người cha đi làm công trong cơ sở người ngọai quốc, niềm tin đã đánh mất ngay khi Xuân sắp bước vào ngưỡng cửa đời sống, tương lai của Xuân là một vùng xa mù và dĩ nhiên Xuân cũng như mọi người lặng thinh chờ đời điều tuần tự phải đến sẽ đến. Cũng như mọi ngày ánh nắng lặn mất trên sông Xuân cũng sửa sọan xong những công việc thường lệ để tìm một sự yên tĩnh trong giấc ngủ. Chiếc xe nhà binh không qua được cầu, nên phải ngưng lại đưa chiếc quan tài xuống trên vai những người lính để đi qua. Lá cờ phủ trên màu sọc đỏ trùng hợp với hàng nến gắn không đều nhau trên nắp. Tôi cúi đầu tỏ dấu lần cuối khi chiếc quan tài đi qua. Có lẽ tôi thấy mình cũng tệ bạc như bao người, mặc dù lâu rồi chưa một chuyến đưa người tử trận về khu nầy, nhưng tôi đã bị tiêm nhiễm những dửng dưng từ những lần chạy giặc và bao thây phơi máu đỏ ối đầy người đầy miệng trên đồng ruộng, trên bờ đê, trong bụi tre, khóm mía… Tôi cũng đã thấm nhuần sự dửng dưng trong gang tấc của thần chết. Tôi nhìn theo chiếc quan tài đi theo người hướng dẫn đến ngõ cụt. Sáu người lính bồng súng đi theo sau như người chết có thể ngồi dậy ra khỏi quan tài, ý nghĩ ngộ nghĩnh, chua chát. Họ đưa chiếc quan tài đến một căn nhà trống không cửa, không một người nào chạy ra để khóc, căn nhà vắng người, họ phải quàng quan tài lại, chờ đợi người nhà về để nhận xác. Sự trống vắng vô tư của cuộc sống giữa những số phận để thấy sự oan uổng chăng nào đó của cái chết, nên thiếu thần giao cách cảm. Tôi thấy những cái chết bất chợt ùn ùn đưa về những nơi thành thị, những phố đông người của cội rễ, của nguồn, và từ đó để nhìn thật tha thiết, chua xót, tiếc thương. Trong cuộc chiến đang tràn đấy trên đất, con người không còn điềm nhiên chấp nhận một cuộc sống đơn thuần, phải lao mình vào sự tự vệ chung và thế thì nhìn thấy nhan nhản những sự chết không còn là điều bất thường. Một vài người lính bồng súng đứng cạnh quan tài, còn lại, họ tản mát ra chung quanh trong xóm với những lũ trẻ và người lớn hiếu kỳ, quấn vào màu lá cây xanh của bờ dậu, của ánh nước sông khi trời ngã tối. Họ chưa hiểu làm sao cho đến giờ phút này không thấy một bóng người để nhận xác. Họ nóng lòng, đôn đáo đi kiếm tìm, và rồi vẫn phải chờ đợi. Thật xa, chiếc xe bò chậm chạp lờ mờ trong một khúc quanh co như con đường vô ảnh. Ông già vẫn như hàng ngàn ngày với chiếc nón nắng mưa, ngủ gà vịt. Có tiếng xôn xao trong xóm. Chỉ cho một người lính về hướng ông già. Bộ mặt người lính bừng lên như sắp sửa thóat một món nợ. Tôi nhìn thấy sự an nhàn vô tư như thường lệ của ông già khi chiếc xe đến gần cây cầu xập xệ. Tiếng vẫn khua vang như vô tình một thay đổi. Ông vẫn nhìn tôi nhướng mắt một cách bình thản với nụ cười cố hữu. Ông ngước nhìn phớt qua về phía ngõ cụt nhà ông và một thoáng ngơ ngác về sự hiện diện của đám người. Tròn trong mắt ông một màu xanh long lanh ngời ngợi như hai bờ bên dòng sông đang luân lưu, những dừa, những bụi sói cao thấp nằm trong hàng ngũ sinh vật bỗng dưng vô tình chịu gió bão. Đôi mắt dịu hiền này không mang một chút ảnh hình của chiến tranh. Tôi bỗng thấy dâng lên trong lòng một chút phiền muộn. Tôi thương xót ông, ngần này tuổi đời chịu uất nghẹn nhìn lá xanh rụng xuống. Ông mang niềm tin mãnh liệt, với chiếc xe bò như không hề xảy ra chuyện gì. Có người đã lanh lẹ chạy ra báo tin sớm cho ông dưới nhiều con mắt. Hai hàng nước mắt người đàn bà không cầm được khi nói với ông điều gì ai cũng biết. Thấy ông cúi xuống nhìn người đàn bà rồi lại ngẩng lên nhìn về phía quan tài. Có lẽ ông đã bắt đầu đánh rơi mất niềm tin ngày nào và bây giờ là một sự hiển nhiên nhãn tiền. Tay ông bỗng dưng quất liên tiếp vào đôi bò. Chiếc xe đi mạnh xuống chiếc cầu sập, vì vội vã quá nên chiếc xe bò không vượt lên được. Bỗng nhiên tiếng ông già khóc rống gọi con. Bỏ chiếc xe bò, nhảy xuống chạy bay vào nhà, nơi chiếc quan tài nằm đó. Tiếng gọi “Thằng Năm con tôi” còn văng vẳng vang lên trong lòng buổi chiều. Hai con bò ngúc ngoắc một mình với chiếc xe nhìn theo bóng dáng chủ. Sáng sớm, khi ngọn đèn thành phố vừa tắt được một chập. Chiếc xe đò mới ra khỏi rừng xe của đô thị. Chiếc xe lao đi, trong đó có Xuân chễm chệ ngồi trên chiếc ghế đẩu. Xuân đáo nhậm đơn vị, Xuân đã suy nghĩ nhiều rồi nên sự ngạc nhiên phải đến không làm hoang mang, dù là số phận nhược tiểu dĩ nhiên trên bản đồ thế giới. Những vui buồn nào điềm nhiên khép lại trong sự chấp nhận hữu lý của miền mình. Xuân biết rõ những gì về sinh vật trên trái đất này, một cây và hàng ngàn ức lá xanh rụng xuống nhòa đi trong niềm căm phẫn, những xác chết và chết thật nhiều mang về phần cội những mầu mỡ tươi tốt, trên mặt đất có những nguyên sinh động vật hiện hữu. Mục lục Chiếc cầu Gẫy Và Lá Xanh Chiếc cầu Gẫy Và Lá Xanh Thái SanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh Máy: Thái san Nguồn: Thái SanĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 27 tháng 3 năm 2005
Thái San Chiếc cầu Gẫy Và Lá Xanh Xuân im lặng ngồi trên mỏm chiếc cầu gỗ vụn của con đường đất đỏ này chạy ra một thị tứ nhỏ, nhưng đông đúc nhất vùng, còn phía kia đi ra bờ sông rồi nghẽn mất. Cứ mỗi buổi chiều mang súng đạn đến lô cốt nhỏ đầu xóm. Công việc đơn thuần đi theo ngày tháng. Chiều nào như nấy, khi ánh mặt trời dần xuống, khi loài người vội vã để sẵn sàng đưa nếp sống vào đêm tối, những cánh chim bay xa xa ngoài sông thật mau, và ánh sáng của mặt trời trở nên vàng vọt trên con sông thênh thang thì chiếc xe bò cọc cạch băng qua cây cầu gẫy đã được chắp vá tạm thời bằng vài mảnh gỗ. Tiếng roi quất trên mình con vật, tiếng đục khàn khàn của ông già vang lên liên tục cho đến khi chiếc xe vượt qua khỏi khu cầu. Xuân cũng thuần đi cả tiếng xe, tiếng giục bò như một âm thanh ngấm dần vào tập quán. Xuân nhớ mang máng những hình ảnh chạy loạn với cha mẹ trong những năm tháng sống trên miền Bắc, vất vưởng lạc lõng trong dòng đời luân lưu với sự bần hàn, gia tài vỏn vẹn trong đôi quang gánh, cả cha lẫn mẹ thay phiên nhau gánh gồng lưu lạc. Cho đến bây giờ Xuân chấp nhận trên tay cây súng nói để bảo vệ xóm làng sau khi được cha mẹ nâng niu trong đoạn sống bương chải. Xuân nhiều lúc tự hỏi lòng về công việc giết để tạo một sự an bình cuộc sống. Đổi chác ấy làm Xuân không trắng bạch tư tưởng và Xuân cũng mặc kệ sự lu mờ của trí tưởng. Dầu sao Xuân cũng biết mình sắp đến tuổi phải đi lính, vì vậy tự đâu bắt buộc Xuân phải suy nghĩ lung lắm. Xuân không rõ được khúc quanh của thế hệ này đã đưa đến học đường, tuổi trẻ những sa đoạ, những tin đọc được trên báo trò đánh thầy, học sinh làm áp lực đuổi thầy khỏi nơi dạy, cho Xuân thấy không còn một chút trật tự, nếp nang xa xưa đáng tôn quý, cho trí óc Xuân một dấu hỏi những điều thu lượm được ở nhà trường. Xuân nhìn đâu đâu cũng đầy dẫy những hình ảnh không mấy đẹp, những đứa con Tây mẹ Việt Nam, những trận hiếp dâm hằng bọn hằng lũ, những đứa mắt láu liên vồ xe. … Còn hàng ngàn hàng vạn hình ảnh khác. Xuân chỉ nghĩ được rằng: vì chiến tranh kéo dài quá nhiều trên mảnh đất này, nhưng đó là điều suy luận bạc nhược không lối thoát. Tiếng kêu quen thuộc của chiếc xe bò từ xa. Xuân nhìn vào ngõ hẻm cụt, biết nhà ông già ở đó, nhưng chưa một lần biết được gia cảnh. Nhìn xa thấy chiếc nón lá, Xuân đã hình dung ra được ông mỉm cười nhìn, ông ngồi trên chiếc xe an nhàn thụ hưởng thong thả sau một ngày mệt nhọc. Chưa kịp chào Xuân thì ông phải chú ý đến con cầu gẫy. Chiếc xe lăn dần xuống chỗ thấp của cầu, hai con bò cố sức để vượt qua. Lên khỏi cầu ông già dừng lại ngay bên vệ đường lấy nón phe phẩy hỏi Xuân: - Tình hình đánh nhau ngoài đẳng sao chú, ngoài Trị Thiên hay Bình Long nó đánh mạnh dữ lắm mà? - Thưa bác cháu cũng không được rõ lắm, chắc cũng có đánh. Xuân nói như thế để có chuyện nói. Ông già ngưng quạt nhìn Xuân kể lể: - Tôi có thằng con ở miệt ngỏai, nhưng chắc hổng sao đâu, con nhà thẳng thắng, trên cũng phò trợ. Cứ mỗi lần qua đây, nhìn thấy chú tôi không cầm nhớ được nó. Xuân vâng nhẹ rồi nở nụ cười khi ông già lên xe với nét vui tươi tin tưởng. Lòng con người luôn cưu mang điều tha thiết chân tình, nhưng cũng lòng con người gây lên những điều tương khốc cắn răng. Xuân cũng luôn mang một niềm tin như ông già, từ ngày ký ức bắt lớn lên trong niềm cơ cực của gia đình, trong những ngày chạy lọan vào miền Nam nắng cháy, nhưng niềm tin đó đã rã rời mất khắp nơi trên đất nước ngay cả trong căn bản mẫu giáo, ngay cả trong nếp sống thường nhật của tuổi, của sự tận tụy người cha đi làm công trong cơ sở người ngọai quốc, niềm tin đã đánh mất ngay khi Xuân sắp bước vào ngưỡng cửa đời sống, tương lai của Xuân là một vùng xa mù và dĩ nhiên Xuân cũng như mọi người lặng thinh chờ đời điều tuần tự phải đến sẽ đến. Cũng như mọi ngày ánh nắng lặn mất trên sông Xuân cũng sửa sọan xong những công việc thường lệ để tìm một sự yên tĩnh trong giấc ngủ. Chiếc xe nhà binh không qua được cầu, nên phải ngưng lại đưa chiếc quan tài xuống trên vai những người lính để đi qua. Lá cờ phủ trên màu sọc đỏ trùng hợp với hàng nến gắn không đều nhau trên nắp. Tôi cúi đầu tỏ dấu lần cuối khi chiếc quan tài đi qua. Có lẽ tôi thấy mình cũng tệ bạc như bao người, mặc dù lâu rồi chưa một chuyến đưa người tử trận về khu nầy, nhưng tôi đã bị tiêm nhiễm những dửng dưng từ những lần chạy giặc và bao thây phơi máu đỏ ối đầy người đầy miệng trên đồng ruộng, trên bờ đê, trong bụi tre, khóm mía… Tôi cũng đã thấm nhuần sự dửng dưng trong gang tấc của thần chết. Tôi nhìn theo chiếc quan tài đi theo người hướng dẫn đến ngõ cụt. Sáu người lính bồng súng đi theo sau như người chết có thể ngồi dậy ra khỏi quan tài, ý nghĩ ngộ nghĩnh, chua chát. Họ đưa chiếc quan tài đến một căn nhà trống không cửa, không một người nào chạy ra để khóc, căn nhà vắng người, họ phải quàng quan tài lại, chờ đợi người nhà về để nhận xác. Sự trống vắng vô tư của cuộc sống giữa những số phận để thấy sự oan uổng chăng nào đó của cái chết, nên thiếu thần giao cách cảm. Tôi thấy những cái chết bất chợt ùn ùn đưa về những nơi thành thị, những phố đông người của cội rễ, của nguồn, và từ đó để nhìn thật tha thiết, chua xót, tiếc thương. Trong cuộc chiến đang tràn đấy trên đất, con người không còn điềm nhiên chấp nhận một cuộc sống đơn thuần, phải lao mình vào sự tự vệ chung và thế thì nhìn thấy nhan nhản những sự chết không còn là điều bất thường. Một vài người lính bồng súng đứng cạnh quan tài, còn lại, họ tản mát ra chung quanh trong xóm với những lũ trẻ và người lớn hiếu kỳ, quấn vào màu lá cây xanh của bờ dậu, của ánh nước sông khi trời ngã tối. Họ chưa hiểu làm sao cho đến giờ phút này không thấy một bóng người để nhận xác. Họ nóng lòng, đôn đáo đi kiếm tìm, và rồi vẫn phải chờ đợi. Thật xa, chiếc xe bò chậm chạp lờ mờ trong một khúc quanh co như con đường vô ảnh. Ông già vẫn như hàng ngàn ngày với chiếc nón nắng mưa, ngủ gà vịt. Có tiếng xôn xao trong xóm. Chỉ cho một người lính về hướng ông già. Bộ mặt người lính bừng lên như sắp sửa thóat một món nợ. Tôi nhìn thấy sự an nhàn vô tư như thường lệ của ông già khi chiếc xe đến gần cây cầu xập xệ. Tiếng vẫn khua vang như vô tình một thay đổi. Ông vẫn nhìn tôi nhướng mắt một cách bình thản với nụ cười cố hữu. Ông ngước nhìn phớt qua về phía ngõ cụt nhà ông và một thoáng ngơ ngác về sự hiện diện của đám người. Tròn trong mắt ông một màu xanh long lanh ngời ngợi như hai bờ bên dòng sông đang luân lưu, những dừa, những bụi sói cao thấp nằm trong hàng ngũ sinh vật bỗng dưng vô tình chịu gió bão. Đôi mắt dịu hiền này không mang một chút ảnh hình của chiến tranh. Tôi bỗng thấy dâng lên trong lòng một chút phiền muộn. Tôi thương xót ông, ngần này tuổi đời chịu uất nghẹn nhìn lá xanh rụng xuống. Ông mang niềm tin mãnh liệt, với chiếc xe bò như không hề xảy ra chuyện gì. Có người đã lanh lẹ chạy ra báo tin sớm cho ông dưới nhiều con mắt. Hai hàng nước mắt người đàn bà không cầm được khi nói với ông điều gì ai cũng biết. Thấy ông cúi xuống nhìn người đàn bà rồi lại ngẩng lên nhìn về phía quan tài. Có lẽ ông đã bắt đầu đánh rơi mất niềm tin ngày nào và bây giờ là một sự hiển nhiên nhãn tiền. Tay ông bỗng dưng quất liên tiếp vào đôi bò. Chiếc xe đi mạnh xuống chiếc cầu sập, vì vội vã quá nên chiếc xe bò không vượt lên được. Bỗng nhiên tiếng ông già khóc rống gọi con. Bỏ chiếc xe bò, nhảy xuống chạy bay vào nhà, nơi chiếc quan tài nằm đó. Tiếng gọi “Thằng Năm con tôi” còn văng vẳng vang lên trong lòng buổi chiều. Hai con bò ngúc ngoắc một mình với chiếc xe nhìn theo bóng dáng chủ. Sáng sớm, khi ngọn đèn thành phố vừa tắt được một chập. Chiếc xe đò mới ra khỏi rừng xe của đô thị. Chiếc xe lao đi, trong đó có Xuân chễm chệ ngồi trên chiếc ghế đẩu. Xuân đáo nhậm đơn vị, Xuân đã suy nghĩ nhiều rồi nên sự ngạc nhiên phải đến không làm hoang mang, dù là số phận nhược tiểu dĩ nhiên trên bản đồ thế giới. Những vui buồn nào điềm nhiên khép lại trong sự chấp nhận hữu lý của miền mình. Xuân biết rõ những gì về sinh vật trên trái đất này, một cây và hàng ngàn ức lá xanh rụng xuống nhòa đi trong niềm căm phẫn, những xác chết và chết thật nhiều mang về phần cội những mầu mỡ tươi tốt, trên mặt đất có những nguyên sinh động vật hiện hữu. Mục lục Chiếc cầu Gẫy Và Lá Xanh Chiếc cầu Gẫy Và Lá Xanh Thái SanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh Máy: Thái san Nguồn: Thái SanĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 27 tháng 3 năm 2005
Khuyết Danh Chiếc cầu phúc đức Ngày xưa có anh chàng chuyên sống về nghề ăn trộm. Trong nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được nhiều, có lúc được ít, nhưng trong nhà không bao giờ có của để dành. Hai mẹ con chàng thường phải chịu bữa ăn, bữa nhịn. Một hôm, nhân ngày giỗ cha, mẹ chàng ôn lại cho chàng nghe cuộc đời của ông và cha chàng xưa kia. Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm kiếm được những món đáng bạc chục, bạc trăm, vậy mà khi nhắm mắt xuôi tay cũng không để lại cho cha chàng được chút gì. Rồi đến đời cha chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác tốt hơn, cha chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết làng trên đến xóm dưới, mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi cha chàng chết đi cũng không có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã gần hai chục năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi đầu. Ôn lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình chàng không khỏi thấy ngán ngẩm. Một đêm, chàng đến rình nhà ông thầy đồ ở xóm bên, định ăn trộm cái thủ lợn mà một nhóm học trò mang đến biếu. Rình mãi tới khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: "Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương". Chàng bụng bảo dạ: "Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ nhục lại cho tả” Rồi tự đáp: "Phải, quả thật đúng như vậy". Đoạn chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ nay bỏ nghề ăn trộm. Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi mang ra chợ bán. Công việc thật là vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi một bát mồ hôi mới kiếm được một món tiền mua gạo, nhưng chàng thấy yên tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe tiếng người xì xào: "Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến kia!". Cái tiếng "ba đời ăn trộm" làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: "Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức họa may mới xóa được mấy tiếng đó". Một ngày mùa hạ, trời mưa to nước lũ tràn về. Chàng đem củi đi chợ bán, vì nước lũ tràn về nhanh quá, không thể lội qua sông như mọi hôm được. Hàng trăm người ùn lại vì chưa có đò, mặt trời đã khuất sau rặng núi, mà mọi người vẫn loay hoay ở bờ sông. Chàng bèn nghĩ tới việc bắc một cái cầu. Đêm ấy, ngủ lại bến sông cùng với nhiều người khác, chàng đem chuyện bắc cầu ra hỏi bà con, nhiều người nói: - Đó là một điều phúc đức được muôn ngàn người nhớ ơn. Trước đây cũng đã có người làm nhưng rồi lại bỏ dở... Sáng hôm sau, nước rút, chàng lội sông về nhà, tới nhà, chàng đem ý định bắc cầu ra hỏi ý kiến mẹ. Mẹ chàng rất vui và giục chàng dốc sức bắc cầu! Từ đó, cứ sáng chàng lên rừng chặt cây; chiều ra sức chuyển gỗ; trưa cố hái thêm một gánh củi để về cho mẹ đi chợ. Chàng làm việc quên ngày tháng. Buổi chặt cây, buổi chuyển gỗ, buổi bắc cầu, không bao lâu đã bắc được hơn chục sải cầu. Công việc còn nhiều nặng nhọc vì con sông rộng gần hai trăm sải. Vì ăn đói mà làm nhiều nên chàng bị kiệt sức. Một hôm đói quá chàng nằm lăn ra mê man ở đoạn cầu đang làm dở. Những người đi qua xúm lại cứu chữa, nhưng chàng vẫn chưa hồi tỉnh. Giữa lúc ấy có một viên quan võ đi đến, thấy một đám đông đang xúm quanh một người nằm sõng soài, viên quan xuống ngựa đến gần hỏi chuyện. Mọi người cho biết đây là anh chàng bắc cầu làm phúc đang làm thì vì mệt quá mà lăn ra ngất đi... Viên quan liền mở túi lấy thuốc cho chàng uống. Được một lúc, chàng bắc cầu tỉnh lại, mọi người tản dần ra về, viên quan ngồi lại bên chàng ân cần hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết cho ông nghe cuộc đời của mình và nói rõ ý định cùng công việc đang làm. Viên quan võ nghe nói ra chiều cảm động, ông ngồi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: - Xưa kia cha ông chàng làm nghề thất đức để cho chàng ngày nay phải đói nghèo. Nay, chàng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa kia, quả là hay vô cùng! Về phần tôi, tôi xin nói thật: cha tôi, ông tôi, ông cụ ông kỵ tôi, đời đời làm quan ức hiếp dân lành, bóp hầu bóp cổ để nã tiền, nã của. Đấy cũng là điều thất đức, vì vậy đến tôi ngày nay trời quả báo: lấy vợ đã hơn hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà, cho nên, tuổi đã ngoài bốn mươi, chúng tôi vẫn phải sống hiu quạnh. Nay tôi cũng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa, chẳng hay chàng có cho tôi góp sức cùng nhau bắc cầu được không? Chàng bắc cầu vui mừng nói: - Nếu quan lớn có chí hướng như vậy thì cái cầu này sẽ chóng xong, dân chúng sẽ mau được qua lại, còn gì tốt hơn! Hai người bèn kể cho nhau biết tên tuổi, quê quán rồi kết làm anh em, viên quan võ hơn chàng bắc cầu bốn tuổi, được nhận là anh. Chàng bắc cầu nói: - Em còn có mẹ già ở nhà, vì nhà nghèo, phải bán củi lấy tiền mua gạo cho nên ngày nào em cũng phải đem củi về nhà để sáng hôm sau mẹ đem củi ra chợ bán lấy tiền. Viên quan võ thân mật bảo chàng: - Anh có nhiều tiền của, anh sẽ bỏ ra nuôi mẹ để em khỏi phải bận tâm, như vậy chúng ta sẽ chuyên chú vào việc bắc cầu, em nghĩ thế nào? Chàng bắc cầu nói: - Nếu vậy thì còn gì hay hơn! Từ đấy, hàng ngày hai anh em cùng nhau lên núi đốn cây, chuyển gỗ. Chẳng bao lâu, hai người đã dựng xong chiếc cầu gỗ hơn hai trăm sải. Dân chúng ai cũng vui mừng, họ đặt tên là cầu Phúc Đức. Các cụ hai làng hoan hỉ cùng nhau bàn định góp tiền làm một bữa tiệc ăn mừng cầu. Ngày ăn mừng chiếc cầu, các vị bô lão và tất cả dân chúng quanh vùng nô nức đến dự, ai cũng cầu xin Ngọc Hoàng ban phúc cho hai người bắc cầu, họ ăn uống linh đình suốt cả buổi sáng. Bỗng một cơn gió bất chợt kéo đến, gió thổi mạnh, làm cúi rạp ngọn cỏ nghiêng ngả cành cây. Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rồi bất thình lình cuốn anh chàng bắc cầu đi mất. Viên quan võ thất thanh kêu gọi, tất cả mọi người đều ngậm ngùi. Thấy người em kết nghĩa của mình hết lòng hết sức hàng ba năm trời ra làm cầu mà lại không được hưởng phúc, viên quan xót xa lắm. Sau khi mọi người đã ra về, ông đón vợ sang ở chung với bà cụ để sớm hôm trông nom, phụng dưỡng bà thay người em kết nghĩa. Lại nói đến chàng bắc cầu bị gió lốc cuốn tới một cái hang trên một ngọn núi cao. Chàng lảo đảo đứng chưa kịp vững. Cơn gió bỗng vụt hóa thành người tươi cười nói với chàng: - Nhà ngươi chớ sợ, ta là thần Gió được Ngọc Hoàng sai đi đón nhà ngươi về đây để thưởng cho ngươi cái công thành tâm làm chuyện phúc đức. Bạc vàng đấy, nhà ngươi muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Chàng bắc cầu nhìn vào hang thấy đống vàng sáng chói. Chàng cởi áo gói lấy một số vàng, rồi buộc lại cẩn thận, chàng vác gói vàng lên vai, tiến ra cửa hang, thần Gió lại hóa thành cơn gió lốc cuốn chàng đi, trả về bản và đặt chàng nhẹ nhàng xuống giữa sân nhà. Chàng bắc cầu sung sướng để gói vàng xuống rồi lên tiếng gọi cửa. Nghe tiếng gọi, mẹ chàng và hai vợ chồng viên quan võ tưởng là hồn chàng bắc cầu hiện về, liền dắt nhau lại ngồi quanh chiếc bàn thờ thắp hương khấn vái lầm rầm. Nhìn qua kẽ liếp thấy ba người vừa cúi lạy, vừa khấn, chàng bắc cầu bật cười lại một lần nữa chàng lên tiếng gọi: - Mẹ ơi! Anh ơi! Em đây mà! Em hãy còn sống trở về nhà đây! Mau mau mở cửa! Nghe rõ tiếng gọi của con, bà mẹ mừng quýnh, lật đật xuống giường. Vợ chồng viên quan võ cũng chạy ra mở cửa, đón người em kết nghĩa. Chàng bắc cầu ngồi xuống kể lại ngọn ngành câu chuyện được thần Gió đưa đi lấy vàng cho cả nhà nghe, mọi người reo mừng sung sướng. Từ đấy mẹ con chàng bắc cầu bắt đầu trở nên giàu có, chàng mời hai vợ chồng người anh kết nghĩa ở lại và cùng nhau làm ăn. Ít lâu sau, vợ viên quan võ có mang, đến tháng đến ngày chị sinh hạ được một con trai. Hai vợ chồng mừng vô kể. Còn chàng bắc cầu ít lâu sau cũng lấy vợ có con và sống sung sướng đến già. Mục lục Chiếc cầu phúc đức Chiếc cầu phúc đức Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Leo Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 1 tháng 11 năm 2009
Khuyết Danh Chiếc cầu phúc đức Ngày xưa có anh chàng chuyên sống về nghề ăn trộm. Trong nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được nhiều, có lúc được ít, nhưng trong nhà không bao giờ có của để dành. Hai mẹ con chàng thường phải chịu bữa ăn, bữa nhịn. Một hôm, nhân ngày giỗ cha, mẹ chàng ôn lại cho chàng nghe cuộc đời của ông và cha chàng xưa kia. Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm kiếm được những món đáng bạc chục, bạc trăm, vậy mà khi nhắm mắt xuôi tay cũng không để lại cho cha chàng được chút gì. Rồi đến đời cha chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác tốt hơn, cha chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết làng trên đến xóm dưới, mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi cha chàng chết đi cũng không có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã gần hai chục năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi đầu. Ôn lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình chàng không khỏi thấy ngán ngẩm. Một đêm, chàng đến rình nhà ông thầy đồ ở xóm bên, định ăn trộm cái thủ lợn mà một nhóm học trò mang đến biếu. Rình mãi tới khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: "Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương". Chàng bụng bảo dạ: "Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ nhục lại cho tả” Rồi tự đáp: "Phải, quả thật đúng như vậy". Đoạn chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ nay bỏ nghề ăn trộm. Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi mang ra chợ bán. Công việc thật là vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi một bát mồ hôi mới kiếm được một món tiền mua gạo, nhưng chàng thấy yên tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe tiếng người xì xào: "Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến kia!". Cái tiếng "ba đời ăn trộm" làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: "Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức họa may mới xóa được mấy tiếng đó". Một ngày mùa hạ, trời mưa to nước lũ tràn về. Chàng đem củi đi chợ bán, vì nước lũ tràn về nhanh quá, không thể lội qua sông như mọi hôm được. Hàng trăm người ùn lại vì chưa có đò, mặt trời đã khuất sau rặng núi, mà mọi người vẫn loay hoay ở bờ sông. Chàng bèn nghĩ tới việc bắc một cái cầu. Đêm ấy, ngủ lại bến sông cùng với nhiều người khác, chàng đem chuyện bắc cầu ra hỏi bà con, nhiều người nói: - Đó là một điều phúc đức được muôn ngàn người nhớ ơn. Trước đây cũng đã có người làm nhưng rồi lại bỏ dở... Sáng hôm sau, nước rút, chàng lội sông về nhà, tới nhà, chàng đem ý định bắc cầu ra hỏi ý kiến mẹ. Mẹ chàng rất vui và giục chàng dốc sức bắc cầu! Từ đó, cứ sáng chàng lên rừng chặt cây; chiều ra sức chuyển gỗ; trưa cố hái thêm một gánh củi để về cho mẹ đi chợ. Chàng làm việc quên ngày tháng. Buổi chặt cây, buổi chuyển gỗ, buổi bắc cầu, không bao lâu đã bắc được hơn chục sải cầu. Công việc còn nhiều nặng nhọc vì con sông rộng gần hai trăm sải. Vì ăn đói mà làm nhiều nên chàng bị kiệt sức. Một hôm đói quá chàng nằm lăn ra mê man ở đoạn cầu đang làm dở. Những người đi qua xúm lại cứu chữa, nhưng chàng vẫn chưa hồi tỉnh. Giữa lúc ấy có một viên quan võ đi đến, thấy một đám đông đang xúm quanh một người nằm sõng soài, viên quan xuống ngựa đến gần hỏi chuyện. Mọi người cho biết đây là anh chàng bắc cầu làm phúc đang làm thì vì mệt quá mà lăn ra ngất đi... Viên quan liền mở túi lấy thuốc cho chàng uống. Được một lúc, chàng bắc cầu tỉnh lại, mọi người tản dần ra về, viên quan ngồi lại bên chàng ân cần hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết cho ông nghe cuộc đời của mình và nói rõ ý định cùng công việc đang làm. Viên quan võ nghe nói ra chiều cảm động, ông ngồi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: - Xưa kia cha ông chàng làm nghề thất đức để cho chàng ngày nay phải đói nghèo. Nay, chàng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa kia, quả là hay vô cùng! Về phần tôi, tôi xin nói thật: cha tôi, ông tôi, ông cụ ông kỵ tôi, đời đời làm quan ức hiếp dân lành, bóp hầu bóp cổ để nã tiền, nã của. Đấy cũng là điều thất đức, vì vậy đến tôi ngày nay trời quả báo: lấy vợ đã hơn hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà, cho nên, tuổi đã ngoài bốn mươi, chúng tôi vẫn phải sống hiu quạnh. Nay tôi cũng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa, chẳng hay chàng có cho tôi góp sức cùng nhau bắc cầu được không? Chàng bắc cầu vui mừng nói: - Nếu quan lớn có chí hướng như vậy thì cái cầu này sẽ chóng xong, dân chúng sẽ mau được qua lại, còn gì tốt hơn! Hai người bèn kể cho nhau biết tên tuổi, quê quán rồi kết làm anh em, viên quan võ hơn chàng bắc cầu bốn tuổi, được nhận là anh. Chàng bắc cầu nói: - Em còn có mẹ già ở nhà, vì nhà nghèo, phải bán củi lấy tiền mua gạo cho nên ngày nào em cũng phải đem củi về nhà để sáng hôm sau mẹ đem củi ra chợ bán lấy tiền. Viên quan võ thân mật bảo chàng: - Anh có nhiều tiền của, anh sẽ bỏ ra nuôi mẹ để em khỏi phải bận tâm, như vậy chúng ta sẽ chuyên chú vào việc bắc cầu, em nghĩ thế nào? Chàng bắc cầu nói: - Nếu vậy thì còn gì hay hơn! Từ đấy, hàng ngày hai anh em cùng nhau lên núi đốn cây, chuyển gỗ. Chẳng bao lâu, hai người đã dựng xong chiếc cầu gỗ hơn hai trăm sải. Dân chúng ai cũng vui mừng, họ đặt tên là cầu Phúc Đức. Các cụ hai làng hoan hỉ cùng nhau bàn định góp tiền làm một bữa tiệc ăn mừng cầu. Ngày ăn mừng chiếc cầu, các vị bô lão và tất cả dân chúng quanh vùng nô nức đến dự, ai cũng cầu xin Ngọc Hoàng ban phúc cho hai người bắc cầu, họ ăn uống linh đình suốt cả buổi sáng. Bỗng một cơn gió bất chợt kéo đến, gió thổi mạnh, làm cúi rạp ngọn cỏ nghiêng ngả cành cây. Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rồi bất thình lình cuốn anh chàng bắc cầu đi mất. Viên quan võ thất thanh kêu gọi, tất cả mọi người đều ngậm ngùi. Thấy người em kết nghĩa của mình hết lòng hết sức hàng ba năm trời ra làm cầu mà lại không được hưởng phúc, viên quan xót xa lắm. Sau khi mọi người đã ra về, ông đón vợ sang ở chung với bà cụ để sớm hôm trông nom, phụng dưỡng bà thay người em kết nghĩa. Lại nói đến chàng bắc cầu bị gió lốc cuốn tới một cái hang trên một ngọn núi cao. Chàng lảo đảo đứng chưa kịp vững. Cơn gió bỗng vụt hóa thành người tươi cười nói với chàng: - Nhà ngươi chớ sợ, ta là thần Gió được Ngọc Hoàng sai đi đón nhà ngươi về đây để thưởng cho ngươi cái công thành tâm làm chuyện phúc đức. Bạc vàng đấy, nhà ngươi muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Chàng bắc cầu nhìn vào hang thấy đống vàng sáng chói. Chàng cởi áo gói lấy một số vàng, rồi buộc lại cẩn thận, chàng vác gói vàng lên vai, tiến ra cửa hang, thần Gió lại hóa thành cơn gió lốc cuốn chàng đi, trả về bản và đặt chàng nhẹ nhàng xuống giữa sân nhà. Chàng bắc cầu sung sướng để gói vàng xuống rồi lên tiếng gọi cửa. Nghe tiếng gọi, mẹ chàng và hai vợ chồng viên quan võ tưởng là hồn chàng bắc cầu hiện về, liền dắt nhau lại ngồi quanh chiếc bàn thờ thắp hương khấn vái lầm rầm. Nhìn qua kẽ liếp thấy ba người vừa cúi lạy, vừa khấn, chàng bắc cầu bật cười lại một lần nữa chàng lên tiếng gọi: - Mẹ ơi! Anh ơi! Em đây mà! Em hãy còn sống trở về nhà đây! Mau mau mở cửa! Nghe rõ tiếng gọi của con, bà mẹ mừng quýnh, lật đật xuống giường. Vợ chồng viên quan võ cũng chạy ra mở cửa, đón người em kết nghĩa. Chàng bắc cầu ngồi xuống kể lại ngọn ngành câu chuyện được thần Gió đưa đi lấy vàng cho cả nhà nghe, mọi người reo mừng sung sướng. Từ đấy mẹ con chàng bắc cầu bắt đầu trở nên giàu có, chàng mời hai vợ chồng người anh kết nghĩa ở lại và cùng nhau làm ăn. Ít lâu sau, vợ viên quan võ có mang, đến tháng đến ngày chị sinh hạ được một con trai. Hai vợ chồng mừng vô kể. Còn chàng bắc cầu ít lâu sau cũng lấy vợ có con và sống sung sướng đến già. Mục lục Chiếc cầu phúc đức Chiếc cầu phúc đức Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Leo Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 1 tháng 11 năm 2009
Saki (H.H. Munro) Chiếc cửa sổ mở Dịch thuật: Lê Bá Kông Một cô gái 15 tuổi rất bình tĩnh nói: "Thưa ông Nuttel, cô tôi sắp xuống đấy ạ; trong khi chờ đợi, xin ông vui lòng cho tôi được tiếp chuyện ông." Framton Nuttel cố gắng nói điều gì lịch thiệp có thể làm đẹp lòng cô cháu lúc này mà không tỏ ra thiếu lễ độ với bà cô sắp xuống lầu. Trong thâm tâm, ông nghi ngờ hơn bao giờ hết, không biết những cuộc viếng thăm xã giao một lọat những người hoàn toàn xa lạ này có giúp ích gì cho việc điều trị thần kinh mà theo nguyên tắc ông phải theo đuổi không. Khi ông sắp sửa về tĩnh dưỡng ở miền quê này, chị ông đã nói: "Tôi biết trước sự việc sẽ ra sao mà; cậu sẽ tự chôn mình ở đó và không được trò chuyện với một ai, và vì buồn phiền, thần kinh cậu sẽ còn tệ hơn. Tôi sẽ viết thư giới thiệu cậu với tất cả mọi người tôi quen biết. Tôi nhớ có vài người rất dễ thương." Framton tự hỏi không hiểu bà Sappleton, người mà ông tới để trao thư giới thiệu, có thuộc vào số người dễ thương ấy không. Khi cân nhắc thấy rằng giữa họ đã có một niềm thông cảm lặng lẽ đầy đủ rồi, cô cháu gái liền hỏi: "Ông có quen biết nhiều người ở vùng này không ạ?" Framton trả lời: "Tôi chẳng quen một ai hết. Chị tôi bốn năm trước có ở đây, tại nhà vị mục sư, và chị tôi viết thư giới thiệu tôi với một số người trong vùng này." Ông ta nói câu sau này bằng một giọng ân hận rõ ràng. Cô gái bình tĩnh nói tiếp: "Vậy ông thực không biết gì về bà cô tôi sao?" Ông khách công nhận: "Tôi chỉ biết tên và địa chỉ của bà thôi." Ông đang phân vân không biết bà Sappleton có chồng hay góa chồng. Trong căn phòng có một cái gì khó tả hình như gợi cho thấy là nhà ấy có đàn ông. Thiếu nữ nói: "Thảm kịch liên hệ tới cô tôi đã xảy ra vừa đúng ba năm trước đây, có lẽ từ thời bà chị ông còn ở đây." Framton hỏi: "Thảm kịch à?"; dầu sao nơi đồng quê yên tĩnh này dường như không phải là chỗ có thể có thảm kịch xảy ra. Cô cháu gái chỉ chiếc cửa sổ lớn kiểu Pháp mở rộng nhìn ra một sân cỏ và nói tiếp: "Chắc ông ngạc nhiên tại sao chúng tôi lại để chiếc cửa sổ kia mở rộng vào một buổi chiều tháng mười." Framton nói: "Tháng này năm nay cũng ấm áp lắm đấy chứ, nhưng chiếc cửa sổ ấy dính líu gì tới thảm kịch kia không?" "Cũng ngày này ba năm trước, chồng và hai người em trai của bà cô tôi đã bước qua chiếc cửa sổ này để đi săn bắn. Không bao giờ họ trở về nữa. Khi vượt qua bãi sình mà họ thích tới bắn chim mỏ nhát, cả ba đều bị chết chìm ở một chỗ sa lầy hiểm ác. Ông biết không, mùa hạ năm đó, mưa lớn ghê gớm, và những chỗ vẫn an toàn trong những năm trước thì năm đó bị lở sụt bất thình lình mà không ai ngờ trước được. Người ta không bao giờ tìm lại được thi hài họ, và đó là điều khủng khiếp nhất trong câu chuyện. " Tới đây, giọng nói của cô bé không còn bình tĩnh nữa mà trở nên ngập ngừng. "Bà cô đáng thương của tôi lúc nào cũng nghĩ rằng một ngày kia họ sẽ trở về, với cả con chó nhỏ lông dài màu nâu cùng chết với họ, và họ sẽ bước qua chiếc cửa sổ này như họ vẫn thường làm. Bởi vậy nên chiếc cửa sổ để mở mỗi buổi chiều tới tận lúc nhá nhem tối. Tội nghiệp cho bà cô yêu quý của tôi, bà thường kể lại cho tôi hay họ ra đi ra sao, chồng bà thì khóac chiếc áo mưa màu trắng trên tay và Ronnie người em nhỏ nhất của bà, thì đang hát bài "Bertie, tại sao em nhảy?" như xưa nay anh vẫn hát để trêu bà vì bà nói rằng bài hát đó làm bà khó chịu. Ông biết không, nhiều khi những buổi chiều yên tĩnh như chiều hôm nay, tôi gần như có cảm giác rợn người là tất cả bọn họ sẽ bước qua cửa sổ kia để vào trong nhà...." Cô bỗng ngừng lại và hơi rùng mình. Framton cảm thấy nhẹ mình khi bà cô vội vã bước vào phòng và rối rít xin lỗi vì bà đã chậm ra tiếp khách. Bà nói: "Tôi mong rằng Vera đã tiếp chuyện ông vui vẻ." Framton nói: "Cô ấy rất đáng mến." Bà Sappleton nói mau: "Mong rằng ông không phiền vì chiếc cửa sổ ấy để mở. Nhà tôi và các em tôi đi săn sắp về, và bao giờ họ cũng vào bằng lối này. Hôm nay họ đi săn chim mỏ nhát ở đồng lầy và họ sẽ làm bẩn hết những tấm thảm của tôi. Đàn ông, các ông vẫn vậy, có phải không ạ?" Bà tiếp tục nói liến thoắng và vui vẻ về săn bắn, về việc chim chóc khan hiếm và về hy vọng có vịt trong mùa đông tới. Đối với Framton, câu chuyện thực ghê sợ. Ông cố gắng một cách tuyệt vọng mà chỉ có kết quả phần nào trong việc lái câu chuyện sang một vấn đề đỡ rùng rợn hơn; ông ta ý thức được rằng bà chủ nhà chỉ chú ý ít tới ông và mắt bà luôn luôn nhìn qua ông về phía cửa sổ để mở và chiếc sân cỏ bên ngoài. Thực là một sự trùng hợp không may mà ông đến thăm nhà này đúng ngày kỷ niệm tấn thảm kịch. "Các bác sỹ đều đồng ý bắt tôi phải tĩnh dưỡng hẳn, tránh hoàn toàn sự kích động tinh thần và tránh tất cả cái gì có tính cách thể dục mạnh bạo." Framton nói vậy, vì tưởng lầm cũng như rất nhiều người rằng những người xa lạ hoàn toàn và những người quen biết ngẫu nhiên thường khao khát được nghe từng chi tiết nhỏ nhất về bệnh trạng và tật nguyền của người ta, cùng nguyên nhân và cách điều trị. Ông nói tiếp: "Về ăn uống thì họ lại không đồng ý kiến với nhau lắm." Bằng giọng ầm ừ chỉ cốt thay thế cho cái ngáp sắp tới, bà Sappleton nói: "Không à?" Và bỗng nhiên bà tươi hẳn lên rồi nhanh nhẩu chú ý-- nhưng không phải tới câu Framton đang nói. Bà kêu lên: "Có thế chứ, họ về kia rồi, vừa vặn đúng giờ uống trà, và trông họ hình như dính đầy bùn tới mắt đấy nhỉ?" Framton hơi run lên và quay về phía cô cháu với cái nhìn ngụ ý tỏ niềm thông cảm. Cô bé đang nhìn qua cửa sổ mở với một vẻ sợ hãi sửng sốt trong đôi mắt. Lạnh tóat người và nghẹt thở vì một sự sợ hãi không căn cứ, Framton quay tròn trên ghế và cũng nhìn về phía đó. Trong ánh sáng hoàng hôn tối dần, ba bóng người đang băng qua bãi cỏ tiến về phía cửa sổ; họ đều mang súng trong tay, và một người trong bọn họ có thêm một chiếc áo màu trắng trên vai. Một con chó lông dài mỏi mệt theo ngay sau gót họ. Không một tiếng động, họ tới gần căn nhà, rồi một giọng trẻ tuổi và khàn khàn cất tiếng hát trong bóng tối nhá nhem: "Tôi bảo, Bertie, tại sao em nhảy nhót?" Framton cuống cuồng nắm lấy chiếc mũ và cái gậy chống; chiếc cửa hành lang, con đường đá, và chiếc cổng ngòai là những chặng đường mà ông mơ hồ nhận ra trong lúc ba chân bốn cẳng tháo lui. Một người cưỡi xe đạp trên đường phải đâm liều vào một bụi cây để tránh sự đụng nhau chắc chắn. Người mang áo choàng trắng bước qua cửa sổ vào nhà và nói: "Mình ơi, chúng tôi về đây rồi, và lấm bùn be bét, nhưng bùn cũng gần khô hết rồi. Người nào bỏ chạy lúc chúng tôi về thế?" Bà Sappleton nói: "Đó là một người bệnh thật kỳ lạ, tên là ông Nuttel; ông ta chỉ nói về bệnh tình của mình, rồi phóng chạy mất, không một lời cáo biệt hay xin lỗi, khi mình và các em về tới nơi. Người ta ngờ rằng ông thấy ma hiện hình chăng." Cô cháu bình tĩnh nói: "Cháu đoán là vì con chó; ông ta nói với cháu rằng ông ta rất sợ chó. Có lần ông ta bị một đàn chó đói đuổi và phải chạy vào một nghĩa địa ở đâu bên bờ sông Ganges và phải ngủ đêm ở trong một chiếc huyệt mới đào trong khi những con chó cứ gầm gừ, nhăn răng và sùi bọt mép ngay trên đầu ông. Như vậy thì ai mà chẳng hết hồn." Bịa chuyện một cách lanh lẹ là biệt tài của cô bé vậy. Chiếc cửa sổ mở- Saki (H.H. Munro) Dịch thuật: Lê Bá KôngLời người dánh máy:Truyện như vậy là xong. Tôi đã đánh trung thành tuyệt đối với bản dịch của LBK, kể cả những chỗ hành văn hơi ngô nghê của một người Hoa viết tiếng Việt như "Chiếc cửa" hay "chiếc huyệt", để phục vụ mục đích sưu tầm. Độc giả coi không thuận mắt đừng cho là lỗi người đánh máy Mục lục Chiếc cửa sổ mở Chiếc cửa sổ mở Saki (H.H. Munro)Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: huytran Nguồn: huytran VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 23 tháng 9 năm 2006
Saki (H.H. Munro) Chiếc cửa sổ mở Dịch thuật: Lê Bá Kông Một cô gái 15 tuổi rất bình tĩnh nói: "Thưa ông Nuttel, cô tôi sắp xuống đấy ạ; trong khi chờ đợi, xin ông vui lòng cho tôi được tiếp chuyện ông." Framton Nuttel cố gắng nói điều gì lịch thiệp có thể làm đẹp lòng cô cháu lúc này mà không tỏ ra thiếu lễ độ với bà cô sắp xuống lầu. Trong thâm tâm, ông nghi ngờ hơn bao giờ hết, không biết những cuộc viếng thăm xã giao một lọat những người hoàn toàn xa lạ này có giúp ích gì cho việc điều trị thần kinh mà theo nguyên tắc ông phải theo đuổi không. Khi ông sắp sửa về tĩnh dưỡng ở miền quê này, chị ông đã nói: "Tôi biết trước sự việc sẽ ra sao mà; cậu sẽ tự chôn mình ở đó và không được trò chuyện với một ai, và vì buồn phiền, thần kinh cậu sẽ còn tệ hơn. Tôi sẽ viết thư giới thiệu cậu với tất cả mọi người tôi quen biết. Tôi nhớ có vài người rất dễ thương." Framton tự hỏi không hiểu bà Sappleton, người mà ông tới để trao thư giới thiệu, có thuộc vào số người dễ thương ấy không. Khi cân nhắc thấy rằng giữa họ đã có một niềm thông cảm lặng lẽ đầy đủ rồi, cô cháu gái liền hỏi: "Ông có quen biết nhiều người ở vùng này không ạ?" Framton trả lời: "Tôi chẳng quen một ai hết. Chị tôi bốn năm trước có ở đây, tại nhà vị mục sư, và chị tôi viết thư giới thiệu tôi với một số người trong vùng này." Ông ta nói câu sau này bằng một giọng ân hận rõ ràng. Cô gái bình tĩnh nói tiếp: "Vậy ông thực không biết gì về bà cô tôi sao?" Ông khách công nhận: "Tôi chỉ biết tên và địa chỉ của bà thôi." Ông đang phân vân không biết bà Sappleton có chồng hay góa chồng. Trong căn phòng có một cái gì khó tả hình như gợi cho thấy là nhà ấy có đàn ông. Thiếu nữ nói: "Thảm kịch liên hệ tới cô tôi đã xảy ra vừa đúng ba năm trước đây, có lẽ từ thời bà chị ông còn ở đây." Framton hỏi: "Thảm kịch à?"; dầu sao nơi đồng quê yên tĩnh này dường như không phải là chỗ có thể có thảm kịch xảy ra. Cô cháu gái chỉ chiếc cửa sổ lớn kiểu Pháp mở rộng nhìn ra một sân cỏ và nói tiếp: "Chắc ông ngạc nhiên tại sao chúng tôi lại để chiếc cửa sổ kia mở rộng vào một buổi chiều tháng mười." Framton nói: "Tháng này năm nay cũng ấm áp lắm đấy chứ, nhưng chiếc cửa sổ ấy dính líu gì tới thảm kịch kia không?" "Cũng ngày này ba năm trước, chồng và hai người em trai của bà cô tôi đã bước qua chiếc cửa sổ này để đi săn bắn. Không bao giờ họ trở về nữa. Khi vượt qua bãi sình mà họ thích tới bắn chim mỏ nhát, cả ba đều bị chết chìm ở một chỗ sa lầy hiểm ác. Ông biết không, mùa hạ năm đó, mưa lớn ghê gớm, và những chỗ vẫn an toàn trong những năm trước thì năm đó bị lở sụt bất thình lình mà không ai ngờ trước được. Người ta không bao giờ tìm lại được thi hài họ, và đó là điều khủng khiếp nhất trong câu chuyện. " Tới đây, giọng nói của cô bé không còn bình tĩnh nữa mà trở nên ngập ngừng. "Bà cô đáng thương của tôi lúc nào cũng nghĩ rằng một ngày kia họ sẽ trở về, với cả con chó nhỏ lông dài màu nâu cùng chết với họ, và họ sẽ bước qua chiếc cửa sổ này như họ vẫn thường làm. Bởi vậy nên chiếc cửa sổ để mở mỗi buổi chiều tới tận lúc nhá nhem tối. Tội nghiệp cho bà cô yêu quý của tôi, bà thường kể lại cho tôi hay họ ra đi ra sao, chồng bà thì khóac chiếc áo mưa màu trắng trên tay và Ronnie người em nhỏ nhất của bà, thì đang hát bài "Bertie, tại sao em nhảy?" như xưa nay anh vẫn hát để trêu bà vì bà nói rằng bài hát đó làm bà khó chịu. Ông biết không, nhiều khi những buổi chiều yên tĩnh như chiều hôm nay, tôi gần như có cảm giác rợn người là tất cả bọn họ sẽ bước qua cửa sổ kia để vào trong nhà...." Cô bỗng ngừng lại và hơi rùng mình. Framton cảm thấy nhẹ mình khi bà cô vội vã bước vào phòng và rối rít xin lỗi vì bà đã chậm ra tiếp khách. Bà nói: "Tôi mong rằng Vera đã tiếp chuyện ông vui vẻ." Framton nói: "Cô ấy rất đáng mến." Bà Sappleton nói mau: "Mong rằng ông không phiền vì chiếc cửa sổ ấy để mở. Nhà tôi và các em tôi đi săn sắp về, và bao giờ họ cũng vào bằng lối này. Hôm nay họ đi săn chim mỏ nhát ở đồng lầy và họ sẽ làm bẩn hết những tấm thảm của tôi. Đàn ông, các ông vẫn vậy, có phải không ạ?" Bà tiếp tục nói liến thoắng và vui vẻ về săn bắn, về việc chim chóc khan hiếm và về hy vọng có vịt trong mùa đông tới. Đối với Framton, câu chuyện thực ghê sợ. Ông cố gắng một cách tuyệt vọng mà chỉ có kết quả phần nào trong việc lái câu chuyện sang một vấn đề đỡ rùng rợn hơn; ông ta ý thức được rằng bà chủ nhà chỉ chú ý ít tới ông và mắt bà luôn luôn nhìn qua ông về phía cửa sổ để mở và chiếc sân cỏ bên ngoài. Thực là một sự trùng hợp không may mà ông đến thăm nhà này đúng ngày kỷ niệm tấn thảm kịch. "Các bác sỹ đều đồng ý bắt tôi phải tĩnh dưỡng hẳn, tránh hoàn toàn sự kích động tinh thần và tránh tất cả cái gì có tính cách thể dục mạnh bạo." Framton nói vậy, vì tưởng lầm cũng như rất nhiều người rằng những người xa lạ hoàn toàn và những người quen biết ngẫu nhiên thường khao khát được nghe từng chi tiết nhỏ nhất về bệnh trạng và tật nguyền của người ta, cùng nguyên nhân và cách điều trị. Ông nói tiếp: "Về ăn uống thì họ lại không đồng ý kiến với nhau lắm." Bằng giọng ầm ừ chỉ cốt thay thế cho cái ngáp sắp tới, bà Sappleton nói: "Không à?" Và bỗng nhiên bà tươi hẳn lên rồi nhanh nhẩu chú ý-- nhưng không phải tới câu Framton đang nói. Bà kêu lên: "Có thế chứ, họ về kia rồi, vừa vặn đúng giờ uống trà, và trông họ hình như dính đầy bùn tới mắt đấy nhỉ?" Framton hơi run lên và quay về phía cô cháu với cái nhìn ngụ ý tỏ niềm thông cảm. Cô bé đang nhìn qua cửa sổ mở với một vẻ sợ hãi sửng sốt trong đôi mắt. Lạnh tóat người và nghẹt thở vì một sự sợ hãi không căn cứ, Framton quay tròn trên ghế và cũng nhìn về phía đó. Trong ánh sáng hoàng hôn tối dần, ba bóng người đang băng qua bãi cỏ tiến về phía cửa sổ; họ đều mang súng trong tay, và một người trong bọn họ có thêm một chiếc áo màu trắng trên vai. Một con chó lông dài mỏi mệt theo ngay sau gót họ. Không một tiếng động, họ tới gần căn nhà, rồi một giọng trẻ tuổi và khàn khàn cất tiếng hát trong bóng tối nhá nhem: "Tôi bảo, Bertie, tại sao em nhảy nhót?" Framton cuống cuồng nắm lấy chiếc mũ và cái gậy chống; chiếc cửa hành lang, con đường đá, và chiếc cổng ngòai là những chặng đường mà ông mơ hồ nhận ra trong lúc ba chân bốn cẳng tháo lui. Một người cưỡi xe đạp trên đường phải đâm liều vào một bụi cây để tránh sự đụng nhau chắc chắn. Người mang áo choàng trắng bước qua cửa sổ vào nhà và nói: "Mình ơi, chúng tôi về đây rồi, và lấm bùn be bét, nhưng bùn cũng gần khô hết rồi. Người nào bỏ chạy lúc chúng tôi về thế?" Bà Sappleton nói: "Đó là một người bệnh thật kỳ lạ, tên là ông Nuttel; ông ta chỉ nói về bệnh tình của mình, rồi phóng chạy mất, không một lời cáo biệt hay xin lỗi, khi mình và các em về tới nơi. Người ta ngờ rằng ông thấy ma hiện hình chăng." Cô cháu bình tĩnh nói: "Cháu đoán là vì con chó; ông ta nói với cháu rằng ông ta rất sợ chó. Có lần ông ta bị một đàn chó đói đuổi và phải chạy vào một nghĩa địa ở đâu bên bờ sông Ganges và phải ngủ đêm ở trong một chiếc huyệt mới đào trong khi những con chó cứ gầm gừ, nhăn răng và sùi bọt mép ngay trên đầu ông. Như vậy thì ai mà chẳng hết hồn." Bịa chuyện một cách lanh lẹ là biệt tài của cô bé vậy. Chiếc cửa sổ mở- Saki (H.H. Munro) Dịch thuật: Lê Bá KôngLời người dánh máy:Truyện như vậy là xong. Tôi đã đánh trung thành tuyệt đối với bản dịch của LBK, kể cả những chỗ hành văn hơi ngô nghê của một người Hoa viết tiếng Việt như "Chiếc cửa" hay "chiếc huyệt", để phục vụ mục đích sưu tầm. Độc giả coi không thuận mắt đừng cho là lỗi người đánh máy Mục lục Chiếc cửa sổ mở Chiếc cửa sổ mở Saki (H.H. Munro)Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: huytran Nguồn: huytran VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 23 tháng 9 năm 2006
Oppenheimer, Michael Chiếc dao gọt Tôi tìm thấy một chiếc dao dưới tủ lạnh trong lúc người đàn bà tôi yêu và tôi đang lau chùi nhà cửa. Đó là một chiếc dao gọt nhỏ mà chúng tôi đã để lạc mất trước đây nhiều năm và đã quên hẳn. Tôi khoe chiếc dao với người đàn bà tôi yêu và nàng nói "Ồ. Anh nhặt đó ở đâu ra vậy?" Sau khi tôi kể cho nàng nghe, nàng đặt chiếc dao lên bàn rồi bước vào căn phòng kế bên và tiếp tục lau chùi. Trong lúc tôi rửa sàn nhà bếp, tôi nhớ lại những điều đã xảy ra cách đây bốn năm là lý do tại sao chiếc dao lại nằm dưới tủ lạnh.Lúc ấy chúng tôi đã ăn xong bữa tối thịnh soạn và đã uống nhiều ly rượu vang. Chúng tôi tắt tất cả đèn, cởi quần áo, và bước vào giường. Chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ làm tình, nhưng điều gì đó đã xảy ra và chúng tôi cãi nhau lúc đang làm tình. Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một việc như thế. Cả hai chúng tôi đều cực kỳ giận dữ. Tôi nói vài câu rất tồi tệ với người đàn bà tôi yêu. Nàng đạp vào tôi ngay trên giường và tôi rời khỏi giường, bước ra nhà bếp. Tôi mò mẫm tìm cái ghế và ngồi xuống. Tôi muốn đặt hai cánh tay lên bàn rồi ngả đầu lên hai cánh tay, nhưng tôi chạm phải những bát đĩa dơ trên bàn và chúng làm vướng tay tôi. Tôi tức điên lên. Tôi xua mọi thứ trên bàn xuống sàn nhà. Tiếng ồn nghe rất tuyệt diệu, nhưng rồi căn phòng lại im phăng phắc và đột nhiên tôi cảm thấy buồn. Tôi nghĩ tôi đã phá huỷ hết mọi sự. Tôi bắt đầu khóc. Người đàn bà tôi yêu bước vào nhà bếp và hỏi tôi có bị gì không. Tôi nói, "Không sao cả." Nàng bật đèn lên và chúng tôi cùng nhìn xuống sàn nhà bếp. Chẳng có mấy thứ bị vỡ, nhưng sàn nhà trông hết sức nhớp nhúa lộn xộn. Cả hai chúng tôi bật cười rồi chúng tôi trở vào giường và làm tình. Sáng hôm sau chúng tôi chùi rửa mớ nhớp nhúa lộn xộn ấy, nhưng hiển nhiên là chúng tôi không để ý đến chiếc dao.Tôi định hỏi người đàn bà tôi yêu xem nàng có còn nhớ chuyện ấy không thì nàng từ phòng kế bên bước vào, rồi không nói một lời, nhặt chiếc dao trên bàn và nhét nó trở lại bên dưới tủ lạnh. Nguyên tác: "The Paring Knife", trong Flash Fiction,ed. James Thomas, Denise Thomas & Tom Hazuka (New York: W. W. Norton, 1992). Mục lục Chiếc dao gọt Chiếc dao gọt Oppenheimer, MichaelChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.(Trần Tuệ Minh dịch) Nguồn: Tienve.orgĐược bạn: mọt sách đưa lên vào ngày: 22 tháng 5 năm 2004
Oppenheimer, Michael Paring knife I found a knife under the refrigerator while the woman I love and I were cleaning the house. It was a small paring knife that we had misplaced years ago and had completely forgotten about. I showed the knife to the woman I love and she said, "Oh. Where did you get that?" After I told her, she put the knife on the table and went into the next room and continued cleaning. While I was washing the kitchen floor, I remembered what happened four years ago as to why the knife was under the refrigerator. We had finished a large dinner and had many glasses of wine. Echoing. We turned off all the lights, undressed, and got into bed. We thought we were going to make love, but something happened and we argued while we were making love. We have never experienced anything like that. We were both extremely angry. I said some very bad things to the woman I love. She kicked me on the bed and I got out of bed and walked out to the kitchen. I groped for a chair and sat down. I wanted to put my arms on the table and rest my head on my arms, but I touched the dirty dishes on the table and they got in the way of my hands. I was mad. I pushed everything on the table onto the floor. The noise sounded wonderful, but then the room fell silent again and I suddenly felt sad. I think I destroyed everything. I started crying. The woman I love walked into the kitchen and asked me if anything was wrong. I said, "It's okay." She turned on the light and we looked down at the kitchen floor. Not much was broken, but the floor looked extremely messy. We both laughed and then we went back to bed and made love. The next morning we cleaned up the messy mess, but obviously we didn't pay attention to the knife. I was about to ask the woman I loved if she still remembered that incident when she walked in from the next room. in, then without a word, picked up the knife from the table and stuffed it back under the refrigerator. Original: "The Paring Knife", in Flash Fiction, ed. James Thomas, Denise Thomas & Tom Hazuka (New York: W. W. Norton, 1992). Table of contents Paring knife Paring knife Oppenheimer, MichaelWelcome to read the first book from the book project for mobile devices. Source: executive: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. (Translated by Tran Tue Minh) Source: Tienve.org Uploaded by friend: bookworm on: May 22, 2004
Marjorie Agosin Chiếc dù đen to tướng Dịch giả: Hoàng Tân Nhân & Hoàng Tân Dân Khi chị đến nhà chúng tôi chị che một chiếc dù đen to tướng. Một nhánh hoa đành đành trắng lủng lẳng bên tai trái của chị. Em Cynthia và tôi vừa trông thấy chị là đã thấy mê tơi rồi. Chúng tôi cũng cảm thấy có chút sợ hãi nữa. Chị trông giống như một con cá khổng lồ hay một mệnh phụ bị đắm tàu ở nơi xa nhà. Chiếc dù của chị chắc chắn là không dùng được dưới mưa bởi lẽ nó bị rách toạc nhiều chỗ, nước mưa sẽ chảy xuống người chị – nước từ một trận mưa rào hiếm hoi của mùa hè khô ráo kỳ lạ kia. Cũng là cái mùa hè em gái tôi và tôi hiểu ra tại sao những chuyện kỳ diệu xảy ra, chẳng hạn chuyện Delfina Nahuenhual xuất hiện. Mẹ tôi đón chị, và Delfina, với vẻ dạn dĩ, cắt nghĩa là chị đi đâu cũng luôn mang theo chiếc dù khổng lồ, dùng để chị tránh nắng, tránh cả những cô tiên tinh quái, và đám con gái như chúng tôi. Đôi môi mềm mại của mẹ tôi mỉm cười. Ngay từ khoảnh khắc ấy mẹ tôi và Defina đã nẩy nở một quan hệ thân thiết hơn hẳn bình thường giữa “bà chủ nhà” và “cô tớ gái”. Delfina Nahuenhual – chúng tôi phải gọi chị bằng nguyên tên họ của chị – là một trong ít người sống sót của trận động đất Chile xảy ra ở phía Nam Chile.* Chị đã mất cả con cái, nhà cửa, áo cưới, gà, và hai cây chanh rất quí của chị. Cái duy nhất chị cứu được ấy là cái dù đen to tướng phủ đầy bụi và năm ba thứ lặt vặt đã bỏ quên. Buổi tối chị thường đốt một bếp lò nhỏ để nấu nướng; ngọn lửa hắt ra một luồng sáng rất dễ thương, rất hiền hòa. Rôi chị quấn mình trong một chiếc khăn màu lam khổng lồ bằng len mịn và chị để vài lát khoai tây ở hai bên thái dương để khỏi bị ốm và cảm lạnh. Khi chúng tôi ngồi bên bếp lò, Delfina Nahuenhual kể chuyện về những oan hồn và những con ếch biến thành các hoàng tử. Chị lắc lư chúng tôi trong lòng bụng thênh thang của mình, và giọng nói chị ru chúng tôi ngủ. Chúng tôi là những đứa trẻ bình an cảm nhận được sức ấm tình thương của chị. Sau khi chị nghĩ chúng tôi đã ngủ, Delfina Nahuenhual ngồi viết những bức thư dài mà chị sẽ đánh số và đem gói trong giấy báo. Chị giữ những lá thư ấy trong một cái lọ cổ chứa đầy tỏi, thìa là, và những mảnh cùi chanh vụn. Em gái tôi và tôi lúc nào cũng muốn đọc những lá thư ấy và học thuộc tên và địa chỉ của người nhận thư. Thế nên bất cứ khi nào Delfina Nahuenhual bận việc trong bếp, chúng tôi cũng tìm cách nhìn trộm vào cái lọ để khám phá xem chị giấu những gì trong đó. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ đọc được thư. Delfina Nahuenhual mỉm cười nhìn chúng tôi và lấy đầu chổi xua chúng tôi đi chỗ khác. Trong nhiều năm, Delfina tiếp tục kể chuyện cho chúng tôi bên cạnh bếp lò. Không lâu sau khi em Mario của tôi, cậu con trai cưng trong gia đình, sinh ra, Delfina Nahuenhual bảo chúng tôi là chị cảm thấy mệt và chị muốn trở về miền nam Chile. Chị bảo bây giờ chị đã dành dụm được chút đỉnh và đã có một con gà, như thế là đủ để tiếp tục sống được rồi. Tôi nghĩ chị muốn chết và lên thiên đàng bởi chị đã quyết định trở về với rêu xanh và đất sét của quê mình. Tôi nhớ tôi đã khóc rất nhiều khi chị từ giã chúng tôi. Em trai Mario của tôi bám chặt chiếc váy dài kín chân của chị, không muốn phải xa người phụ nữ uyên thâm, với chúng tôi, chưa bao giờ là một người tớ gái trong nhà. Khi chị cúi xuống để hôn tôi, chị bảo tôi phải chuyển những lá thư của chị cho người chị có ghi địa chỉ gửi thư đến nhưng tôi có thể cứ giữ cái lọ lại. Trong nhiều năm, tôi đã giữ cái lọ như một vật bí ẩn quí báu, một thứ đèn thần trong đó đã chôn giấu tuổi thơ của tôi. Khi tôi muốn nghĩ đến chị, tôi lấy tay xát vào cái lọ, tôi ngửi nó, và thế là tất cả mọi thứ sợ hãi, kể cả sự sợ hãi bóng đêm, đều tan biến. Sau khi chị đi rồi tôi bắt đầu hiểu ra rằng tuổi thơ của tôi đã ra đi cùng với chị. Bây giờ hơn lúc nào cả tôi nhớ đĩa đậu lăng chị nấu để cầu mong sự may mắn và thịnh vượng trong Đêm Đầu Năm. Tôi nhớ cái mùi da của chị và những câu chuyện kể huyền diệu của chị. Nhiều năm sau, em gái Cynthia của tôi sinh đứa con gái đầu lòng. Mario đi du lịch nước ngoài và tôi quyết định hưởng tuần trăng mật ở đảo Easter Island, hòn đảo xa tít ở giữa Thái bình dương, cách Chile sáu giờ tính theo đường bay. Đây là một nơi có đầy những pho tượng huyền bí, khổng lồ có tên là Moais. Suốt từ thời còn là một đứa bé, tôi vẫn bị mê hoặc bởi những pho tượng bí hiểm kia, những hình thù khổng lồ có vẻ như từ dưới đất mọc lên, đúng y như Delfina Nahuenhual và chiếc dù đen to tướng của chị khi chị xuất hiện ở nhà tôi lần đầu tiên. Tôi vẫn giữ những lá thư của chị, mà từ lâu tôi đã lấy ra khỏi cái lọ nhỏ bằng đất và để vào một cái hòm lớn màu xanh rêu cùng với một ít những nhánh tỏi còn lại. Khi lớn lên rồi tôi không bao giờ còn muốn đọc thư nữa. Tôi chỉ biết là thư phải được chuyển đến cho ai đó thôi. Một buổi sáng khi mặt trời chiếu vào ngay cả cái góc tối nhất của phòng khách sạn tôi ở, tôi đi đến địa chỉ ghi trên những lá thư của Delfina. Đây là một khu người cùi sinh sống, một trong ít khu còn sót lại. Một nhân viên mặt mày ảm đạm ra mở cửa và nhanh chóng chụp lấy cái gói đựng năm trăm lá thư từ tay tôi. Tôi hỏi xem người nhận thư còn sống hay không và ông ta bảo là đương nhiên, nhưng tôi không được phép gặp người ấy. Khi tôi đưa những lá thư kia cho ông ta, tôi cảm thấy như tôi đã đánh mất một trong những của cải quí giá nhất của mình, có lẽ còn là những kỷ niệm cuối cùng của cuộc đời chị Delfina Nahuenhual thân yêu của tôi. Thế là tôi không gặp được người mà chị Delfina Nahuenhual viết thư gửi, cũng không biết được tại sao chị đã để bao nhiêu đêm không ngủ của mình để viết những thư kia. Tôi chỉ biết anh ấy là một người cùi trên đảo Easter Island, anh vẫn còn sống và, có lẽ, vẫn đọc những lá thư, những giấc mơ yêu thương mỗi đêm đến với chị Delfina Nahuenhual. Khi tôi trở về nhà, rốt cuộc tôi biết rằng Delfina Nahuenhual đã bằng lòng, bởi vì khi tôi ngước mắt nhìn lên, như trước đây chị vẫn dạy tôi làm, tôi nhìn thấy một chiếc dù đen to đùng bay lượn trên nền trời đầy mây. (Bản dịch Hoàng Tân Nhân & Hoàng Tân Dân.) Mục lục Chiếc dù đen to tướng Chiếc dù đen to tướng Marjorie AgosinChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: meocon_ thongminh Nguồn: TienveĐược bạn: Ct.ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 7 năm 2006
Marjorie Agosin Huge black umbrella Translator: Hoang Tan Nhan & Hoang Tan Dan When she came to our house she covered herself with a big black umbrella. A branch of a white flower dangled next to her left ear. As soon as Cynthia and I saw her, we fell in love. We also felt a bit scared. She looked like a giant fish or a shipwrecked lady far from home. Her umbrella was definitely unusable in the rain because it was torn in many places, and rainwater would flow down onto her body - water from a rare shower of that strangely dry summer. It was also the summer my sister and I understood why magical things happened, such as Delfina Nahuenhual's appearance. My mother picked her up, and Delfina, with a bold expression, explained that wherever she went she always carried a giant umbrella, which she used to protect herself from the sun, from mischievous fairies, and from girls like us. My mother's soft lips smiled. From that moment on, my mother and Defina developed a much closer relationship than usual between the "landlady" and the "maid". Delfina Nahuenhual – we must call her by her full name – is one of the few survivors of the Chilean earthquake that occurred in the south of Chile.* She lost her children, her house, her wedding dress, her chickens, and her two precious lemon trees. The only thing she could save was a big black umbrella covered in dust and five or three miscellaneous things that had been forgotten. In the evening, she often lights a small stove to cook; The fire emitted a very lovely, gentle light. Then she wrapped herself in a huge blue scarf made of fine wool and she put a few potato slices on her temples to keep from getting sick and catching a cold. As we sat by the stove, Delfina Nahuenhual told stories about unjust souls and frogs turning into princes. She rocked us in her spacious belly, and her voice lulled us to sleep. We are peaceful children who feel the warmth of her love. After she thought we were asleep, Delfina Nahuenhual sat down to write long letters that she would number and wrap in newspaper. She kept those letters in an antique jar filled with garlic, cumin, and shredded lemon pulp. My sister and I always wanted to read those letters and memorize the names and addresses of the recipients. So whenever Delfina Nahuenhual was busy in the kitchen, we would try to peek into the jar to discover what she was hiding in it. But we never read the letter. Delfina Nahuenhual smiled at us and used the end of her broom to shoo us away. For many years, Delfina continued to tell us stories next to the stove. Not long after my brother Mario, the family's favorite son, was born, Delfina Nahuenhual told us that she felt tired and that she wanted to return to southern Chile. She said that now she has saved a little and has a chicken, that is enough to continue living. I think she wanted to die and go to heaven because she decided to return to the green moss and clay of her hometown. I remember crying a lot when she said goodbye to us. My younger brother Mario clung tightly to her long skirt, not wanting to be separated from this wise woman who, to us, had never been a maid in the house. When she leaned down to kiss me, she told me I had to deliver her letters to the person she wrote the mailing address for, but I could just keep the jar. For many years, I kept the bottle like a precious mystery, a magic lamp in which my childhood was buried. When I want to think of her, I rub the bottle with my hand, I smell it, and all my fears, including my fear of the dark, disappear. After she left, I began to understand that my childhood had gone with her. Now more than ever I miss the plate of lentils she cooked to pray for luck and prosperity on New Year's Eve. I remember the smell of her skin and her magical stories. Years later, my sister Cynthia gave birth to her first daughter. Mario was traveling abroad and I decided to spend our honeymoon on Easter Island, a remote island in the middle of the Pacific Ocean, six hours by plane from Chile. This is a place full of mysterious, giant statues called Moais. Ever since I was a child, I have been fascinated by those mysterious statues, giant shapes that seem to rise from the ground, just like Delfina Nahuenhual and her huge black umbrella when She appeared at my house for the first time. I still keep her letters, which I took out of the small earthen jar a long time ago and put them in a large moss-green box along with a few remaining cloves of garlic. When I grew up, I never wanted to read letters again. I just know that the letter has to be delivered to someone. One morning when the sun shone into even the darkest corner of my hotel room, I went to the address listed on Delfina's letters. This is a leper colony, one of the few remaining. A gloomy-faced employee opened the door and quickly grabbed the package containing five hundred letters from my hand. I asked if the recipient of the letter was still alive and he said of course, but I was not allowed to meet him. When I gave those letters to him, I felt like I had lost one of my most precious possessions, perhaps the last memories of my dear sister Delfina Nahuenhual's life. So I couldn't meet the person Delfina Nahuenhual wrote to, nor did I know why she spent so many sleepless nights writing those letters. I only know that he is a leper on Easter Island, he is still alive and, perhaps, still reads the letters and loving dreams that come to Delfina Nahuenhual every night. When I returned home, I finally knew that Delfina Nahuenhual had agreed, because when I looked up, as she had always taught me to do, I saw a huge black parachute flying across the sky. cloud. (Translated by Hoang Tan Nhan & Hoang Tan Dan.) Table of contents Huge black umbrella Huge black umbrella Marjorie AgosinWelcome to read the titles from the book project for mobile devices. Source: executive: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: meocon_ thongminh Source: Tienve Uploaded by friend: Ct.ly on: July 13, 2006
Phạm Sông Hồng Chiếc ghế Tám giờ sáng chị đến quán cà phê. Chị muốn thấy người ấy đi tới chỗ hẹn. Chọn chỗ thật khuất, chị gọi một ly cà phê. Bà chủ quán vừa lau cái bàn sũng nước chỗ chị ngồi vừa thanh minh đêm qua mưa to quá.Đám sỏi được tắm mưa sáng lên làm cái quán trẻ hẳn ra. Nhưng chẳng được lâu. Lau cái bàn cho chị, bà chủ chạy vào hè, mỗi tay cầm hai cái ghế, bà quẳng chúng lên đám cỏ một cách tạm bợ. Toàn ghế là ghế. Ghế dựa vào nhau, dựa vào sỏi, nghiêng ngả, nghênh ngang. Chỉ có chị và ghế, và sỏi, và những cây cảnh quá nhỏ lẫn vào đám ngổn ngang ấy.Chị ngửa mặt nhìn trời. Chị và người ấy gặp nhau lần cuối vào ngày không có nắng, mưa thì dè dặt rơi...Nhưng chị không nhớ chị đã cùng người ấy ngồi trên chiếc ghế dáng thế nào. Chị chỉ nhớ những gì đi qua khuôn mặt người ấy. Với chị khi đó, người ấy đã là tất cả.Còn bây giờ chị đang ngắm chúng, những chiếc ghế mây nhỏ có dáng hơi ngửa ra phía sau, chị đang ngồi một chiếc và lát nữa người ấy sẽ ngồi chiếc thứ hai, đối diện.Có tiếng người.Chị nhìn ra phía cổng hai người đâng vào. Mặt họ lâng lâng niềm vui và tuổi trẻ.Chị nhìn họ chợt thấy mình ngày không xa nhưng hình như đã xưa. Thuở ấy chị chưa chờ đợi ai....Chiếc ghế vẫn trống không.Trong các cuộc hẹn hò hình như bao giờ cũng có một người đến muộn. Nó khiến cuộc đời bỗng thành bất trắc. Chị nhìn chiếc ghế lo lắng: hay người ấy gặp sự cố?Chị lại nhìn chiếc ghế. Chiếc ghế nhìn lại chị. Trong quán bây giờ toàn người là người.Một người khách đến cầm chiếc ghế khẽ hỏi:- Tôi có thể dùng chiếc ghế này không?Chị hơi sẵng giọng:- Ghế đã có người ngồi.Và chị bỗng nơm nớp: nhỡ người ấy không đến ......Không gì buồn hơn cảnh một chiếc ghế chờ. Nó trống vắng, cô đơn, lẻ lạnh ... Nó già hẳn đi. Và cả quán nước như đều quay nhìn về phía chiếc ghế. Sự chờ đợi của nó công khai quá, lộ liễu quá.Chị hơi đỏ mặt, kéo mạnh chiếc ghế về phía mình.Chị quay hồi lâu phía cửa quán mở quá rộng.Rồi chị quay lại nhìn chiếc ghế. Chị bỗng dụi mắt: hình như thấp thoáng có người ngồi. Không biết mọi người có nhìn thấy không. Chỉ biết từ phía đó không ai đến làm phiền chị về chiếc ghế nữa.Người ấy đi hớt hải. vẫn cái dáng quen thuộc đầu chúi về phía trước như suốt đời đuổi theo một cái gì. Người ấy vừa nói vừa thở:- Xin lỗi, anh đến sớm quá, không thấy em nên rẽ vào cơ quan đợi.Thì ra cả hai người đều sai hẹn vì cùng đến quá sớm. Chị đi lấy cà phê đá cho người ấy. Khi quay lại chị thấy người ấy vẫn đứng bên chiếc ghế.- Sao anh không ngồi?Người ấy nhìn chị, cười lặng lẽ, nâng cốc cà phê không quấy đường uống như người cháy khát.Người ấy đứng uống.Có phải người ấy không muốn chiếm chỗ của sự chờ đợi?Phạm Sông Hồng Mục lục Chiếc ghế Chiếc ghế Phạm Sông HồngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Pham Song Hong Chair At eight o'clock in the morning, she went to the coffee shop. I want to see that person go to the meeting place. Choosing a hidden place, she ordered a cup of coffee. The shop owner wiped the soggy table where she sat and explained that it had rained heavily last night. The gravel bathed in rain lit up, making the shop look younger. But not for long. Cleaning the table for her sister, the landlady ran into the sidewalk, holding two chairs in each hand, and threw them on the grass in a makeshift manner. All chairs are chairs. Chairs lean against each other, against gravel, tilt, and sway. There were only her and the chair, and the gravel, and the too-small ornamental plants mixed in with the chaos. She looked up at the sky. The last time she and that person met was on a day when there was no sun, the rain fell cautiously... But she didn't remember how she sat on the chair with that person. She only remembers what passed through that person's face. To her at that time, that person was everything. And now she is looking at them, the small rattan chairs with a slightly tilted back shape, she is sitting in one and soon that person will sit in the second chair, opposite her. There was a voice. She looked out at the gate and two people were coming in. Their faces were filled with joy and youth. She looked at them and suddenly saw herself in a not so distant day but it seemed like a long time ago. At that time, I hadn't waited for anyone... The chair was still empty. On dates, it seemed like there was always someone who was late. It makes life suddenly uncertain. She looked at the chair worriedly: maybe that person had an accident? She looked at the chair again. The chair looked back at her. The shop is now full of people. A customer came and held a chair and asked softly: - Can I use this chair? She said in a low voice: - The chair is already occupied. And she suddenly worried: what if that person was there? don't come ......There's nothing sadder than the sight of a waiting chair. It's empty, lonely, cold... It's getting old. And the whole cafe seemed to turn to look towards the chair. Her waiting was too public, too obvious. She blushed a little, pulled the chair towards her. She turned for a long time towards the shop door, which was opened too wide. Then she turned back to look at the chair. She suddenly rubbed her eyes: it seemed like someone was sitting there. I don't know if everyone can see it. Just know that from that side, no one came to bother her about the chair anymore. That person left in a hurry. Still in the familiar pose, head tilted forward as if chasing something all his life. That person said while breathing: - Sorry, I came too early. I didn't see you so I went to the office to wait. It turned out that both of us missed the appointment because we both arrived too early. She went to get iced coffee for that person. When she turned around, she saw that person still standing next to the chair. - Why don't you sit? He looked at her, smiled quietly, lifted the cup of coffee without stirring sugar like a thirsty person. He stood and drank. Is that him? Don't want to take the place of waiting? Pham Song Hong Table of contents Chair Chair Pham Song HongWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Hung Posted by friend: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Trần Huy Thuận Chiếc ghế và văn hóa ngồi Con người mới sinh ra vốn chỉ biết nằm, chưa biết ngồi. Lớn lên một chút, bắt đầu học lẫy, học bò rồi học ngồi. Ngồi vững mới học đứng, học đi. Đi đứng vững vàng rồi, con người lại trở lại làm quen với sự... ngồi: ngồi ăn, ngồi học, ngồi chơi, ngồi làm việc, ngồi dậy học, ngồi làm lãnh đạo, ngồi chỉ huy thiên hạ,...Gần như có tới phân nửa thời gian trong cuộc đời mỗi chúng ta, giành cho... ngồi!Từ xa xưa, cái sự ăn đã thường gắn chặt với cái sự ngồi: "ăn trông nồi, ngồi trông hướng", "ăn trên ngồi chốc". Sự gắn bó đó có lẽ bởi chỗ ngồi nhiều khi là tiền đề, là điều kiện, là môi trường,... cho cái sự ... ăn! Nhưng gắn bó chặt chẽ nhất với sự "ngồi", chắc chắn vẫn phải là ... cái ghế! Không có ghế, người ta chỉ còn nước ngồi... bệt xuống đất!Ghế cũng có đẳng cấp của ghế: Đơn sơ, giản dị, bình dân là chiếc "ghế đẩu". Loại ghế này có mặt nhiều nhất ở các ngôi nhà của những người nghèo. Nhà giầu thì dùng "xa-lông". Loại ghế này không chỉ có chỗ ngồi êm ái, mà còn có cả chỗ dựa lưng vững chắc. Sang trọng và "thời thượng" là bộ "xa-lông" Tầu làm bằng đủ thứ gỗ quý, được khảm trai, có tay vịn khuỳnh ra như ngai vàng của các vua chúa ngày xưa và được tạo nên bởi những người thợ lão luyện. Ôi! thật thoải mái khi được ngồi trên những bộ xa-lông như thế!..Thông thường, muốn có ghế ngồi trong nhà, chủ nhân phải bỏ "tiền túi" ra mua, hoặc phải bỏ công sức ra đóng. Cũng rất thông thường, với người có chức có tước, thì chả cần mua, cũng chả cần đóng, ghế vẫn cứ tự tìm đến, thậm chí tranh nhau tìm đến nữa là đằng khác! Câu chuyện thật mà cứ như bịa này do con một người bạn tôi kể: Một chiếc ô-tô tải nọ, chở một bộ xa-lông, dừng ngay gần cửa nhà một sếp. Một người trong ô-tô thò cổ nhìn vào phòng khách nhà sếp. Đúng lúc ấy, mấy người trên chiếc ô-tô đến trước, đang khệ nệ khênh vào một bộ bàn ghế xem ra còn hoành tráng hơn rất nhiều bộ anh ta mang đến! Thế là người trên chiếc xe sau vội thụt vào ngay và lập tức, cho ô-tô cài số lùi, chạy mất tăm! Hàng xóm được bữa cười chảy ra nước mắt!Nhưng có loại ghế phải được đề bạt hoặc thăng chức, mới được ngồi, đó là ghế "sếp" - một dạng "công sản quốc gia"! Loại ghế này, về danh nghĩa thì không mất tiền mua, nhưng đôi khi lại phải "mua" bằng rất nhiều tiền, bằng nhiều cách khác nhau.Có một thực tế khá phổ biến chung quanh cái ghế công quyền: Khi chỉ mới phong thanh có tin ai đó chuẩn bị rời ghế để về hưu, thì cái ghế ấy đã không còn hoàn toàn là của anh ta nữa rồi! Không chỉ người kế nhiệm anh nghĩ thế, mà có khá nhiều người trong cũng như ngoài cơ quan, nghĩ thế! Quả là một thực tế đáng buồn về "nhân tình thế thái" của thời buổi kinh tế thị trường đầy đua tranh và cám dỗ này! Cái đạo lý "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" hình như đã lỗi thời! Đấy là chưa kể đến những chuyện diến ra đằng sau ... bóng của những cái ghế quyền lực. Tại đấy, đôi khi... ngập ngụa mùi phấn son; mùi tanh tưởi gươm giáo, súng ống; cùng rất nhiều mùi tởm lợm khác: nịnh hót, xúc xiểm, lường gạt, phản trắc,...Lại có chuyện ngược lại: có những cái ghế, đáng ra không nên ngồi nữa, thậm chí không được phép ngồi nữa; mà có người vẫn cố ý... ngồi, bằng rất nhiều cách, từ chữa giảm tuổi đến chạy vạy nơi này, nơi kia để được ngồi thêm, dù chỉ là mấy tháng! Không chỉ ngồi ì, ngồi lì; còn sẵn sàng trơ trén, ban phát những "lời vàng, ý ngọc", bất chấp sự thờ ơ lạnh nhạt của cử tọa!Lại có loại người đã thực sự rời bỏ ghế rồi, mà cứ như người bị bệnh "mộng du": vẫn tìm mọi cách ngồi vào cái ghế thời đương chức! Họ thực sự quên mình vốn là "dân thường", đã trở về làm "thường dân" rồi!Hãy ngồi đúng chỗ! Xưa có câu: "y phục xứng kỳ đức", nay cũng nên thêm: "ghế xứng kỳ tài"!Quả rằng, khi nói cái ghế ở công sở cũng là "công sản quốc gia" thì có vẻ "chấp nhặt quá". cho nên gần đây, thiên hạ chỉ nói nhiều đến những là "biệt thự công", "xe ô tô công",...Nhưng xin thưa rằng, cái ghế là vật dụng nhỏ nhoi còn tham, còn khó rời bỏ, thì nói làm chi đến cái...lớn?!. Bé, muốn ngồi vững phải tập ngồi. Còn người lớn thì sao? Lâu nay chúng ta hay nói đến từ "nô bộc", cán bộ là "nô bộc của dân"! Nhưng cứ ngồi lên cái "ghế nô bộc" là nhiều người quên ngay! Hàng ngày ăn lương Dân, ở nhà Dân, đi xe Dân,... mà cứ nghĩ mình đang ở trên Dân, cứ tưởng mình thuộc một tầng lớp khác, được "Trời" cho cái quyền... ban phát ân huệ với Dân! Cho nên, không chỉ bé mới phải học ngồi, mà người lớn, muốn thực sự “phục vụ Nhân dân”, cũng phải học... ngồi! Nhà nước cần phải nhanh chóng tổ chức những lớp học như thế!Cái lẽ thứ hai khiến người lớn cũng phải học ngồi, ấy là "ăn trông nồi, ngồi trông hướng" – cha ông ta đã dậy thế! "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng" (Kiều-Nguyễn Du), không phải là kiểu ngồi của người có học!Nhưng bây giờ ít người muốn học ngồi lắm! Không muốn vì lẽ: dưới "cái nhìn lợi nhuận", thì "cái ăn", "cái ngồi" thuộc phạm trù... "thời cơ". Cứ dềnh dang hết "trông nồi" lại "trông hướng" thì còn đâu là cơ hội?!."Ăn trên ngồi chốc" mới thức sự là điều cần phải phấn đấu! Mục lục Chiếc ghế và văn hóa ngồi Chiếc ghế và văn hóa ngồi Trần Huy ThuậnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 1 năm 2009
Tran Huy Thuan The chair and sitting culture Newly born humans only know how to lie down, not how to sit. When I grow up a little, I start learning to roll over, learn to crawl and then learn to sit. Sitting firmly will help you learn to stand and walk. After walking and standing steadily, people again get used to... sitting: sitting to eat, sitting to study, sitting to play, sitting to work, sitting to study, sitting to be a leader, sitting to command people,... .Almost half of the time in each of our lives is spent... sitting! Since ancient times, eating has often been closely associated with sitting: "eating to watch the pot, sitting to watch the direction", " Eat and sit for a while". That attachment is probably because the seat is often the premise, the condition, the environment,... for... eating! But most closely associated with "sitting", it must still be... the chair! Without chairs, people can only sit... on the ground! Chairs also have the class of chairs: Simple, simple, popular is a "stool". This type of chair is most commonly found in the homes of poor people. Rich people use "saloon". This type of chair not only has a soft seat, but also has a sturdy backrest. Luxurious and "fashionable" are Chinese "stools" made of all kinds of precious wood, inlaid with mother-of-pearl, with splayed armrests like the thrones of ancient kings and created by expert craftsmen. . Oh! It's so comfortable to sit on sofas like that!.. Normally, if you want to have a chair in your home, the owner has to spend "pocket money" to buy it, or has to put in effort to build it. It's also very common, for people with positions and titles, there's no need to buy or build a chair, the chair will just come to you, and even compete with each other to find it! This true but seemingly made up story was told by my friend's son: A truck, carrying a set of sofas, stopped right near the door of a boss's house. A person in the car craned his neck to look into his boss's living room. At that moment, several people in the car arrived first, carrying a set of tables and chairs that seemed even more grand than the ones he brought! So the person in the car behind quickly jumped in, put the car in reverse, and drove away! Neighbors had a laugh that brought tears to their eyes! But there is a type of chair that must be promoted or promoted to sit, that is the "boss" chair - a form of "national public property"! This type of chair, in name, does not cost money to buy, but sometimes it has to be "purchased" with a lot of money, in many different ways. There is a fairly common practice surrounding public chairs: When they are just appointed If there is news that someone is preparing to leave his chair to retire, that chair is no longer completely his! Not only his successor thinks so, but many people inside and outside the agency think so! What a sad reality about the "state of affairs" in this era of market economy full of competition and temptation! The moral "when eating fruit, remember the person who planted the tree" seems to be outdated! That's not to mention the stories that happen behind... the shadow of the seats of power. There, sometimes... filled with the smell of makeup; the foul smell of swords and guns; along with many other disgusting smells: flattery, insults, deception, treachery, etc. There is the opposite: there are chairs that should no longer be sat on, and are not even allowed to sit anymore; But there are people who still intentionally... sit, in many ways, from age-reducing treatments to running around here and there to sit more, even if it's just for a few months! Not just sitting idle; They are also willing to brazenly give out "golden words and pearls of wisdom", despite the cold indifference of the audience! There are also people who have actually left their seats, but as if they were "sleepwalking". : still trying to find a way to sit in the chair he was in office! They really forgot that they were originally "civilians" and have returned to being "civilians"! Please sit in the right seats! In the past, there was a saying: "clothes are worthy of great virtue", now we should also add: "chairs are worthy of great talent"! Indeed, saying that a chair in the office is also a "national asset" seems "too petty". . So recently, people only talk a lot about "public villas", "public cars", etc. But let me tell you, a chair is a small thing that is still greedy and difficult to part with, then Why talk about the big one?!. Baby, if you want to sit firmly, you must practice sitting. What about adults? For a long time we often talk about the word "servant", cadres are "servants of the people"! But as soon as you sit on the "servant chair", many people immediately forget! Every day, I eat the People's salary, live in the People's house, drive the People's car... but I think I am above the People, I think I belong to a different class, given the right by "God" to... bestow favors on the people. People! Therefore, not only children must learn to sit, but adults, who want to truly "serve the People", must also learn... to sit! The government needs to quickly organize such classes! The second reason why adults must also learn to sit is "eat to watch the pot, sit to watch the direction" - our ancestors taught us that! "The top chair sits sloppily" (Kieu-Nguyen Du), not the sitting style of an educated person! But nowadays very few people want to learn to sit! I don't want to because: under the "profit perspective", "eating" and "sitting" belong to the category... "opportunity". If you keep wandering around "looking after the pot" and "looking towards the direction", where is the opportunity left?! "Eating and sitting for a while" is really something that needs to be strived for! Table of contents The chair and sitting culture The chair and sitting culture Tran Huy ThuanWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author / VNthuquan - Online Library Posted by: Ct.Ly on: January 13, 2009
Phạm Vũ Anh Nam Chiếc Giỏ Mây Của Bố Lần đầu tiên tôi từ nước ngoài về thăm gia đình là vào mùa Tết năm 1989 .Ngày ông Táo về trời .Bố tăng cho tôi một chiếc giỏ đan bằng mây .Nó xấu xí nhất trong những kỷ vật tôi có được lần thăm nhà đó,nhưng lại là vật tôi quý nhất .Chiếc giỏ đan bằng cây Mây rừng méo mó một đầu to đầu nhỏ .Chiếc nắp không có khóa,chỉ có hai tay cầm làm bằng sợi kẽm đã sét rỉ .Mắt đan cũng thô sơ giản dị chẳng có chi cầu kỳ .Chiếc giỏ không được đánh bóng, không khắc tên hoa chữ in lả lướt, cũng chẳng có lụa bóng trải bên trong .Chiếc nắp cũng chẳng vừa vặn miệng giỏ .Bản lề làm bằng sợi giây đồng Bố chuốt ra từ một giây điện cũ .Mỗi lần tôi mở lên còn nghe tiếng kẽo kẹt nhè nhẹ . Bố tôi mù, và đã gần 80 tuổi, nên người chỉ làm công việc đan chiếc giỏ trong đêm tối một mình .Ngày Mùng Một Tết khi anh em chúng tôi cùng đến chúc tuổi .Món quà duy nhất của Bố chỉ để tặng riêng tôi .Không phải riêng tôi,nhưng tất cả anh em cùng cảm động rưng rưng nước mắt,vì tôi là đứa con duy nhất tha hương xứ người . Bây giờ,mỗi lần tâm tư chùng thấp,tôi lại đem chiếc giỏ mây của Bố mân mê mở nhìn .Tầm mắt suy tư cũng bay về quá khứ êm ái dịu dàng .Chiếc võng Bố nằm những đêm khuya đan giỏ cho tôi,kẽo kẹt tiếng ru tôi về cố hương đầy ắp những thương yêu . Trong chiếc giỏ chỉ có miếng giấy bổi vàng úa, giòng chữ nguệch ngoạc nhạt nhòa chỉ dành riêng cho tôi mà thôi .Trong mắt đời thường,chiếc giỏ chẳng đáng chi,nhưng với tôi nó là vật vô giá, vì đó là kỷ vật duy nhất và cuối cùng của Bố cho tôi . Vì thế,với tôi, dù là người thợ đan chuyên nghiệp giỏi nhất cũng không thể cho tôi chiếc giỏ quý giá hơn thế! Cái đẹp của chiếc giỏ không phải hình dáng,nhưng là yêu thương Bố gói ghém trong công việc người làm . Bố làm công việc đan giỏ trong đêm một mình là vì …với người mù,trong đêm tối cũng như ban ngày,chẳng có điều chi khác biệt .Công phu của việc làm đó là dành riêng cho tôi .Tôi còn đóan rằng mỗi mũi đan, Bố đã dành cho tôi một lời cầu nguyện cùng Thượng Ðế . Chiếc giỏ đan bằng đôi tay run rẩy chậm chạp,từng đốt tay đã khô,lòng bàn tay đã chai hằn theo năm tháng thời gian khổ cực nhọc nhằn .Giọt mồ hôi trong đêm vắng ôi quý giá dường bao! Ðôi tay của người Bố tật nguyền và mù lòa đó đã trọn thiên chức làm Cha . Người đã nuôi nấng 13 anh em trai chúng tôi học hành nên người . Chúng tôi bước xuống cuộc đời không phải hổ thẹn cúi mặt .Dù,số phận mỗi đứa người may mắn, kẻ lận đận trên đường công danh sự nghiệp . Lời viết Bố dành cho tôi chẳng phải thiên tuyệt bút đáng lưu lại nhân gian, Nhưng nó nói lên lòng ưu ái Bố luôn ban phát cho người con, dù ở gần bên hay xa khuất suốt nửa mảnh địa cầu .Niềm vui lớn của Bố là đã có tôi làm con,dù ở nơi xa tôi chẳng có công danh gì! Bố tôi qua đời vài năm sau đó! Ngày đám tang Bố,tôi là đứa con duy nhất không có mặt . Trong muôn vạn nỗi buồn hay ân hận trong đời tôi đã trải qua, chỉ có nỗi buồn này làm tôi khó nguôi ngoai nhất . Ðã bao lần tôi tự hỏi : Bố ơi! Bố có trách con không ? Và cũng theo giòng thời gian, chiếc giỏ mây của Bố giúp tôi hiểu thâm sâu hơn tình thương của Bố .Tôi không tự trách mình vì tôi biết, có những điều Bố hiểu tôi hơn chính tôi hiểu mình . Tôi còn hiểu rằng giá trị thật sự của những kỷ vật trên đời là từ trái tim,từ nguồn yêu thương thật mà người tặng gói ghém trong đó! Và cũng theo giòng thời gian,chiếc giỏ chẳng còn nguyên vẹn hình hài như năm nào nữa . Tôi thấy mình tuổi xanh cũng đã phôi pha .Nhưng màu của những sợi mây càng vàng ươm đẹp ngời, như tôi ước mong cuộs đời mãi đẹp, dẫu đường đời lắm gập gềnh chông gai . Nhìn mắt giỏ đan lớn nhỏ không đều, có sợi lạt vẫn còn bóng lưỡng, có sợi đã gẫy lưng chừng,để thấy ngày vui đêm buồn,mỗi buổi một sắc màu riêng . Hiểu thế để tôi vững bước đi trên đường đời .Cũng như chiếc giỏ,đời tôi có thành công lẫn thật bại . Nhưng điều có ý nghĩa nhất của chiếc giỏ chính là những lời đơn sơ Bố viết :“ …….Bố thương con nhất vì con xa nhà! …..gánh lắm điều bất hạnh hơn mọi người anh em trong gia đình …….” Như tình yêu thương của Bố đã dành cho tôi, giữa chốn mênh mang của vũ trụ khôn cùng, có đôi tay nào rồi sẽ ấp ủ tôi, nếu tôi mãi can đảm đem trái tim đầy ắp thương yêu đi vào cuộs sống . Chiếc giỏ mây của Bố Luôn là bóng mát phủ ngập tâm tư Những khi tôi gối rời chân mỏi . Phạm Vũ Anh Nam Mục lục Chiếc Giỏ Mây Của Bố Chiếc Giỏ Mây Của Bố Phạm Vũ Anh NamChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: GiaoMuaĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 30 tháng 9 năm 2005
Pham Vu Anh Nam Dad's Rattan Basket The first time I came back from abroad to visit my family was during the Tet season in 1989. On the day Mr. Tao returned to heaven, my father gave me a woven rattan basket. It was the ugliest of the souvenirs I had from that visit. , but it is my most precious thing. The basket woven from wild rattan trees is distorted, one end is big and the other is small. The lid has no lock, only two handles made of rusted zinc wire. The woven eyes are also rudimentary and simple. There's nothing fancy about it. The basket isn't polished, isn't engraved with a name in fancy letters, and doesn't have glossy silk spread inside. The lid doesn't fit the basket's mouth either. The hinges are made of copper wire that Dad carved out. from an old electric wire. Every time I turn it on, I still hear a slight creaking sound. My father is blind, and is nearly 80 years old, so he only weaves baskets in the dark alone. On the first day of Tet, when we all came to wish each other a happy new year. Dad's only gift was for me. Not just me, but all of my brothers were moved to tears, because I was the only child living in a foreign country. Now, every time I feel low, I take Dad's rattan basket and fondle it open to look at it. My thinking eyes also fly back to the soft and gentle past. The hammock Dad lay in late nights weaving baskets for me, oh well. The sound lulls me back to my hometown full of love. In the basket, there was only a piece of yellowed paper, with faint scribbles written just for me. In the eyes of ordinary people, the basket was worth nothing, but to me it was priceless, because it was a souvenir. Dad's only and last one for me. Therefore, for me, even the best professional knitter could not give me a more precious basket than that! The beauty of the basket is not its shape, but the love for Dad wrapped in the work he does. Dad did the basket-weaving work alone at night because...for blind people, in the dark as well as in the day, there is no difference. The effort of doing that job is just for me. I even guess that each stitch Dan, Dad gave me a prayer to God. The basket was woven by slowly shaking hands, each knuckle was dry, the palms were calloused from years of hardship and hardship. How precious are the drops of sweat in the deserted night! The hands of that handicapped and blind father fulfilled his calling as a Father. He raised 13 of us brothers to study and become good people. We step down from life without having to bow our heads in shame. Although each person's fate is lucky, some are miserable on their career path. The words Dad wrote for me are not masterpieces worth leaving behind for the world, But they express the affection Dad always bestows on his children, whether they are near or far away across half the globe. Dad's great joy. that you have me as your son, even though I live far away and have no fame! My dad passed away a few years later! On the day of Dad's funeral, I was the only child not present. Among the countless sadnesses and regrets I have experienced in my life, only this sadness makes it the most difficult for me to appease. How many times have I asked myself: Dad! Dad, do you blame me? And over time, Dad's rattan basket helped me understand Dad's love more deeply. I don't blame myself because I know, there are things Dad understands me better than I understand myself. I also understand that the true value of souvenirs in life comes from the heart, from the true source of love that the giver packs in them! And with the passage of time, the basket no longer has the same shape as before. I feel like my youth has faded away. But the color of the clouds is even more beautiful and golden, as I wish for life to be forever beautiful, even though life's road is very bumpy and thorny. Looking at the large and small woven baskets, some are still shiny, some are broken halfway, to see happy and sad days, each day has its own color. Understanding that helps me walk steadily on the path of life. Like a basket, my life has both success and failure. But the most meaningful thing about the basket are the simple words Dad wrote: " …….I love you the most because you are far from home! …..burdened with more misfortunes than any other brother in the family…….” Like Dad's love for me, in the vastness of the infinite universe, there are hands that will embrace me, if I always have the courage to bring a heart full of love into life. Dad's rattan basket is always a shade that fills my thoughts when my knees are tired. Pham Vu Anh Nam Table of contents Dad's Rattan Basket Dad's Rattan Basket Pham Vu Anh NamWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: GiaoMua Posted by: Ct.Ly on: September 30, 2005
Hans Christian Andersen Chiếc kim thô Truyện cổ C. Andersen Một hôm có một cái kim thô dùng để lược quần áo, tự cho là thanh tú lắm, nên cứ tưởng mình là một cái kim khâu. Cô ả bảo các ngón tay đang sắp cầm mình rằng:-Này, giờ thì các anh phải chú ý giữ tôi cho khéo nhé! Chớ mà có đánh rơi tôi đấy! Tôi mà ngã xuống đất thì chắc chắn là không bao giờ tìm thấy tôi được đâu. Người tôi nhỏ nhắn thế này cơ mà!Các ngón tay bảo:-Cứ mặc cho người ta làm nào! - Nói rồi chúng tóm lấy người cô ả.-Nhìn đây một tí mà xem. Tôi đến với đoàn tuỳ tòng của tôi đây này.ả kim thô vừa nói vừa kéo theo mình một sợi chỉ dài, nhưng là sợi chỉ không thắt nút.Các ngón tay điệu ả kim ta về phía chiếc giầy "băng túp" của chị nấu bếp. Da giày phía trên bị rách cần phải khâu lại. ả kim bảo:-Vải gì mà thô đến thế! Tôi không thể nào chọc thủng được đâu; tôi đến gãy mất, gãy mất thôi!Và quả nhiên, cô ả gẫy thật. ả kêu ầm lên:-Tôi chẳng bảo thế là gì? Người tôi mảnh dẻ lắm cơ mà!Các ngón tay bảo nhau:-Bây giờ thì chẳng dùng được vào việc gì nữa rồi.Nói thế nhưng chúng vẫn giữ cô ả. Chị nấu bếp làm cho cô ả một cái đầu bằng xi măng rồi dùng cô ả để cài khăn quàng. ả kim nói:-Thế là mình trở thành trâm cài rồi! Mình biết lắm, biết là mình danh giá mà! Khi con người ta vốn dĩ đã có giá trị thế nào cũng nổi danh.Rồi cô ả làm bộ kiêu hãnh, ngó nghiêng tứ phía chẳng khác gì cậu xà ích đánh xe ngày hội. Chị đanh gim láng giềng bảo:-Dám xin hỏi quý nương, có phải quý nương bằng vàng không đấy ạ? Diện mạo quý nương xinh đẹp và quý nương có cái đầu kỳ lạ lắm! Song le và nó chỉ hơi bé một chút thôi, quý nương nên gắng sức làm cho nó nhỉnh ra một tí để khỏi phải dùng đến xi như các kẻ khác.Nghe vậy cô nàng kiêu hãnh ưỡn người nghểnh mạnh cái đầu đến nỗi từ khăn quàng rơi xuống cái máng giặt, nơi chị bếp đang vò quần áo. ả kim bảo:-Thế là ta sắp được chu du một phen. Miễn rằng đừng có thất lạc là được.Quả nhiên cô ả bị thất lạc. Trong khi nằm dí trong máng giặt, cô ả lẩm bẩm:-Mình thật quá nhỏ nhắn đối với cái thế gian này. Ta cũng tự biết ta lắm, biết mình thì bao giờ cũng được vừa lòng đôi chút.Nhưng ả vẫn cứ hớn hở giữ bộ điệu kiêu hãnh. Rồi một loạt các thứ bơi qua trên đầu ả; nào là dằm gỗ, nào là rơm rạ và những mẩu báo cũ. ả lẩm bẩm:-Hãy xem cái tụi kia bơi với lội kìa! Thậm chí mình nằm ngay đây mà chúng cũng chẳng ngờ rằng bên dưới chúng có cái gì cả? Kìa, một chú dằm gỗ ngoi qua kìa! Cu cậu chẳng nghĩ đến ai trên đời này ngoài cu cậu ra cả, hừ, ngoài cu cậu ra! Lại một cô ả rơm đang du ngoạn! Cô ả đang quay cuồng vùng vẫy gớm chưa! Này, đi cẩn thận đấy nhá, kẻo lại va đầu vào đá đấy. Còn cái mảnh báo cũ này nữa. Đến là vênh vang! Nhưng mà từ lâu lắm thiên hạ cũng chẳng nhớ hắn ta đã đăng tin gì rồi. Chỉ có mình ta là vẫn kiên tâm và bình thản; ta tự biết ta lắm và luôn luôn giữ lấy giá trị của ta.Một hôm cô ả cảm thấy có vật gì nằm cạnh, một vật sáng rực rỡ mà cô ả cho là một viên kim cương. Đó là một mảnh chai vỡ. Thấy hắn ta lóng lánh trông như một cái trâm cài đầu, kim bèn cất giọng săn đón:-Chắc hẳn bà chị là kim cương?-Một loại na ná như thế.Thế là ả nọ cứ tưởng ả kia quý phái lắm. Và rồi câu chuyện giữa hai đứa nở ran, đặc một giọng kiêu kỳ chúa soái ở trên đời. Kim ta lên giọng:-Mình ở trong một cái tráp của tiểu thư. Vị tiểu thư ấy làm nghề nấu bếp. Mỗi bàn tay của nàng có năm ngón. Mình chưa hề thấy ai kiêu căng tự phụ như các lão ngón tay ấy, thế mà chúng cũng sinh ra để nâng mình ra khỏi hộp rồi lại cất mình vào thôi.Mảnh chai hỏi:-Thế các lão ngón tay ấy có thuộc dòng dõi quý phải không?Kim đáp:-Quý phái! Không đâu, nhưng kiêu căng. Chúng nó tất cả năm anh em và tất cả đều thuộc dòng dõi... họ nhà ngón tay. Chúng tuy dài ngắng khác nhau nhưng đứng cạnh nhau một cách hợm hĩnh. Ngón ngoài, cũng gọi là ngón cái, lùn và mập đứng tách riêng ra vì hắn chỉ có trần một khớp nên chỉ có thể gập lại một đốt thôi, nhưng hắn luôn luôn khoe rằng nếu người nào mà cụt mất hắn thì không thể nào mà làm việc nhà binh được.Ngón thứ hai lúc nếm mứt, lúc nếm mù tạt; hắn còn chỉ chỏ được cả mặt trăng lẫn mặt trời nữa và chính hắn ấn quản bút khi người ta viết lách đấy. Lão thứ ba thì cao hơn tất cả các lão kia. Lão thứ tư đeo một cái đai bằng vàng và lão thứ năm bé nhất chẳng làm ăn gì cả. Vì thế nên hắn kiêu ngạo lạ thường. Bọn chúng lúc nào cũng làm bộ làm tịch, bắc bậc kiêu kỳ, nên mình đã bỏ chúng mà đi nơi khác đấy.Mảnh chai bảo:-Có thế chúng mình mới ngồi với nhau ở đây mà lấp lánh chứ.Lúc đó người ta đổ nước vào máng giặt. Nước chảy lên thành máng và cuốn hai đứa đi. Kim thở phào:-Đấy, thế là chúng ta lại tiến bước rồi đấy.Mảnh chai tiếp tục lăn đi, còn ả kim đọng lại ở dưới suối.-ấy đấy! Mình mảnh dẻ qúa, không nhúc nhích được nữa; nhưng cũng đành vậy biết sao?Quả nhiên cô ả nắm dí ở đây, ôm ấp những hoài bão vĩ đại của cô ả.-Mình rồi cũng đến phải tin rằng mình là con của một tia nắng vì mình nhỏ nhắn thế này kia mà! Hình như những tia nắng xuống tận đáy nước tìm mình thì phải. Nhưng mình nhỏ nhắn đến nỗi thân mẫu mình chẳng tìm thấy mình đâu. Giá ví thử người ta chưa đánh gãy mất cái mắt của mình thì mình cũng còn khóc được cơ đấy! Nhưng không, mình chẳng muốn khóc, mình mà lại than khóc à?Một hôm, trẻ con đến sục sạo dòng suối. Chúng mò tìm đanh cũ, xu đồng và các của tương tự loại ấy. Công việc chẳng hào hứng lắm, nhưng chúng thích làm việc ấy và đứa nào nhặt được gì thì lấy nấy. Một đứa trong bọn bị cái kim đâm vào tay kêu lên:-ôi chao! Cái đồ ăn mày này!ả kim vội cãi:-Tôi không phải là ăn mày đâu. Tôi là một tiểu thư khuê các đây.Nhưng nào có ai thèm nghe nó. Đến lúc ấy cái đầu xi của nó đã tuột đi mất rồi và kim ta lại trở nên đen xì từ đầu đến chân; nhưng càng đen thì thân hình trông càng có vẻ nhỏ đi, nên cô ả tưởng mình mảnh dẻ hơn lúc nào hết. Trẻ con bàn nhau:-Có cái vỏ trứng trôi đến kia rồi!Thế là chúng cắm kim vào vỏ trứng. Cô ả hí hửng:-May lắm! Giờ thì mình nổi bật rồi, vì mình thì đen mà thành quách xung quanh lại trắng toát một màu. ít ra thiên hạ cũng nhận ra mình ngay. Miễn là chớ có say sóng mà gãy tan xácCô ả không say sóng nên chẳng hề bị gãy.-Đi biển mà có cái bụng bằng thép như mình thì thật là may mắn lắm thay! Mình hơn người ở chỗ ấy đấy. Ai dám tự hào có được cái bụng như ta? Thể chất mình tốt thật! Mà càng nhỏ bao nhiêu thì lại càng tránh được tai nạn bấy nhiêu.Một chiếc xe tải hàng chẹt lên, vỏ trứng vỡ đánh "rắc" một cái. Kim rên la:-Trời! Sao mình bị đè khiếp thế này! Hình như mình bị say sóng thì phải. Mình bị gãy nát mất rồi.Tuy bị chẹt xe nhưng ả kim không gãy. Cô ả vẫn như trước, nằm sõng sượt dưới lòng suối. Mặc xác ả!(Truyện Anđecxen) Mục lục Chiếc kim thô Chiếc kim thô Hans Christian AndersenChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Hans Christian Andersen Chiếc kim thô Truyện cổ C. Andersen Một hôm có một cái kim thô dùng để lược quần áo, tự cho là thanh tú lắm, nên cứ tưởng mình là một cái kim khâu. Cô ả bảo các ngón tay đang sắp cầm mình rằng:-Này, giờ thì các anh phải chú ý giữ tôi cho khéo nhé! Chớ mà có đánh rơi tôi đấy! Tôi mà ngã xuống đất thì chắc chắn là không bao giờ tìm thấy tôi được đâu. Người tôi nhỏ nhắn thế này cơ mà!Các ngón tay bảo:-Cứ mặc cho người ta làm nào! - Nói rồi chúng tóm lấy người cô ả.-Nhìn đây một tí mà xem. Tôi đến với đoàn tuỳ tòng của tôi đây này.ả kim thô vừa nói vừa kéo theo mình một sợi chỉ dài, nhưng là sợi chỉ không thắt nút.Các ngón tay điệu ả kim ta về phía chiếc giầy "băng túp" của chị nấu bếp. Da giày phía trên bị rách cần phải khâu lại. ả kim bảo:-Vải gì mà thô đến thế! Tôi không thể nào chọc thủng được đâu; tôi đến gãy mất, gãy mất thôi!Và quả nhiên, cô ả gẫy thật. ả kêu ầm lên:-Tôi chẳng bảo thế là gì? Người tôi mảnh dẻ lắm cơ mà!Các ngón tay bảo nhau:-Bây giờ thì chẳng dùng được vào việc gì nữa rồi.Nói thế nhưng chúng vẫn giữ cô ả. Chị nấu bếp làm cho cô ả một cái đầu bằng xi măng rồi dùng cô ả để cài khăn quàng. ả kim nói:-Thế là mình trở thành trâm cài rồi! Mình biết lắm, biết là mình danh giá mà! Khi con người ta vốn dĩ đã có giá trị thế nào cũng nổi danh.Rồi cô ả làm bộ kiêu hãnh, ngó nghiêng tứ phía chẳng khác gì cậu xà ích đánh xe ngày hội. Chị đanh gim láng giềng bảo:-Dám xin hỏi quý nương, có phải quý nương bằng vàng không đấy ạ? Diện mạo quý nương xinh đẹp và quý nương có cái đầu kỳ lạ lắm! Song le và nó chỉ hơi bé một chút thôi, quý nương nên gắng sức làm cho nó nhỉnh ra một tí để khỏi phải dùng đến xi như các kẻ khác.Nghe vậy cô nàng kiêu hãnh ưỡn người nghểnh mạnh cái đầu đến nỗi từ khăn quàng rơi xuống cái máng giặt, nơi chị bếp đang vò quần áo. ả kim bảo:-Thế là ta sắp được chu du một phen. Miễn rằng đừng có thất lạc là được.Quả nhiên cô ả bị thất lạc. Trong khi nằm dí trong máng giặt, cô ả lẩm bẩm:-Mình thật quá nhỏ nhắn đối với cái thế gian này. Ta cũng tự biết ta lắm, biết mình thì bao giờ cũng được vừa lòng đôi chút.Nhưng ả vẫn cứ hớn hở giữ bộ điệu kiêu hãnh. Rồi một loạt các thứ bơi qua trên đầu ả; nào là dằm gỗ, nào là rơm rạ và những mẩu báo cũ. ả lẩm bẩm:-Hãy xem cái tụi kia bơi với lội kìa! Thậm chí mình nằm ngay đây mà chúng cũng chẳng ngờ rằng bên dưới chúng có cái gì cả? Kìa, một chú dằm gỗ ngoi qua kìa! Cu cậu chẳng nghĩ đến ai trên đời này ngoài cu cậu ra cả, hừ, ngoài cu cậu ra! Lại một cô ả rơm đang du ngoạn! Cô ả đang quay cuồng vùng vẫy gớm chưa! Này, đi cẩn thận đấy nhá, kẻo lại va đầu vào đá đấy. Còn cái mảnh báo cũ này nữa. Đến là vênh vang! Nhưng mà từ lâu lắm thiên hạ cũng chẳng nhớ hắn ta đã đăng tin gì rồi. Chỉ có mình ta là vẫn kiên tâm và bình thản; ta tự biết ta lắm và luôn luôn giữ lấy giá trị của ta.Một hôm cô ả cảm thấy có vật gì nằm cạnh, một vật sáng rực rỡ mà cô ả cho là một viên kim cương. Đó là một mảnh chai vỡ. Thấy hắn ta lóng lánh trông như một cái trâm cài đầu, kim bèn cất giọng săn đón:-Chắc hẳn bà chị là kim cương?-Một loại na ná như thế.Thế là ả nọ cứ tưởng ả kia quý phái lắm. Và rồi câu chuyện giữa hai đứa nở ran, đặc một giọng kiêu kỳ chúa soái ở trên đời. Kim ta lên giọng:-Mình ở trong một cái tráp của tiểu thư. Vị tiểu thư ấy làm nghề nấu bếp. Mỗi bàn tay của nàng có năm ngón. Mình chưa hề thấy ai kiêu căng tự phụ như các lão ngón tay ấy, thế mà chúng cũng sinh ra để nâng mình ra khỏi hộp rồi lại cất mình vào thôi.Mảnh chai hỏi:-Thế các lão ngón tay ấy có thuộc dòng dõi quý phải không?Kim đáp:-Quý phái! Không đâu, nhưng kiêu căng. Chúng nó tất cả năm anh em và tất cả đều thuộc dòng dõi... họ nhà ngón tay. Chúng tuy dài ngắng khác nhau nhưng đứng cạnh nhau một cách hợm hĩnh. Ngón ngoài, cũng gọi là ngón cái, lùn và mập đứng tách riêng ra vì hắn chỉ có trần một khớp nên chỉ có thể gập lại một đốt thôi, nhưng hắn luôn luôn khoe rằng nếu người nào mà cụt mất hắn thì không thể nào mà làm việc nhà binh được.Ngón thứ hai lúc nếm mứt, lúc nếm mù tạt; hắn còn chỉ chỏ được cả mặt trăng lẫn mặt trời nữa và chính hắn ấn quản bút khi người ta viết lách đấy. Lão thứ ba thì cao hơn tất cả các lão kia. Lão thứ tư đeo một cái đai bằng vàng và lão thứ năm bé nhất chẳng làm ăn gì cả. Vì thế nên hắn kiêu ngạo lạ thường. Bọn chúng lúc nào cũng làm bộ làm tịch, bắc bậc kiêu kỳ, nên mình đã bỏ chúng mà đi nơi khác đấy.Mảnh chai bảo:-Có thế chúng mình mới ngồi với nhau ở đây mà lấp lánh chứ.Lúc đó người ta đổ nước vào máng giặt. Nước chảy lên thành máng và cuốn hai đứa đi. Kim thở phào:-Đấy, thế là chúng ta lại tiến bước rồi đấy.Mảnh chai tiếp tục lăn đi, còn ả kim đọng lại ở dưới suối.-ấy đấy! Mình mảnh dẻ qúa, không nhúc nhích được nữa; nhưng cũng đành vậy biết sao?Quả nhiên cô ả nắm dí ở đây, ôm ấp những hoài bão vĩ đại của cô ả.-Mình rồi cũng đến phải tin rằng mình là con của một tia nắng vì mình nhỏ nhắn thế này kia mà! Hình như những tia nắng xuống tận đáy nước tìm mình thì phải. Nhưng mình nhỏ nhắn đến nỗi thân mẫu mình chẳng tìm thấy mình đâu. Giá ví thử người ta chưa đánh gãy mất cái mắt của mình thì mình cũng còn khóc được cơ đấy! Nhưng không, mình chẳng muốn khóc, mình mà lại than khóc à?Một hôm, trẻ con đến sục sạo dòng suối. Chúng mò tìm đanh cũ, xu đồng và các của tương tự loại ấy. Công việc chẳng hào hứng lắm, nhưng chúng thích làm việc ấy và đứa nào nhặt được gì thì lấy nấy. Một đứa trong bọn bị cái kim đâm vào tay kêu lên:-ôi chao! Cái đồ ăn mày này!ả kim vội cãi:-Tôi không phải là ăn mày đâu. Tôi là một tiểu thư khuê các đây.Nhưng nào có ai thèm nghe nó. Đến lúc ấy cái đầu xi của nó đã tuột đi mất rồi và kim ta lại trở nên đen xì từ đầu đến chân; nhưng càng đen thì thân hình trông càng có vẻ nhỏ đi, nên cô ả tưởng mình mảnh dẻ hơn lúc nào hết. Trẻ con bàn nhau:-Có cái vỏ trứng trôi đến kia rồi!Thế là chúng cắm kim vào vỏ trứng. Cô ả hí hửng:-May lắm! Giờ thì mình nổi bật rồi, vì mình thì đen mà thành quách xung quanh lại trắng toát một màu. ít ra thiên hạ cũng nhận ra mình ngay. Miễn là chớ có say sóng mà gãy tan xácCô ả không say sóng nên chẳng hề bị gãy.-Đi biển mà có cái bụng bằng thép như mình thì thật là may mắn lắm thay! Mình hơn người ở chỗ ấy đấy. Ai dám tự hào có được cái bụng như ta? Thể chất mình tốt thật! Mà càng nhỏ bao nhiêu thì lại càng tránh được tai nạn bấy nhiêu.Một chiếc xe tải hàng chẹt lên, vỏ trứng vỡ đánh "rắc" một cái. Kim rên la:-Trời! Sao mình bị đè khiếp thế này! Hình như mình bị say sóng thì phải. Mình bị gãy nát mất rồi.Tuy bị chẹt xe nhưng ả kim không gãy. Cô ả vẫn như trước, nằm sõng sượt dưới lòng suối. Mặc xác ả!(Truyện Anđecxen) Mục lục Chiếc kim thô Chiếc kim thô Hans Christian AndersenChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Khánh Văn Chiếc lá bàng Sân trường mình có 1 cây bàng.Mùa thu, những chiếc lá bàng từ màu xanh chuyển sang màu tím thẫm, thả mình từ trên cây xuống mặt đất. Những chiếc lá rơi bao giờ cũng nhẹ. Ở nơi này, nghe những tiếng trống rộn rã ngày khai trường hay tiếng ve xốn xang những học trò lớp cuối cấp, mùa phượng nở, ít ai để ý đến những chiếc lá màu giản dị kia .Mười năm về trước. Tôi với em đi bên nhau như những đôi lứa bây giờ. Chỉ có điều, họ ăn mặc đẹp hơn, tiêu tiền bạo hơn và có lẽ khôn ngoan hơn chúng ta nhiều. Em đã nhặt một chiếc lá bàng đẹp nhất đặt vào tay tôi. Chiếc lá ấy bây giờ vẫn vẹn nguyên trong cuốn sổ học trò.Những bữa cơm sinh viên đạm bạc. Em nhăn mặt nuốt những miếng cơm nhão được nấu từ thứ gạo ngả màu. Buổi sáng, lên thư viện, 2 mắt hoa lên vì đói. Chúng mình đọc "Nửa chừng xuân" tác phẩm văn học lãng mạn, chỉ sinh viên văn khoa mới được đọc Hồi ấy, "Tự Lực Văn Ŀoàn" vẫn còn là vùng cấm kỵ. Mơ ước của em là viết một chuyên luận văn, văn học thời kỳ này. Vậy mà đành bỏ dở.Thời gian đi qua những nỗi lo tiền thuê nhà, tiền sách vở, học phí. Những nỗi âm thầm của sinh viên nghèo nối tiếp nhau. Một đêm, nơi "công viên rau muống", tựa vào vai tôi, em nói tới mơ ước "một ngồi nhà nhỏ, trong nhà được trang trí bằng sách theo ý muốn".Cuộc sống sách vở càng thơ mộng bao nhiêu thì cuộc đời thực càng nghiệt ngã bấy nhiêu. Khát vọng về một cuộc sống bình yên không đủ sức trụ lại bởi những dự cảm đầy lo âu và sự tan vỡ mất mát. Chúng mình chẳng ai nói với ai nhưng cả hai đều nghĩ về điều ấy. Ngàn lẻ một nỗi lo toan của cuộc sống đói thương chèn ép và bóp nghẹt những giấc mơ và cuộc sống bình yên.Không có sự phản bội như những câu chuyện tình trong tiểu thuyết mà chúng mình vẫn đọc. Nhưng những trái đắng của đời cứ nhỏ giọt theo thời gian. Thời gian biến hôm nay thành quá khứ của ngày mai. Thời gian níu con người vào những bến bờ xa lạ, nơi ấy, mỗi kẻ phận mang cánh chuồn như hai ta đâu có thể xót xa, nuối tiếc. Thời gian xoa dịu những rung động đầu đời. Ŀể rồi chúng ta lặng lẽ chia tay. Không một ai nói ra điều cần nói. Bởi chẳng ai muốn phải nói ra. Cuộc sống nghiệt ngã quá. Em đã lặng im trước cái nhìn của tôi . Vẫn cái dáng khép nép, cẩn trọng và đôi mắt thì xót xa đến nao lòng.Những giờ học văn vẫn trôi qua. Tranh luận, thuyết trình, hội thảo, diễn đàn... Công việc chồng chéo và những nồi niềm xuyên suốt. Tôi như kẻ mộng du, chơi vơi giữa đám bạn bè thân quen và xa lạ. Heo may về, lật ngược những sợi tóc xòa trên trán. Tôi cảm nhận sâu sắc cái mất, cái còn của mùa đông. Cây bàng trên sân trường, cây bàng kỷ niệm. Lá theo mùa rụng xuống nỗi niềm màu tím thẫm vụng dại và xót xa. Trên thân cây, những cánh tay gầy guộc, khẳng khiu đau đáu nỗi mất còn. Những gì có rồi lại mất, thực ra chưa bao giờ là có. Cái có thể sẽ khẳng định sự đích thực. Em đã có người bạn mới . Anh ta không đẹp trai nhưng ăn vận cũng ưa nhìn. Anh ta không hiểu gì về nguyên lý tảng băng trôi của Hemingway nhưng biết chia xẻ với em những dư vị lẽ ra không đáng có, không nên có của đời sinh viên. Một chiếc xe máy không đến nỗi cà tàng, một bộ đồ "sịn", môđden thời thượng, cử chỉ thân thiện, để để em lên xe, ngồi ở phía sau. Tiếng máy nổ êm tai hứa hẹn những điều thú vị. Thì đúng lúc ấy, em nhìn thấy tôi. Ánh mắt của em thăm thẳm. Dường như bể buồn trên thế gian này dồn vào đôi mắt ấỵChúng mình cố gắng tránh nhau. Tôi không muốn nhìn thấy đôi mắt thăm thẳm của em. Và em thì không muốn nhìn thấy vẻ mặt thẫn thờ của tôi. Một lần, trong hội thơ, vô tình tôi ngồi cạnh em. Em ngồi cạnh người bạn gái. Không hiểu sao người bạn trai của em không đến hội thơ.Em đã run run nói với tôi:- Sơn ơi! Hãy hiểu cho em. Đừng trách em, Sơn nhé!Người ta bảo: khi yêu, một ngày không được nhìn thấy nhau một lần là không chịu nổi. Vậy mà tôi đã nhìn vào khoảng không hư vô ấy suốt ngày qua ngày, tháng qua tháng và qua cả một thời sinh viên.Cỏ sân trường vẫn xanh mát những chân trần đôi lứa. Mùa đông, những chiếc lá bàng vẫn tím thẫm, tím đến dại dột. Nếu không vô tri, vô giác, những chiếc lá bàng có nhớ tay em. Và rồi, những chiếc lá rơi cũng cuốn theo chiều gió. Qua phố, đài nhà ai vọng ra: "Lòng người như chiếc lá, thoảng trong cơn gió vô tình". Lá bàng vẫn rơi. Em mặc một chiếc áo thụng đỏ, cái nhìn đã bạo dạn và mái tóc để kiểu bất cần. Những thiếu nữ bây giờ thích những kiểu tóc như thế.Những ngày cuối cùng.Ánh mắt của em khẩn khoản. Dòng lưu bút ở trong mắt ấy như lắng lại trong tôi tất cả những rung động đầu đời. Hiểu nhau lắm mà rồi cứ phải chia xa. Không còn thảo luận, thuyết trình, diễn đàn, văn nghệ Không còn những niềm vui khơi dựng từ những gương mặt thân yêu. Màn mưa xối xả ngoài trời như chìm lấp lời thầy chủ nhiệm khoa đêm cuối cùng của hành trình tri thức giảng đường:- Mong sao những cơn mưa đời, đừng làm ướt áo các em.Ŀôi mắt buồn của tôi! Em đứng trong góc lớp, kiềm nén xúc động. Các bạn lần lượt nói lời giã từ. Em nhìn tôi. Sự im lặng đã nói lên tất cả........Ra trường, tôi lao vào kiếm sống. Bằng mọi nghề: vẽ tranh cổ động, đánh máy chữ, may quần áo, làm hàng gia công... để nuôi nghiệp dạy học. Thời gian và công việc cứ cướp đi sự trai tráng của tôi. Bù lại, tôi có tiền mua được ngôi nhà nhỏ xinh xắn. Trong nhà, một bức tường xếp bằng sách, đủ những tác phẩm mà em yêu thích.Đêm về, gấp trang giáo án, tôi giở cuốn sổ học trò ngắm chiếc lá bàng khô. Ly ơi! Bây giờ, em ở đâu ? Mục lục Chiếc lá bàng Chiếc lá bàng Khánh VănChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: vietnhimĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 4 năm 2007
Khanh Van The almond leaf My school yard has an almond tree. In the fall, the almond leaves turn from green to dark purple, falling from the tree to the ground. Falling leaves are always light. In this place, listening to the bustling drums on the opening day of school or the sound of cicadas fluttering among the students of the senior class, during the poinciana blooming season, few people paid attention to those simple colored leaves. Ten years ago. My sister and I walk together like couples now. It's just that they dress better, spend money more boldly and are probably much wiser than us. She picked up the most beautiful almond leaf and put it in my hand. That leaf is still intact in the student notebook. Student meals are frugal. I grimaced and swallowed the mushy pieces of rice cooked from discolored rice. In the morning, when I went to the library, my eyes were dizzy from hunger. We read "Halfway Spring" a romantic literary work, which only literature students could read. At that time, "Tu Luc Van Doan" was still a taboo area. My dream is to write a thesis on literature of this period. Yet I had to give up. Time passed by worrying about rent, books, and tuition. The silent problems of poor students continue one after another. One night, in the "water spinach park", leaning on my shoulder, she talked about her dream of "a small house, decorated with books as desired". The more poetic the book life, the more poetic the life. Real life is even crueler. The desire for a peaceful life cannot be sustained by anxious premonitions and loss. Neither of us told the other, but we both thought about it. The thousand and one worries of a life of hunger and poverty oppress and suffocate dreams and a peaceful life. There is no betrayal like the love stories in novels we still read. But the bitter fruits of life keep dripping over time. Time turns today into tomorrow's past. Time holds people to strange shores, where each of us with dragon wings cannot feel sorrow or regret. Time soothes the first vibrations of life. Then we quietly broke up. No one said what needed to be said. Because no one wants to say it. Life is so cruel. She was silent before my gaze. Still with a closed, careful appearance and heartbreakingly sad eyes. The hours of studying literature still passed. Debate, presentations, seminars, forums... Overlapping work and cross-cutting concerns. I was like a sleepwalker, drifting between familiar and unfamiliar friends. The lucky pig returned, flipping back the hair that fell on his forehead. I deeply feel the loss and survival of winter. The almond tree on the school grounds, the almond tree in memory. Seasonal leaves fall, leaving behind a dark purple feeling of awkwardness and sadness. On the tree trunk, thin, spindly arms ache with loss of life. What was then lost was never really there. The possible will confirm authenticity. I have a new friend. He's not handsome, but he dresses well. He didn't understand Hemingway's iceberg principle, but he knew how to share with me the unpleasant aftertaste of student life. A motorbike that's not too shabby, a "good" outfit, a trendy model, a friendly demeanor, to let you get on the bike and sit in the back. The smooth sound of the engine promises interesting things. Then at that moment, she saw me. My eyes are deep. It seems like all the sadness in this world is concentrated in those eyes. We try to avoid each other. I don't want to see your deep eyes. And you don't want to see my blank face. One time, at a poetry festival, I accidentally sat next to her. I sit next to my girlfriend. I don't understand why her boyfriend didn't come to the poetry festival. She trembled and said to me: - Son! Please understand for me. Don't blame me, Son! People say: when you're in love, not seeing each other once a day is unbearable. Yet I have been looking at that nothingness all day after day, month after month, and throughout my student days. The schoolyard grass is still green and cool to the bare feet of couples. In winter, the almond leaves are still dark purple, foolishly purple. If they weren't inanimate, the almond leaves would remember your hand. And then, the falling leaves also blew with the wind. Across the street, someone's radio rang out: "The human heart is like a leaf, blowing in the heartless wind." Almond leaves still fall. She wore a red robe, a bold look and her hair in a careless style. Young girls today like hairstyles like that. These last days. Your eyes are pleading. The scrapbook line in those eyes seemed to capture all the first vibrations of my life in me. We understand each other very well but then we have to separate. No more discussions, presentations, forums, performances, no more joys sparked by beloved faces. The torrential rain outside seemed to drown out the words of the dean of the department on the last night of the lecture hall's intellectual journey: - I hope the rains of life don't wet your clothes. My sad eyes! I stood in the corner of the classroom, suppressing my emotions. You take turns saying goodbye. You look at me. The silence said it all.......After graduating, I rushed to make a living. Using every profession: drawing posters, typing, sewing clothes, making processed goods... to support a teaching career. Time and work keep robbing me of my manhood. In return, I have money to buy a nice little house. In the house, a wall is lined with books, all the works that I love. At night, when I fold the lesson plan page, I open my student book and look at the dry almond leaf. Ly! Now, where are you? Table of contents The almond leaf The almond leaf Khanh VanWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: vietnhim Posted by friend: Ct.Ly on: April 15, 2007
Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền Chiếc lá Cruyang Con ong nâu bóng bay lạc vào văn phòng bộ lâm trường vắng ngắt cữ trưa hè, đôi cánh đập hết công suất trời cho như muốn át cả tiếng vù vù của chiếc quạt trần cũ kỹ, chững lại vài giây trước mặt Nai Thuyền, đủ cho cô liên tưởng đến một chiếc trực thăng apatchi thường xuất hiện trong các bản tin truyền hình chiến sự Iraq, rồi vụt thoát ra cửa sổ. Nai Thuyền nhìn đồng hồ, đã đến lúc hướng dẫn gã nhà báo đi thăm rừng theo phân công của giám đốc lâm trường. Bước vào phòng khách cạnh đấy, cô trông thấy anh chàng vừa đọc vừa ghi chép từ tập bản thảo của Quân mà cô cho mượn sáng nay. Nai Thuyền rùng mình với ý nghĩ giá như Quân ngồi đấy với những gì anh ấy đã viết ra chứ không phải là một người đàn ông xa lạ? Gần mười năm trước, Nai Thuyền từ trường nội trú về Bản Sao, trời vừa sập tối. Leo nửa bậc thang, cô đã trông thấy một người đàn ông lạ ngồi giữa bếp, đọc dò những trang bản thảo vừa đánh máy xong. Đó là Quân. Sau mỗi chuyến đi khảo sát trong rừng sâu, anh quay về bản Sao, nơi đóng trạm tiền tiêu của viện nghiên cứu, lại đến bếp của già Cruyang Bok, cha của Nai Thuyền, trao cuốn sổ tay lấm lem bùn đất, thuê ông đánh máy. Hôm ấy, có Nai Thuyền về đột ngột, hai người đàn ông bỏ ngang cuộc rượu và câu chuyện phiếm cái cây con thú trong rừng. Khách vừa xuống khỏi thang một lát, cha con Cruyang Bok nổ ra cuộc tranh cãi đầy tính thời sự. Đây là kỳ nghỉ hè cuối bậc trung học, Nai Thuyền muốn cha xin việc cho cô ở tỉnh, tệ lắm là ở huyện, nhất định không quay về cái Bản Sao mùa đông nào cũng bị chia xé khỏi thế giới bên ngoài gần cả tháng trời vì nước sông Sao hung hãn dâng lên, cuốn phăng cây cầu gỗ. Ông Bok lắc đầu: “Khó lắm...”. Nai Thuyền dẫu môi: “Khó gì? Mấy ông ở ban tổ chức chính quyền tỉnh từng công tác với cha trong chiến tranh. Có ông còn được cha cứu mạng. Chẳng lẽ bây giờ xin một chỗ làm không được? Chưa nhờ sao biết khó?”. Ông Bok nhổ bãi nước bọt vào bếp lửa: “Khó là tao khó nè. Tao không thích làm chuyện đó!”. Nai Thuyền nuốt nước mắt, cắn môi câm nín, quay mặt vào vách. Ông Bok cũng im lặng, lóng ngóng cài giấy vào máy chữ, gõ lạch tạch cái bản thảo của Quân vừa giao cho. Nhưng cái bụng ông quặn thắt, không tập trung được, cái đầu ong ong với ý nghĩ: “Chao ơi, sao nó lì bướng giống con mẹ nó thế. Lấy vợ trẻ, nựng quá, hư. Gà trống nuôi con, chiều quá, hỏng!”. Ông Bok gỡ kính lão ra lau, nói trổng: “E hèm...Mình là người của núi rừng, sao cứ thích sống ở xuôi? Đi học cái chữ dưới xuôi là để trở về phục vụ bản làng chứ. Cán bộ kinh phần lớn đã về xuôi rồi, giờ đến lượt mày!”. Nói được, người nhẹ đi phần nào, ông đeo kính vào, tiếp tục gõ máy chữ, nhưng cơn ho giật trào lên, bẻ gập cái lưng gầy nhom. Nai Thuyền vội đến bên, vuốt ngực cho cha, như mắng trẻ con: “Ho còn đánh máy, bỏ đi!”. Ông già ngoan ngoãn nằm xuống bên bếp lửa, co quắp tấm thân trong cái chăn vừa được con gái đắp ủ. Nai Thuyền ngồi xịch vào bàn, nhìn chăm bẳm cái máy chữ của cha, người cô bỗng chùng xuống. Có lẽ không còn tìm đâu ra một chiếc máy chữ cổ lỗ cỡ này. Vỏ tróc nhẵn sơn, lạnh một màu xám thép. Những hàng khuy chữ bóng nhẫy, lõm đến mức đẻ ra được một hệ thống ký tự chưa từng có trên các nền văn minh nhân loại. Từ bé Nai Thuyền đã nằm lòng “bản trường ca” về chiếc máy chữ này. Nó là chiến lợi phẩm của chàng Bok thời trai trẻ chỉ huy du kích đánh đồn Tây trên đỉnh Savan. Không một ai trong đội du kích thuộc hết bản chữ cái, bèn gửi máy tặng ban tuyên giáo khu, được cái giấy khen viết tay. Từ chiến trường này đến chiến trường khác trên bát ngát cao nguyên, cái máy chữ “tham gia” trọn vẹn hai cuộc kháng chiến. Ông Bok ra Bắc học văn hóa bốn năm, hòa bình, quay về làm công tác mặt trận huyện, lại gặp nó. Trong thời gian đó, nếu ông thêm được cái vốn tiếng Việt thì nó cũng được thêm bộ dấu tiếng Việt. Nhưng không còn ai thèm mó tới nó nữa, cơ quan đã được trang bị nhiều máy chữ mới. Ngày nghỉ hưu, đơn vị tặng nó cho ông Bok làm vật lưu niệm. Nhờ chiếc máy chữ “tư nhân” duy nhất trong vùng, ông Bok có việc làm đều đều. Từ bản khai sinh đến giấy khai tử bà con đều thuê ông đánh máy. Nhưng nhiều lần ông than buồn. Nai Thuyền hỏi thì ông bảo: “Đấy, từ ngày tao xách nó khỏi bàn viết của thằng quan ba đồn Sanvan, nó chỉ biết đánh cái chữ “phấn khởi”, “hồ hởi”, “thắng lợi”...Còn bây giờ, mày thấy đó, bao nhiêu đơn từ của bà con đều qua nó để xuống huyện , xuống tỉnh, ra tận trung ương, mà có đến chín mươi phần trăm là “khiếu nại”, “tố cáo”, “kêu cứu”...Sao không buồn cho được!”. Còn tập bản thảo của người đàn ông kia? Nai Thuyền tò mò nhìn vào trang giấy ông Bok đánh nửa chừng rồi không rời mắt được, rồi cô “đọc” tiếp bằng cách đánh máy giúp cha, nhất cử lưỡng tiện. Âm thanh lọc cọc của chiếc máy chữ “cổ kính” dưới hai ngón tay vụng về của cô con gái rượu ru ông Bok vào giấc ngủ hạnh phúc hiếm hoi của người già. Người đàn ông nói ngay khi Nai Thuyền bước vào phòng khách: “Cám ơn cô, tập tư liệu đã nuốt trắng giấc ngủ trưa mà tôi không hề biết. Một công trình khoa học tâm huyết, diễn đạt lại cực kỳ văn chương!”. Lòng nể phục và sự no mãn trong đôi mắt luôn “đói” thông tin của nhà báo làm Nai Thuyền ngây choáng như vừa ngậm cần rượu mới. Điều đó giúp cho chuyến đi thăm rừng có được cảm hứng đồng điệu, gần gũi. Nai Thuyền tự lái chiếc land-cruiser trên con đường bazan đỏ sẫm quanh co. Những cánh rừng xanh mở dần trước mắt cũng mở dần những trang kỷ niệm bâng khuâng. “Anh biết không, ban đầu, mình đánh máy bản thảo của Quân là để giúp cha đánh thuê, nghĩa là đánh máy như cái máy! Rồi thấm dần, thấy hay. Rồi mình biết yêu cái cây, con thú nơi mình sinh ra nhờ những trang viết về cái cây, con thú của Quân...Mình nguôi dần mong muốn được sống dưới xuôi. Rồi mình nhớ Quân mỗi khi anh ấy rời bản Sao đi rừng hoặc trở về Hà Nội. Rồi yêu nhau, lấy nhau. Đám cưới nghèo lắm. Nhà khoa học nước mình những năm ấy nghèo hơn mấy tay lên ngược buôn muối...”. Giọng Nai Thuyền đứt quãng khi cô điều khiển chiếc land-cruiser bò lên đỉnh dốc cao hoặc nghe như xa xôi lúc xe đang từ giữa rừng rậm phóng ra khoảng trống tạo bởi con sông lớn. Nhà báo ngọ ngoạy muốn nói một câu gì đấy thì Nai Thuyền hỏi đột ngột: “Thăm rừng của mình nhé?”. Anh ta gật đầu. Chiếc jeep vừa rẽ vào lối mòn một quãng đã nghe tiếng suối văng vẳng dẫn dụ. “Mình nhận khoán khu rừng này đấy”. Nhà báo nhìn quanh, lô nhô vô số gốc đại thụ còn lại sau cái chết của rừng già dưới bước chân đạo quân khai thác gỗ xen lẫn với rừng trồng mới lá chưa khép tán. “Phó giám đốc kỹ thuật lâm trường mà phải nhận lô rừng kém thế này?”. “Xin đấy”. “Nêu gương cho cán bộ hả?”. “Không. Mình cần nó, thế thôi”. Xe hết đường, hai người lội bộ. Chừng tàn điếu thuốc, nhà báo bất chợt trông thấy nóc nhà mồ đơn độc bên bờ suối. Hình khắc chim công và voi bằng gỗ quý dựng trước cổng đã nứt nẻ chằng chịt. Nai Thuyền khô khốc: “Quân đấy”. Nhà báo lúng túng trước điều không chờ đợi. Nai Thuyền nhìn theo làn khói nhang vừa đốt: “Lấy nhau được một năm, Quân ngả bệnh, chất độc màu da cam...”. Phải một lúc sau, cô mới có thể kể tiếp câu chuyện buồn: “Theo nguyện vọng của Quân, mình cất nhà mồ cho anh ấy ở đây, dưới tán rừng đẹp nhất bản Sao...Cũng theo lời Quân dặn dò trước khi vĩnh biệt, mình thi vào đại học Tây Nguyên, ngành lâm sinh...Tư liệu của Quân giúp mình rất nhiều khi làm nghiên cứu sinh ở Úc... Học xong về nước, về Bản Sao, mình chết lặng trước cánh rừng già đã biến mất, nhà mồ của Quân nằm trơ trụi giữa trăm nghìn gốc đại thụ, vết lưỡi cưa máy còn mới lắm...Đó chính là lý do mình nhận mảnh rừng này để chăm sóc...”. Về đến văn phòng lâm trường trời đã sẩm tối. Trên hành lang, Nai Thuyền bảo: “Mai mình đi nhận giống sớm, không tiễn anh được”. Nhà báo cám ơn về tất cả những gì đã có được và nói rằng muốn liên lạc với Nai Thuyền sau này để viết một ký sự nhân vật về Quân. Cô mở ví trao danh thiếp. Anh ta đọc loáng qua, ngửng lên: “Thuyền ơi, họ Cruyang nghĩa là gì nhỉ?”. Nai Thuyền ngẩn ra một lát, đáp gọn: “Chiếc lá”. Khi còn lại một mình trong văn phòng, Nai Thuyền ngồi xịch xuống ghế, tay chạm vào bàn phím máy vi tính, màn hình vụt sáng làm cô giật thột. Thì ra quên tắt máy trước khi đưa khách đi thăm rừng. Con trỏ nhấp nháy mời gọi...Nai Thuyền bần thần gõ chậm rãi lên bàn phím: “Quân ơi, chiều nay em thăm anh, thăm rừng non của chúng mình, rừng quế. Ba em bảo người Bản Sao có câu lý hay: Người tốt sống thẳng như cau, sống thơm như quế. Anh là cây quế ngàn năm của em. Quân ơi, rừng của chúng mình đã trẩy lá, đã biết gọi gió, gọi nắng, gọi tên anh, tên em...Rừng sẽ đại ngàn, sẽ xoè tán xanh cùng em chở che anh mãi...Chiều nay có người hỏi họ em Cruyang nghĩa là gì. Em không biết. Nhớ anh, em bảo với người ta: Chiếc lá. Em là chiếc lá của anh...”. Mục lục Chiếc lá Cruyang Chiếc lá Cruyang Nguyễn Phúc Vĩnh QuyềnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: tieuphuong_loihai Nguồn: Tieuphuong_loihaiĐược bạn: Chuột lắc đưa lên vào ngày: 17 tháng 6 năm 2006
Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền Chiếc lá Cruyang Con ong nâu bóng bay lạc vào văn phòng bộ lâm trường vắng ngắt cữ trưa hè, đôi cánh đập hết công suất trời cho như muốn át cả tiếng vù vù của chiếc quạt trần cũ kỹ, chững lại vài giây trước mặt Nai Thuyền, đủ cho cô liên tưởng đến một chiếc trực thăng apatchi thường xuất hiện trong các bản tin truyền hình chiến sự Iraq, rồi vụt thoát ra cửa sổ. Nai Thuyền nhìn đồng hồ, đã đến lúc hướng dẫn gã nhà báo đi thăm rừng theo phân công của giám đốc lâm trường. Bước vào phòng khách cạnh đấy, cô trông thấy anh chàng vừa đọc vừa ghi chép từ tập bản thảo của Quân mà cô cho mượn sáng nay. Nai Thuyền rùng mình với ý nghĩ giá như Quân ngồi đấy với những gì anh ấy đã viết ra chứ không phải là một người đàn ông xa lạ? Gần mười năm trước, Nai Thuyền từ trường nội trú về Bản Sao, trời vừa sập tối. Leo nửa bậc thang, cô đã trông thấy một người đàn ông lạ ngồi giữa bếp, đọc dò những trang bản thảo vừa đánh máy xong. Đó là Quân. Sau mỗi chuyến đi khảo sát trong rừng sâu, anh quay về bản Sao, nơi đóng trạm tiền tiêu của viện nghiên cứu, lại đến bếp của già Cruyang Bok, cha của Nai Thuyền, trao cuốn sổ tay lấm lem bùn đất, thuê ông đánh máy. Hôm ấy, có Nai Thuyền về đột ngột, hai người đàn ông bỏ ngang cuộc rượu và câu chuyện phiếm cái cây con thú trong rừng. Khách vừa xuống khỏi thang một lát, cha con Cruyang Bok nổ ra cuộc tranh cãi đầy tính thời sự. Đây là kỳ nghỉ hè cuối bậc trung học, Nai Thuyền muốn cha xin việc cho cô ở tỉnh, tệ lắm là ở huyện, nhất định không quay về cái Bản Sao mùa đông nào cũng bị chia xé khỏi thế giới bên ngoài gần cả tháng trời vì nước sông Sao hung hãn dâng lên, cuốn phăng cây cầu gỗ. Ông Bok lắc đầu: “Khó lắm...”. Nai Thuyền dẫu môi: “Khó gì? Mấy ông ở ban tổ chức chính quyền tỉnh từng công tác với cha trong chiến tranh. Có ông còn được cha cứu mạng. Chẳng lẽ bây giờ xin một chỗ làm không được? Chưa nhờ sao biết khó?”. Ông Bok nhổ bãi nước bọt vào bếp lửa: “Khó là tao khó nè. Tao không thích làm chuyện đó!”. Nai Thuyền nuốt nước mắt, cắn môi câm nín, quay mặt vào vách. Ông Bok cũng im lặng, lóng ngóng cài giấy vào máy chữ, gõ lạch tạch cái bản thảo của Quân vừa giao cho. Nhưng cái bụng ông quặn thắt, không tập trung được, cái đầu ong ong với ý nghĩ: “Chao ơi, sao nó lì bướng giống con mẹ nó thế. Lấy vợ trẻ, nựng quá, hư. Gà trống nuôi con, chiều quá, hỏng!”. Ông Bok gỡ kính lão ra lau, nói trổng: “E hèm...Mình là người của núi rừng, sao cứ thích sống ở xuôi? Đi học cái chữ dưới xuôi là để trở về phục vụ bản làng chứ. Cán bộ kinh phần lớn đã về xuôi rồi, giờ đến lượt mày!”. Nói được, người nhẹ đi phần nào, ông đeo kính vào, tiếp tục gõ máy chữ, nhưng cơn ho giật trào lên, bẻ gập cái lưng gầy nhom. Nai Thuyền vội đến bên, vuốt ngực cho cha, như mắng trẻ con: “Ho còn đánh máy, bỏ đi!”. Ông già ngoan ngoãn nằm xuống bên bếp lửa, co quắp tấm thân trong cái chăn vừa được con gái đắp ủ. Nai Thuyền ngồi xịch vào bàn, nhìn chăm bẳm cái máy chữ của cha, người cô bỗng chùng xuống. Có lẽ không còn tìm đâu ra một chiếc máy chữ cổ lỗ cỡ này. Vỏ tróc nhẵn sơn, lạnh một màu xám thép. Những hàng khuy chữ bóng nhẫy, lõm đến mức đẻ ra được một hệ thống ký tự chưa từng có trên các nền văn minh nhân loại. Từ bé Nai Thuyền đã nằm lòng “bản trường ca” về chiếc máy chữ này. Nó là chiến lợi phẩm của chàng Bok thời trai trẻ chỉ huy du kích đánh đồn Tây trên đỉnh Savan. Không một ai trong đội du kích thuộc hết bản chữ cái, bèn gửi máy tặng ban tuyên giáo khu, được cái giấy khen viết tay. Từ chiến trường này đến chiến trường khác trên bát ngát cao nguyên, cái máy chữ “tham gia” trọn vẹn hai cuộc kháng chiến. Ông Bok ra Bắc học văn hóa bốn năm, hòa bình, quay về làm công tác mặt trận huyện, lại gặp nó. Trong thời gian đó, nếu ông thêm được cái vốn tiếng Việt thì nó cũng được thêm bộ dấu tiếng Việt. Nhưng không còn ai thèm mó tới nó nữa, cơ quan đã được trang bị nhiều máy chữ mới. Ngày nghỉ hưu, đơn vị tặng nó cho ông Bok làm vật lưu niệm. Nhờ chiếc máy chữ “tư nhân” duy nhất trong vùng, ông Bok có việc làm đều đều. Từ bản khai sinh đến giấy khai tử bà con đều thuê ông đánh máy. Nhưng nhiều lần ông than buồn. Nai Thuyền hỏi thì ông bảo: “Đấy, từ ngày tao xách nó khỏi bàn viết của thằng quan ba đồn Sanvan, nó chỉ biết đánh cái chữ “phấn khởi”, “hồ hởi”, “thắng lợi”...Còn bây giờ, mày thấy đó, bao nhiêu đơn từ của bà con đều qua nó để xuống huyện , xuống tỉnh, ra tận trung ương, mà có đến chín mươi phần trăm là “khiếu nại”, “tố cáo”, “kêu cứu”...Sao không buồn cho được!”. Còn tập bản thảo của người đàn ông kia? Nai Thuyền tò mò nhìn vào trang giấy ông Bok đánh nửa chừng rồi không rời mắt được, rồi cô “đọc” tiếp bằng cách đánh máy giúp cha, nhất cử lưỡng tiện. Âm thanh lọc cọc của chiếc máy chữ “cổ kính” dưới hai ngón tay vụng về của cô con gái rượu ru ông Bok vào giấc ngủ hạnh phúc hiếm hoi của người già. Người đàn ông nói ngay khi Nai Thuyền bước vào phòng khách: “Cám ơn cô, tập tư liệu đã nuốt trắng giấc ngủ trưa mà tôi không hề biết. Một công trình khoa học tâm huyết, diễn đạt lại cực kỳ văn chương!”. Lòng nể phục và sự no mãn trong đôi mắt luôn “đói” thông tin của nhà báo làm Nai Thuyền ngây choáng như vừa ngậm cần rượu mới. Điều đó giúp cho chuyến đi thăm rừng có được cảm hứng đồng điệu, gần gũi. Nai Thuyền tự lái chiếc land-cruiser trên con đường bazan đỏ sẫm quanh co. Những cánh rừng xanh mở dần trước mắt cũng mở dần những trang kỷ niệm bâng khuâng. “Anh biết không, ban đầu, mình đánh máy bản thảo của Quân là để giúp cha đánh thuê, nghĩa là đánh máy như cái máy! Rồi thấm dần, thấy hay. Rồi mình biết yêu cái cây, con thú nơi mình sinh ra nhờ những trang viết về cái cây, con thú của Quân...Mình nguôi dần mong muốn được sống dưới xuôi. Rồi mình nhớ Quân mỗi khi anh ấy rời bản Sao đi rừng hoặc trở về Hà Nội. Rồi yêu nhau, lấy nhau. Đám cưới nghèo lắm. Nhà khoa học nước mình những năm ấy nghèo hơn mấy tay lên ngược buôn muối...”. Giọng Nai Thuyền đứt quãng khi cô điều khiển chiếc land-cruiser bò lên đỉnh dốc cao hoặc nghe như xa xôi lúc xe đang từ giữa rừng rậm phóng ra khoảng trống tạo bởi con sông lớn. Nhà báo ngọ ngoạy muốn nói một câu gì đấy thì Nai Thuyền hỏi đột ngột: “Thăm rừng của mình nhé?”. Anh ta gật đầu. Chiếc jeep vừa rẽ vào lối mòn một quãng đã nghe tiếng suối văng vẳng dẫn dụ. “Mình nhận khoán khu rừng này đấy”. Nhà báo nhìn quanh, lô nhô vô số gốc đại thụ còn lại sau cái chết của rừng già dưới bước chân đạo quân khai thác gỗ xen lẫn với rừng trồng mới lá chưa khép tán. “Phó giám đốc kỹ thuật lâm trường mà phải nhận lô rừng kém thế này?”. “Xin đấy”. “Nêu gương cho cán bộ hả?”. “Không. Mình cần nó, thế thôi”. Xe hết đường, hai người lội bộ. Chừng tàn điếu thuốc, nhà báo bất chợt trông thấy nóc nhà mồ đơn độc bên bờ suối. Hình khắc chim công và voi bằng gỗ quý dựng trước cổng đã nứt nẻ chằng chịt. Nai Thuyền khô khốc: “Quân đấy”. Nhà báo lúng túng trước điều không chờ đợi. Nai Thuyền nhìn theo làn khói nhang vừa đốt: “Lấy nhau được một năm, Quân ngả bệnh, chất độc màu da cam...”. Phải một lúc sau, cô mới có thể kể tiếp câu chuyện buồn: “Theo nguyện vọng của Quân, mình cất nhà mồ cho anh ấy ở đây, dưới tán rừng đẹp nhất bản Sao...Cũng theo lời Quân dặn dò trước khi vĩnh biệt, mình thi vào đại học Tây Nguyên, ngành lâm sinh...Tư liệu của Quân giúp mình rất nhiều khi làm nghiên cứu sinh ở Úc... Học xong về nước, về Bản Sao, mình chết lặng trước cánh rừng già đã biến mất, nhà mồ của Quân nằm trơ trụi giữa trăm nghìn gốc đại thụ, vết lưỡi cưa máy còn mới lắm...Đó chính là lý do mình nhận mảnh rừng này để chăm sóc...”. Về đến văn phòng lâm trường trời đã sẩm tối. Trên hành lang, Nai Thuyền bảo: “Mai mình đi nhận giống sớm, không tiễn anh được”. Nhà báo cám ơn về tất cả những gì đã có được và nói rằng muốn liên lạc với Nai Thuyền sau này để viết một ký sự nhân vật về Quân. Cô mở ví trao danh thiếp. Anh ta đọc loáng qua, ngửng lên: “Thuyền ơi, họ Cruyang nghĩa là gì nhỉ?”. Nai Thuyền ngẩn ra một lát, đáp gọn: “Chiếc lá”. Khi còn lại một mình trong văn phòng, Nai Thuyền ngồi xịch xuống ghế, tay chạm vào bàn phím máy vi tính, màn hình vụt sáng làm cô giật thột. Thì ra quên tắt máy trước khi đưa khách đi thăm rừng. Con trỏ nhấp nháy mời gọi...Nai Thuyền bần thần gõ chậm rãi lên bàn phím: “Quân ơi, chiều nay em thăm anh, thăm rừng non của chúng mình, rừng quế. Ba em bảo người Bản Sao có câu lý hay: Người tốt sống thẳng như cau, sống thơm như quế. Anh là cây quế ngàn năm của em. Quân ơi, rừng của chúng mình đã trẩy lá, đã biết gọi gió, gọi nắng, gọi tên anh, tên em...Rừng sẽ đại ngàn, sẽ xoè tán xanh cùng em chở che anh mãi...Chiều nay có người hỏi họ em Cruyang nghĩa là gì. Em không biết. Nhớ anh, em bảo với người ta: Chiếc lá. Em là chiếc lá của anh...”. Mục lục Chiếc lá Cruyang Chiếc lá Cruyang Nguyễn Phúc Vĩnh QuyềnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: tieuphuong_loihai Nguồn: Tieuphuong_loihaiĐược bạn: Chuột lắc đưa lên vào ngày: 17 tháng 6 năm 2006
Hàn Lệ Nhân Chiếc Lá Cuối Cùng Mình gặp lại Mẹ lần đầu sau 16 năm xa cách. Bấy giờ tình hình đôi bờ nơi chốn cũ còn nhiều biến động, vả lại niềm tin trong mình đối với chính quyền bên kia bờ hoàn toàn tan tác, nên Mẹ con hẹn gặp nhau ở bên nầy bờ. Mỗi lần hình dung lại cái cảnh bên nầy biên giới, đứng trên bờ nhìn xuống dốc bến đổ, thấy Mẹ, năm đó đã 76, lụ khụ giữa hai đứa con lớn của anh chị, bước từng bước lên từng nấc thang dựng đứng là lòng mình bồi hồi... Mẹ vốn là người thâm trầm ít nói, nên dù gặp lại cậu út, cục cưng của Mẹ sau bao nhiêu năm cách biệt, Mẹ vẫn không vồ vập, chỉ nắm chặt hai tay mình, lặng nhìn từ đầu xuống chân, nói nhỏ : Tưởng út không về gặp lại Mẹ ! Tuổi đã 76, thể chất có suy mà tóc Mẹ còn đen nhánh, răng còn nguyên, nói năng tỉnh táo như thường. Mái tóc dài quá lưng ngày nào búi tó nay không còn nữa. Năm ngày được sống lại với Mẹ, mình hoàn toàn lột xác thành cậu ấm ngày nào, Mẹ vẫn nhớ chi li sở thích ăn uống của cậu ấm : Út thì dễ tánh lắm, ăn chi cũng được ... miễn là ngon ! Riêng cái tật mọt sách của mình, chị Ngọc Sương bảo : Tủ sách của út, Mẹ vẫn giữ nguyên, cất kỹ hơn vàng, không cho ai đụng tới. Mình nói : sao Mẹ không cho các trường hay Hội Người Việt đi. Mẹ trả lời : Không được vì Mẹ thấy trong sách con gạch, đánh dấu bằng bút chì, ghi chú bên lề, đưa cho, Mẹ sợ có chuyện, bít lối con về ... Thoắt cái đã đến hạn Mẹ và gia đình anh chị phải về. Chuyến đò cuối hôm đó vào lúc 4 giờ chiều. Phượng đỏ ven bờ sông nở rộ, người người lao xao xuống bến. Đi bên Mẹ mà hồn mình để đâu đâu. Bên kia sông là nơi chốn tìm về, xa xôi chi cam, chỉ độ 30 phút lênh đênh thôi, thế mà lại ngút ngàn gấp bao lần 12 giờ bay của phản lực 747 và 12 giờ xe lửa tốc hành. Năn nỉ mãi quan thuế Thái Lan mới đặc biệt cho phép mình cõng Mẹ xuống đò, cố được ôm Mẹ thêm vài phút nữa : Mẹ còn khá nặng ! Hai năm sau, từ Pháp, duyên may mình được chọn đi công tác thiện nguyện cho Hội Học Đường Không Biên Giới ( Ecoles Sans Frontière ) ở Vientiane, với một cái hộ chiếu tây. Thế là mộng về chốn cũ đã thành. An toàn. Xong nhiệm vụ là mình bay về với Mẹ ngay. Sau cảnh tương phùng, việc đầu tiên là Mẹ đưa cho mình một cái chìa khoá : Đây là chìa khoá tủ sách của út ! Mẹ đã làm đúng lời dặn của Cậu ( gia đình mình gọi Cha bằng Cậu ) trước khi Cậu qua đời ! Trong 13 năm, sau ngày mở cửa, mình về thăm Mẹ được có 6 lần + 1, không tính thời gian gần hai năm mình về đón Mẹ qua Pháp thăm anh em chúng mình và các cháu, chắt. Những lần đàm luận đủ thứ chuyện trên trời, dưới đất với bà cụ, mình đều ghi âm lại cả. Mẹ ít học, nhưng chịu khó đọc sách và rất trân quí sách. Chuyện biết đọc biết viết của Mẹ phải kể là hy hữu. Thời con gái của Mẹ, ở làng quê nước ta, phụ nữ vốn rất ít được đi học. Mẹ xin đi học, ông bà ngoại không cho, bẳn gắt " con gái học làm chi, tổ để đọc thư trai ". Mẹ trả lời : " Biết đọc biết viết, trai có gửi thư mà mình biết đọc, có điều xấu hổ cũng chỉ mình mình biết còn hơn là không biết đọc, không biết viết nhờ người khác đọc hộ, viết giùm có phải ôốc dôộc ( tiếng Nghệ Tĩnh = xấu hổ ) hơn không ? " Mẹ lén học với người cậu của Mẹ, ông cậu Đường, một nhà cách mạng chống Pháp. Mẹ có một trí nhớ kỳ lạ. Ngồi nghe bà cụ đọc vanh vách những bài thơ " quốc cấm " dài cả trăm câu thời chống Pháp, hay nguyên cuốn kinh nhật tụng mà lạnh người, bây giờ thỉnh thoảng nghe lại những băng mình đã ghi âm, mình vẫn ghê cho bộ nhớ của Mẹ. Bên nầy ông anh kế tên D. qua đời ở tuổi 50, năm 2000. Mình là người chủ trương giấu Mẹ chuyện nầy, mình bảo với các anh chị : Em nghĩ không nên cho Mẹ biết, Mẹ đã 86, biết cũng vậy. Ai nói ra người đó chịu trách nhiệm, nếu Mẹ có mệnh hệ gì. Vậy là mọi người giữ kín chuyện " lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời ". Suốt thời gian mình về lần thứ năm, năm 2001, Mẹ hỏi thăm anh D. và gia đình anh ấy, mình nói : " anh D. bây giờ " khoẻ và yên" lắm rồi, Mẹ khỏi lo, ảnh gửi lời vấn an Mẹ... v.v... Mẹ cười nhẹ, chẳng nói gì. Lần thứ sáu mình cấp tốc về thăm Mẹ nhằm tháng 4 năm 2004. Mẹ đã 90. Người bà cụ đã hư hao quá lắm rồi, chỉ còn da bọc xương, tuy vẫn còn minh mẫn. Trước kia mình thích cầm tay Mẹ đặt lên bàn tay trái của mình, tay phải vuốt vuốt chơi. Lần nầy đặt bàn tay của Mẹ lên bàn tay mình mà lòng rưng rưng kim chích, nó khô tóp, lọt thỏm trong lòng tay mình. Mẹ bảo " con về kỳ nầy, Mẹ không còn sức ngồi bóc nem chua có lá chùm ruột cho con nhắm với bia như mọi khi ". Trong sinh kế, mình có nhiều cơ hội chu du qua nhiều nước. Mẹ lại là người hay dặn mình khoan về Việt Nam, Mẹ biết bên nầy mình có vài sinh hoạt không vừa lòng người ta : Mẹ ơi, từ lúc giã từ, Con đi khắp chốn chỉ trừ Việt Nam ! Mẹ sợ ... Trong lần thứ sáu, có bà xã cùng về, cả tháng ... Mẹ nói : " Mẹ biết bệnh tình của Mẹ, chỉ là bệnh già. Mẹ muốn thấy con đưa vợ về quê mình một lần, dăm bảy ngày cho biết." Được Mẹ cho phép, mình nghĩ " vả lại Việt Nam là đất nước của 80 triệu người việt nam chứ có phải là hương hoả của một nhúm người nào đâu ". Chồng chị Ngọc Sương đưa hai đứa mình về Việt Nam bằng xe nhà. Đây là mấy ngày đầu tiên trong đời mình được đặt chân lên vùng quê Mẹ, ăn bữa cơm hoàn toàn Việt : đất Việt, thực phẩm Việt, bếp Việt ! Lần đầu tiên được phiêu phiêu trên Đèo Hải Vân, tản bộ trong lòng phố cổ Hội An ... rồi Huế ... rồi leo tuốt lên động Phong Nha Kẻ Bàng ...Trở lại gặp Mẹ, Mẹ bảo : Từ rày " Quê Mẹ trong tôi " hết "chỉ là văn chương " rồi nha. (1) Con thấy thế nào ? Mình trả lời : Con có viết được mấy câu, Mẹ nghe thử : Ra đi khi trời chưa thấy đất Khi về thành phố đã lên đèn. Métro, boulot, dodo, (2) Càng dài viễn xứ càng mơ ước nhiều. Mơ tôi theo đài VTV4, Bay về trời nước đẹp vô ngần. Xưa yêu quê nhờ ca dao, Giờ ngàn cảnh thật lòng xao xuyến lòng. Trời đất nước như một bức tranh thủy mạc Mà Thượng Đế đã dành riêng trao. Mới chỉ lần đầu Mà đã như ngày nào Thắm thiết dạt dào Đến nghẹn ngào.Chiều ôm Mẹ, chào trở lại Pháp, linh tính cho mình biết đây là lần cuối cùng mình còn được nghe Mẹ nói. Ánh mắt của Mẹ chiều hôm đó, cho tới đêm nay mình vẫn không sao diễn tả nổi, mặc dù đã từng viết nguyên một bài biên khảo khá dài về mấy chục loại mắt của con người.(3) Thế mới hay vốn liếng việt văn học lóm của mình trong 35 năm nay thật còn giới hạn lắm. Trở lại Pháp đúng 30 ngày thì nhận được tin : Chiếc Lá Cuối Cùng đã rụng ! Và là lần thứ bảy mình về, nhìn hình Mẹ trên áo quan. Mẹ mất ngày 10 tháng 6 năm 2004 ( 23 tháng Tư năm Giáp Thân ): Hai tay ôm lá vào lòng, Hỡi ôi chiếc lá cuối cùng là đây !Sau ngày an táng Mẹ, chị Ngọc Sương kể : Mẹ biết chuyện cậu D. ( anh kế mình) mất từ lâu, mấy cụ chia buồn với Mẹ trong chùa ! Hai tuần trước Mẹ có nói với chị : Mềng biết chuyện thằng D. từ đầu, Mềng vẫn đọc kinh cầu siêu cho nó, nhưng " người ta " muốn giấu thì mềng cũng không hỏi "! Hàn Lệ Nhân (Cho giỗ đầu ngày Mẹ mất) (1) Lời trong bản nhạc Viễn Khúc Việt Nam. (2) Xe điện ngầm, đi làm, ngủ nghê. (3) Những Con Mắt Trần Gian (nhìn từ phương Đông). Mục lục Chiếc Lá Cuối Cùng Chiếc Lá Cuối Cùng Hàn Lệ NhânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Việt Dương Nhân Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 2 tháng 11 năm 2005
Hàn Lệ Nhân Chiếc Lá Cuối Cùng Mình gặp lại Mẹ lần đầu sau 16 năm xa cách. Bấy giờ tình hình đôi bờ nơi chốn cũ còn nhiều biến động, vả lại niềm tin trong mình đối với chính quyền bên kia bờ hoàn toàn tan tác, nên Mẹ con hẹn gặp nhau ở bên nầy bờ. Mỗi lần hình dung lại cái cảnh bên nầy biên giới, đứng trên bờ nhìn xuống dốc bến đổ, thấy Mẹ, năm đó đã 76, lụ khụ giữa hai đứa con lớn của anh chị, bước từng bước lên từng nấc thang dựng đứng là lòng mình bồi hồi... Mẹ vốn là người thâm trầm ít nói, nên dù gặp lại cậu út, cục cưng của Mẹ sau bao nhiêu năm cách biệt, Mẹ vẫn không vồ vập, chỉ nắm chặt hai tay mình, lặng nhìn từ đầu xuống chân, nói nhỏ : Tưởng út không về gặp lại Mẹ ! Tuổi đã 76, thể chất có suy mà tóc Mẹ còn đen nhánh, răng còn nguyên, nói năng tỉnh táo như thường. Mái tóc dài quá lưng ngày nào búi tó nay không còn nữa. Năm ngày được sống lại với Mẹ, mình hoàn toàn lột xác thành cậu ấm ngày nào, Mẹ vẫn nhớ chi li sở thích ăn uống của cậu ấm : Út thì dễ tánh lắm, ăn chi cũng được ... miễn là ngon ! Riêng cái tật mọt sách của mình, chị Ngọc Sương bảo : Tủ sách của út, Mẹ vẫn giữ nguyên, cất kỹ hơn vàng, không cho ai đụng tới. Mình nói : sao Mẹ không cho các trường hay Hội Người Việt đi. Mẹ trả lời : Không được vì Mẹ thấy trong sách con gạch, đánh dấu bằng bút chì, ghi chú bên lề, đưa cho, Mẹ sợ có chuyện, bít lối con về ... Thoắt cái đã đến hạn Mẹ và gia đình anh chị phải về. Chuyến đò cuối hôm đó vào lúc 4 giờ chiều. Phượng đỏ ven bờ sông nở rộ, người người lao xao xuống bến. Đi bên Mẹ mà hồn mình để đâu đâu. Bên kia sông là nơi chốn tìm về, xa xôi chi cam, chỉ độ 30 phút lênh đênh thôi, thế mà lại ngút ngàn gấp bao lần 12 giờ bay của phản lực 747 và 12 giờ xe lửa tốc hành. Năn nỉ mãi quan thuế Thái Lan mới đặc biệt cho phép mình cõng Mẹ xuống đò, cố được ôm Mẹ thêm vài phút nữa : Mẹ còn khá nặng ! Hai năm sau, từ Pháp, duyên may mình được chọn đi công tác thiện nguyện cho Hội Học Đường Không Biên Giới ( Ecoles Sans Frontière ) ở Vientiane, với một cái hộ chiếu tây. Thế là mộng về chốn cũ đã thành. An toàn. Xong nhiệm vụ là mình bay về với Mẹ ngay. Sau cảnh tương phùng, việc đầu tiên là Mẹ đưa cho mình một cái chìa khoá : Đây là chìa khoá tủ sách của út ! Mẹ đã làm đúng lời dặn của Cậu ( gia đình mình gọi Cha bằng Cậu ) trước khi Cậu qua đời ! Trong 13 năm, sau ngày mở cửa, mình về thăm Mẹ được có 6 lần + 1, không tính thời gian gần hai năm mình về đón Mẹ qua Pháp thăm anh em chúng mình và các cháu, chắt. Những lần đàm luận đủ thứ chuyện trên trời, dưới đất với bà cụ, mình đều ghi âm lại cả. Mẹ ít học, nhưng chịu khó đọc sách và rất trân quí sách. Chuyện biết đọc biết viết của Mẹ phải kể là hy hữu. Thời con gái của Mẹ, ở làng quê nước ta, phụ nữ vốn rất ít được đi học. Mẹ xin đi học, ông bà ngoại không cho, bẳn gắt " con gái học làm chi, tổ để đọc thư trai ". Mẹ trả lời : " Biết đọc biết viết, trai có gửi thư mà mình biết đọc, có điều xấu hổ cũng chỉ mình mình biết còn hơn là không biết đọc, không biết viết nhờ người khác đọc hộ, viết giùm có phải ôốc dôộc ( tiếng Nghệ Tĩnh = xấu hổ ) hơn không ? " Mẹ lén học với người cậu của Mẹ, ông cậu Đường, một nhà cách mạng chống Pháp. Mẹ có một trí nhớ kỳ lạ. Ngồi nghe bà cụ đọc vanh vách những bài thơ " quốc cấm " dài cả trăm câu thời chống Pháp, hay nguyên cuốn kinh nhật tụng mà lạnh người, bây giờ thỉnh thoảng nghe lại những băng mình đã ghi âm, mình vẫn ghê cho bộ nhớ của Mẹ. Bên nầy ông anh kế tên D. qua đời ở tuổi 50, năm 2000. Mình là người chủ trương giấu Mẹ chuyện nầy, mình bảo với các anh chị : Em nghĩ không nên cho Mẹ biết, Mẹ đã 86, biết cũng vậy. Ai nói ra người đó chịu trách nhiệm, nếu Mẹ có mệnh hệ gì. Vậy là mọi người giữ kín chuyện " lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời ". Suốt thời gian mình về lần thứ năm, năm 2001, Mẹ hỏi thăm anh D. và gia đình anh ấy, mình nói : " anh D. bây giờ " khoẻ và yên" lắm rồi, Mẹ khỏi lo, ảnh gửi lời vấn an Mẹ... v.v... Mẹ cười nhẹ, chẳng nói gì. Lần thứ sáu mình cấp tốc về thăm Mẹ nhằm tháng 4 năm 2004. Mẹ đã 90. Người bà cụ đã hư hao quá lắm rồi, chỉ còn da bọc xương, tuy vẫn còn minh mẫn. Trước kia mình thích cầm tay Mẹ đặt lên bàn tay trái của mình, tay phải vuốt vuốt chơi. Lần nầy đặt bàn tay của Mẹ lên bàn tay mình mà lòng rưng rưng kim chích, nó khô tóp, lọt thỏm trong lòng tay mình. Mẹ bảo " con về kỳ nầy, Mẹ không còn sức ngồi bóc nem chua có lá chùm ruột cho con nhắm với bia như mọi khi ". Trong sinh kế, mình có nhiều cơ hội chu du qua nhiều nước. Mẹ lại là người hay dặn mình khoan về Việt Nam, Mẹ biết bên nầy mình có vài sinh hoạt không vừa lòng người ta : Mẹ ơi, từ lúc giã từ, Con đi khắp chốn chỉ trừ Việt Nam ! Mẹ sợ ... Trong lần thứ sáu, có bà xã cùng về, cả tháng ... Mẹ nói : " Mẹ biết bệnh tình của Mẹ, chỉ là bệnh già. Mẹ muốn thấy con đưa vợ về quê mình một lần, dăm bảy ngày cho biết." Được Mẹ cho phép, mình nghĩ " vả lại Việt Nam là đất nước của 80 triệu người việt nam chứ có phải là hương hoả của một nhúm người nào đâu ". Chồng chị Ngọc Sương đưa hai đứa mình về Việt Nam bằng xe nhà. Đây là mấy ngày đầu tiên trong đời mình được đặt chân lên vùng quê Mẹ, ăn bữa cơm hoàn toàn Việt : đất Việt, thực phẩm Việt, bếp Việt ! Lần đầu tiên được phiêu phiêu trên Đèo Hải Vân, tản bộ trong lòng phố cổ Hội An ... rồi Huế ... rồi leo tuốt lên động Phong Nha Kẻ Bàng ...Trở lại gặp Mẹ, Mẹ bảo : Từ rày " Quê Mẹ trong tôi " hết "chỉ là văn chương " rồi nha. (1) Con thấy thế nào ? Mình trả lời : Con có viết được mấy câu, Mẹ nghe thử : Ra đi khi trời chưa thấy đất Khi về thành phố đã lên đèn. Métro, boulot, dodo, (2) Càng dài viễn xứ càng mơ ước nhiều. Mơ tôi theo đài VTV4, Bay về trời nước đẹp vô ngần. Xưa yêu quê nhờ ca dao, Giờ ngàn cảnh thật lòng xao xuyến lòng. Trời đất nước như một bức tranh thủy mạc Mà Thượng Đế đã dành riêng trao. Mới chỉ lần đầu Mà đã như ngày nào Thắm thiết dạt dào Đến nghẹn ngào.Chiều ôm Mẹ, chào trở lại Pháp, linh tính cho mình biết đây là lần cuối cùng mình còn được nghe Mẹ nói. Ánh mắt của Mẹ chiều hôm đó, cho tới đêm nay mình vẫn không sao diễn tả nổi, mặc dù đã từng viết nguyên một bài biên khảo khá dài về mấy chục loại mắt của con người.(3) Thế mới hay vốn liếng việt văn học lóm của mình trong 35 năm nay thật còn giới hạn lắm. Trở lại Pháp đúng 30 ngày thì nhận được tin : Chiếc Lá Cuối Cùng đã rụng ! Và là lần thứ bảy mình về, nhìn hình Mẹ trên áo quan. Mẹ mất ngày 10 tháng 6 năm 2004 ( 23 tháng Tư năm Giáp Thân ): Hai tay ôm lá vào lòng, Hỡi ôi chiếc lá cuối cùng là đây !Sau ngày an táng Mẹ, chị Ngọc Sương kể : Mẹ biết chuyện cậu D. ( anh kế mình) mất từ lâu, mấy cụ chia buồn với Mẹ trong chùa ! Hai tuần trước Mẹ có nói với chị : Mềng biết chuyện thằng D. từ đầu, Mềng vẫn đọc kinh cầu siêu cho nó, nhưng " người ta " muốn giấu thì mềng cũng không hỏi "! Hàn Lệ Nhân (Cho giỗ đầu ngày Mẹ mất) (1) Lời trong bản nhạc Viễn Khúc Việt Nam. (2) Xe điện ngầm, đi làm, ngủ nghê. (3) Những Con Mắt Trần Gian (nhìn từ phương Đông). Mục lục Chiếc Lá Cuối Cùng Chiếc Lá Cuối Cùng Hàn Lệ NhânChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Việt Dương Nhân Nguồn: Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 2 tháng 11 năm 2005
Nguyễn Thị Mộng Thu Chiếc lá thuộc bài Tôi - một đứa học trò mà cả trường ai cũng biết tên, không phải vì thành tích xuất sắc trong học tập, cũng không phải vì tôi đẹp trai cỡ diễn viên Leo trong phim Titanic, mà chỉ vì tôi là… vua quậy phá! Chắc có lẽ má tôi sinh tôi ra nhằm giờ con lật đật, thế nên chẳng khi nào tôi ngồi im được. Giờ học, tôi cứ hết xoay bên này lại xoay bên nọ, giả vờ mượn bút, thước và hàng trăm thứ linh tinh khác mà tôi có thể nghĩ ra. Lưỡi tôi dài (lè ra là chấm mũi đấy!), bởi vậy dù thâm tâm không muốn tôi cũng cứ phải nói nhiều. Mấy đứa con gái ngồi trước tôi, dù có cảnh giác đến đâu nhưng thỉnh thoảng vẫn phải làm cả lớp cười bò vì lúc lên trả bài mang trên lưng những mẫu quảng cáo rất chi là… ấn tượng! Trong các đợt thi đua lớp tôi chưa bao giờ đứng nhất, vì dù đám bạn có cố gắng đến đâu, thì một mình thằng tôi cũng kéo tụt kỷ luật lớp xuống rồi. Năm ngoái, tôi đã mấy lần bị mời lên phòng giám thị, nhưng rồi vẫn cứ chứng nào tật nấy. Những đứa học hành đàng hoàng không thèm ngó tới mặt tôi; cô giáo chủ nhiệm trẻ măng mới ra trường cũng mấy lần vì tôi mà rơi nước mắt. Thú thật, tôi cũng ân hận lắm nên cố tâm sửa đổi. Hai ba ngày liền tôi nghiêm túc trong học tập, dù có trăm ngàn con rệp bò nhột nhạt trong người tôi vẫn phải trân mình chịu đựng, mắt nhìn đăm đăm lên bảng; cái lưỡi dài ngọ nguậy trong mồm, tôi cũng cố cắn chặt hai hàm răng lại. Tôi đã phấn đấu kinh khủng để chống lại thói hư của mình, gần giống như anh chàng gì đó trong mẩu chuyện “Con ngựa hoang trên cánh đồng hoa anh túc” đăng trên báo Mực Tím, đã một mình vật vã chống chọi với cơn ghiền xì – ke. Ấy vậy mà chẳng một ai hiểu tôi, chẳng một ai động viên khích lệ… Sao mà điều tốt lại khó nhận ra đến thế! Tôi buồn ghê gớm nhưng vẫn giữ vững lập trường. Một hôm, đang trong giờ Toán chẳng hiểu sao cổ họng tôi khó chịu đến lạ kỳ, tôi cứ phải “e hèm”, đằng hắng nhiều lần. Thế là tới giờ sinh hoạt lớp tuần đó, thằng lớp trưởng oang oang kết tội tôi không tôn trọng thầy giáo, làm mất kỷ luật, không có vệ sinh… Thôi thì đủ thứ tội lỗi nó đem đổ ụp xuống đầu tôi , cô giáo chủ nhiệm nhìn tôi lắc đầu ngao ngán, và viết cho ba má tôi một lá thư dài như sớ táo quân. Cái lưỡi của tôi hôm ấy bỗng trở nên bất động, tôi không thanh minh gì được cho mình! Sau khi ăn xong trận đòn đau thấu trời xanh, tôi cảm thấy chán đời quá xá. Trước đây, tôi tuy quậy phá nhưng học hành cũng thuộc hàng kha khá, giờ thì tôi chẳng thiết tha gì đến bài vở nữa. Tôi thường trốn học la cà ở các tụ điểm bi – a, điện tử để mặc tương lai trôi theo dòng đời, chả phấn đấu làm gì cho mệt! Sang học kỳ hai, lớp tôi có thêm thành viên mới – con nhỏ từ một trường xa lơ xa lắc nào đó chuyển về. Và chẳng hiểu bởi lý do gì, nó nhanh chóng được bầu làm lớp phó học tập. Ái chà, con nhỏ đến là kiêu, trong giờ học đố có ai lôi nó ra khỏi lời giảng của thầy. Tôi mấy phen vờ mượn thước, nó như người máy tay cầm thước đưa tôi mà cái đầu vẫn không nhúc nhích. Thấy tôi cứ hết mượn thứ này đến thứ khác, một bữa trước khi ra về nó kéo tôi lại trao cho tôi một cái hộp xinh xinh: -Trong này có đủ viết, thước, compa… Tiền ăn sáng của Hương, Hương dành lại mua đó. Bạn giữ lấy mà dùng, trong giờ học mà cứ loay hoay hỏi mượn vừa thiệt cho mình vừa làm phiền người khác. Dứt lời, nó còn nhoẻn miệng cười duyên với tôi rồi bước nhanh theo đám bạn, bỏ lại thằng tôi lớ ngớ với chiếc hộp trên tay… Tôi bệnh. Việc không may ấy xảy ra khiến tôi nằm bẹp trên giường suốt hai hôm, lúc run cầm cập, lúc lại nóng toát mồ hôi, có lúc tôi như chìm vào cõi hư vô nào đó cùng với những hình ảnh ma quái đang rượt đuổi mình. Bỗng tôi thấy có một nàng tiên, nàng tiên mang đôi cánh trắng bay lượn quanh phòng, lũ ma quái run rẩy chen nhau bỏ chạy, nàng tiên đến bên bàn học, làm gì đó rất lâu, rất lâu… Cơn buồn ngủ ập đến kéo sấp mi mắt tôi, hình ảnh cô tiên mờ dần rồi mất hẳn. Vừa thức dậy, cái mà tôi bắt gặp đầu tiên là nụ cười răng so le của nhỏ lớp phó lớp tôi. Nó vung vẩy mấy quyển tập trước mắt tôi: -Hương chép bài xong hết cả rồi, khi nào khỏe nhớ ráng học nhe! Hương để lại đây một chiếc lá thuộc bài, có nó bạn sẽ mau hiểu và mau thuộc bài lắm đó! Rõ là con gái! Nó về rồi mà nụ cười răng khểnh còn vướng vít khắp phòng. Tôi ngồi dậy, tự nhủ để xem nó đã làm gì nãy giờ trong “vương quốc” của tôi. Ố là la, cái bàn học thường ngày bề bộn đến tôi nhìn còn muốn chóng mặt, có bàn tay nó đụng vào đã ngăn nắp gọn gàng, đâu ra đó. Bên trên chồng vở xếp ngay ngắn là một cành lá thuộc bài xanh mướt. Một thứ tình cảm bâng khuâng, mơ hồ choáng ngợp hồn tôi. Nhỏ tốt với tôi quá, tôi thấy mình không xứng đáng với lòng tốt của nhỏ. tôi xoay xoay cành lá trên tay, vừa ngắm nghía vừa nghĩ phải chăng đây là lời nhắc nhở nhỏ dành cho mình? Tôi định ép lá vào tập như bọn con gái thường làm, nhưng lại sợ thầy cô và đám bạn trai quỷ quái biết được thì sẽ cười tôi đến chết mất. A, đây rồi! Tôi có cái khung hình bằng bạc rất đẹp được ông chú mang từ Liên Xô về và tặng cho tôi nhân ngày sinh nhật, mà “dung nhan mùa hạ” của tôi lại ẹ xem xem với Trương Chi thuở trước, nên ngoài những tấm hình thẻ bắt buộc phải chụp, đời nào tôi dám chường mặt ra cho người ta “chớp” để có hình mà lộng, mà treo? Thế cho nên mấy năm nay cái khung đó tôi dùng để lộng hình thần tượng Ronaldo với cái đầu láng bóng đang tung cú sút tuyệt vời! Tôi mở khung, lấy hình “thần tượng” đem dán lên trường: “ Tự do mà tung hoành nhá, ông bạn da đen!”. Chiếc lá thuộc bài được lồng vào khung ảnh, bỗng dưng tôi cảm thấy nó đẹp, đẹp hơn bất cứ một bức tranh nào. Quả đúng như lời nhỏ Hương nói, từ ngày có chiếc lá trên bàn học, tôi bỗng trở nên đứng đắn và “thông thái” lạ thường. Vào lớp, tôi không còn quay tới quay lui, thầy cô kiểm tra bài bao giờ tôi cũng được điểm tốt. Và, nhỏ là người đầu tiên khen tôi trước lớp. Cô giáo lại viết cho ba má tôi một lá thư thiệt dài, nhưng lần này do chính tay tôi đường hoàng, trân trọng trao tận tay ba để được nghe một câu khen ngợi: “Thằng này khá!”. Hôm nay là ngày công bố kết quả thi tốt nghiệp Trung học cơ sở. Tôi hồi hộp đến trường thật sớm, vậy mà trong sân trường bọn con gái đã đứng chờ đông nghị. Thầy giám thị vừa niêm yết xong bảng điểm, tôi chen vào và… suýt chút nữa là tim tôi rớt xuống bao tử: Tôi và nhỏ cùng ở vị trí á khoa – nhỏ hơn tôi 0,5 điểm! Sung sướng quá trời ạ! Tôi muốn nhảy cẩng lên, muốn hét to lên cho cả thế giới biết tin nhưng chợt bắt gặp ánh mắt tươi cười của nhỏ, tôi bỗng trở nên lúng túng, ngượng ngùng. Tôi muốn đến bên nhỏ để cảm ơn những lời động viên, giúp đỡ nhỏ dành cho tôi, nhưng… cái con lật đật trong tôi trốn đâu mất biệt, lưỡi tôi hôm nay dường như cũng ngắn đi mấy phân rồi, nên tôi cứ lóng nga lóng ngóng để đến khi nhỏ đã ra khỏi cổng trường, tôi mới vội vã phóng lên xe chạy về nhà để… cảm ơn chiếc lá thuộc bài trong khung kính! Mục lục Chiếc lá thuộc bài Chiếc lá thuộc bài Nguyễn Thị Mộng ThuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Thị Mộng Thu Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 10 tháng 3 năm 2008
Nguyễn Thị Mộng Thu Chiếc lá thuộc bài Tôi - một đứa học trò mà cả trường ai cũng biết tên, không phải vì thành tích xuất sắc trong học tập, cũng không phải vì tôi đẹp trai cỡ diễn viên Leo trong phim Titanic, mà chỉ vì tôi là… vua quậy phá! Chắc có lẽ má tôi sinh tôi ra nhằm giờ con lật đật, thế nên chẳng khi nào tôi ngồi im được. Giờ học, tôi cứ hết xoay bên này lại xoay bên nọ, giả vờ mượn bút, thước và hàng trăm thứ linh tinh khác mà tôi có thể nghĩ ra. Lưỡi tôi dài (lè ra là chấm mũi đấy!), bởi vậy dù thâm tâm không muốn tôi cũng cứ phải nói nhiều. Mấy đứa con gái ngồi trước tôi, dù có cảnh giác đến đâu nhưng thỉnh thoảng vẫn phải làm cả lớp cười bò vì lúc lên trả bài mang trên lưng những mẫu quảng cáo rất chi là… ấn tượng! Trong các đợt thi đua lớp tôi chưa bao giờ đứng nhất, vì dù đám bạn có cố gắng đến đâu, thì một mình thằng tôi cũng kéo tụt kỷ luật lớp xuống rồi. Năm ngoái, tôi đã mấy lần bị mời lên phòng giám thị, nhưng rồi vẫn cứ chứng nào tật nấy. Những đứa học hành đàng hoàng không thèm ngó tới mặt tôi; cô giáo chủ nhiệm trẻ măng mới ra trường cũng mấy lần vì tôi mà rơi nước mắt. Thú thật, tôi cũng ân hận lắm nên cố tâm sửa đổi. Hai ba ngày liền tôi nghiêm túc trong học tập, dù có trăm ngàn con rệp bò nhột nhạt trong người tôi vẫn phải trân mình chịu đựng, mắt nhìn đăm đăm lên bảng; cái lưỡi dài ngọ nguậy trong mồm, tôi cũng cố cắn chặt hai hàm răng lại. Tôi đã phấn đấu kinh khủng để chống lại thói hư của mình, gần giống như anh chàng gì đó trong mẩu chuyện “Con ngựa hoang trên cánh đồng hoa anh túc” đăng trên báo Mực Tím, đã một mình vật vã chống chọi với cơn ghiền xì – ke. Ấy vậy mà chẳng một ai hiểu tôi, chẳng một ai động viên khích lệ… Sao mà điều tốt lại khó nhận ra đến thế! Tôi buồn ghê gớm nhưng vẫn giữ vững lập trường. Một hôm, đang trong giờ Toán chẳng hiểu sao cổ họng tôi khó chịu đến lạ kỳ, tôi cứ phải “e hèm”, đằng hắng nhiều lần. Thế là tới giờ sinh hoạt lớp tuần đó, thằng lớp trưởng oang oang kết tội tôi không tôn trọng thầy giáo, làm mất kỷ luật, không có vệ sinh… Thôi thì đủ thứ tội lỗi nó đem đổ ụp xuống đầu tôi , cô giáo chủ nhiệm nhìn tôi lắc đầu ngao ngán, và viết cho ba má tôi một lá thư dài như sớ táo quân. Cái lưỡi của tôi hôm ấy bỗng trở nên bất động, tôi không thanh minh gì được cho mình! Sau khi ăn xong trận đòn đau thấu trời xanh, tôi cảm thấy chán đời quá xá. Trước đây, tôi tuy quậy phá nhưng học hành cũng thuộc hàng kha khá, giờ thì tôi chẳng thiết tha gì đến bài vở nữa. Tôi thường trốn học la cà ở các tụ điểm bi – a, điện tử để mặc tương lai trôi theo dòng đời, chả phấn đấu làm gì cho mệt! Sang học kỳ hai, lớp tôi có thêm thành viên mới – con nhỏ từ một trường xa lơ xa lắc nào đó chuyển về. Và chẳng hiểu bởi lý do gì, nó nhanh chóng được bầu làm lớp phó học tập. Ái chà, con nhỏ đến là kiêu, trong giờ học đố có ai lôi nó ra khỏi lời giảng của thầy. Tôi mấy phen vờ mượn thước, nó như người máy tay cầm thước đưa tôi mà cái đầu vẫn không nhúc nhích. Thấy tôi cứ hết mượn thứ này đến thứ khác, một bữa trước khi ra về nó kéo tôi lại trao cho tôi một cái hộp xinh xinh: -Trong này có đủ viết, thước, compa… Tiền ăn sáng của Hương, Hương dành lại mua đó. Bạn giữ lấy mà dùng, trong giờ học mà cứ loay hoay hỏi mượn vừa thiệt cho mình vừa làm phiền người khác. Dứt lời, nó còn nhoẻn miệng cười duyên với tôi rồi bước nhanh theo đám bạn, bỏ lại thằng tôi lớ ngớ với chiếc hộp trên tay… Tôi bệnh. Việc không may ấy xảy ra khiến tôi nằm bẹp trên giường suốt hai hôm, lúc run cầm cập, lúc lại nóng toát mồ hôi, có lúc tôi như chìm vào cõi hư vô nào đó cùng với những hình ảnh ma quái đang rượt đuổi mình. Bỗng tôi thấy có một nàng tiên, nàng tiên mang đôi cánh trắng bay lượn quanh phòng, lũ ma quái run rẩy chen nhau bỏ chạy, nàng tiên đến bên bàn học, làm gì đó rất lâu, rất lâu… Cơn buồn ngủ ập đến kéo sấp mi mắt tôi, hình ảnh cô tiên mờ dần rồi mất hẳn. Vừa thức dậy, cái mà tôi bắt gặp đầu tiên là nụ cười răng so le của nhỏ lớp phó lớp tôi. Nó vung vẩy mấy quyển tập trước mắt tôi: -Hương chép bài xong hết cả rồi, khi nào khỏe nhớ ráng học nhe! Hương để lại đây một chiếc lá thuộc bài, có nó bạn sẽ mau hiểu và mau thuộc bài lắm đó! Rõ là con gái! Nó về rồi mà nụ cười răng khểnh còn vướng vít khắp phòng. Tôi ngồi dậy, tự nhủ để xem nó đã làm gì nãy giờ trong “vương quốc” của tôi. Ố là la, cái bàn học thường ngày bề bộn đến tôi nhìn còn muốn chóng mặt, có bàn tay nó đụng vào đã ngăn nắp gọn gàng, đâu ra đó. Bên trên chồng vở xếp ngay ngắn là một cành lá thuộc bài xanh mướt. Một thứ tình cảm bâng khuâng, mơ hồ choáng ngợp hồn tôi. Nhỏ tốt với tôi quá, tôi thấy mình không xứng đáng với lòng tốt của nhỏ. tôi xoay xoay cành lá trên tay, vừa ngắm nghía vừa nghĩ phải chăng đây là lời nhắc nhở nhỏ dành cho mình? Tôi định ép lá vào tập như bọn con gái thường làm, nhưng lại sợ thầy cô và đám bạn trai quỷ quái biết được thì sẽ cười tôi đến chết mất. A, đây rồi! Tôi có cái khung hình bằng bạc rất đẹp được ông chú mang từ Liên Xô về và tặng cho tôi nhân ngày sinh nhật, mà “dung nhan mùa hạ” của tôi lại ẹ xem xem với Trương Chi thuở trước, nên ngoài những tấm hình thẻ bắt buộc phải chụp, đời nào tôi dám chường mặt ra cho người ta “chớp” để có hình mà lộng, mà treo? Thế cho nên mấy năm nay cái khung đó tôi dùng để lộng hình thần tượng Ronaldo với cái đầu láng bóng đang tung cú sút tuyệt vời! Tôi mở khung, lấy hình “thần tượng” đem dán lên trường: “ Tự do mà tung hoành nhá, ông bạn da đen!”. Chiếc lá thuộc bài được lồng vào khung ảnh, bỗng dưng tôi cảm thấy nó đẹp, đẹp hơn bất cứ một bức tranh nào. Quả đúng như lời nhỏ Hương nói, từ ngày có chiếc lá trên bàn học, tôi bỗng trở nên đứng đắn và “thông thái” lạ thường. Vào lớp, tôi không còn quay tới quay lui, thầy cô kiểm tra bài bao giờ tôi cũng được điểm tốt. Và, nhỏ là người đầu tiên khen tôi trước lớp. Cô giáo lại viết cho ba má tôi một lá thư thiệt dài, nhưng lần này do chính tay tôi đường hoàng, trân trọng trao tận tay ba để được nghe một câu khen ngợi: “Thằng này khá!”. Hôm nay là ngày công bố kết quả thi tốt nghiệp Trung học cơ sở. Tôi hồi hộp đến trường thật sớm, vậy mà trong sân trường bọn con gái đã đứng chờ đông nghị. Thầy giám thị vừa niêm yết xong bảng điểm, tôi chen vào và… suýt chút nữa là tim tôi rớt xuống bao tử: Tôi và nhỏ cùng ở vị trí á khoa – nhỏ hơn tôi 0,5 điểm! Sung sướng quá trời ạ! Tôi muốn nhảy cẩng lên, muốn hét to lên cho cả thế giới biết tin nhưng chợt bắt gặp ánh mắt tươi cười của nhỏ, tôi bỗng trở nên lúng túng, ngượng ngùng. Tôi muốn đến bên nhỏ để cảm ơn những lời động viên, giúp đỡ nhỏ dành cho tôi, nhưng… cái con lật đật trong tôi trốn đâu mất biệt, lưỡi tôi hôm nay dường như cũng ngắn đi mấy phân rồi, nên tôi cứ lóng nga lóng ngóng để đến khi nhỏ đã ra khỏi cổng trường, tôi mới vội vã phóng lên xe chạy về nhà để… cảm ơn chiếc lá thuộc bài trong khung kính! Mục lục Chiếc lá thuộc bài Chiếc lá thuộc bài Nguyễn Thị Mộng ThuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Thị Mộng Thu Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 10 tháng 3 năm 2008
Thích Nữ Viên Quang CHIẾC LÁ XANH Chúng tôi đến vừa kịp lúc động quan. Lúc nầy, trời chưa sáng hẳn, chỉ đủ để nhìn thấy tấm bảng bên trên mái nhà: “Vãng Sanh Quán”. Thầy sám chủ đọc bài kệ tiếp dẫn Tây phương với giọng thật buồn. Thầy đã bước ra đường, đoàn người lặng lẽ theo sau, tiếng niệm Phật cất lên. Một đám tang không kèn trống… Sáu người đạo tùy đã nhấc chiếc quan tài ra khỏi Vãng sanh quán, quay về phía bàn Phật cho quan tài xá ba xá rồi ra đi. Trời đã sáng hẳn, người ta có thể thấy rõ bảng cáo phó. Người mất tên là NT. Tôi lẩm bẩm một mình “Hưởng dương 20 tuổi”. Con số ấy làm tôi giật mình. Gương mặt người chết trong hình còn quá trẻ, vẫn mỉm cười một cách lạc quan và đầy tự tin như khi còn sống. Một chiếc lá vô tình rơi vào cái khay ngay trước tấm hình người chết - một chiếc lá xanh. Tôi ngạc nhiên nghĩ thầm: “Tại sao không phải là chiếc lá vàng mà là chiếc lá xanh rụng đi?”. Sư tỷ nhanh tay định lấy chiếc lá vứt đi. Tôi đưa tay ngăn lại:- Đừng bỏ nó. Hãy đưa nó cho em. Chiếc lá này rất có ý nghĩa đấy !- Tại sao?- Dùng để quán vô thường. Mắt đượm buồn, sư tỷ cúi xuống nhìn chiếc lá hồi lâu như suy nghĩ lời tôi nói rồi trao nó cho tôi.- Thật vậy em ạ ! Thân phận con người cũng giống như chiếc lá nầy. Tất cả mọi người đều đã lên xe. Chiếc xe nhà đòn chở quan tài theo sau. Giờ nầy, đường phố hãy còn vắng. Chẳng mấy chốc, xe đã ra ngoại thành, hướng về phía Bà Quẹo. Giấy vàng bạc giả đầy cả hai bên đường chứng tỏ đây là thế giới riêng của người chết. Trong nghĩa trang, vô số chữ vạn và thánh giá nhấp nhô như đón chào người mới đến. Tất cả mọi người đều xuống xe. Riêng chiếc xe nhà đòn chạy thẳng lên nhà hỏa táng. Đây là lần đầu tiên tôi đến nơi nầy. Đến thế giới cuả người chết. Không khí mới u buồn và rờn rợn làm sao! Hàng cây run rẩy, chân tôi cũng run rẩy. Hàng cây ướt sương đêm rơi xuống, nước mắt tôi cũng sắp rơi… Mọi người đã đứng thành hai hàng ngang để Thầy sám chủ làm nghi thức hỏa táng. Cũng với giọng tụng kinh trầm buồn ấy…. Thời gian như ngưng hẳn, không gian dường bất động….Rồi bài kinh cầu nguyện cuối cùng cũng đã xong. Người ta rải hoa đầy cả quan tài. Tôi đứng đấy, lòng trống rỗng, mắt ráo hoảnh nhìn quan tài từ từ hạ xuống…. Có tiếng thút thít khóc, rồi vỡ ra…. Hình ảnh chiếc lá xanh lại hiện lên trước mắt tôi. Mọi người tập trung trước lò thiêu chờ đợi. Không khí thật ngột ngạt.Mùi xác chết thiêu như còn phảng phất đâu đó làm tôi chợt rung mình. Sư tỷ đưa mắt ra hiệu cho tôi đi ra phía sau lò thiêu. Không một bóng người. Cái im lặng bao trùm đến đáng sợ, củi vứt bừa bãi. Một ông cụ già – có lẽ là người phụ trách lò thiêu ngồi bất động trên một khúc cây lớn. Chúng tôi cố tạo tiếng động nhưng ông không quay lại. Chúng tôi im lặng nhìn nhau tiến về phía cái quách nhỏ bị vứt bên đường. Tôi giật mình khi ánh mắt chạm phải hai cái lò thiêu nho nhỏ mà từ xa trông giống như hai cái bếp. Tro than đầy cả lối đi. Đó là lò thiêu dành cho các em bé yểu mệnh. Thế rồi giờ hành lễ bắt đầu. Người phụ trách lò thiêu chất củi vào lò, tẩm xăng vào quan tài rồi đóng sầm cửa lại ghi hàng chữ lớn: “Ca 1, NT”. Mỗi người tay cầm một cây hương, đầu cúi thấp….Thầy sám chủ đã cho lửa vào lò. Tôi nhìn trừng trừng vào quan tài đang bén lửa. Chiếc lá xanh run rẩy trong tay tôi. Tôi chợt hiểu:”Người ta có thể chết khi tuổi còn rất trẻ, kể cả khi mới sinh ra”. Tiếng kinh cầu nguyện bay vút lên cao….Tôi đứng đấy không biết đã bao lâu, tay vẫn cầm chiếc lá xanh, ánh lửa chập chờn sau làn nước măt, cổ nghẹn cứng. Nước mắt làm ướt cả áo tràng. Tôi khóc vì ai? Khóc vì người bạn xấu số hay khóc vì tôi. Có lẽ khóc cho cả hai. Chỉ một cơn cảm lạnh người ta có thể chết dễ dàng như chiếc lá xanh gặp cơn gió phải rụng đi. Vô thường quá, tứ đại đã hoàn tứ đại, cát bụi trở về cát bụi rồi. Tôi nghĩ đến lúc rồi đây sẽ có ngày nầy đến với tôi. Và chính tôi chứ không ai khác sẽ nằm dài trong quan tài như khúc cây vô dụng rồi sau đó chỉ còn lại “chút tro tàn lạnh tanh”. Sự thật là thế, mọi người rồi ai cũng thế cả. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao khi chứng kiến cảnh sinh, già, bệnh, chết ở bốn cửa thành, Đức Phật đã quyết định xuất gia. Tôi vẫn đứng đấy, đứng làm gì không biết, nhưng tôi nghĩ mình cần phải đứng nơi đây. Để thực chứng chăng? Có lẽ thế. Vì đây là sự thật không thể chối cãi. Bỗng có tiếng gọi lớn:- Q ! Về mau, mọi người đang chờ đợi em ngoài xe, đứng đấy làm gì?Tôi ngơ ngác thật sự. Nhìn lại không còn ai bên cạnh tôi. Như vậy là xong một đời người ư? Tôi đưa mắt ngạc nhiên nhìn sư tỷ. Sư tỷ như hiểu ý:- À ! Em mới đến đây lần đầu tiên phải không? Thôi đi về. Bây giờ mới có 7 giờ, 11 giờ sẽ có người đến lấy cốt.Tôi càng ngơ ngác hơn. Sư tỷ không nói gì, nắm lấy tay tôi vừa dắt đi vừa lấy khăn lau nước mắt cho tôi.- Em không hiểu tại sao người ta có thể dễ dàng chết khi còn quá trẻ như vậy?- Ôi ! Em đừng nói từ “Chết” nghe ghê qúa. Hãy nói là “Mất đi” hay “Qua đời” gì đó !Tôi cố chống chế bằng cách đọc một câu thơ của Shakespeare thay cho câu trả lời: “Có gì trong một danh từ ? Hoa hồng hương ấy cho dù tên chi”.Không khí bỗng trở nên vui vẻ. Sư tỷ nói tiếp:- Em nói đúng, dù cho gọi là “Mất đi” , “Qua đời” , hay “Vô thường” gì cũng là một, là sự chết, chỉ khác nhau cái danh từ thôi. Thế nhưng, nếu lỡ mai sư tỷ chết trẻ như vậy em có khóc không?- Không ! Em sẽ không khóc khi sư tỷ mất.Sư tỷ tỏ vẻ ngạc nhiên:- Vì sao ?- Lúc nãy em khóc vì em chưa hiểu. Xưa nay khi nói về người chết em chỉ nghĩ đến người già. Cho đến sáng nay, khi thấy chiếc lá xanh lìa cành em mới giác ngộ ra rằng bất kỳ ai cũng có thể chết vào bất kỳ lúc nào. Sự thật là thế. Thế thì việc gì phải khóc? Chi bằng ngay giờ phút hiện tại, ãy sống sao cho xứng đáng, làm tròn bổn phận và công việc mỗi ngày. Như thế là tu giới, tu định, tu huệ, đó là cách báo Tứ trọng ân, đó là điều hạnh phúc.- Thật không ngờ em tiến bộ đến thế ! Thế mới xứng đáng là người học Phật chứ !- Đừng khen em. Hãy khen chiếc lá nầy ! Chúng tôi bước lên xe. Hàng cây lúc nãy không còn run rẩy, đôi chân tôi cũng vậy. Những hạt sương trên chiếc lá đã được mặt trời chiếu rọi biến đâu mất, như nước mắt tôi được thực tại tuệ giác soi chiếu đã khô đi. Tôi nhủ thầm: ”Sự thật là thế Q ạ ! Có ngày rồi mi sẽ nằm trong quan tài nhưng không biết là khi nào”. Rồi với ý nghĩ “lạc quan” ấy, tôi quay lại nhìn “thành phố của người chết” một lần nữa rồi mỉm cười bước đi…. Chiếc lá xanh vẫn còn nằm trong tay tôi….Nó đã hết run rẩy. (Nhớ về đám tang của một bạn đồng tu – VQ viết năm 1994) Mục lục CHIẾC LÁ XANH CHIẾC LÁ XANH Thích Nữ Viên QuangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: BuddhismtodayĐược bạn: NHDT đưa lên vào ngày: 1 tháng 2 năm 2007
Thích Nữ Viên Quang CHIẾC LÁ XANH Chúng tôi đến vừa kịp lúc động quan. Lúc nầy, trời chưa sáng hẳn, chỉ đủ để nhìn thấy tấm bảng bên trên mái nhà: “Vãng Sanh Quán”. Thầy sám chủ đọc bài kệ tiếp dẫn Tây phương với giọng thật buồn. Thầy đã bước ra đường, đoàn người lặng lẽ theo sau, tiếng niệm Phật cất lên. Một đám tang không kèn trống… Sáu người đạo tùy đã nhấc chiếc quan tài ra khỏi Vãng sanh quán, quay về phía bàn Phật cho quan tài xá ba xá rồi ra đi. Trời đã sáng hẳn, người ta có thể thấy rõ bảng cáo phó. Người mất tên là NT. Tôi lẩm bẩm một mình “Hưởng dương 20 tuổi”. Con số ấy làm tôi giật mình. Gương mặt người chết trong hình còn quá trẻ, vẫn mỉm cười một cách lạc quan và đầy tự tin như khi còn sống. Một chiếc lá vô tình rơi vào cái khay ngay trước tấm hình người chết - một chiếc lá xanh. Tôi ngạc nhiên nghĩ thầm: “Tại sao không phải là chiếc lá vàng mà là chiếc lá xanh rụng đi?”. Sư tỷ nhanh tay định lấy chiếc lá vứt đi. Tôi đưa tay ngăn lại:- Đừng bỏ nó. Hãy đưa nó cho em. Chiếc lá này rất có ý nghĩa đấy !- Tại sao?- Dùng để quán vô thường. Mắt đượm buồn, sư tỷ cúi xuống nhìn chiếc lá hồi lâu như suy nghĩ lời tôi nói rồi trao nó cho tôi.- Thật vậy em ạ ! Thân phận con người cũng giống như chiếc lá nầy. Tất cả mọi người đều đã lên xe. Chiếc xe nhà đòn chở quan tài theo sau. Giờ nầy, đường phố hãy còn vắng. Chẳng mấy chốc, xe đã ra ngoại thành, hướng về phía Bà Quẹo. Giấy vàng bạc giả đầy cả hai bên đường chứng tỏ đây là thế giới riêng của người chết. Trong nghĩa trang, vô số chữ vạn và thánh giá nhấp nhô như đón chào người mới đến. Tất cả mọi người đều xuống xe. Riêng chiếc xe nhà đòn chạy thẳng lên nhà hỏa táng. Đây là lần đầu tiên tôi đến nơi nầy. Đến thế giới cuả người chết. Không khí mới u buồn và rờn rợn làm sao! Hàng cây run rẩy, chân tôi cũng run rẩy. Hàng cây ướt sương đêm rơi xuống, nước mắt tôi cũng sắp rơi… Mọi người đã đứng thành hai hàng ngang để Thầy sám chủ làm nghi thức hỏa táng. Cũng với giọng tụng kinh trầm buồn ấy…. Thời gian như ngưng hẳn, không gian dường bất động….Rồi bài kinh cầu nguyện cuối cùng cũng đã xong. Người ta rải hoa đầy cả quan tài. Tôi đứng đấy, lòng trống rỗng, mắt ráo hoảnh nhìn quan tài từ từ hạ xuống…. Có tiếng thút thít khóc, rồi vỡ ra…. Hình ảnh chiếc lá xanh lại hiện lên trước mắt tôi. Mọi người tập trung trước lò thiêu chờ đợi. Không khí thật ngột ngạt.Mùi xác chết thiêu như còn phảng phất đâu đó làm tôi chợt rung mình. Sư tỷ đưa mắt ra hiệu cho tôi đi ra phía sau lò thiêu. Không một bóng người. Cái im lặng bao trùm đến đáng sợ, củi vứt bừa bãi. Một ông cụ già – có lẽ là người phụ trách lò thiêu ngồi bất động trên một khúc cây lớn. Chúng tôi cố tạo tiếng động nhưng ông không quay lại. Chúng tôi im lặng nhìn nhau tiến về phía cái quách nhỏ bị vứt bên đường. Tôi giật mình khi ánh mắt chạm phải hai cái lò thiêu nho nhỏ mà từ xa trông giống như hai cái bếp. Tro than đầy cả lối đi. Đó là lò thiêu dành cho các em bé yểu mệnh. Thế rồi giờ hành lễ bắt đầu. Người phụ trách lò thiêu chất củi vào lò, tẩm xăng vào quan tài rồi đóng sầm cửa lại ghi hàng chữ lớn: “Ca 1, NT”. Mỗi người tay cầm một cây hương, đầu cúi thấp….Thầy sám chủ đã cho lửa vào lò. Tôi nhìn trừng trừng vào quan tài đang bén lửa. Chiếc lá xanh run rẩy trong tay tôi. Tôi chợt hiểu:”Người ta có thể chết khi tuổi còn rất trẻ, kể cả khi mới sinh ra”. Tiếng kinh cầu nguyện bay vút lên cao….Tôi đứng đấy không biết đã bao lâu, tay vẫn cầm chiếc lá xanh, ánh lửa chập chờn sau làn nước măt, cổ nghẹn cứng. Nước mắt làm ướt cả áo tràng. Tôi khóc vì ai? Khóc vì người bạn xấu số hay khóc vì tôi. Có lẽ khóc cho cả hai. Chỉ một cơn cảm lạnh người ta có thể chết dễ dàng như chiếc lá xanh gặp cơn gió phải rụng đi. Vô thường quá, tứ đại đã hoàn tứ đại, cát bụi trở về cát bụi rồi. Tôi nghĩ đến lúc rồi đây sẽ có ngày nầy đến với tôi. Và chính tôi chứ không ai khác sẽ nằm dài trong quan tài như khúc cây vô dụng rồi sau đó chỉ còn lại “chút tro tàn lạnh tanh”. Sự thật là thế, mọi người rồi ai cũng thế cả. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao khi chứng kiến cảnh sinh, già, bệnh, chết ở bốn cửa thành, Đức Phật đã quyết định xuất gia. Tôi vẫn đứng đấy, đứng làm gì không biết, nhưng tôi nghĩ mình cần phải đứng nơi đây. Để thực chứng chăng? Có lẽ thế. Vì đây là sự thật không thể chối cãi. Bỗng có tiếng gọi lớn:- Q ! Về mau, mọi người đang chờ đợi em ngoài xe, đứng đấy làm gì?Tôi ngơ ngác thật sự. Nhìn lại không còn ai bên cạnh tôi. Như vậy là xong một đời người ư? Tôi đưa mắt ngạc nhiên nhìn sư tỷ. Sư tỷ như hiểu ý:- À ! Em mới đến đây lần đầu tiên phải không? Thôi đi về. Bây giờ mới có 7 giờ, 11 giờ sẽ có người đến lấy cốt.Tôi càng ngơ ngác hơn. Sư tỷ không nói gì, nắm lấy tay tôi vừa dắt đi vừa lấy khăn lau nước mắt cho tôi.- Em không hiểu tại sao người ta có thể dễ dàng chết khi còn quá trẻ như vậy?- Ôi ! Em đừng nói từ “Chết” nghe ghê qúa. Hãy nói là “Mất đi” hay “Qua đời” gì đó !Tôi cố chống chế bằng cách đọc một câu thơ của Shakespeare thay cho câu trả lời: “Có gì trong một danh từ ? Hoa hồng hương ấy cho dù tên chi”.Không khí bỗng trở nên vui vẻ. Sư tỷ nói tiếp:- Em nói đúng, dù cho gọi là “Mất đi” , “Qua đời” , hay “Vô thường” gì cũng là một, là sự chết, chỉ khác nhau cái danh từ thôi. Thế nhưng, nếu lỡ mai sư tỷ chết trẻ như vậy em có khóc không?- Không ! Em sẽ không khóc khi sư tỷ mất.Sư tỷ tỏ vẻ ngạc nhiên:- Vì sao ?- Lúc nãy em khóc vì em chưa hiểu. Xưa nay khi nói về người chết em chỉ nghĩ đến người già. Cho đến sáng nay, khi thấy chiếc lá xanh lìa cành em mới giác ngộ ra rằng bất kỳ ai cũng có thể chết vào bất kỳ lúc nào. Sự thật là thế. Thế thì việc gì phải khóc? Chi bằng ngay giờ phút hiện tại, ãy sống sao cho xứng đáng, làm tròn bổn phận và công việc mỗi ngày. Như thế là tu giới, tu định, tu huệ, đó là cách báo Tứ trọng ân, đó là điều hạnh phúc.- Thật không ngờ em tiến bộ đến thế ! Thế mới xứng đáng là người học Phật chứ !- Đừng khen em. Hãy khen chiếc lá nầy ! Chúng tôi bước lên xe. Hàng cây lúc nãy không còn run rẩy, đôi chân tôi cũng vậy. Những hạt sương trên chiếc lá đã được mặt trời chiếu rọi biến đâu mất, như nước mắt tôi được thực tại tuệ giác soi chiếu đã khô đi. Tôi nhủ thầm: ”Sự thật là thế Q ạ ! Có ngày rồi mi sẽ nằm trong quan tài nhưng không biết là khi nào”. Rồi với ý nghĩ “lạc quan” ấy, tôi quay lại nhìn “thành phố của người chết” một lần nữa rồi mỉm cười bước đi…. Chiếc lá xanh vẫn còn nằm trong tay tôi….Nó đã hết run rẩy. (Nhớ về đám tang của một bạn đồng tu – VQ viết năm 1994) Mục lục CHIẾC LÁ XANH CHIẾC LÁ XANH Thích Nữ Viên QuangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: BuddhismtodayĐược bạn: NHDT đưa lên vào ngày: 1 tháng 2 năm 2007
Đặng Quang Tình Chiếc Máy Điện Thoại Mâm cơm vừa dọn ra thì đứa cháu xộc vào cửa:-Bác! Bác gái nguy kịch! Điện thoại gọi mãi không được. Cháu phải bắt xe bây giờ mới tới. Bác và anh về ngay kẻo không kịp. Ông Liên đứng dậy, thuận tay dấp đánh “rốp” vào cái máy điện thoại.Đường vắng, pha đèn bật hết cỡ, chiếc taxi phóng hết tốc lực mà ông Liên cứ luôn mômg dục:”Nhanh lên! Nhanh nữa lên!” Người con trai ngồi lặng len lén nhìn bố không cả dám thở mạnh, thỉnh thoảng chân lại chạm vào chân cậu em họ có ý bảo im lặng. Anh sợ cậu ta lại nhắc đến chuyện gọi điện thoại. Bà Liên thường bảo: “Bố con ông đúng là chó với mèo. Chuyện đâu đâu cũng gân cổ lên cãi nhau được”. Chẳng tin tử vi, tướng số, anh tự lý giải: “Bố con anh thường tranh luận về thời cuộc, chẳng qua là sự cách bức thế hệ. Thế hệ bố anh là lớp người đánh giặc cứu nước, thế hệ của những người coi lý tưởng là trên hết, sự hy sinh chịu đựng là lẽ sống, bao cấp là đảm bảo công bằng xã hội. Những điều đó anh không phủ nhận, nhưng cứ khư khư thì lỗi thời. Anh biết bố anh chẳng phải là người hủ lậu, nhưng rõ ràng khó thích nghi với thời cuộc, và khi máu gia trưởng nổi lên thì hết sức cực đoan.” Phải, ông Liên đâu phải là kẻ lạc hậu. Người khác mà như vậy, ông thừa lý lẽ vạch đúng sai bởi ông đã từng là cán bộ tuyên huấn lâu năm, đã từng qua trường Đảng Nguyễn Ái Quốc hẳn hoi. Sau những lần mắng mỏ con, ông cũng thấy mình không phải, nhưng lần sau đâu lại vào đấy, bởi nó đã thành máu thịt trong ông. Nói thành máu thịt cũng chẳng ngoa, bởi đời ông đã qua các đận: làm cán bộ hậu địch, bí thư, chủ tịch cơ sở. Quá nửa đời công tác, mà lại là cái nửa sung sức, sục sôi nhất, chịu trách nhiệm mọi mặt của cuộc sống nhân dân mà mình phụ trách. Bửu bối để bảo vệ mình trước súng giặc cũng như hoàn thành nhiệm vụ là lăn lộn cùng nhân dân mà vận động, thuyết phục, tổ chức. Công tác tuyên huấn sau này càng củng cố thêm tác phong công tác của ông, nên từ khi nghỉ hưu, trực tiếp cuộc sống phố phường ông thấy mình lạc lõng và bức xúc khi phải ra phường. Ông biết cuộc sống bây giờ không như trước, mọi việc phải tuân theo luật lệ, quy định, không thể tuỳ tiện, cảm tính; nhưng như vậy không có nghĩa là vô cảm. “Vô cảm trước nhân dân” đây là điều anh không thể chịu được khi bị bố mắng. Là chủ tịch phường, đâu phải anh không chịu nghe ý kiến nhân dân. Nhưng đâu có thể đáp ứng mọi yêu cầu bởi còn luật pháp, quy chế…Mà những con người quá độ (anh thường gọi những người có tuổi như vậy) thì đâu dễ tuân thủ, nhất là các ông bà hưu trí. Đây là điều bố anh thường xạc anh:” Quy định là cần thiết, nhưng quá độ là thực tế. Thời chúng tao tòng quân cứu nước chứ đâu có nghĩ đến quyền lợi, chế độ khi được nước? đâu có nghĩ đến giấy này, tờ nọ như bây giờ mà đòi hỏi, chuẩn bị? là nhà chức trách phải hiểu như vậy chứ!”. Cái khó nhất là ứng xử thích hợp thì bố lại chẳng chịu thông cảm. Có phải một mình chủ tịch là giải quyết hết được đâu? Công việc do bộ máy làm. Bộ máy được đào tạo theo quy chế, chủ tịch không thể phớt lờ họ; mà thực ra không thể cái gì cũng biết để có thể qua họ. Họ chưa ký trước thì chủ tịch cũng chảng dám dúng bút vào. “Thế còn trách nhiệm, quyền lực của chủ tịch ở đâu?” Trước câu hỏi này của bố, anh chỉ im lặng. Anh lại tiếc: giá cứ ở quận với cái chức phó phòng hoặc lên thành lăng quăng làm cái gì đấy có phải hơn không? Không phải anh không uốn nắn thái độ với nhân dân của của cán bộ, nhân viên. Anh không chịu được cảnh một nhân viên hạch một cán bộ lão thành đáng tuổi cụ :”Giấy xác nhận tham gia du kích, là cơ sở địch hậu đâu?” Hoặc với một cụ bà:” Không có giấy đăng ký kết hôn thì không giải quyết được!”Cái lý thì đúng nhưng sao mà vô nhân. Một lần không đợi chữ ký của cán bộ tư pháp, anh đã giải quyết tư cách pháp nhân cho một người mà anh biết rõ. Liền sau đó anh được chủ tịch quận là chú của cán bộ tư pháp nọ “thân mật” góp ý kiến:”cần tôn trọng pháp quy”. Ông Liên có một cái túi bằng giấy giang nâu. Nhiều lần anh đưaq cho bố những chiếc cặp giả da rất đẹp và tiện lợi, nhưng ông không chịu thay. Quả là người già khó loại bỏ những cái đã một thời gắn bó. Trong cái túi ấy có một lá thư mà khi nào soạn túi ông cũng mở nó ra xem và xúc động ngay từ dòng niên quốc:”Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm thứ X”. Hồi ấy hoà bình mới lập lại, từ chiến trường Lào, ông viết một lá thư cầu âu về quê hương- chưa một lần giáp mặt- theo địa chỉ mẹ ghi cho trước khi sang mặt trận, theo tên làng, tổng, phủ xa xưa. Hai mươi ngày sau ông nhậ được thư trả lời của Uỷ ban hành chính kháng chiến xã Dương Thành- cái tên ông chưa nghe bao giờ- cho biết: Xã đã tìm được bà nội của ông còn sống. Nhà bị giặc đốt (quê ông là vành đai trắng) đã được bà con giúp dựng lại. Thư hỏi “Ởiêm” gia đình đã được thực hiện giảm thuế nông nghiệp theo tiêu chuẩn nhà có người đi bộ đội chưa? Nếu chưa thì lấy xác nhận của đơn vị, gửi gấp về để xã thực hiện ngay vụ này. Thư còn dặn: có gì khó khăn , yêu cầu cứ viết thư về, xã có trách nhiệm giải quyết. Đưa thư cho con xem, ông bình luận:”Ngày ấy đang đợt 5 cải cách ruộng đất, lại còn nạn di cư vào Nam và chống hạn cứu đói hết sức bừa bộn, trình độ còn tưởng Xiêm là một tỉnh của nước ta, mà cán bộ tận tình với yêu cầu của dân như vậy”. Rồi hạ một câu: “Đúng là chính quyền của nhân dân”. Ông còn kể chính Chi bộ đã mai mối và đứng ra tổ chức cho ông bà nên vợ nen chồng. Bà là một cô gái mỏng mày hay hạt, đa năng của xã: vừa dậy bình dân học vụ, vừa chăm lo sức khoẻ cho cả làng, khối người nhòm ngó. Mẹ anh bảo:” Hai ông bí thư, chủ tịch tán cho bố mày riết lắm. Lơ mơ thì chưa chắc. Các ông ấy bảo: đấy là trách nhiệm của quê hương với người tiền tuyến”. Những chuyện này anh được nghe nhiểu lần. Lúc đầu rất thích, nhưng nghe mãi thành nhàm. Cái cảm động mất dần…rồi chết thật-thành vô cảm lúc nào không biết. Bà Liên cũng thường nói với con: công tác làng xã trước đây bận lắm mà chẳng có phụ cấp gì đâu. Vợ chồng cãi nhau, con hư, hàng xóm khúc mắc, gà bới vườn, vịt xục ao, vắng tin người thân…người ta đều tìm đến cán bộ giải bầy, nhờ giải quyết. Cán bộ làng xã ngày ấy chẳng giỏi giang gì nhưng được cái hết lòng với mọi người, nên được mọi người tin cậy, coi là chỗ dựa. “Chứ bây giờ-bà chép miệng- bố mày nói đúng đấy!nhân dân rất ngại ra phường, chứ đừng nói gì lên quận. Người ta ngại không vì thủ tục, mà ngại cái mặt lạnh băng, giọng nói hạch hỏi. Ai cũng khép nép, căng thẳng, lo âu dù chỉ xin một cái dấu xác nhận là dân sở tại. Bố mày nói đúng đấy: cán bộ chúng tao ngày trước ấy à…là cùng dân giải quyết công việc chứ không phải là hạch hỏi. Bà thường hay phanh những cuộc “mặt đỏ, tía tai” của hai bố con vì cả hai đều thuộc loại hiếu thắng. Bà lừ mắt một cái là anh im vì anh biết cái căng thẳng đã quá sức chịu đựng của mẹ. Còn ông chỉ một lời “bố mày nói đúng đấy” là ông dịu. Chẳng phải vì cái hiếu thắng được thoả mãn mà chính là ông rất thương bà cả đời vì bố con mà bệnh tật, lúc nào cũng chỉ mong giai đình vui vẻ. Bà cũng có cái bực con. Bực cả tuần biền biệt nơi công sở; thứ bẩy, chủ nhật lại biền biệt đâu đâu…Bực rồi lại thương vì nếu anh ở nhà thì cũng chẳng được nghỉ, lại mang phiền toái cho gia đình, nhiều khi lại là dịp cho bố con cãi nhau. Hầu như ngày nghỉ nào cũng có người đến nhà tìm anh trình bầy cái này, đề nghị cái kia mà ở công sở “không gặp được”, “không có thời gian”,” không tiện nói”…Thôi thì đủ chuyện: đất đai, giải toả, thuế má, đền bù, đãi ngộ…Có khi người ta kéo đến cả đoàn, náo động cả ngõ. Ngại nhất là những gói quà “nhân tiện về thăm quê”, “vừa đi nghỉ ở biển”, “cháu nó mới ở Tiệp về”…Không nhận là coi thường, có khi người ta lại cho là chê ít; mà nhận thì không thể, nhất là lo “cái nhân” bên trong. Gói quà bị đẩy đi đẩy lại đến ê chề. Có lần anh bắt con mang trả tận nhà. Cái máy điện thoại cũng là một phiền toái, nhất là những ngày nghỉ, giờ nghỉ…Rồi anh nẩy ra sáng kiến: khi ở nhà thì để kênh máy cố định. Mấy người biết được số điện thoại di động của anh? Mà có biết thì cũng dễ gì nhớ được cái dằng dăch của nhưnghx con số. Đến bố anh khi muốn gọi cho con cũng phải mở sổ tay ra tìm số. Càng khuya đường càng vắng. Chiếc xe vẫn phóng hết tốc lực. Người bố vẫn đăm đăm nhìn theo pha đèn quét sáng trưng. Người con vẫn ngồi im như thóc, thỉnh thoảng lại đá vào chân cậu em họ khi thấy môi cậu này mấp máy. Anh chàng sợ cậu ta lại nhắc đến chuyện gọi điện thoại./. Mục lục Chiếc Máy Điện Thoại Chiếc Máy Điện Thoại Đặng Quang TìnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Trọng Huân Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 10 tháng 12 năm 2010
Đặng Quang Tình Chiếc Máy Điện Thoại Mâm cơm vừa dọn ra thì đứa cháu xộc vào cửa:-Bác! Bác gái nguy kịch! Điện thoại gọi mãi không được. Cháu phải bắt xe bây giờ mới tới. Bác và anh về ngay kẻo không kịp. Ông Liên đứng dậy, thuận tay dấp đánh “rốp” vào cái máy điện thoại.Đường vắng, pha đèn bật hết cỡ, chiếc taxi phóng hết tốc lực mà ông Liên cứ luôn mômg dục:”Nhanh lên! Nhanh nữa lên!” Người con trai ngồi lặng len lén nhìn bố không cả dám thở mạnh, thỉnh thoảng chân lại chạm vào chân cậu em họ có ý bảo im lặng. Anh sợ cậu ta lại nhắc đến chuyện gọi điện thoại. Bà Liên thường bảo: “Bố con ông đúng là chó với mèo. Chuyện đâu đâu cũng gân cổ lên cãi nhau được”. Chẳng tin tử vi, tướng số, anh tự lý giải: “Bố con anh thường tranh luận về thời cuộc, chẳng qua là sự cách bức thế hệ. Thế hệ bố anh là lớp người đánh giặc cứu nước, thế hệ của những người coi lý tưởng là trên hết, sự hy sinh chịu đựng là lẽ sống, bao cấp là đảm bảo công bằng xã hội. Những điều đó anh không phủ nhận, nhưng cứ khư khư thì lỗi thời. Anh biết bố anh chẳng phải là người hủ lậu, nhưng rõ ràng khó thích nghi với thời cuộc, và khi máu gia trưởng nổi lên thì hết sức cực đoan.” Phải, ông Liên đâu phải là kẻ lạc hậu. Người khác mà như vậy, ông thừa lý lẽ vạch đúng sai bởi ông đã từng là cán bộ tuyên huấn lâu năm, đã từng qua trường Đảng Nguyễn Ái Quốc hẳn hoi. Sau những lần mắng mỏ con, ông cũng thấy mình không phải, nhưng lần sau đâu lại vào đấy, bởi nó đã thành máu thịt trong ông. Nói thành máu thịt cũng chẳng ngoa, bởi đời ông đã qua các đận: làm cán bộ hậu địch, bí thư, chủ tịch cơ sở. Quá nửa đời công tác, mà lại là cái nửa sung sức, sục sôi nhất, chịu trách nhiệm mọi mặt của cuộc sống nhân dân mà mình phụ trách. Bửu bối để bảo vệ mình trước súng giặc cũng như hoàn thành nhiệm vụ là lăn lộn cùng nhân dân mà vận động, thuyết phục, tổ chức. Công tác tuyên huấn sau này càng củng cố thêm tác phong công tác của ông, nên từ khi nghỉ hưu, trực tiếp cuộc sống phố phường ông thấy mình lạc lõng và bức xúc khi phải ra phường. Ông biết cuộc sống bây giờ không như trước, mọi việc phải tuân theo luật lệ, quy định, không thể tuỳ tiện, cảm tính; nhưng như vậy không có nghĩa là vô cảm. “Vô cảm trước nhân dân” đây là điều anh không thể chịu được khi bị bố mắng. Là chủ tịch phường, đâu phải anh không chịu nghe ý kiến nhân dân. Nhưng đâu có thể đáp ứng mọi yêu cầu bởi còn luật pháp, quy chế…Mà những con người quá độ (anh thường gọi những người có tuổi như vậy) thì đâu dễ tuân thủ, nhất là các ông bà hưu trí. Đây là điều bố anh thường xạc anh:” Quy định là cần thiết, nhưng quá độ là thực tế. Thời chúng tao tòng quân cứu nước chứ đâu có nghĩ đến quyền lợi, chế độ khi được nước? đâu có nghĩ đến giấy này, tờ nọ như bây giờ mà đòi hỏi, chuẩn bị? là nhà chức trách phải hiểu như vậy chứ!”. Cái khó nhất là ứng xử thích hợp thì bố lại chẳng chịu thông cảm. Có phải một mình chủ tịch là giải quyết hết được đâu? Công việc do bộ máy làm. Bộ máy được đào tạo theo quy chế, chủ tịch không thể phớt lờ họ; mà thực ra không thể cái gì cũng biết để có thể qua họ. Họ chưa ký trước thì chủ tịch cũng chảng dám dúng bút vào. “Thế còn trách nhiệm, quyền lực của chủ tịch ở đâu?” Trước câu hỏi này của bố, anh chỉ im lặng. Anh lại tiếc: giá cứ ở quận với cái chức phó phòng hoặc lên thành lăng quăng làm cái gì đấy có phải hơn không? Không phải anh không uốn nắn thái độ với nhân dân của của cán bộ, nhân viên. Anh không chịu được cảnh một nhân viên hạch một cán bộ lão thành đáng tuổi cụ :”Giấy xác nhận tham gia du kích, là cơ sở địch hậu đâu?” Hoặc với một cụ bà:” Không có giấy đăng ký kết hôn thì không giải quyết được!”Cái lý thì đúng nhưng sao mà vô nhân. Một lần không đợi chữ ký của cán bộ tư pháp, anh đã giải quyết tư cách pháp nhân cho một người mà anh biết rõ. Liền sau đó anh được chủ tịch quận là chú của cán bộ tư pháp nọ “thân mật” góp ý kiến:”cần tôn trọng pháp quy”. Ông Liên có một cái túi bằng giấy giang nâu. Nhiều lần anh đưaq cho bố những chiếc cặp giả da rất đẹp và tiện lợi, nhưng ông không chịu thay. Quả là người già khó loại bỏ những cái đã một thời gắn bó. Trong cái túi ấy có một lá thư mà khi nào soạn túi ông cũng mở nó ra xem và xúc động ngay từ dòng niên quốc:”Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm thứ X”. Hồi ấy hoà bình mới lập lại, từ chiến trường Lào, ông viết một lá thư cầu âu về quê hương- chưa một lần giáp mặt- theo địa chỉ mẹ ghi cho trước khi sang mặt trận, theo tên làng, tổng, phủ xa xưa. Hai mươi ngày sau ông nhậ được thư trả lời của Uỷ ban hành chính kháng chiến xã Dương Thành- cái tên ông chưa nghe bao giờ- cho biết: Xã đã tìm được bà nội của ông còn sống. Nhà bị giặc đốt (quê ông là vành đai trắng) đã được bà con giúp dựng lại. Thư hỏi “Ởiêm” gia đình đã được thực hiện giảm thuế nông nghiệp theo tiêu chuẩn nhà có người đi bộ đội chưa? Nếu chưa thì lấy xác nhận của đơn vị, gửi gấp về để xã thực hiện ngay vụ này. Thư còn dặn: có gì khó khăn , yêu cầu cứ viết thư về, xã có trách nhiệm giải quyết. Đưa thư cho con xem, ông bình luận:”Ngày ấy đang đợt 5 cải cách ruộng đất, lại còn nạn di cư vào Nam và chống hạn cứu đói hết sức bừa bộn, trình độ còn tưởng Xiêm là một tỉnh của nước ta, mà cán bộ tận tình với yêu cầu của dân như vậy”. Rồi hạ một câu: “Đúng là chính quyền của nhân dân”. Ông còn kể chính Chi bộ đã mai mối và đứng ra tổ chức cho ông bà nên vợ nen chồng. Bà là một cô gái mỏng mày hay hạt, đa năng của xã: vừa dậy bình dân học vụ, vừa chăm lo sức khoẻ cho cả làng, khối người nhòm ngó. Mẹ anh bảo:” Hai ông bí thư, chủ tịch tán cho bố mày riết lắm. Lơ mơ thì chưa chắc. Các ông ấy bảo: đấy là trách nhiệm của quê hương với người tiền tuyến”. Những chuyện này anh được nghe nhiểu lần. Lúc đầu rất thích, nhưng nghe mãi thành nhàm. Cái cảm động mất dần…rồi chết thật-thành vô cảm lúc nào không biết. Bà Liên cũng thường nói với con: công tác làng xã trước đây bận lắm mà chẳng có phụ cấp gì đâu. Vợ chồng cãi nhau, con hư, hàng xóm khúc mắc, gà bới vườn, vịt xục ao, vắng tin người thân…người ta đều tìm đến cán bộ giải bầy, nhờ giải quyết. Cán bộ làng xã ngày ấy chẳng giỏi giang gì nhưng được cái hết lòng với mọi người, nên được mọi người tin cậy, coi là chỗ dựa. “Chứ bây giờ-bà chép miệng- bố mày nói đúng đấy!nhân dân rất ngại ra phường, chứ đừng nói gì lên quận. Người ta ngại không vì thủ tục, mà ngại cái mặt lạnh băng, giọng nói hạch hỏi. Ai cũng khép nép, căng thẳng, lo âu dù chỉ xin một cái dấu xác nhận là dân sở tại. Bố mày nói đúng đấy: cán bộ chúng tao ngày trước ấy à…là cùng dân giải quyết công việc chứ không phải là hạch hỏi. Bà thường hay phanh những cuộc “mặt đỏ, tía tai” của hai bố con vì cả hai đều thuộc loại hiếu thắng. Bà lừ mắt một cái là anh im vì anh biết cái căng thẳng đã quá sức chịu đựng của mẹ. Còn ông chỉ một lời “bố mày nói đúng đấy” là ông dịu. Chẳng phải vì cái hiếu thắng được thoả mãn mà chính là ông rất thương bà cả đời vì bố con mà bệnh tật, lúc nào cũng chỉ mong giai đình vui vẻ. Bà cũng có cái bực con. Bực cả tuần biền biệt nơi công sở; thứ bẩy, chủ nhật lại biền biệt đâu đâu…Bực rồi lại thương vì nếu anh ở nhà thì cũng chẳng được nghỉ, lại mang phiền toái cho gia đình, nhiều khi lại là dịp cho bố con cãi nhau. Hầu như ngày nghỉ nào cũng có người đến nhà tìm anh trình bầy cái này, đề nghị cái kia mà ở công sở “không gặp được”, “không có thời gian”,” không tiện nói”…Thôi thì đủ chuyện: đất đai, giải toả, thuế má, đền bù, đãi ngộ…Có khi người ta kéo đến cả đoàn, náo động cả ngõ. Ngại nhất là những gói quà “nhân tiện về thăm quê”, “vừa đi nghỉ ở biển”, “cháu nó mới ở Tiệp về”…Không nhận là coi thường, có khi người ta lại cho là chê ít; mà nhận thì không thể, nhất là lo “cái nhân” bên trong. Gói quà bị đẩy đi đẩy lại đến ê chề. Có lần anh bắt con mang trả tận nhà. Cái máy điện thoại cũng là một phiền toái, nhất là những ngày nghỉ, giờ nghỉ…Rồi anh nẩy ra sáng kiến: khi ở nhà thì để kênh máy cố định. Mấy người biết được số điện thoại di động của anh? Mà có biết thì cũng dễ gì nhớ được cái dằng dăch của nhưnghx con số. Đến bố anh khi muốn gọi cho con cũng phải mở sổ tay ra tìm số. Càng khuya đường càng vắng. Chiếc xe vẫn phóng hết tốc lực. Người bố vẫn đăm đăm nhìn theo pha đèn quét sáng trưng. Người con vẫn ngồi im như thóc, thỉnh thoảng lại đá vào chân cậu em họ khi thấy môi cậu này mấp máy. Anh chàng sợ cậu ta lại nhắc đến chuyện gọi điện thoại./. Mục lục Chiếc Máy Điện Thoại Chiếc Máy Điện Thoại Đặng Quang TìnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Trọng Huân Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 10 tháng 12 năm 2010
Miêng Chiếc Mũ Khi chị ra khỏi nhà trời bắt đầu trở gió. Gío cuồn cuộn xoắn xít trên cây, quét mạnh xuống mặt đường rồi vươn lên hất tung chiếc mũ khỏi đầu chị - như đã bứt văng chiếc mũ Con Gái Ryan. Chị dừng lại nhìn mũ tấp vào hàng rào nhà bên cạnh, dửng dưng bỏ đi. Mẹ chạy ra gọi, hoảng hốt, van nài, bóng chị đã khuất chỗ quẹo con đường nhỏ. Mẹ tần ngần bước tới nhặt chiếc mũ ôm vào lòng, âm thầm vào nhà cùng lúc nước mắt lặng lẽ tràn mi. Bước lên ghế thấp úp mũ trên nóc cây máng, cử chỉ mẹ trang trọng suy ngẫm tìm hình ảnh thật con mình qua đống áo quần mắc la liệt chung quanh. Bộ len mỏng con vẫn khoác vào người ngày lạnh, bộ tập thể dục, bộ bận trong nhà và bộ ra đường... Cùng là áo quần, nhưng món nào phản ánh tâm hồn của con mẹ nhất ? Mẹ khép cánh cửa sổ gió vừa bật tung, nghĩ tới những cãi cọ giữa mẹ con, hình như nhiều hơn trò chuyện ngọt ngào. Nhưng con gái mẹ chẳng hiểu thế nào là đời sống an bình không lo chạy áo cơm tất bật. Nó muốn lăn mình trên những bức tranh vô giá trị hơn trên gấm vóc : - Mẹ để con tự do lựa chọn đời con. Con thương anh ấy ghê gớm. - Mẹ cũng vậy. Mẹ cũng thương con ghê gớm. - Nếu thương con thì mẹ phải tôn trọng tình yêu của con. - Nếu thương mẹ thì con cũng phải tôn trọng tình yêu của mẹ. (khóc) Mẹ chỉ có mình con. Con không thể cứ lãng mạn tin vào chuyện một túp lều tranh hai quả tim vàng. Tim dù vàng mà đói quá thì cũng thành tim chì thôi. Ngay cả cái nhà như cái chòi ấy, trời lạnh như vầy cũng chết rét chớ đừng nói tới cái gì khác ! Luôn luôn câu chuyện chấm dứt ở những giọt nước mắt trách móc tủi hờn của mẹ, vẫn không lối thoát. Những bức tranh lại ẩn hiện trong đầu, chập chờn trong tim con gái. Đúng là một cái chòi, một túp lều. Nhưng từng cộng tranh èo uột, từng mảng tường loang lở, đến cây ổi hay bụi chuối sau nhà, mấy bụi sả bụi răm cũng đã chứng kiến mối tình nồng nàn của họ. Và anh vẽ say sưa, trong cơn lên đồng, những bức tranh con gái gần như thoát tục. Anh vẽ quên đời, gió lửa, trăng hoa, mây đất, thú cây... chỉ là một, một mình con gái, nữ thần muôn loài ngự trị lên tất cả - ngự trị trong tim, trong đầu và trong cuộc đời bấp bênh sóng gió của anh. Anh nhắm mắt quay lưng lại mọi điều chỉ để nhìn ngắm một người. Trái tim anh thổn thức trong mỗi chiếc khung, mỗi lượt bố, mỗi sắc màu. Hai bàn tay phù phép của anh thu gọn để chỉ làm nổi bật một hình ảnh, một mối tình. Anh choáng váng ngất ngây trong mỗi cái vung tay lên giá vẽ, lịm người trong mỗi phút hoà màu, điên cuồng trong mỗi lần diễn tả. Và tâm hồn con gái dãn ra trong mỗi bức tranh, tâm hồn người yêu phô bày lên từng nét cọ. Nhưng làm sao mẹ hiểu điều đó khi tim mẹ đập không cùng một nhịp ? - Anh không bán những bức vẽ em. Đó là tất cả linh hồn anh. Mà linh hồn thì ai bán bao giờ. - Vậy thì thôi đừng vẽ em nữa, anh phải sống chứ ! - Nhưng làm sao anh sống nếu không vẽ em ? Câu chuyện cũng luôn luôn chấm dứt ở những giọt màu đam mê rơi vãi, và cũng không lối thoát. Chỉ có mẹ và người yêu mà trái tim yếu đuối con gái bước vào hai ngõ cụt. Con gái không thể nào làm mẹ hiểu mình cần tình yêu của người ấy ra sao, cũng như bất lực làm cho người ấy hiểu muốn sống thì phải bán "linh hồn" mình... Con gái đã khóc rất nhiều, âm thầm trong đêm. Mỗi ngày là một cuộc chiến đấu với chính mình trong khi dòng đời vẫn an bình trôi qua. Những bức tranh tuyệt tác vẫn tiếp tục ra đời. Tranh mùa xuân ngọt ngào như mật. Tranh mùa hè rực rỡ tinh cầu. Tranh mùa thu đằm thắm lời ru. Tranh mùa đông như con gái cần người yêu. Và tình yêu họ vẫn mượt mà. Mẹ vẫn nhỏ to chì chiết, than vãn, dỗ dành. Rồi một ngày vào thu, con gái bỗng nhẹ nhàng : - Mẹ, con bằng lòng. - Bằng lòng cái gì ? - Lấy người mẹ chọn. - Mày... con nói cái gì ? Con gái lên xe hoa, rực rỡ tranh mùa hè, đằm thắm tranh mùa thu. Nhưng mùa đông không cần tình yêu và mùa xuân thiếu mật. Con gái nhặt hai lá rơi trên áo bữa tiệc trong vườn, dùng góc sắc chiếc nhẫn cưới khắc hai tên ép sâu vào tủ áo. Chúng ta sống với nhau ở đây, xa cách mọi người. Khi cánh tủ khép lại là thế giới riêng của anh và em. Trong cái bít bưng của nó, em bên cạnh anh, gối đầu vào vai anh, nghe giọng nói ngọt ngào anh trên tóc, nghe hơi ấm lồng ngực anh truyền sức sống cho em. Những tranh chấp bần hàn hay ngày tháng sáng chiều là của thế giới bên ngoài, của con người. Anh và em là hai chiếc lá mùa thu rơi trên áo cưới. Hai chiếc lá khô, âm thầm nhưng bất diệt. Anh sẽ bảo hát đi em, hát nho nhỏ ru cho con ngủ... Giật mình vì tiếng khóc trẻ con, mẹ choàng tỉnh khỏi cơn mơ, lau mắt. Con gái đã bỏ đi, Mẹ muốn có cháu ngoại mang dòng họ danh giá thì mẹ có đây, giờ con sống cho con. Mấy chục năm rồi mẹ đã quên cách săn sóc trẻ sơ sinh. Giờ học lại từ đầu. Cơn bão rớt vô tình thiêu rụi một mái nhà tranh. Có hai người nắm tay nhau ngược gió. Họ cũng sẽ học lại mọi cái từ đầu. Và một ngày nào đó họ sẽ trở về - không phải để nhặt chiếc mũ của Con Gái Ryan - mà vì con gái vẫn là con của mẹ và là mẹ của con... MIÊNG Paris, le 1er Janvier, 2000 Mục lục Chiếc Mũ Chiếc Mũ MiêngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: amvcfree.frĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 13 tháng 5 năm 2005
Mouth Hat When she left the house, it started to get windy. The wind curled up and down the tree, swept down hard on the road, and then rose up to knock the hat off her head - as if it had ripped off Ryan's Daughter's hat. She stopped, looked at the hat, pulled it into the fence next door, and walked away indifferently. Mother ran out to call, panicked, pleading, her shadow had disappeared around the corner of the small road. Mom hesitantly walked forward, picked up the hat, hugged it, and silently entered the house while tears silently filled her eyes. Stepping onto a low chair and placing her hat on the top of the trough, the mother's solemn gesture pondered and searched for the true image of her child through the pile of clothes scattered around. The thin wool outfit you still wear on cold days, the gym outfit, the indoor outfit, and the street outfit... Both are clothes, but which item reflects your child's soul the most? Mom closed the window that the wind had just opened, thinking about the quarrels between mother and child, which seemed to be more than sweet conversations. But my daughter doesn't understand what it means to live a peaceful life without having to worry about running around for food. He wants to roll on worthless paintings more than on brocade: - Mom, let me freely choose my life. I love him terribly. - Mom too. Mom also loves you very much. - If you love your child, you must respect your love. - If you love your mother, you must also respect her love. (crying) Mom, I only have you. You can't just romantically believe in a thatched hut with two golden hearts. Even if the heart is golden, if it is too hungry, it will become a heart of lead. Even a house like that hut would freeze to death in this cold weather, not to mention anything else! The story always ends with the mother's tears of blame and sadness, there is still no way out. The pictures appeared in her head and flickered in her heart. Truly a hut, a hut. But every piece of shabby painting, every piece of broken wall, even the guava tree or the banana bush behind the house, the lemongrass bushes and laksa bushes also witnessed their passionate love. And he painted passionately, in a trance, pictures of girls that were almost escapist. He painted forgetting life, wind and fire, moon and flowers, clouds and earth, animals and trees... just one, only one girl, the goddess of all things who reigns over everything - reigns in the heart, in the head and in an uncertain life. Defend your troubles. He closed his eyes and turned his back on everything just to look at one person. His heart sobbed in every frame, every turn, every color. His two magical hands are condensed to highlight only one image, one love affair. He was stunned and ecstatic in each swing of his hand on the easel, numb in each minute of mixing colors, crazy in each expression. And the girl's soul is revealed in each painting, the lover's soul is revealed in each brush stroke. But how can I understand that when my heart doesn't beat at the same rhythm? - I don't sell your drawings. That's all your soul. But no one ever sells the soul. - Then stop drawing me, you have to live! - But how can I live if I don't draw you? The story always ends with the falling drops of passion, and there is no way out. With only her mother and lover, her weak heart entered two dead ends. A daughter cannot make her mother understand how much she needs his love, nor can he make him understand that if he wants to live, he must sell his "soul"... The daughter cried a lot, silently in her heart. night. Every day is a fight with yourself while life still passes peacefully. Masterful paintings continue to be born. Spring painting is as sweet as honey. Painting of brilliant summer planets. Autumn paintings are filled with lullabies. Winter painting is like a girl needing a lover. And their love is still smooth. Mom still complains loudly, complains, and coaxes. Then one day in the fall, the daughter suddenly said gently: - Mom, I am satisfied. - What are you satisfied with? - Marry the mother of your choice. - What... what did you say? Girls get married, resplendent in summer, lovingly in autumn. But winter doesn't need love and spring lacks honey. The girl picked up two fallen leaves from the party dress in the garden, used the sharp corner of the wedding ring engraved with two names to press it deep into the dresser. We live together here, away from everyone. When the closet door closes, it's a private world for you and me. In its silence, I am next to you, resting my head on your shoulder, hearing your sweet voice in your hair, hearing the warmth of your chest giving me life. The disputes of poverty or the days of morning and evening are of the outside world, of people. You and I are two autumn leaves falling on a wedding dress. Two dry leaves, silent but immortal. I'll tell you to sing, sing a little lullaby to help your child sleep... Startled by the sound of a child crying, mother woke up from her dream and wiped her eyes. My daughter has left, I want to have a grandchild with a prestigious family name, so I have it, now you live for me. For decades, mothers have forgotten how to take care of newborn babies. Time to start over from the beginning. The storm accidentally burned down a thatched roof. There were two people holding hands against the wind. They will also learn everything from the beginning. And one day they will return - not to pick up Ryan's Daughter's hat - but because she is still my daughter and your mother... MOUTH Paris, le 1er Janvier, 2000 Table of contents Hat Hat MiengWelcome to read the titles from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: amvcfree.fr Posted by: Ct.Ly on: May 13, 2005
Nguyễn Hoài Nam Chiếc mũ Nàng mượn tôi chiếc mũ. Tôi ngại ngần nhìn nàng. Chiếc mũ mềm tôi thường hay đội, nó cũ cũ, nhầu nhầu dầm mưa dãi nắng nên bạc mầu và thấm mồ hôi, hẳn là không được sạch sẽ cho lắm. Thấy tôi cỏ vẻ như không nhiệt tình, nàng dẩu môi, nhăn mặt quay đi. Tôi vội vã theo nàng bảo nhỏ: "Để anh chạy ù ra ngoài mua cho em mũ khác đi". Nàng lắc đầu: "em thích cái này cơ". Chiếc mũ theo nàng hết ngày này sang ngày khác. Đôi khi nó được đội quay ngược lại, lúc ấy trông nàng ngồ ngộ. Nàng thấy tôi nhìn chăm chú, liền vênh cái mặt lên, chiếc mũi hếch xinh xinh như một dấu chấm hỏi làm tôi phì cười. Tôi bảo nàng: "Này nuợn lâu rồi đấy, trả mũ đây". “Còn lâu". Nàng buông thõng một câu rồi ù té cứ như sợ tôi lấy mất. Khi ấy là mùa hạ, một mùa hạ chói chang, nắng lắm mưa nhiều. Có một hôm tôi đi giữa trưa hè đổ lửa. Bất chợt, cơn mưa ào tới, tôi vẫn vội vã đi. Tối về, chợt thấy rét run và cơn sốt ập tới. Tôi không nghĩ bất hạnh lại phủ bóng xuống đời tôi. Suốt cả tháng trời vật lộn với những cơn mê sảng, khi tỉnh lại tôi thấy khuôn mặt nàng hiện ra trước mắt tôi. Tôi yếu ớt nhìn quanh thấy trên chiếc tủ con đặt cạnh giường bệnh một lọ hoa tươi và thật lạ, cạnh đó là chiếc mũ. Nó vẫn thế, cũ cũ nhầu nhầu. Nàng mỉm cười, một nụ cười rầu rĩ cứ như tôi vừa mới ở thế giới bên kia trở về. Chỉ tới khi tôi hốt hoảng thấy đôi chân không còn cử động được nữa, nàng mới mím chặt môi, cố nén tiếng nấc nghẹn ngào nắm chặt lấy bàn tay tôi thì thầm bảo: "Em yêu anh và sẽ theo anh suốt đời". Tôi kinh hoàng khi hiểu ra rằng vậy là tôi bị liệt, suốt đời sẽ gắn mình trên xe lăn. Khi ấy, tôi cứ nghĩ nàng làm thế chỉ là để an ủi tôi thôi và tôi gào lên như một kẻ mất trí: "Không, không, không thể thế được, cô cút đi cho tôi nhờ”. Nàng tái mặt, chạy vội ra ngoài và suốt cả một quãng thời gian dài tôi không sao quên được tiếng khóc nghẹn ngào nức nở của nàng vọng vào qua khe cửa. Tôi cứ nghĩ tôi đã mất nàng vĩnh viễn và cảm thấy hả hê cứ như vừa mới được trả thù đời. Ngày hôm sau tôi ra viện, trong lòng tràn ngập nỗi đau đớn bi quan, chán nản. Tôi yêu cầu gia đình không tiếp bất cứ ai đến thăm. Nhìn ánh mắt lạnh lùng ráo hoảnh của tôi, cả nhà tôi im lặng. Cha khẽ thở dài, mẹ vội quay đi giấu những giọt nước mắt tuôn rơi, còn em gái tôi, trong đôi mắt trong veo của nó đọng lại một vệt đen tối sẫm. Suốt cả tháng trời, tôi chìm đắm trong nỗi cô đơn cay đắng hận đời. Đã qua mùa hạ rồi, trời trong xanh, nắng vàng rực rỡ. Qua khung cửa sổ nhỏ tôi nhìn ra bên ngoài, làn gió thu nhè nhẹ thổi vào mơn man, tôi khẽ rùng mình chợt nhận ra mình đang sống. Dầu sao thì vẫn cứ phải sống bởi vì ta đang tồn tại tức là ta đang sống. Thời gian thật kỳ lạ, nó là phép màu để người ta phải quên đi thực tại dù là thực tại đen tối nhất. Tôi biết rằng đằng nào thì số phận cũng đã giáng cho tôi một đòn chí mạng, dù sao đi chăng nữa cũng chẳng thể nào thay đổi được số phận. Tôi cất tiếng gọi mẹ. Chao ôi, nghe tiếng chân mẹ lập cập đi lên cầu thang mà lòng tôi xót xa ân hận. Những ngày qua, hẳn là mẹ đau đớn biết nhường nào, vậy mà tôi... Nhìn ánh mắt rạng rỡ của mẹ tôi biết mẹ mừng khôn tả. Và thật lạ lùng khi mẹ đưa cho tôi xem một vật. Nó đấy, cái mũ cũ cũ nhầu nhầu mà nàng đã mượn tôi không trả. Tôi cầm lấy nó sững sờ khi nhìn thấy trong lòng mũ một dòng chữ "I love you" và in lên đó là một chiếc môi thắm đỏ. Tôi ôm khư khư chiếc mũ vào lòng còn hơn ôm một báu vật nhưng rồi lại thảng thốt buông rơi. Mẹ đau đớn nhìn nét mặt thất thần của tôi, ôm tôi vào lòng vuốt nhẹ mái tóc rồi thì thầm bảo tôi: "Dũng cảm lên con. Thảo nó yêu con lắm đấy". Có cái gì để tôi tin vào lời mẹ không nhỉ?! Không, chẳng có gì hết và với tấm thân tật nguyền này tôi có gì để mà cho nàng. Tôi lạnh giọng bảo mẹ: "Con không gặp Thảo đâu mãi mãi". Tôi đi học trở lại nghiến răng mà học theo đúng nghĩa của từng từ. Đó là những ngày cơ cực nhất mà mẹ đã trải qua. Mẹ xin nghỉ làm, bán hàng nước vỉa hè để có thời gian đẩy xe cho tôi tới trường... Cầm tấm bằng đỏ kỹ sư tin học trên tay, nước mắt mẹ hoà cùng nước mắt tôi. Một ngày mới đã bắt đầu, nhưng trong lòng tôi lại tràn ngập cảm giác trống rỗng. Ngồi bên khung sổ, tôi thẫn thờ nghĩ tới một ngày mai không biết sẽ ra sao, bao giờ tôi mới hết trở thành gánh nặng của gia đình. Và khi ấy, ô hay sao lại là chiếc mũ đong đưa nơi khung cửa sổ. Nó vẫn thế, cũ cũ nhầu nhầu. Nhưng dòng chữ ấy và hình chiếc môi đỏ thắm vẫn còn đó vẹn nguyên tươi mới như thể mới chỉ là ngày hôm qua. Tôi thét lên một tiếng như muốn vỡ cả lồng ngực: "Thả…o…o!!!". Ôm nàng vào lòng, niềm hạnh phúc trong tôi là vô bờ. Ngả đầu vào nơi bờ vai tôi, nàng thì thầm kể cho tôi nghe những tháng ngày đằng đẵng, thui thủi một mình mang theo tình yêu vô vọng để sống, để học hành, để nhớ thương vơi đầy. Đã biết bao lần nàng đứng lặng bên góc phố dõi nhìn theo bóng xe lăn mà lòng rưng rưng. Sau này tôi mới biết, suốt những năm tháng qua, tất cả những đồng tiền bé nhỏ mà nàng kiếm được khi đi làm gia sư đều được nàng dành dụm gửi mẹ đỡ đần cho tôi. Có một cuộc đời nào vừa bất hạnh lại vừa may mắn như tôi không. Khi tôi nắm tay nàng đi giữa cuộc đời tôi không biết mình đang mơ hay thực. Chỉ biết là tôi đang có một nàng tiên ở bên cạnh. Ngày chúng tôi cưới nhau, bên chiếc xe lăn và chùm hoa cưới, chiếc mũ treo trên thành xe. Nó vẫn thế, cũ cũ nhầu nhầu nhưng trong lòng tôi dòng chữ và chiếc môi đỏ thắm cứ lấp lánh như những vì sao. Nàng cúi xuống bên tôi, đôi môi thăm đỏ lướt nhẹ trên má tôi, tim tôi đập liên hồi bởi tôi quá đỗi yêu nàng. Hạnh phúc chẳng ở đâu xa, nó ở quanh đây trong mỗi con người chúng ta. Bạn hãy tin đi, chẳng bao giờ trên đời này hết chuyện cổ tích đâu./. Mục lục Chiếc mũ Chiếc mũ Nguyễn Hoài NamChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm : Conbo2 Nguồn: vov.orgĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 10 năm 2005
Nguyen Hoai Nam Hat She borrowed me a hat. I hesitated to look at her. The soft hat I often wear is old, worn out in the rain and sun, so it's discolored and sweat-soaked, probably not very clean. Seeing that I seemed unenthusiastic, she pursed her lips, grimaced and turned away. I quickly followed her and told her: "Let me run out and buy you another hat." She shook her head: "I like this." The hat follows her day after day. Sometimes it is turned upside down, then she looks funny. She saw me looking intently and immediately raised her face, her pretty upturned nose like a question mark, making me laugh. I told her: "I've been in debt for a long time, give me back my hat." "Not for a long time." She let out a sentence and then gasped as if she was afraid that I would take it away. It was summer, a bright summer, very sunny and rainy. One day I went out in the middle of a hot summer afternoon. Suddenly, , the rain came, I still hurried away. At night, I suddenly felt cold and a fever came. I did not think that misfortune would shadow my life. For a whole month, I struggled with delirium When I woke up, I saw her face appear before my eyes. I looked around weakly and saw a vase of fresh flowers on the small cabinet next to the hospital bed and, strangely enough, next to it was a hat that was still the same, old and wrinkled. She smiled, a sad smile as if I had just returned from the other world. Only when I panicked and saw that my legs could no longer move, did she tighten her lips, trying to suppress her sobs. He held my hand tightly and whispered, "I love you and will follow you forever." I was horrified when I realized that I was paralyzed and would be confined to a wheelchair for the rest of my life She did that just to comfort me and I screamed like a lunatic: "No, no, that's not possible, please go away." She turned pale, rushed out and for a long time I couldn't forget the sound of her sobbing coming through the crack in the door. I thought I had lost her forever and felt gloating as if I had just gotten revenge. The next day I left the hospital, filled with pain, pessimism, and depression. I asked my family not to welcome anyone to visit. Looking at my cold eyes, my whole family fell silent. Father sighed softly, mother quickly turned away to hide her falling tears, and my sister had a dark streak in her clear eyes. For a whole month, I was immersed in bitter loneliness and hatred for life. Summer is over, the sky is clear, the sun is bright. Through the small window I looked outside, the autumn wind gently blew in, I shivered slightly and suddenly realized I was alive. Anyway, we still have to live because we exist, which means we are alive. Time is strange, it is a miracle that makes people forget even the darkest reality. I knew that fate had dealt me ​​a fatal blow anyway, no matter what, there was no way I could change fate. I called out to my mother. Alas, hearing my mother's footsteps clattering up the stairs made my heart ache with regret. These past few days, how much pain my mother must have been in, yet I... Looking at my mother's radiant eyes, I knew she was indescribably happy. And it was strange when my mother showed me something. There it is, the old, wrinkled hat that she borrowed from me and didn't return it. I picked it up and was stunned when I saw the words "I love you" inside the hat and printed on it was a red lip. I held the hat closer to my heart than holding a treasure, but then suddenly let it fall. Mom looked at my confused face in pain, hugged me, gently stroked my hair, and whispered to me: "Be brave, my child. Thao loves you very much." Is there anything I can believe in my mother's words?! No, there is nothing and with this disabled body I have nothing to give her. I coldly told my mother: "I won't see Thao forever." I went back to school and gritted my teeth and learned the true meaning of every word. Those were the most difficult days that my mother went through. Mom took a leave of absence from work, selling water on the sidewalk so she could have time to push my cart to school... Holding the red degree in information engineering in her hand, her tears mixed with mine. A new day has begun, but my heart is filled with an empty feeling. Sitting by the window, I absent-mindedly thought about what tomorrow would bring, and when I would stop being a burden to my family. And at that time, the umbrella or hat was swinging in the window frame. It's still the same, same old, same old. But those words and the image of the crimson lip are still there as fresh as if it were only yesterday. I screamed as if my chest would burst: "Let...o...o!!!". Holding her in my arms, the happiness in me is boundless. Leaning her head on my shoulder, she whispered to me about the long days spent alone with hopeless love to live, to study, and to remember all the love. How many times had she stood silently on the corner of the street, watching the shadow of the wheelchair with tears in her eyes? I later learned that all these years, all the little money she earned as a tutor was saved by her and sent to her mother to take care of me. Is there a life that is both unfortunate and lucky like mine? When I held her hand and walked through life, I didn't know if I was dreaming or real. Just know that I have a fairy by my side. The day we got married, next to the wheelchair and wedding bouquet, the hat hanging on the side of the car. It's still the same, old and wrinkled, but in my heart the words and the crimson lips still sparkle like stars. She bent down next to me, her red lips gently brushed my cheek, my heart pounded because I loved her so much. Happiness is not far away, it is around here in each of us. Believe it or not, there will never be an end to fairy tales in this world./. Table of contents Hat Hat Nguyen Hoai NamWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for following the entire story. Source: onion: Nguyen Kim Vy. Collected: Conbo2 Source: vov.org Uploaded by friend: Ct.Ly on: October 15, 2005
Ngô Phan Lưu Chiếc mũ 'phớt' Bà lón thón bước tới, bà cau mày, bà mở to mắt: “Chiếc mũ phớt rách ư? Nó ở đâu nhỉ?”. Mắt bà láo liêng ngó bốn phương tám hướng. Bà không trông thấy chiếc “phớt” rách ở đâu cả.Có một hôm, cũng lâu (bao lâu cũng được), chú Ba Bộng cơm nóng giắt lưng, đi Hòn Đắng hái củi. Hòn Đắng cũng gần thôi.Hoàng hôn vừa buông, chú Ba Bộng kĩu kịt gánh củi trên vai, bon chân về nhà.Trong ánh hoàng hôn nhá nhem, cảnh vật bỗng dưng kỳ lạ. Có những bụi lau bỗng lớn đùng, phe phẩy như đuôi trâu. Đoạn dây thừng hóa thành con rắn. Cồn mối như ông Ba Bị (Cọp) ngồi rình... Trong tình trạng ánh sáng như thế, thị giác con người mặc sức chạy rong. Rõ ràng là… người ta muốn thấy thứ gì tuỳ thích!Đúng thời điểm kỳ lạ này, chú Ba Bộng bỗng thấy chiếc mũ “phớt” của ai làm rớt dọc đường.Mũ “phớt” là loại mũ quê tôi rất chuộng. Thậm chí, có người cứ đêm xuống là nằm chiêm bao thấy mình đội trên đầu! Mũ “phớt”, đó là một loại mũ nỉ có vành được hấp khá cứng. Đầu mũ có nếp gập lõm tam giác, chỉ cần kẹp nhẹ hai ngón tay vào đấy, là có thể nhấc chiếc mũ lên đội đầu. Cử chỉ này trông lịch duyệt vô song. Phụ nữ có thể chết mê, chết mệt.Lúc này, cho dù đói rã ruột như chuột nhà thờ, chú Ba Bộng vẫn săn chân tiến tới.Dừng chân trước chiếc mũ “phớt”, chú hạ gánh củi xuống, xoa xoa hai tay, hoan hỉ, lẩm bẩm: “Ngày mai, mình có thể đội nó dự tiệc cưới được đây!”.Chú vội nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, xoa xoa. Cử chỉ xoa xoa hai lòng bàn tay là một thói quen trọng đại, trước khi cầm nắm một vật gì trọng đại.Chú mỉm cười, chú thò tay nhặt chiếc mũ.Đột ngột, chú nhíu mày, môi giật giật: “Ôi, chiếc mũ lỏng phèo!” Chú Ba Bộng vội đưa tay lên ngửi. Chú hắt hơi, chú nhăn mặt, chú chửi thề: “Mẹ kiếp! Bãi cứt trâu mới ra lò nóng hổi!”Chú rảy tay lia lịa, tay chú đã cắm sâu vào cái mũ khốn kiếp. Chú tìm bụi cỏ để chùi tay, thì... đột ngột chú Ba Bộng thấy đằng sau có con người đi tới...Chú Ba Bộng vội nhấc gánh củi lên vai, chú lớn tiếng: “Mẹ kiếp! Tưởng chiếc mũ “phớt” lành, hóa ra chiếc mũ “phớt” rách!”.Dứt lời, chú kĩu kịt gánh củi, sải chân chạy biến...Người đi phía sau chú Ba Bộng là lão Trại. Thật kỳ lạ, lão Trại cũng là tín đồ của mũ “phớt”.Lão Trại nhíu mày nhìn quanh quất: “Mũ phớt ư? “Phớt” thì lành, rách gì cũng là “phớt”, chả lẽ là nón quai thao?”.Số là, vào giờ chạng vạng này, lão Trại quảy ống trúm nhử lươn.Quê tôi, người ta chặt tre từng đoạn khoảng một mét, thông mắt ngăn, bện “toi” tra vào miệng trúm, bên trong toi, họ đựng giun chết, rồi dìm đoạn tre ấy xuống nước. Thế là giun bay mùi, lươn tự động chui vào, lãnh bản án xử trảm! Việc cứ giỡn thế mà nhiều tiền đấy! Lươn của lão Trại cứ phơi trên đĩa nhà hàng, nằm khoanh tròn trong các “lẩu” quán... Người ta khoái lươn vì lươn chủ trị suy thận, đau lưng!Lúc này, lão Trại đang đứng trước chiếc mũ “phớt”. Lão thả trí tưởng tượng chạy rong: Rằng lão đang mặc áo bà ba vải trắng, cổ bâu, nút thắt con bọ, chân mang dép Lào xanh lá mạ, khăn rằn vắt vai, và... trên đầu chễm chệ chiếc mũ “phớt”! Chiếc mũ “phớt” đã được lão đội trên đầu mình rồi, cho dù lão chưa nhặt!Lão Trại hoan hỉ thò tay. Lão nhíu mày: “Quái! Cái phớt lỏng à?”. Lão đưa tay lên ngửi: “Cha mẹ ơi! Cái “phớt” chết tiệt!”.Rất đột ngột, như có giác quan thứ sáu, lão Trại quay lại phía sau: “Ồ, à, lại có loài người đi tới”.Lão thở phào, quảy gánh ống “trúm” lên vai, thả tiếng nói bay theo gió bốn phương: “Tưởng thằng đi trước nói giỡn. Đúng là cái mũ “phớt” rách thật!”.Thốt xong, lão bon chân sải biến trong đêm…Loài người mà lão Trại vừa nói ban nãy, đó là bà Còm, người xóm Cua.Bà lón thón bước tới, bà cau mày, bà mở to mắt: “Chiếc mũ phớt rách ư? Nó ở đâu nhỉ?”. Mắt bà láo liêng ngó bốn phương tám hướng. Bà không trông thấy chiếc “phớt” rách ở đâu cả.Bà vội nhìn lên trời, bà vội nhìn xuống đất. Bà căng mắt, bà mỉm cười: “Thì chiếc phớt nằm đây, chứ đâu!”.Trước mắt bà, hình ảnh chiếc mũ “phớt” rất to. Bà xoa tay lẩm bẩm: “Thế mới vừa cái đầu quá cỡ thợ mộc của ông nhà tôi!” Lập tức, bà thò tay nhặt. Bà dừng tay lại, bà nghiêng đầu nghe ngóng. Bà nhíu mày: “Quái lạ! Mũ miện gì thế này?!”. Bà cũng lại đưa tay lên ngửi.Xin phép quý độc giả, có một chân lý như thế này: “Đông người nhưng ít cử chỉ.” Quả vậy, con người có đến 6 tỷ, đến 7 tỷ, nhưng cử chỉ thì một triệu là cùng. Thế nên, cử chỉ “đưa tay lên mũi ngửi!” là một cử chỉ khuôn mẫu cho đông người xài chung.Lại nói tiếp bà Còm. Sau khi dùng "cử chỉ khuôn mẫu” ấy, bà ách xì liên hồi, mũi khịt khịt hơi ra, bà nôn oẹ. Ừ, chiếc mũ “phớt” càng còn hơi tay, càng dễ bị nôn oẹ.Bà này cũng có giác quan thứ sáu. Bà vội nhìn ra đằng sau, mặc dù bà đang mửa thốc tháo. Lại cũng có con người đi tới. Giờ chạng vạng, hình như con người đi nhiều hơn con vật.Bà liền chửi toáng lên: “Thằng chó chết. Cái mũ phớt rách mà nó dám bảo lành”. Chửi xong, tay cứ chích lên Trời, bà chạy biến như bị ma đuổi!...Hẳn quý độc giả thừa biết rằng, thế nào cũng có người lại nhặt chiếc mũ “phớt” cho mà xem. Một trăm phần trăm, thế nào cũng vướng.Để kết luận, thì phải nói về cái kết luận.Có nhiều lối kết luận, vì kết luận có thể muôn màu muôn vẻ, thiên hình vạn trạng. Nhưng tất cả những lối kết luận ấy là láo.Lối kết luận chân chính, phải là lối kết luận hiện trường. Và đây, là lối kết luận hiện trường:Sáng ra, chú Ba Bộng cố tình dậy sớm. Dậy sớm để đi kiểm tra chiếc mũ “phớt”.Đây là quy luật tâm lý ngành tội phạm học: Mình gây tai nạn cho người khác, thế nào cũng lò mò tới chỗ xảy ra tai nạn để xem thử! Và cái quy luật chết tiệt ấy đã chi phối chú Ba Bộng.Đúng chiếc mũ “phớt” của đêm rồi, chú Ba Bộng sửng sốt: “Lạ thật! Nó chỉ còn... cái vành!”. Mục lục Chiếc mũ 'phớt' Chiếc mũ 'phớt' Ngô Phan LưuChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: eVanĐược bạn: Thanh Vân đưa lên vào ngày: 11 tháng 9 năm 2008
Ngo Phan Luu The 'felt' hat She tiptoed forward, she frowned, she opened her eyes wide: “A torn fedora? Where is it? Her eyes were wandering and looking in all four directions. She didn't see the torn "felt" anywhere. One day, a long time ago (as long as it took), Uncle Ba Bong packed hot rice and went to Hon Dang to pick firewood. Hon Dang is also close by. As soon as dusk fell, Uncle Ba Bong carefully carried the firewood on his shoulders and walked home. In the twilight, the scene suddenly became strange. There were bushes of reeds that suddenly grew huge, waving like buffalo tails. The rope turned into a snake. Termite dunes are like Mr. Ba Be (Tiger) sitting and waiting... In such a state of light, human vision can run freely. Obviously... people see whatever they want! At this strange time, Uncle Ba Bong suddenly saw someone's "felt" hat dropped along the road. "Felt" hats are my favorite type of hat in my hometown. Some people even dream about wearing it on their head every night! "Felt" hat, which is a felt hat with a brim that is steamed quite hard. The top of the hat has a concave triangular fold, just need to lightly pinch two fingers into it to be able to lift the hat on your head. This gesture looks incredibly elegant. Women can die of boredom and fatigue. At this time, even though he was as hungry as a church mouse, Uncle Ba Bong still walked forward eagerly. Stopping in front of his "felt" hat, he put down his load of firewood and rubbed his cheeks. He held his hand, happily, muttering: "Tomorrow, I can wear it to the wedding party!" He quickly spit into his palm and rubbed it. The gesture of rubbing the palms of the hands is an important habit, before holding something important. He smiled, he reached out to pick up the hat. Suddenly, he frowned, his lips twitched: "Oh, loose hat!” Uncle Ba Bong quickly raised his hand to smell. He sneezed, he winced, he cursed: “Damn it! The buffalo shit just came out of the oven, hot!” He shook his hand repeatedly, his hand was deeply buried in the damn hat. He looked for some grass to wipe his hands, then... suddenly Uncle Ba Bong saw someone coming from behind... Uncle Ba Bong quickly lifted the load of firewood onto his shoulder, he shouted loudly: "Damn it! I thought the "felt" hat was good, but it turned out that the "felt" hat was torn! "After saying that, he carefully carried the firewood and ran away in stride...The person walking behind Uncle Ba Bong was Mr. Trai. Strangely enough, Mr. Trai is also a fan of felt hats. Mr. Trai frowned and looked around: "Felt hats? "Felt" is good, anything torn is "felt", is it a hat with straps?". Luckily, at this twilight hour, Mr. Trai used a fishing net to lure eels. In my hometown, people cut bamboo into pieces about one meter, unblocked, braided "toi" and put it in the mouth of the shelter, inside me, they put dead worms, then submerged that piece of bamboo into the water. So the worms flew away and the eels automatically crawled in, receiving the sentence of beheading! Just joking like that makes a lot of money! Mr. Trai's eels keep drying on restaurant plates, lying in circles in "hot pot" shops... People love eels because they cure kidney failure and back pain! At this time, Mr. Trai is standing in front of his "felt" hat. . He let his imagination run wild: That he was wearing a white cotton shirt, plaid collar, beetle knot, green Lao slippers, a bandana draped over his shoulders, and... on his head was a hat. felt"! The old hat was already on his head, even though he hadn't picked it up yet! Lao Trai happily reached out his hand. The old man frowned: "Fuck! Is the seal loose?”. He raised his hand to smell: "Dear parents! Damn "flop"! Very suddenly, as if he had a sixth sense, Mr. Trai turned back: "Oh, ah, there's a human coming again." He breathed a sigh of relief, holding the pipe "buzz". on his shoulder, letting his voice fly in the four winds: "I thought the guy in front was joking. What a tattered "felt" hat!" Having finished speaking, he strode away into the night... The human being that Mr. Trai had just talked about earlier was Mrs. Com, from the Cua neighborhood. She tiptoed forward, frowning. eyebrows, she opened her eyes wide: “A torn fedora? Where is it? Her eyes were wandering and looking in all four directions. She did not see the torn "felt" anywhere. She quickly looked up at the sky, she quickly looked down at the ground. She strained her eyes and smiled: "The felt hat is here, not there!" Before her eyes, the image of the felt hat was very large. She rubbed her hands and muttered: "That fits my grandfather's carpenter-sized head!" Immediately, she reached out to pick it up. She stopped, tilted her head and listened. She frowned: "Strange! What kind of crown is this?!". She also raised her hand to smell it. Dear readers, there is a truth like this: "There are many people but few gestures." Indeed, humans have up to 6 billion, up to 7 billion, but gestures are only a million. Therefore, the gesture “put your hand to your nose and smell!” is a model gesture for many people to share. Let's talk again, Mrs. Com. After using that "stereotypical gesture", she blew out repeatedly, snorted air from her nose, and vomited. Yes, the more airy the hat was, the more likely it was that she would vomit. This lady also had a feeling. The sixth official. She quickly looked behind her, even though she was vomiting. There were also people coming at dusk. It seemed like there were more people walking than animals. She immediately cursed: "Dog dead. The felt hat was torn and he dared to say goodbye." After cursing, her hand continued to prick the sky, and she ran away as if chased by a ghost!... Surely readers know that someone will pick up the hat. Let's see. One hundred percent, there will be problems. To conclude, we have to talk about the conclusion. There are many ways to conclude, because conclusions can be colorful and take on many different shapes. But all of those conclusions are lies. The true conclusion must be the one at the scene. And this is the conclusion at the scene: In the morning, Uncle Ba Bong deliberately got up early to go check the "felt" hat. This is the psychological law of criminology: If you cause an accident for someone else, you will inevitably go to the place of the accident to take a look! And that damn rule governed Uncle Ba Bong. Right in the "flap" hat of the night, Uncle Ba Bong was shocked: "That's strange! It's just... the rim! Table of contents The 'felt' hat The 'felt' hat Ngo Phan LuuWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: eVan Uploaded by friend: Thanh Van on: September 11, 2008
Lưu Thu Hương Chiếc Nhẫn Cỏ Tặng K.A. bạn tôi Chiếc nhẫn được tết từ những sợi cỏ mảnh mai ngắt ở ven hồ. Khi người con trai lồng chiếc nhẫn vào ngón tay cô gái, nó vẫn còn phảng phất hương cỏ và xanh nguyên. Mặt trời đỏ ối lẩn sau những tàu lá sen xanh thẫm. Những tia nắng cuối cùng rớt xuống mặt hồ. Trong buổi hoàng hôn đó, chiếc nhẫn cỏ thay cho một lời tỏ tình. Nhiều năm đã trôi qua kể từ buổi ấy. Người con trai giờ đã rất xa. Anh không biết rằng ngày anh ra đi, người bạn gái của anh đã khóc ướt đẫm những trang giáo trình mỗi giờ lên lớp. Lau nước mắt cho cô là cô bạn thân cùng lớp. Ngày ra trường, hai người bạn gái tự mua hoa tặng nhau rồi chở nhau đến bên bờ hồ nhìn mặt trời lặn. Một thời sinh viên trong trẻo đã qua đi, mang theo cả mối tình đầu tha thiết. Ở nơi nào đó, anh có ngắm hoàng hôn mỗi buổi chiều? Thành phố mỗi ngày thêm ồn ào và chật chội. Hồ sen giờ đông người qua lại. Xe gắn máy nối đuôi nhau phóng bụi mờ. Những buổi chiều yên ả trở nên khan hiếm. Không gian cứ thu hẹp lại dần. Nhà cửa bắt đầu mọc lên. Quanh hồ, đất đá, cát sỏi, gạch vụn vương vãi. Có những bàn chân người xéo nát lên đám cỏ mịn màn thuở trước. Nhìn vào mắt bạn gái thấy nỗi buồn không thể gọi tên. Chỉ có ánh hoàng hôn phản chiếu trong đó là giống màu hoàng hôn năm xưa. Mùa lại mùa, sen chỉ nở thưa thớt. Bỗng sợ ngày nào đó hồ sen chẳng còn. Khi ấy muốn tìm về quá khứ, chỉ thấy nhà hàng, khách sạn san sát mời chào! Cỏ muôn đời vẫn lan man như thế. Xanh đến vô tư và im lặng đến khiêm nhường. Thấp như lá cỏ là vậy, rất thơ và cũng rất đời. Bây giờ yêu nhau chẳng có ai tặng cỏ. Nghe khùng điên và phù phiếm quá rồi! Chuyện xưa chỉ còn là kỷ niệm; bạn gái hiểu cùng nhau thôi. Rồi một mai cô gái lên xe hoa. Ngón tay lồng vào nhẫn cưới. Qua cầu ngoảnh đầu nhìn lại. Trong trang sách học trò, chiếc nhẫn cỏ dần khô .... Lưu Thu Hương Mục lục Chiếc Nhẫn Cỏ Chiếc Nhẫn Cỏ Lưu Thu HươngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời áo trắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Luu Thu Huong Grass Ring Presented to K.A. my friend The ring is braided from slender strands of grass picked from the lakeside. When the boy put the ring on the girl's finger, it still had the scent of grass and greenery. The red sun hides behind dark green lotus leaves. The last rays of sunlight fell onto the lake surface. In that sunset, the grass ring replaced a confession of love. Many years have passed since that time. The son is now very far away. He didn't know that the day he left, his girlfriend cried all over the textbook pages every hour of class. Wiping her tears was a close classmate. On graduation day, two girlfriends bought flowers for each other and then took each other to the lakeside to watch the sunset. The innocent student days have passed, taking with them my first love. Somewhere, do you watch the sunset every afternoon? The city becomes more noisy and cramped every day. The lotus pond is now crowded with people. Motorcycles followed one another, spewing dust. Quiet afternoons became scarce. The space keeps shrinking. Houses began to spring up. Around the lake, rocks, sand, gravel, and rubble are scattered. There were human feet crushed into the smooth grass of the past. Looking into his girlfriend's eyes, he saw sadness that couldn't be named. Only the sunset reflected in it is the same color as the sunset from the past. Season after season, lotus blooms only sparsely. Suddenly afraid that one day the lotus pond will no longer exist. At that time, I wanted to look back to the past, but I only saw restaurants and hotels lined up with offers! The grass will always spread like that. Green to carefree and silent to humble. Low as a blade of grass, very poetic and very lifelike. Now that we love each other, no one gives us grass. It sounds so crazy and frivolous! The past is just a memory; girlfriends understand each other. Then one day the girl got married. Finger inserted into wedding ring. Cross the bridge and look back. In the student's book, the grass ring gradually dries.... Luu Thu Huong Table of contents Grass Ring Grass Ring Luu Thu HuongWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: White shirt period Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Jim Dunn Chiếc Nơ Hình Con Bướm Nguyễn Hoài Hoành dịch ( Tiếng Anh) Hồi ấy tôi học tiểu học tại một thị trấn nhỏ ở miền Nam nước Anh. Tôi mới 13 tuổi là cái tuổi các nhà thơ gọi là trái táo xanh vừa ngọt lại vừa chát. Tôi hung hăng, thích gây gổ, choảng nhau, và ương ngạnh, ai bảo cũng không nghe. Dĩ nhiên thành thích học tập của tôi luôn đội sổ trong lớp. Tôi hư hỏng như thế là do từ nhỏ đã mất bố mẹ. Bố tôi là thuỷ thủ tàu viễn dương, trong một lần tàu gặp bão lớn, sóng biển đã nuốt chửng ông, ngay cả xác cũng không tìm thấy. Sau đó, mẹ tôi bỏ mặc hai anh em tôi, một mình đến Liverpool với người tình của bà. Tôi và em gái ở với ông bà nội. Vì không có cha mẹ trông nom nên tôi thường trốn học đi lăng quăng khắp nơi chơi bời nghịch ngợm. Để không bị ai bắt nạt, tôi bắt chước vua võ sĩ quyền anh Mohamad Ali, sáng nào cũng tập đấm vào bị cát. Tôi tin vào một chân lý không biết đọc được từ cuốn sách nào đã quên béng tên: nếu muốn không sợ người khác thì trước hết phải làm cho người khác sợ mình đã! Các thầy cô giáo đều đau đầu vì tôi; tất nhiên họ cũng chẳng thừa hơi quan tâm đến chuyện một đứa trẻ mất bố mẹ thì cần tình thương như thế nào. Trong mắt họ, tôi là đồ nhãi ranh ngu xuẩn, sau này lớn lên sẽ trở thành thằng mất dạy không có triển vọng gì. Tôi trở nên chai lì trước sự lạnh nhạt của thầy cô giáo và sự chế giễu của bè bạn. Tôi thừa nhận mình là một thằng hư hỏng không thể nào tu tỉnh được nữa. Nhưng chỉ cần có dịp là tôi trả thù những người đã làm tôi ghét. Chẳng hạn thầy dạy lý béo như con lợn ấy có lần bị tôi nấp trong bụi cây lấy cà chua ném cho vỡ cả kính. Một hôm, thằng Halem, con ông chủ tịch phường dám chửi em gái tôi, thế là tôi rút giầy ra choảng nó bươu cả trán. Học kỳ ấy có một cô giáo mới tên là Yukinya đến dạy môn nhạc lớp tôi. Cô có vóc người thanh tú, xinh đẹp mê hồn. Có thể nói không thằng con trai nào trong lớp tôi không thầm yêu cô giáo, dĩ nhiên kể cả tôi nữa. Cô Yukinya thường ngồi trước cây đàn piano vừa đàn vừa hát những bài dân ca Scotland. Tôi nghĩ đó là những điệu nhạc tuyệt vời nhất thế giới. Cô hát như một thiên thần, hay gấp trăm lần ca sĩ trong dàn đồng ca nhà thờ. Cô Yukinya không bao giờ có thái độ phân biệt đối xử với các học trò kém. Cô không làm như các thầy cô khác, khi lên lớp thường chỉ hỏi các học sinh giỏi mà lờ đi đám học sinh kém. Cô Yukinya gọi tôi lên hát bài “Ngựa phi trên tuyết”. Nghe tôi hát xong, cô chân thành khen: “Em hát cừ lắm, George, đúng là em có thiên bẩm âm nhạc. Rất có thể sau này em sẽ trở thành một John Lennon đấy!” Tiếng xì xào bàn tán nổi lên, hình như các bạn không bằng lòng với việc cô giáo khen một “thằng mất dạy” như tôi. Cô Yukinya có vẻ bực mình nói: “Các em hãy đợi xem, sau này nhất định George sẽ gặt hái được những thành tích âm nhạc xuất sắc!” Từ đó trở đi mỗi lần lên lớp giờ nhạc, bao giờ cô Yukinya cũng gọi tôi lĩnh xướng cho cả lớp hát theo. Các bạn trong lớp mới đầu chưa phục, về sau cũng quen dần. Tôi lĩnh xướng dạy các bạn học một loạt bài hát như bài “Chiếc xe trượt tuyết vui vẻ”, “Đội trưởng du kích”, “Ba nàng công chúa nhỏ xinh”. Dĩ nhiên trước khi lên lớp bao giờ cô cũng gọi tôi đến phòng làm việc, dạy tôi hát theo cô vài lần những bài hát ấy. Dần dần tôi thấy tự tin ở mình, khi làm việc gì tôi không còn hay phá bĩnh như trước. Bạn bè vì thế không còn nhìn tôi bằng con mắt khinh thường nữa. Hôm lễ Giáng sinh tôi nhận được năm thiếp chúc mừng, trong đó có hai thiếp của các bạn gái! Tôi điên cuồng thầm yêu trộm nhớ cô Yukinya. Dù cô ấy hơn tôi ít nhất mười tuổi, nhưng tôi vẫn mơ ước có ngày được đón cô về nhà mình bằng một chiếc xe ngựa thuỷ tinh lộng lẫy như kiểu chàng hoàng tử đón công chúa. Tôi bắt đầu đọc những bài thơ tình của George Gordon Bryan và Percy Bysshe Shelley, nắn nót chép thơ của hai thi sĩ ấy vào một cuốn sổ và định bao giờ chép đủ 100 bài thì sẽ gửi tặng cô giáo Yukinya. Thế đấy, một thằng con trai 13 tuổi đã bắt đầu có những xáo động rạo rực của tuổi thanh xuân, trong lòng đầy ắp những suy nghĩ thần bí và hiếu kỳ đối với đàn bà. Tôi thích nhìn trộm bộ ngực đầy đặn của cô Yukinya. Một lần khi đang nhìn ngắm như vậy, tôi có cử chỉ khác thường gì ấy khiến cô để ý và hỏi tôi: “George, em đang nhìn gì thế?” Tôi đỏ mặt nói lảng đi là tôi nhìn chiếc nơ hình con bươm bướm cô cài trên ngực áo. “ À, đấy là con bươm bướm mẹ cô tặng dấy, rất đẹp phải không?” Cô mỉm cười hỏi lại. Tôi vội vàng gật đầu lia lịa. Trong giờ nhạc cuối cùng của học kỳ hai, cô Yukinya yêu cầu chúng tôi không nhìn sách viết lại trên phổ năm dòng nốt nhạc của một bài ca. Lúc gần hết giờ, cô gọi tôi lên ngồi cạnh để ghi điểm bài làm của các bạn trong lớp. Hôm ấy cô Yukinya mặc một chiếc áo sơ mi cổ hơi trễ, ngực áo đeo chiếc nơ hình con bươm bướm đúng vào cái chỗ tôi cứ nhìn vào thì lòng rạo rực mê mẩn. Mới đầu tôi còn nghiêm chỉnh làm việc ghi điểm số, nhưng chỉ một lúc sau là tôi thẫn thờ như thằng mất hồn. Cô Yukinya chống hai tay lên bàn, bộ ngực trắng như tuyết của cô phập phồng hiện lên rõ mồn một ở chỗ cổ áo hở. Tôi bắt đầu trắng trợn liếc mắt nhìn vào chỗ ấy. Càng nhìn tôi càng mê mẩn lú lẫn đến mức quên mất mình đang ngồi trong lớp học, nhất là ngồi trên bục giảng trước hàng chục cặp mắt của các bạn đang nhìn lên. Rồi chẳng biết thế nào nữa, bàn tay phải của tôi như mất tự chủ rờ rờ lần lần sang ngực cô Yukinya. Tiếng xì xầm nổi lên trong lớp học, có bạn huýt sáo ầm ĩ, chỉ có điều cái thằng tôi chó chết vẫn cứ mê mẩn lú lẫn không nghe thấy gì cả. Như một phản xạ có điều kiện, cô Yukinya chộp lấy bàn tay tôi khi nó bắt đầu chạm lên ngực cô. Tôi thấy hình như mắt cô ánh lên chút ngạc nhiên pha tức giận. Tôi tỉnh người ra, rụt tay lại như bị chạm điện, xấu hổ đến mức chỉ muốn chui xuống đất. Nhưng cô Yukinya đã nhanh chóng nở nụ cười quen thuộc, cô sờ vào cái nơ hình con bướm cài trên ngực áo rồi chụm ngón tay cái với ngón tay trỏ vào nhau giơ lên khoa khoa mấy cái, tươi cười nói với mọi người: “ Ồ con kiến này sao lại dám bò cả lên cái nơ bươm bướm của cô thế nhỉ. Goerge, cám ơn em đã giúp cô tóm được chú kiến. Em thấy chưa, đây này, hãy còn một chú nữa kia!” Thế là tiếng xì xầm tắt hẳn, các bạn trong lớp tưởng là có mấy con kiến ấy thật. Các bạn ấy sao có thể nhìn thấy là trong hai ngón tay cô Yukinya chẳng có cái quái gì sất! Sau giờ hoc nhạc hôm ấy tôi không còn gặp lại cô giáo Yukinya nữa. Nghe nói cô lên Luân đôn dạy ở một trường trung học quý tộc. Hôm cô lên đường đi Luân đôn, nhiều học sinh ra tiễn cô, riêng tôi xấu hổ không đi. Một điều làm tôi ngạc nhiên và vui mừng là cô Yukinya có nhờ một bạn gái trong lớp chuyển đến cho tôi gói quà của cô, bên trong là mấy cuốn sách nói về sức khoẻ sinh lý tuổi dậy thì và một bức thư như sau: Em George thân mến, Em là một trong những học trò thông minh nhất của cô. Sau khi được biết về gia cảnh không may của em, cô đã quyết tâm giúp em xây dựng niềm tin phấn đấu vì một cuộc đời tươi đẹp, và em đã không làm cô thất vọng. Cô rất hài lòng về em. Hôm nọ em đã có một cử chỉ rất ngốc nghếch, nhưng không sao, khi người ta còn trẻ dại thì ai cũng đều có thể phạm sai lầm cả. Cô biết em không có ý định xấu, nhưng em nên đọc kỹ mấy cuốn sách cô gửi tặng em. Lòng tự tôn tự trọng của con người là thứ quý báu vô giá ! Một giáo viên giỏi thì phải biết cách lịch sự bảo vệ lòng tự tôn của các em thiếu niên, chứ không phải thô bạo huỷ hoại nó. Bởi lẽ tự tôn tự trọng là động lực mạnh mẽ khiến chúng ta đủ tự tin mỉm cười nhìn cuộc sống. Cô gửi tặng em chiếc nơ hình con bướm, cô mong rằng em sẽ rất thích nó. Cô Yukinya mãi mãi của em. Tôi mở bọc giấy, thấy ngay chiếc nơ hình con bướm quen thuộc! Nhiều năm về sau, tôi đã không phụ lòng mong mỏi của cô giáo Yukinya-tôi trở thành một nhạc sĩ. Bài hát “ Chiếc nơ hình con bướm thuở thơ ấu” do tôi sáng tác được xếp số Một trong bảng xếp hạng âm nhạc mấy tuần liền, nhiề bạn trẻ, trai có, gái có khi nghe bài này đều rơi lệ, vì bài hát ấy kể lại một chuyện có thật. Câu chuyện ấy nói lên một điều : lòng tự trọng của tuổi thanh xuân mãi mãi là vô giá Nguyễn Hoài Hoành dịch qua bản Trung văn Mục lục Chiếc Nơ Hình Con Bướm Chiếc Nơ Hình Con Bướm Jim DunnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Tre Xanh Nguồn: Tạp chí Tia sángĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 1 năm 2006
Jim Dunn Chiếc Nơ Hình Con Bướm Nguyễn Hoài Hoành dịch ( Tiếng Anh) Hồi ấy tôi học tiểu học tại một thị trấn nhỏ ở miền Nam nước Anh. Tôi mới 13 tuổi là cái tuổi các nhà thơ gọi là trái táo xanh vừa ngọt lại vừa chát. Tôi hung hăng, thích gây gổ, choảng nhau, và ương ngạnh, ai bảo cũng không nghe. Dĩ nhiên thành thích học tập của tôi luôn đội sổ trong lớp. Tôi hư hỏng như thế là do từ nhỏ đã mất bố mẹ. Bố tôi là thuỷ thủ tàu viễn dương, trong một lần tàu gặp bão lớn, sóng biển đã nuốt chửng ông, ngay cả xác cũng không tìm thấy. Sau đó, mẹ tôi bỏ mặc hai anh em tôi, một mình đến Liverpool với người tình của bà. Tôi và em gái ở với ông bà nội. Vì không có cha mẹ trông nom nên tôi thường trốn học đi lăng quăng khắp nơi chơi bời nghịch ngợm. Để không bị ai bắt nạt, tôi bắt chước vua võ sĩ quyền anh Mohamad Ali, sáng nào cũng tập đấm vào bị cát. Tôi tin vào một chân lý không biết đọc được từ cuốn sách nào đã quên béng tên: nếu muốn không sợ người khác thì trước hết phải làm cho người khác sợ mình đã! Các thầy cô giáo đều đau đầu vì tôi; tất nhiên họ cũng chẳng thừa hơi quan tâm đến chuyện một đứa trẻ mất bố mẹ thì cần tình thương như thế nào. Trong mắt họ, tôi là đồ nhãi ranh ngu xuẩn, sau này lớn lên sẽ trở thành thằng mất dạy không có triển vọng gì. Tôi trở nên chai lì trước sự lạnh nhạt của thầy cô giáo và sự chế giễu của bè bạn. Tôi thừa nhận mình là một thằng hư hỏng không thể nào tu tỉnh được nữa. Nhưng chỉ cần có dịp là tôi trả thù những người đã làm tôi ghét. Chẳng hạn thầy dạy lý béo như con lợn ấy có lần bị tôi nấp trong bụi cây lấy cà chua ném cho vỡ cả kính. Một hôm, thằng Halem, con ông chủ tịch phường dám chửi em gái tôi, thế là tôi rút giầy ra choảng nó bươu cả trán. Học kỳ ấy có một cô giáo mới tên là Yukinya đến dạy môn nhạc lớp tôi. Cô có vóc người thanh tú, xinh đẹp mê hồn. Có thể nói không thằng con trai nào trong lớp tôi không thầm yêu cô giáo, dĩ nhiên kể cả tôi nữa. Cô Yukinya thường ngồi trước cây đàn piano vừa đàn vừa hát những bài dân ca Scotland. Tôi nghĩ đó là những điệu nhạc tuyệt vời nhất thế giới. Cô hát như một thiên thần, hay gấp trăm lần ca sĩ trong dàn đồng ca nhà thờ. Cô Yukinya không bao giờ có thái độ phân biệt đối xử với các học trò kém. Cô không làm như các thầy cô khác, khi lên lớp thường chỉ hỏi các học sinh giỏi mà lờ đi đám học sinh kém. Cô Yukinya gọi tôi lên hát bài “Ngựa phi trên tuyết”. Nghe tôi hát xong, cô chân thành khen: “Em hát cừ lắm, George, đúng là em có thiên bẩm âm nhạc. Rất có thể sau này em sẽ trở thành một John Lennon đấy!” Tiếng xì xào bàn tán nổi lên, hình như các bạn không bằng lòng với việc cô giáo khen một “thằng mất dạy” như tôi. Cô Yukinya có vẻ bực mình nói: “Các em hãy đợi xem, sau này nhất định George sẽ gặt hái được những thành tích âm nhạc xuất sắc!” Từ đó trở đi mỗi lần lên lớp giờ nhạc, bao giờ cô Yukinya cũng gọi tôi lĩnh xướng cho cả lớp hát theo. Các bạn trong lớp mới đầu chưa phục, về sau cũng quen dần. Tôi lĩnh xướng dạy các bạn học một loạt bài hát như bài “Chiếc xe trượt tuyết vui vẻ”, “Đội trưởng du kích”, “Ba nàng công chúa nhỏ xinh”. Dĩ nhiên trước khi lên lớp bao giờ cô cũng gọi tôi đến phòng làm việc, dạy tôi hát theo cô vài lần những bài hát ấy. Dần dần tôi thấy tự tin ở mình, khi làm việc gì tôi không còn hay phá bĩnh như trước. Bạn bè vì thế không còn nhìn tôi bằng con mắt khinh thường nữa. Hôm lễ Giáng sinh tôi nhận được năm thiếp chúc mừng, trong đó có hai thiếp của các bạn gái! Tôi điên cuồng thầm yêu trộm nhớ cô Yukinya. Dù cô ấy hơn tôi ít nhất mười tuổi, nhưng tôi vẫn mơ ước có ngày được đón cô về nhà mình bằng một chiếc xe ngựa thuỷ tinh lộng lẫy như kiểu chàng hoàng tử đón công chúa. Tôi bắt đầu đọc những bài thơ tình của George Gordon Bryan và Percy Bysshe Shelley, nắn nót chép thơ của hai thi sĩ ấy vào một cuốn sổ và định bao giờ chép đủ 100 bài thì sẽ gửi tặng cô giáo Yukinya. Thế đấy, một thằng con trai 13 tuổi đã bắt đầu có những xáo động rạo rực của tuổi thanh xuân, trong lòng đầy ắp những suy nghĩ thần bí và hiếu kỳ đối với đàn bà. Tôi thích nhìn trộm bộ ngực đầy đặn của cô Yukinya. Một lần khi đang nhìn ngắm như vậy, tôi có cử chỉ khác thường gì ấy khiến cô để ý và hỏi tôi: “George, em đang nhìn gì thế?” Tôi đỏ mặt nói lảng đi là tôi nhìn chiếc nơ hình con bươm bướm cô cài trên ngực áo. “ À, đấy là con bươm bướm mẹ cô tặng dấy, rất đẹp phải không?” Cô mỉm cười hỏi lại. Tôi vội vàng gật đầu lia lịa. Trong giờ nhạc cuối cùng của học kỳ hai, cô Yukinya yêu cầu chúng tôi không nhìn sách viết lại trên phổ năm dòng nốt nhạc của một bài ca. Lúc gần hết giờ, cô gọi tôi lên ngồi cạnh để ghi điểm bài làm của các bạn trong lớp. Hôm ấy cô Yukinya mặc một chiếc áo sơ mi cổ hơi trễ, ngực áo đeo chiếc nơ hình con bươm bướm đúng vào cái chỗ tôi cứ nhìn vào thì lòng rạo rực mê mẩn. Mới đầu tôi còn nghiêm chỉnh làm việc ghi điểm số, nhưng chỉ một lúc sau là tôi thẫn thờ như thằng mất hồn. Cô Yukinya chống hai tay lên bàn, bộ ngực trắng như tuyết của cô phập phồng hiện lên rõ mồn một ở chỗ cổ áo hở. Tôi bắt đầu trắng trợn liếc mắt nhìn vào chỗ ấy. Càng nhìn tôi càng mê mẩn lú lẫn đến mức quên mất mình đang ngồi trong lớp học, nhất là ngồi trên bục giảng trước hàng chục cặp mắt của các bạn đang nhìn lên. Rồi chẳng biết thế nào nữa, bàn tay phải của tôi như mất tự chủ rờ rờ lần lần sang ngực cô Yukinya. Tiếng xì xầm nổi lên trong lớp học, có bạn huýt sáo ầm ĩ, chỉ có điều cái thằng tôi chó chết vẫn cứ mê mẩn lú lẫn không nghe thấy gì cả. Như một phản xạ có điều kiện, cô Yukinya chộp lấy bàn tay tôi khi nó bắt đầu chạm lên ngực cô. Tôi thấy hình như mắt cô ánh lên chút ngạc nhiên pha tức giận. Tôi tỉnh người ra, rụt tay lại như bị chạm điện, xấu hổ đến mức chỉ muốn chui xuống đất. Nhưng cô Yukinya đã nhanh chóng nở nụ cười quen thuộc, cô sờ vào cái nơ hình con bướm cài trên ngực áo rồi chụm ngón tay cái với ngón tay trỏ vào nhau giơ lên khoa khoa mấy cái, tươi cười nói với mọi người: “ Ồ con kiến này sao lại dám bò cả lên cái nơ bươm bướm của cô thế nhỉ. Goerge, cám ơn em đã giúp cô tóm được chú kiến. Em thấy chưa, đây này, hãy còn một chú nữa kia!” Thế là tiếng xì xầm tắt hẳn, các bạn trong lớp tưởng là có mấy con kiến ấy thật. Các bạn ấy sao có thể nhìn thấy là trong hai ngón tay cô Yukinya chẳng có cái quái gì sất! Sau giờ hoc nhạc hôm ấy tôi không còn gặp lại cô giáo Yukinya nữa. Nghe nói cô lên Luân đôn dạy ở một trường trung học quý tộc. Hôm cô lên đường đi Luân đôn, nhiều học sinh ra tiễn cô, riêng tôi xấu hổ không đi. Một điều làm tôi ngạc nhiên và vui mừng là cô Yukinya có nhờ một bạn gái trong lớp chuyển đến cho tôi gói quà của cô, bên trong là mấy cuốn sách nói về sức khoẻ sinh lý tuổi dậy thì và một bức thư như sau: Em George thân mến, Em là một trong những học trò thông minh nhất của cô. Sau khi được biết về gia cảnh không may của em, cô đã quyết tâm giúp em xây dựng niềm tin phấn đấu vì một cuộc đời tươi đẹp, và em đã không làm cô thất vọng. Cô rất hài lòng về em. Hôm nọ em đã có một cử chỉ rất ngốc nghếch, nhưng không sao, khi người ta còn trẻ dại thì ai cũng đều có thể phạm sai lầm cả. Cô biết em không có ý định xấu, nhưng em nên đọc kỹ mấy cuốn sách cô gửi tặng em. Lòng tự tôn tự trọng của con người là thứ quý báu vô giá ! Một giáo viên giỏi thì phải biết cách lịch sự bảo vệ lòng tự tôn của các em thiếu niên, chứ không phải thô bạo huỷ hoại nó. Bởi lẽ tự tôn tự trọng là động lực mạnh mẽ khiến chúng ta đủ tự tin mỉm cười nhìn cuộc sống. Cô gửi tặng em chiếc nơ hình con bướm, cô mong rằng em sẽ rất thích nó. Cô Yukinya mãi mãi của em. Tôi mở bọc giấy, thấy ngay chiếc nơ hình con bướm quen thuộc! Nhiều năm về sau, tôi đã không phụ lòng mong mỏi của cô giáo Yukinya-tôi trở thành một nhạc sĩ. Bài hát “ Chiếc nơ hình con bướm thuở thơ ấu” do tôi sáng tác được xếp số Một trong bảng xếp hạng âm nhạc mấy tuần liền, nhiề bạn trẻ, trai có, gái có khi nghe bài này đều rơi lệ, vì bài hát ấy kể lại một chuyện có thật. Câu chuyện ấy nói lên một điều : lòng tự trọng của tuổi thanh xuân mãi mãi là vô giá Nguyễn Hoài Hoành dịch qua bản Trung văn Mục lục Chiếc Nơ Hình Con Bướm Chiếc Nơ Hình Con Bướm Jim DunnChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: Tre Xanh Nguồn: Tạp chí Tia sángĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 1 năm 2006
Nguyễn Công Hoan Chiếc Quan Tài Chiếc quan tài ấy đặt trên tấm phản, giữa một túp nhà xiêu. Một người đàn bà, quần áo nâu bạc, ngồi phệt ở bên, úp mặt vào cánh tay khoanh cạnh ván thiên, thỉnh thoảng hé vuông vải nhỏ mới, ghé ra ngoài xỉ mũi xuống nước. Gần đó, một thằng bé con, chỉ mặc một manh áo rách, thò cái gậy tre vừa đẵn, nghịch với những tăm bọt sủi trên mặt lượt bùn.Bỗng bốn người đóng khố, lực lưỡng, đẩy chiếc mảng chuối áp đến hè, rồi cùng nhau vào, khỏa chân để rửa, nói mấy câu, và đứng lên phản, bắt tay vào cỗ ván.Họ còng lưng, ưỡn ngực, để khênh cho thăng bằng. Song, họ không thấy nhọc nhằn, vì chiếc áo quan ấy nhẹ quá. Nó bằng gỗ tạp, lỗ chỗ những vết mọt đen, mỏng vừa một đốt ngón tay. Họ chép miệng, phàn nàn với nhau, thương hại anh Cu xấu số, khổ cho đến lúc chết, chết ngay vào độ trời làm vỡ đường.Mảng chuối chở chiếc quan tài lềnh bềnh theo tay bốn người đẩy ra cổng. Chị Cu trùm khăn lên mặt, khóc thảm thiết. Cứ cả quần áo thế, chị lội bì bõm, đi sau chồng.Giá không có mảnh vải trắng che mặt, đố người lạ nào bảo chị là người nhà người chết. Và giá không có tiếng khóc, đố ai đoán là ngoài đường có đám ma. Thằng Cu thì chẳng biết gì. Nó thấy người ta ghé lưng, bảo nó ôm cổ để cõng. Nó ngơ ngác làm theo, hình như thích chí vì được đi lội.Bốn người đẩy mảng, dò từng bước. Đi dưới nước đã chậm, thế mà đường lại trơn. Những bọt nước tóe bắn lên, làm tắt cả hương. Mấy cây nến cắm trên khúc chuối, bị gió, không sao cháy được. Người ta đã nhiều lần thắp lại cả hương lẫn nến, nhưng vẫn tắt như thường.Xung quanh, làn nước đỏ mênh mông, từ sáng đến bây giờ, mỗi lúc lên một cao. Chị Cu gào mãi nên rát cổ. Chị phải thôi khóc. Và cố bấm đầu ngón chân xuống đất, cho khỏi ngã.Mực nước chỗ thấp thì đến bẹn, chỗ cao thì đến thắt lưng hoặc đến ngực. Cả làng chỉ còn có mỗi một nơi cao nhất, là khu giữa vườn nhà ông Lý, may quá, chưa bị ngập. Cho nên ngay từ khi anh Cu ngáp cái sau cùng, chị Cu phải kiếm cơi trầu lên xin với chủ đất, để nhờ chỗ chôn chồng. Ông Lý thương hại, vui lòng nhận lời, lại khuyên chị nên đưa ngay anh Cu "ra đồng" kẻo chỉ một giờ nữa, vườn ông cũng tràn nốt. Thật thế, cả làng, hiện nay chỉ có khu vườn ấy là hở. Còn thì từ ngoài đồng cho đến khắp các xóm, chỗ nào cũng những nước là nước. Nói đúng ra, giữa đồng cũng còn vài ba cái gò là còn nổi lên. Nhưng những đường ra đấy, từ khi mới có tin vỡ đê, tuần đã chặt tre rấp ngang lối, vít kín cả lại rồi. Chỉ còn một lỗ con con chui khe luỹ, người ta vẫn đánh trâu qua để thả cho nó bơi đến các gò, đứng nắng và ăn bèo Nhật Bản, thì lối ấy nhỏ quá. Vả trừ trâu ra, ai dám bơi qua những nơi ruộng sâu đến một con sào.Chiếc mảng lênh bênh độ một lát, thì quàng vào ngõ xóm Trung. Tuy đường hẹp, nhưng lối đi cao dần. Nước đến thắt lưng, sau đến bẹn, rồi sau đến đầu gối. Rồi sau cùng, mảng chuối chịt lại, mắc cạn, không đi được nữa.Người ta ghé tay bê áo quan. Chị Cu vác vồ cuốc lên vai, đi theo. Nước rẽ qua những cẳng chân đen thủi, kêu rào rào, tóe bọt trắng sang hai bên.Chị Cu giục mọi người mau tay lên, vì chị lo ngại quá.Quả nhiên, mới từ nãy đến giờ, nước đã láng gần khắp vườn nhà ông Lý. Chỗ đất vừa đào cách đây độ một giờ đã có những dòng nước ngòng ngoèo bò theo nơi thấp, và rỉ vào, ngập đến lưng huyệt.Bốn người rảo cẳng, rồi đặt quan tài xuống. Họ nhảy vào hố, hai tay bốc nước, thoăn thoắt tát ra. Nhưng vô ích. Nước ra bao nhiêu, lại vào bấy nhiêu. Mà nước vào lại mạnh hơn nước ra. Tát cũng không kịp.Bốn người thất vọng, bảo nhau khênh bốn góc cỗ ván. Hai người tiến, hai người lui, rồi cùng đứng ngay ngắn ở hai đầu huyệt. Họ cúi lưng, đưa thấp dần dần tay xuống. Chiếc quan tài hạ từ từ. Cảnh đau đớn làm chị Cu đứt từng khúc ruột. Chị muốn khóc cho hết nước mắt, gào cho hết hơi, để được chôn theo chồng. Nhưng bỗng chiếc quan tài đứng sững lại, không xuống được nữa. Nước ở dưới đội nổi lên. Tiếng khóc im bặt.Bọn người nhìn nhau lo sợ. Lúng túng. Làm thế nào? Bàn tán hồi lâu, hai người nhảy xuống, đứng ở hai đầu áo quan để lấy sức nặng, thì nó mới chìm được. Nhưng nước vào huyệt đã nhiều, nên khi người ta vừa nhảy xuống, nước ở dưới dềnh lên, tràn qua ván thiên. Quan tài như chiếc thuyền đáy phẳng, nó bập bềnh. Hai người mất thăng bằng, ngã khuỵu, thụt cẳng xuống huyệt.Cách ấy không được. ỳ ộp, mỗi người nói ra một kế. Chỉ làm sao thắng nổi có mỗi một tí nước, mới chôn được dễ dàng. Chị Cu tưởng tượng đến chồng bị ngâm sũng, chị thút thít, kể lể, thương con người đến chết còn vất vả.Chẳng mấy chốc, chiếc quan tài vì nhẹ, lại tự nhô lên đến gần mặt đất. Cả huyệt đầy những nước mất rồi. Bây giờ mới là lúc khó khăn. Họ vẫn luẩn quẩn bàn bạc.Sau hết, ba người phải lấy lưỡi cuốc, hếch kẽ ván cho nước ồ vào thực nhiều và cùng nhau đứng về một đầu cho sức nặng đủ dận được xuống đất. Một người lấy vồ chêm vào thành huyệt, ghì chặt lấy. Một người cuốc đất, và chị Cu khuân vội vàng, vứt xuống hố. Thấy thây chồng đầu cao đầu thấp, chị đau đớn lắm. Nhưng biết làm thế nào?Họ lèn đất vào thành huyết và áo quan, rồi quẳng những tảng to lên trên. Cho đất đủ sức dìm một đầu quan tài, họ lại đứng sang đầu bên kia. Và cũng làm như trước. Họ thở ì ạch, khó nhọc như một cuộc vật lộn. Khi cỗ ván đã bị chèn chặt hai đầu, họ bèn rủ nhau lên, để hết sức đào đất cho nhanh chóng mà quẳng xuống. Nhưng họ vừa bước chân khỏi, cỗ áo quan đã bềnh lên theo. Song, được cái nó không nổi cao quá. Biết rằng sức phấn đấu có công hiệu, họ huỳnh huỵch làm một lúc nữa thật mau. Chiếc quan tài lần này chịu nằm gí xuống tận đáy huyệt.Bây giờ họ đã đỡ vất vả. Chỉ còn việc đắp đất lên cho thành nấm mà thôi. ấy thế mà khi ngôi mả đắp vừa xong, nước đã láng vào khắp vườn, không còn hở một chỗ nào nữa.Những con giun đất màu đen to bằng ngón tay út nổi lềnh bềnh, dập dềnh theo đà sóng, trôi với đám bọt rác.++ +Một giờ, lại một giờ. Mực nước lên cao dần, cao trông thấy.Xung quanh mả anh Cu, có những lá tre khô bám vào. Rồi có bèo Nhật Bản. Rồi có cả bọt rác nữa. Thứ này bám vào chốc lát, rồi bị sóng lôi đi. Thứ kia ôm lấy nhau, nhảy nhót, chạm óc ách vào nấm đất mới đắp. Nước dập dờn liếm mãi vào khe những mảng đất, làm cho nó mủn ra. Rồi nó lở thành những cục con con, lả tả rơi từng tý một.Độ nửa ngày, nước tràn qua mặt mả.Gió hiu hiu. Bụi tre cót két như nghiến răng. Những lá vàng rào rào bay xuống, chạy trên mặt nước như thuyền buồm thuận chiều. Lúc nào sóng cũng dập dờn làm ải đất mả đắp dối. Hòn to không mấy chốc thành hòn nhỏ. Hòn nhỏ không mấy chốc bị cuốn đi. Nấm mồ bị vẹt dần. Rồi nó không cao hơn mặt vườn nữa. Rồi chẳng bao lâu, tự nhiên, ở dưới, nhô lên một tầng đất mới.Tầng đất này cũng mỗi lúc một tý, bị sóng đánh, bị ải, và bị cuốn đi. Rồi hết lượt này đến lượt khác, đất ở dưới cứ nhô lên và cứ bị cuốn đi từng hòn nhỏ cho đến hết. Rồi sau hết, ục một tiếng, cả chiếc quan tài tự nhiên nổi bềnh lên. Nó nghiêng đi, hất tảng đất cuối cùng trên mặt ván trơn bùn như mỡ. Tảng đất rơi tõm xuống nước. Cỗ áo quan tròng trành, rồi đứng yên trên huyệt như chiếc thuyền bị cạn.Chiếc quan tài nổi theo mực nước lên cao dần. Sóng bập bềnh cứ vỗ mãi vào thành nó như cố đẩy nó đi. Rồi sau, nó không bị vướng gì nữa. Nó quay đầu, lừ lừ theo chiều gió và chiều nước, lênh đênh, lúc trôi ngang, lúc trôi dọc.Độ nửa ngày, chiếc quan tài đã tự đến góc vườn, cạnh bờ lạch. Đến đây, nước phía ngoài chảy xiết, hút nó bạt ngang vào rặng tre. Nó mắc ở đó. Rồi một bè ngổ bám cạnh nó. Rồi một cụm bèo bám cạnh nó. Rồi cả một mảng vừa ngổ, vừa dừa, vừa bèo. Cả tảng bị nước đẩy ra lạch, nhưng không nổi.Chiều gió đổi làm nhích dần mọi vật, mỗi lúc một tý. Nhưng cỗ ván gặp cành giong tự nhiên, rúc đầu vào bụi. Rồi lái ngang, hẩy mảng bèo ra cho nó chui qua khe rặng tre và theo dòng lạch trôi nhanh như mũi tên. Rồi một mình chiếc quan tài cựa quậy, như cũng muốn tìm lối ra chỗ rộng. Nhưng nó nặng nề, nên hết xoay dọc lại xoay ngang. Nó tiến rất chậm chạp, vì thỉnh thoảng có gióng tre cản lại.Nắng gay gắt làm cho khô đất bết trên mặt cỗ ván và cong vênh một phần nắp lên. Cả người nằm trong, trương phềnh ra, cũng hình như không chịu được chỗ quá chật hẹp.Chiếc quan tài như con thuyền không chủ, bập bềnh, lách theo lũy tre. Lúc nó dừng lại. Lúc nó nhích đi. Lúc nó giúi nghiêng, lại bạt vào bụi. Rồi sau hết, nó tới một chỗ có khe rộng. Tự nhiên, nó lao một cái, thích hai cạnh vào tre hai bên, rồi đâm thẳng ra giữa lạch chảy xiết. Đến đây, nó quay mấy vòng, rồi lừ lừ, nó trôi dọc theo dòng nước...Tiểu thuyết thứ bảy số 180; 1937. Mục lục Chiếc Quan Tài Chiếc Quan Tài Nguyễn Công HoanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Nguyễn Công Hoan Chiếc Quan Tài Chiếc quan tài ấy đặt trên tấm phản, giữa một túp nhà xiêu. Một người đàn bà, quần áo nâu bạc, ngồi phệt ở bên, úp mặt vào cánh tay khoanh cạnh ván thiên, thỉnh thoảng hé vuông vải nhỏ mới, ghé ra ngoài xỉ mũi xuống nước. Gần đó, một thằng bé con, chỉ mặc một manh áo rách, thò cái gậy tre vừa đẵn, nghịch với những tăm bọt sủi trên mặt lượt bùn.Bỗng bốn người đóng khố, lực lưỡng, đẩy chiếc mảng chuối áp đến hè, rồi cùng nhau vào, khỏa chân để rửa, nói mấy câu, và đứng lên phản, bắt tay vào cỗ ván.Họ còng lưng, ưỡn ngực, để khênh cho thăng bằng. Song, họ không thấy nhọc nhằn, vì chiếc áo quan ấy nhẹ quá. Nó bằng gỗ tạp, lỗ chỗ những vết mọt đen, mỏng vừa một đốt ngón tay. Họ chép miệng, phàn nàn với nhau, thương hại anh Cu xấu số, khổ cho đến lúc chết, chết ngay vào độ trời làm vỡ đường.Mảng chuối chở chiếc quan tài lềnh bềnh theo tay bốn người đẩy ra cổng. Chị Cu trùm khăn lên mặt, khóc thảm thiết. Cứ cả quần áo thế, chị lội bì bõm, đi sau chồng.Giá không có mảnh vải trắng che mặt, đố người lạ nào bảo chị là người nhà người chết. Và giá không có tiếng khóc, đố ai đoán là ngoài đường có đám ma. Thằng Cu thì chẳng biết gì. Nó thấy người ta ghé lưng, bảo nó ôm cổ để cõng. Nó ngơ ngác làm theo, hình như thích chí vì được đi lội.Bốn người đẩy mảng, dò từng bước. Đi dưới nước đã chậm, thế mà đường lại trơn. Những bọt nước tóe bắn lên, làm tắt cả hương. Mấy cây nến cắm trên khúc chuối, bị gió, không sao cháy được. Người ta đã nhiều lần thắp lại cả hương lẫn nến, nhưng vẫn tắt như thường.Xung quanh, làn nước đỏ mênh mông, từ sáng đến bây giờ, mỗi lúc lên một cao. Chị Cu gào mãi nên rát cổ. Chị phải thôi khóc. Và cố bấm đầu ngón chân xuống đất, cho khỏi ngã.Mực nước chỗ thấp thì đến bẹn, chỗ cao thì đến thắt lưng hoặc đến ngực. Cả làng chỉ còn có mỗi một nơi cao nhất, là khu giữa vườn nhà ông Lý, may quá, chưa bị ngập. Cho nên ngay từ khi anh Cu ngáp cái sau cùng, chị Cu phải kiếm cơi trầu lên xin với chủ đất, để nhờ chỗ chôn chồng. Ông Lý thương hại, vui lòng nhận lời, lại khuyên chị nên đưa ngay anh Cu "ra đồng" kẻo chỉ một giờ nữa, vườn ông cũng tràn nốt. Thật thế, cả làng, hiện nay chỉ có khu vườn ấy là hở. Còn thì từ ngoài đồng cho đến khắp các xóm, chỗ nào cũng những nước là nước. Nói đúng ra, giữa đồng cũng còn vài ba cái gò là còn nổi lên. Nhưng những đường ra đấy, từ khi mới có tin vỡ đê, tuần đã chặt tre rấp ngang lối, vít kín cả lại rồi. Chỉ còn một lỗ con con chui khe luỹ, người ta vẫn đánh trâu qua để thả cho nó bơi đến các gò, đứng nắng và ăn bèo Nhật Bản, thì lối ấy nhỏ quá. Vả trừ trâu ra, ai dám bơi qua những nơi ruộng sâu đến một con sào.Chiếc mảng lênh bênh độ một lát, thì quàng vào ngõ xóm Trung. Tuy đường hẹp, nhưng lối đi cao dần. Nước đến thắt lưng, sau đến bẹn, rồi sau đến đầu gối. Rồi sau cùng, mảng chuối chịt lại, mắc cạn, không đi được nữa.Người ta ghé tay bê áo quan. Chị Cu vác vồ cuốc lên vai, đi theo. Nước rẽ qua những cẳng chân đen thủi, kêu rào rào, tóe bọt trắng sang hai bên.Chị Cu giục mọi người mau tay lên, vì chị lo ngại quá.Quả nhiên, mới từ nãy đến giờ, nước đã láng gần khắp vườn nhà ông Lý. Chỗ đất vừa đào cách đây độ một giờ đã có những dòng nước ngòng ngoèo bò theo nơi thấp, và rỉ vào, ngập đến lưng huyệt.Bốn người rảo cẳng, rồi đặt quan tài xuống. Họ nhảy vào hố, hai tay bốc nước, thoăn thoắt tát ra. Nhưng vô ích. Nước ra bao nhiêu, lại vào bấy nhiêu. Mà nước vào lại mạnh hơn nước ra. Tát cũng không kịp.Bốn người thất vọng, bảo nhau khênh bốn góc cỗ ván. Hai người tiến, hai người lui, rồi cùng đứng ngay ngắn ở hai đầu huyệt. Họ cúi lưng, đưa thấp dần dần tay xuống. Chiếc quan tài hạ từ từ. Cảnh đau đớn làm chị Cu đứt từng khúc ruột. Chị muốn khóc cho hết nước mắt, gào cho hết hơi, để được chôn theo chồng. Nhưng bỗng chiếc quan tài đứng sững lại, không xuống được nữa. Nước ở dưới đội nổi lên. Tiếng khóc im bặt.Bọn người nhìn nhau lo sợ. Lúng túng. Làm thế nào? Bàn tán hồi lâu, hai người nhảy xuống, đứng ở hai đầu áo quan để lấy sức nặng, thì nó mới chìm được. Nhưng nước vào huyệt đã nhiều, nên khi người ta vừa nhảy xuống, nước ở dưới dềnh lên, tràn qua ván thiên. Quan tài như chiếc thuyền đáy phẳng, nó bập bềnh. Hai người mất thăng bằng, ngã khuỵu, thụt cẳng xuống huyệt.Cách ấy không được. ỳ ộp, mỗi người nói ra một kế. Chỉ làm sao thắng nổi có mỗi một tí nước, mới chôn được dễ dàng. Chị Cu tưởng tượng đến chồng bị ngâm sũng, chị thút thít, kể lể, thương con người đến chết còn vất vả.Chẳng mấy chốc, chiếc quan tài vì nhẹ, lại tự nhô lên đến gần mặt đất. Cả huyệt đầy những nước mất rồi. Bây giờ mới là lúc khó khăn. Họ vẫn luẩn quẩn bàn bạc.Sau hết, ba người phải lấy lưỡi cuốc, hếch kẽ ván cho nước ồ vào thực nhiều và cùng nhau đứng về một đầu cho sức nặng đủ dận được xuống đất. Một người lấy vồ chêm vào thành huyệt, ghì chặt lấy. Một người cuốc đất, và chị Cu khuân vội vàng, vứt xuống hố. Thấy thây chồng đầu cao đầu thấp, chị đau đớn lắm. Nhưng biết làm thế nào?Họ lèn đất vào thành huyết và áo quan, rồi quẳng những tảng to lên trên. Cho đất đủ sức dìm một đầu quan tài, họ lại đứng sang đầu bên kia. Và cũng làm như trước. Họ thở ì ạch, khó nhọc như một cuộc vật lộn. Khi cỗ ván đã bị chèn chặt hai đầu, họ bèn rủ nhau lên, để hết sức đào đất cho nhanh chóng mà quẳng xuống. Nhưng họ vừa bước chân khỏi, cỗ áo quan đã bềnh lên theo. Song, được cái nó không nổi cao quá. Biết rằng sức phấn đấu có công hiệu, họ huỳnh huỵch làm một lúc nữa thật mau. Chiếc quan tài lần này chịu nằm gí xuống tận đáy huyệt.Bây giờ họ đã đỡ vất vả. Chỉ còn việc đắp đất lên cho thành nấm mà thôi. ấy thế mà khi ngôi mả đắp vừa xong, nước đã láng vào khắp vườn, không còn hở một chỗ nào nữa.Những con giun đất màu đen to bằng ngón tay út nổi lềnh bềnh, dập dềnh theo đà sóng, trôi với đám bọt rác.++ +Một giờ, lại một giờ. Mực nước lên cao dần, cao trông thấy.Xung quanh mả anh Cu, có những lá tre khô bám vào. Rồi có bèo Nhật Bản. Rồi có cả bọt rác nữa. Thứ này bám vào chốc lát, rồi bị sóng lôi đi. Thứ kia ôm lấy nhau, nhảy nhót, chạm óc ách vào nấm đất mới đắp. Nước dập dờn liếm mãi vào khe những mảng đất, làm cho nó mủn ra. Rồi nó lở thành những cục con con, lả tả rơi từng tý một.Độ nửa ngày, nước tràn qua mặt mả.Gió hiu hiu. Bụi tre cót két như nghiến răng. Những lá vàng rào rào bay xuống, chạy trên mặt nước như thuyền buồm thuận chiều. Lúc nào sóng cũng dập dờn làm ải đất mả đắp dối. Hòn to không mấy chốc thành hòn nhỏ. Hòn nhỏ không mấy chốc bị cuốn đi. Nấm mồ bị vẹt dần. Rồi nó không cao hơn mặt vườn nữa. Rồi chẳng bao lâu, tự nhiên, ở dưới, nhô lên một tầng đất mới.Tầng đất này cũng mỗi lúc một tý, bị sóng đánh, bị ải, và bị cuốn đi. Rồi hết lượt này đến lượt khác, đất ở dưới cứ nhô lên và cứ bị cuốn đi từng hòn nhỏ cho đến hết. Rồi sau hết, ục một tiếng, cả chiếc quan tài tự nhiên nổi bềnh lên. Nó nghiêng đi, hất tảng đất cuối cùng trên mặt ván trơn bùn như mỡ. Tảng đất rơi tõm xuống nước. Cỗ áo quan tròng trành, rồi đứng yên trên huyệt như chiếc thuyền bị cạn.Chiếc quan tài nổi theo mực nước lên cao dần. Sóng bập bềnh cứ vỗ mãi vào thành nó như cố đẩy nó đi. Rồi sau, nó không bị vướng gì nữa. Nó quay đầu, lừ lừ theo chiều gió và chiều nước, lênh đênh, lúc trôi ngang, lúc trôi dọc.Độ nửa ngày, chiếc quan tài đã tự đến góc vườn, cạnh bờ lạch. Đến đây, nước phía ngoài chảy xiết, hút nó bạt ngang vào rặng tre. Nó mắc ở đó. Rồi một bè ngổ bám cạnh nó. Rồi một cụm bèo bám cạnh nó. Rồi cả một mảng vừa ngổ, vừa dừa, vừa bèo. Cả tảng bị nước đẩy ra lạch, nhưng không nổi.Chiều gió đổi làm nhích dần mọi vật, mỗi lúc một tý. Nhưng cỗ ván gặp cành giong tự nhiên, rúc đầu vào bụi. Rồi lái ngang, hẩy mảng bèo ra cho nó chui qua khe rặng tre và theo dòng lạch trôi nhanh như mũi tên. Rồi một mình chiếc quan tài cựa quậy, như cũng muốn tìm lối ra chỗ rộng. Nhưng nó nặng nề, nên hết xoay dọc lại xoay ngang. Nó tiến rất chậm chạp, vì thỉnh thoảng có gióng tre cản lại.Nắng gay gắt làm cho khô đất bết trên mặt cỗ ván và cong vênh một phần nắp lên. Cả người nằm trong, trương phềnh ra, cũng hình như không chịu được chỗ quá chật hẹp.Chiếc quan tài như con thuyền không chủ, bập bềnh, lách theo lũy tre. Lúc nó dừng lại. Lúc nó nhích đi. Lúc nó giúi nghiêng, lại bạt vào bụi. Rồi sau hết, nó tới một chỗ có khe rộng. Tự nhiên, nó lao một cái, thích hai cạnh vào tre hai bên, rồi đâm thẳng ra giữa lạch chảy xiết. Đến đây, nó quay mấy vòng, rồi lừ lừ, nó trôi dọc theo dòng nước...Tiểu thuyết thứ bảy số 180; 1937. Mục lục Chiếc Quan Tài Chiếc Quan Tài Nguyễn Công HoanChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: HùngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Võ Thanh Phụng Chiếc Quạt Giấy Đi học về nó rất vui mừng khi thấy bà nội từ quê vào thăm gia đình nó. Đã hơn 5 năm nay nhà nó chuyển vô Nam sinh sống cũng là khoảng thời gian mà nó xa bà. Mới nay mà bà nó già quá, tóc đã bạc trắng, da thì sạm nắng nhăn nheo, bước đi chậm chạp và có phần run ray. Bà nó ôm nó vào lòng và hôn lên mái tóc đen mượt của nó. Nó cảm thấy hạnh phúc và đầm ấm làm sao! Trưa nào cũng vậy, ăn cơm xong là nó sà vào lòng bà, bắt bà kể chuyện đời xưa cho nó nghe và ru nó ngủ. Bàn tay gầy guộc của bà vỗ về, âu yếm. Theo thói quen, bà vừa kể chuyện tay vừa cầm cây quạt giấy quạt “xạch xạch”. Nó thấy vậy liền nói: - Thời buổi này mà bà còn xài quạt giấy ư? Nhà con chỉ toàn là quạt máy. Bà nhìn nó mỉm cười rồi nhẹ nhàng nói: - Ở thành phố có điện thì dùng quạt máy chứ ở quê mình làm gì mà có. Hơn nữa đi tàu cũng cần nó lắm con ạ. - Nhưng cháu thấy có mát gì đâu. Nói xong nó chạy tới bàn, cắm phích điện rồi đưa tay ấn cái “cạch”, lập tức làn gió mát rượi tỏa ra ào ào. Nó nói: - Đấy, bà thấy không, mát lắm! Bà nó không nói gì, xếp chiếc quạt giấy lại trên tay rồi cho vào giỏ xách. Một buổi trưa, trời nóng nực, cả khu chung cư bị cúp điện, không khí trong phòng thật ngột ngạt và oi nồng. Bà nó vẫn ngồi kể chuyện cho nó nghe, tay bà vẫn “xành xạch” theo từng nhịp đều đặn. Nó cảm thấy dễ chịu rồi từ từ lim dim nhắm mắt. Tiếng quạt giấy của bà đi vào giấc mơ của nó. Trong mơ, nó thấy một bà tiên tóc dài trắng xóa hôn lên trán nó và nói rằng: “ Bà yêu con lắm!” Võ Thanh Phụng Mục lục Chiếc Quạt Giấy Chiếc Quạt Giấy Võ Thanh PhụngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Thời áo trắngĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Vo Thanh Phung Paper Fan Coming home from school, he was very happy to see his grandmother coming from the countryside to visit his family. It's been more than 5 years since his family moved to the South to live, which is also the time he's been away from his grandmother. Recently, her grandmother is very old, her hair has turned white, her skin is sunburned and wrinkled, her steps are slow and somewhat shaky. His grandmother hugged him and kissed his silky black hair. How happy and warm it feels! Every afternoon, after eating, he would crawl into her arms, forcing her to tell him old stories and lull him to sleep. Her thin hands patted and caressed her. As is her habit, she told the story while holding a paper fan and fanning "rattle". Seeing that, he immediately said: - Nowadays, do you still use paper fans? My house is full of fans. She looked at it, smiled, and gently said: - If there is electricity in the city, you can use a fan. In my hometown, there is no such thing. Besides, traveling by train also requires it a lot. - But I don't think it's cool at all. Having finished speaking, he ran to the table, plugged in the power plug, then reached out and pressed "click", and immediately a cool breeze rushed out. He said: - See, you see, it's very cool! She didn't say anything, folded the paper fan in her hand and put it in her bag. One afternoon, it was hot, the whole apartment complex had a power outage, the air in the room was stuffy and muggy. His grandmother still sat and told him stories, her hands still "clear" in a steady rhythm. It felt comfortable and slowly closed its eyes. The sound of her paper fan entered his dream. In the dream, he saw a fairy with long white hair kissing his forehead and saying: "I love you very much!" Vo Thanh Phung Table of contents Paper Fan Paper Fan Vo Thanh PhungWelcome to read the first books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: White shirt period Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003
Lôi Quốc Tinh Chiếc trâm bạc Dịch giả:Nguyễn Mạnh Tùng Dịch từ ''Tiểu tiểu thuyết tình tuyển'' M ột người mẹ góa sống cùng với đứa con trai độc nhất của mình ở một vùng quê xa thành phố.Đứa con là niềm hy vọng, là tâm can của mẹ.Mẹ là chỗ dựa, là trời đất của con.Hai mẹ con lo đói có nhau.Cuộc sống tuy nghèo khó nhưng rất ấm áp tình mẹ con.Đứa con cứ ngày một lớn lên trong vòng tay của mẹ Sáu, bảy tuổi, con trai đã cắp sách đến trường nhưng mỗi lần đi học về, cậu bé lại rúc ngay lòng mẹ nũng nịu: _Mẹ cho con ti một tí! Nghe con vòi vĩnh, bà mẹ lại nhét vào mồm con đầu vú đã khô sữa từ lâu, miệng nựng con: _Nào ti một tí đi cục cưng của mẹ. Người mẹ gầy gò, một con mắt bị mù lòa.Thuơng con không còn cha lại sống trong cảnh nghèo túng, thiếu thốn, bà mẹ cắn răng trằn lưng ra làm thuê, nhịn ăn, nhịn mặc dành dụm cho con.Bà chỉ mặc quần áo cũ chằng chịt những mụn vá nhưng không bao giờ để cho con phải mặc quần áo cũ rách, bản thân bà ăn uống kham khổ để cho con được ăn no, ăn ngon.Mỗi lần thấy con ăn ngon miệng, ăn nhiều, bà mẹ mừng vui khôn xiết. Buổi tối, khi ăn cơm xong, đứa con lại cuộn tròn trong lòng mẹ nghe mẹ kể chuyện rồi ngủ lúc nào không biết. Học lên cao hơn, trường học của con lại cách xa nhà hơn. Mẹ lại ngày ngày đi bộ hàng mười mấy dặm mang cơm canh cho con dù là trời mưa hay gió bão. Ít lâu sau, đứa con phát hiện ra là bạn bè trong lớp không thích chơi với nó, kể cả những đứa bạn thân từ khi còn để chỏm.Mãi sau hỏi ra mới biết bọn bạn vừa sợ vừa ghét con mắt mù lòa của mẹ.Bọn chúng nói với nhau Con mắt mù có cái lỗ sâu, khó coi quá làm cho người ta thấy ghê ghê.Trông thật đáng sợ Đến lúc này, người con mới nhận ra một bên mắt mù của mẹ khó coi thật.Từ đó, con không cho mẹ mang cơm đến trường nữa.Tối tối, người con không còn sà vào lòng mẹ mà ngủ nữa.Nó luôn tìm cách xa lánh mẹ. Thời gian cứ trôi đi, đứa con ngày một lớn lên trông khỏe mạnh và vô cùng tuấn tú.Nhiều cô gái đã đem lòng yêu thầm nhớ trộm.Người con cũng đã biết yêu.Một cô gái như hoa như ngọc đã yêu người con khiến cho người con trong lòng vô cùng hạnh phúc.Người con sung sướng đưa bạn gái về nhà chơi.Nhưng khi người mẹ mổ gà, làm cơm mời cô gái vào mâm thì cô gái bỏ đi không một lời từ biệt.Đơn giản chỉ vì con mắt mù lòa của mẹ luôn luôn chảy nước.Người con rất đau khổ và luôn miệng quở trách mẹ.Về sau có mấy người mai mối cho người con nhưng đều không thành vì các cô gái mới chỉ nghe nói anh ta có một người mẹ mù lòa thì liền chối từ.Người con trai từ oán trách đến bất mãn, thậm trí tức giận.Nó nói: _Chỉ tại bà già mù lòa không chết quách đi cho rồi.Sống mãi làm người ta không sao lấy được vợ. Người con trai không muốn thừa nhận một người mẹ như thế. Người con đã bỏ nhà ra đi... Mẹ già mất con ruột đau như cắt. Bà đau khổ, cô đơn, thê lương, ngày ngày lê đôi chân già yếu đi khắp nơi tìm con, miệng luôn gọi: _Con trai ơi! Con đang ở đâu! Trong giấc ngủ, bà cũng gọi con.Tiếng gọi thật thê thảm: _Con của mẹ, về với mẹ, con ơi... Bà mẹ suy kiệt rất nhanh và đã vắt đến giọt nước mắt cuối cùng. Nghe tin mẹ hấp hối, người con về trước gường mẹ. Khó khăn lắm, mẹ mới lấy rađược cái trâm bạc trên đầu, run run đặt vào tay con và dặn: _Con ơi, con Mẹ đưa thứ tài sản còn lại duy nhất cho con trai.Bà cảm thấy vô cùng thỏa mãn và bà ra đi.Gương mặt mẹ thanh thản không hề có một chút oán trách con. Ngày đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng, một bà lão hàng xóm nhìn thấy cái trâm trong tay người con, bà nói với anh ta: _Này con, con có biết vì sao mà một mắt của mẹ con bị mù không? Ngày con mới lên bốn tuổi, mẹ con ngồi may áo cho con, con đã rút cái trâm trên tóc mẹ để chơi, không may lỡ tay, chọc vào con mắt ấy của mẹ con... _Ôi,mẹ!... Như trời sụp xuống, người con trai kêu lên một tiếng như xé ruột xé gan, bổ nhào đến ôm lấy mộ mẹ.Chiếc trâm trong tay chọc vào lòng bàn tay, máu chảy ròng ròng. Nguyễn Mạnh Tùng dịch (Dịch từ Tiểu tiểu thuyết tình tuyển Tác giả: Lôi Quốc Tinh (Trung quốc) Mục lục Chiếc trâm bạc Chiếc trâm bạc Lôi Quốc TinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: CamKhuê Nguồn: Tạp chí Thế giới PHỤ NỮĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 15 tháng 12 năm 2006
Loi Quoc Tinh Silver brooch Translator: Nguyen Manh Tung Translated from ''Anthology novel'' M A widowed mother lives with her only son in a countryside far from the city. The child is the hope, the mother's heart. The mother is the child's support, heaven and earth. Mother and son are worried. hungry for each other. Although life is poor, the love between mother and child is very warm. The child grows more and more in the mother's arms. At six or seven years old, the boy goes to school, but every time he comes home from school, he He immediately snuggled into his mother's arms and cooed: _Mom, give me a little breast! Hearing the child's begging, the mother stuffed the child's nipple, which had long dried with milk, into the child's mouth and petted the child: _Come on, baby, baby. The mother was thin and blind in one eye. Loving her child without a father and living in poverty and deprivation, the mother gritted her teeth and struggled to work as a laborer, starving herself of food and clothing to save for her child. She only wore clothes. Her old clothes were covered with patches, but she never let her child wear old, torn clothes. She herself ate and drank sparingly so that her child could eat well and eat well. Every time she saw her child eat well and eat a lot, The mother was overjoyed. In the evening, after eating, the child curled up in his mother's arms and listened to her tell a story and then fell asleep without knowing it. Going to higher education, my school is further away from home. My mother walked dozens of miles every day to bring rice and soup to her children, whether it was raining or stormy. Not long after, the child discovered that his friends in class did not like to play with him, including his close friends since childhood. Only after asking did he find out that his friends both feared and hated his mother's blind eyes. They talked to each other. The blind eye has a deep hole, it's so unsightly, it makes people feel terrible. It looks really scary. At this point, the son realized that one of his mother's blind eyes was really unsightly. From then on. , I don't let my mother bring me food to school anymore. At night, my son no longer falls asleep in my mother's arms. He always tries to stay away from my mother. As time passed, the child grew up to look healthy and extremely handsome. Many girls secretly loved him. The child also learned to love. A girl like a flower like a jade fell in love with the child. made the child extremely happy. The child was happy to bring his girlfriend home to play. But when the mother slaughtered the chicken and made rice to invite the girl to the tray, the girl left without saying goodbye. Simply put. because his mother's blind eyes were always watering. The son was very miserable and always scolded his mother. Later, there were several matchmakers for the son but they all failed because the girls only heard that he had one. The blind mother immediately refused. The son went from complaining to being dissatisfied, even angry. He said: _Only because the blind old woman did not die. Living forever makes it impossible for a person to get a wife. . The son did not want to acknowledge such a mother. The son left home... The old mother lost her biological child in such pain. She was miserable, lonely, mournful, dragging her old and weak legs every day everywhere looking for her son, always calling: _My son! Where are you? In her sleep, she also called her child. The call was pitiful: _My child, come back to me, my child... The mother was exhausted very quickly and had squeezed out the last tear. Hearing that his mother was dying, the son came to his mother's bed. With great difficulty, the mother took out the silver brooch on her head, tremblingly placed it in her son's hand and said: _My son, I gave my only remaining inheritance to my son. She felt extremely satisfied and she left. mother's face was peaceful without the slightest resentment towards her child. The day he brought his mother to her final resting place, an old woman in the neighborhood saw the brooch in her son's hand and said to him: _Hey son, do you know why your mother is blind in one eye? When I was just four years old, my mother was sewing a dress for me. I pulled the brooch out of her hair to play with. Unfortunately, I accidentally poked my mother in the eye... _Oh, Mom!... Like The sky fell, the son let out a gut-wrenching scream, and rushed to hug his mother's grave. The brooch in his hand poked his palm, blood flowing. Translated by Nguyen Manh Tung (Translated from Love Novel Author: Loi Quoc Tinh (China) Table of contents Silver brooch Silver brooch Loi Quoc TinhWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: executive: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: CamKhue Source: WOMEN'S World Magazine Uploaded by: Ct.Ly on: December 15, 2006
Đỗ Hoàng Ngọc Anh Chiếc vòng cẩm thạch Trần Tú là một văn sĩ nghèo. Y mới tốt nghiệp đại học Khoa học xã hội nhân văn, và chưa có việc làm. Nguồn tài chính duy nhất của y là đồng nhuận bút thất thường của mấy toà báo. Nhược điểm của Tú là y không biết tiết kiệm tiền. Có đồng nào, y tiêu bằng hết. Không có, y vay. Tính đến 28 tết, y đã vay ngót 2 triệu và trong túi đã rỗng tuếch. Các chủ nợ đều là bạn bè y nên y quyết định không ăn tết, để khỏi phải vay thêm ai nữa. Thế có nghĩa là, trong 5 ngày liền, y phải nằm nhà ăn mì gói, từ chối tiếp chuyện mọi người, trong khi đường phố vẫn đông vui tấp nập. Tú mở lịch, y bóc tờ 13-12. Tờ lịch 14 đỏ chói đập vào mắt y, nhức nhối. Ngày 14 vừa là ngày chủ nhật, vừa là lễ thánh Valentine. Mà lễ thánh Valentine, tức là sẽ phải tặng quà cho Sương, vì đây là ngày hội của tình yêu. Dĩ nhiên, Tú có thể giả vờ bó bột nằm nhà, nhưng thế nào Sương cũng giận, vì năm ngoái, Tú đã nhờ mấy thằng bạn học SKĐA hoá trang cho thành bị lên quai bị, mà vẫn bị Sương giận cho mấy buổi. Tú chợt nhớ, đã hơn một tuần nay không gặp Sương. Xa nhau lâu thế mà Tú không thấy nhớ, kể cũng lạ. Một thằng bạn "thất tình" của Tú đã từng nói với y rằng, con gái cũng như loài mèo. Khi đói ăn hoặc cần âu yếm thì chúng nũng nịu, hoặc kêu gào. Còn khi thấy nơi nào quý mến chúng hơn, thì chúng bỏ ta mà đi. Tú không tin điều ấy, vì nhà Tú đã nuôi một con mèo đen đã hơn một năm nay mà chẳng thấy nó bỏ đi đâu cả, Tú quý con mèo lắm, đi thì không nói làm gì, hễ cứ về đến nhà là Tú ôm mèo vào lòng vuốt ve và thủ thỉ tâm sự những gì không ai rõ. Con mèo cũng quấn quít bên Tú suốt ngày. Đêm đến, mỗi khi y ngồi viết, mèo lại nằm khoanh tròn trong lòng y, lim dim ngủ. Khi ấy, Tú đưa một tay xuống gãi nơi cổ con mèo. Mèo nghển cổ lên, cho ngón tay Tú gãi được đều khắp. Cuống họng nó rung rung, cất lên tiếng gừ gừ nghe như tiếng thở khó nhọc của người hen, những lúc mèo keo gừ gừ như thế là lúc nó đang khoái chí. Tú nhìn đồng hồ, đã gần 12 giờ đêm. Con mèo vẫn nằm cuộn tròn trong lòng Tú, say sưa giấc điệp. Y cảm thấy đầu óc trống rỗng, chẳng nghĩ được cái gì, ngoài hai chữ "Sương" và "Valentine". Được một lúc, Tú quyết định đi ngủ. Y bế con mèo lên giường, diềm màn, trùm chăn, tắt đèn. Con mèo bị đánh thức bất ngờ, ngơ ngác nhìnTú một lúc, rồi loay hoay leo lên ngực Tú, nằm cuộn tròn. Y lại phải gãi cổ cho nó. Trong màn đêm tĩnh lặng, bên tai Tú chỉ còn tiếng gừ gừ thích thú. Tú ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Chợt y bị một bàn tay lay dậy, trước mặt y, là một ông cụ trông quắc thước, trong trang phục dạ hành. Mái tóc cụ bạc trắng, được buộc ra phía sau, có vài món tóc chảy xoà ra trên vai. Toàn thân ông cụ toả ra một thứ ánh sáng xanh dìu dịu, và trên vai ông, Tú thấy thò ra một cái chuôi kiếm. Tú nhìn quanh, cửa vẫn đóng, ông cụ vào đây bằng cách nào? Dường như đọc được sự băn khoăn trên mặt Tú, ông cụ nói: - Con đừng sợ! Ta là Nam hiệp Triển Chiêu, vẫn được giang hồ nhắc tới bằng bốn chữ "Thất hiệp ngũ nghĩa", nhưng bốn chữ "Thần Miêu đại hiệp" lại làm Tú nhớ đến nhân vật Dương Qua của nhà văn Kim Dung. Dương Qua được tôn là Thần Điêu Đại Hiệp, vì bên cạnh anh, lúc nào cũng có con đại điêu, và anh luôn ra tay phò nan, diệt ác. Tú hỏi lại: - Sao lại là Thần Miêu? Triển Chiêu chắp tay: - Hoàng thượng ban cho ta hai chữ Ngự Miêu vì ta di chuyển nhẹ như mèo, mà cũng vì ta luôn giúp người diệt những loài chuột bọ, tham quan ô lại, giữ trong sạch xã tắc giang sơn. Ta biết con đang túng thiếu, nên ban cho con một phép lạ. Tú đã chui ra khỏi chăn, con mèo mất chỗ ngủ, bình thường sẽ chui vào chăn ngủ tiếp nhưng nó lại ngồi xổm, giương to đôi mắt nhìn ông cụ. Cụ nói tiếp: - Ta sẽ biến con mèo của con thành một con mèo vàng chính xác đến từng sợi lông. Con đem mèo vàng đến tiệm vàng, cầm lấy một ít tiền tiêu tạm. Sau ba ngày tết, phép màu sẽ hết linh, mèo vàng sẽ thành mèo thường. Nếu con không chuộc lại con mèo trước sáng mồng một Tết, chủ tiệm vàng tưởng mình bị lừa, sẽ trút giận lên con mèo. Đến nước ấy, tối mồng hai ta sẽ lấy mạng con. Tú láu cá: - Thưa ông! Lỡ chủ tiệm vàng thấy mèo đẹp, giữ luôn của con thì sao ạ? Triển Chiêu nhíu mày: - Nếu đến tối ba mươi, chủ tiệm không chịu trả lại mèo cho con, con chỉ việc đọc câu thần chú "Hasta la vista, baby" là mèo sẽ tự động hoá về như cũ, và chạy về với con. Tú dập đầu lạy tạ. Triển Chiêu gỡ thanh kiếm đang đeo ra, gõ lên đầu con mèo. Trong phút chốc, mèo biến thành một bức tượng mèo vàng chóe. Triển Chiêu biến mất. Sáng hôm sau, Tú mang mèo đến hiệu vàng Ngọc Lan, cầm lấy 13 triệu đồng, đi mua một chiếc vòng cẩm thạch giá hai trăm năm mươi nghìn. Tối hôm ấy, Tú đem chiếc vòng đến nhà Sương. Người tiếp chuyện Tú là bố Sương. - Em nó đi học thêm chưa về! Tú giấu gói quà ra sau lưng, lủi thủi ra về. Lúc này là 9h30 tối. Không một lớp luyện thi nào lại tan sau 8h tối. Các lò ở Bách Khoa, Sư Phạm, Láng... Tú đều thuộc cả. Chắc là Sương đi chơi. Vẫn còn hy vọng. Tú ngồi quán nước đầu ngõ nhà Sương, chờ: Hút hết năm điếu vina (đã lâu lắm Tú mới đợc hút Vina) thì Sương về. Nhưng có điều Sương không đi bộ mà ngồi đằng sau một chiếc kích bốc màu đỏ và ôm eo thằng cầm lái. Tú quá biết chủ sở hữu chiếc kích bốc, gã đang theo đuổi Sương bấy lâu nay. Cổ họng y đắng ngắt. Y uống chén nước chè mà như uống thuốc độc. Cúi mặt xuống, Tú quanh lưng ra đường. Di điếu thuốc xuống chân, sau lưng Tú, tiếng động cơ hai thì ré lên. Chiếc kích bốc vụt đi, mùi khói xăng pha dầu thơm mà sao Tú thấy khét hơn mùi hương muỗi. Nửa tiếng sau, Tú trả tiền, ra về. Suốt từ lúc đó đến nửa đêm, Tú lang thang như một thằng mất hồn dọc bờ sông Kim Ngưu. Ngay chân cầu chỗ nhà Sương rẽ ra. Tú đã thả cả hộp quà xuống đấy. Chiếc hộp gói cái vòng như một cỗ quan tài đã chôn sâu cả mối tình đầu của Tú dưới dòng nước đen kịt. Tú định nhẩy xuống theo luôn. Mãu đến sáng hôm sau, Tú mới về nhà. Ngồi được một lúc, đêm tất cả ảnh và thư từ của Sương ra đốt cho bằng hết. Đốt xong, Tú lại đóng cửa bỏ đi. Khi Tú trở về nhà thì đã gần giao thừa. Tú nằm vật ra giường, chợt thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Tú kêu meo meo mấy tiếng để gọi con mèo. Không thấy đâu, y chợt nhớ tới tiệm vàng Ngọc Lan. Sờ tay vào túi, Tú rút ra gói tiền - đó là tiền Tú mới thắng bạc, hơn hai chục triệu. Tú nhìn đồng hồ-còn một tiếng nữa là tới giao thừa. Tú chạy nhanh xuống nhà gửi xe, dắt chiếc Viva ra- chiếc xe này, Tú cũng vừa mới thắng bạc xong - nổ máy, và chạy đến tiệm vàng Ngọc Lan. Cửa đóng im ỉm, đèn đuốc tắt hết. Anh công an phường đang đi tuần thấy vẻ mặt ngơ ngác của Tú. Anh hỏi giấy tờ, rồi nói: - Nhà này đi hái lộc hết rồi, mà đến mồng 2 mới mở hàng cơ. Tú chợt nhớ câu thần chú, Y gào to: - Hasta la vista. Baby. Trong nhà có tiếng lạch xạch. Hơn nửa tiếng sau không thấy mèo ra. Tú về. Dọc đường, Tú nghe thấy lời chúc tết của bác Chủ tịch nước qua TV. Tú ngủ liền một mạch. Tám giờ sáng hôm sau, Tú lại đến tiệm vàng nhưng vẫn hoài công vô ích. Sáng mồng hai, Tú quay lại tiệm vàng và xin chuộc con mèo với giá 20 triệu. Chủ tiệm xởi lởi mang một chiếc hộp sắt ra. Y mở hộp, lại một cái hòm kính nữa. Vừa lôi hòm kính ra. Y giật nảy mình. Trong hòm, là xác một con mèo đen, chết cứng, hai mắt mèo trợn ngược, trắng dã. Cái lưỡi nhợt nhạt trắng phều lè ra một cục dớt to tướng. Con mèo chết ngạt. Tú ôm đầu chạy ra khỏi tiệm vàng. Cả căn nhà bỗng chốc đối với Tú như một nấm mồ. ở đâu, Tú cũng thấy hình bóng con mèo nằm, ngồi, đi lại. Chợt Tú nhớ đến bản án tử hình của Thần Miêu Đại Hiệp. Đến lúc này, Tú mới thấy yêu cuộc sống thế. Thế mà hai hôm trước, lúc ở nhà Sương ra, Tú lại định bắt chước Lê Công Tuấn Anh. Buổi tối dài dằng dặc, Tú ngồi viết chúc thư, để sẵn lên bàn. Đúng mười hai giờ đêm, Tú tắt đèn đợi Triển Chiêu đến, nhưng dưới gối vẫn thủ sẵn một con dao găm. Mười hai giờ mười lăm phút, một vầng sáng chói bỗng hiện ra giữa nhà: đúng là Triển Chiêu Đại HIệp. Ông cụ cầm kiếm bên tay phải, tay trái ôm con mèo của Tú. Thấy mèo, Tú mừng lắm, chồm tới, đưa cả hai tay ra để bế. Triển Chiêu lạnh lùng xọc kiếm vào ngực Tú, y cảm thấy đau nhói nơi trái tim. Tú bừng tỉnh, mồ hôi tuôn ra như tắm. Com mèo vẫn bình thản nằm ngủ trên ngực Tú, móng vuốt đang bấu chặt lấy người y. Tú thở dồn, nhìn lịch: Hà Nội 14-2. Mục lục Chiếc vòng cẩm thạch Chiếc vòng cẩm thạch Đỗ Hoàng Ngọc AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 1 tháng 12 năm 2005
Đỗ Hoàng Ngọc Anh Chiếc vòng cẩm thạch Trần Tú là một văn sĩ nghèo. Y mới tốt nghiệp đại học Khoa học xã hội nhân văn, và chưa có việc làm. Nguồn tài chính duy nhất của y là đồng nhuận bút thất thường của mấy toà báo. Nhược điểm của Tú là y không biết tiết kiệm tiền. Có đồng nào, y tiêu bằng hết. Không có, y vay. Tính đến 28 tết, y đã vay ngót 2 triệu và trong túi đã rỗng tuếch. Các chủ nợ đều là bạn bè y nên y quyết định không ăn tết, để khỏi phải vay thêm ai nữa. Thế có nghĩa là, trong 5 ngày liền, y phải nằm nhà ăn mì gói, từ chối tiếp chuyện mọi người, trong khi đường phố vẫn đông vui tấp nập. Tú mở lịch, y bóc tờ 13-12. Tờ lịch 14 đỏ chói đập vào mắt y, nhức nhối. Ngày 14 vừa là ngày chủ nhật, vừa là lễ thánh Valentine. Mà lễ thánh Valentine, tức là sẽ phải tặng quà cho Sương, vì đây là ngày hội của tình yêu. Dĩ nhiên, Tú có thể giả vờ bó bột nằm nhà, nhưng thế nào Sương cũng giận, vì năm ngoái, Tú đã nhờ mấy thằng bạn học SKĐA hoá trang cho thành bị lên quai bị, mà vẫn bị Sương giận cho mấy buổi. Tú chợt nhớ, đã hơn một tuần nay không gặp Sương. Xa nhau lâu thế mà Tú không thấy nhớ, kể cũng lạ. Một thằng bạn "thất tình" của Tú đã từng nói với y rằng, con gái cũng như loài mèo. Khi đói ăn hoặc cần âu yếm thì chúng nũng nịu, hoặc kêu gào. Còn khi thấy nơi nào quý mến chúng hơn, thì chúng bỏ ta mà đi. Tú không tin điều ấy, vì nhà Tú đã nuôi một con mèo đen đã hơn một năm nay mà chẳng thấy nó bỏ đi đâu cả, Tú quý con mèo lắm, đi thì không nói làm gì, hễ cứ về đến nhà là Tú ôm mèo vào lòng vuốt ve và thủ thỉ tâm sự những gì không ai rõ. Con mèo cũng quấn quít bên Tú suốt ngày. Đêm đến, mỗi khi y ngồi viết, mèo lại nằm khoanh tròn trong lòng y, lim dim ngủ. Khi ấy, Tú đưa một tay xuống gãi nơi cổ con mèo. Mèo nghển cổ lên, cho ngón tay Tú gãi được đều khắp. Cuống họng nó rung rung, cất lên tiếng gừ gừ nghe như tiếng thở khó nhọc của người hen, những lúc mèo keo gừ gừ như thế là lúc nó đang khoái chí. Tú nhìn đồng hồ, đã gần 12 giờ đêm. Con mèo vẫn nằm cuộn tròn trong lòng Tú, say sưa giấc điệp. Y cảm thấy đầu óc trống rỗng, chẳng nghĩ được cái gì, ngoài hai chữ "Sương" và "Valentine". Được một lúc, Tú quyết định đi ngủ. Y bế con mèo lên giường, diềm màn, trùm chăn, tắt đèn. Con mèo bị đánh thức bất ngờ, ngơ ngác nhìnTú một lúc, rồi loay hoay leo lên ngực Tú, nằm cuộn tròn. Y lại phải gãi cổ cho nó. Trong màn đêm tĩnh lặng, bên tai Tú chỉ còn tiếng gừ gừ thích thú. Tú ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Chợt y bị một bàn tay lay dậy, trước mặt y, là một ông cụ trông quắc thước, trong trang phục dạ hành. Mái tóc cụ bạc trắng, được buộc ra phía sau, có vài món tóc chảy xoà ra trên vai. Toàn thân ông cụ toả ra một thứ ánh sáng xanh dìu dịu, và trên vai ông, Tú thấy thò ra một cái chuôi kiếm. Tú nhìn quanh, cửa vẫn đóng, ông cụ vào đây bằng cách nào? Dường như đọc được sự băn khoăn trên mặt Tú, ông cụ nói: - Con đừng sợ! Ta là Nam hiệp Triển Chiêu, vẫn được giang hồ nhắc tới bằng bốn chữ "Thất hiệp ngũ nghĩa", nhưng bốn chữ "Thần Miêu đại hiệp" lại làm Tú nhớ đến nhân vật Dương Qua của nhà văn Kim Dung. Dương Qua được tôn là Thần Điêu Đại Hiệp, vì bên cạnh anh, lúc nào cũng có con đại điêu, và anh luôn ra tay phò nan, diệt ác. Tú hỏi lại: - Sao lại là Thần Miêu? Triển Chiêu chắp tay: - Hoàng thượng ban cho ta hai chữ Ngự Miêu vì ta di chuyển nhẹ như mèo, mà cũng vì ta luôn giúp người diệt những loài chuột bọ, tham quan ô lại, giữ trong sạch xã tắc giang sơn. Ta biết con đang túng thiếu, nên ban cho con một phép lạ. Tú đã chui ra khỏi chăn, con mèo mất chỗ ngủ, bình thường sẽ chui vào chăn ngủ tiếp nhưng nó lại ngồi xổm, giương to đôi mắt nhìn ông cụ. Cụ nói tiếp: - Ta sẽ biến con mèo của con thành một con mèo vàng chính xác đến từng sợi lông. Con đem mèo vàng đến tiệm vàng, cầm lấy một ít tiền tiêu tạm. Sau ba ngày tết, phép màu sẽ hết linh, mèo vàng sẽ thành mèo thường. Nếu con không chuộc lại con mèo trước sáng mồng một Tết, chủ tiệm vàng tưởng mình bị lừa, sẽ trút giận lên con mèo. Đến nước ấy, tối mồng hai ta sẽ lấy mạng con. Tú láu cá: - Thưa ông! Lỡ chủ tiệm vàng thấy mèo đẹp, giữ luôn của con thì sao ạ? Triển Chiêu nhíu mày: - Nếu đến tối ba mươi, chủ tiệm không chịu trả lại mèo cho con, con chỉ việc đọc câu thần chú "Hasta la vista, baby" là mèo sẽ tự động hoá về như cũ, và chạy về với con. Tú dập đầu lạy tạ. Triển Chiêu gỡ thanh kiếm đang đeo ra, gõ lên đầu con mèo. Trong phút chốc, mèo biến thành một bức tượng mèo vàng chóe. Triển Chiêu biến mất. Sáng hôm sau, Tú mang mèo đến hiệu vàng Ngọc Lan, cầm lấy 13 triệu đồng, đi mua một chiếc vòng cẩm thạch giá hai trăm năm mươi nghìn. Tối hôm ấy, Tú đem chiếc vòng đến nhà Sương. Người tiếp chuyện Tú là bố Sương. - Em nó đi học thêm chưa về! Tú giấu gói quà ra sau lưng, lủi thủi ra về. Lúc này là 9h30 tối. Không một lớp luyện thi nào lại tan sau 8h tối. Các lò ở Bách Khoa, Sư Phạm, Láng... Tú đều thuộc cả. Chắc là Sương đi chơi. Vẫn còn hy vọng. Tú ngồi quán nước đầu ngõ nhà Sương, chờ: Hút hết năm điếu vina (đã lâu lắm Tú mới đợc hút Vina) thì Sương về. Nhưng có điều Sương không đi bộ mà ngồi đằng sau một chiếc kích bốc màu đỏ và ôm eo thằng cầm lái. Tú quá biết chủ sở hữu chiếc kích bốc, gã đang theo đuổi Sương bấy lâu nay. Cổ họng y đắng ngắt. Y uống chén nước chè mà như uống thuốc độc. Cúi mặt xuống, Tú quanh lưng ra đường. Di điếu thuốc xuống chân, sau lưng Tú, tiếng động cơ hai thì ré lên. Chiếc kích bốc vụt đi, mùi khói xăng pha dầu thơm mà sao Tú thấy khét hơn mùi hương muỗi. Nửa tiếng sau, Tú trả tiền, ra về. Suốt từ lúc đó đến nửa đêm, Tú lang thang như một thằng mất hồn dọc bờ sông Kim Ngưu. Ngay chân cầu chỗ nhà Sương rẽ ra. Tú đã thả cả hộp quà xuống đấy. Chiếc hộp gói cái vòng như một cỗ quan tài đã chôn sâu cả mối tình đầu của Tú dưới dòng nước đen kịt. Tú định nhẩy xuống theo luôn. Mãu đến sáng hôm sau, Tú mới về nhà. Ngồi được một lúc, đêm tất cả ảnh và thư từ của Sương ra đốt cho bằng hết. Đốt xong, Tú lại đóng cửa bỏ đi. Khi Tú trở về nhà thì đã gần giao thừa. Tú nằm vật ra giường, chợt thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Tú kêu meo meo mấy tiếng để gọi con mèo. Không thấy đâu, y chợt nhớ tới tiệm vàng Ngọc Lan. Sờ tay vào túi, Tú rút ra gói tiền - đó là tiền Tú mới thắng bạc, hơn hai chục triệu. Tú nhìn đồng hồ-còn một tiếng nữa là tới giao thừa. Tú chạy nhanh xuống nhà gửi xe, dắt chiếc Viva ra- chiếc xe này, Tú cũng vừa mới thắng bạc xong - nổ máy, và chạy đến tiệm vàng Ngọc Lan. Cửa đóng im ỉm, đèn đuốc tắt hết. Anh công an phường đang đi tuần thấy vẻ mặt ngơ ngác của Tú. Anh hỏi giấy tờ, rồi nói: - Nhà này đi hái lộc hết rồi, mà đến mồng 2 mới mở hàng cơ. Tú chợt nhớ câu thần chú, Y gào to: - Hasta la vista. Baby. Trong nhà có tiếng lạch xạch. Hơn nửa tiếng sau không thấy mèo ra. Tú về. Dọc đường, Tú nghe thấy lời chúc tết của bác Chủ tịch nước qua TV. Tú ngủ liền một mạch. Tám giờ sáng hôm sau, Tú lại đến tiệm vàng nhưng vẫn hoài công vô ích. Sáng mồng hai, Tú quay lại tiệm vàng và xin chuộc con mèo với giá 20 triệu. Chủ tiệm xởi lởi mang một chiếc hộp sắt ra. Y mở hộp, lại một cái hòm kính nữa. Vừa lôi hòm kính ra. Y giật nảy mình. Trong hòm, là xác một con mèo đen, chết cứng, hai mắt mèo trợn ngược, trắng dã. Cái lưỡi nhợt nhạt trắng phều lè ra một cục dớt to tướng. Con mèo chết ngạt. Tú ôm đầu chạy ra khỏi tiệm vàng. Cả căn nhà bỗng chốc đối với Tú như một nấm mồ. ở đâu, Tú cũng thấy hình bóng con mèo nằm, ngồi, đi lại. Chợt Tú nhớ đến bản án tử hình của Thần Miêu Đại Hiệp. Đến lúc này, Tú mới thấy yêu cuộc sống thế. Thế mà hai hôm trước, lúc ở nhà Sương ra, Tú lại định bắt chước Lê Công Tuấn Anh. Buổi tối dài dằng dặc, Tú ngồi viết chúc thư, để sẵn lên bàn. Đúng mười hai giờ đêm, Tú tắt đèn đợi Triển Chiêu đến, nhưng dưới gối vẫn thủ sẵn một con dao găm. Mười hai giờ mười lăm phút, một vầng sáng chói bỗng hiện ra giữa nhà: đúng là Triển Chiêu Đại HIệp. Ông cụ cầm kiếm bên tay phải, tay trái ôm con mèo của Tú. Thấy mèo, Tú mừng lắm, chồm tới, đưa cả hai tay ra để bế. Triển Chiêu lạnh lùng xọc kiếm vào ngực Tú, y cảm thấy đau nhói nơi trái tim. Tú bừng tỉnh, mồ hôi tuôn ra như tắm. Com mèo vẫn bình thản nằm ngủ trên ngực Tú, móng vuốt đang bấu chặt lấy người y. Tú thở dồn, nhìn lịch: Hà Nội 14-2. Mục lục Chiếc vòng cẩm thạch Chiếc vòng cẩm thạch Đỗ Hoàng Ngọc AnhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Sưu tầm: ABCD Nguồn: bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 1 tháng 12 năm 2005
Nguyễn Lê Chiếc xe của tình yêu Đó chỉ là một chiếc Honda dame cà tàng mà cha mẹ đã mua tặng tôi để làm phần thưởng cho ngày tốt nghiệp đại học. Em mừng lắm, dù vẫn luôn miệng nhắc lại kỷ niệm của những ngày đi học bằng xe đạp, với quãng đường đầy gió bụi nắng mưa . Rời trường đại học, chúng tôi bước vào đời với nhiều mơ ước và tham vọng. May mắn thay em tìm được việc làm trong cơ quan nhà nước. Còn tôi thì đang ấp ủ một giấc mơ khác: học cao học. Sáng tôi đưa em đến cơ quan, chiều rước về bằng chiếc xe Honda dame đó. Bạn bè trong cơ quan trêu em, họ gọi tôi là chàng Dame để phân biệt với những chàng Dream, Astrea, L.A ... khác. Cuộc sống của những con người trẻ không đơn giản và phẳng lặng. Chúng tôi cứ tưởng là đã hiểu rõ tận đáy lòng nhau bởi đã cùng chia sẻ cho nhau những ngày tháng sinh viên khốn khó, nhưng tươi đẹp. Vậy mà, đã rất nhiều lần, chúng tôi ngạc nhiên và thất vọng nhìn nhau . Chúng tôi giận nhau luôn với hàng ngàn lý do vặt vãnh đời thường. Lòng tự ái và kiêu ngạo của tuổi trẻ đã tạo ra những khoảng trống im lặng giữa hai đứa và kéo dài hàng tuần lễ mặc dù sáng đi chiều về vẫn chung xe . Tuy nhiên, dù muốn dù không thì vẫn phải gặp nhau hàng ngày, nên chiến tranh lạnh nào cũng kết thúc, mà người vẫy cờ trắng đầu tiên là tôi, cho dù em là người có lỗi . Chúng tôi lập chương trình cho tình yêu của mình, trước tiên là tôi sẽ tiếp tục học cao học, em đi làm nuôi ... tôi, rồi tới phiên em đi hoc. và tôi đi làm. Sau khi đã hoàn tất việc học hành thì sẽ tính tới chuyện cưới xin. Em nhảy ra ngoài làm thư ký tổng giám đốc một công ty Nhật Bản với số tiền lương khá hậu hỉ. Nửa năm đầu trôi qua khá êm ả. Thế rồi, tôi bắt đầu nghe nhừng lời xì xào từ phía gia đình em về tôi . Tôi nhận thấy cách cư xử của họ đối với tôi không còn như trước. Tuy nhiên em thì vẫn đối xử với tôi như ngày nào . Nghĩ rằng gia đình em lạnh nhạt vì thấy tôi nghèo nên tôi quyết định phải kiếm tiền. Tôi xin đi làm tiếp thị cho một công ty chuyên về rượu ngoại vào buổi tối . Công việc tiếp thị rượu đã buộc tôi phải thường xuyên có mặt tại các vũ trường hằng đêm. Em giận và đề nghị tôi phải nghỉ làm ngay để tập trung cho việc học. Tôi phản đối lại bằng cách đưa cho em đi xem bảng điểm toàn những con số 9, 10 tròn trĩnh. Em buồn nhưng không giận lâu được. Tôi đi làm buổi tối, nên chúng tôi ít có thời gian dành cho nhau ngoài hai lần đưa rước. Hai năm cao học rồi cũng trôi qua với những kỷ niệm buồn vui được mất mà chứng nhân là chiếc Honda dame cà khổ. Với mảnh bằng cao học, tôi đã xin được một chỗ làm ưng ý và bắt đầu nghĩ tới chuyện cưới xin. Tôi bắt đầu lao vào công việc làm ăn với khát vọng làm giàu mãnh liệt. Nhờ có mối quan hệ tốt với bạn bè đồng học và may mắn nên tôi kiếm được đồng tiền khá dễ dàng. Tôi mua cho mình một chiếc môtô 250 phân khối . Em nói là em thic h ngồi trên chiếc xe cà khổ kia hơn. Tôi vô tâm, không đếm xỉa đến điều ẩn chứa trong ý kiến của em, mà chỉ cười và khen em có óc hài hước. Tôi tặng em những món quà trang sức đắt tiền, những bộ đồ thời trang nhất. Em nhận với bộ mặt lãnh cảm. Vì công việc, tôi thường xuyên đón em trễ hoặc phải để em đi xích lô về nhà. Em không giận nhưng không còn được vui vẻ hồn nhiên như trước. Ngày sinh nhật, tôi tặng em một món quà đặc bbiệt, chiếc xe Honda Max, nỗi ao ước của em ngày xưa . Các bạn bè của em trầm trồ, còn em thì bỏ chạy ra ngoài khóc tấm tức. Tôi thẫn thờ nhìn theo rồi đành phải thuê người chở chiếc xe còn mới nguyên trong thùng đó về nhà. Hôm sau tới đón, mẹ bảo em đã đi làm rồi . Cả ngày hôm đó, tôi không liên lạc được với em. Chiều, tôi rước em nhưng cô tiếp tân lạnh lùng cho biết em đã về. Ghé nhà, thì em chưa về. Lòng tự ái nỗi lên, nguyên một tuần liền tôi không tìm gặp em. Rồi tiếp đó, tôi dự đợt hội chợ triễn lãm ở nước ngoài trong hơn hai tuần. Tôi cho đây là dịp may để bình tĩnh nhìn lại cuộc đời mình. Trong lần ra nước ngoài này tôi đã gặp Loan và tình cảm giữa hai chúng tôi nảy sinh. Được tin về sự thay đổi của tôi, một tháng sau em lấy chồng. Chồng của em là vị tổng giám đốc Nhật, người mà tôi biết đã đeo đuổi em từ hơn hai năm nay . Sau đó một thời gian, em sang Nhật và định cư luôn ở bên đó. Còn tôi cưới Loan. Bây giờ, tôi gần như đã đạt được nhiều hơn những ước mơ của mình thời sinh viên. Đó là địa vị xã hội nhất định, một gia đình êm ấm, nhà cao cửa rộng, tiện nghi đắt tiền ... Duy chỉ có một điều thất bại: đó là tôi mất em. Và thất bại đó, đối với tôi, vẫn còn đầy bí ẩn! Mục lục Chiếc xe của tình yêu Chiếc xe của tình yêu Nguyễn LêChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: TieuboingoanĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 25 tháng 5 năm 2005
Nguyen Le The car of love It was just a Honda dame that my parents bought me as a reward for my college graduation. I was very happy, even though I kept recalling the memories of the days of going to school by bicycle, with a journey filled with wind, dust, sun and rain. Leaving university, we entered life with many dreams and ambitions. Luckily I found a job in a government agency. And I am cherishing another dream: graduate school. In the morning, I took her to the office and picked her up in the afternoon using that Honda dame. My friends at work tease me, they call me Dame to distinguish me from other Dream, Astrea, L.A... guys. The lives of young people are not simple and smooth. We thought we understood each other from the bottom of our hearts because we had shared the difficult, but beautiful, student days with each other. Yet, many times, we looked at each other in surprise and disappointment. We are always angry with each other for thousands of trivial reasons in everyday life. The pride and arrogance of youth created gaps of silence between the two of them that lasted for weeks even though they still shared the same car when they left in the morning and returned home in the afternoon. However, whether we like it or not, we still have to meet every day, so any cold war will end, and the first person to wave the white flag is me, even if I am the one at fault. We made a plan for our love, first I would continue to study for graduate school, she would go to work to support me, and then it would be her turn to go to school. and I go to work. After completing my studies, I will consider getting married. I jumped out to work as a secretary to the general director of a Japanese company with a pretty good salary. The first half of the year passed quite smoothly. Then, I started to hear whispers from her family about me. I noticed that their behavior towards me was no longer the same as before. However, you still treat me the same as before. Thinking that my family was cold because they saw me poor, I decided to make money. I would like to work in marketing for a company specializing in foreign wine in the evenings. My job in alcohol marketing forced me to be present at nightclubs every night. She was angry and asked me to quit work immediately to focus on studying. I protested by taking her to see the scoreboard full of round numbers 9 and 10. I'm sad but I can't stay angry for long. I work at night, so we don't have much time to spend together other than two pick-up times. Two years of graduate school have passed with happy and sad memories of gain and loss, witnessed by the miserable Honda dame. With a master's degree, I found a satisfactory job and started thinking about getting married. I started doing business with a strong desire to get rich. Thanks to good relationships with my fellow students and luck, I earned money quite easily. I bought myself a 250cc motorbike. I said I'd rather sit in that miserable car. I was indifferent, not paying attention to what was hidden in her opinion, but just smiled and complimented her for her sense of humor. I gave her expensive jewelry and the most fashionable clothes. I accepted with an indifferent face. Because of work, I often pick her up late or have to let her take a cyclo home. I'm not angry, but I'm no longer as happy and innocent as before. On your birthday, I gave you a special gift, a Honda Max car, your dream in the past. My friends were amazed, and I ran out crying. I stared blankly and then had to hire someone to carry the car, still in its original box, home. The next day when she came to pick me up, my mother said I had gone to work. That whole day, I couldn't contact her. In the afternoon, I picked her up but the receptionist coldly said she had returned. When I got home, I wasn't home yet. My self-love arose, I didn't see her for a whole week. Then, I attended an exhibition abroad for more than two weeks. I think this is a good opportunity to calmly look back at my life. During this trip abroad, I met Loan and the feelings between the two of us arose. Hearing about my change, a month later she got married. Your husband is a Japanese general manager, who I know has been pursuing you for more than two years. After a while, I went to Japan and settled there. And I married Loan. Now, I have almost achieved more of my student dreams. That is a certain social status, a warm family, a tall house, large doors, expensive amenities... There is only one failure: I lost you. And that failure, for me, is still full of mystery! Table of contents The car of love The car of love Nguyen LeWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Tieuboingoan Uploaded by friend: Ct.Ly on: May 25, 2005
Jean Francois Chiếc áo da báo Wifrid Geiler ngồi ăn tối trong nhà của Inge Breisach, tại một khu phố sang trọng ở Franfort. Wifrid cầm tay người yêu. ở tuổi 38, anh ta có tất cả những gì mà đàn ông thàm muốn về thể hình: Lực lưỡng, vẻ thông minh và cương quyết. Wifrid là kiến trúc sư, cái nghề ko phải ai cũng làm được. Còn Inge, người phụ nữ 35 tuổi, cũng có một nét đẹp khả ái, đứng đầu một hãng thiết kế thời trang. Chuỗi hạt kim cương ở cổ Inge cho thấy tình cảm giữa họ đã đạt đến độ nào.Inge khẽ thở dài, vì họ đang gặp một vấn đề cổ điển: quan hệ ngoài hôn nhân. Inge còn độc thân, nhưng Wifrid thì... Inge khẽ hỏi:- Anh đã nói chuyện với vợ anh chưa?- Đã. Chiều nay.- Rồi sao?- Tệ lắm. Cô ấy ko chịu ly dị.- Anh đã đề nghị số tiền ấy chứ?- Có. Nhưng cô ấy ko mảy may quan tâm. Điều quan trọng là cô ấy muốn có anh. Cô ấy tin rằng mối quan hệ giữa anh và em sẽ chẳng bền lâu và rồi anh sẽ quay lại...- Phi lý! Anh ko còn cách nào nữa ư?- Anh đã nói nghìn lẻ một lần với cô ấy rằng tất cả đã chấm dứt. Rằng anh ko thể chung sống với cô ấy. Cô ấy ko nghe.- Cô ấy bảo sao?- Ko bảo gì cả. Anh đã điên tiết lên và nện cho cô ấy một trận.- Anh điên rồi!- Em cứ thử ở đấy xem. Làm sao bình tĩnh nổi trước cái bức tường thành câm lặng ấy chứ? Anh đã quát lên:" Tôi mong cô chết quách cho xong" và đã tát cô ấy hai cái.Inge thở dài...Hai giờ sáng. Wifrid ngồi bên tay lái chiếc Mercedes về nhà. Một căn nhà sang trọng cũng trong một khu phố sang trọng của Franfort. Từ xa, anh đã thấy xe cảnh sát và chiếc xe của Eva, vợ anh. Wifrid nhảy bổ khỏi xe và đứng chết lặng trên vỉa hè: một cái xác quấn vải đang nằm sóng sượt trên vỉa hè. Một người đàn ông lại gần:- Xin lỗi, ông Wifrid? Tôi là thanh tra Leibel.- Ông định nói..- Vâng.Leibel giở lớp vải lên:- Ông có nhận ra bà nhà ko?Wifrid há hốc chết sững. Đúng là Eva. Gương mặt hiện rõ trong ánh đèn pha xé rách bóng tối. Cô ấy vẫn như đang sống, gương mặt trẻ con, gò má đầy đặn và những lọn tóc nâu... Miệng và mắt Evà mở to, chứng tỏ một sự ngạc nhiên lớn. Như thường lệ, Eva vẫn mặc chiếc áo da báo.Leibel cất giọng trầm buồn:- Bà nhà bị đâm cách đây độ 15 phút. Bà ấy vừa đi ra mở cổng thì bị một kẻ lạ mặt ngồi trên xe nhào tới... Chúng tôi được người giúp việc của ông báo tin. Quá trễ...bà ấy đã chết ngay tức khắc.Wifrid tiến đến người giúp việc gần đó:- Gunter, chuyện gì xảy ra vậy?Nhưng Gunter ko trả lời mà quay mặt đi với vẻ kinh hoàng cực độ. Leibel cất giọng:- Tôi có vài câu hỏi với ông, ông Wifrid ạ. Chúng ta vào nhà được chứ?- Ngay bây giờ ư? - Ngay bây giờ!Wifrid bước như một cái máy qua cánh cổng, vào phòng khách.- ông có thể cho chúng tôi biết, cách đây 15 phút, ông ở đâu?Wifrid thở dài.- Tôi ở nhà cô Inge Berisach. Cô ấy là tình nhân của tôi.- Thôi, tôi biết hết cả rồi.- Cái gì? Ông nghĩ là tôi đã giết vợ ư?- Chính thế!- Này nghe đây, khi tôi lái xe đến đây, ông cũng thấy là vợ tôi đã chết...- Chính người giúp việc của ông đã kể: khi bà nhà ra mở cổng, một chiếc xe đen y như xe của ông đã xuất hiện. Một người đàn ông mặc áo khoác sẫm như ông xuống xe. Người giúp việc của ông đã nói: "Từ chỗ tôi đứng, có lẽ ko trông rõ lắm, nhưng có lẽ là ông ấy". Thế thì tại sao tôi ko có quyền nghĩ là ông đã bỏ đi trong vòng 15 phút rồi quay lại?- Này, vừa vừa thôi. Làm sao tôi có thể làm một việc ghê tởm như thế được?- Bởi vì ông có một cô nhân tình!- Nghĩa là, theo ông, cứ có nhân tình thì phải giết vợ?- Chưa hẳn. Nhưng rất dễ xảy ra khi người chồng đòi ly dị mà ko được, đã nện vợ và doạ giết.- Gunter kể với ông à?- Đúng. Anh ta đã nghe ông bà xô xát chiều qua. Đúng, Gunter đã áp tai nghe lén...Wifrid thở dài, lắc đầu nhè nhẹ. Leibel lên tiếng lạnh lùng:- Tôi nghĩ rằng tình trạng này ko tốt đẹp gì lắm...- Ông định bắt tôi!- Yêu cầu ông đi theo tôi...- Tôi lên phòng riêng, thu xếp ít áo quần được chứ?- Tất nhiên, nhưng tôi sẽ đi cùng với ông....Wifrid nặng nhọc lê bước lên cầu thang. Leibel bám sát gót. Đúng lúc sắp đến cua quẹo, Wifrid quay ngoắt lại, dùng hết sức bình sinh của một chàng lực sĩ, giáng một quả đấm vào cằm viên thanh tra.Leibel đổ gục, ko kêu nổi một tiếng.Wifrid thản nhiên ra khỏi nhà. Các viên cảnh sát nhìn thẳng vào anh. Anh cất giọng lạnh như băng:"ông thanh tra đang chờ các anh trong ấy". Khi họ hiểu ra thì đã quá muộn. Wifrid đã yên vị và chiếc Mercesdes gầm lên. Một phát súng cầu âu phóng theo và chìm trong đêm tối...Vài giờ sau, tại văn phòng, Leibel nghiến răng, mặt bầm đi, mắt vằn lên, gào vào điện thoại:- Tăng cường trạm gác. Nếu cần, bắn hắn đi!Một viên cảnh sát chợt lên tiếng:- Thưa ngài thanh tra, chúng tôi vừa bắt được một tên giết người. Hắn tên là Peter Schwab. - Để tôi yên! tôi chỉ quan tâm đến thằng Wifrid...- Nhưng chuyện này có dính đến Wifrid ạ...- Anh nói gì?- Peter vừa đâm một phụ nữ mặc áo khoác da báo. Hắn bị tâm thần...- ANh định nói rằng hắn giết người chỉ vì nạn nhân mặc áo da báo?- Vâng. Vì hắn gào lên:"Những con mụ nào giết loài báo đều đáng chết cả. Tao sẽ giết hết chúng nó".- THế hắn có nói gì về vụ đêm qua?- CHúng tôi đã hỏi, nhưng hắn ngơ ngác. Nhưng thưa ngài thanh tra, hắn có một chiếc xe đen.Leibel tái mặt:- Chết rồi. Wifrid vô tội. Nhưng phải làm sao tìm được anh ta bây giờ. Tôi sợ rằng anh ta sẽ làm điều gì đấy ngu xuẩn. à, phải tìm ngay cô Inge Breisach!Leibel nhào đến điện thoại, lập cập quay số:- Allô! Cô Inge ạ? Tôi, thanh tra Leibel. Cô đã biết rằng Wifrid bỏ trốn sau khi giết vợ?Giọng của Inge tỏ vẻ rất mệt mỏi và chán chường: - Vâng, tôi biết rồi. Nãy giờ radio cứ lải nhải suốt về chuyện ấy thôi.- Nghe đây, cô Inge, Wifrid vô tội!- Nhưng radio bảo rằng chính các ông định bắt anh ấy...- TIn tôi đi. Vừa có một chuyện ko hay xảy ra: thủ phạm chính là một gã điên chỉ chuyên giết những người phụ nữ mặc áo khoác da báo. Bà Eva bị giết chỉ vì lí do đó. Chính vì sự trùng hợp này mà tôi đã buộc tôi Wifrid. Cô Inge, tin tôi đi...Một thoáng im lặng. Giọng Inge cất lên đầy vẻ đề phòng:- Thế ông muốn tôi làm gì đây? - Cho chúng tôi biết Wifrid đi đâu. Phải tìm cho ra trước khi anh ta làm bậy.- Ông vừa phải thôi.- Nghe đây, cô...Leibel đã nói vào khoảng không. Đột nhiên, Inge lên tiếng:- Anh ấy có một ngôi nhà ở Thuỵ Sĩ....-Cảm ơn cô nhiều lắm. Nhưng tại sao cô chợt tin tôi thế?- Vì radio vừa loan tin về cái chết của một phụ nữ mặc áo khoác da báo...Ngồi trên trực thăng, Leibel chong mắt theo biết giới Thuỵ Sĩ. Dưới kia một chiếc xe đen đang lao như tên bắn. Leibel hét lên:- Sao anh ta cứ chạy như ma đuổi thế? Suốt nửa tiếng rồi, radio đã thông báo...Inge ngồi sau, hét lên:- Làm gì đi chứ, có lẽ anh ta ko nghe radio. Chạy nhanh thế nguy hiểm lắm...Trực thăng hạ dần xuống con đường. Nhưng Wifrid, cứ nghĩ rằng mình đang bị truy đuổi đã ngoặt tay lại vào khu rừng bên cạnh. Chiếc xe lật nhào và phát nổ. Vài giờ sau, người ta mới kéo được xác Wifrid ra. Cháy thành than!Gã điên giết người có lẽ ko muốn tạo ra nạn nhân thứ ba. Nhưng Wifrid đã chết...[] Mục lục Chiếc áo da báo Chiếc áo da báo Jean FrancoisChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Jean Francois Chiếc áo da báo Wifrid Geiler ngồi ăn tối trong nhà của Inge Breisach, tại một khu phố sang trọng ở Franfort. Wifrid cầm tay người yêu. ở tuổi 38, anh ta có tất cả những gì mà đàn ông thàm muốn về thể hình: Lực lưỡng, vẻ thông minh và cương quyết. Wifrid là kiến trúc sư, cái nghề ko phải ai cũng làm được. Còn Inge, người phụ nữ 35 tuổi, cũng có một nét đẹp khả ái, đứng đầu một hãng thiết kế thời trang. Chuỗi hạt kim cương ở cổ Inge cho thấy tình cảm giữa họ đã đạt đến độ nào.Inge khẽ thở dài, vì họ đang gặp một vấn đề cổ điển: quan hệ ngoài hôn nhân. Inge còn độc thân, nhưng Wifrid thì... Inge khẽ hỏi:- Anh đã nói chuyện với vợ anh chưa?- Đã. Chiều nay.- Rồi sao?- Tệ lắm. Cô ấy ko chịu ly dị.- Anh đã đề nghị số tiền ấy chứ?- Có. Nhưng cô ấy ko mảy may quan tâm. Điều quan trọng là cô ấy muốn có anh. Cô ấy tin rằng mối quan hệ giữa anh và em sẽ chẳng bền lâu và rồi anh sẽ quay lại...- Phi lý! Anh ko còn cách nào nữa ư?- Anh đã nói nghìn lẻ một lần với cô ấy rằng tất cả đã chấm dứt. Rằng anh ko thể chung sống với cô ấy. Cô ấy ko nghe.- Cô ấy bảo sao?- Ko bảo gì cả. Anh đã điên tiết lên và nện cho cô ấy một trận.- Anh điên rồi!- Em cứ thử ở đấy xem. Làm sao bình tĩnh nổi trước cái bức tường thành câm lặng ấy chứ? Anh đã quát lên:" Tôi mong cô chết quách cho xong" và đã tát cô ấy hai cái.Inge thở dài...Hai giờ sáng. Wifrid ngồi bên tay lái chiếc Mercedes về nhà. Một căn nhà sang trọng cũng trong một khu phố sang trọng của Franfort. Từ xa, anh đã thấy xe cảnh sát và chiếc xe của Eva, vợ anh. Wifrid nhảy bổ khỏi xe và đứng chết lặng trên vỉa hè: một cái xác quấn vải đang nằm sóng sượt trên vỉa hè. Một người đàn ông lại gần:- Xin lỗi, ông Wifrid? Tôi là thanh tra Leibel.- Ông định nói..- Vâng.Leibel giở lớp vải lên:- Ông có nhận ra bà nhà ko?Wifrid há hốc chết sững. Đúng là Eva. Gương mặt hiện rõ trong ánh đèn pha xé rách bóng tối. Cô ấy vẫn như đang sống, gương mặt trẻ con, gò má đầy đặn và những lọn tóc nâu... Miệng và mắt Evà mở to, chứng tỏ một sự ngạc nhiên lớn. Như thường lệ, Eva vẫn mặc chiếc áo da báo.Leibel cất giọng trầm buồn:- Bà nhà bị đâm cách đây độ 15 phút. Bà ấy vừa đi ra mở cổng thì bị một kẻ lạ mặt ngồi trên xe nhào tới... Chúng tôi được người giúp việc của ông báo tin. Quá trễ...bà ấy đã chết ngay tức khắc.Wifrid tiến đến người giúp việc gần đó:- Gunter, chuyện gì xảy ra vậy?Nhưng Gunter ko trả lời mà quay mặt đi với vẻ kinh hoàng cực độ. Leibel cất giọng:- Tôi có vài câu hỏi với ông, ông Wifrid ạ. Chúng ta vào nhà được chứ?- Ngay bây giờ ư? - Ngay bây giờ!Wifrid bước như một cái máy qua cánh cổng, vào phòng khách.- ông có thể cho chúng tôi biết, cách đây 15 phút, ông ở đâu?Wifrid thở dài.- Tôi ở nhà cô Inge Berisach. Cô ấy là tình nhân của tôi.- Thôi, tôi biết hết cả rồi.- Cái gì? Ông nghĩ là tôi đã giết vợ ư?- Chính thế!- Này nghe đây, khi tôi lái xe đến đây, ông cũng thấy là vợ tôi đã chết...- Chính người giúp việc của ông đã kể: khi bà nhà ra mở cổng, một chiếc xe đen y như xe của ông đã xuất hiện. Một người đàn ông mặc áo khoác sẫm như ông xuống xe. Người giúp việc của ông đã nói: "Từ chỗ tôi đứng, có lẽ ko trông rõ lắm, nhưng có lẽ là ông ấy". Thế thì tại sao tôi ko có quyền nghĩ là ông đã bỏ đi trong vòng 15 phút rồi quay lại?- Này, vừa vừa thôi. Làm sao tôi có thể làm một việc ghê tởm như thế được?- Bởi vì ông có một cô nhân tình!- Nghĩa là, theo ông, cứ có nhân tình thì phải giết vợ?- Chưa hẳn. Nhưng rất dễ xảy ra khi người chồng đòi ly dị mà ko được, đã nện vợ và doạ giết.- Gunter kể với ông à?- Đúng. Anh ta đã nghe ông bà xô xát chiều qua. Đúng, Gunter đã áp tai nghe lén...Wifrid thở dài, lắc đầu nhè nhẹ. Leibel lên tiếng lạnh lùng:- Tôi nghĩ rằng tình trạng này ko tốt đẹp gì lắm...- Ông định bắt tôi!- Yêu cầu ông đi theo tôi...- Tôi lên phòng riêng, thu xếp ít áo quần được chứ?- Tất nhiên, nhưng tôi sẽ đi cùng với ông....Wifrid nặng nhọc lê bước lên cầu thang. Leibel bám sát gót. Đúng lúc sắp đến cua quẹo, Wifrid quay ngoắt lại, dùng hết sức bình sinh của một chàng lực sĩ, giáng một quả đấm vào cằm viên thanh tra.Leibel đổ gục, ko kêu nổi một tiếng.Wifrid thản nhiên ra khỏi nhà. Các viên cảnh sát nhìn thẳng vào anh. Anh cất giọng lạnh như băng:"ông thanh tra đang chờ các anh trong ấy". Khi họ hiểu ra thì đã quá muộn. Wifrid đã yên vị và chiếc Mercesdes gầm lên. Một phát súng cầu âu phóng theo và chìm trong đêm tối...Vài giờ sau, tại văn phòng, Leibel nghiến răng, mặt bầm đi, mắt vằn lên, gào vào điện thoại:- Tăng cường trạm gác. Nếu cần, bắn hắn đi!Một viên cảnh sát chợt lên tiếng:- Thưa ngài thanh tra, chúng tôi vừa bắt được một tên giết người. Hắn tên là Peter Schwab. - Để tôi yên! tôi chỉ quan tâm đến thằng Wifrid...- Nhưng chuyện này có dính đến Wifrid ạ...- Anh nói gì?- Peter vừa đâm một phụ nữ mặc áo khoác da báo. Hắn bị tâm thần...- ANh định nói rằng hắn giết người chỉ vì nạn nhân mặc áo da báo?- Vâng. Vì hắn gào lên:"Những con mụ nào giết loài báo đều đáng chết cả. Tao sẽ giết hết chúng nó".- THế hắn có nói gì về vụ đêm qua?- CHúng tôi đã hỏi, nhưng hắn ngơ ngác. Nhưng thưa ngài thanh tra, hắn có một chiếc xe đen.Leibel tái mặt:- Chết rồi. Wifrid vô tội. Nhưng phải làm sao tìm được anh ta bây giờ. Tôi sợ rằng anh ta sẽ làm điều gì đấy ngu xuẩn. à, phải tìm ngay cô Inge Breisach!Leibel nhào đến điện thoại, lập cập quay số:- Allô! Cô Inge ạ? Tôi, thanh tra Leibel. Cô đã biết rằng Wifrid bỏ trốn sau khi giết vợ?Giọng của Inge tỏ vẻ rất mệt mỏi và chán chường: - Vâng, tôi biết rồi. Nãy giờ radio cứ lải nhải suốt về chuyện ấy thôi.- Nghe đây, cô Inge, Wifrid vô tội!- Nhưng radio bảo rằng chính các ông định bắt anh ấy...- TIn tôi đi. Vừa có một chuyện ko hay xảy ra: thủ phạm chính là một gã điên chỉ chuyên giết những người phụ nữ mặc áo khoác da báo. Bà Eva bị giết chỉ vì lí do đó. Chính vì sự trùng hợp này mà tôi đã buộc tôi Wifrid. Cô Inge, tin tôi đi...Một thoáng im lặng. Giọng Inge cất lên đầy vẻ đề phòng:- Thế ông muốn tôi làm gì đây? - Cho chúng tôi biết Wifrid đi đâu. Phải tìm cho ra trước khi anh ta làm bậy.- Ông vừa phải thôi.- Nghe đây, cô...Leibel đã nói vào khoảng không. Đột nhiên, Inge lên tiếng:- Anh ấy có một ngôi nhà ở Thuỵ Sĩ....-Cảm ơn cô nhiều lắm. Nhưng tại sao cô chợt tin tôi thế?- Vì radio vừa loan tin về cái chết của một phụ nữ mặc áo khoác da báo...Ngồi trên trực thăng, Leibel chong mắt theo biết giới Thuỵ Sĩ. Dưới kia một chiếc xe đen đang lao như tên bắn. Leibel hét lên:- Sao anh ta cứ chạy như ma đuổi thế? Suốt nửa tiếng rồi, radio đã thông báo...Inge ngồi sau, hét lên:- Làm gì đi chứ, có lẽ anh ta ko nghe radio. Chạy nhanh thế nguy hiểm lắm...Trực thăng hạ dần xuống con đường. Nhưng Wifrid, cứ nghĩ rằng mình đang bị truy đuổi đã ngoặt tay lại vào khu rừng bên cạnh. Chiếc xe lật nhào và phát nổ. Vài giờ sau, người ta mới kéo được xác Wifrid ra. Cháy thành than!Gã điên giết người có lẽ ko muốn tạo ra nạn nhân thứ ba. Nhưng Wifrid đã chết...[] Mục lục Chiếc áo da báo Chiếc áo da báo Jean FrancoisChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Khuyết Danh Chiếc áo tàng hình N gày xưa ở vùng Cao Bằng có một chàng trẻ tuổi, nay đây mai đó làm nghề chài lưới, tên là Triều. Gia sản của anh không có gì ngoài bộ đồ nghề làm. Nhưng tính anh vốn hay thương người. Mỗi lần đánh được nhiều cá, anh thường đổi lấy gạo đem chu cấp cho những người túng thiếu mà anh gặp. Vì vậy người nghèo khổ trong vùng, ai cũng mến anh.Ở Cao Bằng một thời gian, Triều lại dời sang đánh cá ở vùng Thái Nguyên. Ở đây, anh lại cứu giúp mọi người không tiếc sức. Một hôm, anh không đánh bắt được mẻ cá nào. Nhưng lúc về dọc đường, anh bỗng thấy một ông cụ gầy gò đang nằm run rẩy dưới gốc cây. Động lòng thương, anh cởi ngay chiếc áo đang mặc đắp vào người ông cụ.Một ngày kia, khi anh đang buông chài giữa sông, bỗng nghe trên núi cao có tiếng đàn văng vẳng. Anh dừng lại nghe một cách say sưa. Qua ngày hôm sau, anh lại được nghe tiếng đàn trên núi như hôm qua. Hôm sau nữa, cũng từ trên ngọn núi cũ, tiếng đàn quen thuộc lại bay đến tai anh. Lấy làm lạ, anh vội thu xếp đồ nghề của mình, rồi tìm đường trèo lên núi, quyết tìm cho ra người gảy đàn. Lần theo tiếng đàn, anh vạch cỏ rẽ lau tiến bước. Cuối cùng, đến một bãi rộng, anh thấy một cụ già đang ngồi trên phiến đá. Ông cụ mải mê gảy đàn không biết có người tới gần. Triều nhận ra khuôn mặt cụ già này rất giống với ông cụ nằm ở gốc cây hôm nọ. Chờ cho bản đàn dứt hẳn, anh đến trước mặt hỏi:- Thưa cụ, cụ là ai mà ngồi đánh đàn ở đây?Ông cụ ngước mắt nhìn anh một cách âu yếm, rồi chỉ vào một phiến đá trước mặt, bảo:- Ta ngồi đợi con đây! Con trèo núi có mệt lắm không? Con hãy ngồi xuống đây nghỉ một lát.Triều đỡ chén nước ở tay ông cụ, đã nghe ông cụ hỏi:- Con có nhớ ta không?- Có - Triều đáp ngay - Cụ có phải là người nằm ở gốc cây đa đầu làng hôm nọ không?- Đúng - Ông cụ trả lời - Hôm nọ, con đành chịu mình trần để nhường áo cho ta. Tấm lòng này thật là hiếm có. Nay ta muốn đền cho con một chiếc áo khác.Nói xong, cụ cởi chiếc áo đang mặc quàng vào mình Triều rồi biến mất.Từ ngày được áo của Tiên cho, Triều mới biết đấy không phải là chiếc áo thường mà là một bảo vật, có phép làm cho người ta tàng hình. Mỗi lần mặc áo, không một ai nhận ra có anh ở trước mặt. Triều mừng quá, từ đấy anh đi chu du khắp nơi. Anh thường mặc áo rồi tìm đến nhà bọn giàu có, đường hoàng đi vào tận buồng của chúng, lấy gạo tiền rồi đem cho những người nghèo. Anh kín đáo trị tội những kẻ bất lương, bạc ác. Có những người vì quá cơ cực đang nằm lả bên vệ đường mà thở than thì bỗng thấy có những quan tiền trước mặt. Có những tên quan đang nọc người ra đánh giữa công đường thì chính hắn bỗng bị quất vào lưng đau quằn lên, nhưng ngoảnh lại thì vẫn không hề tìm thấy ai. Nhiều sự việc giống nhau xảy ra, làm cho lời đồn đại lan khắp cả một vùng. Người lo, kẻ mừng, nhưng ai cũng tin rằng Trời Phật đã có "con mắt".Cứ như thế Triều đi khắp nơi và giúp đỡ người cùng khổ. Một hôm, anh tìm đến đất kinh kỳ. Mặc áo vào, anh tha hồ đi đó đây cho thoả mắt. Hết vào nhà bọn quyền quý, anh lại vào cung cấm là nơi từ xưa không một người nào như anh dám bước chân đến. Thấy người nghèo khó nhan nhản khắp phố phường, anh lẻn vào kho tàng nhà vua lấy của ra phân phát cho họ. Vì thế kho công luôn luôn bị hao hụt, nhưng không một ai tìm ra thủ phạm cả. Trong khi đó thì khắp kinh đô đồn ầm lên rằng có một vị Tiên thường cứu giúp những người đói khổ và trừng trị những tên gian tà. Ở đâu Tiên cũng có mặt, nhưng lại không "xuất đầu lộ diện" bao giờ.Về phía Triều, anh vẫn ngày ngày làm công việc cứu giúp dân nghèo, coi đây là phận sự của mình, mà không hề băn khoăn đến chuyện báo đáp. Anh đã làm cho bọn giàu sang xiết bao sợ hãi, lo lắng khi thấy tiền của chúng tự nhiên không cánh mà bay, mặc dầu trong nhà ngoài ngõ đều có người canh gác cẩn mật.Nhưng một hôm, sau khi trừng trị một tên quyền quý ỷ thế đánh người, anh vội lẻn ra khỏi nhà hắn ngay vì thấy kẻ hầu người hạ của hắn nghe tiếng động đổ xô tới rất đông. Giữa lúc vội vàng, anh vướng vào một chiếc gai tre ở bờ giậu làm cho chiếc áo toạc mất một miếng. Sợ rằng để vậy có thể bị lộ nên anh đã dùng một mụn giẻ vá lại. Sau đó, hàng ngày anh lại vào kho nhà vua tiếp tục phận sự của mình.Từ ngày thấy kho luôn bị hao hụt, nhà vua hết sức lo lắng .Vua hạ lệnh cho bọn quan coi kho phải tìm bắt cho kỳ được tên trộm bí mật, nếu không sẽ trị tội không tha. Bọn này nhiều phen cố sức rình mò nhưng chỉ hoài công vô ích. Tiền bạc trong kho cứ vơi dần mà chúng vẫn không tìm ra dấu vết gì đáng kể. Sau cùng, chúng sai thửa một kiểu bẫy lưới rất nhạy để chụp vào những nơi mà chúng nghi ngờ.Hôm ấy, bọn quan coi kho bỗng thấy có một con bươm bướm trắng ngoài cổng bay vào kho. Bướm bay đi dạo lại những đĩnh bạc trắng xoá, rồi bướm lại thủng thỉnh bay ra. Lập tức chúng chụp ngay lưới xuống chỗ có bướm. Và thế là Triều bị bắt. Chỉ vì miếng vải vá vào chiếc áo tàng hình khiến anh bị lộ. Bắt được Triều, bọn quan coi kho mừng lắm, liền giải anh lên vua. Vua sai bỏ ngục để chờ xét xử.Hồi ấy, có ông vua một nước láng giềng từ lâu vẫn ngầm nuôi mưu mô đánh chiếm nước ta. Giữa lúc Triều bị hạ ngục, thì hàng vạn binh mã của nước láng giềng cũng đang ùn ùn kéo sang. Nhà vua đã cho quân đội ra chống giữ, nhưng đánh trận nào thua trận ấy, không sao ngăn cản được kẻ địch tiến như vũ bão. Tình hình bỗng trở nên nguy ngập. Tin cấp báo từ biên giới một ngày đưa về không biết bao nhiêu chuyến ngựa trạm, làm cho kinh đô nháo nhác. Nghe được tin này, Triều liền bảo quan coi ngục tâu vua cho mình được đi dẹp giặc cứu nước. Nhà vua mừng quá, vội sai tháo xiềng cho anh, và gọi anh đến hỏi:- Nhà ngươi cần bao nhiêu binh mã?- Tâu bệ hạ - anh đáp, - chỉ cần một mình tôi cũng có thể đuổi được giặc dữ. Chỉ xin bệ hạ cho tôi một thanh gươm.Vua liền cởi gươm của mình trao cho Triều và phong anh là Hộ quốc tướng quân, Vua còn ra lệnh cho quân đội phải tuân theo lệnh anh.Trước ngày lên đường, những người nghèo khổ nghe tin anh được tha và phong tướng đi đánh giặc, đều tìm đến cảm ơn và tình nguyện đi theo. Triều cho sắp xếp thành đội ngũ và cùng kéo nhau lên đường.Lúc đến vùng quân giặc đang chiếm đóng. Triều mặc ngay chiếc áo tàng hình vào người đi thẳng vào trại giặc. Chỉ một lát sau, anh chém chết tên chỉ huy toán quân tiên phong. Bọn giặc mất tướng như rắn không đầu, bỏ chạy tán loạn. Những người đi theo Triều chỉ có việc chia nhau đón khắp các nẻo tóm cổ đưa về. Đến những trại khác của giặc, Triều cũng làm như vậy. Không bao lâu cả đội tiên phong tinh nhuệ của giặc bị tiêu diệt và bị bắt sống, không sót một tên. Các đội quân khác còn lại kinh hoàng, cho là bên phía Đại Việt có vị thần thiêng trợ chiến nên bao nhiêu tướng tài của mình đều bị chém đầu. Thấy quân sĩ ngã lòng, tên vua láng giềng đành hạ lệnh rút lui. Từ đấy biên giới lại vô sự. Khắp nơi ai nấy ca ngợi công lao của Triều.Lúc Triều kéo quân khải hoàn, vua khen ngợi anh hết lời. Vua phong cho anh làm quan đại thần, cắt đất đai huyện cho anh ăn lộc, lại gả con gái cho anh làm vợ. Từ đấy người ta quen gọi anh là Quan Thiều. Ngày nay ở Cao Bằng có đền thờ Quan Thiều. Mục lục Chiếc áo tàng hình Chiếc áo tàng hình Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: NguoivienxuĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 2 tháng 12 năm 2006
Khuyết Danh Chiếc áo tàng hình N gày xưa ở vùng Cao Bằng có một chàng trẻ tuổi, nay đây mai đó làm nghề chài lưới, tên là Triều. Gia sản của anh không có gì ngoài bộ đồ nghề làm. Nhưng tính anh vốn hay thương người. Mỗi lần đánh được nhiều cá, anh thường đổi lấy gạo đem chu cấp cho những người túng thiếu mà anh gặp. Vì vậy người nghèo khổ trong vùng, ai cũng mến anh.Ở Cao Bằng một thời gian, Triều lại dời sang đánh cá ở vùng Thái Nguyên. Ở đây, anh lại cứu giúp mọi người không tiếc sức. Một hôm, anh không đánh bắt được mẻ cá nào. Nhưng lúc về dọc đường, anh bỗng thấy một ông cụ gầy gò đang nằm run rẩy dưới gốc cây. Động lòng thương, anh cởi ngay chiếc áo đang mặc đắp vào người ông cụ.Một ngày kia, khi anh đang buông chài giữa sông, bỗng nghe trên núi cao có tiếng đàn văng vẳng. Anh dừng lại nghe một cách say sưa. Qua ngày hôm sau, anh lại được nghe tiếng đàn trên núi như hôm qua. Hôm sau nữa, cũng từ trên ngọn núi cũ, tiếng đàn quen thuộc lại bay đến tai anh. Lấy làm lạ, anh vội thu xếp đồ nghề của mình, rồi tìm đường trèo lên núi, quyết tìm cho ra người gảy đàn. Lần theo tiếng đàn, anh vạch cỏ rẽ lau tiến bước. Cuối cùng, đến một bãi rộng, anh thấy một cụ già đang ngồi trên phiến đá. Ông cụ mải mê gảy đàn không biết có người tới gần. Triều nhận ra khuôn mặt cụ già này rất giống với ông cụ nằm ở gốc cây hôm nọ. Chờ cho bản đàn dứt hẳn, anh đến trước mặt hỏi:- Thưa cụ, cụ là ai mà ngồi đánh đàn ở đây?Ông cụ ngước mắt nhìn anh một cách âu yếm, rồi chỉ vào một phiến đá trước mặt, bảo:- Ta ngồi đợi con đây! Con trèo núi có mệt lắm không? Con hãy ngồi xuống đây nghỉ một lát.Triều đỡ chén nước ở tay ông cụ, đã nghe ông cụ hỏi:- Con có nhớ ta không?- Có - Triều đáp ngay - Cụ có phải là người nằm ở gốc cây đa đầu làng hôm nọ không?- Đúng - Ông cụ trả lời - Hôm nọ, con đành chịu mình trần để nhường áo cho ta. Tấm lòng này thật là hiếm có. Nay ta muốn đền cho con một chiếc áo khác.Nói xong, cụ cởi chiếc áo đang mặc quàng vào mình Triều rồi biến mất.Từ ngày được áo của Tiên cho, Triều mới biết đấy không phải là chiếc áo thường mà là một bảo vật, có phép làm cho người ta tàng hình. Mỗi lần mặc áo, không một ai nhận ra có anh ở trước mặt. Triều mừng quá, từ đấy anh đi chu du khắp nơi. Anh thường mặc áo rồi tìm đến nhà bọn giàu có, đường hoàng đi vào tận buồng của chúng, lấy gạo tiền rồi đem cho những người nghèo. Anh kín đáo trị tội những kẻ bất lương, bạc ác. Có những người vì quá cơ cực đang nằm lả bên vệ đường mà thở than thì bỗng thấy có những quan tiền trước mặt. Có những tên quan đang nọc người ra đánh giữa công đường thì chính hắn bỗng bị quất vào lưng đau quằn lên, nhưng ngoảnh lại thì vẫn không hề tìm thấy ai. Nhiều sự việc giống nhau xảy ra, làm cho lời đồn đại lan khắp cả một vùng. Người lo, kẻ mừng, nhưng ai cũng tin rằng Trời Phật đã có "con mắt".Cứ như thế Triều đi khắp nơi và giúp đỡ người cùng khổ. Một hôm, anh tìm đến đất kinh kỳ. Mặc áo vào, anh tha hồ đi đó đây cho thoả mắt. Hết vào nhà bọn quyền quý, anh lại vào cung cấm là nơi từ xưa không một người nào như anh dám bước chân đến. Thấy người nghèo khó nhan nhản khắp phố phường, anh lẻn vào kho tàng nhà vua lấy của ra phân phát cho họ. Vì thế kho công luôn luôn bị hao hụt, nhưng không một ai tìm ra thủ phạm cả. Trong khi đó thì khắp kinh đô đồn ầm lên rằng có một vị Tiên thường cứu giúp những người đói khổ và trừng trị những tên gian tà. Ở đâu Tiên cũng có mặt, nhưng lại không "xuất đầu lộ diện" bao giờ.Về phía Triều, anh vẫn ngày ngày làm công việc cứu giúp dân nghèo, coi đây là phận sự của mình, mà không hề băn khoăn đến chuyện báo đáp. Anh đã làm cho bọn giàu sang xiết bao sợ hãi, lo lắng khi thấy tiền của chúng tự nhiên không cánh mà bay, mặc dầu trong nhà ngoài ngõ đều có người canh gác cẩn mật.Nhưng một hôm, sau khi trừng trị một tên quyền quý ỷ thế đánh người, anh vội lẻn ra khỏi nhà hắn ngay vì thấy kẻ hầu người hạ của hắn nghe tiếng động đổ xô tới rất đông. Giữa lúc vội vàng, anh vướng vào một chiếc gai tre ở bờ giậu làm cho chiếc áo toạc mất một miếng. Sợ rằng để vậy có thể bị lộ nên anh đã dùng một mụn giẻ vá lại. Sau đó, hàng ngày anh lại vào kho nhà vua tiếp tục phận sự của mình.Từ ngày thấy kho luôn bị hao hụt, nhà vua hết sức lo lắng .Vua hạ lệnh cho bọn quan coi kho phải tìm bắt cho kỳ được tên trộm bí mật, nếu không sẽ trị tội không tha. Bọn này nhiều phen cố sức rình mò nhưng chỉ hoài công vô ích. Tiền bạc trong kho cứ vơi dần mà chúng vẫn không tìm ra dấu vết gì đáng kể. Sau cùng, chúng sai thửa một kiểu bẫy lưới rất nhạy để chụp vào những nơi mà chúng nghi ngờ.Hôm ấy, bọn quan coi kho bỗng thấy có một con bươm bướm trắng ngoài cổng bay vào kho. Bướm bay đi dạo lại những đĩnh bạc trắng xoá, rồi bướm lại thủng thỉnh bay ra. Lập tức chúng chụp ngay lưới xuống chỗ có bướm. Và thế là Triều bị bắt. Chỉ vì miếng vải vá vào chiếc áo tàng hình khiến anh bị lộ. Bắt được Triều, bọn quan coi kho mừng lắm, liền giải anh lên vua. Vua sai bỏ ngục để chờ xét xử.Hồi ấy, có ông vua một nước láng giềng từ lâu vẫn ngầm nuôi mưu mô đánh chiếm nước ta. Giữa lúc Triều bị hạ ngục, thì hàng vạn binh mã của nước láng giềng cũng đang ùn ùn kéo sang. Nhà vua đã cho quân đội ra chống giữ, nhưng đánh trận nào thua trận ấy, không sao ngăn cản được kẻ địch tiến như vũ bão. Tình hình bỗng trở nên nguy ngập. Tin cấp báo từ biên giới một ngày đưa về không biết bao nhiêu chuyến ngựa trạm, làm cho kinh đô nháo nhác. Nghe được tin này, Triều liền bảo quan coi ngục tâu vua cho mình được đi dẹp giặc cứu nước. Nhà vua mừng quá, vội sai tháo xiềng cho anh, và gọi anh đến hỏi:- Nhà ngươi cần bao nhiêu binh mã?- Tâu bệ hạ - anh đáp, - chỉ cần một mình tôi cũng có thể đuổi được giặc dữ. Chỉ xin bệ hạ cho tôi một thanh gươm.Vua liền cởi gươm của mình trao cho Triều và phong anh là Hộ quốc tướng quân, Vua còn ra lệnh cho quân đội phải tuân theo lệnh anh.Trước ngày lên đường, những người nghèo khổ nghe tin anh được tha và phong tướng đi đánh giặc, đều tìm đến cảm ơn và tình nguyện đi theo. Triều cho sắp xếp thành đội ngũ và cùng kéo nhau lên đường.Lúc đến vùng quân giặc đang chiếm đóng. Triều mặc ngay chiếc áo tàng hình vào người đi thẳng vào trại giặc. Chỉ một lát sau, anh chém chết tên chỉ huy toán quân tiên phong. Bọn giặc mất tướng như rắn không đầu, bỏ chạy tán loạn. Những người đi theo Triều chỉ có việc chia nhau đón khắp các nẻo tóm cổ đưa về. Đến những trại khác của giặc, Triều cũng làm như vậy. Không bao lâu cả đội tiên phong tinh nhuệ của giặc bị tiêu diệt và bị bắt sống, không sót một tên. Các đội quân khác còn lại kinh hoàng, cho là bên phía Đại Việt có vị thần thiêng trợ chiến nên bao nhiêu tướng tài của mình đều bị chém đầu. Thấy quân sĩ ngã lòng, tên vua láng giềng đành hạ lệnh rút lui. Từ đấy biên giới lại vô sự. Khắp nơi ai nấy ca ngợi công lao của Triều.Lúc Triều kéo quân khải hoàn, vua khen ngợi anh hết lời. Vua phong cho anh làm quan đại thần, cắt đất đai huyện cho anh ăn lộc, lại gả con gái cho anh làm vợ. Từ đấy người ta quen gọi anh là Quan Thiều. Ngày nay ở Cao Bằng có đền thờ Quan Thiều. Mục lục Chiếc áo tàng hình Chiếc áo tàng hình Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: NguoivienxuĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 2 tháng 12 năm 2006
Ysunari Chiếc ô Dịch giả: Phạm Tú Châu Mưa xuân giăng đầy trời như sương mỏng, tuy không thấm qua được quần áo song cũng làm cho da tay dính nham nháp. Từ trong cửa hiệu chạy ra, cô gái nhìn thấy chàng trai giương ô, bèn hỏi:- Sao thế, mưa à?Chàng trai sở dĩ giương ô, nếu bảo là để che mưa, chẳng bằng nói là để che khuôn mặt đỏ bừng vì ngượng của mình khi đi qua cửa hiệu mà cô gái chờ. Tuy vậy anh cũng lẳng lặng giơ ô ra toan che kín thiếu nữ, nhưng cô gái cũng chỉ ghé nửa người chui vào trong ô. Nước mưa thấm vào áo chàng trai vì tuy cô gái nép mình dưới ô nhưng anh lại ngượng không dám đứng sát vào cô gái. Cô gái tuy rất muốn giở một tay ra nắm lấy cán ô cùng chàng trai, song lại xấu hổ chỉ chực vùng chạy ra khỏi ô.Hai người bước vào một hiệu chụp ảnh. Cha chàng trai là quan chức sắp phải đi tới một vùng xa để nhận việc. Đây là lúc họ chụp ảnh kỷ niệm trước khi xa nhau.Người chụp ảnh chỉ chiếc ghế dài bảo họ:- Mời cô cậu ngồi chung trên chiếc ghế dài này!Chàng trai không ngồi cạnh cô gái mà đứng sau lưng cô. Mong muốn thân thể hai người có một chỗ nào đấy chạm vào nhau, chàng trai khẽ để ngón tay tựa trên lưng ghế chạm vào áo khoác ngoài của cô gái. Đó là lần đầu tiên chàng chạm vào người thiếu nữ và cảm thấy nhiệt độ trong người cô dường như truyền qua ngón tay mình. Chỉ thế thôi cũng khiến chàng trai cảm thấy độ nóng của thân thể khi tưởng tượng ra hai người đang ôm chặt lấy nhau. Đời này kiếp này, chỉ cần nhìn vào tấm ảnh là chàng sẽ cảm thấy như được gần gũi nàng.- Chụp thêm một kiểu nữa nhé! Lần này hai vị ngồi cạnh nhau, nửa người trên ưỡn thẳng một chút-Người chụp ảnh nói.Chàng trai gật nhẹ đầu, khẽ nhắc cô gái:- Tóc!Cô gái vút ngẩng đầu nhìn chàng trai, hai má ửng hồng, mắt lấp lánh tia mừng vui rõ nét, rồi như đứa trẻ, hồn nhiên đi vào phòng trang điểm. Lúc nãy, vừa nhìn thấy chàng trai đi qua cửa hiệu, cô đã chạy ào ra, chẳng kịp chải lại đầu. Cô vốn biết tóc mình rối tung như khi vừa tháo chiếc mũ bơi trên đầu, song cô lại là người thấy ngượng khi phải sửa lại tóc tai trước mặt bạn trai. Còn chàng trai thì nghĩ nếu mình bảo thẳng cô phải chải lại đầu sẽ làm tổn thương đến lòng tự trọng của cô. Khi nhìn thấy vẻ mặt điềm nhiên của cô trong lúc bước vào phòng trang điểm, chàng trai thấy hớn hở vui sướng. Thế rồi, hai người ngồi trên ghế dài, dựa kề vào nhau như những đôi người yêu khác.Khi sắp rời hiệu chụp ảnh, chàng trai tìm chiếc ô nhưng anh chợt phát hiện cô gái ra trước anh đã cầm theo chiếc ô rồi. Cô đang đứng ở ngoài cửa. Thấy chàng trai nhìn mình, cô mới nhận ra mình đang cầm ô trên tay, bất giác cô lấy làm kinh ngạc. Cử chỉ vô tình này chẳng phải chứng tỏ cô đã thầm nhận lời anh hay sao?Chàng trai không nhắc đến ô, thiếu nữ cũng không đưa ô trả lại. Khác với lúc đến hiệu chụp ảnh, hai người bỗng cảm thấy thân nhau rất nhiều, họ mang theo tâm tình như của đôi vợ chồng trên đường trở về nhà.Chiếc ô đã hoàn thành sứ mệnh.Chiếc ôYsunari (Nhật Bản)Phạm Tú Châu dịch Mục lục Chiếc ô Chiếc ô YsunariChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Học Nguồn: Nguyễn Học ( Mõ Hà Nội)Được bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 4 tháng 8 năm 2006
Ysunari Umbrella Translator: Pham Tu Chau Spring rain spreads across the sky like thin mist. Although it cannot penetrate clothes, it still makes the skin on hands sticky. Running out of the store, the girl saw the boy holding up an umbrella and asked: - What's wrong, is it raining? The reason why the boy held up the umbrella was to cover the rain, but it's better to say it was to cover his red face. because of my embarrassment when I passed the store where the girl was waiting. However, he also quietly held out the umbrella to cover the girl, but the girl only leaned halfway into the umbrella. Rainwater seeped into the boy's shirt because although the girl was hiding under the umbrella, he was embarrassed to stand close to her. Although the girl really wanted to reach out and grab the handle of the umbrella with the guy, she was so embarrassed that she just wanted to run out of the umbrella. The two entered a photography shop. The boy's father is an official who is about to go to a remote area to take up a job. This is when they took commemorative photos before being apart. The photographer pointed to the bench and told them: - Please sit on this bench together! The boy did not sit next to the girl but stood behind her. Wishing that their bodies would touch each other somewhere, the boy gently let his finger rest on the back of the chair and touch the girl's outer jacket. That was the first time he touched the young woman and felt the heat in her body seem to pass through his fingers. That alone made the boy feel the heat of his body as he imagined the two of them hugging each other tightly. In this life and this life, just looking at the photo will make him feel close to her. - Let's take one more picture! This time the two sat next to each other, the upper half of their bodies straightened a bit - the photographer said. The boy nodded slightly, gently reminding the girl: - Hair! The girl raised her head to look at the boy, her cheeks were pink, her eyes were red. sparkling with clear joy, then like a child, innocently went into the makeup room. Just now, as soon as she saw the boy passing by the store, she ran out without having time to comb her hair. She knew her hair was as messy as when she took off the swimming cap on her head, but she was the one who felt embarrassed having to fix her hair in front of her boyfriend. As for the guy, he thought that if he told her directly that she had to comb her hair, it would hurt her self-esteem. When he saw her calm face as he entered the makeup room, the boy felt elated and happy. Then, the two sat on the bench, leaning against each other like other couples. When he was about to leave the photography shop, the boy looked for an umbrella but he suddenly discovered that the girl who came out before him had already taken the umbrella. She is standing outside the door. Seeing the guy looking at her, she realized she was holding an umbrella in her hand, and suddenly she was surprised. Doesn't this unintentional gesture prove that she secretly accepted his invitation? The boy did not mention the umbrella, nor did the girl return the umbrella. Unlike when they went to the photo shop, the two suddenly felt very close to each other, they carried the feelings of a married couple on the way back home. The umbrella had completed its mission. UmbrellaYsunari (Japan) Pham Tu Chau translated Table of contents Umbrella Umbrella YsunariWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: author: Nguyen Kim Vy. Typing: Nguyen Hoc Source: Nguyen Hoc (Hanoi Mo) Uploaded by friend: Ct.Ly on: August 4, 2019 2006
VanTienSinh Chiếc điện thoại bị mất cấp Có người nói "Tiền tài đã làm cho con người trở nên bé nhỏ..." có phải không? Nơi Hiền ở gần với dãy nhà trọ chuyên cho người nghèo thuê. Khu này lúc nào cũng nhộn nhịp người đến thuê, chủ cũ vừa đi thì chủ mới lại đến. Mặc dù nhà trọ thì dơ dáy, bẩn thỉu, còn ở gần bờ kênh lúc nào cũng bốc lên mùi xú uế nồng nặc nhưng nhờ được cái giá rất mềm, cho nên hầu như lúc nào cũng kín phòng. Nơi đây tụ tập đủ các loại hạng người từ tứ xứ đổ về Thành phố lập nghiệp. Từ chị công nhân của xưởng may gần đó đến anh sinh viên của một trường Đại học, từ một bà gánh hàng rong cho tới một cô gái điếm mạt hạng...Tất cả đều hối hả hòa chung với nhịp sống hàng ngày, nhưng những khi mỗi chiều về hoặc vào những lúc rãnh rỗi, họ cũng đều nhiệt tình qua lại vui vẻ hỏi thăm lẫn nhau. Vào một buổi chiều khi Hiền vừa mới đi làm về, có tiếng kêu cô vọng ra từ một phòng trọ. Hiền dừng xe nhìn vào thì thấy trong phòng lúc này đang có năm ba người đang túm tụm nói chuyện. Cô liền dựng xe ghé vào chơi. Phòng này là của một cô sinh viên mới về đây trọ. Cô có người yêu là một anh chàng làm quản lý cho một công ty lớn. Thỉnh thoảng anh này cũng hay ghé đây chơi và cũng có khi nghỉ đêm luôn tại phòng của cô này. Cô sinh viên đang khoe với mọi người về chiếc điện thoại, mà người yêu cô vừa mới tặng cho cô. Chiếc điện thoại mới liếc nhìn qua Hiền đã biết là thuộc loại đắt tiền. Cô sinh viên tươi cười nói với Hiền: - Vào đây chơi đã chị. Hôm nay em nấu nồi chè "rửa" chiếc điện thoại, em mời chị ăn miếng chè rồi về. Hiền cũng vui vẻ nhập bọn. Ngoài cô sinh viên và Hiền ra còn có ba người nữa. Một là bà gánh hàng rong chuyên bán xôi ăn sáng, một là cô gái điếm đã trang điểm chuẩn bị để đi làm và cuối cùng là anh sinh viên. Mọi người chuyền tay nhau xem chiếc điện thoại, trầm trồ và xuýt xoa vẻ đẹp sang trọng của nó xong rồi trả lại cho chủ nhân. Một cách vô tình cô để chiếc điện thoại trên cái kệ gần cửa bước ra ngoài phòng, sau đó cô ra phía ngoài hè nơi nồi chè đang sôi thơm phức và múc chè vào từng chén. Sau khi đã ăn xong mọi người đều lần lượt ra về. Hiền cũng về nhà. Cô đang thay đồ để chuẩn bị đi tắm, thì bỗng nghe tiếng lao xao ở phía phòng trọ. Cô tò mò vội chạy ra xem thì thấy mọi người bu quanh cô sinh viên đang khóc như mưa như gió. Hiền hỏi ra mới biết là chiếc điện thoại mới đó của cô đã không cánh mà bay. Hiền chột dạ vội nói: - Số của em bao nhiêu để chị gọi thử. Cô gái đọc nhanh số. Hiền lật đật chạy về lấy chiếc điện thoại của mình ra gọi. Điện thoại đã bị tắt nguồn. Hiền đâm ra thật khó chịu, vì tự dưng vào ăn chén chè lại dính vào chuyện không đâu này. Mọi người đều đã có mặt đông đủ chỉ còn thiếu mỗi cô gái điếm đã đi làm. Hiền nhìn vẻ mặt mọi người, ai cũng xót xa dùm cho cô gái. Hiền nhớ lại, chiếc điện thoại sẽ rất dễ dàng cầm bỏ vào túi khi bước ra cửa, vì nó nằm trên kệ ngay gần sát cửa phòng. Người bước ra nếu có lòng tham muốn lấy thì có thể thuận tay cầm đi luôn nếu chủ nhà không để ý. Nhưng mà là ai vào đây mới được chứ, Hiền vội hỏi cô gái: - Hồi nãy ai là người về sau cùng? - Em. - Anh sinh viên nói ngay. Hiền nhìn anh ta ánh mắt hơi nghi ngờ. Anh ta chợt như hiểu ý của Hiền nói nhanh: - Em tuy nghèo thật nhưng chả thèm làm mấy chuyện đó đâu. Hiền lúng túng khi ý nghĩ của mình bị người khác đọc ra. Hiền quay sang nói với cô gái: - Em kiếm lại trong phòng thử xem, hay là em bỏ quên đâu đó. Cô gái lắc đầu nói trong tiếng khóc: - Em để ngay đó thôi mà, phòng bé tí xíu nhìn quanh là thấy liền. Thật vậy, phòng chỉ có vài mét vuông đặt vừa đủ cái giường với cái bàn, nếu để đâu đó thì có thể nhìn thấy được ngay. Bà gánh hàng rong cũng lên tiếng: - Thề có trời đất làm chứng, tôi mà lấy của cô ra đường cho xe cán tôi đi. Cuối cùng chỉ còn cách là mời cảnh sát khu vực xuống giải quyết. Hiền cũng phải làm một bản tường trình, từ khi vào ăn chè cho đến lúc về nhà. Anh cảnh sát cũng đi quanh hỏi tới hỏi lui, cũng yêu cầu mọi người khác làm bản tường trình, riêng chỉ có cô gái điếm thì mãi đến ngày hôm sau anh cảnh sát mới gặp được. Thời gian trôi nhanh, cuộc sống cũng lại trở về bình thường. Anh cảnh sát cũng chẳng phát hiện được gì thêm. Chuyện cô sinh viên mất điện thoại nhanh chóng dần đi vào quên lãng. Cô chẳng phải phiền não lâu vì cũng đã được người yêu cô tặng lại cho cái khác, chỉ có điều là lần này cô không "rửa" như lần trưóc. Một bữa sơ ý Hiền làm rơi cái điện thoại vỡ mất cái vỏ ngoài. Trên đường đi làm thuận chân cô ghé qua một tiệm điện thoại để thay cái vỏ mới. Cô đang loay hoay thử cái vỏ thì phía sau lưng cô, nghe thấy một giọng nói quen quen: - Chị xem dùm em cái điện thoại này, chị lấy được bao nhiêu? - Cái này hả, nếu em bán thì chị lấy với giá... - Chị bán hàng trả lời. - Cái này hàng xịn mới toanh mà chị, chưa có xài luôn đó. - Giọng nói đó cất lên. - Thì hàng bán lại phải vậy mà, nếu em không bán thì thôi vậy. - Chị bán hàng nói. - Thôi được, chị lấy đi. - Giọng nói đó lại vang lên vẻ tiếc rẻ. Hiền chờ một lúc lâu mới quay lại nhìn bóng người đi ra. Trong lòng cô dâng lên một cảm giác khó tả. Chiều khi đi làm về ngang qua phòng cô sinh viên, thấy cô đang vui vẻ cầm điện thoại nói chuyện với người yêu. Hiền cười buồn, nhanh chóng dắt xe vô nhà... Mục lục Chiếc điện thoại bị mất cấp Chiếc điện thoại bị mất cấp VanTienSinhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện OnlineĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 1 tháng 6 năm 2009
VanTienSinh The phone is lost Some people say "Money makes people small..." Is that right? Hien's place is close to a row of boarding houses specializing in renting to the poor. This area is always bustling with people coming to rent. As soon as the old owner leaves, the new owner arrives. Even though the inn is dirty and dirty, and is located near the canal and always has a strong filthy smell, thanks to the very reasonable price, the rooms are almost always full. This place gathers all kinds of people from all over the world to come to the City to start a business. From a worker at a nearby garment factory to a student at a University, from a street vendor to a low-class prostitute... All are rushing along with the rhythm of daily life, but Every afternoon when they come home or in their free time, they enthusiastically go back and forth and happily ask about each other. One afternoon when Hien had just returned from work, a voice calling for her echoed from a motel room. Hien stopped the car and looked in and saw that there were five or three people in the room huddled together talking. She immediately parked her car and stopped by to play. This room belongs to a new student here. She has a lover who is a manager for a large company. Sometimes this guy also comes here to visit and sometimes stays overnight in this girl's room. The student is showing off to everyone about the phone that her lover just gave her. At a glance, Hien knew that the phone was expensive. The student smiled and said to Hien: - Come here and play. Today I cooked a pot of sweet soup and "washed" the phone. I invited her to eat a piece of sweet soup and then go home. Hien also happily joined the group. Besides the student and Hien, there were three other people. One is a street vendor who sells sticky rice for breakfast, the other is a prostitute who has put on makeup to prepare for work, and the last is a student. Everyone passed the phone around, admired and admired its luxurious beauty, then returned it to the owner. Accidentally, she left the phone on the shelf near the door and walked out of the room. Then she went out to the sidewalk where the fragrant pot of tea was boiling and ladled the tea into each cup. After finishing eating, everyone left one by one. Hien also returned home. She was changing clothes to prepare to take a shower, when she suddenly heard a commotion coming from the room. She was curious and quickly ran out to see and saw everyone surrounding the student who was crying like rain and wind. When Hien asked, she realized that her new phone had disappeared. Hien suddenly felt guilty and quickly said: - What is your number so I can try calling it? The girl quickly read the number. Hien hurriedly ran back and took out her phone to call. The phone has been turned off. Hien felt very uncomfortable, because suddenly he came in to eat a cup of tea and got involved in this nonsense. Everyone was present, only the prostitute who had gone to work was missing. Hien looked at everyone's faces, everyone felt sorry for the girl. Hien recalls, the phone would be very easy to pick up and put in her pocket when walking out the door, because it was on the shelf right next to the door. If the person who comes out is greedy and wants to take it, he can easily take it away if the homeowner doesn't notice. But who could have come in here? Hien quickly asked the girl: - Who was the last to leave earlier? - You. - The student said immediately. Hien looked at him with somewhat suspicious eyes. He suddenly seemed to understand Hien's meaning and quickly said: - Even though I'm really poor, I don't want to do those things. Hien was embarrassed when her thoughts were read by others. Hien turned to the girl and said: - Look for it in your room and see if you forgot it somewhere. The girl shook her head and said in tears: - I just left it right there, the room is tiny and you can see it right away if you look around. Indeed, the room is only a few square meters large enough for a bed and a table. If placed somewhere, it can be seen immediately. The street vendor also spoke up: - I swear, heaven and earth will testify, if I took your money out on the street, a car would run me over. In the end, the only way was to invite the local police to come down and solve the problem. Hien also had to make a report, from the time she came in for dinner until the time she returned home. The policeman also went around asking questions, also asking everyone else to make a report. Only the prostitute was not met by the policeman until the next day. Time passes quickly and life returns to normal. The police officer couldn't find anything else. The story of the student losing her phone quickly gradually became forgotten. She didn't have to worry for long because her lover gave her another one, only this time she didn't "wash" it like last time. One day, Hien accidentally dropped her phone and broke the cover. On her way to work, she stopped by a phone store to get a new case. She was struggling to try on the shell when behind her, she heard a familiar voice: - Please look at this phone, how much can I get? - This one, if you sell it, I'll take it for the price... - The saleswoman replied. - This is brand new, I haven't used it yet. - That voice spoke up. - That's the way things are resold. If you don't sell them, that's it. - The sales lady said. - Okay, take it. - That voice sounded regretful again. Hien waited for a while before turning around to see the figure leaving. An indescribable feeling arose in her heart. In the afternoon, when returning from work, I passed by the student's room and saw her happily holding the phone and talking to her lover. Hien smiled sadly and quickly drove the car into the house... Table of contents The phone is lost The phone is lost VanTienSinhWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Author / VNthuquan - Online Library Posted by: Ct.Ly on: June 1, 2009
Khuyết Danh Chiếc đàn Piano màu gụ đỏ Khi tôi 20 tuổi, tôi bán hàng thuê cho một hiệu đàn piano ở St. Louis. Một lần, chúng tôi lại nhận được một "đơn đặt hàng" là một bưu thiếp từ vùng Đông Nam Missouri. Trên bưu thiếp đó có viết "Xin hãy mang một chiếc đàn piano màu gụ đỏ tới cho cháu tôi. Tôi sẽ trả góp 10 đôla mỗi tháng bằng tiền bán trứng gà". Qua nét chữ có thể đoán đó được người viết là một bà cụ. Bà ấy viết câu đó lặp đi lặp lại kín mít tấm bưu thiếp, viết cả ra những diềm giấy còn thừa ở mặt trước cho đến khi chỉ còn ra một khung nhỏ ghi địa chỉ. Tất nhiên công ty chúng tôi không thể bán piano trả góp 10 đô mỗi tháng. Nên chúng tôi lờ tờ bưu thiếp đi. Tuy nhiên, đến một ngày, ở vùng Đông Nam Missouri đó có thêm vài người đặt mua đàn piano và chúng tôi phải chở đàn đến đó. Vì tò mò, tôi muốn đến địa chỉ của bà cụ xem sao. Gần như giống hệt những gì tôi tưởng tượng: bà cụ sống trong một túp lều lụp xụp cạnh cánh đồng. Sàn căn lều rất bẩn. Gà thỉ chạy lung tung: không xe, không điện thoại, không nghề nghiệp. Chẳng có gì cả trừ một mái nhà, và đó cũng không phải là một cái mái tốt. Cháu gái của bá cụ khoảng 10 tuổi, đi chân đất và mặc váy vá. Tôi giải thích cho bà cụ rằng chúng tôi rất buồn vì không giúp được bà cụ. Nhưng dường như những gì tôi giải thích chẳng có hiệu quả. Cứ 6 tuần một lần, chúng tôi lại nhận được một cái bưu thiếp y như nhau. Cần có một cái đàn piano màu gụ đỏ, và thề thốt rằng bà sẽ trả 10 đôla/tháng. Khoảng hai năm sau, tôi mở được một công ty giao bán piano của riêng mình, và đôi khi tôi đăng quảng cáo trên báo địa phương Missouri. Tôi bắt đầu nhận được những bưu thiếp như từng nhận ở công ty cũ. Trong hàng tháng trời, tôi cũng lờ những tờ bưu thiếp đó đi, vì tôi biết làm gì cơ chứ?Nhưng rồi, một hôm ở công ty tôi có nhập vể một số đàn piano kiểu mới, trong đó có một chiếc đàn màu gụ đỏ. Dù biết mình có thể gây thua thiệt cho công ty, tôi vẫn quyết định đưa chiếc đàn lên xe ô tô chở tới nhà bà cụ và nói rằng nếu bà trả 10đôla/tháng thì bà sẽ phải trả 52 lần. Tôi đặt piano vào nơi ít có khả năng bị dột nhất. Tôi cũng dặn bà và cháu bé giữ cho bọn gà đừng nhảy lên đàn piano. Rồi tôi lên xe về công ty đinh ninh rằng thế là coi như mình đã cho không một cây đàn. Nhưng cứ 10 đôla được gửi đến cho tôi rất đều đặn mỗi tháng. Cả 52 tháng. Đôi khi không chỉ là tiền giấy mà là những đồng xu được dùng băng dính đính vào bưu thiếp. Nhận đủ tiền tôi không có liên lạc gì với bà cụ nữa trong suốt 20 năm. Cho đến một ngày khi đi công tác ở Memphis, tôi ghé vào một nhà hàng để dùng bữa. Ở đó, tôi được nghe thấy tiếng đàn piano hay nhất mà tôi từng được nghe. Và do một cô gái rất xinh đẹp đang chơi. Tôi lại gần cô ấy và đứng nghe nhạc. Khi chơi xong bản nhạc, chúng tôi nói chuyện với nhau, và thật như một điều kì diệu, đó chính là cô bé mặc váy vá trong căn lều nhỏ 20 năm trước. Cô gái kể từ khi được bà đã đặt mua cho chiếc đàn piano màu gụ đỏ, cô đã giành được nhiều giải thưởng âm nhạc ở trường và địa phương. Bây giờ cô đã có gia đình còn bà cô đã mất. Tôi hỏi cô có biết chiếc đàn piano màu gụ đỏ có ý nghĩa như thế nào không. Cô gái nói hồi đó cô còn quá nhỏ, chỉ biết có một chiếc đàn mà không hiểu gì nhiều. Nhưng tôi thì hiểu. Cuối cùng, tôi bảo cô: - Tôi rất mừng được gặp lại cô, còn bây giờ tôi phải đi về. Và tôi thực sự phải đi về, vì bạn biết đấy, đàn ông không bao giờ muốn bị nhìn thấy mình khóc ở nơi công cộng. Mục lục Chiếc đàn Piano màu gụ đỏ Chiếc đàn Piano màu gụ đỏ Khuyết DanhChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: Được bạn: Latdat đưa lên vào ngày: 26 tháng 4 năm 2004
Noname Red mahogany piano When I was 20 years old, I sold rental goods for a piano store in St. Louis. One time, we received an "order" of a postcard from Southeast Missouri. On that postcard was written "Please bring a red mahogany piano to my grandchild. I will pay in installments of $10 per month with the money from selling chicken eggs." From the handwriting, one can guess that the writer is an old lady. She wrote that sentence over and over all over the postcard, writing down the remaining paper on the front until there was only a small frame with the address left. Of course our company cannot sell pianos in installments of 10 dollars per month. So we ignored the postcard. However, one day, a few more people in Southeast Missouri ordered pianos and we had to transport them there. Out of curiosity, I wanted to go to the old lady's address to see what happened. Almost exactly like what I imagined: the old lady lives in a shabby hut next to a field. The floor of the tent was very dirty. Chickens run wild: no car, no phone, no job. There was nothing but a roof, and it wasn't a good roof either. The old man's niece is about 10 years old, barefoot and wearing a patched dress. I explained to the old lady that we were very sad because we couldn't help her. But it seems like what I explained didn't work. Every six weeks, we receive the same postcard. Needed a red mahogany piano, and swore she would pay $10/month. About two years later, I opened my own piano delivery company, and I sometimes placed ads in local Missouri newspapers. I started receiving postcards like I used to receive at my old company. For months, I ignored those postcards, because what else could I do? But then, one day at the company I imported some new pianos, including a mahogany piano. red. Even though I knew I could cause losses to the company, I still decided to put the piano in the car and drive it to the old lady's house and told her that if she paid $10/month, she would have to pay it 52 times. I put the piano in a place where it is least likely to leak. I also told her and the baby to keep the chickens from jumping on the piano. Then I got in the car and went back to the company, thinking that I had given away a guitar for free. But every $10 is sent to me very regularly every month. All 52 months. Sometimes it's not just paper money but coins attached to postcards with tape. After receiving enough money, I had no more contact with the old lady for 20 years. Until one day while on business in Memphis, I stopped by a restaurant to have a meal. There, I heard the most beautiful piano sound I've ever heard. And played by a very beautiful girl. I approached her and stood listening to music. When we finished playing the song, we talked to each other, and like a miracle, it was the little girl wearing the patched dress in the small tent 20 years ago. Since her grandmother ordered a red mahogany piano for her, the girl has won many music awards at school and locally. Now she has a family and her grandmother has passed away. I asked her if she knew what the red mahogany piano meant. The girl said that at that time she was too young, only knew how to play an instrument and didn't understand much. But I understand. Finally, I told her: - I'm very happy to see you again, but now I have to go home. And I really had to go home, because you know, men never want to be seen crying in public. Table of contents Red mahogany piano Red mahogany piano AnonymousWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: Posted by friend: Latdat on: April 26, 2004
Vũ Đình Giang CHIỀU CHUNG CƯ Căn phòng rộng mười sáu mét vuông, có một cái giá gỗ hai tầng đặt dọc cạnh bờ tường và bốn chiếc bàn con. Cứ hai chiếc bàn thì xếp liền nhau thành một, quay hướng về phía cửa cũng là hướng mặt trời mọc. Với cách bài trí như thế, trông căn phòng như một lớp học đặc biệt. Mỗi lần đẩy cửa bước vào, chiếc quạt trần lại kêu lên lạch cạch như chào - kiểu chào lờ đờ của người ốm mới gượng dậy. Chị Hồng ngồi cạnh bên tôi, dáng người thô kệch, mắt hơi lồi, giọng nói sang sảng và cục tính. Phía trên là Dũng và Tâm - hai công tử từng ăn chơi quậy phá một thời, giờ chịu phép ngồi rọ rạy trên ghế, làm được một chút là ngáp vặt rồi bảo nhau: "Lát nữa cà phê hông?". "Quán mây hả?". "Ừ". Hoặc hẹn hò nhau: "Chủ nhật này đi Thanh Đa?" và những câu đại loại như thế. Tôi đoán, chắc họ rủ rê thăm "đào", công tử mà! Có lần chị Hồng bảo tôi rằng Dũng đã từng vào tù vì tội đua xe gắn máy gây tai nạn cho người đi đường. Ngoài trời mưa đến khiếp. Mấy hôm nay trời bão, cứ âm u buồn và mưa dầm dề. Chị Hồng ngồi lo lắng: "Hồi sáng đi vội, quên mang theo áo mưa, không biết lấy cái chi che thân mà về để kịp buổi lễ". Tôi tặc lưỡi nói thầm: "Lễ với lạc, nghỉ một bữa thì đã sao". Như tôi đây, không theo một đạo nào hết nên đỡ phần bận bịu. Chị Hồng có vẻ phật ý, bảo: "Lúc nào con người ta thất bại, người ta sẽ tìm đến một chỗ dựa tinh thần. Mà tôn giáo chính là chỗ dựa vững chắc nhất", và tôi ậm ừ: "Cũng tùy!" cho qua chuyện. Làm được vài tuần, chị Hồng định xin nghỉ. Chị kéo tôi ra ngồi trong cái mái hiên nóng bức của một quán cơm bình dân, lắc đầu thất vọng: "Làm chỗ này chán quá em ạ!". Tôi trố mắt hỏi: "Chị tìm được chỗ khác rồi phải không?". Chị không trả lời, lại lắc đầu, vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi. Tôi đoán chị đang gặp một điều không hay nào đó nên không hỏi nữa, lặng lẽ ngồi ăn từng muỗng cơm nhạt nhẽo. Buổi trưa ở khu vực này yên tĩnh hẳn, những con phố nghèo nàn chật hẹp chen lấn với hàng dãy quán cơm bình dân với lèo tèo dăm bác xích lô ngáp dài đợi khách. Bất chợt chị Hồng hỏi: "Em bao nhiêu tuổi?". "Mười chín", tôi trả lời mà không hiểu chị ra sao nữa. Chị hỏi tôi mãi điều này để làm gì. "Em còn quá trẻ - chị nhìn tôi chân thành - còn chị thì đã ba mươi. Cái tuổi mà người ta cho là chín chắn nhất… Nhưng với chị đó là độ tuổi dễ khiến người ta dại dột nhất". "Chị lại triết lý nữa rồi. Có chuyện gì xảy ra ư?"… Chị mỉm cười chua xót: "Người con gái hai mươi tuổi kiêu hãnh bao nhiêu thì khi ba mươi tuổi họ lại dễ dàng buông xuôi bấy nhiêu. Chuyện của chị… mà thôi! Em biết cũng chẳng ích gì". Tôi thở dài, chưa bao giờ chị Hồng lại khó hiểu như lúc này. Cái kiểu nói xa nói gần như thế dễ khiến người đối diện tức tối vì sự tò mò chưa được thỏa mãn. Suốt nửa năm trời làm việc chung với chị, tôi thấy cuộc sống của chị cũng yên bình, có gì lạ đâu? Sao hôm nay chị lại nói chuyện với tôi bí ẩn như vậy? Trời bỗng dưng tối sầm, gió nổi lên đùng đùng, giật tấm vải nhựa chắn trước quán. Bà chủ buông đũa, chạy ra giằng lại bốn góc dây dù. Tôi thở dài ngao ngán nhìn bà: "Sao ở đâu cũng gặp những người vất vả. Giống như mình. Sao cuộc sống chẳng thể thay đổi? Có lẽ không hề thay đổi". Mãi mà không thấy chị hồng thôi việc, tôi nghi ngờ: "Chị chưa tìm được chỗ mới à?". Chị trả lời: "Biết sao được. Ván đã đóng thuyền rồi. Mọi chuyện bây giờ lở dở cả...", rồi lấy tay xoa bụng, nhìn lên phía trước giờ chỉ còn Tâm ngồi hì hụi một mình. Tôi lén nhìn chị, đau đớn nhận ra bụng chị Hồng ngày một to ra. Mà Dũng, khốn nạn thay, đã không hề đi làm từ lâu rồi. Buổi trưa, chúng tôi kéo nhau ra hành lang hóng mát. Chung cư này có vẻ yên ả chứ không ồn ào như những nơi khác. Chị Hồng mặt mũi xanh xao, nôn ọe mấy lần, mắt nhìn tôi chua xót. Tôi cúi đầu, muốn khóc mà không khóc được. Có lẽ tôi chưa bao giờ bước chân vào thế giới của chị. Tôi chỉ là con bé sinh viên nghèo tập tễnh đi làm thêm để chi phí cho cuộc sống xa nhà đầy khốn khó. Thế giới của tôi chỉ là những trang sách vở pha lẫn một chút cay đắng khi ông chủ trả tiền công theo kiểu "nhỏ giọt". Tôi chưa từng trải qua tâm trạng như chị. Hóa ra, con người ta sống đến ba mươi năm vẫn còn khờ dại chỉ vì một phút nông nổi. Nắng tự dưng tắt và trời lại tối. Tôi kéo tay chị Hồng: "Vào nhà đi chứ, trời sắp mưa!". Chúng tôi bước qua đoạn hành lang tối sầm, thấy giống như một con đường dẫn vào địa ngục. Tối về ký túc xá, tôi giở quyển nhật ký nhưng không viết được dòng nào. Trong óc luôn hiện ra hình ảnh chị hồng mắt hơi lồi, dáng người thô kệch ngồi ưu phiền sau chiếc bàn vuông, tỉ mẩn tô màu xanh đỏ lên mảnh lụa trắng có in hình phật bà chắp tay niệm chú. Và bàn trên Dũng cục cựa trên ghế, hỏi Tâm: "Chủ nhật này đi Thanh Đa không?". Hàng ngày, chúng tôi ngồi tô vẽ những mẫu Phật từ bi, mà cuộc sống chưa bao giờ dứt ra khỏi nỗi khổ sở. Tôi thiếp đi trong mệt mỏi. Trong mơ tôi thấy chị Hồng hiện ra với cái bụng ngày một to, tay phải cầm cọ tô màu áo xám của Phật bà, còn tay kia bấu chặt vào thành lan can chung cư, nước mắt vòng quanh má, nói với tôi: "Em còn quá trẻ. Còn chị thì đã ba mươi…". Lúc ấy tôi đã nghĩ: "Có thể người ta còn trẻ là hạnh phúc. Nhưng than ôi, người ta ai rồi cũng đến lúc ba mươi, chị Hồng ơi!" Sau cùng, chỉ còn mình tôi cặm cụi đi làm. Đơn giản bởi vì tôi cần tiền, nhưng chưa tìm được chỗ làm mới. Đành tự an ủi mình: "Dù sao cũng phải sống nữa chứ!"… Tâm nhướng đôi mắt hơi hí, chòm người qua bàn, hỏi kệch cỡm: "Sao đi có một mình thế?". Tôi rụt người lại, nhìn chiếc ghế trống cạnh Tâm, cảm thấy ghê tởm. Được một lát, tâm lại quay xuống, nụ cười đầy ý nghĩa: "Thế này thì chán thật! Em đi uống cà phê với anh không?". Tôi giương mắt khiếp hãi: "Không!" rồi cúi gầm mặt xuống vuông lụa trắng cầu cứu. Hóa ra bức hình chỉ là vô hồn. Đơn giản đó chỉ là sản phẩm do con người tạo nên. Trách sao được khi mỗi sáng đầu tuần, chính tay chúng tôi kéo bản lụa, trong một tiếng đồng hồ in ra hàng loạt những"Phật bà" như thế. Sau đó, mỗi người chúng tôi chia ra từng khâu tô vẽ, thêm thắt, viền kim tuyến lấp lánh; và ông chủ cho người đến mang đi tiêu thụ. Tâm dường như không chịu nổi sự im lặng, xô ghế đứng dậy, phẩy tay bực dọc: "Chán nhỉ!". Tôi nghĩ, ừ, cũng chán thật, nhưng ít ra là với tôi; còn anh vì chán vì cái gì? Rất may ông chủ đi vào, trên môi luôn nở nụ cười khinh miệt, nhìn chúng tôi soi mói. Tôi bỏ ra cửa, nhìn mông lung về nóc nhà thờ phía xa, tự hỏi giờ này chị Hồng đang làm gì. Buổi tối chị có còn thức khuya giặt hai chậu quần áo đầy ứ cho một lũ em nữa không? Và chiều chiều chị có còn đội áo mưa nhẫn nại đi nhà thờ cầu nguyện? Bỗng dưng tôi nhớ tới người chị họ ở quê. Năm nay đã ngoài ba mươi, lam lũ với chiếc áo bà ba, may bằng vải nội địa thô ráp, dáng người không đến nỗi thô kệch nhưng mặt mày buồn thảm. Dì tôi hay nhiếc mắng mà mắt nhìn con gái đầy thương xót: "Tội nghiệp! Cái số nó bạc quá. Gái lỡ thì như nó, chỉ mong cho thằng nào chết vợ rước đi". Chị họ tôi vừa đi gặt lúa ngoài đồng về, buông rơi lưỡi hái, cắp nón lá ra sau hè ngồi khóc rấm rức. Dạo đó tôi còn quá nhỏ để thấu hiểu nỗi đau và cảnh ngộ mà chị đang chịu đựng, chỉ biết cười kêu: "Ở một mình không sướng sao? Em chẳng sợ chết già", rồi chạy ù qua hàng xóm chơi. Làm thêm được một tuần nữa, tôi nghỉ hẳn. Không hiểu sao chung cư này càng lúc càng bức bối, tôi càng không chịu được ánh mắt của Tâm, cứ hay đi xuống nhìn tôi, cười đểu giả: "Em đi uống cà phê với anh nhé?". Mỗi lần như thế, tôi lại cầu cứu vuông lụa trắng nhưng bất lực. Chiều chiều tôi lại phải đi qua dãy hành lang tối âm u. Mà lần nào cũng tưởng con đường này đang dẫn xuống địa ngục. Ánh nắng chiều vàng rực ngoài kia không bao giờ rọi vào được dãy hành lang này. Người trong chung cư đi lướt qua nhau, lặng lẽ như những cánh dơi đêm; nép sát người vào bờ tường, luôn nghi ngại kẻ đi bên cạnh chực giở trò lưu manh với mình. Chiều thứ bảy, tôi rời giảng đường đi lang thang trên sân cỏ lác đác hoa dại. Bao nhiêu cặp trẻ tuổi đang sống bước bên nhau, hẹn hò một đêm tình yêu đầy ý nghĩa. Còn tôi, tôi chỉ nhớ tới chị Hồng. Mãi mãi tôi không quên được ánh mắt của chị nhìn tôi đau đớn: "Em mới mười chín... Còn chị thì đã ba mươi…". Trong mắt chị, tôi chỉ là cô gái mười chín tuổi. Và tôi ao ước giá như tôi mãi mãi chỉ là cô gái mười chín tuổi thôi. Rồi lại nghĩ thầm: "Biết đâu như thế mãi cũng không hẳn là hạnh phúc…". Mục lục CHIỀU CHUNG CƯ CHIỀU CHUNG CƯ Vũ Đình GiangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Chí Hải Nguồn: VNthuquan - Thư viện Online Tập truyện ngắn nhiều tác giảĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 6 năm 2006
Vũ Đình Giang CHIỀU CHUNG CƯ Căn phòng rộng mười sáu mét vuông, có một cái giá gỗ hai tầng đặt dọc cạnh bờ tường và bốn chiếc bàn con. Cứ hai chiếc bàn thì xếp liền nhau thành một, quay hướng về phía cửa cũng là hướng mặt trời mọc. Với cách bài trí như thế, trông căn phòng như một lớp học đặc biệt. Mỗi lần đẩy cửa bước vào, chiếc quạt trần lại kêu lên lạch cạch như chào - kiểu chào lờ đờ của người ốm mới gượng dậy. Chị Hồng ngồi cạnh bên tôi, dáng người thô kệch, mắt hơi lồi, giọng nói sang sảng và cục tính. Phía trên là Dũng và Tâm - hai công tử từng ăn chơi quậy phá một thời, giờ chịu phép ngồi rọ rạy trên ghế, làm được một chút là ngáp vặt rồi bảo nhau: "Lát nữa cà phê hông?". "Quán mây hả?". "Ừ". Hoặc hẹn hò nhau: "Chủ nhật này đi Thanh Đa?" và những câu đại loại như thế. Tôi đoán, chắc họ rủ rê thăm "đào", công tử mà! Có lần chị Hồng bảo tôi rằng Dũng đã từng vào tù vì tội đua xe gắn máy gây tai nạn cho người đi đường. Ngoài trời mưa đến khiếp. Mấy hôm nay trời bão, cứ âm u buồn và mưa dầm dề. Chị Hồng ngồi lo lắng: "Hồi sáng đi vội, quên mang theo áo mưa, không biết lấy cái chi che thân mà về để kịp buổi lễ". Tôi tặc lưỡi nói thầm: "Lễ với lạc, nghỉ một bữa thì đã sao". Như tôi đây, không theo một đạo nào hết nên đỡ phần bận bịu. Chị Hồng có vẻ phật ý, bảo: "Lúc nào con người ta thất bại, người ta sẽ tìm đến một chỗ dựa tinh thần. Mà tôn giáo chính là chỗ dựa vững chắc nhất", và tôi ậm ừ: "Cũng tùy!" cho qua chuyện. Làm được vài tuần, chị Hồng định xin nghỉ. Chị kéo tôi ra ngồi trong cái mái hiên nóng bức của một quán cơm bình dân, lắc đầu thất vọng: "Làm chỗ này chán quá em ạ!". Tôi trố mắt hỏi: "Chị tìm được chỗ khác rồi phải không?". Chị không trả lời, lại lắc đầu, vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi. Tôi đoán chị đang gặp một điều không hay nào đó nên không hỏi nữa, lặng lẽ ngồi ăn từng muỗng cơm nhạt nhẽo. Buổi trưa ở khu vực này yên tĩnh hẳn, những con phố nghèo nàn chật hẹp chen lấn với hàng dãy quán cơm bình dân với lèo tèo dăm bác xích lô ngáp dài đợi khách. Bất chợt chị Hồng hỏi: "Em bao nhiêu tuổi?". "Mười chín", tôi trả lời mà không hiểu chị ra sao nữa. Chị hỏi tôi mãi điều này để làm gì. "Em còn quá trẻ - chị nhìn tôi chân thành - còn chị thì đã ba mươi. Cái tuổi mà người ta cho là chín chắn nhất… Nhưng với chị đó là độ tuổi dễ khiến người ta dại dột nhất". "Chị lại triết lý nữa rồi. Có chuyện gì xảy ra ư?"… Chị mỉm cười chua xót: "Người con gái hai mươi tuổi kiêu hãnh bao nhiêu thì khi ba mươi tuổi họ lại dễ dàng buông xuôi bấy nhiêu. Chuyện của chị… mà thôi! Em biết cũng chẳng ích gì". Tôi thở dài, chưa bao giờ chị Hồng lại khó hiểu như lúc này. Cái kiểu nói xa nói gần như thế dễ khiến người đối diện tức tối vì sự tò mò chưa được thỏa mãn. Suốt nửa năm trời làm việc chung với chị, tôi thấy cuộc sống của chị cũng yên bình, có gì lạ đâu? Sao hôm nay chị lại nói chuyện với tôi bí ẩn như vậy? Trời bỗng dưng tối sầm, gió nổi lên đùng đùng, giật tấm vải nhựa chắn trước quán. Bà chủ buông đũa, chạy ra giằng lại bốn góc dây dù. Tôi thở dài ngao ngán nhìn bà: "Sao ở đâu cũng gặp những người vất vả. Giống như mình. Sao cuộc sống chẳng thể thay đổi? Có lẽ không hề thay đổi". Mãi mà không thấy chị hồng thôi việc, tôi nghi ngờ: "Chị chưa tìm được chỗ mới à?". Chị trả lời: "Biết sao được. Ván đã đóng thuyền rồi. Mọi chuyện bây giờ lở dở cả...", rồi lấy tay xoa bụng, nhìn lên phía trước giờ chỉ còn Tâm ngồi hì hụi một mình. Tôi lén nhìn chị, đau đớn nhận ra bụng chị Hồng ngày một to ra. Mà Dũng, khốn nạn thay, đã không hề đi làm từ lâu rồi. Buổi trưa, chúng tôi kéo nhau ra hành lang hóng mát. Chung cư này có vẻ yên ả chứ không ồn ào như những nơi khác. Chị Hồng mặt mũi xanh xao, nôn ọe mấy lần, mắt nhìn tôi chua xót. Tôi cúi đầu, muốn khóc mà không khóc được. Có lẽ tôi chưa bao giờ bước chân vào thế giới của chị. Tôi chỉ là con bé sinh viên nghèo tập tễnh đi làm thêm để chi phí cho cuộc sống xa nhà đầy khốn khó. Thế giới của tôi chỉ là những trang sách vở pha lẫn một chút cay đắng khi ông chủ trả tiền công theo kiểu "nhỏ giọt". Tôi chưa từng trải qua tâm trạng như chị. Hóa ra, con người ta sống đến ba mươi năm vẫn còn khờ dại chỉ vì một phút nông nổi. Nắng tự dưng tắt và trời lại tối. Tôi kéo tay chị Hồng: "Vào nhà đi chứ, trời sắp mưa!". Chúng tôi bước qua đoạn hành lang tối sầm, thấy giống như một con đường dẫn vào địa ngục. Tối về ký túc xá, tôi giở quyển nhật ký nhưng không viết được dòng nào. Trong óc luôn hiện ra hình ảnh chị hồng mắt hơi lồi, dáng người thô kệch ngồi ưu phiền sau chiếc bàn vuông, tỉ mẩn tô màu xanh đỏ lên mảnh lụa trắng có in hình phật bà chắp tay niệm chú. Và bàn trên Dũng cục cựa trên ghế, hỏi Tâm: "Chủ nhật này đi Thanh Đa không?". Hàng ngày, chúng tôi ngồi tô vẽ những mẫu Phật từ bi, mà cuộc sống chưa bao giờ dứt ra khỏi nỗi khổ sở. Tôi thiếp đi trong mệt mỏi. Trong mơ tôi thấy chị Hồng hiện ra với cái bụng ngày một to, tay phải cầm cọ tô màu áo xám của Phật bà, còn tay kia bấu chặt vào thành lan can chung cư, nước mắt vòng quanh má, nói với tôi: "Em còn quá trẻ. Còn chị thì đã ba mươi…". Lúc ấy tôi đã nghĩ: "Có thể người ta còn trẻ là hạnh phúc. Nhưng than ôi, người ta ai rồi cũng đến lúc ba mươi, chị Hồng ơi!" Sau cùng, chỉ còn mình tôi cặm cụi đi làm. Đơn giản bởi vì tôi cần tiền, nhưng chưa tìm được chỗ làm mới. Đành tự an ủi mình: "Dù sao cũng phải sống nữa chứ!"… Tâm nhướng đôi mắt hơi hí, chòm người qua bàn, hỏi kệch cỡm: "Sao đi có một mình thế?". Tôi rụt người lại, nhìn chiếc ghế trống cạnh Tâm, cảm thấy ghê tởm. Được một lát, tâm lại quay xuống, nụ cười đầy ý nghĩa: "Thế này thì chán thật! Em đi uống cà phê với anh không?". Tôi giương mắt khiếp hãi: "Không!" rồi cúi gầm mặt xuống vuông lụa trắng cầu cứu. Hóa ra bức hình chỉ là vô hồn. Đơn giản đó chỉ là sản phẩm do con người tạo nên. Trách sao được khi mỗi sáng đầu tuần, chính tay chúng tôi kéo bản lụa, trong một tiếng đồng hồ in ra hàng loạt những"Phật bà" như thế. Sau đó, mỗi người chúng tôi chia ra từng khâu tô vẽ, thêm thắt, viền kim tuyến lấp lánh; và ông chủ cho người đến mang đi tiêu thụ. Tâm dường như không chịu nổi sự im lặng, xô ghế đứng dậy, phẩy tay bực dọc: "Chán nhỉ!". Tôi nghĩ, ừ, cũng chán thật, nhưng ít ra là với tôi; còn anh vì chán vì cái gì? Rất may ông chủ đi vào, trên môi luôn nở nụ cười khinh miệt, nhìn chúng tôi soi mói. Tôi bỏ ra cửa, nhìn mông lung về nóc nhà thờ phía xa, tự hỏi giờ này chị Hồng đang làm gì. Buổi tối chị có còn thức khuya giặt hai chậu quần áo đầy ứ cho một lũ em nữa không? Và chiều chiều chị có còn đội áo mưa nhẫn nại đi nhà thờ cầu nguyện? Bỗng dưng tôi nhớ tới người chị họ ở quê. Năm nay đã ngoài ba mươi, lam lũ với chiếc áo bà ba, may bằng vải nội địa thô ráp, dáng người không đến nỗi thô kệch nhưng mặt mày buồn thảm. Dì tôi hay nhiếc mắng mà mắt nhìn con gái đầy thương xót: "Tội nghiệp! Cái số nó bạc quá. Gái lỡ thì như nó, chỉ mong cho thằng nào chết vợ rước đi". Chị họ tôi vừa đi gặt lúa ngoài đồng về, buông rơi lưỡi hái, cắp nón lá ra sau hè ngồi khóc rấm rức. Dạo đó tôi còn quá nhỏ để thấu hiểu nỗi đau và cảnh ngộ mà chị đang chịu đựng, chỉ biết cười kêu: "Ở một mình không sướng sao? Em chẳng sợ chết già", rồi chạy ù qua hàng xóm chơi. Làm thêm được một tuần nữa, tôi nghỉ hẳn. Không hiểu sao chung cư này càng lúc càng bức bối, tôi càng không chịu được ánh mắt của Tâm, cứ hay đi xuống nhìn tôi, cười đểu giả: "Em đi uống cà phê với anh nhé?". Mỗi lần như thế, tôi lại cầu cứu vuông lụa trắng nhưng bất lực. Chiều chiều tôi lại phải đi qua dãy hành lang tối âm u. Mà lần nào cũng tưởng con đường này đang dẫn xuống địa ngục. Ánh nắng chiều vàng rực ngoài kia không bao giờ rọi vào được dãy hành lang này. Người trong chung cư đi lướt qua nhau, lặng lẽ như những cánh dơi đêm; nép sát người vào bờ tường, luôn nghi ngại kẻ đi bên cạnh chực giở trò lưu manh với mình. Chiều thứ bảy, tôi rời giảng đường đi lang thang trên sân cỏ lác đác hoa dại. Bao nhiêu cặp trẻ tuổi đang sống bước bên nhau, hẹn hò một đêm tình yêu đầy ý nghĩa. Còn tôi, tôi chỉ nhớ tới chị Hồng. Mãi mãi tôi không quên được ánh mắt của chị nhìn tôi đau đớn: "Em mới mười chín... Còn chị thì đã ba mươi…". Trong mắt chị, tôi chỉ là cô gái mười chín tuổi. Và tôi ao ước giá như tôi mãi mãi chỉ là cô gái mười chín tuổi thôi. Rồi lại nghĩ thầm: "Biết đâu như thế mãi cũng không hẳn là hạnh phúc…". Mục lục CHIỀU CHUNG CƯ CHIỀU CHUNG CƯ Vũ Đình GiangChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ.Đánh máy: Nguyễn Chí Hải Nguồn: VNthuquan - Thư viện Online Tập truyện ngắn nhiều tác giảĐược bạn: Ct.Ly đưa lên vào ngày: 5 tháng 6 năm 2006
Nhị Tường Chiều muộn Hùng xuất hiện đột ngột như vừa dưới đất chui lên, mình đầy bụi bặm tay xách vali: - Em làm chức gì mà kiếm em khó quá vậy? Cơ quan tôi có hai văn phòng ở hai bên đường, khi Hùng tìm tôi bên này, người ta chỉ bên kia. Hùng qua bên kia, thì tôi đã về lại bên này. Thấy Hùng, tôi ngẩn ngơ, cách nhau 120km từ Tuy Hòa đến Nha Trang, mà dễ chừng sau mười năm, giờ đây tôi mới gặp lại Hùng. Tôi kéo anh vào quán cà phê bên cạnh: - Không dưng hôm nay tìm em sau bao năm bặt tin? - Tháng sau anh lấy vợ! Tôi đã lập gia đình mười năm rồi, đã yên bề gia thất với một ông chồng hiền lành và một đứa con xinh đẹp. Vài lần nghe tin về Hùng, anh vẫn độc thân với mộng làm giàu. Giờ đây nghe anh nói anh tìm tôi vì tháng sau lấy vợ. Tôi suýt bật cười. - Lấy vợ thì có chi mà phải lặn lội tìm em? - Anh đã đi từ Sài gòn về đây, chào từ biệt tất cả mọi ngươøi thân quen và cuối cùng là em... Lần này thì tôi cười thật. - Anh làm như lấy vợ là đi qua bên kia thế giới không bằng! - Thật chứ, lấy vợ không phải vì yêu, nên cũng chẳng có gì vui sướng. - Nói dóc,không yêu sao lại lấy, vì tiền à? Hùng không giận vì câu đùa của tôi: - Vì không muốn ở vậy hoài. Năm nay ba sáu, tuổi này không lấy e năm sau muộn mất. Hùng ít khi đùa, ngày xưa tôi thích anh ở điểm này. Trong những người bạn trai tôi quen, Hùng là mẫu người tương đối khô khan và tẻ nhạt. Không biết đàn hát, không biết mơ mộng, không viết nổi một câu văn ra hồn, và cũng chẳng biết thưởng thức một bài thơ ý nhị. Hùng khác hẳn mẫu người lý tưởng của tôi. Nhưng ngược lại, là kỹ sư hóa, những thứ hóa chất của anh pha chế chính xác đến từng miligam. Anh rót cà phê đen vào ly đá không bao giờ rớt ra ngoài một giọt. Dường như mỗi khi hôn, anh đã tính đến từng thời gian và nhieät độ của hai cặp môi_ Mỗi nụ hôn đúng hai phút. Chúng tôi quen nhau gần hai năm, nhiều kỷ niệm , nhưng chưa bao giờ anh mua cho tôi một quyển sách hay viết cho tôi một lá thư. Chúng tôi chia tay vì chia tỉnh. Phú Khánh chia đoâi thành Khánh Hòa và Phú Yên. Anh trở về quê Phú Yên, quản lý một cơ ngơi to lớn của bố mẹ, và một bầy em còn đang học phổ thông. Tôi ngại ngùng vì phải làm dâu trưởng trong một đại gia đình như thế, và có lẽ bố mẹ anh cũng chẳng thích tôi. Một cuộc chia tay không ồn ả, chỉ diễn ra bằng cảnh tôi đưa anh ra bến xe nội tỉnh_ nay đã trở thành bến xe liên tỉnh. Anh cũng chẳng viết cho tôi một lá thư nào, và cũng chẳng tặng cho tôi một thứ gì để làm kỷ niệm cả, ngoài tấm hình trắng đen chụp chung của một ông phó nháy tồi. Trong ảnh tôi chẳng giống tôi và anh cũng chẳng giống anh. Trước mặt tôi bây giờ là Hùng sau mười năm, đen và gầy nhom, mặt đầy "hố bom" vì vết tích của mụn. Hùng gọi lon bia thay cho ly cà phê ngày xưa: - Ðã nhiều năm anh chỉ bầu bạn với thứ này mỗi tối. Nhiều lần định viết thư cho em, nhưng chẳng biết viết để làm gì. Ðịnh gọi điện, nhưng chẳng có gì để nói, đành thôi. Thế mà đã mười năm qua. Chẳng còn cơ hội để gọi điện để nói nữa. Hùng vẫn thế, không bao giờ anh làm một cuộc thí nghiệm mơ hồ khi chưa biết phản ứng đích xác. Anh nói với tôi mà như nói với người nào khác: - Bây giờ anh ân hận vì đã chia tay với em. Anh vẫn không hiểu được chính mình. Ðời anh có nhiều cơ hội, nhưng cơ hội lớn nhất anh đánh mất, đó là em. Sau mười năm, Hùng mới có thể nói được một câu như thế, giá như ngày đó, anh có thể nói được văn vẻ như thế, biết đâu tôi đã xin nhận công tác ở Phú Yên rồi. Nhưng chính nhờ ở lại thành phố này, tôi mới gặp được chồng tôi. Tôi đáp: - Cơ hội lớn anh đánh mất, nhưng em đã nhặt được! Hãy nghĩ rằng em sẽ rất khổ sở nếu lấy anh. Và điều đó chúng ta chẳng ai muốn phải không? Nhưng thôi, hãy nói về người vợ của anh thì hơn. - Ðó là bạn em! Tôi sửng sốt: - Ai vậy? - Tuyết Vy! Trời đất, con nhỏ học cùng lớp tôi mấy năm trời, đã từng chứng kiến những buổi hẹn hò của tôi và Hùng, bây giờ sau nhiều năm nó sắp trở thành vợ Hùng. Tôi ngồi ngẩn ngơ im lặng. Hùng nhìn tôi: - Em thấy thế nào? Tôi đáp chẳng suy nghĩ: - Con nhỏ dịu dàng, tế nhị, chắc chắn anh sẽ hạnh phúc với người vợ đảm đang như thế. - Có lẽ vậy, chỉ sợ Vy khổ vì tính của anh. Ngày trước, chúng ta chia tay cũng vì anh sợ em sẽ khổ vì anh. Còn hạnh phúc ư? Dường như đối với anh, hạnh phúc cũng là nghĩa vụ. Bỗng dưng tôi cười. Anh ngạc nhiên: - Cười gì? - Anh trở thành triết gia lẩm cẩm rồi đó! - Cũng vì ngày xưa em chê anh, cả đời không biết hát một bản nhạc, không thuộc nổi một câu thơ. Anh đã mất nhiều năm sau đó để hát, và bây giờ, không có bài nào anh không biết hát. Thật tôi nghiệp cho anh, ở cái lứa tuổi mà những chuyện hát hò thơ thẩn chỉ là còn những trò trẻ con, thì với anh, nó trở thành những đam mê mới khởi đầu. Anh kể rằng anh thích hát karaoke. Có lẽ Vy sẽ khổ sở vì nỗi đam mê muộn mằn này. - Em đang nghĩ gì? - Một ngày nào đó, em sẽ ra Tuy Hòa và ở lại nhà anh như ngày xưa, bây giờ lại là nhà của bạn mình và của người yêu cũ của mình, nhưng chắc là không được anh nhỉ? Hùng nghiêm nghị: - Em dám liều đến như thế sao? Hùng lại trở thành con người của thực tế rồi. Tôi ngỏ ý đưa Hùng ra bến xe. Hùng ngần ngừ, sợ bất tiện cho tôi. Bản chất của "kỹ sư hóa" lại trỗi dậy trong anh rồi. Tôi nói: - Chở anh ra bến xe, đây là việc cuối cùng duy nhất em có thể làm cho anh, biết đâu phải mất mười năm nữa anh mới lại gặp em. Mà chắc gì đã gặp, vì anh có lấy vợ thêm lần nữa đâu! Dường như Hùng không bằng lòng nghe tôi nói vậy, chở anh ra bến xe, nơi mà chúng tôi đã chia tay nhau cách đây mười năm. Tôi không nhớ đã chúc anh những gì, nào là thượng lộ bình an, nào là trăm năm hạnh phúc, tôi chỉ nhớ Hùng dặn với theo khi xe chạy đi: "Em nhớ bồi dưỡng lên chứ, dạo này trông em ốm quá vậy". Gió thổi khoâ những giọt nước mắt chưa kịp trào ra của tôi. Mặt trời đã ngã về phía Tây, mang một màu đỏ thẫm. Dường như chiều đã muộn lắm rồi. Lời dặn của anh cũng muộn lắm rồi, Hùng ơi. Tháng 4/1997 Mục lục Chiều muộn Chiều muộn Nhị TườngChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: bạn: Thành viên VNTQ.net đưa lên vào ngày: 19 tháng 2 năm 2008
Nhi Tuong Late afternoon Hung appeared suddenly as if he had just crawled out of the ground, covered in dust and carrying a suitcase: - What position do you do that makes it so difficult to find you? My agency has two offices on both sides of the street. When Hung looked for me on one side, people pointed to the other side. Hung went to the other side, then I returned to this side. Seeing Hung, I was stunned, 120km from Tuy Hoa to Nha Trang, but after ten years, I just met Hung again. I pulled him into the cafe next door: - No wonder I found you today after so many years of not hearing from you? - Next month I'll get married! I have been married for ten years, and have a peaceful home with a gentle husband and a beautiful child. The few times I heard news about Hung, he was still single with the dream of getting rich. Now I heard you say you're looking for me because you're getting married next month. I almost burst out laughing. - If you get married, why do you have to go all the way to find me? - I came back from Saigon, said goodbye to all my friends and finally you... This time I really smiled. - You act like getting married means going to the other side of the world! - Really, getting married is not because of love, so there is no joy. - You're lying, if you don't love her, why would you marry her, for money? Hung wasn't angry at my joke: - Because he didn't want to stay there forever. I'm thirty-six this year. If I don't get married at this age, I'll be late next year. Hung rarely jokes, in the past I liked him in this way. Among the boyfriends I know, Hung is a relatively dry and boring type. I don't know how to sing, I don't know how to dream, I can't write a meaningful sentence, and I don't know how to appreciate a meaningful poem. Hung is completely different from my ideal type. But on the contrary, as a chemical engineer, his chemicals are prepared accurately down to the milligram. He poured black coffee into a glass of ice and never let a single drop fall out. It seemed that every time he kissed, he took into account the time and temperature of the two pairs of lips_ Each kiss was exactly two minutes. We have known each other for nearly two years, with many memories, but he has never bought me a book or written me a letter. We broke up because we divided the province. Phu Khanh is divided into Khanh Hoa and Phu Yen. He returned to his hometown of Phu Yen, managed a large property belonging to his parents, and a group of children still in high school. I'm shy because I have to be the eldest daughter-in-law in such a big family, and maybe his parents don't like me either. It was a quiet farewell, only taking place with me taking him to the intra-provincial bus station which has now become an inter-provincial bus station. He also didn't write me any letters, and he didn't give me anything as a souvenir, other than a black and white photo taken together by a bad photographer. In the picture I don't look like me and you don't look like you either. In front of me now is Hung after ten years, black and skinny, his face full of "bomb craters" due to traces of acne. Hung ordered a can of beer instead of the old cup of coffee: - For many years I have only had this as company every night. Many times I wanted to write to you, but I didn't know what to write for. I was going to call, but I had nothing to say, so I gave up. But it's been ten years. There is no longer a chance to call to talk. Hung is still the same, he never does an ambiguous experiment without knowing the exact reaction. He spoke to me as if speaking to someone else: - Now I regret breaking up with you. He still doesn't understand himself. There are many opportunities in my life, but the biggest opportunity I lost was you. After ten years, Hung was able to say a sentence like that. If only that day, he could speak in such style, maybe I would have applied for a job in Phu Yen. But it was thanks to staying in this city that I met my husband. I replied: - You lost a great opportunity, but I picked it up! Think that you will be very miserable if you marry me. And that's something we don't want, right? But let's talk about your wife instead. - That's my friend! I was stunned: - Who is that? - Tuyet Vy! My goodness, this girl has been in my class for several years, has witnessed Hung and I's dates, and now after many years she is about to become Hung's wife. I sat in stunned silence. Hung looked at me: - How do you feel? I replied without thinking: - She is gentle and delicate, I am sure you will be happy with such a good wife. - Maybe so, I'm just afraid Vy will suffer because of your personality. In the past, we broke up because I was afraid that you would suffer because of me. What about happiness? It seems that for him, happiness is also a duty. Suddenly I laughed. He was surprised: - What are you laughing at? - You have become a foolish philosopher! - Also because in the past you criticized me for not knowing how to sing a song and not being able to memorize a single verse in my whole life. He spent many years learning to sing, and now, there isn't a song he doesn't know how to sing. I feel bad for him, at an age where singing and singing are just childish things, for him, it becomes a new passion. He said that he likes to sing karaoke. Perhaps Vy will suffer because of this late passion. - What are you thinking? - One day, I will go to Tuy Hoa and stay at your house like before, now it's my friend's house and my ex-lover's house, but it probably won't work, right? Hung seriously: - Do you dare to take such a risk? Hung has become a man of reality again. I offered to take Hung to the bus station. Hung hesitated, afraid of inconvenience for me. The nature of "engineering" has emerged in him again. I said: - Drive me to the bus station, this is the last thing I can do for you, who knows, it might take another ten years before I see you again. But it's unlikely we've met, because he won't get married again! It seemed that Hung was not satisfied with hearing me say that, so he drove him to the bus station, where we broke up ten years ago. I don't remember what I wished him, a safe journey, a hundred years of happiness, I just remember Hung telling him as the car drove away: "Remember to take care of yourself, you look so sick lately. ". The wind blew away my unshed tears. The sun has fallen to the west, taking on a crimson color. It seems like it's already very late in the afternoon. Your advice is too late, Hung. April 1997 Table of contents Late afternoon Late afternoon Nhi TuongWelcome you to read books from the book project for mobile devices. Source: author: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: friend: VNTQ.net member posted on: February 19, 2008
Nguyễn Phương Liên Chiều nắng tắt ngoại ô Như bao lần, anh lại bắt đầu từ những chiếc khuy áo.- Em muốn có anh - Nàng gào lên, mặt khô khốc.Anh bịt miệng nàng bằng một nụ hôn- Anh đang ở bên em....- Không, mãi mãi kia - Lệ oà vỡ, nàng rũ xuống.Những tia nắng quái xiên qua khung cửa chiều tà, rọi lên chiếc gối vẫn còn hằn vết mái đầu anh vừa nằm đó. Tiếng xe chạy xa dần. Nàng nghiến chặt hai hàm răng, run rẩy để tự kiềm chế. Một sợi tóc còn vương trên gối, lấp lánh ánh sáng nắng. Nàng lặng lẽ nhặt lên. Sợi tóc ấy đã pha màu bạc. Những nếp nhăn mờ nơi đuôi mắt anh như một vòng sóng, toả mãi, rộng mãi trong tâm trí nàng, và ánh nâu trầm tĩnh cứ lút xa dần.Nàng ngồi câm lặng một mình, cho tới khi tắt nắng, trong cái tĩnh mịch của căn nhà ngoại ô, ngắm nghía mãi sợi tóc đã chìm trong màu tối.Khi trở về, thành phố đã lên đèn. Hôm nay Hùng Guitare chờ đón nàng tới dự buổi ra mắt ban nhạc "Năm sao" của hắn để viết bài "lăng xê" lên Tạp chí Sân khấu. Nàng chán ngán tất thảy, nhạc nhẽo bập bùng và bia thì đắng ngoét. Nàng chỉ thích bia pha đường. Mọi người lại bảo uống thế càng say.Còn anh? Một bữa tối chắc là ấm cúng bên người đàn bà - bằng tuổi, một con - cùng nhạc Paul Mauriat hay phim "Vòng đời".Nàng bảo Hoàng:- Đừng đi theo em nữa, chỉ tổ mệt xác anh thôi!Hoàng ghì xiết nàng trong vòng tay, cái nhìn dữ dội:- Hãy quay về với anh đi, với cuộc đời và hạnh phúc thực đang chờ em. Hắn có đáng để cho em ôm mộng mỏi mòn thế không? Địa vị ấy, gia đình, đạo đức ấy... Hắn chẳng bao giờ đem đánh đổi đâu!- Nhưng mà tôi yêu.... - Mắt nhìn xa vắng, nàng thì thầm như nói cho riêng mình.- Năm năm rồi, thời gian ấy đã quá đủ cho một trải nghiệm....- Chỉ càng làm cho em thêm tha thiết mà thôi.Nàng lặng lẽ nhìn lên bầu trời, chờ một vì sao đổi ngôi.Đam mê và vô vọng. Đó là cuộc sống của nàng bấy lâu nay. Anh nói rằng chưa thể (và chắc là không thể) bỏ vợ - mối tình đầu chân thành sâu nặng, người bạn đồng nghiệp suốt một thuở hàn vi. Và con anh, đã mười sáu tuổi đủ để hiểu biết mọi điều. Và địa vị luật sư danh tiếng, và tuổi tác... Nhưng anh yêu nàng, điều đó là có thực. Có thực trong ánh mắt sững sờ chết lặng khi đối diện nàng trong cuộc phỏng vấn lần đầu tiên. Có thực trong vòng tay và những đam mê nồng cháy của hẹn hò. Có thực trong cái im lặng dằn vặt xót đau những khi nàng đòi hỏi tuyệt vọng hay doạ chấm dứt để đi lấy chồng....Mưa rơi, lá rụng và nắng đã cháy trên những con đường họ từng đi qua. Anh không dám nói lời níu giữ còn nàng chẳng thể quay lưng. Chỉ có thời gian vẫn miệt mài trôi chảy nơi những sợi tóc pha màu trên mái đầu anh cùng những vết chân chim nơi khoé mắt, và gót chân nàng rệu rã mỗi lúc chiều buông...."Cha mất rồi, con hãy về đi". Bức điện của mẹ làm nàng thờ thẫn.Xe về đến phố huyện vào lúc trời chiều. Đường thưa thớt vắng. Thỉnh thoảng một vài chiếc ô tô lao qua làm ráng chiều đỏ bụi. Những gương mặt đen đúa nhọc nhằn. Vì cha mẹ, đã sống buồn tẻ nơi đây, suốt cả một đời.Ký ức về cha hiện lên như những gợn sóng buồn. Người đàn ông có bộ râu quai nón và cặp mắt thăm thẳm thỉnh thoảng đến với mẹ con nàng rồi lại tất tả ra đi. Mẹ bảo vì mẹ và cha - Một cán bộ trong Thành uỷ đã từng vào sinh ra tử bao năm nơi chiến trường đạn lửa - bị kỷ luật, thua thiệt nhiều điều. Mẹ đã âm thầm từ bỏ nghề diễn viên ít nhiều hứa hẹn để đi theo, làm người trông trẻ và lặng lẽ sinh nàng, lặng lẽ trốn tránh một người đàn bà và hai đứa trẻ.Nàng cũng nhớ, những âu yếm hiếm hoi của cha và nước mắt của mẹ từng đêm trên gối, nhớ những đấu tranh cật lực của hai mẹ con một thời để giữ được cái tiếng vợ con liệt sĩ vô danh.Những nén hương lặng lẽ cháy trên nấm mồ mới đắp. Người mẹ đứng, cặp mắt già nua câm lặng. Nước mắt ấy đã chảy vào trong.- Con sẽ đón mẹ lên ở cùng con - Nàng bảo.Mẹ nhìn nàng, cái nhìn mang nỗi đau của cả một kiếp người.- Nếu con lấy chồng thì mẹ về ở với con. Còn nếu không mẹ sẽ ở đây bầu bạn cùng cha. Mẹ không muốn nhìn con lại đau đớn... Nàng ôm mẹ, xa xót. Tóc mẹ bạc quá nhiều, sợi sợi trắng tinh chứ không pha màu như tóc của anh. Nàng lại nhớ đến anh với một nỗi buồn vô hạn. Quán cà phê ấy chiều nay anh đợi, lần đầu tiên nàng không đến. Giọt giọt cà phê sẽ mãi rơi nên biển, nên hồ.Họ ngồi bên nhau, yên lặng. Trăng tràn trề loá sáng nơi đầu sóng. Cát mênh mang không lời.Họ hoà mình vào nhau, dữ dội, nhiệt cuồng, đớn đau giữa gió và cát, và vị mặn của nồng nàn biển khơi.Họ nằm bên nhau, nàng nhìn trời đếm sao để không suy nghĩ. Anh lặng lẽ đốt thuốc, cặp mắt nâu trầm tĩnh âm thầm vọng vào đêm.Anh không đến nơi hẹn. Chiều đã buông, trời đã tối. Nàng phóng xe lang thang trên những con đường ngoại ô. Căn nhà ấy sáng ánh đèn.Nàng dừng xe, lặng lẽ đi xuyên vườn nhìn qua khe cửa.Người đàn bà ấy không đẹp như nàng, miệng không tươi và mắt không rực rỡ như nàng. Đôi chân cũng không còn thon chắc.Anh lại bắt đầu từ những chiếc khuy áo. Cặp mắt anh khép lại, nàng không thấy gì trong ánh mắt màu nâu.Nàng đi ngược chiều gió để trở về thành phố.Và ngày mai, ngày kia, nàng sẽ lên xe hoa cùng Hoàng.Mẹ sẽ về bên nàng, sống nốt những ngày thanh thản cuối đời.Không hiểu gió và cát từ đâu mà mặn chát bờ môi....Nguyễn Phương Liên Mục lục Chiều nắng tắt ngoại ô Chiều nắng tắt ngoại ô Nguyễn Phương LiênChào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di độngNguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Lời cuối:Cám ơn bạn đã theo dõi hết cuốn truyện.Nguồn: hành: Nguyễn Kim Vỹ. Nguồn: clickĐược bạn: Thành Viên VNthuquan đưa lên vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003
Nguyen Phuong Lien In the afternoon, the sun goes out on the outskirts Like many times, he started from the buttons. - I want you - She screamed, her face dry. He covered her mouth with a kiss - I'm with you... - No, forever. forever - Tears broke, she drooped down. Strange rays of sunlight slanted through the late afternoon window, illuminating the pillow that still had the mark of his head just lying there. The sound of a car driving away fades away. She clenched her teeth, trembling to control herself. A strand of hair remained on the pillow, sparkling with sunlight. She quietly picked it up. That hair was tinted silver. The faint wrinkles at the corners of his eyes were like a wave, spreading forever and ever in her mind, and the calm brown light kept fading away. She sat silently alone, until the sun went out, in the silence. of the suburban house, endlessly admiring the hair that had sunk into the darkness. When he returned, the city had already turned on its lights. Today, Hung Guitare is waiting to welcome her to the launch of his band "Five Stars" to write a "promotional" article in Theater Magazine. She was bored with everything, the music was bland and the beer was bitter. She only likes beer mixed with sugar. People say that drinking like that makes you drunker. What about you? A cozy dinner with a woman - the same age, with one child - with Paul Mauriat music or the movie "The Cycle of Life". She told Hoang: - Don't follow me anymore, it will only tire your body! Hoang hugged him tightly. in her arms, her gaze fierce: - Come back to me, with real life and happiness waiting for you. Is he worth letting me hold on to such tired dreams? That position, that family, that morality... He would never trade it! - But I love.... - Looking away, she whispered as if talking to herself. - Five years ago. , that time was more than enough for an experience.....- It only made me more passionate. She quietly looked up at the sky, waiting for a star to change its position. Passionate and hopeless. That has been her life for so long. He said that he could not (and probably could not) leave his wife - his first sincere and deep love, his lifelong colleague. And your child is sixteen years old enough to understand everything. And his status as a prestigious lawyer, and his age... But he loved her, that was true. There was truth in the dumbfounded eyes when he faced her during the first interview. There is reality in the embrace and the passionate passion of dating. There was reality in the painful and tormenting silence when she desperately demanded or threatened to end it so she could get married... Rain fell, leaves fell and the sun burned on the roads they used to travel. He didn't dare say anything to hold her back and she couldn't turn her back. Only time still flows tirelessly in the colored hairs on his head and the crow's feet at the corners of his eyes, and her heels get tired every afternoon... "Dad is gone, please come back." Go". Her mother's telegram left her stunned. The car arrived at the district town in the afternoon. The road is sparse and deserted. Occasionally a few cars rush by, making the afternoon dust red. Hard-working black faces. Because of my parents, I have lived here sadly all my life. Memories of my father appear like sad ripples. The man with a beard and deep eyes sometimes came to her and her mother and then quickly left. Mom said that because she and her father - an officer in the City Party Committee who had been born and died for many years on the battlefield - were disciplined and lost many things. Her mother had quietly given up her more or less promising career as an actress to follow, work as a babysitter and quietly give birth to her, quietly hiding from a woman and two children. She also remembered, the rare caresses of her mother. father and mother's tears every night on the pillow, remembering the hard struggles of mother and son at one time to maintain the reputation of anonymous martyrs' wife and children. The incense sticks burned quietly on the newly built grave. The mother stood, her old eyes silent. Those tears flowed inside. - I will pick you up to live with you - She said. Mom looked at her, a look that carried the pain of a lifetime. - If you get married, I will come and live with you. If not, mom will stay here to keep dad company. I don't want to see you in pain again... She hugged her mother, feeling sad. Mom's hair is too gray, the strands are pure white, not mixed in color like his hair. She remembered him again with infinite sadness. He waited at that coffee shop this afternoon, but for the first time she didn't come. Coffee drops will forever fall into the sea and lake. They sat together, silent. The full moon shines brightly at the head of the waves. The sand was vast without words. They were immersed in each other, fiercely, passionately, painfully between the wind and sand, and the salty taste of the sea. They lay together, she looked at the sky and counted the stars without thinking. He quietly lit a cigarette, his calm brown eyes silently echoing into the night. He did not go to the meeting place. Afternoon had fallen, it was dark. She drove around on suburban roads. The house was brightly lit. She stopped the car, quietly walked through the garden and looked through the crack in the door. That woman was not as beautiful as her, her mouth was not bright and her eyes were not bright like her. His legs were no longer slim and strong. He started again with the buttons. His eyes closed, she saw nothing in his brown eyes. She walked against the wind to return to the city. And tomorrow, the day after tomorrow, she would get married with Hoang. Her mother would return to her side and live the rest of her life. peaceful days at the end of my life. I don't understand where the wind and sand come from, but it's salty and bitter on my lips....Nguyen Phuong Lien Table of contents In the afternoon, the sun goes out on the outskirts In the afternoon, the sun goes out on the outskirts Nguyen Phuong LienWelcome to read books from the book project for mobile devices. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Final words: Thank you for reading the entire story. Source: editor: Nguyen Kim Vy. Source: click Posted by: Member VNthuquan on: December 27, 2003